1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những giải pháp nâng cao hiệu quả luật thuế thu nhập cá nhân ở việt nam hiện nay

49 71 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 110,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện đúng quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội, Ngày 22/11/2012 Quốc Hội đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập

Trang 1

MỤC LỤC Trang

LỜI NÓI ĐẦU 3

1 Tính cấp thiết của đề tài 3

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 4

4 Kết cấu của đề tài 4

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 5

1.1 Khái quát thuế thu nhập cá nhân 5

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 5

1.1.2 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân 7

1.2 Khái quát pháp luật thuế thu nhập cá nhân 9

1.2.1 Khái niệm pháp luật thuế thu nhập cá nhân 9

1.2.2 Cấu trúc pháp luật thuế thu nhập cá nhân 10

1.2.3 Các yếu tố chi phối pháp luật thuế thu nhập cá nhân 13

1.2.4 Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân ở một số nước 17

1.3 Tiêu chí đánh giá tính hiệu quả pháp luật thuế thu nhập cá nhân 22

1.3.1 Khái niệm tính hiệu quả của pháp luật thuế thu nhập cá nhân 22

1.3.2 Các tiêu chí đánh giá tính hiệu quả pháp luật thuế thu nhập cá nhân.22 Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM 25

2.1 Thực trạng của pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay 25 2.1.1 Khái quát về hệ thống các quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay 25

2.1.2 Những ưu điểm của pháp luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành 26

2.1.3 Những hạn chế của pháp luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành 29

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật thuế thu nhập cá nhân 31

2.2.1 Thành tựu đạt được trong việc thi hành pháp luật thuế TNCN 31

Trang 2

2.2.2 Những bất cập hạn chế và nguyên nhân của những bất cập 35

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM 38

3.1 Những định hướng cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luật và cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam 38

3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam 38

3.3 Các giải pháp bảo đảm thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật thuế TNCN ở nước ta hiện nay 40

KẾT LUẬN 45

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

Phụ lục 1 48

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU



1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bất kỳ một chế độ xã hội nào, thuế luôn luôn là một công cụ thể hiệnquyền lực của Nhà nước và là nguồn tài chính chủ yếu của quốc gia

Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) có ý nghĩa rất quan trọng, nguồn thu thuếTNCN gia tăng cùng với sự phát triển kinh tế, thu nhập của dân cư nói chung và sựgia tăng số lượng lao động của mỗi quốc gia Thuế TNCN đã và sẽ là một trongnhững nguồn thu chính của mỗi quốc gia

Luật thuế TNCN ở nước ta hiện nay ngày càng hoàn thiện cho phù hợp vớitiến trình đổi mới quản lý kinh tế của Nhà nước, phù hợp với trình độ phát triểnkinh tế-xã hội hướng dần đến phù hợp hơn với hệ thống thuế các nước, hướng tớimột hệ thống thuế công bằng và hiện đại hơn

Để thực hiện đúng quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội, Ngày 22/11/2012 Quốc Hội đã sửa đổi, bổ sung một

số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 theo hướng đẩy mạnh đơn giảnhóa thủ tục hành chính thuế, tạo thuận lợi và thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đáp ứngmục tiêu, yêu cầu của Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2015 vàchiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2020 cho phù hợp với nền kinh tế củađất nước

Tuy nhiên, khi Luật thuế TNCN đi vào thực tế cuộc sống đã gặp phải nhữngkhó khăn, vướng mắc; người nộp thuế lợi dụng kẽ hở của pháp luật về thuế TNCN

để tìm cách khai gian lận thuế, trốn thuế, chấp hành pháp luật thuế chưa nghiêm còn

để nợ thuế dây dưa kéo dài Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là phải tìm những giải phápnhằm nâng cao hiệu quả Luật thuế và hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN

Với mong muốn tìm hiểu về Luật thuế TNCN và trên cơ sở đó đưa ra những

ý kiến cá nhân nhằm hoàn thiện luật thuế, em đã lựa chọn đề tài: “Những giải pháp

nâng cao hiệu quả Luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài

nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu.

Với mục tiêu nghiên cứu khái quát các quy định của pháp luật thuế TNCN,cũng như tìm hiểu về việc áp dụng pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam trong nhữngnăm qua, chỉ ra được những ưu điểm, những bất cập, hạn chế trong các quy địnhcủa pháp luật và những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn thi hành Đồng thời,làm rõ nguyên nhân những tồn tại, yếu kém trong pháp luật thuế TNCN và công tác

Trang 4

quản lí hiện nay để từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả Luật thuếTNCN và công tác quản lý thuế

3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Để thực hiện đề tài này,em đã sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích vàtổng hợp, các phương pháp định tính, định lượng, các công cụ thống kê, và sưu tầmcác tài liệu liên quan

4 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục đề tài tham khảo và phụlục, những nội dung chính của đề tài được trình bày trong ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thuế thu nhập cá nhân và pháp luật thuếthu nhập cá nhân

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật thuế thu nhập

cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Phương hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả pháp luật thuếthu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Để hoàn thành được khóa luận này, em đã nhận được sự giúp đỡ hết sức tận

tình của thầy TS Vũ Văn Cương Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy, đã

hướng dẫn em trong thời gian qua

Do thời gian và vốn kiến thức còn nhiều hạn hẹp nên chắc chắn không thểtránh được những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ quýthầy, cô để bài viết được hoàn thiện hơn!

Trang 5

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ

PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

1.1 Khái quát thuế thu nhập cá nhân

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân

a) Khái niệm thuế thu nhập cá nhân

Thuế xuất hiện khi trong xã hội xuất hiện sản phẩm thặng dư cùng với sựphân chia giai cấp, Thuế được giai cấp thống trị dùng như một công cụ để tạo ranguồn thu chủ yếu cho mọi nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước nói chung haycủa giai cấp thống trị nói riêng Vì thế, Thuế được xem như một phạm trù vừa cótính lịch sử vừa là một tất yếu khách quan đáp ứng nhu cầu của Nhà nước trong quátrình tồn tại và phát triển của mình Giai cấp thống trị-vua chúa sử dụng thuế nhưmột công cụ kinh tế quan trọng nhằm huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước,qua tiến trình tiến triển của lịch sử, hiện nay thuế vẫn được sử dụng với đúng mụcđích của nó nhưng bản chất của Thuế ở các nước lại không giống nhau, nó tùy thuộcvào bản chất Nhà nước và cách thức sử dụng nguồn thu từ thuế Do đó, cũng tồn tạinhiều khái niệm khác nhau về thuế do quan điểm về Thuế ở các nước khác nhau như:

Thuế là một khoản thu của nhà nước đối với các tổ chức và mọi thành viêntrong xã hội Thuế là khoản thu có tính bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp theoluật định

Marx viết (1) “Thuế là cở sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn đơngiản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêucủa nhà nước"

Các nhà nguyên cứu kinh tế khác cho rằng (2) “Thuế là hình thức phân phốithu nhập tài chính của Nhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vào quyềnlực chính trị, tiến hành phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế

và không hoàn lại”

Trên cơ sở nhưng khái niệm về Thuế, chúng ta có thể rút ra khái niệm về

thuế TNCN theo pháp luật hiện hành như sau:

“Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận

1() Nguồn: Hệ thống chính sách thuế Việt Nam hiện hành, Tác giả- Pts Nguyễn Thị Kim Tuyển, Pts Phan Mỹ Hạnh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1998.( từ trang 267-305).

2() Nguồn: Phát biểu của chủ tịch ủy ban Thuế của chính phủ Nhật bản, trên www.vibonline.com.vn

3() Giáo trình Luật thuế Việt Nam-Trường đại học Luật Hà Nội, NXb Công an Nhân dân, Hà Nội, trang 198.

Trang 6

b) Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân

Thuế thu nhập cá nhân mang một số đặc trưng cơ bản như sau:

- Thuế TNCN là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắctheo luật định Phân phối khoản thu nhập qua thuế TNCN gắn với quyền lực, sứcmạnh của Nhà nước

- Thuế TNCN là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp Nóvận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà người nộp thuế phải trả choNhà nước do được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp

- Thuế TNCN là thuế trực thu, đánh vào thu nhập chính đáng của từng cánhân Do là thuế trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuếtheo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế Người nộp thuế cũng là ngườichịu thuế, người chịu thuế TNCN không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuếsang cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế

- Thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai khía cạnh:

Một là, đối tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá

nhân thuộc diện chịu thuế, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoàilãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập áp dụng đối với cánhân cư trú; còn với cá nhân không cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinhtại Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập

Hai là, đối tượng phải kê khai nộp thuế TNCN là toàn bộ những người có

thu nhập, bao gồm tất cả công dân của nước sở tại và những người nước ngoài cưtrú thường xuyên hay không thường xuyên nhưng có thu nhập chịu thuế phát sinhtheo quy định của pháp luật thuế TNCN

- Thuế suất TNCN thường áp dụng theo nguyên tắc lũy tiến từng phần Cácnước thường xây dựng một biểu thuế luỹ tiến, các bậc ứng với mức thu nhập càngcao thì có mức thuế suất biên càng cao Do đó những người có thu nhập càng caothì phải chịu mức thuế đóng góp cao hơn so với những người có mức thu nhập thấphơn Nó góp phần đảm bảo tính chất công bằng trong phân phối xã hội, công bằng ởđây là công bằng theo chiều dọc Biểu thuế luỹ tiến được xây dựng căn cứ vàonguyên tắc đánh thuế dựa vào khả năng nộp thuế của các cá nhân khác nhau Nhữngngười có thu nhập cao thì có khả năng nộp thuế cao hơn những người có thu nhậpthấp và ngược lại

-Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia Hầu hết cácquốc gia đều gắn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội khác Thểhiện nó luôn quy định loại trừ một số khoản thu nhập trước khi tính thuế TNCN nhưphúc lợi, thu nhập mang tính trợ cấp xã hội, khoản chi cần thiết cho cuộc sống cá

Trang 7

nhân, gia đình người nộp thuế, khoản chi mang tính nhân đạo xã hội (công cộng,chăm sóc sức khỏe) …

-Xét về góc độ kinh tế, thuế thu nhập cá nhân có tính trung lập cao hơn sovới các loại thuế khác vì việc tăng hay giảm thuế suất thuế thu nhập cá nhân hầunhư không kéo theo những biến đổi về cơ cấu kinh tế

1.1.2 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân

Trước bối cảnh đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và những sự biến đổi lớncủa điều kiện kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, việc sửa đổi, bổ sung Luật thuếTNCN ở nước ta là hết sức cần thiết và có vai trò quan trọng về nhiều mặt Là một

bộ phận của hệ thống thuế nên thuế TNCN vừa mang vai trò chủ yếu của thuế nóichung, vừa có các vai trò riêng mà các loại thuế khác không có được

a) Đối với nền kinh tế- xã hội

* Tạo lập nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước

Thuế TNCN là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành thuế nóichung nên cũng góp một phần quan trọng để tạo nguồn tài chính cho nhà nước.Thuế TNCN được tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn.Bên cạnh đó, thuế TNCN tác động trực tiếp vào thu nhập của dân cư mà người dâncủa bất kỳ quốc gia nào cũng đều mong muốn và cố gắng có thu nhập ngày càngcao để nâng cao đời sống vật chất tinh thần Thuế TNCN luôn có sự gia tăng nhanhchóng cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu người

* Góp phần thực hiện công bằng xã hội

Trong mỗi quốc gia, thu nhập của mỗi cá nhân phụ thuộc chủ yếu vào cácyếu tố như khả năng và trình độ lao động, vị trí công tác, quyền sở hữu về tài sảncủa cá nhân đó Tuy nhiên, các yếu tố nói trên của mỗi cá nhân thường không giốngnhau nên đã tạo ra sự khác nhau về thu nhập của mỗi người Chính sự khác nhau ấy

là nguồn gốc tạo ra sự phân cực giàu nghèo, tạo sự bất bình đẳng trong xã hội Đểgiải quyết vấn đề này, các nước đã dùng nhiều hình thức và biện pháp khác nhautrong đó thuế TNCN được xem như một công cụ hữu hiệu để điều tiết bớt thu nhậpcủa những người có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội

* Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm

Thuế TNCN là một công cụ rất cần thiết để thực hiện việc kiểm soát thunhập của các tầng lớp dân cư, thực hiện công bằng xã hội và quản lý, điều tiết vĩ mô

nền kinh tế Để kiểm soát thu nhập dân cư, nhà nước phải sử dụng đồng thời cả hai

cơ chế quản lý quỹ tiền lương, tiền công, chế độ báo cáo quyết toán kinh doanh…và

cơ chế kê khai nộp thuế TNCN, tuy ban đầu có thể chưa chính xác, nhưng sẽ là căn

cứ để thống kê thu nhập dân cư phục vụ chương trình mục tiêu nghiên cứu quốc gia,

Trang 8

hoạch định chính sách phát triển phù hợp khi tính tuân thủ pháp luật, pháp chế xãhội được nâng lên.

Thông qua các cơ chế và công cụ quản lý đó mà nhà nước sẽ có giải pháptăng cường hoặc giảm bớt điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư làm cho tổngcầu xã hội giảm hoặc tăng, từ đó có tác dụng thu hẹp hay kích thích kinh tế pháttriển Đó chính là vai trò quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế mà chính sách thuế thunhập cá nhân góp phần tác dụng đáng kể

* Góp phần phát hiện thu nhập bất hợp pháp

Thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhận được

từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hởcủa pháp luật mà nhà nước không kiểm soát được như tham ô, nhận hối lộ, buônbán hàng quốc cấm, trốn tránh thuế, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhà nước vàcông dân Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đến đời sống kinh tế – xã hội củamỗi quốc gia Phải kết hợp hữu hiệu nhiều biện pháp để ngăn chặn và chống lạinhững hành vi trên, một trong số các biện pháp ngăn chặn đó thì phải kể đến vai tròcủa thuế TNCN

b) Đối với hệ thống thuế

* Góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác

Một số thuế gián thu như: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đều cónhược điểm là có tính luỹ thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn ngườigiàu vì khi tiêu thụ cùng một lượng hàng hoá mọi người không phân biệt giàunghèo và đều phải chịu thuế như nhau Thuế TNCN tính theo phương pháp luỹ tiếntừng phần sẽ góp phần khắc phục được nhược điểm này

* Góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp

Trong doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế thu nhập doanh nghiệp và thuếTNCN Giữa hai loại thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau ThuếTNCN còn góp phần khắc phục sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sựthông đồng giữa các doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân Trongtrường hợp doanh nghiệp kê khai cao hơn thực tế những chi phí phải trả cho các cánhân để làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp hòng trốn thuế thu nhậpdoanh nghiệp thì các cá nhân nhận được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêmthuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập nhận được kê khai tăng thêm đó Thunhập của doanh nghiệp tăng thường kéo theo sự tăng lên của thuế TNCN và thuếthu nhập doanh nghiệp

* Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế

Trang 9

Xây dựng và phát triển, hoàn thiện chính sách thuế TNCN là góp phần hoànthiện hệ thống chính sách thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập vớikinh tế thế giới Việc sửa đổi, bổ sung Luật thuế TNCN là bước thể chế hoá đườnglối chính sách của Đảng về lĩnh vực tài chính tiền tệ đồng thời là bước đi phù hợp lộtrình cải cách thuế theo mục tiêu chiến lược Chính phủ đã hoạch định.

Nhận thức đúng vai trò, vị trí hiện tại cũng như hướng phát triển hoàn chỉnhcủa chính sách thuế TNCN, quán triệt đầy đủ nội dung yêu cầu của Luật thuế thunhập cá nhân mới ban hành để tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế, vận động toàndân hiểu biết, chấp hành là nghĩa vụ và trách nhiệm của các tổ chức, cơ quan, đơn vị

và cán bộ, công chức, công dân theo quy định của Luật Quản lý thuế số 78/2006 sửađổi bổ sung năm 2012 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2013

Tóm lại, Thuế TNCN đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển củamỗi quốc gia, ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước

Dù không phải là mục tiêu chủ yếu, song thực hiện phát triển chính sách thuế trựcthu nói chung, thuế TNCN nói riêng chính là là việc tạo lập và phát triển nguồn thuvững chắc cho ngân sách nhà nước Cùng với xu hướng tăng trưởng kinh tế ngàycàng cao, hội nhập và phát triển, thu nhập quốc dân đầu người ngày càng lớn thì khảnăng huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua thuế thu nhập cá nhân

sẽ ngày càng tăng Tuy nhiên, vì luật thuế TNCN và công tác quản lý còn nhiều hạnchế nên những vai trò này vẫn chưa thực sự được phát huy ở những nước chậm vàđang phát triển

1.2 Khái quát pháp luật thuế thu nhập cá nhân

1.2.1 Khái niệm pháp luật thuế thu nhập cá nhân

Pháp luật thuế TNCN là tổng thể các quy phạm pháp luật do các cơ quanNhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xãhội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền vàngười nộp thuế là các cá nhân có thu nhập chịu thuế phát sinh nhằm hình thànhnguồn thu ngân sách Nhà nước

- Pháp luật thuế TNCN khá phức tạp, do đặc điểm là điều tiết lên thu nhậpcủa dân cư, phạm vi điều chỉnh rất rộng, ngoài việc xác định thu nhập chịu thuế cònphải xác định thời điểm phát sinh thu nhập, nguồn gốc, địa điểm, thời hạn cư trú củađối tượng nộp thuế và các khoản chi phí được trừ trước khi tính thuế…

- Nguồn luật điều chỉnh quan hệ thuế TNCN bao gồm luật quốc gia và luậtquốc tế Thu nhập có thể phát sinh trên lãnh thổ quốc gia hay ngoài lãnh thổ, đốitượng nộp thuế có thể là công dân của quốc gia sở tại hay người nước ngoài ThuếTNCN có thể được điều chỉnh bởi hiệp định đánh thuế hai lần

Trang 10

1.2.2 Cấu trúc pháp luật thuế thu nhập cá nhân

Thực tế cho thấy rằng luôn luôn có sự khác nhau giữa các quốc gia trongviệc thiết kế mô hình hệ thống pháp luật thuế

Có những nước quy định tất cả các sắc thuế trong một Bộ luật chung về thuế,gọi là Bộ luật thuế vụ Trong bộ luật này, các nhà làm luật vừa quy định về nội dung

cụ thể của các loại thuế trong hệ thống thuế, vừa quy định về trình tự, tủ tục và các

cơ chế quản lý thuế cũng như xử lý vi phạm và giải quyết các tranh chấp về thuế

Ngược lại, có những nước lựa chọn giải pháp thiết kế mỗi loại thuế được banhành bằng một đạo luật riêng, độc lập với nhau nhưng vẫn đảm bảo tính tính tươngthích với nhau và đồng thời tách bạch các quy định về quản lý thuế bằng một đạoluật riêng so với các đạo luật thuế

Theo kinh nghiệm điều chỉnh bằng pháp luật đối với lĩnh vực thuế của nhiềunước trên thế giới, việc đa dạng hóa các thuế sắc dựa trên kết quả phân loại thuế củacác nhà khoa học, chính là một trong những giải pháp tốt nhất để tạo ra một hệthống pháp luật thuế hoàn hảo

Trong bối cảnh thế giới đương đại, xu hướng chung của các nước là tìm cáchban hành ra những đạo luật riêng về từng loại thuế và cố gắng tách bạch các quyđịnh về thuế, bằng cách ban hành một đạo luật riêng, gọi là Luật về quản lý thuế.Giải pháp này được đánh giá là thích hợp hơn với điều kiện hội nhập kinh tế toàncầu vì nó cho phép nhà làm luật có thể sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh các quy địnhtrong đạo luật thuế một cách dễ dàng hơn, so với việc đưa ra tất cả các quy định vềthuế trong một Bộ luật chung về thuế

Việt Nam là một trong số quốc gia này, hệ thống pháp luật thuế của nước tađược cấu thành bởi hai bộ phận chính, bao gồm các quy định về nội dung của cácthuế sắc trong luật thuế; các quy định về hình thức tổ chức và đảm bảo thực hiện hệthống thuế Như vậy, Pháp luật thuế TNCN có cấu trúc hai phần: Pháp luật về nộidung sắc thuế TNCN (Luật nội dung) và pháp luật về quản lý thuế (Luật hình thức)

* Bộ phận pháp luật quy định về nội dung chính sách thuế TNCN (Luật thuếTNCN):

Những quy định về nội dung của sắc thuế này thực chất là những quy địnhnhằm xác định ai là người nộp thuế và mức thuế mà họ phải nộp cho Nhà nước làbao nhiêu Những quy định này liên quan tới chủ thể nộp thuế, đối tượng chịu thuế,căn cứ tính thuế và được quy định rất đầy đủ, chi tiết trong Luật thuế TNCN

- Những quy định về chủ thể nộp thuế: Luật thuế TNCN đối tượng nộp thuếTNCN là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ

Trang 11

Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổViệt Nam

- Những quy định về căn cứ tính thuế có nhiệm vụ xác định rõ các chủ thểnộp thuế (cá nhân) phải nộp số tiền là bao nhiêu cho Nhà nước Những quy địnhnày chỉ rõ các yếu tố cần và đủ để xác định mức thế cụ thể cho một chủ thể nộpthuế, khi xảy ra sự kiện làm phát sinh nghĩa vụ thuế Thu nhập chịu thuế bao gồm:Thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ đầu tư vốn;thu nhập từ chuyển nhượng vốn; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; thu nhập

từ trúng thưởng; thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương mại; thunhập từ nhận thừa kế; thu nhập từ nhận quà tặng

Thu nhập tính thuế của cá nhân phát sinh trong kỳ tính thuế là thu nhập mà

cá nhân nhận được trong kỳ sau khi đã trừ thu nhập được miễn thuế như thu nhập từchuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha, mẹ đẻ với con đẻ; cha, mẹnuôi với con nuôi; cha, mẹ chồng với con dâu; cha, mẹ vợ với con rể; ông, bà nộivới cháu nội; ông, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau; thu nhập từkiều hối; thu nhập từ tiền lương hưu do Bảo hiểm xã hội chi trả; thu nhập từ họcbổng, trừ các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm trách nhiệmnghề nghiệp… và giảm trừ các khoản chi phí liên quan để tạo ra thu nhập, cáckhoản giảm trừ mang tính chất xã hội và các khoản giảm trừ khác

Thuế suất: Luật thuế TNCN có hai biểu thuế suất:

- Biểu thuế lũy tiến từng phần: áp dụng thu nhập tính thuế đối với thu nhập

từ kinh doanh, tiền lương, tiền công Có 7 mức thuế suất, thấp nhất là 5% và caonhất là 35%

- Biểu thuế suất toàn phần: áp dụng thu nhập tính thuế đối với thu nhập từđẩu tư vốn, chuyển nhượng bất động sản, nhượng quyền thương mại, trúng thưởng,nhận thừa kế, quà tặng

* Bộ phận pháp luật về quản lý thuế TNCN

Các quy định trong luật quản lý thuế là những quy định về hình thức củapháp luật thuế, bởi nó có nhiệm vụ xác định trình tự, thủ tục thu thuế, thanh tra,kiểm tra thuế cũng như xử lý các vi phạm và giải quyết các khiếu nại, tố cáo vềthuế, bao gồm các nhóm quy định cơ bản sau:

- Các quy định về đăng ký, kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán, truy thu

và hoàn thuế:

+ Đối tượng đăng ký thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh; cánhân có thu nhập thuộc diện chịu thuế TNCN; tổ chức, cá nhân có trách nhiệm khấutrừ và nộp thuế thay;tổ chức cá nhân khác theo quy định của pháp luật về thuế Theo

đó, cá nhân, tổ chức phải đăng ký mã số thuế và được cấp một lần duy nhất

Trang 12

+ Khai thuế: người nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nộidung trong tờ khai thuế theo mẫu của Bộ tài chính và nộp đủ các loại chứng từ, tàiliệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lý thuế Người nộp thuế phải

tự tính số thuế phải nộp, trừ trường hợp việc tính thuế do cơ quan quản lý thuế thựchiện theo quy định của Chính phủ

Việc thu nộp thuế TNCN sẽ thực hiện tự khai, tự nộp theo quy định của Luậtquản lý thuế Vẫn có hai cách là khấu trừ tại nguồn phát sinh thu nhập hoặc tự khai,

tự nộp tại cơ quan thuế

Trên cơ sở đó, cơ quan thuế thực hiện việc thu thuế, cuối năm từng cá nhân

sẽ quyết toán thuế đối với các khoản thu nhập của mình Nếu số thuế phải nộp íthơn số thuế đã nộp thì cá nhân được hoàn thuế Hồ sơ hoàn thuế bao gồm: Văn bảnyêu cầu hoàn thuế; Các tài liệu liên quan đến yêu cầu hoàn thuế

Hồ sơ hoàn thuế được nộp tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp hoặc tại cơ quanhải quan có thẩm quyền hoàn thuế

Đăng ký, kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, truy thu, hoàn thuế lànhững hoạt động quan trọng trong quá trình thực hiện chức năng quản lý thuế củacác cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Trước đây, các hoạt động này thường đượcthực hiện bằng các quyết định hoặc hành vi hành chính đơn phương của Nhà nước

và bất chấp thái độ của người nộp thuế Hiện nay, quy trình này về cơ bản đã đượcthay đổi theo hướng dành quyền chủ động tối đa cho người nộp thuế trong việc tựđăng ký thuế, tự kê khai, tính thuế và tự nộp thuế cho cơ quan Nhà nước Đây làbước đột phá quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính thuế ở Việt Nam Xét

từ phương diện pháp luật, các quy định này nhằm hướng tới mục tiêu mở rộngquyền năng cho người nộp thuế, đồng thời qua đó cũng đề cao ý thức trách nhiệmcủa họ trong quá trình thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước

- Các quy định về thanh tra, kiểm tra thuế và xử lý vi phạm pháp luật thuế.Đây là những quy định thể hiện rõ nhất vai trò, chức năng quản lý hành chính củaNhà nước đối với xã hội nói chung và đối với người nộp thuế nói riêng Cơ quanquản lý thuế chỉ tiến hành thanh tra, kiểm tra sau khi người nộp thuế đã tự thực hiệncác thủ tục chính yếu của quá trình quản lý thuế như đăng ký, kê khai, tính thuế vànộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế hay xin miễn thuế Dựa trên cơ sở kết quảthanh tra và kiểm tra cơ quan thuế có quyền áp dụng các chế tài xử lý đối với nhữnghành vi vi phạm pháp luật thuế Đối với các trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, gianlận thuế thù có thể áp dụng các biện pháp trong thanh tra thuế

Trang 13

Căn cứ vào kết quả kiểm tra, thanh tra thuế, thủ trưởng cơ quan quản lý thuế

ra quyết định xử lý về thuế, xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc đề nghịngười có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế

- Các quy định về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thuế

Các quy định về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thuế TNCN có mục tiêulàm rõ những vấn đề sau đây:

Thứ nhất, nhận diện đầy đủ và chính xác các loại tranh chấp giữa cơ quan thuếvới người nộp thuế phát sinh trong lĩnh vực thuế Có rất nhiều tranh chấp khác nhaunhưng phổ biến nhất vẫn là tranh chấp về cơ sở tính thuế và số tiền thuế phải nộp

Thứ hai, xác định phương thức giải quyết tranh chấp giữa cơ quan thuế vớingười nộp thuế

Giải quyết tranh chấp về thuế bằng thủ tục hành chính trước hết và chủ yếubao gồm việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính về thuế Ngoài ra, cáctranh chấp về thuế cũng có thể được giải quyết bằng một số thủ tục hành chính đặcbiệt như xin ân giảm thuế và giải quyết tranh chấp thông qua tư vấn trọng tài

1.2.3 Các yếu tố chi phối pháp luật thuế thu nhập cá nhân

Thuế TNCN ra đời phải đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu đặt ra của Nhànước và xã hội, do đó có rất nhiều yếu tố chi phối tới hệ thống pháp luật thuế này

Để xây dựng một hệ thống thuế TNCN hoàn thiện và đáp ứng đầy đủ các điều kiệnđặt ra, các nhà làm luật phải xem xét đến rất nhiều yếu tố như:

- Thứ nhất, mục tiêu của Nhà nước, đường lối chủ trương của Đảng

Khi xây dựng một hệ thống thuế TNCN, Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra mộtloạt các mục tiêu, chính sách để phù hợp với nền kinh tế và hoạt động của Nhà nước:

Một là, đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư,góp phần hạn chế khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội

Hai là, đảm bảo động viên một cách hợp lý thu nhập dân cư, khuyến khích mọi

cá nhân ra sức lao động, sản xuất kinh doanh, gia tăng thu nhập làm giàu chính đáng

Ba là, việc ban hành và áp dụng luật thuế TNCN có tính đến những bước điphù hợp với tình hình nước ta và thông lệ quốc tế; kế thừa có chọn lọc những quyđịnh trong chính sách thuế hiện hành

Bốn là, đảm bảo huy động nguồn lực để Nhà nước giải quyết tốt hơn các vấn

đề xã hội

Luật thuế TNCN là một sắc thuế có độ nhạy cảm cao, nó đánh trực tiếp vàothu nhập của mỗi cá nhân do đó nếu không bảo đảm được sự công bằng thì rất dễdẫn đến những mâu thuẫn khó xử lý và không thể điều tiết thu nhập của các tầnglớp dân cư Việc quy định ngưỡng nộp thuế và thuế suất quá cao hay quá thấp đều

Trang 14

không đảm bảo các mục tiêu đặt ra Nếu quá cao sẽ gây sự chống đối, chây ỳ, khôngchịu đóng thuế, thu qua nhiều sẽ làm ảnh hưởng tới đời sống nhân dân, không thúcđẩy kinh tế phát triển Ngược lại, nếu quá thấp sẽ không đảm bảo nguồn thu chongân sách Nhà nước, ảnh hưởng đến hoạt động của bộ máy Nhà nước.

-Thứ hai, thực trạng kinh tế - xã hội

Nước ta là một trong những nước đang phát triển, có nền kinh tế hỗn hợp,phụ thuộc cao vào xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài nên chúng ta cũng chịuảnh hưởng không nhỏ của nền kinh tế thế giới Nền kinh tế nước ta chưa ổn định,đời sống nhân dân tăng nhưng chưa đồng đều, còn nhiều bấp bênh Việc thu thuếphải đảm bảo cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế hiện nay của đất nước, góp phần

ổn định kinh tế, mở ra nhiều chính sách thông thoáng cho nhân dân

Thu nhập bình quân đầu người: thu nhập bình quân đầu người là một trongnhững yếu tố quan trọng chi phối đến Luật thuế TNCN Nó có ý nghĩa lớn trong việcxác định ngưỡng chịu thuế, mức thuế suất và thời điểm áp dụng thuế cho hợp lý

-Thứ ba, yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế

Pháp lụât thuế nói chung và pháp luật thuế thu nhập cá nhân nói riêng ở mỗiquốc gia bao giờ cũng được xây dựng trên cơ sở điều kiện, hoàn cảnh cụ thể củachính quốc gia mình Tuy nhiên, do tác động của xu thế phát triển là cần mở cửahợp tác và hội nhập kinh tế toàn cầu, các quốc gia muốn phát triển không thể đóngcửa, biệt lập với thế giới bên ngoài Để mở rộng hợp tác kinh tế với quốc gia và hộinhập kinh tế với khu vực và thế giới các nước đều phải nỗ lực điều chỉnh chínhsách, pháp luật của quốc gia mình cho phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mựccủa luật pháp quốc tế Khi tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới các quốcgia đều đưa ra cam kết của mình với các tổ chức kinh tế quốc tế mà mình là thànhviên Để thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế, các quốc gia đều phải sửa đổi hoàn thiệnpháp luật để tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện cam kết đó

Trong điều kiện nước ta đang xây dựng và hoàn thiện các thể chế của nềnkinh tế thị trường thì việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật thuế nói chung và thuếthu nhập cá nhân nói riêng cần thiết phải tham khảo, tiếp thu có chọn lọc pháp luậtthuế của các nước tiên tiến trên thế giới nhằm bảo đảm pháp luật thuế của Việt Namnhanh chóng tiếp cận được chuẩn mực của quốc tế, đồng thời bảo đảm phù hợp vớiđiều kiện cụ thể ở Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam đã ký hiệp định tránh đánh thuế 2 lần với hơn 60(4) nướctrên thế giới Chính vì vậy, Luật thuế TNCN phải thể hiện được tinh thần của cáchiệp định tránh đánh thuế hai lần hoặc ít nhất cũng cần quy định các nguyên tắc ápdụng những hiệp định này trong việc xác định nghĩa vụ thuế của người nước ngoài

4() http://www.gdt.gov.vn/wps/portal

Trang 15

có thu nhập tại Việt Nam hoặc thu nhập của công dân Việt Nam ở nước ngoài, khôngphân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư và người lao đông nước ngoài khi đến sinhsống và làm việc tại Việt Nam tạo động lực cho hội nhập kinh tế quốc tế.

Thứ tư, trình độ năng lực quản lý thuế của các cơ quan thuế

Trình độ năng lực quản lí của cơ quan thuế, cán bộ ngành thuế là một yếu tốquan trọng chi phối pháp luật thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng.Trình độ năng lực quản lí của cơ quan thuế được thể hiện thông qua việc phân công,phân cấp quản lý, bố trí cán bộ, thông qua điều kiện cơ sở vật chất phục vụ chocông tác quản lý thuế và kết quả đạt được trong hoạt động thực tiễn Trình độ, nănglực của đội ngũ cán bộ công chức quản lý thuế thể hiện ở trình độ chuyên môn,nghiệp vụ, khả năng ứng dụng công nghệ tin học trong công việc, tính chuyênnghiệp hoá, chuyên môn hoá quản lí, thái độ và phong cách làm việc…Pháp luậtthuế thu nhập cá nhân khi quy định về quy trình, thủ tục, cách thức thực hiện, thờigian giải quyết công việc liên quan đến các nội dung quản lý thuế phải dựa trêntrình độ, năng lực thực tế và điều kiện cơ sở vật chất hiện có Mặt khác, để nâng caotrình độ quản lý thuế ở nước ta hiện nay, pháp luật thuế cần phải hoàn thiện nhằmgiúp bộ máy quản lí thuế được tổ chức xây dựng hợp lí, khoa học hơn, phân công,phân cấp cụ thể rõ ràng, trách nhiệm quyền hạn được quy định cụ thể, đủ để bảođảm thực hiện nhiệm vụ; cán bộ được bố trí, phân công hợp lí theo hướng chuyênmôn hóa đối với bộ phận nghiệp vụ, thực hiện quản lí thuế theo chức năng và có sựđộc lập tương đối giữa các bộ phận để tạo sự kiểm tra, giám sát lẫn nhau Đồngthời, pháp luật quản lý thuế phải xây dựng những khuôn mẫu và tiêu chuẩn chungcủa đội ngũ cán bộ thuế Bên cạnh đó công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nângcao năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức, tác phong công tác của cán bộ quản

lí thuế được đặc biệt quan tâm để đáp ứng được yêu cầu quản lí trong tình hình pháttriển mới của xã hội Ngoài ra, vấn đề đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho công tácquản lý thuế cũng được quan tâm đúng mức Ở những nước có trình độ quản lý thuếtiên tiến, họ chú trọng phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả cáckhâu quản lý thuế, vì thế việc thu thập, xử lý, cung cấp thông tin nhanh chóng, đầy

đủ, chính xác phục vụ có hiệu quả cho yêu cầu quản lý thuế Hầu hết các chức năngquản lý thuế đều được hiện đại hoá như: ứng dụng công nghệ tin học hiên đại vàoviệc tuyên truyền, hướng dẫn, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế; hệthống ứng dụng xử lư tờ khai và kế toán thuế; hệ thống thông tin báo cáo chỉ đạođiều hành và phân tích dự báo thu NSNN Đặc biệt là hệ thống ứng dụng hỗ trợ chocông tác quản lý thu nợ thuế, thanh tra, kiểm tra thuế (do xây dựng hệ thống thôngtin cơ sở dữ liệu về tổ chức, cá nhân nộp thuế đầy đủ, tập trung, trên cơ sở các thôngtin này, xây dựng các chỉ số phân loại đối tượng quản lý theo quy mô và đánh giá

Trang 16

mức độ tuân thủ của tổ chức, cá nhân nộp thuế để lựa chọn đúng các truờng hợp cầnkiểm tra, thanh tra với sự hỗ trợ cao của hệ thống công nghệ thông tin) Do đượctrang bị các phương tiện hiện đại, ứng dụng công nghệ tin học tiên tiến phục vụ chocông tác quản lí thuế nên hiệu quả của công tác quản lí thuế được nâng lên rõ rệt màtrước hết là tiết kiệm chi phí quản lí do tiết kiệm nguồn nhân lực, tiết kiệm đượcthời gian, các nghiệp vụ quản lí được thực hiện một cách chính xác, nhanh chóng vàđầy đủ, tạo thuận lợi cho cả đối tượng nộp thuế và cơ quan quản lí thuế, cán bộcông chức ngành thuế…

Thứ năm, văn hoá tuân thủ thuế của người nộp thuế (hay còn gọi tinh thần

và đạo đức thuế của người dân)

Văn hoá tuân thủ thuế thể hiện ở nhận thức về trách nhiệm của người dân vềnghĩa vụ thuế, ở ý thức chấp hành pháp luật thuế của người dân Văn hoá tuân thủthuế là một yếu tố quan trọng trong việc xác định nội dung điều chỉnh của pháp luật.Khi người dân có kiến thức, hiểu biết đầy đủ về pháp luật thuế có tinh thần đạo đứcthuế tốt thì khi đó mới đảm bảo rằng họ tự giác thực hiện được đúng, đầy đủ nghĩa

vụ thuế của mình, họ thấy trách nhiệm của mình phải tham gia vào công tác quản lýthuế và mới giám sát quá trình thực hiện pháp luật thuế Trái lại, sự hiểu biết và ýthức chấp hành pháp luật thuế của người dân còn thấp thì tình trạng trốn thuế, lậuthuế còn diễn ra, những tiêu cực trong quản lý thuế vẫn còn có “đất”để tồn tại Dovậy, pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế thu nhập cá nhân nói riêng phải tínhđến yếu tố này trong điều kiện ở nước ta hiện nay, khi ý thức trách nhiệm về nghĩa

vụ thuế, sự hiểu biết về các luật thuế và quy trình thủ tục tuân thủ của người dâncòn hạn chế

Từ thực tế cho thấy, công tác tuyên truyền, tư vấn giải đáp thắc mắc về chínhsách, pháp luật thuế cần được coi trọng mà trách nhiệm trước hết thuộc về cơ quanthuế và các cơ quan nhà nước có liên quan Bên cạnh đó, cần coi trọng việc hoànthiện bộ phận pháp luật về giám sát và bảo đảm tuân thủ pháp luật thuế nhằm giúp

cơ quan thuế tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát để phát hiện, ngănchặn và xử lý nghiêm khắc, kịp thời các hành vi gian lận, trốn lậu thuế, chiếm đoạttiền thuế của nhà nước Có như vậy, mới tăng cường tính giáo dục, răn đe và phòngngừa những hành vi tiêu cực, bảo đảm cho pháp luật thuế được tôn trọng và thực thinghiêm túc trên thực tế

Thứ sáu, mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật và thể chế có liên quan Pháp luật về nội dung của mỗi sắc thuế là cơ sở, là tiền đề cho xây dựng phápluật quản lý thuế Hệ thống pháp luật về nội dung sắc thuế nếu được quy định đơngiản, rõ ràng, ổn định, ít có ngoại lệ thì pháp luật quản lý thuế sẽ giảm tính phức

Trang 17

tạp, quy trình, thủ tục triển khai thực hiện được dễ dàng, thuận tiện Có thể nói phápluật về nội dung sắc thuế và pháp luật quản lý thuế có mối quan hệ mật thiết, gắn bóchặt chẽ với nhau Pháp luật về nội dung sắc thuế thay đổi thì pháp luật quản lý thuế

ít nhiều cũng thay đổi Xu hướng cải cách phát triển hệ thống thuế ở các nước đềucho thấy: Cải cách hệ thống thuế được kết hợp chặt chẽ và tương thích giữa phápluật nội dung sắc thuế với công tác quản lý thuế Bởi vì, pháp luật về nội dung sắcthuế dù có tiên tiến đến đâu cũng không phát huy được tác dụng nếu thiếu vắng quyđịnh của pháp luật quản lý thuế và ngược lại, cải cách công tác quản lý thuế cầnđược dựa trên nền tảng pháp luật về nội dung sắc thuế ổn định và rõ ràng

Pháp luật thuế thu nhập cá nhân còn có mối quan hệ và chịu sự chi phối củacác các bộ phận pháp luật khác như: pháp luật về quản lý đất đai, quản lý đăng kýkinh doanh, quản lý xuất nhập cảnh, thanh toán không dùng tiền mặt, chế độ, chuẩnmực kế toán …pháp luật dân sự, pháp luật về tố tụng, pháp luật về thanh tra, phápluật hình sự, pháp lụât hành chính v.v Vì vậy, khi ban hành, sửa đổi pháp luật thuếthu nhập cá nhân cần đảm bảo tính phù hợp và thống nhất với các bộ phận pháp luậttrên

1.2.4 Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân ở một số nước

Thuế TNCN đầu tiên được áp dụng tại Hà Lan vào năm 1797, sau đó là AnhQuốc vào năm 1799 Một số nước tư bản phát triển khác cũng áp dụng thuế này nhưÐức (1899), Hoa Kỳ (1903), Pháp (1916) Các nước Châu Á như: Thái Lan áp dụng(1939), Philipin (1945), Hàn Quốc (1948), In-đô-nê-xia (1949), Trung quốc (1984);Những nước Đông Âu thuộc các nền kinh tế chuyển đổi như Rumani (1990), Nga(1991), Ba Lan (1992) Hiện nay trên thế giới đã có khoảng 180 nước áp dụng thuếTNCN

Thuế TNCN là một hình thức thu quan trọng của NSNN, Hiện nay, ở cácnước phát triển tỷ trọng thu ngân sách của thuế TNCN chiếm rất cao từ 30-40%, cónước trên 50% như Mỹ, Nhật, Canada, Autralia, Niudilan,…các nước đang pháttriển chiếm từ 15-30% như Thái Lan, Malaixia,Philipin…

Sau đây, ta sẽ đi xem xét và nghiên cứu luật thuế TNCN ở một số nước trênthế giới Qua việc nghiên cứu này,ta sẽ rút ra được câu trả lời tại sao họ lại áp dụngnhư vậy, áp dụng được trong điều kiện hoàn cảnh nào Từ đó, căn cứ vào tình hình

cụ thể ở Việt Nam, chúng ta có thể đề ra được những biện pháp nhằm xây dựng tốtnhất Luật thuế TNCN

 Về mức giảm trừ

Nhiều nước khi xây dựng mức giảm trừ chung đã có sự phân biệt về đặcđiểm của người nộp thuế, ví dụ như người cao tuổi, người tàn tật được giảm trừ ở

Trang 18

mức cao hơn so với người bình thường (Anh, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po…) hay làngười có gia đình cũng được giảm trừ cao hơn so với người độc thân (Mỹ, Phi-líp-pin) Ở Trung Quốc, mức giảm trừ còn có sự phân biệt giữa cá nhân người nộp thuế

là người Trung Quốc và người nước ngoài, trong đó người nước ngoài có mức giảmtrừ cao hơn Một số quốc gia không quy định mức giảm trừ cho người nộp thuế,song trong biểu thuế quy định mức thuế suất 0% cho thu nhập chịu thuế dưới mộtngưỡng nhất định Bên cạnh đó, cũng có quốc gia vừa quy định mức thuế suất 0%vừa quy định mức giảm trừ cho người nộp thuế, Thái Lan và Ma-lai-xi-a và coi đâynhư là biện pháp để hỗ trợ cho người có thu nhập thấp(5).

Có quốc gia còn quy định ngưỡng thu nhập khi xác định mức giảm trừ màđối tượng nộp thuế được hưởng, thu nhập càng cao thì mức giảm trừ cá nhân cànggiảm (Mỹ, Anh) Đối với Anh, đối với người nộp thuế có thu nhập trên 100 nghìnBảng/năm thì cứ mỗi Bảng thu nhập tăng thêm trên mức này, mức giảm trừ sẽ bịgiảm 50 xu Theo đó, người có thu nhập trên 114,95 nghìn Bảng có mức giảm trừbằng 0 (Anh quy định mức giảm trừ cho người nộp thuế đối với năm tài khóa 2011-

2012 là 7.475 Bảng, tương đương khoảng 12.100 USD)(6) Điều này phần nào phảnánh thêm quan niệm về mức giảm trừ có sự khác biệt ở các quốc gia

- Các khoản giảm trừ cho người phụ thuộc: Là các khoản giảm trừ áp dụngcho những người mà đối tượng nộp thuế phải nuôi dưỡng (người phụ thuộc) Tuynhiên, phạm vi người phụ thuộc của các nước cũng có sự khác biệt và có các tiêuchí khác nhau Mức giảm trừ quy định cho người phụ thuộc thường được quy địnhthấp hơn so với mức giảm trừ cho cá nhân người nộp thuế (tương tự như Việt Nam).Song cũng có nước quy định mức giảm trừ cá nhân cho người nộp thuế cũng tương

tự như người phụ thuộc (Anh và Mỹ) Nhiều nước khống chế số lượng người phụthuộc được tính giảm trừ (Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a ), song cũng cónước không khống chế (Mỹ, Anh) Cũng có nước không quy định riêng mức giảmtrừ cho người phụ thuộc và cho cá nhân người nộp thuế mà quy định một mứcchung (Trung Quốc…)

 Về quy mô các khoản được giảm trừ

Phương thức quy định về mức giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế cũng rấtkhác nhau giữa các quốc gia Có quốc gia quy định một mức cứng tương tự nhưViệt Nam ( Trung Quốc, Ác-hen-ti-na ), nhưng có quốc gia quy định theo tỷ lệphần trăm (%) thu nhập và khống chế mức giảm trừ tối đa (Thái Lan, Hàn Quốc )

5() Thu nhập chịu thuế dưới 150 nghìn Baht ở Thái Lan và dưới 2.500 RM ở Ma-lai-xia được áp dụng mức thuế suất 0%.

6() Nguồn: Stuart Adam and James Browne (2011) “A Survey of the UK Tax System”, Institute for Fiscal Studies.

Trang 19

Quy mô của các khoản giảm trừ được các nước thiết kế chủ yếu dựa vào quan điểmcủa từng nước trong chính sách động viên về thuế TNCN và thường không dựa vàomột công thức cụ thể nào Theo một thống kê của IMF, quy mô các khoản giảm trừ(so với GDP bình quân đầu người) của các nước phát triển thường thấp hơn so vớicác nước đang phát triển

So với GDP bình quân đầu người, quy mô các khoản giảm trừ cho người nộpthuế và mỗi người phụ thuộc ở các nước cũng rất khác nhau, song nh́n chungthường nhỏ hơn 1 lần Ở In-đô-nê-xi-a, so với GDP bình quân đầu người năm 2011,mức giảm trừ cho cá nhân mỗi người nộp thuế tương đương 0,527 lần và mức giảmtrừ cho mỗi người phụ thuộc tương đương 0,044 lần Hệ số này tương ứng đối vớiMa-lai-xi-a là 0,312 lần (người nộp thuế là người tàn tật có hệ số cao hơn) và 0,035lần (đối với con đang học phổ thông) và 0,138 lần (đối với con đang học phổthông) Ở Thái Lan, tổng các khoản giảm trừ tối đa mà người nộp thuế được hưởngbằng khoảng 0,526 lần so với GDP bình quân đầu người của nước này(7) Kể từ ngày1/9/2011, mức giảm trừ cho cá nhân mỗi người nộp thuế của Trung Quốc là 3.500NDT/tháng hay 42.000 NDT/năm (trước đó là 2000 NDT/tháng), tương đươngkhoảng 1,23 lần GDP bình quân đầu người(8)

 Về mức thuế suất thuế TNCN

Những năm gần đây, nhiều nước đã thực hiện cắt giảm mức thuế suất, kể cảmức thuế suất luỹ tiến cao nhất và mức thuế suất thấp nhất trong Biểu thuế để nângcao tính hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước, thu hút được lao động có kỹthuật cao từ bên ngoài (In-đô-nê-xi-a, Singapore, Ma-lai-xi-a, Ba Lan, Cộng hòaSéc ) Cá biệt có một số quốc gia nhất đã thực hiện cải cách chính sách thuế TNCNcủa mình theo hướng xoá bỏ biểu thuế luỹ tiến và chuyển sang áp dụng duy nhấtmột mức thuế suất thuế TNCN với mức khá thấp, nhất là các nước thuộc Liên Xô

cũ và Đông Âu Ví dụ, Nga áp dụng một mức thuế suất là 13%, Cộng hòa Séc mộtmức là 15% và Bun-ga-ri một mức là 10%(9)

Bảng mức thuế suất cao nhất trong Biểu thuế TNCN phổ thông một số nước

Trang 20

 Về thu nhập chịu thuế và thu nhập được miễn thuế

Nhìn chung quy định về thu nhập chịu thuế của các quốc gia là tương đốitương đồng, bao quát các loại thu nhập như: thu nhập từ tiền lãi; thu nhập từ cổ tức;thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ tiền lươnghưu; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bất động sản; thu nhập từ cho thuê tài sản vàthu nhập khác (thừa kế, quà tặng, tiền bản quyền )

Phạm vi các khoản thu nhập được miễn thuế cũng có sự khác biệt giữa cácnước Bên cạnh việc cho phép miễn thuế đối với một số khoản thu nhập (theo điềuước quốc tế, thu nhập từ giải thưởng ), một số quốc gia còn có quy định cho phépmiễn thuế đối với một số khoản phụ cấp, trợ cấp không mang tính chất tiền lương,tiền công Ví dụ, Trung Quốc cho phép miễn thuế đối với trợ cấp thôi việc đối vớingười lao động hay trợ cấp xuất ngũ đối với quân nhân, trợ cấp định cư đối với cán

bộ, công chức nhà nước…

Ngoài ra, một số quốc gia còn có quy định thêm một số khoản thu nhập đượcmiễn thuế có tính chất đặc thù, tùy thuộc vào định hướng chính sách của mỗi nước,(ví dụ có nước cho phép miễn thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn Nam Phi, Ác-hen-ti-na ), thu nhập từ các chương trình tiết kiệm nhà ở dài hạn (Hàn Quốc) hoặc

là có doanh nghiệp không thu thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn xi-a, Xin-ga-po ) Một số nước còn cho phép thu nhập của hộ gia đình sản xuấtnông nghiệp (trong phạm vi nhất định) được miễn thuế (như Hàn Quốc) Một số

(Ma-lai-10() “KPMG’s Individual Income Tax and Social Security Rate Survey 2013”, OECD (2013) “Tax Database”

và tổng hợp Ghi chú: Mức thuế suất nói trên là mức thuế suất trung ương (một số quốc gia còn có thuế TNCN địa phương).

Trang 21

quốc gia cho phép thu nhập từ việc chuyển nhượng một nhà, đất duy nhất đượcmiễn thuế (Việt Nam, Hàn Quốc, Australia) để khuyến khích việc các hộ gia đìnhcải thiện điều kiện nhà ở

 Về thuế TNCN đối với tiền lương hưu do quỹ hưu trí tự nguyện chi trả vàkhoản đóng góp vào quỹ hưu trí tự nguyện

Về chính sách TNCN đối với thu nhập từ tiết kiệm hưu trí, tham khảo kinhnghiệm quốc tế cho thấy có hai phương thức thông dụng được các nước áp dụnghiện nay Phương thức thứ nhất là: “miễn thuế – miễn thuế – đánh thuế” hay là

“đánh thuế - miễn thuế – miễn thuế” Theo phương thức này thì cả phần thu nhậpdùng để đóng góp cho quỹ và lãi thu được từ quỹ được miễn thuế song thu thuế đốivới những khoản lợi ích được hưởng khi rút tiền ra khỏi quỹ Phương thức thứ hai là

“đánh thuế - miễn thuế – miễn thuế, theo đó các khoản đóng góp không được khấutrừ khi xác định thu nhập tính thuế TNCN nhưng tiền lãi và những khoản lợi ích cánhân được hưởng khi rút tiền ra khỏi quỹ đều được miễn thuế

Nhiều nước trên thế giới để khuyến khích tiết kiệm hưu trí đã đưa vào triểnkhai các chính sách thuế TNCN thuận lợi nhằm đảm bảo các cá nhân trong quãngthời gian đi làm của mình tích lũy đủ tiền để yên tâm khi về hưu, trong đó có việccho miễn hoàn toàn đối với các khoản đóng góp cho quỹ Ví dụ, Luật thuế TNCNcủa Trung Quốc cho phép các khoản đóng góp vào quỹ hưu trí được giảm trừ vàothu nhập chịu thuế Các nước như Thái Lan, Hàn Quốc, Ma-rốc cũng có quy địnhtương tự cho phép giảm trừ các khoản đóng góp tham gia các quỹ hưu trí ra khỏi thunhập khi tính thuế TNCN

Từ những tóm tắt về nội dung công tác quản lý thuế TNCN ở một số nước

em vừa trình bày ở trên, ta thấy một số nét đặc trưng cơ bản sau đây:

- Mức giảm trừ đối với một số đối tượng sẽ cao hơn mức giảm trừ thôngthường như đối với người già, người neo đơn

- Bên cạnh đó quy định theo tỷ lệ phần trăm (%) thu nhập vŕ khống chế mứcgiảm trừ tối đa

- Miễn thuế thu nhập của hộ gia đình sản xuất nông nghiệp trong phạm vinhất định

- Biểu thuế suất các nước có số bậc rất khác biệt Nhưng nói chung là cácquốc gia đều đang có xu thế giảm bớt số bậc thuế suất xuống Mức thuế suất caonhất dao động quanh mức 30%, so với trước đây thì mức thuế suất cao nhất có giảm

đi nhiều

1.3 Tiêu chí đánh giá tính hiệu quả pháp luật thuế thu nhập cá nhân

Trang 22

1.3.1 Khái niệm tính hiệu quả của pháp luật thuế thu nhập cá nhân

Tính hiệu quả của pháp luật thuế TNCN thể hiện thông qua việc không gâyảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến cố gắng lao động, lựa chọn nghề nghiệp nói riêngcũng như phân bố các nguồn lực xã hội nói chung, khuyến khích người dân làmgiàu hợp pháp, qua đó thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển Hệ thống pháp luậtthuế TNCN được coi là có hiệu quả khi không hoặc chỉ can thiệp ở mức thấp nhấttới các quyết định kinh tế và sự phân bố nguồn lực xã hội

Như vậy, tính hiệu quả của pháp luật thuế TNCN là kết quả thực tế đạt được

do sự điều chỉnh, tác động của pháp luật thuế TNCN mang lại, trong những phạm vi

và điều kiện nhất định, biểu hiện ở trạng thái của các quan hệ xã hội, phù hợp vớinhững mục đích, yêu cầu và định hướng của pháp luật thuế TNCN với mức chi phíthấp

Trong khái niệm tính hiệu quả của pháp luật bao hàm tất cả những gì phảnánh khả năng tác động tốt nhất, nhiều nhất của pháp luật thuế TNCN lên các quan

hệ xã hội, phản ánh sự hiện thực hoá những giá trị của pháp luật mà nhà làm luật dựtính khi ban hành pháp luật Đó là sự kết hợp giữa khả năng và hiện thực tác độngcủa pháp luật thuế TNCN trong đời sống xã hội

1.3.2 Các tiêu chí đánh giá tính hiệu quả pháp luật thuế thu nhập cá nhân

Do có nhiều cách tiếp cận về hiệu quả của pháp luật thuế TNCN nên các tiêuchí để đánh giá hiệu quả của pháp luật cũng rất đa dạng Dưới đây là những tiêu chí

cơ bản cần xác định khi đánh giá hiệu quả của pháp luật thuế TNCN là:

 Thứ nhất, đáp ứng được mục đích, yêu cầu, phương hướng của pháp luậtnhư tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, điều tiết kinh tế, điều hoà thu nhập xãhội Tạo động lực cho phát triển kinh tế-xã hội thông qua việc quy định mức thuphù hợp với cấu trúc phân bổ thu nhập và mức thu nhập của các tầng lớp dân cư,điều tiết thu nhập một cách hợp lý, khuyến khích làm giàu hợp pháp và tránh gây ratác động tiêu cực đến nỗ lực lao động của các tầng lớp dân cư Bảo đảm công bằng

xã hội thông qua việc quy định đối tượng chịu thuế bao quát mọi khoản thu nhập vàmọi cá nhân có thu nhập kết hợp với việc quy định các khoản khấu trừ, miễn giảmmột cách hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội đất nước qua từng thời kỳ

 Thứ hai, chất lượng của pháp luật Chất lượng của pháp luật cần được ở

cả hình thức và nội dung của nó Về hình thức bên ngoài, chất lượng của pháp luậtthể hiện chủ yếu ở chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật Các văn bản quyphạm pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, có hình thức, kết cấu, bố cụcchặt chẽ Về hình thức cấu trúc, chất lượng của pháp luật thể hiện ở mỗi bộ phậncủa hệ thống pháp luật phải bảo đảm tính toàn diện, đồng bộ, sự phù hợp và trình độ

Trang 23

kỹ thuật pháp lý cao, có kết cấu đầy đủ cân đối và khoa học, được biểu đạt rõ ràng,

dễ hiểu, không mâu thuẫn, chồng chéo Về nội dung, chất lượng của pháp luật thểhiện ở các quy định pháp luật được ban hành phải phù hợp với các điều kiện kinh tế,chính trị, văn hoá - xã hội của đất nước ở mỗi thời kỳ phát triển Ngoài ra còn phải

kể tới mức độ phù hợp của pháp luật với các công ước, điều ước và thông lệ quốc tế

mà quốc gia tham gia hoặc ký kết Các phương pháp điều chỉnh pháp luật được sửdụng thích hợp, các mục đích, yêu cầu và định hướng đề ra cho pháp luật luôn cótính khả thi

 Thứ ba, pháp luật thuế TNCN phải đảm bảo tính rõ ràng, dễ hiểu, dễ thựchiện, dễ kiểm tra, giám sát Một hệ thống pháp luật thuế muốn thực sự phát huyđược tính hấp dẫn phải tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu rõ ràng, minh bạch trong cácquy định của pháp luật Nói cách khác, quy định của pháp luật phải cụ thể, khôngđược chung chung; từ ngữ sử dụng dễ hiểu và mọi người đều có thể hiểu một cáchthống nhất Có như vậy, người dân có tự giác thì mới có thể thực hiện đúng đắn,nghiêm túc và triệt để sẽ không xảy ra tình trạng gian lận, trốn thuế Khi pháp luậtthuế TNCN đảm bảo được yêu cầu đơn giản, rõ ràng sẽ đảm bảo được tính dễ hiểu,

dễ thực hiện, dễ kiểm tra, giám sát Nhờ vậy pháp luật thuế TNCN mới có thể pháthuy hết vai trò, nhiệm vụ của mình và đạt hiệu quả như mong muốn

 Thứ tư, tính hiệu quả của pháp luật thuế TNCN còn thể hiện ở việc đảmbảo cân đối giữa khả năng chịu thuế và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhànước, hay số thu của thuế đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước nhưngkhông được để cho người nộp thuế lâm vào tình trạng khốn cùng Đứng trên khíacạnh này, tính hiệu quả của pháp luật thuế TNCN đồng nghĩa với “tính trung lập”của thuế

 Thứ năm, mức chi phí cho việc đạt được kết quả thực tế Tiêu chí nàyđược xác định nhằm đánh giá chất lượng của những hoạt đang để đạt được các kếtquả thực tế Tất cả những chi phí cho quá trình điều chỉnh pháp luật để đạt đượcmục đích đề ra đều cần ở mức thấp nhưng phải bảo đảm cho pháp luật thuế TNCNphát huy tác dụng ở mức cao nhất, kết quả thực tế tác động thu được phải lớn nhất.Những chi phí cho các hoạt động pháp luật thuế TNCN có thể là của Nhà nước, các

cơ quan Nhà nước và cũng có thể là của những đối tượng nộp thuế Chi phí cho quátrình điều chỉnh pháp luật còn có thể là những phí tổn, những thiệt hại do chính sựtác động của các quy phạm pháp luật gây ra cho nhà nước, xã hội hoặc mỗi ngườidân Thông thường thì các quy phạm pháp luật bên cạnh những ưu điểm, những lợiích mà chúng mang lại, chúng còn có thể có những hạn chế, những tác hại nhấtđịnh, do vậy trong mọi trường hợp khi ban hành, sửa đổi hay huỷ bỏ bất kỳ một quyđịnh pháp luật nào đó cũng cần phải tính toán được trước những lợi ích mà nó mang

Trang 24

lại, những chi phí cho hoạt động đó và cả những tác hại, những ảnh hưởng không tết

có thể có do việc ban hành, sửa đổi hay huỷ bỏ qui định pháp luật đó để kịp thời cónhững biện pháp ngăn ngừa và khắc phục Trong trường hợp không thể ngăn ngừakhắc phục được thì phải quán triệt nguyên tắc là việc ban hành, sửa đổi hay huỷ bỏquy định hoặc văn bản pháp luật đó phải có lợi nhiều hơn là có hại thì mới nên tiếnhành

Tóm lại, đối với Việt Nam, vấn đề hiệu quả của pháp luật thuế nói chung,pháp luật thuế TNCN nói riêng không những để bắt kịp trào lưu của thế giới màthực sự đã trở thành một vấn đề cấp bách Nghệ thuật thiết kế một hệ thống phápluật thuế TNCN chính là đáp ứng được các tiêu chí đánh trên một cách tối ưu nhấtnhằm thực hiện tốt nhất mục tiêu của hệ thống pháp luật thuế TNCN trong điều kiệnkinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế

Ngày đăng: 21/11/2020, 10:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w