1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động dạy học môn tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường tiểu học thành phố móng cái, tỉnh quảng ninh

123 52 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lí do chọn đề tài Trong những năm qua, thực hiện mục tiêu chương trình đổi mới toàn diện giáo dục, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, tạo nên một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xã hội, thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành giáo dục đã không ngừng nỗ lực tiến hành đổi mới, cải cách với sự quan tâm của toàn Đảng, toàn dân. Để thực hiện được mục tiêu, ngành giáo dục đã xác định đổi mới giáo dục phổ thông là bước đột phá với nhiệm vụ đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức giáo dục trong đó đổi mới hoạt động dạy học hướng vào phát triển người học được quan tâm hơn bao giờ hết. Ngay từ năm 2005, Luật Giáo dục năm 2005 đã chỉ rõ “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Trong Nghị quyết 29 NQTW ngày 4112013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” khẳng định giáo dục phổ thông là “tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời…” 1. Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành xây dựng chương trình phổ thông mới và đã được ban hành theo Thông tư số 322018TTBGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) về việc ban hành Chương trình giáo dục phổ thông trong đó có những điểm mới trong lĩnh vực giáo dục tiểu học với mục tiêu “giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, nền nếp cần thiết trong học tập và

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

VŨ THỊ MINH THỦY

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

VŨ THỊ MINH THỦY

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

Ngành: Quản lí giáo dục

Mã số: 8140114

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào của tác giả khác

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2020

Tác giả luận văn

Vũ Thị Minh Thủy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện đề tài “Quản lý hoạt động dạy học môn Tự nhiên và Xã hội theo

chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường Tiểu học thành phố Móng Cái,

tỉnh Quảng Ninh” tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến PGS.TS Nguyễn

Thị Thanh Huyền, Trưởng Khoa Tâm lý giáo dục, Trường Đại học Sư phạm - Đại

học Thái Nguyên người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc định hướng đề tài, cũng như trong suốt quá trình nghiên cứu, viết luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Khoa Tâm lý giáo dục, các giảng viên đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học này

Tôi xin chân thành cảm ơn người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên cạnh ủng hộ, động viên tôi trong suốt quá trình làm đề tài luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng luận văn không tránh được thiếu sót, tôi kính mong nhận được sự chỉ dẫn và đóng góp thêm của các thầy, cô giáo để luận văn được hoàn chỉnh và ứng dụng nhiều hơn trong quá trình quản lý giáo dục

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Vũ Thị Minh Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU viii

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Những nghiên cứu về hoạt động dạy học ở trường tiểu học 6

1.2 Những nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học ở trường tiểu học và quản lý hoạt động dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở trường tiểu học 10

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 12

1.2.1 Quản lý 12

1.2.2 Hoạt động dạy học 14

1.2.3 Quản lý hoạt động dạy học 15

1.2.4 Môn Tự nhiên và xã hội ở trường tiểu học 16

1.2.5 Chương trình giáo dục phổ thông mới 16

1.2.6 Quản lý hoạt động dạy học môn Tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới 17

1.3 Dạy học môn Tự nhiên và xã hội ở trường tiểu học theo chương trình giáo dục phổ thông mới 18

1.3.1 Đặc điểm dạy học ở trường tiểu học 18

Trang 6

1.3.2 Vị trí, vai trò của môn Tự nhiên và Xã hội trong chương trình giáo dục phổ thông mới 25 1.3.3 Mục tiêu dạy học môn Tự nhiên và Xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới 25 1.3.4 Nội dung dạy học môn Tự nhiên và Xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới 26 1.3.5 Phương pháp dạy học môn Tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới 28 1.3.6 Hình thức dạy học môn Tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới 30 1.3.7 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới 31 1.4 Quản lý hoạt động dạy học môn tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường Tiểu học 32 1.4.1 Chức năng nhiệm vụ của Hiệu trưởng trường Tiểu học trong quản lý hoạt động dạy học môn Tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông 32 1.4.2 Lập kế hoạch dạy học môn Tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường Tiểu học 34 1.4.3 Tổ chức thực hiện hoạt động dạy học môn Tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới cho học sinh ở trường Tiểu học 36 1.4.4 Chỉ đạo triển khai hoạt động dạy học môn Tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường Tiểu học 37 1.4.5 Kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường tiểu học 38 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động dạy học môn Tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường Tiểu học 41 1.5.1 Năng lực quản lý hoạt động DH theo chương trình GDPT mới của cán bộ quản lý nhà trường 41 1.5.2 Các yếu tố khách quan 42 Kết luận chương 1 44

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN

VÀ XÃ HỘI Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH 45 2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 45

Trang 7

2.1.1 Đặc điểm tình hình tự nhiên, kinh tế, xã hội thành phố Móng Cái 45

2.1.2 Khái quát về giáo dục tiểu học thành phố Móng Cái 46

2.2 Khái quát chung về tổ chức khảo sát thực trạng 47

2.2.1 Mục đích khảo sát 47

2.2.2 Nội dung khảo sát 47

2.2.3 Phương pháp khảo sát 48

2.2.4 Đối tượng, khách thể khảo sát 48

2.2.5 Cách thức xử lý số liệu và thang đo 48

2.3 Thực trạng về hoạt động dạy học môn Tự nhiên và xã hội ở các trường tiểu học thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh 49

2.3.1 Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng và mục tiêu của hoạt động dạy học môn Tự nhiên và xã hội ở các trường tiểu học thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh 49

2.3.2 Thực trạng dạy học môn Tự nhiên và xã hội ở các trường tiểu học thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh 51

2.4 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tự nhiên và xã hội ở các trường tiểu học Thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 60

2.4.1 Thực trạng lập kế hoạch quản lý dạy học môn tự nhiên và xã hội ở các trường Tiểu học Thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 60

2.4.2 Thực trạng chỉ đạo triển khai hoạt động dạy học môn tự nhiên và xã hội ở các trường tiểu học Thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 63

2.5 Thực trạng về các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động dạy học môn Tự nhiên và xã hội ở các trường tiểu học Thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 67

2.6 Đánh giá chung về thực trạng 69

2.6.1 Những kết quả đạt được 69

2.6.2 Hạn chế và nguyên nhân 69

Kết luận chương 2 71

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH 72

3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 72

3.1.1 Đảm bảo tính kế thừa 72

3.1.2 Đảm bảo tính khoa học 72

3.1.3 Đảm bảo tính hệ thống 73

Trang 8

3.1.4 Đảm bảo tính thực tiễn 74

3.1.5 Đảm bảo tính khả thi 74

3.1.6 Đảm bảo tính hiệu quả 74

3.2 Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường tiểu học thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 75

3.2.1 Tổ chức bồi dưỡng phát triển năng lực dạy học môn Tự nhiên xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới cho giáo viên tiểu học 75

3.2.2 Phối hợp các lực lượng trong nhà trường tiến hành đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học môn TN&XH đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới 79

3.2.3 Xây dựng và phát triển môi trường học tập tích cực cho học sinh 81

3.2.4 Chỉ đạo đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới 85

3.2.5 Tăng cường các nguồn lực về cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí phục vụ hoạt động dạy học môn TN&XH trong nhà trường 87

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường tiểu học thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 89

3.4 Khảo nghiệm về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường tiểu học thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 90

3.4.1 Giới thiệu về quá trình khảo nghiệm 90

3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 91

Kết luận chương 3 95

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96

1 Kết luận 96

2 Khuyến nghị 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBQL : Cán bộ quản lý GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo GDPT : Giáo dục phổ thông

HĐDH : Hoạt động dạy học

HTTCDH : Hình thức tổ chức dạy học NXB : Nhà xuất bản

PPDH : Phương pháp dạy học

Trang 10

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1 Thang đo khoảng theo giá trị trung bình 49 Bảng 2.2 Nhận thức về tầm quan trọng của HĐDH môn TN&XH ở trường TH 49 Bảng 2.3 Nhận thức về mục tiêu của HĐDH môn TN&XH ở trường TH 50 Bảng 2.4 Đánh giá của CBQL về thực trạng kết quả thực hiện nội dung DH

môn TN&XH ở các trường TH 51 Bảng 2.5 Đánh giá của GV về thực trạng kết quả thực hiện nội dung DH môn

TN&XH ở các trường TH 52 Bảng 2.6 Đánh giá của CBQL về thực trạng mức độ sử dụng các PPDH môn

TN&XH ở các trường TH 53 Bảng 2.7 Đánh giá của GV về thực trạng kết quả sử dụng các PPDH môn

TN&XH ở các trường TH 54 Bảng 2.8 Đánh giá của CBQL về thực trạng mức độ sử dụng HTTC dạy học

môn TN&XH ở các trường TH 55 Bảng 2.9 Đánh giá của GV về thực trạng kết quả sử dụng các HTTC dạy học

môn TN&XH ở các trường TH 56 Bảng 2.10 Đánh giá của CBQL về thực trạng mức độ thực hiện KT, ĐG kết quả

dạy học môn TN&XH ở các trường TH 58 Bảng 2.11 Đánh giá của GV về thực trạng kết quả thực hiện KT, ĐG kết quả

dạy học môn TN&XH ở các trường TH 59 Bảng 2.13 Thực trạng lập kế hoạch quản lý HĐDH môn TN&XH ở các trường

TH thành phố Móng Cái, Quảng Ninh 60 Bảng 2.14 Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động dạy học môn TN&XH ở các

trường TH thành phố Móng Cái 62 Bảng 2.15 Thực trạng kết quả chỉ đạo triển khai HĐDH môn TN&XH ở các

trường tiểu học thành phố Móng Cái, Quảng Ninh 64 Bảng 2.16 Thực trạng KT, ĐG kết quả dạy học môn TN&XH ở các trường TH 66 Bảng 2.17 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý HĐDH môn TN&XH ở

các trường TH 68 Bảng 3.1 Thang đo khoảng theo giá trị trung bình 91 Bảng 3.2 Mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý HĐ DH môn TN&XH

theo chương trình GDPT mới ở các trường TH thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 92 Bảng 3.3 Tính khả thi của các biện pháp quản lý HĐ DH môn TN&XH theo

chương trình GDPT mới ở các trường TH thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 93

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong những năm qua, thực hiện mục tiêu chương trình đổi mới toàn diện giáo dục, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, tạo nên một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xã hội, thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành giáo dục đã không ngừng nỗ lực tiến hành đổi mới, cải cách với sự quan tâm của toàn Đảng, toàn dân

Để thực hiện được mục tiêu, ngành giáo dục đã xác định đổi mới giáo dục phổ thông

là bước đột phá với nhiệm vụ đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức giáo dục trong đó đổi mới hoạt động dạy học hướng vào phát triển người học được quan tâm hơn bao giờ hết

Ngay từ năm 2005, Luật Giáo dục năm 2005 đã chỉ rõ “Phương pháp giáo dục

phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Trong Nghị

quyết 29 - NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về “Đổi

mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” khẳng định giáo dục phổ thông là “tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời…” [1]

Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành xây dựng chương trình phổ thông mới và đã được ban hành theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) về việc ban hành Chương trình giáo dục phổ thông trong đó có

những điểm mới trong lĩnh vực giáo dục tiểu học với mục tiêu “giúp học sinh hình

thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, nền nếp cần thiết trong học tập và

Trang 12

sinh hoạt; giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn

và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở”

Như vậy, trong chương trình giáo dục phổ thông mới, mục tiêu giáo dục tiểu học không chỉ chú ý chuẩn bị cho học sinh những cơ sở ban đầu “cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở” mà còn chú ý yêu cầu “phát triển phẩm chất

và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng

và những thói quen, nền nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt”

Trong thực tiễn triển khai hoạt động dạy học theo chương trình giáo dục phổ thông nói chung và việc dạy học môn tự nhiên - xã hội ở tiểu học nói riêng tại Móng Cái đã đạt được những thành tựu nhất định song cũng gặp những khó khăn, hạn chế,

mà một trong những nguyên nhân xuất phát từ hoạt động quản lý hoạt động dạy học của các cấp và nhà trường

Dạy môn TN-XH tích hợp những kiến thức về thế giới tự nhiên và xã hội, có vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh (HS) ở tiểu học tại Móng Cái đã đạt được những thành tựu nhất định Góp phần đặt nền móng ban đầu cho việc giáo dục về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội ở các cấp học trên Môn học coi trọng việc tổ chức cho HS trải nghiệm thực tế, tạo cho các em cơ hội tìm tòi, khám phá thế giới tự nhiên và xã hội xung quanh; vận dụng kiến thức vào thực tiễn, học cách ứng xử phù hợp với tự nhiên và xã hội song Việc dạy học các môn này cũng gặp những khó khăn, hạn chế, mà một trong những nguyên nhân xuất phát từ hoạt động quản lý hoạt động dạy học của các cấp và nhà trường Do đó đòi hỏi, cần phải đổi mới, xây dựng các biện pháp quản lý việc dạy học môn TN-XH theo chương trình phổ thông mới ở các trường tiểu học ở thành phố Móng Cái

Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt động dạy học môn tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường Tiểu học thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh” làm luận văn thạc sĩ

của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông ở các trường tiểu học thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, luận văn đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy

Trang 13

học môn Tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới nhằm nâng cao hiệu quả học tập môn tự nhiên và xã hội, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

ở các trường tiểu học thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý hoạt động dạy học môn tự nhiên và xã hội ở các trường tiểu học

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường tiểu học thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh

4 Giả thuyết khoa học

Hoạt động dạy học môn tự nhiên và xã hội ở các trường tiểu học thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh đã được quan tâm thực hiện và đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên để thực hiện tốt chương trình giáo dục phổ thông mới thì còn những khó khăn, bất cập Nếu đề xuất được những biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn

tự nhiên và xã hội một cách khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn các nhà trường

và đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, phù hợp với nội dung chương trình giáo dục phổ thông mới thì sẽ nâng cao hiệu quả học tập môn tự nhiên và xã hội góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở các tiểu học thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học môn tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường tiểu học 5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động dạy học môn tự nhiên và xã hội và quản lý hoạt động dạy học môn tự nhiên và xã hội ở các trường tiểu học thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh

5.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường tiểu học thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh và khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu về biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới của Hiệu trưởng các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh

- Về địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu tại 5 trường tiểu học thuộc 03 cụm chuyên môn gồm các trường Tiểu học: Trà Cổ, Bình Ngọc, Hải Hòa, Lý Tự Trọng, Hải Xuân thuộc thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh

Trang 14

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Sử dụng các phương pháp: Phân tích; tổng hợp; so sánh; hệ thống hóa; khái quát hóa nhằm tổng quan các tài liệu lý luận, các khái niệm, các lý thuyết có liên quan đến quản lý hoạt động dạy học nói chung và quản lý dạy học và quản lý hoạt động dạy học môn tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường Tiểu học nói riêng để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Thiết kế các phiếu hỏi dành cho cán bộ quản lý Phòng Giáo dục và Đào tạo, Cán

bộ quản lý và giáo viên các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh về thực trạng hoạt động dạy học môn Tự nhiên và xã hội và quản lý hoạt động dạy học môn tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường Tiểu học thành phố Móng Cái

7.2.2 Phương pháp quan sát sư phạm

Tiến hành quan sát hoạt động dạy và học môn Tự nhiên và xã hội của các trường tiểu học thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, để thu thập thêm thông tin bổ sung cho việc đánh giá thực trạng hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học môn Tự nhiên và Xã hội, khảo nghiệm các biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo chương trình giáo dục phổ thông mới

7.2.3 Phương pháp phỏng vấn

Thiết kế các câu hỏi phỏng vấn phòng, CBQL và giáo viên các trường tiểu học nhằm tìm hiểu sâu hơn về thực trạng vấn đề

7.2.4 Phương pháp chuyên gia

Tiến hành tham vấn ý kiến của những đội ngũ chuyên gia để khảo sát tính cấp thiết, mức độ khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tự nhiên và Xã hội theo tiếp cận năng lực

7.3 Phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng toán thống kê tổng hợp các ý kiến điều tra, lập các bảng biểu, phân tích, đánh giá số liệu Sử dụng các công thức toán học để xử lý số liệu thu được từ các phương pháp nghiên cứu làm cho kết quả nghiên cứu đảm bảo độ tin cậy chính xác cao

Trang 15

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Tự nhiên và Xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường tiểu học

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở các trường tiểu học thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tự nhiên và Xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường tiểu học thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN

VÀ XÃ HỘI THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI

Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu về hoạt động dạy học ở trường tiểu học

Nghiên cứu về hoạt động dạy học là vấn đề đã được nhiều công trình đề cập tới

Từ cuối thế kỷ XIV, J.A.Cômenki (1592 - 1670), ông đã đưa ra quan điểm GD phải thích ứng với tự nhiên Theo ông, HĐDH để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật, hiện tượng do HS tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên dùng uy quyền bắt buộc, gò ép HS chấp nhận bất kì một điều gì và ông đã nêu ra một số nguyên tắc DH có giá trị rất lớn đó là: nguyên tắc trực quan; nguyên tắc phát huy tính tự giác tích cực của HS; nguyên tắc hệ thống và liên tục; nguyên tắc củng cố kiến thức; nguyên tắc giảng dạy theo khả năng tiếp thu của HS; DH phải thiết thực;

DH theo nguyên tắc cá biệt…

Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, dưới sự tác động, ảnh hưởng của tiến bộ khoa học, kĩ thuật cũng như sự phát triển của các trào lưu dân chủ, sự nhận thức về HĐDH trong nhà trường có sự phát triển mới John Dewey (1859 - 1952) - nhà GD Mỹ, đã phê phán cách thức tổ chức HĐDH áp đặt, thiếu động lực phát triển các kĩ năng giao

tiếp của HS, ông viết: “Đa số trường học vận dụng những PP có khuynh hướng

khuyến khích chủ nghĩa cá nhân, buộc tất cả HS trong lớp phải đồng loạt đọc cùng những cuốn sách như nhau và đọc thuộc lòng những bài học giống hệt nhau Trong hoàn cảnh đó, trẻ sẽ mất dần những động lực giao tiếp và người thầy sẽ không thể tận dụng được những nhu cầu tự nhiên của đứa trẻ như cho, làm và phục vụ” Nhà

GD J.Dewey đã đề xuất thành lập nhà trường tích cực hướng vào người học, lấy quá trình học tập của người học làm trung tâm HĐDH lấy người học làm trung tâm dựa trên hai nguyên tắc căn bản: đảm bảo tính liên tục của kiến thức và sự tác động qua lại của các thành viên [dẫn theo 16]

Vào những năm đầu thế kỉ XX, tư tưởng tổ chức đời sống xã hội ngay trong trường học, đã được các nhà GD quan tâm nghiên cứu sâu sắc R.Cousinet (1881 -

1973) - nhà GD Pháp: “Phải tổ chức nhà trường sao cho trở thành môi trường mà trẻ

em có thể sống bằng cách tạo nên BP phù hợp về mặt tâm lý, cũng như về mặt GD

Trang 17

Khi tổ chức hoạt động DH phải lưu ý: tạo cho người học khả năng hòa hợp với cộng đồng; tạo cho người học thói quen làm việc không cần kiểm soát của người dạy; khắc phục được tình trạng lười suy nghĩ của người học” [dẫn theo 2, tr.26] Kế thừa kinh

nghiệm tổ chức HĐDH theo tư tưởng R.Cousinet của trường Ecole - Dumal - Thụy

Sĩ, ở trường thực nghiệm thuộc Viện Đại học Iena, Peter Peterson đã “nghiên cứu và

tổ chức HĐDH có hệ thống kế hoạch hoạt động: các bài giảng của người dạy và hoạt động hướng dẫn người học Cách thức tổ chức HĐDH này nhằm mục đích tạo sự hỗ trợ cho nhau giữa người học một cách linh hoạt, hài hòa trong phối hợp công việc của toàn lớp” [dẫn theo 16, tr.95]

Những năm 30 - 40 của thế kỷ XX, việc tổ chức HĐDH được nghiên cứu rộng rãi

ở Mỹ và các nước châu Âu Trong khoảng thời gian này, “các nhà nghiên cứu không chỉ

quan tâm tới hệ thống chương trình hay cách giảng dạy HS, mà còn chú ý tới sự phụ thuộc của HĐDH vào các yếu tố, các điều kiện đảm bảo khác Theo nghiên cứu của A Ja Kiel cho thấy, người học ở lứa tuổi thanh, thiếu niên có nhu cầu tương tác rất cao, sự phát triển tư duy và ngôn ngữ tương đối hoàn thiện” [dẫn theo 16, tr.95]

Từ những năm 80 của thế kỉ XX đến nay, cùng với trào lưu cải cách GD, việc nghiên cứu về HĐDH đã được đẩy mạnh ở các nước phương Tây Các nghiên cứu chủ yếu hướng vào xây dựng mô hình và chiến lược DH một cách hiệu quả, cũng như xu thế phát triển của nó trong tương lai Tiêu biểu có các nghiên cứu của tác giả: Joe

Landsberger “Học tập cũng cần có chiến lược” [23], công trình nghiên cứu của tác giả Robert J Marzano “Hành vi và tổ chức trong giáo dục” [41] Ở một khía cạnh khác, khuyến cáo cho việc tổ chức các hoạt động DH, Joe Landsberger trong công trình “Học

tập cũng cần có chiến lược” đã viết: “GV tổ chức quá trình hoạt động tương tác mà các thành viên cùng đóng góp và giúp đỡ nhau để đạt được mục đích chung” [16, tr.125]

Vấn đề về HĐDH không chỉ được quan tâm ở các nước phương Tây mà còn được quan tâm ở cả các nước XHCN trước đây Những vấn đề chủ yếu trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã định hướng cho hoạt động GD là các

quy luật về “sự hình thành cá nhân con người”, về “tính quy luật của kinh tế - xã hội

đối với GD…” Các quy luật đặt ra những yêu cầu đối với GD và tính ưu việt của xã

hội đối với việc tạo ra các phương tiện và điều kiện cần thiết cho GD Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhiều nhà khoa học Xô Viết cũ đã có các thành tựu khoa học đáng trân trọng về QLGD và quản lý HĐDH Nhà trường ở các nước XHCN đã tổ chức nghiên cứu và thực hiện nhiều kiểu dạy mới, trong đó quan tâm

Trang 18

HĐDH phát huy tính tích cực của người học Theo quan điểm của nhà GD Êxipôp

B.P: “Phối hợp các hình thức tổ chức DH có lợi cho người học” [15, tr.76] Ông còn

chỉ rõ sự khác biệt giữa cách thức tổ chức hoạt động DH ở trường trung học Xô Viết

và phương Tây như sau: “Các cách thức tổ chức hoạt động DH ở trường trung học

Xô Viết về nguyên tắc khác với các cách thức áp dụng trong nhà trường tư sản ở chỗ: các cách thức ấy được thực hiện trên cơ sở chủ nghĩa tập thể HĐDH ở nhà trường Liên Xô có nhiệm vụ tạo ra những điều kiện cho HS làm việc tích cực và đảm bảo PP

cá thể đối với mỗi HS nhằm làm cho HS học tập có kết quả, phát triển đến mức tối đa những khả năng của họ” [15; tr.77] Nhà sư phạm học Kôtôp tiến hành thực nghiệm

sư phạm, qua đó, ông đã xây dựng một quy trình kĩ thuật tương đối hoàn chỉnh về cách thức tổ chức hoạt động DH, trong đó bao gồm các thao tác cần thiết mà người dạy và người học cần thực hiện trong từng tiết học

Ở Việt Nam, vấn đề HĐDH cũng đã được đề cập nhiều trong các tác phẩm của các nhà chính trị, quân sự, nhà thơ lỗi lạc dưới thời phong kiến như: Nguyễn Trãi, Chu Văn An…

Trong thời kỳ mới cách mạng Việt Nam, trước hết phải nói đến quan điểm phát triển GD của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 1969) Bằng việc kế thừa những tinh hoa của các tư tưởng GD tiên tiến và việc vận dụng sáng tạo PP luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã để lại cho GD Việt Nam nền tảng lý luận về: vai trò của GD, định hướng phát triển GD, mục đích DH, các nguyên lý DH, các phương thức DH, vai trò của quản lý và cán bộ QLGD, PP lãnh đạo và quản lý…

Trên diễn đàn khoa học GD, các công trình khoa học đã được công bố như: “Dự

án phát triển giáo viên tiểu học - Quản lý chuyên môn ở trường tiểu học theo chương trình và sách giáo khoa mới” [5], “Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học” [12], “Dạy học hiện đại - Lý luận, biện pháp, kỹ thuật” [20], “Một số vấn đề giáo dục đại học” [30], “Những tư tưởng chủ yếu về giáo dục” [32], “Giáo dục học đại học - Phương pháp dạy và học” [34], “Giáo dục học hiện đại” [43], “Phương pháp dạy học giáo dục học” [46] … Các tác giả đã phân tích khá sâu sắc về bản chất, vai trò và

cách thức tổ chức của quá trình DH, trong đó có tổ chức HĐDH Các tác giả cho rằng, cần tổ chức HĐDH hướng vào tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học

Các công trình khoa học được công bố trên thể hiện rõ các mặt sau đây:

- Về mặt lý luận chung HĐDH, trong công trình nghiên cứu của mình “Giáo dục học hiện đại” [43] tác giả Thái Duy Tuyên đã đề cập đến những cơ sở PP luận chung

Trang 19

nhất như: Quan điểm tiếp cận phức hợp, hệ thống cấu trúc, mô hình… để nghiên cứu các vấn đề cơ bản của HĐDH và hoạt động GD Đó là, hệ thống những quy luật DH được tác giả giới thiệu với 3 dạng: những quy luật chung nhất, những quy luật chung

và những quy luật đặc thù; đồng thời trình bày PP phối hợp các quy luật DH trong giảng dạy Tác giả cũng đề cập đến những vấn đề bức xúc của GD như: GD đạo đức, bồi dưỡng nhân tài, GD gia đình, kế hoạch hóa GD…; qua đó, tác giả đã tìm ra BP giải quyết đúng đắn Tuy nhiên, những vấn đề trên mang tính khái quát cao, có ý nghĩa về lý luận, vấn đề đặt ra là tác giả chưa đề cập đến tổ chức HĐDH ở nhà trường

TH trên cơ sở lấy năng lực của HS làm mục tiêu DH] Trong công trình “Những vấn

đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học” [12] Tác giả Nguyễn Hữu Châu cho

thấy hệ thống cấu trúc của quá trình DH bao gồm những thành tố cơ bản: các mô hình

DH, các cách tiếp cận và PPDH, các kĩ thuật DH, những hình thức và BP tổ chức HĐDH,… Tác giả có quan điểm rõ ràng trong quá trình dạy phải thể hiện một cách sinh động và cụ thể các ý tưởng của chương trình GD, đồng thời cũng chỉ rõ, chủ thể phải biết thiết kế và tổ chức chương trình nói chung, có tinh thần hướng đến cá nhân người học; khi xây dựng chương trình phải đặt ra những vấn đề ảnh hưởng của giao tiếp đến chất lượng giảng dạy của GV và các PPDH tích cực Đây là những điểm mạnh được tác giả trình bày rõ, tuy nhiên chưa cụ thể được cách thức xây dựng mô hình tổ chức HĐDH, mục tiêu, nội dung DH, quy trình tổ chức DH ở nhà trường TH lấy năng lực của HS làm mục tiêu DH

- Về mặt PPDH, tác giả Thái Duy Tuyên (Giáo dục học hiện đại) đã chỉ rõ tầm

quan trọng của PPDH trong việc ĐT con người và những hạn chế của nhà trường trong việc sử dụng PP giảng dạy Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra quan điểm đổi mới PPDH, nhất là sử dụng các PPDH tích cực nhằm phát huy người học Tuy nhiên, việc vận dụng quan điểm trên vào tổ chức HĐDH ở nhà trường TH lấy năng lực của HS làm mục tiêu DH nói riêng, tác giả chưa đề cập đến Tác giả Phan Thị Hồng Vinh

trong công trình “Phương pháp dạy học giáo dục học” [45] đã đề cập đến quá trình

DH GD học bao gồm các thành tố có mối quan hệ biện chứng với nhau: mục đích, nội dung, PP, hình thức tổ chức HĐDH, kết quả DH và khẳng định nó luôn vận động, phát triển trong môi trường kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội Tuy nhiên, công trình nghiên cứu của tác giả chỉ dừng lại ở góc độ chuyên môn hẹp, chỉ khu biệt với sinh viên sư phạm, giới hạn chỉ trong môn GD

Trang 20

Các đề tài, luận án cũng bàn luận về vấn đề HĐDH như: HĐDH và thực tiễn của việc hình thành kĩ năng cho HS Bên cạnh đó, một số tạp chí chuyên ngành cũng đăng tải các kết quả nghiên cứu bàn đến một số vấn đề có liên quan HĐDH, đã đi sâu làm rõ quan niệm về tổ chức HĐDH nhằm phát huy tính tích cực của HS như bài báo

“Dạy học phát hiện ở tiểu học dưới góc nhìn lý thuyết kiến tạo” [18] của nhóm tác giả

Phó Đức Hòa , Lê Thị Lan Anh; “Kĩ năng dạy học và tiêu chí đánh giá” [22] của tác

giả Đặng Thành Hưng; [33], [37]

Tóm lại, những công trình nghiên cứu về HĐDH ở trong và nước đã có những đóng góp cả về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu đến tổ chức HĐDH nói chung và HĐDH môn Tự nhiên và Xã hội trong trường Tiểu học

1.2 Những nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học ở trường tiểu học và quản lý hoạt động dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở trường tiểu học

Thực tiễn quản lý HĐDH luôn tồn tại và sôi động Tuy nhiên, việc tổng kết lý luận về vấn đề này còn khá chậm so với thực tiễn Đầu những năm 50 của thế kỷ XX, trong hàng loạt những công trình nghiên cứu có tính hàn lâm của các nhà khoa học Liên Xô cũ, đã xuất hiện các đề tài về những khía cạnh khác nhau của QL GD Năm

1956, lần đầu xuất hiện cuốn “Quản lý trường học” (Skolovedenie) của tác giả A.Pôpốp [38], một nhà sư phạm và quản lý giáo dục của Liên Xô cũ Cuốn sách này,

về thực chất, không phải là một công trình khoa học về QLGD, mà là cả một tập hợp khá hoàn chỉnh các chỉ dẫn cho hoạt động thực tiễn của những người làm công tác quản lý giáo dục, đặc biệt là quản lý trường học; trong đó có quản lý HĐDH

Trong quá trình phát triển GD Xô Viết (cũ), nhiều nhà nghiên cứu khoa học GD

đã lần lượt cho ra đời những tài liệu vừa có tính khoa học, vừa có tính thực tiễn về quản lý hai quá trình sư phạm chủ yếu diễn ra trong nhà trường: DH và GD Sự tập trung của những kiến giải đó được thể hiện cụ thể trong các tác phẩm xuất bản vào giữa những năm 70 Đặc biệt, M.I Kôndakốp, nhà lý luận và hoạt động thực tiễn xuất sắc của Liên Xô (cũ) đã dày công nghiên cứu những vấn đề về quản lý giáo dục [27] Năm 1987, Viện Quản lý và Kinh tế GD thuộc Viện Hàn lâm sư phạm (Liên Xô cũ) đã tổng kết những thành tựu nghiên cứu về quản lý trường học qua nhiều năm, trình bày những quan điểm mới nhất về QLGD nói chung và quản lý HĐDH nói riêng của các học giả Xô Viết (cũ) tính đến thời điểm đó [46]

Tại các nước phương Tây, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn QLGD nói chung và quản lý HĐDH nói riêng cũng rất sôi động Năm 1968, các tác giả Jacob W

Trang 21

Getzels, Tames M Lipham Roald F Campbell đã cho ra đời công trình đầu tiên nghiên cứu khá hoàn chỉnh các vấn đề QLGD dưới ánh sáng của các học thuyết quản

lý chung, đặc biệt là thuyết hành vi (quan hệ con người) trong quản lý [50]

Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế, Việt Nam đã và đang bước vào hội nhập với khu vực và quốc tế Trong bối cảnh đó, nền GD Việt Nam cần đẩy nhanh tiến trình đổi mới để rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển GD với các nước trong khu vực và trên thế giới Các thành tựu nghiên cứu GD đã thừa nhận QLGD là nhân tố then chốt đảm bảo cho sự thành công của phát triển GD Vấn đề này đặt ra cho các nhà QLGD phải hết sức nỗ lực trong công tác quản lý của mình

Ở nước ta, nhiều nhà nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề về vị trí, vai trò của việc quản lý HĐDH, ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng DH trên lớp đối với việc nâng cao chất lượng GD Những ưu điểm và nhược điểm của việc quản lý HĐDH trên lớp, bản chất và mối quan hệ giữa quản lý HĐDH

và hoạt động học, quản lý vai trò của người dạy và người học, quản lý đổi mới nội dung và cách thức tổ chức tiến hành các hình thức tổ chức DH trên lớp, điển hình là các tác giả: Đặng Quốc Bảo [2], Trần Kiểm [24], Nguyễn Thị Mỹ Lộc [30], Hà Thế Ngữ [35], Nguyễn Ngọc Quang [39]…

Trong những năm gần đây đứng trước nhiệm vụ đổi mới GD&ĐT nói chung và đổi mới HĐDH nói riêng, nhiều nhà nghiên cứu trong đó có những nhà Giáo dục học, Tâm lý học đã đi sâu nghiên cứu vấn đề đổi mới quản lý HĐDH nhằm nâng cao tính hiện đại, gắn khoa học với thực tiễn sản xuất và đời sống, vấn đề lấy HS làm trung tâm trong HĐDH như: Phạm Minh Hạc [17], Đặng Thành Hưng [20], Bùi Văn Quân [40], Phạm Viết Vượng [48]

Một số tác giả đi vào nghiên cứu quản lý HĐDH môn học, có thể kể đến như:

Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lí giáo dục (2017) của tác giả Trần Xuân Hòa “Quản lí hoạt động dạy học môn Thể dụcở các trường THPT trên địa bàn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang theo tiếp cận năng lực”; đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lí giáo dục của tác giả Hà Văn Tuân (2017) “Quản lí hoạt động dạy học môn sinh học ở các trường Trung học phổ thông theo định hướng tiếp cận năng lực thực hiện huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên”; đề tài luận văn thạc sĩ chuyên

ngành Quản lí giáo dục của tác giả Khổng Thị Kim Dung (2019) “Quản lí họa động

dạy học môn Toán tại trường Tiểu học Bồ Đề quận Long Biên, thành phố Hà Nội”;

Trang 22

Như vậy, vấn đề QLGD nói chung và quản lý HĐDH từ lâu đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Ngày nay, vấn đề này càng được quan tâm nhiều hơn và trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt của các nhà nghiên cứu

GD, ý kiến của các nhà nghiên cứu có thể khác nhau nhưng điểm chung mà ta thấy trong các công trình nghiên cứu của họ là: Khẳng định vai trò quan trọng của công tác quản lý trong dạy và học ở các cấp học, bậc học Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nào bàn luận, nghiên cứu sâu đến quản lý HĐDH trong nhà trường Tiểu học nói chung và quản lý HĐDH môn Tự nhiên và Xã hội trong nhà trường Tiểu học nói riêng

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Quản lý

Quản lý là một dạng lao động đặc biệt, điều khiển các hoạt động lao động, nó có tính khoa học và nghệ thuật cao, nhưng đồng thời nó là sản phẩm có tính lịch sử, tính

đặc thù của xã hội Khi đề cập đến cơ sở khoa học của quản lý, Các Mác viết: “Bất

cứ lao động nào có tính xã hội, cộng đồng được thực hiện ở quy mô nhất định đều cần ở chừng mực nhất định sự QL, giống như người chơi vĩ cầm một mình thì tự điều khiển còn một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [dẫn theo 26]

Như vậy, có thể hiểu lao động xã hội và quản lý không tách rời nhau Khi lao động xã hội đạt đến một quy mô phát triển nhất định thì sự phân công lao động tất yếu sẽ dẫn đến việc tách quản lý thành một hoạt động đặc biệt Từ đó, trong xã hội hình thành một bộ phận trực tiếp sản xuất, một bộ phận khác chuyên hoạt động quản

nỗ lực của các cá nhân để đạt được mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của QL

là hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [45] V.Taylor cho

rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái gì đó

như thế nào bằng PP tốt nhất và rẻ tiền nhất” [45] K.Omarov (Liên Xô) cho rằng:

“Quản lý là tính toán sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm thực hiện các nhiệm vụ sản xuất và dịch vụ với hiệu quả kinh tế tối ưu” Henry Fayol là người đầu tiên chỉ ra

chức năng và những yếu tố của quản lý cho răng: “Quản lý hành chính là dự đoán và

lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [45]

Trang 23

- Quan niệm về “quản lý” của các nhà khoa học ở Việt Nam: Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể

người quản lý đến tập thể người lao động nói chung (khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến” [17] Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản

lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [19], [36] Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [24] Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Quốc Chí cho rằng: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [31]

Các quan niệm trên đây, tuy khác nhau, song các tác giả đã có cách hiểu chung

về một số nội dung của quản lý là:

- Hoạt động quản lý, bao giờ cũng là quản lý con người được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội

- Quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội Chủ thể quản lý và khách thể QL luôn có tác động qua lại và chịu tác động của môi trường quản lý vừa

là khoa học, vừa là một nghệ thuật Vì vậy, người quản lý ngoài những yêu cầu về trình độ, năng lực, phẩm chất còn phải nhạy cảm, linh hoạt trong công tác lãnh đạo của mình

Quản lý có 2 chức năng bao quát là duy trì và phát triển Để bảo đảm hai chức năng này, hoạt động quản lí phải bao gồm 4 chức năng cụ thể sau:

Kế hoạch hóa: Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình quản lý, bao gồm

soạn thảo, thông qua được những chủ trương quản lí quan trọng

Trang 24

Tổ chức thực hiện: Đây chính là giai đoạn hiện thực các quyết định, chủ trương

bằng cách xây dựng cấu trúc tổ chức của đối tượng quản lý, tạo dựng mạng lưới quan

hệ tổ chức, lựa chọn sắp xếp cán bộ

Chỉ đạo: Xác định tầm nhìn chiến lược, chỉ dẫn, động viên, điều chỉnh và phối

hợp các lực lượng giáo dục trong nhà trường, tích cực hăng hái chủ động theo sự phân công đã định

Kiểm tra, đánh giá: Là chức năng liên quan đến mọi cấp quản lí để đánh giá kết

quả hoạt động của hệ thống Nó thực hiện xem xét tình hình thực hiện công việc so với yêu cầu để từ đó đánh giá đúng đắn

Từ những quan niệm trên có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có ý thức, có tổ

chức, có hướng đích của chủ thể quản lý để lãnh đạo, hướng dẫn, điều khiển đối tượng quản lý thực hiện nhằm đạt mục tiêu đã đề ra

1.2.2 Hoạt động dạy học

GD được thực hiện bằng nhiều con đường khác nhau, một trong những con đường hiệu quả nhất là tổ chức HĐDH Thông qua HĐDH, nhằm cung cấp cho HS hệ thống kiến thức khoa học, bồi dưỡng PP tư duy sáng tạo và kĩ năng thực tiễn, nhằm nâng cao trình độ học vấn, hình thành lối sống văn hóa Mục đích cuối cùng là làm cho mỗi HS trở thành những người tự chủ, năng động sáng tạo Như vậy, HĐDH là con đường cơ bản nhất để đạt tới mục đích GD tổng thể HĐDH là một hệ thống toàn vẹn bao gồm các thành tố cơ bản: mục tiêu, nội dung, phương tiện, hình thức tổ chức,

PP dạy, PP học Các thành tố này tương tác với nhau thực hiện nhiệm vụ HĐDH nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả HĐDH Các thành tố cấu trúc của HĐDH có mối quan hệ tương tác lẫn nhau, bổ sung cho nhau trong sự tác động của môi trường tự nhiên, xã hội Nếu tác động tốt vào mối quan hệ đó, nó sẽ là cơ sở và là điều kiện để tăng thêm hiệu quả của HĐDH, nâng cao chất lượng GD

HĐDH diễn ra một cách khoa học, các thành tố cấu trúc của DH được thực hiện nghiêm túc và phối hợp chặt chẽ thì sẽ đạt được mục tiêu của GD&ĐT

Chúng tôi quan niệm rằng: Hoạt động dạy học là quá trình giáo viên tiến hành

các thao tác có tổ chức, có định hướng và học sinh bằng hoạt động của bản thân, từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các tri thức, các kĩ năng, các giá trị văn hóa của nhân loại để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các yêu cầu thực tế đặt ra trong cuộc sống

Trang 25

1.2.3 Quản lý hoạt động dạy học

Trong nhà trường, quản lý HĐDH là quá trình CBQL xác lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, giám sát, kiểm tra hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS nhằm đạt mục tiêu đề ra Trong toàn bộ quá trình quản lý nhà trường thì quản lý HĐDH của CBQL cấp Phòng và cấp trường là hoạt động cơ bản, nó chiếm thời gian và công sức rất lớn, bởi vì nhiệm vụ hàng đầu của quản lý HĐDH là quản lý có hiệu quả các thành

tố cấu trúc của HĐDH, cần phải tạo điều kiện và tác động cho sự cộng tác tối ưu giữa

GV và HS nhằm xác định đúng mục tiêu, lựa chọn nội dung phù hợp kế hoạch, áp dụng hài hòa các PP, tận dụng các phương tiện và điều kiện hiện có, tổ chức linh hoạt các hình thức DH, tìm ra phương thức kiểm tra - đánh giá kết quả DH đáng tin cậy Quản lý HĐDH là quản lý việc chấp hành các quy định (điều lệ, quy chế, nội quy ) về hoạt động giảng dạy của GV và hoạt động học tập của HS, đảm bảo cho hoạt động đó được tiến hành tự giác, có nề nếp, có chất lượng và hiệu quả cao

Quản lý HĐDH là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong HĐDH nhằm đạt được mục tiêu đề ra

Quản lý HĐDH của CBQL cấp Phòng và cấp trường đối với các trường Tiểu học chính là quản lý quá trình sư phạm tương tác giữa GV, HS và yếu tố môi trường tác động vào HĐDH và GD theo chương trình đã được quy định CBQL cấp Phòng

và cấp trường chịu trách nhiệm quản lý toàn diện các mặt hoạt động trong nhà trường,

mà trọng tâm là quản lý quá trình giảng dạy - GD, trong đó bao gồm một hệ thống cộng tác như: đảm bảo chương trình, nội dung giảng dạy các môn, cải tiến việc dạy

và việc học, cung ứng những điều kiện DH

Ở trường Tiểu học, GV phải dạy toàn diện các môn học, đòi hỏi CBQL cấp Phòng

và cấp trường không những là người có phẩm chất đạo đức tốt mà còn phải có năng lực chuyên môn và năng lực quản lý tốt để làm gương cho CB, GV về phẩm chất đạo đức, giúp đỡ GV về chuyên môn, quản lý có hiệu quả các hoạt động của nhà trường

CBQL cấp Phòng và cấp trường quản lý trường Tiểu học phải thể hiện hai vai trò: người GV và nhà quản lý Vì vậy, CBQL cấp Phòng và cấp trường cần biết những kĩ năng nhất định của GV và những kĩ năng của nhà quản lý Ta cần phải nhấn mạnh các kĩ năng của nhà quản lý vì đấy là sự khác biệt của CBQL cấp Phòng và cấp trường so với GV

Trang 26

1.2.4 Môn Tự nhiên và xã hội ở trường tiểu học

Môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học được ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BDGĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT

Môn TN&XH là môn học bắt buộc ở các lớp 1,2,3 cấp tiểu học Môn TN-XH tích hợp những kiến thức về thế giới tự nhiên và xã hội, có vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh (HS) học tập các môn Khoa học, Lịch sử và Địa lý ở các lớp 4, 5 Góp phần đặt nền móng ban đầu cho việc giáo dục về khoa học tự nhiên và khoa học

xã hội ở các cấp học trên Môn học coi trọng việc tổ chức cho HS trải nghiệm thực tế, tạo cho các em cơ hội tìm tòi, khám phá thế giới tự nhiên và xã hội xung quanh; vận dụng kiến thức vào thực tiễn, học cách ứng xử phù hợp với TN&XH

1.2.5 Chương trình giáo dục phổ thông mới

Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) mới (năm 2018) được ban hành kèm theo thông tư số 32/2018/TT-BGD&ĐT của Bộ trưởng bộ GD&ĐT là văn bản thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông, quy định các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục, làm căn cứ quản lí chất lượng GDPT; đồng thời là cam kết của Nhà nước nhằm bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở GDPT

Chương trình GDPT mới được xây dựng trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; kế thừa và phát triển những ưu điểm của các chương trình GDPT đã có của Việt Nam, đồng thời tiếp thu thành tựu nghiên cứu về khoa học giáo dục và kinh nghiệm xây dựng chương trình theo mô hình phát triển năng lực của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới; gắn với nhu cầu phát triển của đất nước, những tiến bộ của thời đại về khoa học - công nghệ và xã hội; phù hợp với đặc điểm con người, văn hoá Việt Nam, các giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị chung của nhân loại cũng như các sáng kiến và định hướng phát triển chung của UNESCO về giáo dục; tạo cơ hội bình đẳng về quyền được bảo vệ, chăm sóc, học tập và phát triển, quyền được lắng nghe, tôn trọng và được tham gia của học sinh; đặt nền tảng cho một xã hội nhân văn, phát triển bền vững và phồn vinh

Chương trình GDPT bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức, kĩ năng cơ bản, thiết thực, hiện đại; hài hoà đức, trí, thể, mĩ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống; tích hợp cao ở các lớp học dưới, phân hoá dần ở các lớp học trên; thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục phát

Trang 27

huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh, các phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu giáo dục và phương pháp giáo dục để đạt được mục tiêu đó

Chương trình GDPT mới bảo đảm kết nối chặt chẽ giữa các lớp học, cấp học với nhau và liên thông với chương trình giáo dục mầm non, chương trình giáo dục nghề nghiệp và chương trình giáo dục đại học

Chương trình GDPT mới được xây dựng theo hướng mở, cụ thể hoá mục tiêu GDPT, giúp học sinh làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức,

kĩ năng đã học vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát triển hài hoà các mối quan hệ xã hội, có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại Chương trình giáo dục tiểu học giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, nền nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt Chương trình giáo dục trung học cơ sở giúp học sinh phát triển các phẩm chất, năng lực đã được hình thành và phát triển ở cấp tiểu học, tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực chung của xã hội, biết vận dụng các phương pháp học tập tích cực để hoàn chỉnh tri thức và kĩ năng nền tảng, có những hiểu biết ban đầu về các ngành nghề và có ý thức hướng nghiệp để tiếp tục học lên trung học phổ thông, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động Chương trình giáo dục trung học phổ thông giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách công dân, khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động, khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới

1.2.6 Quản lý hoạt động dạy học môn Tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới

Dựa vào những khái niệm có liên quan đã có, chúng tôi quan niệm rằng:

Quản lý hoạt động dạy học môn Tự nhiêm và Xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới là một quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí (các thành tố của hoạt động dạy học ) thông qua việc vận dụng các chức năng và phương tiện quản lý nhằm đảm bảo hoạt động

Trang 28

dạy học môn học được diễn ra đúng hướng, thực hiện thành công mục tiêu, nhiệm vụ dạy học đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới đã được đề ra

1.3 Dạy học môn Tự nhiên và xã hội ở trường tiểu học theo chương trình giáo dục phổ thông mới

1.3.1 Đặc điểm học sinh tiểu học và dạy học ở trường tiểu học

1.3.1.1 Đặc điểm của học sinh tiểu học

Lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi từ 7 đến 11 tuổi Đây là lứa tuổi các em trở thành một học sinh ở trường phổ thông, chứ không còn là một em

bé mẫu giáo “học mà chơi, chơi mà học” nữa Đó là một chuyển biến rất quan trọng trong sự phát triển của trẻ em, một đặc trưng quan trọng của lứa tuổi này

Trước khi nói đến sự phát triển nhân cách của lứa tuổi này ta nói về những thay đổi về cơ thể, môi trường sống và hoạt động của lứa tuổi này: nhìn chung ở lứa tuổi này có những thay đổi cơ bản về những đặc điểm giải phẫu sinh lý So với trẻ mẫu giáo, lứa tuổi này đang diễn ra một sự kiện toàn đáng kể về cơ thể; não bộ, hệ xương, hoạt động của tim mạch, hệ thần kinh Đây là những tiền đề vật chất quan trọng tạo điều kiên cho trẻ chuyển sang hoạt động khác về chất so với hoạt động vui chơi ở tuổi mẫu giáo Bước chân đến trường, đó là một biến đổi quan trọng trong đời sống của trẻ em cấp I Điều đó làm thay đổi một cách căn bản vị trí của trẻ trong xã hội, trong gia đình, cũng như thay đổi cả nội dung và tính chất hoạt động của chúng Trở thành một học sinh chính thức trẻ bắt đầu tham gia một hoạt động nghiêm túc, một hoạt động xã hội, với đầy đủ ý nghĩa xã hội trọn vẹn của nó Hoạt động học tập trở thành hoạt động chủ đạo của các em Nội dung học tập với nhiều tri thức phong phú, nhiều môn học có tính chất khác nhau (toán, làm văn, thủ công) đề ra những yêu cầu cao cho các em, buộc các em phải phấn đấu, nỗ lực vượt mọi khó khăn trở ngại.Theo A.V.Petrovski, các em mới đến trường thường gặp ít nhất ba khó khăn sau:

• Thứ nhất là học tập mới mẻ, phải dậy sớm, đến trường đúng giờ, phải làm bài tập đúng hạn, phải có cách học tập mới thích hợp

Trang 29

• Thứ hai là mối quan hệ mới của các em với thầy, bạn, với tập thể lớp, các

em lo ngại, rụt rè, thậm chí sợ sệt trước mọi người, các em chưa quen sinh hoạt với tập thể,… dần dần những khó khăn này sẽ giảm đi ở các lớp cuối cấp

• Thứ ba là nhiệm vụ học tập làm trẻ mệt mỏi, uể oải khó khăn lại này thường nảy sinh sau vài ba tháng ban đầu, có nhiều thích thú mới lạ trong việc

đi học: đó là sự thích thú cái vẻ bên ngoài hấp dẫn của nhà trường (trường to, rộng, nhiều bàn ghế, nhiều tranh ảnh, nhiều bạn vui chơi nhộn nhịp…)

Đó là những vấn đề cần chú ý đối với các học sinh lớp một tuy nhiên việc giải quyết những khó khăn trên có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển tâm lý ở các em

Đặc điểm nhân cách của lứa tuổi học sinh tiểu học là: Đây là giai đoạn học sinh bắt đầu tham gia vào hoạt động mang tính xã hội hóa mạnh mẽ để tiếp nhận hệ thống thống tri thức khoa học của loài người dưới ảnh hưởng của hoạt động học tập, nhân cách của học sinh có nhiều biến đổi phong phú và sâu sắc Đầu tiên ta nói về sự phát triển của các quá trình nhận thức: ở lứa tuổi này diễn ra một sự phát triển toàn diện về các quá trình nhận thức như sau:

- Tri giác của các em đã phát triển hơn hẳn

- Trí nhớ của các em đang phát triển mạnh

- Tưởng tượng của các em phát triển mạnh hơn và phong phú hơn

- Tư duy của các em phát triển rất nhanh

- Năng lực trừu tượng hóa và khái quát hóa đang phát triển mạnh

- Ngôn ngữ của các em có sự phát triển rõ rệt

- Các chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế

Tiếp theo là sự phát triển của xúc cảm - ý chí: đời sống xúc cảm, tình cảm của học sinh tiểu học khá phong phú, đa dạng và cơ bản là mang tính tích cực trẻ em rất vui mừng vì tình bạn mới với bạn cùng lớp, tự hào vì được gia nhập Đội, hãnh diện vì được giáo viên, chỉ huy đội giao cho những công việc cụ thể,

ở học sinh tiểu học tính tự kiềm chế và tính tự giác được tăng cường bộc lộ ở

sự ổn định của những trạng thái cảm xúc Các em biết điều khiển tâm trạng của

Trang 30

mình, thậm chí còn biết che dấu tâm trạng khi cần thiết Nhìn chung, học sinh tiểu học cân bằng hơn tuổi mẫu giáo và thiếu niên Tâm trạng sảng khoái, vui tươi thường bền vững, lâu dài là biểu hiện vốn có ở học sinh tiểu học Đó là những điều kiện thuận lợi để giáo dục những chuẩn mực đạo đức cũng như hình thành những phẩm chất trí tuệ cần thiết.

Đặc điểm nhân cách của học sinh TH nổi bật ở những nét sau:

- Khả năng nhận thức phát triển nhanh chóng nhờ hoạt động học tập

- Đời sống cảm xúc, tình cảm chiếm ưu thế hơn và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động, nhận thức của trẻ

- Tính hồn nhiên, vui tươi hướng về những cảm xúc tích cực

- Hay bắt chước những người gần gũi, có uy tín với trẽ (cha mẹ, thầy cô, bạn bè…)

- Hành vi ý chí chưa cao, bản tính hiếu động, khó kiềm chế, kém tự chủ nên dễ phạm lỗi, nhất là đối với các yêu cầu có tính nghiêm ngặt, đòi hỏi sự tập trung cao độ, gây căng thẳng.

Nhân cách của học sinh tiểu học chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: gia đình, nhà trường, xã hội Trong đó những ảnh hưởng từ cha mẹ, thầy cô là rất quan trọng vào đầu tuổi và sau đó là các ảnh hưởng từ bạn bè và phương tiện thông tin đại chúng, sách báo, phim ảnh…

Đặc điểm nổi bật nhất là đời sống tình cảm của học sinh tiểu học các em đang ở lứa tuổi ngây thơ, trong trắng, rất dễ xúc cảm trước hiện thực, rất dễ hình thành những tình cảm tốt đẹp các em dễ xúc cảm mạnh, đã có ấn tượng khá sâu sắc và khá bền vững các em sống nhiều bằng tình cảm và bị ảnh hưởng nhiều bởi tình cảm.

Tình cảm của các em mang tính cụ thể, trực tiếp và giàu cảm xúc Nó không chỉ biểu hiện trong đời sống sinh hoạt mà còn trong cả hoạt động trí tuệ, các em tiếp thu kiến thức không đơn thuần bằng lý trí, mà còn dựa nhiều vào cảm tính và đượm màu sắc tình cảm, các em dễ bị “lây” những cảm xúc của

Trang 31

người khác Năng lực tự kiềm chế những biểu hiện tình cảm còn yếu tình cảm cũng dễ thay đổi, dễ dịu đi nhưng cũng dễ bị kích động, vừa khóc đã có thể cười ngay.

Tình cảm của các em đã có nội dung phong phú và bền vững hơn tuổi mẫu giáo Những tình cảm cao cấp đang hình thành Đặc biệt tình cảm gia đình giữ vài trò khá quan trọng nhiều khi lòng yêu thương cha mẹ trở thành động cơ học tập của các em Những tình cảm đạo đức, thẫm mĩ thường gắn với những

sự vật cụ thể, gần gũi với các em.

Tình bạn và tính tập thể được hình thành và phát triển cùng với tình thầy trò Tình bạn còn dựa vào hứng thú chung đối với một hoạt động vui chơi hay học tập nó chưa có cơ sở lí trí vững vàng nên dễ thay đổi: thân nhau, giận nhau, làm lành với nhau là hiện tượng thường xuyên xảy ra Tình cảm tập thể

có ý nghĩa lớn đối với các em Các em dễ dàng gắn bó với nhau, những người

có vai trò lớn trong tập thể là thầy, cô giáo Đó là trung tâm của những mối quan hệ giữa các em, là biểu hiện ý kiến chung của trẻ Những tình cảm rộng lớn hơn như lòng yêu tổ quốc, yêu lao động, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm cũng đang được hình thành.

Những phẩm chất ý chí và tình cảm của học sinh cấp I cũng bắt đầu nảy sinh và phát triển các em có thể rèn luyện để có tính kế hoạch, tính kiên trì, nhẫn nại, tính mục đích… nhưng nó chưa trở thành những nét tính cách vững chắc,tính độc lập còn yếu Các em chưa vững tin ở bản thân và dựa nhiều vào ý kiến của cha mẹ và thầy giáo Các em thường bắt chước họ một cách máy móc,

và coi họ là mẫu mực phải noi theo

Năng lực tự chủ đã có nhưng còn yếu, tính tự phát còn nhiều, do đó khó giữ kỹ luật, trật tự, nhiều khi các em vi phạm kỹ luật một cách vô ý thức Các em có tính hiếu động cao, thích vận động chạy nhảy, hò hét, vật lộn… Các em rất hay bắt chước, có thể bắt chước khá tỉ mỉ chi tiết, nhưng lại hay chú

ý những đặc điểm bên ngoài và bắt chước thiếu lựa chọn: kẻ say rượu, người

Trang 32

điên khùng, người tàn tật… nói chung là những cái gì ly kỳ, mới lạ vì thế nếu giáo dục không tốt, trẻ có thể có những hành vi không tốt, như nói tục, đánh nhau, chửi thề, trêu chọc mọi người, phá phách nghịch ngợm,

Những nét tính cách tốt đã có thể hình thành ở các em như tính thật thà, dũng cảm,… từ việc nhặt của rơi đem trả lại đến việc nhảy xuống sông cứu bạn, thậm chí đến việc tiếp đạn cho bộ đội đánh giặc, bắt cướp bảo vệ nhân dân… đều có thể có ở các em học sinh tiểu học Tuy nhiên, những nét tính cách tốt của học sinh tiểu học cũng được hình thành từ rất sớm Trong lịch sử, có rất nhiều tấm gương học sinh đã có những đức tính quý báu như gan dạ, dũng cảm, quả cảm như những thiếu niên anh hùng: Kim Đồng, Lê Văn Tám Trong giai đoạn hiện nay, cũng có rất nhiều tấm gương nhi đồng được khen ngợi bởi những đức tính tốt như thật thà, dũng cảm, nhặt được của rơi, trả người đánh mất, nhiều em sẵn sàng liều mình cứu bạn…

Đặc điểm nhân cách của các em đã bộc lộ rõ ra bên ngoài qua hành vi và

cử chỉ, chúng cũng ít có mâu thuẫn hơn, đó là điều kiện thuận lợi trong việc tìm hiểu nhân cách của các em Tuy nhiên cần chú ý nhìn nhận rõ những trạng thái tạm thời, những nét tính cách do sự bắt chước còn ngây thơ của chúng trong khi đánh giá nhân cách của các em Hứng thú của các em cũng đã hình thành khá rõ rệt Các em đã có hứng thú học tập, nhưng nhiều khi do kết quả học tập (điểm số) hay lời khen của thầy cô là chính Đến cuối tuổi tiểu học, hứng thú mới bắt đầu chịu sự chi phối bởi nhiều nội dung học tập Tuy nhiên, nói chung hứng thú chưa được bền vững Các em còn hứng thú lao động, nhất là lao động mang lại những hiểu biết mới, lao động mang tính chất vui chơi Các em rất thích trồng cây, chăn nuôi, rất thích động vật nuôi trong nhà (chó, mèo…) các

em cũng bắt đầu có hứng thú đọc sách, xem tranh, nghe kể chuyện, ca hát, đá bóng, xem phim…

Các em có nhiều ước mơ tươi sáng, ly kỳ (lên cung trăng, lái máy bay, xe tăng…) những ước mơ này còn xa thực tế, nhưng đẹp và có ý nghĩa giáo dục

Trang 33

đối với các em Nội dung các em thích cái đẹp, cái vui, cái mới, cái độc đáo,

ly kỳ…

1.3.1.2 Đặc điểm của dạy học ở trường Tiểu học

- Học sinh tiểu học hiện nay có năng lực nhận thức phát triển hơn so với học sinh cùng độ tuổi trước kia

Những kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học trong và ngoài nước đã cho thấy: So với học sinh cùng độ tuổi ở các thế hệ trước, học sinh hiện nay có năng lực

nhận thức phát triển hơn, thông minh hơn Người ta gọi đó là hiện tượng tăng tốc

phát triển của trẻ em Hiện tượng tăng tốc phát triển của trẻ em ngày nay biểu hiện ở

ba dấu hiệu: Hiện tượng tăng tốc phát triển chiều cao và trọng lượng cơ thể; Sự trưởng thành sinh dục sớm; Sự phát triển trí tuệ sớm

Năng lực nhận thức của học sinh ngày nay được phát triển sớm hơn và nhanh hơn so với trẻ em cùng độ tuổi trước đây do nhiều yếu tố sau: Sự cải thiện điều kiện sinh hoạt vật chất, tinh thần, sự đô thị hóa của xã hội hiện đại, cùng nhịp độ phát triển nhanh của kinh tế - xã hội trong thời đại thông tin; Giao lưu được mở rộng, tạo điều kiện trao đổi, phối kết hợp với nhau giữa các cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng; Những phương tiện thông tin đại chúng, phương tiện nghe nhìn làm cho trẻ sớm trưởng thành về tư duy và có thể tiếp nhận những lượng thông tin mới một cách nhanh chóng; Sự mở rộng các loại hình hoạt động văn hóa - xã hội tạo cơ hội cho học sinh tiếp nhận những lĩnh vực yêu thích phù hợp với nhu cầu và khả năng; Sự đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học trong nhà trường tác động mạnh đến sự phát triển năng lực trí tuệ của trẻ; Mặt bằng dân trí ngày càng được nâng cao đã tác động tích cực đến giáo dục gia đình, kiến thức và kỹ năng nuôi dạy và giáo dục con của cha mẹ học sinh ngày càng trở nên khoa học hơn Chất lượng giáo dục gia đình được nâng cao có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển năng lực nhận thức của trẻ

Năng lực nhận thức phát triển thúc đẩy học sinh trở thành chủ thể tích cực của quá trình dạy học ngày nay Những người làm công tác giáo dục cần nhận thức rõ đặc điểm này và quán triệt vận dụng vào quá trình dạy học trong lý luận cũng như thực tiễn Cụ thể, cần: Thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá về năng lực nhận thức, kinh nghiệm của học sinh ngày nay; Đổi mới, hoàn thiện quá trình dạy học về mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và phương tiện dạy học, phân hóa

Trang 34

và cá biệt hóa trong dạy học cho phù hợp với sự phát triển năng lực nhận thức của học sinh

- Hoạt động học tập của học sinh tiểu học được tích cực hoá trên cơ sở nội dung dạy học ngày càng được hiện đại hoá

Sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học, kỹ thuật - công nghệ hiện nay khiến nội dung dạy học không ngừng được đổi mới, được hiện đại hoá Từ thực

tế đó nảy sinh mâu thuẫn giữa khối lượng tri thức tăng hơn, phức tạp hơn với thời lượng học tập của học sinh trong quá trình dạy học có giới hạn

Hướng giải quyết tích cực mâu thuẫn này là đổi mới phương pháp dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của người học

Từ đặc điểm này đòi hỏi người giáo viên trong quá trình dạy học không chỉ là người cung cấp thông tin mà quan trọng hơn, họ phải là người hướng dẫn học sinh biết cách tự mình thu thập, xử lý và vận dụng thông tin Còn học sinh trong quá trình học tập phải chú trọng học cách thu thập, xử lý và vận dụng thông tin để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra trong học tập cũng như cuộc sống

- Trong quá trình học tập hiện nay, nhu cầu hiểu biết của học sinh tiểu học có

xu hướng vượt ra khỏi nội dung tri thức, kỹ năng do chương trình quy định

Xu hướng này thể hiện ở chỗ học sinh thường chưa thoả mãn với những tri thức được cung cấp qua chương trình học tập Các em luôn muốn biết thêm, biết sâu hơn hững điều đã học và nhiều điều mới lạ của cuộc sống muôn màu muôn vẻ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và các nhu cầu cần thiết khác của cuộc sống

- Hoạt động dạy học ở trường Tiểu học hiện nay được tiến hành trong điều kiện

cơ sở vật chất, phương tiện dạy học ngày càng hiện đại, đa dạng

Trong xã hội hiện đại, các phương tiện dạy học đã có rất nhiều thay đổi so với trước Với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, các phương tiện kỹ thuật dạy học mới đã ra đời: Phim ảnh, vô tuyến truyền hình, máy vi tính, máy dạy học và kiểm tra, các phầm mềm dạy học, các thiết bị đa phương tiện Các thiết bị hiện đại này cho phép đưa vào quá trình dạy học những nội dung sinh động, làm thay đổi phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, mang đến cho quá trình dạy học một nhịp

độ, phong cách và trạng thái tâm lý mới

Trang 35

1.3.2 Vị trí, vai trò của môn Tự nhiên và Xã hội trong chương trình giáo dục phổ thông mới

* Vị trí môn học

Môn Tự nhiên và xã hội ở các lớp 1, 2, 3 với thời lượng 70 tiết cho mỗi lớp; tích hợp những kiến thức về thế giới tự nhiên và xã hội Môn học đóng vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh học tập các môn Khoa học, Lịch sử và Địa lý ở các lớp 4, 5 của cấp tiểu học, đồng thời góp phần đặt nền móng ban đầu cho việc giáo dục về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội ở các cấp học trên

* Vai trò của môn học

Môn TN&XH là môn học bắt buộc, có vai trò quan trọng trong chương trình dạy học cho học sinh tiểu học

Môn TN&XH có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển ở học sinh tình yêu con người, thiên nhiên, tính chăm chỉ, ý thức bảo vệ sức khỏe thể chất

và tinh thần của bản thân, gia đình, cộng đồng; ý thức tiết kiệm, giữ gìn, bảo vệ tài sản, tinh thần trách nhiệm với môi trường sống Bên cạnh đó, môn học còn có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển ở học sinh năng lực tìm hiểu TN&XH

1.3.3 Mục tiêu dạy học môn Tự nhiên và Xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới

Mục tiêu tổng quát của môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học theo chương trình GDPT mới là nhằm hình thành, phát triển ở học sinh tình yêu con người, thiên nhiên; đức tính chăm chỉ; ý thức bảo vệ sức khoẻ của bản thân, gia đình, cộng đồng; ý thức tiết kiệm, giữ gìn, bảo vệ tài sản; tinh thần trách nhiệm với môi trường sống; các năng lực chung và năng lực khoa học

Các mục tiêu cụ thể của HĐDH môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học theo chương trình GDPT mới bao gồm:

- Giúp HS có tình cảm yêu quý, trân trọng gia đình, bạn bè, cộng đồng; yêu thiên nhiên và có ý thức bảo vệ môi trường tự nhiên; có ý thức giữ vệ sinh cá nhân, thực hiện các quy tắc bảo vệ sức khoẻ và an toàn cho bản thân, gia đình, bạn bè và những người xung quanh; có ý thức sử dụng tiết kiệm, giữ gìn, bảo vệ những đồ dùng, vật dụng của gia đình, xã hội; có ý thức chăm sóc, bảo vệ thực vật và động vật, giữ vệ sinh môi trường; có ý thức vận dụng kiến thức, kỹ năng học được vào cuộc sống; tham gia các công việc gia đình, trường lớp, cộng đồng vừa sức với bản thân; hình thành và phát triển được các năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo

Trang 36

- Giúp học sinh nhận biết ở mức độ cơ bản, ban đầu về một số sự vật, hiện tượng và mối quan hệ trong môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh như sức khoẻ

và sự an toàn trong cuộc sống; Mối quan hệ của HS với gia đình, nhà trường, cộng đồng và thế giới tự nhiên; Phân biệt được sự vật và hiện tượng này với sự vật và hiện tượng khác dựa trên một số tiêu chí đơn giản

- Giúp học sinh có khả năng tìm tòi, khám phá môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh: Quan sát và đặt được các câu hỏi đơn giản về các sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội xung quanh và sự thay đổi của chúng; Sử dụng được những dụng cụ đơn giản để quan sát; Biết đọc để tìm thông tin, điều tra, thực hành đơn giản để tìm hiểu về sự vật, hiện tượng, mối quan hệ trong tự nhiên và xã hội xung quanh; Thu thập và ghi lại được các dữ liệu đơn giản từ quan sát, thực hành; Từ kết quả quan sát, thực hành rút ra được nhận xét về những đặc điểm bên ngoài, so sánh sự giống, khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng xung quanh và sự thay đổi của chúng theo thời gian một cách đơn giản

- Giúp học sinh biết cách vận dụng kiến thức vào thực tiễn, ứng xử phù hợp với

tự nhiên và xã hội: Vận dụng kiến thức để mô tả, giải thích được một số sự vật, hiện tượng, mối quan hệ trong tự nhiên và xã hội xung quanh; Ứng xử phù hợp trong các tình huống có liên quan đến vấn đề sức khoẻ của bản thân, gia đình và cộng đồng

1.3.4 Nội dung dạy học môn Tự nhiên và Xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới

Nội dung dạy học môn Tự nhiên và Xã hội được tổ chức theo các chủ đề: Gia đình, trường học, cộng đồng địa phương, thực vật và động vật, con người và sức khỏe, trái đất và bầu trời Các chủ đề này được phát triển theo hướng mở rộng và nâng cao từ lớp 1 đến lớp 3 Mỗi chủ đề đều thể hiện mối liên quan, sự tương tác giữa con người với các yếu tố tự nhiên và xã hội

Nội dung môn Tự nhiên và xã hội ở lớp 1 được tổ chức theo các chủ đề như sau:

- Gia đình: Thành viên và mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình; nhà

ở, đồ dùng trong nhà, sử dụng an toàn một số đồ dùng trong nhà, sắp xếp đồ dùng cá nhân gọn gàng, ngăn nắp

- Trường học: Cơ sở vật chất của lớp học và trường học; các thành viên và nhiệm vụ của một số thành viên trong lớp học, trường học; hoạt động chính của học sinh ở lớp học và trường học; an toàn khi vui chơi ở trường và giữ lớp học sạch đẹp

Trang 37

- Cộng đồng địa phương: Quang cảnh làng xóm, đường phố; một số hoạt động của người dân trong cộng đồng; an toàn giao thông

- Thực vật và động vật: Thực vật và động vật xung quanh; chăm sóc và bảo vệ cây trồng và vật nuôi

- Con người và sức khỏe: Các bộ phận bên ngoài và giác quan của cơ thể; giữ cho cơ thẻ khỏe mạnh và an toàn

- Trái đất và bầu trời: Bầu trời ban ngày, ban đêm, thời tiết

Nội dung môn Tự nhiên và xã hội ở lớp 2 được tổ chức theo các chủ đề như sau:

- Gia đình: Các thế hệ trong gia đình; nghề nghiệp của người lớn trong gia đình; phòng tránh ngộ độc khi ở nhà; giữ vệ sinh nhà ở

- Trường học: Một số sự kiện thường được tổ chức ở trường học; giữ an toàn vệ sinh khi tham gia một số hoạt động ở trường

- Cộng đồng địa phương: Hoạt động mua bán hàng hóa; hoạt động giao thông

- Thực vật và động vật: Môi trường sống của thực vật và động vật; bảo vệ môi trường sống của thực vật và động vật

- Con người và sức khỏe: Một số cơ quan bên trong cơ thể; vận động, hô hấp, bài tiết nước tiểu; chăm sóc và bảo vệ các cơ quan trong cơ thể

- Trái đất và bầu trời: Các mùa trong năm; một số thiên tai thường gặp

Nội dung môn Tự nhiên và xã hội ở lớp 3 được tổ chức theo các chủ đề như sau:

- Gia đình: Họ hàng nội, ngoại; ngày kỉ niệm, sự kiện đáng nhớ của gia đình; phòng tránh hỏa hoạn khi ở nhà; giữ vệ sinh xung quanh nhà

- Trường học: Hoạt động kết nối với xã hội của trường học; truyền thống nhà trường; giữ an toàn và vệ sinh ở trường hoặc khu xung quanh trường

- Cộng đồng địa phương: Một số hoạt động sản xuất; một số di tích văn hóa, lịch sử và cảnh quan thiên nhiên

- Thực vật và động vật: Các bộ phận của thực vật, động vật và chức năng của các bộ phận đó; sử dụng hợp lí thực vật, động vật

- Con người và sức khỏe: Một số cơ quan bên trong cơ thể; tiêu hóa, tuần hoàn, thần kinh; chăm sóc và bảo vệ các cơ quan trong cơ thể

- Trái đất và bầu trời: Phương hướng; một số đặc điểm của trái đất; trái đất trong

hệ mặt trời

Trang 38

1.3.5 Phương pháp dạy học môn Tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới

Có nhiều phương pháp dạy học được sử dụng trong dạy học môn Tự nhiên và

Xã hội theo chương trình GDPT mới, trong đó có thể kể đến một số phương pháp thường được sử dụng dưới đây:

- Phương pháp vấn đáp là phương pháp giáo viên tổ chức cuộc trao đổi giữa

GV và HS, giữa HS với nhau dựa trên hệ thống câu hỏi nhằm dẫn dắt HS đi đến kết luận khoa học hoặc vận dụng vốn hiểu biết của mình để tìm hiểu những vấn đề về học tập, cuộc sống tự nhiên xung quanh

- Phương pháp thực hành thí nghiệm

Là phương pháp dưới sự định hướng của giáo viên, học sinh sử dụng những thiết bị, nguyên vật liệu thí nghiệm và thao tác làm thí nghiệm nhằm làm sáng tỏ, khẳng định những vấn đề lý thuyết, củng cố, đào sâu những tri thức đã hình thành, vận dụng những tri thức lý thuyết để nghiên cứu những vấn đề do thực tiễn đặt ra Ở bậc tiểu học, các thí nghiệm chỉ nghiên cứu những hiện tượng về mặt định tính mà chưa đặt ra mặt định lượng

Trang 39

- Phương pháp kể chuyện

Phương pháp kể chuyện là cách thức dùng lời nói trình bày một cách sinh động,

có hình ảnh và truyền cảm đến người nghe về một nhân vật lịch sử, một sự kiện lịch

sử, một phát minh hay một vùng đất để qua đó hình thành một biểu tượng hoặc một khái niệm cho học sinh

- Phương pháp Dạy học nêu vấn đề: là phương pháp giáo viên nêu ra vấn đề

chính và đặt ra các câu hỏi, yêu cầu học sinh tự giải quyết các câu hỏi xoay quanh vấn đề đó Phương pháp nêu vấn đề sẽ tăng cường phát huy tính tích cực, năng lực tự học của học sinh, dành nhiều thời gian cho học sinh nghiên cứu SGK và tài liệu

- Phương pháp thảo luận nhóm

Phương pháp thảo luận là PPDH GV chia lớp làm nhiều nhóm theo biên chế tổ

HS hay theo dãy bàn; giao nhiệm vụ cho từng nhóm ứng với từng nội dung bài học của môn học Các nhóm thảo luận, bàn bạc và đi đến thống nhất Sau đó, đại diện từng nhóm lên trình bày Các nhóm khác nghe và nhận xét, đóng góp ý kiến cho nhóm bạn Cuối cùng, GV chốt ý, kết luận Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tích cực, tính trách nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làm việc

và năng lực giao tiếp của học sinh Đồng thời tránh sự nhàm chán, khơi dậy sự hứng thú Tuy nhiên, phương pháp này cũng có hạn chế là nếu GV quản lý lớp không tốt thì HS dễ mất trật tự, chỉ một số ít em tập trung thảo luận, còn các em khác trông chờ, ỷ lại

- Phương pháp dạy học theo tình huống

Giáo viên nêu chủ đề, chia nhóm và giao tình huống Trong đó có quy định rõ thời gian chuẩn bị của mỗi nhóm Các nhóm thảo luận chuẩn bị giải quyết tình huống

và đại diện trình bày trước lớp Cả lớp thảo luận, nhận xét về cách ứng xử và cảm xúc trước các tình huống đặt ra, về ý nghĩa của các cách ứng xử… GV kết luận, định hướng cho HS về cách ứng xử tích cực trong tình huống đã cho Phương pháp này

nhằm giúp học sinh phát huy được năng lực năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

- Phương pháp bàn tay nặn bột

Phương pháp bàn tay nặn bột là phương pháp dưới sự giúp đỡ của GV, chính

HS tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức của mình

Trang 40

Không có PPDH nào là vạn năng, mỗi PPDH đều có những ưu điểm và nhược điểm của mình Do đó, muốn mang lại kết quả DH tối ưu, GV cần phải sử dụng phối hợp các PPDH

1.3.6 Hình thức dạy học môn Tự nhiên và xã hội theo chương trình giáo dục phổ thông mới

Hình thức tổ chức dạy học là sự biểu hiện bên ngoài của hoạt động phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên và học sinh được thực hiện trong một trật tự quy định và một

số chế độ xác định HĐDH môn Tự nhiên và Xã hội ở trường Tiểu học theo chương trình GDPT mới được thực hiện thông qua các HTTCDH như: Hình thức Lớp - Bài, thảo luận, ngoại khóa, tham quan… Mỗi hình thức dạy học có những ưu - nhược điểm riêng biệt

- Hình thức Lớp - Bài (hình thức Lên lớp)

Khi sử dụng dạy môn Tự nhiên và Xã hội cần bảo đảm cho dạy và học tiến hành có mục tiêu, có kế hoạch, có hệ thống phù hợp với yêu cầu về tâm lý học, giáo dục học; Hình thức đạy học này cơ ưu điểm đào tạo được hàng loạt học sinh theo nhu cầu học tập của học sinh và yêu cầu trình độ lao động của xã hội; Tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa các học sinh trong học tập cũng như trong giáo dục học sinh những phẩm chất đạo đức

- Hình thức trải nghiệm

Môn TN&XH có nhiều nội dung gắn liền với môi trường Tự nhiên, xã hội của địa phương, nơi HS sinh sống Có thể lựa chọn các nội dung thực tế phù hợp liên quan đến các nội dung trong môn học, tổ chức cho học sinh được tham gia hoạt động, được trải nghiệm, qua đó giúp HS củng cố, khắc sâu, sáng tỏ những tri thức được lĩnh hội trong môn học

- Hình thức Tham quan

Hoạt động tham quan, tìm hiểu thực tiễn là một hình thức dạy học được coi trọng và áp dụng rộng rãi trong dạy học Ưu điểm nổi bật của hoạt động này chính là tính trực quan sinh động, có khả năng tạo ra sự hứng thú cho học sinh vì các em được hòa mình vào môi trường tự nhiên, xã hội

Trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội, tham quan là hình thức tổ chức dạy học có vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện để HS tiếp xúc với thiên nhiên, xã hội xung quanh, giúp cho HS thấy được hiện tượng sinh động, cụ thể vừa giúp các em

bổ sung, mở rộng nhận thức, củng cố tri thức đã học Đồng thời, thông qua việc tham

Ngày đăng: 23/11/2020, 10:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w