Nội dung Nhà nước là chủ sở hữu đối với tài sản là những tư liệu sản xuất quan trọngnhất của nước ta nên cũng như các chủ sở hữu khác, theo quy định tại Điều 202 Bộ luật Dân sự năm 2005:
Trang 1LỜI CẢM ƠN 3
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu của khóa luận 3
PHẦN NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU 4
1.1 Khái niệm quyền sở hữu 4
1.2 Phân loại hình thức sở hữu 5
1.2.1 Sở hữu nhà nước 5
1.2.2 Sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội 13
1.2.3 Sở hữu tư nhân 16
1.2.4 Sở hữu tập thể 19
1.2.5 Sở hữu chung 21
1.3 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của các hình thức sở hữu theo pháp luật Việt Nam 26
1.3.1 Giai đoạn 1959-1960 26
1.3.2 Giai đoạn 1959-1980 26
1.3.3 Giai đoạn 1980-1992 28
1.3.4 Giai đoạn 1992 đến nay 29
1.4 Hình thức sở hữu ở một số nước trên thế giới 31
Trang 21.4.2 Ở Trung Quốc 32
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 34
2.1 Thực tiễn thực hiện quyền sở hữu của Nhà nước 34
2.2 Thực tiễn thực hiện quyền sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội 35
2.3 Thực tiễn thực hiện quyền sở hữu tập thể 36
2.4 Thực tiễn thực hiện quyền sở hữu tư nhân 37
2.5 Thực tiễn thực hiện quyền sở hữu chung 39
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 42
3.1 Quan điểm chung về các hình thức sở hữu 42
3.2 Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về các hình thức sở hữu ở nước ta hiện nay 44
KẾT LUẬN 48
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 3Qua quá trình học tập tại Khoa Luật – Viện đại học Mở Hà Nội, em đã học hỏi
và trau dồi được rất nhiều kiến thức là hành trang quý giá giúp em bước vào cuộcsống tương lai khi ra trường Em đã tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về các hình thức
sở hữu theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 và đề ra một số hướng hoàn thiện
Để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này trước hết em xin chân thành cảm
ơn các thầy cô giáo trong Khoa luật – Viện đại học Mở Hà Nội đã trang bị cho emnhững kiến thức quý báu về lĩnh vực luật học
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn: PGS.TS Bùi Đăng Hiếu đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện khóa luận tốt nghiệp này Do thời gian và vốn kiến thức còn nhiều hạn chế nên
đề tài nghiên cứu của em không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhậnđược những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn đọc để đề tài nghiên cứu nàyđạt được kết quả tốt trong việc hoàn thiện pháp luật về hình thức sở hữu
Do thời gian và vốn kiến thức còn nhiều hạn chế nên đề tài nghiên cứu của emkhông thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đónggóp của thầy cô và các bạn đọc để đề tài nghiên cứu này đạt được tính thực tế và cónhững ý kiến đóng góp để hoàn thiện Bộ luật dân sự
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Lê Thanh Hòa
Trang 4 PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Năm 2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành bảnHiến pháp mới Trong tình hình này, các văn bản pháp luật được ban hành trướcđây đã có những quy định không còn phù hợp với quy định của Hiến pháp mới banhành Văn bản được kể đến đầu tiên là Bộ luật dân sự, bộ luật mang tính thiết yếutrong đời sống và kinh tế của đất nước Trong đó có những bất cấp về hình thức sởhữu như là:
Hiến pháp năm 2013 quy định nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, trong Hiến pháp chỉ nóitới hình thức sở hữu toàn dân và thừa nhận nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu chứkhông nêu rõ các hình thức sở hữu như trong Hiến pháp 1992 Vì vậy, Bộ luật Dân
sự cần thể hiện rõ được những hình thức sở hữu đó là gì
Việc quy định hình thức sở hữu nhà nước trong Bộ luật Dân sự năm 2005 lànhững tài sản thuộc sở hữu nhà nước Trong khi đó, Hiến pháp năm 2013 và Luậtđất đai năm 2013 lại quy định tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đạidiện chủ sở hữu thống nhất và quản lý
Việc xác định các hình thức sở hữu trong Bộ luật Dân sự hiện hành là chưakhoa học, tạo ra sự phức tạp trong việc điều chỉnh pháp luật đối với các hình thức
sở hữu này Theo Bộ luật hiện hành, ở nước ta có 6 hình thức sở hữu, bao gồm: (1)
sở hữu nhà nước; (2) sở hữu tập thể; (3) sở hữu tư nhân; (4) sở hữu chung; (5) sởhữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; (6) sở hữu của tổ chức chính trị
xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp Chính sự phứctạp này dẫn tới việc luật xa rời thực tế, những người không am hiểu, không có kiếnthức về pháp luật không thể hiểu và biết được các hình thức sở hữu
Kinh tế đất nước ta đang ngày càng phát triển chủ yếu là trong khu vực kinh tế
tư nhân Nền kinh tế tập thể hợp tác xã đã dần được thay thế bằng các doanh nghiệp
tư nhân, các loại hình công ty, kinh doanh cá thể hộ gia đình Bộ luật Dân sự năm
2005 theo định hướng của Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001 tậptrung phát triển kinh tế tập thể đã có không còn phù hợp với nền kinh tế nước tahiện nay
Từ những bất cập nêu trên, việc sửa đổi Bộ luật dân sự năm 2005 nói chung vàcác hình thức sở hữu nói riêng là rất cần thiết trong tình hình đất nước ta hiện nay
Trang 5Việc hoàn thiện pháp luật về hình thức sở hữu có cả ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thựctiễn:
Ý nghĩa lý luận: Sở hữu là một vấn đề hết sức quan trọng và phức tạp khinghiên cứu xem xét vấn đề sở hữu của một đất nước ta có thể biết được đất nướcđang trong giai đoạn phát triển nào, cao hay thấp, có xu hướng nào Việc nắm vữngvấn đề sở hữu là cơ sở lý luận nền tảng cho việc hoạch định, định hướng phát triểnnền kinh tế đất nước Đó là căn cứ để xây dựng nền kinh tế vững chắc với các hìnhthức sở hữu phù hợp với sự vận động của thị trường
Ý nghĩa thực tiễn: Hệ thống hóa các văn bản pháp luật dân sự, sửa đổi Bộ luậtdân sự phù hợp với Hiến pháp 2013 mới được Quốc hội ban hành và phù hợp vớinền kinh tế thị trường của Việt Nam hiện nay Giúp Nhà nước quản lý tốt tài sảnquốc gia và nhân dân có được toàn quyền sở hữu đối với tài sản của mình Cũngnhư các chủ thể khác trong nền kinh tế hiểu được các quyền của mình đối với tàisản và những tài sản mình có quyền sở hữu
Xét thấy tính cần thiết của của việc hoàn thiện pháp luật về các hình thức sởhữu trong gian đoạn hiện nay Trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường, em
xin lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về hình thức sở hữu theo quy định của
Bộ luật Dân sự 2005” làm bài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đưa ra ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật vềhình thức sở hữu phù hợp với Hiến pháp 2013, nền kinh tế thị trường quá độ lên xãhội chủ nghĩa hiện nay ở Việt Nam và phù hợp với pháp luật quốc tế Mục tiêunghiên cứu bao gồm cả mặt lý luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận: hệ thống hóa và làm rõ lý luận về các hình thức sở hữu theoquy định của BLDS 2005 Tìm hiểu xem các hình thức sở hữu đó phù hợp với cácvăn bản luật khác hay không, còn phù hợp với xã hội và kinh tế hiện nay không Từ
đó đưa ra những biện pháp, kiến nghị cần thiết để khắc phục
Về mặt thực tiễn: phân tích, xem xét, đánh giá thực tiễn thực hiện quyền sởhữu của các chủ thể trong các hình thức sở hữu Từ đó đưa ra các ưu, nhược điểmcủa các hình thức sở hữu và nhận xét về sự phù hợp của các hình thức sở hữu đốivới nền kinh tế Xây dựng Bộ luật Dân sự trở thành một nguồn cơ bản của pháp luậtViệt Nam về vật quyền; chấm dứt tình trạng Bộ luật Dân sự chỉ quy định chungchung, thiếu tính bao quát, làm mất vị trí, vai trò của Bộ luật Dân sự với tư cách làluật gốc, luật chung, luật cơ bản về mọi vấn đề, trong đó có vấn đề về vật quyền
Trang 63 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các hình thức sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005: sở hữu Nhànước; sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xãhội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội; sở hữu tư nhân; sởhữu tập thể; sở hữu chung; sở hữu toàn dân
Thực trạng việc thực hiện quyền sở hữu của các chủ thể trong từng hình thức
sở hữu
Ý kiến của nhân dân về vấn đề này
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu lý luận: em nghiên cứu các tài liệu lý luận,những vấn đề lý luận về quyền sở hữu và các hình thức sở hữu theo quy định của
Bộ luật dân sự năm 2005
Phương pháp phân tích: từ việc nghiên cứu tài liệu lý luận, em phân tích cáchình thức sở hữu, những phù hợp và không phù hợp đối với đất nước ta hiện nay.Phương pháp tổng hợp: em tổng hợp các tài liệu lý luận và những phân tíchcủa mình và đưa ra hướng hoàn thiện các hình thức sở hữu theo quy định của Bộluật dân sự 2005
5 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần tóm lược, phần mở đầu, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục
sơ đồ, hình vẽ, danh mục từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, kếtcấu của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về các hình thức sở hữu.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về các hình thức sở hữu ở nước ta hiện.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về các hình thức sở hữu ở nước ta hiện nay.
Trang 7 PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU
1.1 Khái niệm quyền sở hữu
Từ khi của cải vật chất trở lên dư thừa những người giàu có chiếm phần lớn tàisản trong xã hội vì vậy mà các quan hệ sở hữu tồn tại như một một yếu tố kháchquan, phong tục tập quán được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội Nhữngngười giàu có và quyền thế nhận thấy rằng việc điều hành xã hội bằng phong tục tậpquán sẽ không có lợi cho họ Những người trong giai cấp giàu có và có quyền thếnhận thầy rằng phong tục tập quán không đủ để bảo vệ quyền lợi cho họ đối vớiviệc họ sở hữu những tư liệu sản xuất Vì vậy mà giai cấp thống trị đã phải đặt ramột cái gì đó khác với tập quan và chỉ giữ lại những gì của tập quán có lợi chomình
Để bảo đảm cho sự thống trị về chính trị và tư tưởng chính những người giàu
có và giai cấp thống trị đã thiết lập các quan hệ sở hữu có lợi cho giai cấp thống trị.Giai cấp thống trị phải dùng tới một bộ phận của pháp luật về sở hữu để thể hiện ýchí giai cấp của mình Pháp luật về sở hữu ghi nhận và củng cố địa vị, ghi nhận lợiích của giai cấp thống trị đối với việc đoạt giữ các của cải vật chất trước các giaicấp khác trong quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông Do đó, trong bất kỳ nhànước nào, luật pháp về sở hữu cũng được sử dụng với ý nghĩa là một công cụ cóhiệu quả của giai cấp nắm chính quyền để bảo vệ cơ sở kinh tế của giai cấp đó.Quyền sở hữu là một phạm trù pháp lý phản ánh các quan hệ sở hữu trong mộtchế độ sở hữu nhất định, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điềuchỉnh những quan hệ về sở hữu trong xã hội Các quy phạm pháp luật về sở hữu xácnhận, quy định và bảo vệ các quyền lợi của các chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sửdụng và định đoạt tài sản
Theo nghĩa rộng, quyền sở hữu có thể hiểu là luật pháp về sở hữu trong một hệthống pháp luật nhất định Vì vậy, quyền sở hữu là hệ thống các quy phạm pháp luật
do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vựcchiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, những tàisản khác bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản (Điều 163 Bộ luậtDân sự năm 2005)
Theo nghĩa hẹp, quyền sở hữu được hiểu là mức độ xử sự mà pháp luật chophép một chủ thể được thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạttrong những điều kiện nhất định Theo nghĩa này, có thể nói quyền sở hữu chính là
Trang 8những quyền năng dân sự chủ quan của từng loại chủ sở hữu nhất định đối với mộttải sản cụ thể, được xuất hiện trên cơ sở nội dung của quy phạm pháp luật về sởhữu1.
Ngoài ra, theo một phương diện khác, quyền sở hữu còn được hiểu là mộtquan hệ pháp luật dân sự - quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu Vì rằng bản thân nóchính là hệ quả của sự tác động của một bộ phận pháp luật vào các quan hệ xã hội(các quan hệ sở hữu) Vì vậy, theo nghĩa này quyền sở hữu bao gồm đầy đủ ba yếu
tố của quan hệ pháp luật dân sự: chủ thể, khách thể, nội dung như mọi quan hệ phápluật dân sự bất kỳ2
1.2 Phân loại hình thức sở hữu
Do có sự tác động khác nhau đến quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông vàcác quy chế pháp lý của các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với mỗihình thức sở hữu cũng có những nét riêng nên việc phân biệt các hình thức sở hữukhác nhau trong pháp luật dân sự là cần thiết và hợp lý Với việc quy định các hìnhthức sở hữu cụ thể, chúng ta sẽ có điều kiện quy định các phương thức tồn tại, vậnđộng của sở hữu gắn liền với các chủ sở hữu cụ thể cùng với các chế độ pháp lý cótính đặc thù của từng hình thức sở hữu đó
Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định 6 hình thức sở hữu là: sở hữu nhà nước, sởhữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu chung, sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chứcchính trị - xã hội, sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội,
tổ chức xã hội - nghề nghiệp
1.2.1 Sở hữu nhà nước
a Khái niệm
Điều 2, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy
định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
Trang 9Theo quy định của Hiến pháp, Nhà nước là người đại diện cho toàn dân, đượcnhân dân trao cho những quyền lực chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, ngoạigiao để thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng và cao cả là: xây dựng và bảo vệ vữngchắc tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Toàn bộ những tư liệu sản xuất chủ yếu như đất đai, tài nguyên trên mặt biển
và lòng đất dưới đáy biển thuộc thềm lục địa Việt Nam cùng với những tài sảnkhác theo quy định của pháp luật đều thuộc quyền quản lý, khai thác và sử dụng củaNhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người đại diện cho nhândân quản lý, nắm giữ những tư liệu sản xuất, là chủ sở hữu đối với tài sản được quyđịnh tại Điều 200 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Nhà nước thực hiện quyền chiếmhữu sử dụng và định đoạt đối với các tài sản đó Điều 201 Bộ luật Dân sự năm 2005quy định:
“1 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền của chủ
sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu nhà nước.
2 Chính phủ thống nhất quản lý và bảo đảm sử dụng đúng mục đích, hiệu quả
và tiết kiệm tài sản thuộc sở hữu nhà nước”.
Sở hữu toàn dân quy định tại Điều 53 Hiến pháp 2013 được hiểu là một phạmtrù pháp lý, do vậy tài sản của toàn dân phải có chủ sở hữu đích thực để thực hiệnquyền sở hữu trong việc phát triển sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ anninh quốc phòng của đất nước
Để sử dụng tài sản của nhân dân có hiệu quả cần phải trao quyền cho Nhànước, cho người có thẩm quyền định đoạt tài sản của nhân dân theo quy định củapháp luật, do vậy trong Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 200 quy định Nhà nước làchủ sở hữu đối với chế độ sở hữu toàn dân
Quyền sở hữu nhà nước, hiểu theo nghĩa khách quan (hay theo nghĩa rộng) làtổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm:
- Xác nhận việc chiếm hữu của Nhà nước (gồm cả chiếm hữu pháp lý vàchiếm hữu thực tế) đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu, quan trọng nhất;
- Quy định về nội dung và trình tự thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sửdụng và định đoạt đối với tài sản của Nhà nước;
- Xác định phạm vi, quyền hạn của cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp doNhà nước thành lập trong việc quản lý nghiệp vụ những tài sản do Nhà nước giao
Trang 10theo quy định của pháp luật để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh doanh, quản
lý hoặc hoạt động công ích3
Nhà nước giao cho các doanh nghiệp nhà nước vốn, tư liệu sản xuất để thựchiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh doanh hoặc hoạt động công ích do Nhà nước giao.Các doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự
có quyền quản lí, sử dụng vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác Có quyềnchuyển nhượng cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản được quyền quản lí, trừ nhữngthiết bị, nhà xưởng quan trọng theo quy định của chính phủ phải được cơ quan quản
lý nhà nước có thẩm quyền cho phép trên nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn(Điều 203 Bộ luật Dân sự năm 2005)
Như vậy, Nhà nước giao tài sản cho các doanh nghiệp nhà nước, đồng thờicho phép doanh nghiệp được thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu đối với tàisản đó trong một phạm vi theo quy định của pháp luật Quyền chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt của các cơ quan, doanh nghiệp của Nhà nước được gọi là “quyền sở hữu
hạn chế” Nhà nước thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu theo quy định tại
Điều 204 Bộ luật Dân sự năm 2005
Theo nghĩa chủ quan (hay nghĩa hẹp) quyền sở hữu toàn dân được hiểu là toàn
bộ những hành vi mà với tư cách đại diện cho chủ sở hữu, Nhà nước cũng như cácchủ sở hữu khác thực hiện các quyền năng cụ thể về chiếm hữu, sử dụng và định
đoạt đối với các tài sản của mình Nhà nước “là chủ” đối với các tư liệu sản xuất
chủ yếu nhưng không ai quy định cho Nhà nước phạm vi từng quyền hạn đối vớinhững tư liệu sản xuất đó Nhà nước tự quy định cho mình quyền năng và các trình
tự để thực hiện các quyền năng nhưng điều đó không có nghĩa là quyền hạn củaNhà nước là vô tận đối với các tài sản mà Nhà nước là chủ sở hữu Cũng như cácchủ thể khác, Nhà nước chỉ được thực hiện quyền của chủ sở hữu trong phạm vipháp luật cho phép Nói cách khác, các quyền năng đó cũng được thực hiện theoquy định của pháp luật4
b Chủ thể
Nhà nước là chủ sở hữu đối với tài sản thuộc chế độ sở hữu toàn dân, Nhànước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền của chủ sở hữu đối vớitài sản là những tư liệu sản xuất chủ yếu có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của
3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Dân sự Việt Nam tập 1, Nxb Công an nhân dân, H 2006, 225
4 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Dân sự Việt Nam tập 1, Nxb Công an nhân dân, H 2006, 226
Trang 11nền kinh tế quốc dân, đến an ninh, quốc phòng như quy định tại Điều 53 Hiến pháp
2013: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển,
vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý
là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” và Điều 201 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc hình thức
sở hữu Nhà nước”.
Khác với những chủ sở hữu khác, Nhà nước là một chủ thể đặc biệt tham giaquan hệ sở hữu lý do là Nhà nước là chủ thể duy nhất đối với các tư liệu sản xuấtchủ yếu và không trực tiếp thực hiện quyền sở hữu của mình mà thông qua các vănbản pháp luật, các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước để thực hiệnquyền sở hữu cua mình Nhà nước chỉ kiểm tra, thanh tra, giám sát việc quản lý, sửdụng tài sản đó sao cho hợp lý, tiết kiệm, đúng mục đích
Nhà nước thực hiện quyền sở hữu đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu như:Đất đai, rừng núi, sông hồ, tài nguyên, thiên nhiên trong lòng đất, thềm lục địa…
mà các chủ thể khác không có quyền sở hữu Nhà nước giao tài sản cho các doanhnghiệp nhà nước, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang quyền quản lý, sử dụng đúngmục đích theo quy định của pháp luật Khi tài sản được Nhà nước giao cho các cơquan, đơn vị, tổ chức… thì Nhà nước thực hiện quyền kiểm tra, giám sát việc quản
lý, sử dụng tài sản đó
c Khách thể
Theo như quy định tại Điều 200 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Tài sản thuộc
hình thức sở hữu nhà nước bao gồm đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đât, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc cấc ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định” Theo đó khách thể của sở hữu nhà nước rất đa
dạng, phạm vi khách thể không bị hạn chế Có những loại tài sản chỉ thuộc sở hữunhà nước như: Đất đai, rừng núi, sông hồ, nước, tài nguyên thiên nhiên trong lòngđất, các loại tài sản trong lòng đất thuộc thềm lục địa Việt Nam, sinh vật và các loạitài nguyên không phải là sinh vật dưới nước thuộc vùng biển của Việt Nam, vùngkinh tế đặc quyền ngoài biển… Đó là những tư liệu sản xuất chủ yếu quyết định đếnviệc phát triển kinh tế, bảo vệ nền an ninh và quốc phòng của nước ta Những loạitài sản này gọi là khách thể đặc biệt của quyền sở hữu nhà nước
Trang 12Đất đai
Tất cả các loại đất đai trong phạm vi lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam đều thuộc sở hữu Nhà nước Nhà nước giao đất cho các cơ quan, tổchức, doanh nghiệp nhà nước, đơn vị vũ trang nhân đân, các nông trường, lâmtrường, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, các hợp tác xã và cá nhân để sử dụng lâu dài
và ổn định Người sử dụng đất có quyền hưởng hoa lợi, để lại thừa kế những hoa lợitrên đất, được phép chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, để lại thừa kế quyền sửdụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật
Theo quy định của Luật đất đai năm 2013, đất đai được phân thành các loại:
- Đất nông nghiệp là đất dùng để phát triển nông nghiệp như trồng trọt, chănnuôi Tổ chức, cá nhân sử dụng đất có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp thâm canh,tăng vụ, bảo vệ cải tạo, bồi bổ đất, sr dụng đất đúng mục đích, có hiệu quả Khichuyển nhượng quyền sử dụng đất được Nhà nước giao phải tuân theo các quy địnhtại phần thứ V Bộ luật Dân sự năm 2005 và pháp luật về đất đai
- Đất phi nông nghiệp
+ Đất ở nông thôn, đất ở thành thị là đất dùng để ở, xây dựng đô thị và các khudân cư nông thôn Việc sử dụng đất khu dân cư ở thành thị và ở nông thôn phải tuântheo quy định về quy hoạch đô thị và nông thôn
+ Đất xây dựng trụ sở cơ quan và các loại đất phi nông nghiệp khác: Là đấtđược sử dụng cho các nhu cầu chung, cho việc quản lí nhà nước, phục vụ việc pháttriển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, đất dùng trong việc thăm dò, khai tháckhoáng sản, làm đồ gốm, gạch ngói và các loại vật liệu xây dựng khác
- Đất chưa sử dụng: Là loại đất hoang, đất trống, đồi trọc chưa được Nhà nướcgiao cho tổ chức, cá nhân nào Nhà nước sẽ lập quy hoạch tổng thể, tổ chức thựchiện việc bảo vệ, điều tra khảo sát và lập kế hoạch đưa vào khai thác Nhà nước cóchính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân đưa loại đất này vào sản xuất nôngnghiệp, lâm nghiệp
Nhà nước thống nhất quản lý tất cả các loại đất đai trong phạm vi lãnh thổ,thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nhà nước giao cho các
tổ chức, cá nhân sử dụng hoặc cho các tổ chức, cá nhân thuê để sử dụng lâu dàinhưng phải bảo đảm sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và tiết kiệm Người sử dụngđất phải tuyệt đối chấp hành luật về quản lý đất, nếu vi phạm thì tùy theo mức độ
mà có thể bị xử lý theo pháp luật hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự
Rừng
Trang 13Theo quy định tại Điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng thì rừng bao gồm:
“Rừng tự nhiên, rừng trồng bằng vốn Nhà nước thuộc sở hữu nhà nước”.
Rừng tự nhiên là tổng thể sinh thái gồm không những cây rừng mà còn cả môitrường rừng như: Thảm cỏ tự nhiên, thẩm thực vật trung gian, động vật (gồm cảchim muông, thú rừng) Rừng có giá trị kinh tế cao Ngoài ra, rừng còn làm trongsạch môi trường, cân bằng hệ sinh thái và có tác dụng chống xói mòn, bảo vệ đấtđai
Đối với các loại rừng mà chủ rừng trồng trên đất được Nhà nước giao nhưngkhông phải bằng vốn của Nhà nước thì tất cả sản phẩm thực vật rừng thuộc quyền
sở hữu của người bỏ vốn trồng rừng Những động vật rừng quý hiếm mà pháp luậtquy định phải bảo vệ, cấm săn bắt nếu không có giấy phép đều thuộc quyền sở hữucủa Nhà nước Các động vật thông thường thuộc quyền sở hữu của chủ rừng
Rừng được chia thành các loại sau:
- Rừng phòng hộ để bảo vệ đất, nguồn nước, chống xói mòn, hạn chế thiên tai,rừng để chắn gió, chắn sóng biển và lấn biển
- Rừng đặc dụng để bảo vệ, bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái, rừngquốc gia, động vật rừng, nghiên cứu khoa học, làm danh lam thắng cảnh và du lịch
- Rừng sản xuất dùng vào việc khai thác, kinh doanh gỗ, các lâm sản rừng và
động vật rừng Những người khai thác phải bảo đảm việc khai thác rừng đủ tuổikhai thác và sau khi khai thác phải trồng lại rừng theo quy định của Nhà nước.Các tổ chức, cá nhân (gọi là chủ rừng) khi được cơ quan nhà nước có thẩmquyền giao rừng, đất trồng rừng để sử dụng phải tuân theo quy định của luật bảo vệ
và phát triển rừng, không sử dụng vào mục đích khác
Trang 14Ngoài ra, các loài sinh vật sống trong nước (kể cả sinh vật và không sinh vật)
là nguồn thủy sản và hải sản có giá trị, góp phần vào việc phát triển kinh tế ngoạithương, đem lại cho Nhà nước số ngoại tệ đáng kể
Hầm, mỏ (khoáng sản)
Là những loại tài nguyên trong lòng đất, dưới thềm lục địa có giá trị kinh tếphục vụ cho việc phát triển công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ và công nghiệpquốc phòng
- Hầm: Bao gồm các khoáng chất để xây dựng và cung cấp cho công nghiệpnhư đá vôi, đất sét, cát đen, cát vàng, muối mỏ, các khoáng chất làm nguyên liệusản xuất phân bón
- Mỏ: Bao gồm các loại khoáng chất như kim loại, đá quý, than đá, nhiên liệulỏng (dầu), nhiên liệu khí…
Việc khai thác và sử dụng hầm, mỏ phải tuân theo trình tự nhất định do phápluật quy định Tổ chức hoặc cá nhân có hành vi cố ý vi phạm các quy định trongquản lý nhà nước về khoáng sản sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật
Các loại vũ khí quốc phòng, an ninh
Là những tài sản chỉ thuộc quyền sở hữu nhà nước, do Nhà nước trang bị cholực lượng vũ trang để chiến đấu bảo vệ tổ quốc và giữ gìn trật tự trị an Ở nước ta,
cá nhân không có quyền có vũ khí riêng5
Ngoài ra, những tài sản vắng chủ, vô chủ, những tài sản chôn giấu, bị chìmđắm trong một số trường hợp pháp luật quy định là của Nhà nước Các công trìnhvăn hóa hoặc công trình có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và anninh quốc phòng như: Hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ, bưu điện, bưuchính viễn thông… đều thuộc sở hữu toàn dân
d Nội dung
Nhà nước là chủ sở hữu đối với tài sản là những tư liệu sản xuất quan trọngnhất của nước ta nên cũng như các chủ sở hữu khác, theo quy định tại Điều 202 Bộ
luật Dân sự năm 2005: “Việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc hình thức sở
hữu nhà nước được thực hiện trong phạm vi và theo trình tự do pháp luật quy định” Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tư cách là chủ sở hữu đặc
biệt cũng có những quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt những tài sản thuộc
sở hữu của mình
5 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Dân sự Việt Nam tập 1, Nxb Công an nhân dân, H 2006, 235
Trang 15- Quyền chiếm hữu: Nhà nước thực hiện quyền chiếm hữu tài sản của mìnhbằng cách ban hành các văn bản pháp quy, quy định việc bảo quản, quy định thể lệkiểm kê tài sản định kỳ và đột xuất để kiểm tra tài sản mà Nhà nước đã giao cho các
cơ quan, doanh nghiệp của Nhà nước Các cơ quan, doanh nghiệp phải nghiêmchỉnh thực hiện các quy định này
- Quyền sử dụng: Với tư cách là chủ sở hữu, Nhà nước có quyền khai tháccông dụng những tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước Tuy nhiên, Nhà nước khaithác lợi ích đối với tài sản thuộc sở hữu Nhà nước theo quy định của pháp luật vàtheo một kế hoạch nhất định Nhà nước không trực tiếp thực hiện quyền sử dụng tàisản của nhà nước mà trao cho các cơ quan chức năng và doanh nghiệp của Nhànước để khai thác công dụng của tài sản, Nhà nước còn chuyển giao cho các tổchức, cá nhân thông qua các hợp đồng dân sự hay thủ tục hành chính nhất định
- Quyền định đoạt: Nhà nước định đoạt tài sản của mình bằng nhiều phươngthức khác nhau Nhà nước có thể chuyển giao tài sản cho các doanh nghiệp nhànước, các tổ chức, cá nhân những chủ thể này được quyền sử dụng tài sản để thựchiện nhiệm vụ được giao Nhà nước thành lập những cơ quan quản lý nhà nước ởtrung ương và địa phương để trực tiếp quyết định việc chuyển giao tài sản trongphạm vi chức năng, quyền hạn do pháp luật quy định
Nhà nước là chủ thể trong các quan hệ pháp luật về sở hữu, Nhà nước thựchiện quyền sở hữu trực tiếp thông qua các cơ quan quyền lực, cơ quan quản lý nhànước hoặc giáp tiếp thông qua các doanh nghiệp kinh doanh, doanh nghiệp hoạtđộng công ích do Nhà nước thành lập được Nhà nước giao cho quyền quản lý, sửdụng, định đoạt tài sản Là chủ thể đặc biệt trong các quan hệ pháp luật dân sự nêncác căn cứ làm phát sinh quyền sở hữu của Nhà nước cũng có những đặc thù.Quyền sở hữu của Nhà nước có thể phát sinh thông qua các hợp đồng dân sự hoặcnhững căn cứ phổ biến khác nhưng có những căn cứ pháp luật chỉ áp dụng đối vớihình thức sở hữu nhà nước như: Trưng mua tài sản (Điều 253 Bộ luật Dân sự năm2005); tịch thu tài sản (Điều 253 Bộ luật Dân sự năm 2005); hoặc trong một sốtrường hợp vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật do người khác đánh rơi
bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu, hàng hóa viện trợ của nước ngoài thì tài sản đó đều thuộc quyền sở hữu của Nhà nước
Trang 161.2.2 Sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị
- xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội
a Khái niệm
Các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và tổ chức xã hội (sau đây gọi tắt là các
-tổ chức) là những -tổ chức được thành lập theo nguyên tắc tập trung dân chủ Mụcđích thành lập không phải vì lợi nhuận Mỗi tổ chức có nhiệm vụ và tôn chỉ khácnhau nhưng tựu trung đều vì lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng Vì vậy cơ chế quản
lý, sử dụng tài sản của các tổ chức tương đối giống nhau6
Theo quy định tại Điều 227 và Điều 203 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì sở hữucủa các tổ chức là sở hữu của tổ chức đó nhằm thực hiện mục đích chung quy địnhtrong điều lệ Theo đó, sở hữu của các tổ chức là một phạm trù kinh tế được dùng
để chỉ quyền sở hữu về tài sản là những cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang thiết bị, vốn
và các lại quỹ của các tổ chức Các tổ chức sử dụng những tài sản này để phục vụcho lợi ích của tập thể, lợi ích của cộng đồng chứ không vì mục tiêu lợi nhuận
là chỗ dựa vững chắc của Nhà nước và tạo nên những điều tốt đẹp trong xã hộithông qua các hoạt động vì lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng của họ Mỗi một tổchức đều có những hoạt động mang tính đặc thù phản ánh vị trí, vai trò của mìnhtrong hệ thống chính trị và trong đời sống xã hội Các tổ chức là chủ sở hữu trongquan hệ pháp luật dân sự về sở hữu và luôn nhân danh tổ chức mà không nhân danhnhà nước Mỗi tổ chức là một chủ sở hữu riêng biệt đối với tài sản của tổ chứcmình
c Khách thể
Theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Tài sản thuộc hình
thức sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
6 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Dân sự Việt Nam tập 1, Nxb Công an nhân dân, H 2006, 241
Trang 171 Tài sản được hình thành từ nguồn đóng góp của các thành viên, tài sản được tặng cho chung và từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật là tài sản thuộc sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước đã chuyển giao quyền sở hữu cho tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội là tài sản thuộc sở hữu của tổ chức đó.
2 Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước giao cho tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội để quản lý và sử dụng thì không thuộc sở hữu của tổ chức đó.”
Và Điều 231 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Tài sản thuộc hình thức sở
hữu của tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp” Tài sản được hình thành từ nguồn đóng góp của các thành viên, tài sản được tặng cho chung hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật là tài sản thuộc sở hữu của tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp đó”.
Khách thể của quan hệ sở hữu của các tổ chức là những tài sản được xã địnhmột cách cụ thể của một tổ chức Tài sản đó có thể là những cơ sở vật chất kỹ thuật,các trang thiết bị dùng để phục vụ cho quá trình hoạt động của tổ chức; các tài sảnkhác như vốn, các loại quỹ hoặc các tài sản thuộc sở hữu Nhà nước đã chuyển giaoquyền sở hữu là tài sản thuộc sở hữu của tổ chức đó Những tài sản Nhà nước giaocho sử dụng thì tổ chức không có quyền sở hữu như trụ sở làm việc và các cơ sở vậtchất khác 7
Theo quy định của pháp luật các tổ chức đó có thể có quyền sở hữu tất cả cácloại tài sản mà các chủ thể khác có, trừ những tài sản thuộc sở hữu nhà nước nhưquy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013 và Điều 200 Bộ luật Dân sự năm 2005.Tài sản của các tổ chức được hình thành từ nguồn đóng góp của các thành viên, tàisản được tặng cho chung, được Nhà nước chuyển giao quyền sở hữu hoặc từ cácnguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật Các tổ chức sử dụng tài sản trongquá trình hoạt động để thực hiện các mục đích, nhiệm vụ theo quy định ở điều lệcủa tổ chức và phải tuân theo các quy định của Nhà nước, không làm hủy hoại môitrường, phải sử dụng tài sản tiết kiệm và hợp lý
d Nội dung
Theo quy định tại Điều 229 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc
sở hữu của mình theo quy định của pháp luật và phù hợp với mục đích hoạt động
7 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Dân sự Việt Nam tập 1, Nxb Công an nhân dân, H 2006, 244
Trang 18được quy định trong điều lệ” và Điều 232 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình theo quy định của pháp luật và phù hợp với mục đích hoạt động được quy định trong điều lệ”.
Theo đó các tổ chức có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản theoquy định của pháp luật, theo điều lệ và theo nghị quyết của cơ quan cao nhất trong
tổ chức mình
Quyền chiếm hữu: Các tổ chức kiểm soát tài sản của mình bằng nhiều phươngthức khác nhau như ban hành các nội quy, quy định nội bộ về việc quản lý, kiểm kê,kiểm soát tài sản Ngoài ra, đối với các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức màNhà nước hỗ trợ về kinh phí hoạt động phải lập sổ kế toán, báo cáo tài chính hàngnăm theo quy định của pháp luật
Quyền sử dụng: Các tổ chức có quyền khai thác công dụng của tài sản để thựchiện chức năng của tổ chức đó Trong quá trình khai thác tài sản, ngoài việc tuântheo các quy định của pháp luật còn phải phù hợp với mục đích hoạt động đã đượcquy định trong điều lệ Các tổ chức có thể giao tài sản cho một bộ phận, một đơn vịtrực thuộc để đầu tư vào sản xuất hoặc trực tiếp khai thác giá trị của tài sản Việc sửdụng tài sản phải đúng tính năng, công dụng, đúng phương thức, mang lại hiệu quảkinh tế cao
Quyền định đoạt: Các tổ chức có quyền quyết định về việc sử dụng, chuyểngiao, mua bán tài sản, hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân cần giúp đỡ Trong trườnghợp pháp luật có quy định trình tự, thủ tục định đoạt tài sản thì cũng phải tuân theotrình tự, thủ tục đó Là chủ sở hữu, các tổ chức có toàn quyền định đoạt tài sảnthuộc sở hữu của mình nhưng phải phù hợp với mục đích hoạt động được quy địnhtrong điều lệ và phù hợp với các quy định của pháp luật
Nhìn chung, các tổ chức với tư cách là chủ sở hữu cũng có đầy đủ các quyềnnăng của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật dân sự nhưng cũng có những nétđặc thù Khi thực hiện những quyền năng này các tổ chức cũng không được làmthiệt hại và ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi íchhợp pháp của người khác
Trang 191.2.3 Sở hữu tư nhân
a Khái niệm
Theo quy định tại Điều 221 Bộ luật dân sự năm 2005: “Sở hữu tư nhân là sở
hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình Sở hữu tư nhân bao gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân”.
Sở hữu tư nhân là hình thức sở hữu của từng cá nhân về tư liệu sinh hoạt, tiêudùng và những tư liệu sản xuất nhằm đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thầncủa cá nhân
b Chủ thể
Chủ thể của sở hữu tư nhân là từng cá nhân Nếu một tài sản hoặc một tập hợptài sản thuộc quyền sở hữu của hai hay nhiều người thì chủ sở hữu là từng ngườitrong số họ; họ được gọi là đồng chủ sở hữu
Mọi cá nhân dù đã trường thành hay chưa trưởng thành, có hay không có nănglực hành vi dân sự hoặc năng lực hành vi dân sự chưa đầy đều có quyền sở hữu,quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản thuộc sở hữu của mình (khoản 2Điều 15 Bộ luật Dân sự năm 2005)
Muốn trở thành chủ thể của sở hữu tư nhân được toàn quyền tự mình hành xửnhững quyền năng của chủ sở hữu phải có những điều kiện nhất định Trong trườnghợp công dân không có năng lực hành vi dân sự hoặc có năng lực hành vi dân sựchưa đầy đủ, khi thực hiện quyền sở hữu (sử dụng hay định đoạt) phải thông quahành vi của người giám hộ theo quy định từ Điều 59 đến Điều 73 Bộ luật Dân sự
năm 2005 Ngoài ra đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 23 Bộ
luật Dân sự năm 2005) khi định đoạt tài sản như bán, cho, trao đổi phải có sự đồng
ý của người đại diện theo pháp luật
Bộ luật Dân sự ngoài việc quy định chủ thể sở hữu tư nhân là công dân ViệtNam còn công nhận các chủ thể sở hữu tư nhân là cá nhân nước ngoài, người ViệtNam định cư ở nước ngoài có vốn đầu tư về nước để sản xuất, kinh doanh Nhữngngười này cũng là chủ thể của sở hữu tư nhân đối với phần vốn, tài sản mà họ đãđầu tư tại Việt Nam
c Khách thể
Khách thể của sở hữu tư nhân là những tài sản thuộc quyền sở hữu của cá
nhân công dân Điều 212 Bộ luật Dân sự quy định: “Tài sản thuộc hình thức sở hữu
tư nhân
Trang 201 Thu nhập hợp pháp, của cải đề dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác của cá nhân là tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân
Tài sản hợp pháp thuộc hình thức sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số lượng, giá trị.
2 Cá nhân không được sở hữu đối với tài sản mà pháp luật quy định không thể thuộc hình thức sở hữu sở hữu tư nhân”
Theo đó, tài sản thuộc sở hữu tư nhân bao gồm:
Những thu thập hợp pháp: Là khoản tiền hoặc hiện vật có được do kết quả củalao động hợp pháp đem lại Các khoản tiền thù lao, tiền thưởng do có các công trìnhnghiên cứu khoa học, các sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, các giải pháp hữuích được đem ra sử dụng Các khoản tiền nhuận bút do có các tác phẩm văn, nghệthuật, khoa học kỹ thuật được xuất bản, triển lãm được giải thưởng do trúng vé xổ
số, các trò chơi phù hợp với quy định của pháp luật Những thu nhập từ kinh tế giađình, kinh tế các thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân hoặc do được thừa kế, được tặng,cho
Những thu nhập hợp pháp của cá nhân là những tài sản còn lại sau khi đã thựchiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế cho Nhà nước như: Thuế doanh thu, thuế lợi tức,thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu thập cá nhân theo quy định của pháp luật về thuế.Thu nhập hợp pháp còn là những khoản tiền trợ cấp, các khoản tiền bồi thường
về sức khỏe, tài sản của công dân do người có hành vi gây thiệt hại đã bồi thường,những khoản lợi nhuận có được từ các giao dịch dân sự, các hoa lợi và lợi tức Khách thể của sở hữu tư nhân còn gồm cả những thu nhập thường xuyên và khôngthường xuyên nhưng hợp pháp của mỗi cá nhân
- Của cải để dành là tiền hoặc hiện vật (vàng, bạc, kim khí quý, đá quý ) dothu nhập hợp pháp của cá nhân mà có nhưng không sử dụng hết Của cải để dành cóthể dưới nhiều hình thức khác nhau như cho vay, cho thuê, chôn giấu Đây lànhững tài sản mà cá nhân chưa dùng đến
- Nhà ở là tư liệu sinh hoạt nhằm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu về chỗ ở của cánhân hoặc gia đình họ Công dân có quyền có nhà ở và có quyền xây dựng nhà ởtheo quy hoạch và quy định của pháp luật Nhà ở là công trình được công dân xâydựng, mua, được thừa kế, được tặng cho hoặc do đổi chác Nhà ở có thể là côngtrình kiến trúc kiên cố, bán kiên cố, hoặc đơn sơ nhưng chính là nơi công dândùng để ở, nghỉ ngơi, là nơi sinh sống chính của công dân Nhà ở là tư liệu tiêu
Trang 21dùng đặc biệt vì nó biểu hiện rõ khả năng kinh tế, văn hóa, thẩm mĩ của công dân vàtrong quá trình sử dụng có thể phát sinh lợi nhuận về tài sản Cơ cấu nhà ở được thểhiện diện tích chính, diện tích phụ nhưng đều nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt vàmục đích để ở của công dân.
- Tư liệu sinh hoạt là những tài sản phục vụ cho nhu cầu đi lại, giải trí, vuichơi, nghỉ ngơi thỏa mãn nhu cầu về mặt vật chất và tinh thần của cá nhân
- Tư liệu sản xuất bao gồm vốn (tiền, vàng, đá quý ) và các tài sản khác nhưnhà kho, nhà xưởng, máy móc thiết bị mà cá nhân được quyền sử dụng và sảnxuất kinh doanh theo quy định của pháp luật Các nhân có toàn quyền sử dụng tàisản thuộc sở hữu của mình để đầu tư, góp vốn vào các doanh nghiệp tiến hành sảnxuất kinh doanh Ngoài các tài sản trên còn bao gồm tất cả những gì do tài sản đósinh ra (hoa lợi, lợi tức), những gì phụ thuộc vào tài sản đó do thuộc tính tự nhiênhay nhân tạo đều là khách thể của sở hữu tư nhân
Các loại khách thể của sở hữu tư nhân trên đây còn đồng thời là di sản thừa kế,sau khi người đó chết đi sẽ được chuyển cho những người còn sống theo quy địnhcủa pháp luật thừa kế tại Phần thứ tư Bộ luật Dân sự năm 2005 Các tài sản trênkhông bị tước đoạt trái pháp luật hoặc bị quốc hữu hóa theo quy định tại Khoản 2
Điều 32 Hiến pháp năm 2013: “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừ kế được pháp
luật bảo hộ”.
d Nội dung
Theo quy định tại Khoản Điều 213 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Cá nhân có
quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hoặc sản xuất, kinh doanh và các mục đích khác phù hợp với quy định của pháp luật”, cá nhân có các quyền chiếm hữu, sử dụng và định
đoạt tài sản của mình như sau:
Quyền chiếm hữu: Với tài sản của mình, cá nhân có quyền giữ nó cho riêngmình cho dù là không dùng để sử dụng vào việc gì Ngoài ra, cá nhân có thể thôngqua một hợp đồng dân sự giao cho người khác thực hiện quyền chiếm hữu (gửi giữ)hoặc cả quyền sử dụng (cho thuê, cho mượn)
Quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu tư nhân được pháp luật dân sự khuyếnkhích tạo điều kiện nhằm giải phóng sức sản xuất và mang lại hiệu quả kinh tế cao
Cá nhân có quyền dùng vốn, công cụ và tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu củamình để đưa vào sản xuất, kinh doanh, phục vụ các nhu cầu sinh hoạt tiêu dùnghoặc các mục đích khác phù hợp với quy định của pháp luật và không được thực
Trang 22hiện quyền sử dụng của mình để hoạt động sản xuất kinh doanh bất hợp pháp Mọihành vi phá hoại nền kinh tế quốc dân, làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước,quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể và công dân hoặc sử dụng tài sản mà hủy hoạimôi trường đều bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật Quyền địnhđoạt tài sản của cá nhân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ
Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhânkhông được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi íchcông cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác (Khoản 2 Điều 213 Bộ luật Dân
sự năm 2005)
1.2.4 Sở hữu tập thể
a Khái niệm
Điều 208 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “sở hữu tập thể là sở hữu của
hợp tác xã hoặc các hình thức kinh tế tập thể ổn định khác do cá nhân, hộ gia đình cùng góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục đích chung được quy định trong điều lệ, theo nguyên tắc tư nguyện, bình đẳng, dân chủ, cùng quản lý và cùng hưởng lợi”.
Sở hữu tập thể là sở hữu hợp tác xã trong đó tư liệu sản xuất, tài sản từ nguồnđóng góp của các thành viên là của chung của tất cả các thành viên Xã viên hợptác xã làm chủ đối với tư liệu sản xuất, tài sản từ nguốn đóng góp và có quyền thamgia bàn bạc, thảo luận trong đại hội toàn thể của xã viên về việc sử dụng hoặc địnhđoạt các tài sản đó Trong sở hữu tập thể xã viên hợp tác xã trực tiếp sử dụng tài sảncủa hợp tác xã trong quá trình sản xuất kinh doanh Bằng phương pháp thầu khoán,cho thuê các tư liệu sản xuất ổn định và hợp lý, hợp tác xã tạo điều kiện cho xã viênmang hết khả năng, tinh thần sáng tạo của mình phục vụ sản xuất kinh doanh cóhiệu quả kinh tế cao góp phần tạo ra khối lượng vật chất đáng kể cho xã hội Dovậy, thành quả lao động của hợp tác xã không những chỉ phục vụ cho quyền lợi củatừng xã viên mà còn góp phần phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội8
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài sản của hợp tác xã Nhà nước bảo hộ quyền bình
8 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Dân sự Việt Nam tập 1, Nxb Công an nhân dân, H 2006, 256
Trang 23đẳng của hợp tác xã trong sản xuất, kinh doanh, không can thiệp vào việc quản lý vàhoạt động hợp pháp của hợp tác xã; ban hành các văn bản pháp luật và chính sáchkhuyến khích phát triển hợp tác xã; thông qua các hợp tác xã để thực hiện các chínhsách giúp đỡ, hỗ trợ xã viên xóa đói, giảm nghèo, thực hiện bình đẳng, công bằng
và tiến bộ xã hội
Chủ thể của quan hệ pháp luật về sở hữu tập thể là từng hợp tác xã riêng biệt.Mỗi hợp tác xã với tư cách là chủ thể của sở hữu tập thể có quyền sở hữu đối vớitoàn bộ tài sản được hình thành từ nguồn đóng góp của các thành viên, thu nhập hợppháp do sản xuất, kinh doanh, được Nhà nước hỗ trợ hoặc từ các nguồn khác phùhợp với quy định của pháp luật
c Khách thể
Điều 209 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Tài sản được hình thành từ
nguồn đóng góp của các thành viên, thu nhập hợp pháp do sản xuất, kinh doanh, được Nhà nước hỗ trợ hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật
là tài sản thuộc sở hữu của tập thể đó”.
Khách thể của sở hữu tập thể bao gồm các tư liệu sản xuất, công cụ lao động,vốn góp của xã viên, các loại quỹ do hợp tác xã lập ra Tất cả các tài sản từ nguồnđóng góp của các thành viên, được Nhà nước hỗ trợ hoặc từ những nguồn khác phùhợp với quy định của pháp luật là một khách thể thống nhất mà mỗi xã viên sẽ được
sử dụng theo quyết định của ban quản trị
Mỗi hợp tác xã đều có quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất, công cụ lao độngphục vụ cho nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh và các hoạt động khác của hợp tác xã.Ngoài các tư liệu sản xuất chính, nếu các hợp tác xã có phát triển thêm các ngànhnghề phụ để tăng thu nhập cho xã viên thì hợp tác xã cũng có quyền sở hữu đối vớicác tư liệu sản xuất dùng vào việc phát triển ngành nghề phụ đó
Hợp tác xã không có quyền sở hữu đối với những tư liệu sản xuất là khách thểđặc biệt thuộc sở hữu toàn dân (Điều 53 Hiến pháp năm 2013 và Điều 200 Bộ luậtDân sự năm 2005) Tuy nhiên, để cho các hợp tác xã có điều kiện sản xuất kinhdoanh, nhất là các hợp tác xã nông nghiệp, Nhà nước giao đất để các hợp tác xã sửdụng lâu dài và ổn định
Ngoài ra, hợp tác xã còn có quyền sở hữu đối với các loại quỹ do hợp tác xãlập ra Các quỹ đó được sử dụng vào mục đích do điều lệ của hợp tác xã quy định.Tài sản thuộc sở hữu tập thể còn có thể là vốn mà hợp tác xã vay của ngân hàng,huy động vốn góp của xã viên theo quyết định của đại hội xã viên, vốn trợ cấp của
Trang 24Nhà nước, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước do các bên thỏa thuận và theoquy định của pháp luật.
3 Thành viên của tập thể có quyền được ưu tiên mua, thuê, thuê khoán tài sản thuộc hình thức sở hữu tập thể”.
Theo đó, chủ thể của sở hữu tập thể có cả ba quyền năng chiếm hữu, sử dụng,định đoạt tài sản của tập thể mình, đó là:
- Quyền chiếm hữu: Các tập thể (hợp tác xã) có quyền chiếm hữu tài sản củatập thể, có thể thông qua một hợp đồng dân sự giao cho người khác, tổ chức, tập thểkhác thực hiện quyền chiếm hữu (gửi giữ) hoặc cả quyền sử dụng (cho thuê, chomượn) theo quy định của pháp luật và điều lệ của tập thể
- Quyền sử dụng: Các hợp tác xã và các hình thức kinh tế tập thể thường làhoạt động vì mục tiêu lợi nhuận Khi có vốn, tư liệu sản xuất họ ra sức sử dụngchúng một cách hợp lý để thu được nhiều lợi nhuận nhất có thể Tuy nhiên, việc sửdụng này phải tuân theo pháp luật và phù hợp với điều lệ của tập thể đó
- Quyền định đoạt: Chủ thể trong hình thức sở hữu này có quyền định đoạt tàisản của mình theo quy định của phá luật và điều lệ của tập thể
1.2.5 Sở hữu chung
a Khái niệm
Điều 214 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Sở hữu chung là sở hữu của
nhiều chủ sở hữu đối với tài sản Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và
sở hữu cung hợp nhất Tài sản thuộc hình thức sở hữu chung là tài sản chung”.
Theo đó một tài sản nhất định nào đó thuộc sở hữu của nhiều chủ sở hữu Vàtài sản này được gọi là tài sản chung
b Chủ thể
Chủ thể của sở hữu chung là tất cả các chủ sở hữu đối với tài sản đó (hình thứcđồng sở hữu) Mỗi đồng chủ sở hữu khi thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử
Trang 25dụng, định đoạt đối với tài sản chung sẽ liên quan đến quyền lợi của tất cả các đồngchủ sở hữu khác Tuy nhiên, mỗi đồng chủ sở hữu trong sở hữu chung có vị trí độclập và tham gia quan hệ pháp luật dân sự với tư cách là một chủ sở hữu độc lập
c Khách thể
Khách thể của sở hữu chung là một hoặc một tập hợp tài sản có đặc điểm làthống nhất, tài sản khi chia tách về mặt vật lý thì sẽ không còn giá trị sử dụng nhưban đầu, các chủ sở hữu sẽ không còn khai thác được công dụng vốn có của nó Vídụ: đem chia tách chiếc cầu thang bộ của một ngôi nhà chung cư ra thì chiếc cầuthang đó sẽ không còn tác dụng
d Nội dung
Việc sử dụng, định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu chung phải được đồngchủ sở hữu thỏa thuận dựa trên tính chất, công dụng của tài sản và dựa vào hoàncảnh cụ thể của các đồng chủ sở hữu chung Việc thực hiện các quyền năng chiếmhữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản chung của hình thức sở hữu chung được quyđịnh trong Bộ luật Dân sự năm 2005, cụ thể là:
- Chiếm hữu tài sản chung: Các chủ sở hữu chung cùng quản lý tài sản chungtheo nguyên tắc nhất trí, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quyđịnh khác (Điều 221)
- Sử dụng tài sản chung: Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền khai tháccông dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung tương ứng với phần quyền sở hữucủa mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Cácchủ sở hữu chung hợp nhất có quyền ngang nhau trong việc khai thác công dụng,hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung, nếu không có thoả thuận khác (Điều 222)
- Định đoạt tài sản chung: Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền địnhđoạt phần quyền sở hữu của mình theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thoả thuận của các chủ
sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật Trong trường hợp một chủ sở hữuchung bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưutiên mua Trong thời hạn ba tháng đối với tài sản chung là bất động sản, một thángđối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận đượcthông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào muathì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác Trong trường hợp bán phầnquyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn ba tháng,
kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theophần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Toà án chuyển sang cho
Trang 26mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thườngthiệt hại Trong trường hợp một trong các chủ sở hữu chung từ bỏ phần quyền sởhữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền
sở hữu đó thuộc Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sởhữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại (Điều 223)
e Các loại sở hữu chung
Khoản 1 Điều 216 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Sở hữu chung theo
phần là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung” Trong sở hữu chung theo phần, mỗi đồng chủ sở hữu
biết trước được tỷ lệ phần quyền của mình đối với khối tài sản chung Phần quyền
đó có thể bằng nhau hoặc không bằng nhau
Phần quyền xác định trước này là đối với toàn bộ tài sản thuộc sở hữu chungcủa tất cả các đồng chủ sở hữu Do vậy, phần tài sản của các đồng chủ sở hữu trong
sở hữu chung theo phần bao giờ cũng phải được biểu hiện bằng những đơn vị sốhọc cụ thể Thông qua đơn vị số học đó mà thầy được phần quyền của mỗi đồng chủ
sở hữu là bao nhiêu trong khối tài sản chung
Mặc dù phần quyền của mỗi người có thể không bằng nhau nhưng tài sảntrong sở hữu chung theo phần là một thể thống nhất, có mối liên hệ, liên kết chặtchẽ với nhau Quyền của mỗi người bao trùm đối với toàn bộ tài sản nên họ phảiđược quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu và sử dụng tài sản chung
Do có tính chất đặc thù nên sở hữu chung theo phần xuất hiện khi có mộttrong những điều kiện:
- Do nhiều người cùng chung công sức để tạo ra tài sản;
- Do góp tiền để mua sắm tài sản hoặc để xây dựng chung một công trình;
- Do cùng được tặng cho hoặc cùng được thừa kế chung tài sản
Tại khoản 1 Điều 217 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Sở hữu chung hợp
nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu không được xác định đối với tài sản chung” Sở hữu chung hợp nhất là hình thức sở hữu
của hai hay nhiều chủ thể đối với khối tài sản chung Sở hữu chung hợp nhất baogồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không phânchia