Hiện nay, pháp luật Việt Nam khi điều chỉnh thì hoạt động công chứng gồm công chứng công được thực hiện bởi Phòng công chứng và hoạt động công chứng tư được thực hiện bởi Văn phòng công
Trang 1-
LÊ TẤN ĐỨC
PHÁP LUẬT HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG TƯ, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh, năm 2019
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ TÂM
TP Hồ Chí Minh, năm 2019
Trang 3Tôi cam đoan rằng luận văn "Pháp luật hoạt động công chứng tư, thực trạng và giải pháp hoàn thiện" là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện
Tôi cam đoan toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác, trừ các tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này
Tôi cam kết thực hiện việc trích dẫn, sử dụng sản phẩm/nghiên cứu của người khác trong luận văn đúng quy định
Tôi cam đoan luận văn này chưa được nộp để nhận bằng cấp ở bất kỳ trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
TP Hồ Chí Minh, năm 2019
Lê Tấn Đức
Trang 4Đầu tiên, tác giả chân thành cảm ơn quý Ban Giám hiệu, Thầy, Cô Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức khóa học; giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu; tạo điều kiện thuận lợi cho em được hoàn thành chương trình học; được làm luận văn tốt nghiệp trong thời hạn và giúp đỡ em trong quá trình học tập, viết luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt, tác giả chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyên Thị Tâm và quý Thầy, Cô Khoa Luật Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, tận tình hướng dẫn, định hướng về mặt khoa học để em được hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tác giả cảm ơn các các anh, chị, đồng chí, đồng nghiệp, các bạn học viên cao học Ngành Luật kinh tế Khóa 1, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh và người thân trong gia đình đã quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp
Kính chúc quý Ban Giám hiệu, Thầy, Cô Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, các bạn học viên và người thân luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, thành công
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5Luận văn này, nghiên cứu tổng quan về hoạt động công chứng, thực trạng quy định của pháp luật về Văn phòng công chứng (hay còn gọi là công chứng tư) và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Văn phòng công chứng trong thời gian tới
Về bố cục của luận văn thì ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 02 chương: Chương 1, tổng quan về hoạt động công chứng; Chương 2, quy định của pháp luật về hoạt động của Văn phòng công chứng và một số kiến nghị hoàn thiện Qua đó, đã khẳng định mặc dù được quy định muộn hơn các hoạt động thương mại khác trong nền kinh tế nhưng về hoạt động công chứng của các Văn phòng công chứng thời gian qua đã thể hiện được nhưng ưu điểm và có những đóng góp đáng kể trong việc tạo điều kiện cho các giao dịch thực hiện nhanh chóng, dễ dàng hơn và giảm gánh nặng cho Phòng công chứng
Trong luận văn “Pháp luật về hoạt động công chứng tư, thực trạng và hướng hoàn thiện” với cơ cấu 2 chương tác giả đã giải quyết được những vấn đề sau:
Thứ nhất, tác giả đã tổng quan, khái quát hoạt động công chứng, qua đó cho thấy quá trình hình thành và phát triển hoạt động công chứng của nước ta là một quá trình thăng trầm và đến khi Luật Công chứng năm 2014 ra đời, thì thể chế công chứng
đã tương đối hoàn thiện
Thứ hai, phân biệt được những điểm giống nhau và khác nhau cơ bản giữa hoạt động công chứng với hoạt động chứng thực và giữa Phòng công chứng với Văn phòng công chứng
Thứ ba, một số vấn đề quan trọng liên quan đến hoạt động công chứng, như: Đặc điểm của hoạt động công chứng; Phạm vi hoạt động công chứng; Các nguyên tắc
tổ chức, hoạt động công chứng và những yếu tố bảo đảm cho hoạt động công chứng cũng được tác giả trình bày một cách cơ bản nhất nhằm giúp cho đọc giả có được cách nhìn khái quát về hoạt động của công chứng nói chung và hoạt động của Văn phòng công chứng nói riêng
Thứ tư, tác giả cũng đánh giá về thực trạng những quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động của Văn phòng công chứng đối với cơ cấu tổ chức của Văn phòng
Trang 6Từ đó, khẳng định những bất cập của pháp luật trong điều chỉnh hoạt động Văn phòng công chứng hiện hành Đồng thời, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Văn phòng công chứng
Những đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật về hoạt động của Văn phòng công chứng trên chủ yếu là từ thực tiễn thực hiện pháp luật trong hoạt động công chứng nước ta thời gian qua và tham khảo những quy định của pháp luật có liên quan
Vì vậy, tác giả hy vọng rằng kết quả nghiên cứu của luận văn "Pháp luật về hoạt động công chứng tư, thực trạng và giải pháp hoàn thiện" sẽ góp một phần nhỏ vào việc hoàn thiện thể chế về công chứng của Việt Nam trong giai đoạn mới phù hợp với thực tiễn
Trang 7This thesis brings an overview of notary activities, the current situation of the law on notary public offices (also called private notary public) and some recommendations to improve the law on the operation of the Office Notarized in the near future
Regarding the layout of the thesis, in addition to the introduction, conclusion, appendix and list of references, the thesis is structured into 02 chapters: Chapter 1, the overview of notary activities; Chapter 2, the provisions of the law on the operation of the Notary Office and some complete recommendations Thereby, it was affirmed although it is regulated later than other commercial activities in the national economy, notarial activities of notary offices have shown its significant advantages and contributions in facilitating faster and easier transactions as well as reducing the burden
on the Notary Public
In the dissertation "The law on private notarization, the reality and the direction
of improvement" with the structure of 2 chapters, the author has solved the following issues:
Firstly, the author has reviewed and generalized the notary activities, which shows that the process of forming and developing notarization activities of our country
is a process of change Since 2014 version was issued, the institution of notary activities was relatively improved
Secondly, they identified the basic similarities and differences between notarization and authentication activities and between notary public offices and notary public offices
Thirdly, some important issues related to notary activities, such as: Characteristics; Scope; The principles of organization, notarization activities and assurance factors for notarization activities are also fundamentally presented by the author in order to help readers gain an overview of the operation of notary public General and operation of Notary Office in particular
Fourth, the author also assesses the current status of the current law provisions
on the operation of the Notary Office on the organizational structure of the Notary
Trang 8confirming the inadequacies of the law governing the operation of the current Notary Office At the same time, making some recommendations to improve the law on the operation of the Notary Office
Proposals to amend and supplement the provisions of the law on the operation
of the Notary Office are mainly from the implementation of law in notarization activities
in our country over the past time and refer to the provisions of relevant laws Therefore, the author hopes that the research results of the dissertation "The law on private notarization activities, the reality and the improvement solution" will contribute a small part to the improvement of Vietnam's notary institution in the new period in accordance with reality
Trang 9LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
SUMMARY v
MỤC LỤC vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 2
2.1 Đối tượng nghiên cứu 2
2.2 Phạm vi nghiên cứu 3
3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 3
4 Tình hình nghiên cứu đề tài 4
5 Giá trị ứng dụng của đề tài 7
5.1 Giá trị về mặt khoa học 7
5.2 Giá trị thực tiễn 7
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Bố cục của đề tài 8
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG 10
1.1 Khái quát về công chứng 10
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công chứng 10
1.1.2 Phân biệt giữa hoạt động công chứng và chứng thực 17
1.1.3 Phân biệt giữa Phòng công chứng và Văn phòng công chứng 19
1.2 Khái quát về hoạt động công chứng 21
1.2.1 Đặc điểm của hoạt động công chứng 21
1.2.2 Phạm vi hoạt động công chứng 26
1.3 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động công chứng 29
1.3.1 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa 29
1.3.2 Nguyên tắc độc lập thực hiện công chứng và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật 30
Trang 10công chứng 31
1.3.4 Nguyên tắc giữ bí mật về nội dung công chứng và những thông tin có liên quan đến việc công chứng 32
1.4 Các yếu tố bảo đảm hoạt động công chứng 32
1.4.1 Yếu tố bảo đảm về kinh tế, xã hội 32
1.4.2 Yếu tố bảo đảm về tính pháp lý 33
1.4.3 Yếu tố bảo đảm về năng lực và nhận thức của công chứng viên 35
Kết luận chương 1 36
Chương 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 38
2.1 Cơ cấu tổ chức của Văn phòng công chứng 38
2.1.1 Công chứng viên làm việc theo chế độ hợp đồng lao động của Văn phòng công chứng 38
2.1.2 Công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng 40
2.1.3 Trưởng Văn phòng công chứng 40
2.2 Nội dung hoạt động công chứng 41
2.2.1 Hoạt động của Văn phòng công chứng 43
2.2.2 Hoạt động của công chứng viên 45
2.3 Trình tự, thủ tục thực hiện công chứng 47
2.3.1 Trình tự, thủ tục chung về công chứng 47
2.3.2 Trình tự, thủ tục công chứng một số hợp đồng, giao dịch, công chứng bản dịch, nhận lưu giữ di chúc 50
2.4 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Văn phòng công chứng 55
2.4.1 Về quy định thay đổi thành viên hợp danh của Văn phòng công chứng 56
2.4.2 Về quy định công chứng ngoài trụ sở trong trường hợp có lý do chính đáng 58
2.4.3 Về quy định mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp 60
Kết luận chương 2 62
KẾT LUẬN 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong cơ chế cũ, Nhà nước quản lý và điều hành nền kinh tế đất nước theo phương thức mệnh lệnh, hành chính, bao cấp Vì vậy, các giao dịch dân sự hầu như không phát triển, các giao dịch này chủ yếu dựa trên sự tin cậy, các thỏa thuận được thực hiện phần lớn bằng lời nói, viết tay hoặc do cơ quan hành chính Nhà nước thị thực nên thời kỳ trước năm 1987, công chứng nói chung chưa được xã hội quan tâm,
vì vậy công chứng chưa được hình thành, làm ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động giao lưu dân sự, kinh tế và xã hội
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế làm gia tăng các giao dịch dân sự, kinh tế cũng trở nên phong phú, đa dạng hơn, đòi hỏi Nhà nước phải có những biện pháp hữu hiệu để đảm bảo các giao dịch dân sự, kinh tế được an toàn, cũng như bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, công dân, góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của toàn xã hội Chính vì vậy, hoạt động công chứng ở nước ta đã được hình thành, phát triển và được đánh dấu bằng sự ra đời hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động công chứng ở cấp độ thông tư, nghị định, luật Nhìn chung, qua mỗi
kỳ sửa đổi, bổ sung, thay thế quy định về công chứng thì các vấn đề bất cập, hạn chế trong việc thực thi quy định cũ được khắc phục theo hướng hoàn thiện hơn
Năm 2014, là năm của cải cách thể chế với hàng loạt thay đổi quy định trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội tạo nên sự khác biệt về chất của thể chế kinh
tế và đã mang lại những tác động to lớn, tích cực đối với môi trường kinh doanh và
sự phát triển cộng đồng doanh nghiệp theo chủ trương của Đảng và Nhà nước đã đề
ra, đặc biệt là Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm
2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 về chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị, với mục đích tạo điều kiện cho công tác công chứng ở Việt Nam phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, phục vụ tốt hơn nhu cầu
Trang 13công chứng của tổ chức, cá nhân trong xã hội Ngày 20 tháng 6 năm 2014, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Công chứng Theo đó, đã giao trở lại cho tổ chức hành nghề công chứng thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký
và thẩm quyền công chứng bản dịch so với quy định của Luật Công chứng năm 2006
Có thể nói, việc giao trở lại cho tổ chức hành nghề công chứng các thẩm quyền này
là phù hợp, một mặt vừa tạo thêm một “kênh” để người dân lựa chọn, một mặt vừa tạo điều kiện cho các tổ chức hành nghề công chứng duy trì và nâng cao chất lượng hoạt động Chính vì vậy, các nội dung quy định của Luật Công chứng năm 2014 đã thực sự đi vào cuộc sống, hoạt động công chứng đã phát triển mạnh mẽ cả về số lượng
và chất lượng, mang lại những lợi ích thiết thực cho người dân, đồng thời tạo một bước phát triển mới cho hoạt động công chứng nói chung và hoạt động công chứng
tư nói riêng ở nước ta Thông qua việc đảm bảo tính an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch dân sự và kinh tế, hoạt động công chứng đã góp phần tạo lập môi trường pháp lý tin cậy cho các hoạt động đầu tư kinh doanh, thương mại, đồng thời cũng góp phần quan trọng vào tiến trình cải cách hành chính và cải cách tư pháp
Trước yêu cầu thực tiễn của hoạt động công chứng và để tiếp tục thể chế hoá Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tạo cơ sở pháp lý cho việc đẩy mạnh hoạt động công chứng, đảm bảo thực hiện tốt các nghĩa vụ thành viên của Liên minh Công chứng Quốc tế Do đó, tác giả chọn đề tài "Pháp luật hoạt động công chứng tư, thực trạng
và giải pháp hoàn thiện" làm luận văn thạc sĩ của mình nhằm kiến nghị những giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về công chứng tư một cách hiệu quả hơn trong thời gian tới
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này, chủ yếu tác giả tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành về công chứng tư, nhằm tìm ra những bất cập trong từng quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện; nghiên cứu, so sánh các quy định của pháp
Trang 14luật một số quốc gia phát triển trên thế giới, từ đó xem xét kiến nghị hoàn chỉnh pháp luật về hoạt động của Văn phòng công chứng (hay nói cách khác là hoạt động của công chứng tư) cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam
Các quy định của pháp luật liên quan đến công chứng qua các thời kỳ để qua
đó rút ra được những bất cập, thiếu sót nhằm có giải pháp kiến nghị hoàn thiện, đảm bảo cho hoạt động công chứng nói chung và hoạt động công chứng tư nói riêng ngày càng hiệu quả hơn
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động công chứng ra đời từ rất sớm, tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu thực tiễn cũng như tháo bỏ dần cơ chế quản lý hành chính và gánh nặng cho cơ quan công quyền, hoạt động công chứng tư ra đời tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể trong nền kinh tế, hỗ trợ và bảo vệ các quan hệ xã hội đặc thù và góp phần đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế
Hiện nay, pháp luật Việt Nam khi điều chỉnh thì hoạt động công chứng gồm công chứng công (được thực hiện bởi Phòng công chứng) và hoạt động công chứng
tư (được thực hiện bởi Văn phòng công chứng) nhưng giới hạn phạm vi luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về Văn phòng công chứng với tư cách là một hoạt động thương mại1 (hoạt động cung ứng dịch vụ công chứng) được quy định trong danh mục ngành nghề đầu tư của Luật Đầu tư Việt Nam2, làm
cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp sau này đối với hoạt động của Văn phòng công chứng
3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Luận văn tổng hợp những kiến thức lý luận về công chứng, pháp luật về Văn phòng công chứng và thực tiễn thực hiện pháp luật về hoạt động này trong thời gian
1 Khoản 9, Điều 3 Luật Thương mại năm 2005
2 Khoản 2, Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014 và Khoản 2, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung điều 6 và phụ lục 4 về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư
Trang 15qua Tác giả xác định mục tiêu lớn của việc nghiên cứu đề tài là nghiên cứu nhằm đóng góp vào việc hoàn thiện lý luận và cơ sở thực tiễn về Văn phòng công chứng từ
đó làm cơ sở để kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Văn phòng công chứng
4 Tình hình nghiên cứu đề tài
Lĩnh vực công chứng, là một chế định pháp luật đã xuất hiện trong hệ thống pháp luật nước ta từ lâu nên đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này Đến thời điểm hiện nay, có thể điển hình qua một số công trình, đề tài sau:
- “Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác định phạm vi, nội dung, hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay” Luận văn tiến sĩ của tác giả Đặng Văn Khanh (2000) Luận văn này, tác giả phân tích vai trò của công chứng trong điều kiện kinh tế xã hội ở nước ta trong những năm đó; những bất cập trong nhận thức cũng như trong các văn bản hiện hành về công chứng Qua đó, để giải quyết một cách tổng thể, toàn diện, có hệ thống những vấn đề lý luận
về phạm vi, nội dung, hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng
Từ đó, tác giả đưa ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật công chứng góp phần nâng cao hiệu quả trong việc xác định phạm vi, nội dung, hành vi công chứng
và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta
- “Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay” Luận án tiến sĩ, của tác giả Dương Khánh (2002) Trong luận văn tác giả đã nêu quá trình hình thành và phát triển của tổ chức công chứng nhà nước ở Việt Nam qua một thời gian hoạt động đã bộc lộ nhiều vấn đề cần phải giải quyết cả về lý luận và thực tiễn Luận văn xác định việc nghiên cứu để làm rõ về khái niệm, phạm vi hoạt động công chứng
là những nội dung hết sức quan trọng là cơ sở cho việc thiết lập một hệ thống công chứng cho phù hợp với tình hình thực tiễn của nước ta trong giai đoạn đó
- “Nghiên cứu pháp luật về công chứng một số nước trên thế giới nhằm góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam hiện nay” Luận văn tiến sĩ của tác giả Tuấn Đạo Thanh (2008) Trong luận văn,
Trang 16tác giả so sánh quy định pháp luật về công chứng của một số quốc gia trên thế giới với pháp luật công chứng Việt Nam để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về công chứng Từ đó, đưa ra một số luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về công chứng trong giai đoạn nghiên cứu đó
- “Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay, thực trạng và giải pháp” Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Mai Trang (2011) Luận văn này, tác giả đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về công chứng, xã hội hóa công chứng Đánh giá thực trạng tổ chức, hoạt động của các Phòng công chứng và các Văn phòng công chứng và phân tích các yêu cầu khách quan và thực tiễn xã hội hóa công chứng ở Việt Nam thời điểm đó để đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện xã hội hóa công chứng, nâng cao hiệu quả thi hành Luật Công chứng
- “Thực hiện pháp luật công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội” Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thanh Hà (2014) Trong luận văn tác giả đã nhận định, đánh giá Luật Công chứng năm 2006 là một bước tiến quan trọng trong việc cụ thể hóa nội dung về hoàn thiện thể chế công chứng ở nước ta và cũng đã chỉ ra những bất cập, hạn chế Qua đó, tác giả đã kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
về công chứng
- “Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh” Luận văn thạc sĩ của tác giả Mai Hải Yến (2017) Trong luận văn này, tác giả đã thực hiện đề tài vào thời điểm Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, các quan hệ thương mại ngày càng nhiều dẫn đến sự gia tăng các giao dịch dân sự Do
đó, Nhà nước cần có những chính sách và biện pháp quản lý hữu hiệu để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân Và với tư cách là một trung tâm thương mại, dịch vụ lớn nhất cả nước, cùng với vị trí thuận lợi cho giao thông, vận tải, giao lưu hàng hóa của thành phố Hồ Chí Minh Đi cùng với sự phát triển của nền kinh tế, cũng như sự gia tăng về dân số, nhu cầu hoạt động công chứng ngày càng gia tăng, vì vậy cần phải nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công chứng Do đó, đề
Trang 17tài đã đưa ra những lý luận, thực tiễn, xây dựng các luận cứ khoa học, trên cơ sở đó
đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công chứng cho phù hợp với tình hình thực tiễn
Các đề tài, công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu những vấn đề mang tính tổng thể hoặc những khía cạnh, phạm vi cụ thể khác nhau của hoạt động công chứng hoặc các vấn đề liên quan đến hoạt động công chứng Tuy nhiên, một số bất cập, hạn chế theo quy định của Luật Công chứng năm 2014, như: quy định thay đổi thành viên hợp danh của Văn phòng công chứng; quy định công chứng ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng trong trường hợp có lý do chính đáng và quy định mức phí mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với các công chứng viên thì chưa có công trình, đề tài nghiên cứu nào đề cập đến
Thông qua việc xác định đối tượng và mục tiêu nghiên cứu, tác giả xác định một số câu hỏi nghiên cứu sau nhằm định hướng và giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu được đặc ra
Câu hỏi nghiên cứu 1: Hoạt động công chứng và hoạt động chứng thực thì có những điểm giống nhau và khác nhau như thế nào? Phân biệt giữa Phòng công chứng
Câu hỏi nghiên cứu 5: Nội dung cơ bản của hoạt động công chứng và trình
tự, thủ tục thực hiện công chứng ra sao?
Trang 18Câu hỏi nghiên cứu 6: Pháp luật hiện hành điều chỉnh về hoạt động công chứng tư có gì bất cập? Thực tiễn áp dụng như thế nào? Có cần thiết phải sửa đổi, bổ sung hay loại bỏ những quy định đó không? Vì sao?
Câu hỏi nghiên cứu 7: Một số kiến nghị hoàn chỉnh pháp luật về hoạt động của Văn phòng công chứng, gồm những nội dung nào? Kiến nghị hoàn chỉnh pháp luật cụ thể ra sao?
5 Giá trị ứng dụng của đề tài
5.1 Giá trị về mặt khoa học
Luận văn là kết quả của một quá trình đầu tư nghiên cứu, qua đó tác giả nêu
ra một số cơ sở lý luận cho việc xây dựng và phát triển những quy định pháp luật về công chứng nói chung và công chứng tư nói riêng
Luận văn sau khi được bảo vệ và hoàn chỉnh theo kết luận Hội đồng khoa học sẽ là nguồn tại liệu tham khảo cho sinh viên các trường đại học có đào tạo chuyên ngành luật, là tài liệu tham khảo cho các học giả, và tác giả có thể tiếp tục nghiên cứu
ở bậc học cao hơn
5.2 Giá trị thực tiễn
Trong luận văn này, tác giả nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành về công chứng, qua đó tìm ra những bất cập, hạn chế trong từng quy định của pháp luật Đặc biệt, tác giả tập trung tìm hiểu hoạt động của Văn phòng công chứng
và những trở ngại khiến cho việc thực thi Luật Công chứng năm 2014 về nội dung quy định về Văn phòng công chứng chưa được hiệu quả như tinh thần cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm
2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 về chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị
Mặt khác, luận văn cũng đưa ra các giải pháp kiến nghị hoàn chỉnh pháp luật
về hoạt động của Văn phòng công chứng dựa trên cơ sở thực thi pháp luật, có tính
Trang 19khả thi cao nhằm khắc phục những bất cập, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng tư, đảm bảo pháp lý an toàn cho cá nhân, tổ chức khi tham gia các hợp đồng, giao dịch dân sự, kinh tế đã được công chứng viên công chứng để công chứng
tư thực sự đi vào cuộc sống
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài, tác giả sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích được sử dụng để phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về công chứng trong quá trình áp dụng thực hiện trong thực tiễn Từ
đó, tác giả phân tích những tồn tại, bất cập trong quy định của pháp luật hiện hành để làm cơ sở cho kiến nghị hoàn chỉnh pháp luật
- Phương pháp so sánh được thực hiện nhằm tìm hiểu quy định của pháp luật hiện hành và pháp luật của một số nước trên thế giới quy định về công chứng Trên
cơ sở đó, tác giả vận dụng vào tình hình thực tiễn tại Việt Nam để làm cơ sở cho kiến nghị hoàn chỉnh pháp luật
- Phương pháp thống kê, hệ thống hóa các tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố để làm rõ các nội dung, kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài nhằm xác định những vấn đề, nội dung cần tiếp tục nghiên cứu
- Phương pháp thực tiễn nhằm dựa trên những đường lối, chủ trương và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về chính sách phát triển nghề công chứng và xã hội hóa lĩnh vực công chứng đáp ứng nhu cầu sự phát triển của nền kinh tế và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế; Những quan điểm về Nhà nước mang tính chất chỉ đạo hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật về công chứng
7 Bố cục của đề tài
Ngoài Phần Mở đầu, Kết Luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 02 chương:
Trang 20Chương 1: Tổng quan về hoạt động công chứng
Chương 2: Quy định pháp luật về hoạt động của Văn phòng công chứng và một số kiến nghị hoàn thiện
Trang 21Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG 1.1 Khái quát về công chứng
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công chứng
1.1.1.1 Thời kỳ Pháp thuộc đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Hoạt động công chứng xuất hiện khá sớm ở Việt Nam, kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta Hoạt động công chứng ở nước ta thời kỳ này đều áp dụng theo mô hình của Pháp và chủ yếu phục vụ cho chính sách cai trị của Pháp tại Đông Dương nói chung và ở Việt Nam nói riêng Theo Sắc lệnh ngày 24 tháng 8 năm 1931 của Tổng thống Pháp về tổ chức công chứng tại Pháp được áp dụng tại Đông Dương theo quyết định ngày 07 tháng 10 năm 1931 của Toàn quyền Đông Dương P.Pasquies, thì người thực hiện công chứng là công chứng viên mang quốc tịch Pháp do Tổng thống Pháp bổ nhiệm và giữ chức vụ suốt đời Thời Pháp thuộc, ở Việt Nam chỉ có một Văn phòng công chứng ở Hà Nội, ba Văn phòng công chứng ở Sài Gòn, ngoài
ra các thành phố Hải Phòng, Nam Định, Đà Nẵng thì việc công chứng do Chánh lục
sự Tòa án sơ thẩm kiêm nhiệm
1.1.1.2 Thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1991
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Trong hoàn cảnh đầy khó khăn, phức tạp lúc bấy giờ, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn không quên việc giải quyết vấn đề về thể chế công chứng Ngày 01 tháng 10 năm 1945, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Trọng Khánh
đã ký quyết định về một số việc liên quan đến hoạt động công chứng như: bãi chức công chứng viên người Pháp tên là Deroche tại Văn phòng công chứng; bổ nhiệm một công chứng viên người Việt Nam là ông Vũ Quý Vỹ thay thế cho công chứng viên người Pháp tại Hà Nội Trong quyết định này đã chỉ rõ: những quy định cũ về công chứng của Pháp vẫn được áp dụng, trừ những quy định trái với chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; công chứng viên chịu trách nhiệm và chịu sự kiểm tra giám sát của Uỷ ban hành chính các cấp
Trang 22Như vậy, có thể thấy rằng, tổ chức công chứng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là sự kế thừa tổ chức công chứng của Pháp để lại, tuy nhiên cũng chỉ còn một phòng công chứng tại Hà Nội3 Các nguyên tắc quy chế hoạt động công chứng vẫn như cũ, trừ những quy định trái với nền độc lập và chính thể Dân chủ Cộng hòa của nước ta lúc bấy giờ Điểm mới của thể chế công chứng này được thể hiện ở chỗ: Đó là thể chế công chứng của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công chứng viên là người Việt Nam và đây cũng là lần đầu tiên trong một văn bản pháp lý Nhà nước ta đã sử dụng thuật ngữ “công chứng”
Để đáp ứng các nhu cầu giao kết dân sự của Nhân dân, ngày 15 tháng 11 năm
1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 59/SL ấn định thể lệ về thị thực các giấy
tờ trong đó có cả các khế ước chuyển dịch quyền sở hữu bất động sản Theo Sắc lệnh này, quyền thị thực các giấy tờ trước đây (tức thời Pháp thuộc) giao cho lý trưởng các làng và trưởng phố ở thành thị, thì nay giao về Uỷ ban nhân dân các làng hoặc Uỷ ban nhân dân hàng phố Riêng ở thành thị, việc thị thực của Uỷ ban hàng phố phải có thêm Uỷ ban nhân dân thị xã xác nhận Tuy nhiên, Uỷ ban làm nhiệm vụ phải là Uỷ ban nơi trú quán của một hoặc các bên đương sự lập ước, nếu là bất động sản phải là
Uỷ ban nơi có bất động sản…4 Xét về nội dung, đây chỉ là một thủ tục hành chính, càng về sau việc áp dụng Sắc lệnh 59/SL càng mang tính hình thức, chủ yếu xác nhận ngày tháng năm, chữ ký và địa chỉ thường trú của đương sự Đến ngày 29 tháng 2 năm 1952, Chủ Tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 85/SL quy định về thể lệ trước bạ
về các việc mua bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất Do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ nên Sắc lệnh 85/SL chỉ áp dụng với những vùng tự do hoặc những vùng thuộc Uỷ ban kháng chiến Cũng theo Sắc lệnh này, Uỷ ban kháng chiến cấp xã hoặc thị xã được nhận thực vào các văn tự theo hai nội dung: nhận thực chữ ký của các bên mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất; nhận thực người đứng ra bán, cho, đổi là chủ của
Trang 23những nhà cửa, ruộng đất, đem bán, cho hay đổi Theo hai Sắc lệnh này, có thể thấy
Uỷ ban hành chính các cấp sẽ thực hiện một số việc chứng nhận giấy tờ Hoạt động công chứng thời kỳ này chưa được phát triển vì một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất là do điều kiện kinh tế – xã hội, hoàn cảnh chiến tranh của nước ta thời kỳ này Đất nước bị chia cắt, các hoạt động kinh tế – xã hội đều nhằm mục đích phục vụ cho cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược, thống nhất đất nước
Thứ hai là do nước ta không chấp nhận sở hữu của các thành phần kinh tế khác ngoài kinh tế quốc doanh và tập thế Vì vậy, tổ chức công chứng không được thành lập trong giai đoạn này Hoạt động công chứng chỉ mang tính chất chứng thực các quan hệ sở hữu tư nhân Mọi giao lưu kinh tế, dân sự đều dựa trên quan hệ hành chính, quan hệ thương mại hầu như không phát triển Do vậy, không nhất thiết phải thiết lập các tổ chức hành nghề công chứng để thực hiện hoạt động công chứng
Đến ngày 10 tháng 10 năm 1987, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 574/QLTPK về công tác công chứng Nhà nước Theo đó, chủ thể thực hiện công chứng duy nhất là phòng công chứng Căn cứ vào những văn bản này, các tỉnh, thành phố trong cả nước đã tiến hành thành lập các Phòng công chứng, điều này góp phần tạo nên mạng lưới các Phòng công chứng Nhà nước trên phạm vi toàn quốc
1.1.1.3 Thời kỳ từ năm 1991 đến nay
Sang đầu thập kỷ chín mươi, sự nghiệp đổi mới toàn diện ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thu được nhiều thành tựu rực rỡ Cụ thể, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 là một bước ngoặt lịch sử trong tiến trình phát triển đất nước ta – Đại hội của sự đổi mới, mở cửa, chúng ta tiến hành đổi mới quản lý kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tiếp theo sự thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII năm 1991 với cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời lỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội và chiến lược kinh tế – xã hội đã vạch ra những định hướng lớn về kinh tế, tiếp tục phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Theo quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết, ngày 27 tháng 02
Trang 24năm 1991 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 45/HĐBT về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo giá trị pháp lý của các văn bản pháp luật về công chứng Theo Nghị định này thì
“ Phòng Công chứng Nhà nước là cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng ở Ngân hàng, có con dấu mang hình quốc huy”, theo
đó, mỗi tỉnh sẽ có một Phòng công chứng riêng Ở những nơi chưa thành lập được Phòng công chứng thì Ủy ban nhân dân được thực hiện một số việc công chứng
Sau hơn 05 năm thực hiện (từ tháng 2/1991-5/1996) Nghị định 45/HĐBT, chúng ta đã thu được khá nhiều thành công trong việc tổ chức và hoạt động công chứng Thể chế công chứng ở nước ta đã được hình thành và phát triển khá nhanh trên thực tế do gặp được môi trường thuận lợi, đó là cơ chế thị trường Tuy nhiên, với
sự phát triển nhanh chóng của cơ chế kinh tế thị trường ở nước ta, nhu cầu về giao kết dân sự, hợp đồng kinh tế,… của các tổ chức, cá nhân ngày càng tăng và có nhiều thay đổi liên quan đến hoạt động công chứng và Nghị định 45/HĐBT không còn đáp ứng được Chính vì thế, ngày 18 tháng 5 năm 1996, Chính phủ ban hành Nghị định
số 31/CP về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước thay thế cho Nghị định số 45/HĐBT, theo đó, Phòng công chứng thuộc Sở Tư pháp nhằm chuyên môn hóa hoạt động công chứng và giảm tình trạng quá tải cho Ủy ban nhân dân Ngày 03 tháng 10 năm 1996, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 411-TT/CC hướng dẫn thực hiện Nghị định 31/CP, nhưng các văn bản này vừa quy định về công chứng, vừa quy định về chứng thực và sự phân biệt giữa công chứng và chứng thực là không rõ ràng
Do nhu cầu giao kết ngày càng phong phú, đa dạng về số lượng cũng như nội dung các lĩnh vực giao kết, nên Nghị định 31/CP đã bộc lộ nhiều điểm bất cập Do
đó, ngày 08 tháng 12 năm 2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
75/2000/NĐ-CP về công chứng, chứng thực Nghị định này quy định về phạm vi công chứng, chứng thực; tổ chức Phòng công chứng; nguyên tắc hoạt động; trình tự thủ tục thực hiện việc công chứng, chứng thực; công tác chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã Cũng trong Nghị định này, thuật ngữ Phòng công chứng đã được sử dụng để thay thế cho thuật ngữ Phòng công chứng Nhà nước, góp phần vào yêu cầu
Trang 25quan trọng trong việc xã hội hóa hoạt động công chứng ở nước ta sau này
Trước nhu cầu công chứng ngày càng lớn, để đáp ứng nhu cầu của những người yêu cầu công chứng và thực hiện hiệu quả hơn nữa chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng Ngày 29 tháng 11 năm 2006, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XI, Luật Công chứng đã được thông qua và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2007 Theo Luật Công chứng 2006, công chứng được thừa nhận là một nghề, ghi nhận tổ chức hành nghề công chứng tư và công chứng viên chứng nhận các hợp đồng, giao dịch và không thực hiện các việc chứng thực như: sao y, chứng nhận chữ ký,… Để góp phần vào việc thực hiện hoạt động công chứng tốt hơn, các văn bản hướng dẫn thi hành luật công chứng cũng lần lượt ra đời như Nghị định số 79/2007/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 18 tháng 5 năm 2007 về cấp bản sao
từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký giao về Phòng Tư pháp cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện; tiếp theo là Chính phủ ban hành Nghị định số 02/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng và Luật Công chứng năm 2006
là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế về công chứng ở nước ta theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Đến năm 2013, sau 6 năm thi hành Luật Công chứng, những kết quả bước đầu đạt được đã khẳng định Luật thực sự phát huy vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội của đất nước Chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng là hết sức đúng đắn Đội ngũ công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng ở nước ta đã phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng Những kết quả đạt được đã khẳng định Luật đã thực sự đi vào cuộc sống, hoạt động công chứng đã phát triển mạnh mẽ, mang lại những lợi ích thiết thực cho người dân, đồng thời tạo một bước phát triển mới cho hoạt động công chứng ở nước ta Thông qua việc đảm bảo tính an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch dân sự và kinh tế, hoạt động công chứng đã góp phần tạo lập môi trường pháp lý tin cậy cho các hoạt động đầu tư kinh doanh, thương mại, đồng thời cũng góp phần quan trọng vào tiến trình cải cách hành chính và cải cách tư pháp
Trang 26Tuy nhiên, thực tiễn triển khai thực hiện Luật Công chứng năm 2006 cho thấy hoạt động công chứng đã bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế, trong đó phải kể đến những điểm cơ bản sau đây:
Một là, công chứng là dịch vụ công, công chứng viên do Nhà nước bổ nhiệm
để thực hiện dịch vụ này cần được phát triển theo quy hoạch Tuy nhiên, thời gian đầu thực hiện Luật Công chứng năm 2006, chưa có quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng, các Văn phòng công chứng phát triển quá nhanh, có địa bàn quá nóng, trong khi đó nhiều địa bàn, nhất là ở các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa lại không có tổ chức hành nghề công chứng để cung cấp dịch vụ này cho người dân
Hai là, chất lượng đội ngũ công chứng viên, chất lượng hoạt động công chứng còn nhiều hạn chế; một bộ phận công chứng viên còn yếu về chuyên môn, nghiệp vụ,
kỹ năng hành nghề dẫn đến những sai sót trong hoạt động, ảnh hưởng đến chất lượng của văn bản công chứng; một số công chứng viên vi phạm đạo đức nghề nghiệp, cạnh tranh không lành mạnh, thậm chí còn có hiện tượng công chứng viên cố ý làm trái, vi phạm pháp luật, phải bị xử lý hình sự gây ảnh hưởng đến uy tín nghề công chứng
Ba là, nhiều tổ chức hành nghề công chứng được thành lập theo loại hình doanh nghiệp tư nhân (Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập), thiếu tính ổn định, bền vững, khi công chứng viên chết phải đóng cửa hoặc khi công chứng viên ốm đau nghỉ việc thì không có công chứng viên để tiếp nhận và giải quyết yêu cầu công chứng của người dân
Bốn là, công tác quản lý nhà nước về công chứng cũng còn bất cập, có nơi chưa theo kịp với sự phát triển của việc xã hội hóa hoạt động công chứng, vai trò tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên chưa được phát huy
Một trong những nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, bất cập nêu trên
là nhiều quy định của Luật Công chứng năm 2006 đã không còn phù hợp hoặc còn thiếu so với thực tiễn cần điều chỉnh Chẳng hạn, Luật chưa xác định rõ địa vị pháp
lý của công chứng viên, quy định về quyền và trách nhiệm công chứng viên chưa đầy
Trang 27đủ; tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm công chứng viên có điểm còn dễ dãi, thiếu quy định về chế độ bồi dưỡng bắt buộc đối với công chứng viên đang hành nghề… nên khó bảo đảm chất lượng văn bản công chứng; quy định về điều kiện thành lập Văn phòng công chứng chưa gắn với tính chất đặc thù của nghề công chứng; thực tiễn hoạt động công chứng phát sinh nhiều vấn đề như Văn phòng công chứng tạm ngừng hoạt động, chuyển nhượng Văn phòng công chứng, công chứng viên làm việc theo chế độ hợp đồng… nhưng chưa có quy định điều chỉnh dẫn đến lúng túng trong thực hiện Các quy định của Luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng còn chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ, chưa có quy định về việc công chứng viên tham gia tổ chức xã hội – nghề nghiệp và các quy định về tổ chức, hoạt động của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên để phát huy vai trò tự quản của công chứng viên phù hợp với đặc thù của nghề công chứng và thông lệ quốc tế
Trước yêu cầu thực tiễn của hoạt động công chứng và để tiếp tục thể chế hoá Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tạo cơ sở pháp lý cho việc đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động công chứng, đảm bảo thực hiện tốt các nghĩa vụ thành viên của Liên minh công chứng Quốc tế, Luật Công chứng mới đã được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ bảy thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2014 và
có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015
Sự ra đời của Luật Công chứng năm 2014 có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đã góp phần tháo gỡ những khó khăn, bất cập của Luật Công chứng năm 2006, góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động công chứng, công chứng viên và các tổ chức hành nghề công chứng, tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng, đáp ứng chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa hoạt động công chứng đồng thời phù hợp với công cuộc cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế đã được đề ra tại Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị
Để triển khai thực hiện Luật Công chứng thì Chính phủ, Bộ Tư pháp đã ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết bao gồm: Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15
Trang 28tháng 3 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng (có hiệu lực ngày 01/5/2015) quy định về chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng; hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng Văn phòng công chứng; chính sách ưu đãi đối với Văn phòng công chứng thành lập tại các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; điều kiện về trụ sở của Văn phòng công chứng; niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản; bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên và tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên; Thông tư
số 06/2015/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng (có hiệu lực ngày 01/8/2015) quy định về thủ tục đề nghị bổ nhiệm công chứng viên, đăng ký hành nghề, cấp Thẻ công chứng viên; đào tạo nghề công chứng, khoá bồi dưỡng nghề công chứng, bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm; tổ chức và hoạt động công chứng; một số mẫu giấy tờ trong hoạt động công chứng
Như vậy, có thể nói rằng quá trình hình thành và phát triển của hoạt động công chứng của nước ta là một quá trình thăng trầm, thay đổi khá phức tạp, khó khăn
và nó thực sự hình thành với tư cách là một hệ thống thể chế chỉ mới bắt đầu khi Nhà nước ban hành Nghị định 45/HĐBT ngày 27 tháng 01 năm 1991 Cho đến khi Luật Công chứng 2014 ra đời, thể chế này đã tương đối hoàn thiện và phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội đất nước Để có được sự phát triển như hiện nay, ngay từ đầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, Đảng và Nhà nước đã chú trọng công tác hoàn thiện hơn nữa đội ngũ cán bộ làm công tác công chứng, chứng thực cũng như xây dựng hành lang pháp lý thông thoáng nhằm tạo điều kiện tối đa cho người dân thực hiện đủ và tốt hoạt động pháp lý thiết yếu này
1.1.2 Phân biệt giữa hoạt động công chứng và chứng thực
Công chứng, chứng thực là hai hoạt động mang tính chất pháp lý, được thực hiện thường xuyên, liên tục trong đời sống hàng ngày của người dân và hai hoạt động này nhằm chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của văn bản, hợp đồng Tuy nhiên, về
Trang 29bản chất, giá trị pháp lý và đối tượng của hoạt động công chứng và chứng thực có nhiều điểm khác biệt nhau Cụ thể:
- Về chủ thể thực hiện: Hoạt động công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng; còn chứng thực là việc cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính, hoặc chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản là chữ ký của người đã yêu cầu chứng thực
- Về bản chất: Công chứng bảo đảm nội dung của một hợp đồng, giao dịch, công chứng viên chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch đó và qua việc bảo đảm tính hợp pháp để giảm thiểu rủi ro và mang tính pháp lý cao hơn; còn chứng thực chỉ là việc chứng nhận sự việc, không đề cập đến nội dung, chủ yếu chú trọng về mặt hình thức
- Về phạm vi: Hoạt động công chứng thường có phạm vi rộng hơn (phạm vi toàn tỉnh) hoạt động chứng thực (chủ yếu trong phạm vị của một xã, phường, thị trấn)
Ví dụ như đối với hợp đồng giao dịch có liên quan đến thực hiện chủ quyền của chủ bất động sản thì công chứng được thực hiện trong phạm vi toàn tỉnh còn chứng thực chỉ được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có bất động sản đó Tuy nhiên, trong một số trường hợp chứng thực cũng có phạm vi bằng, thậm chí rộng hơn phạm
vị của công chứng Ví dụ: chứng thực sao y từ bản chính đối với một số giấy tờ như
sổ hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân,…
- Về giá trị pháp lý: Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng Đồng thời, hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia
Trang 30hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu Còn đối với hoạt động chứng thực thì bản sao được chứng thực từ bản chính có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch; chữ ký được chứng thực có giá trị chứng minh người yêu cầu chứng thực đã ký chữ ký đó, là căn
cứ để xác định trách nhiệm của người ký về nội dung của giấy tờ, văn bản Hợp đồng, giao dịch được chứng thực có giá trị chứng cứ chứng minh về thời gian, địa điểm các bên đã ký kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch
1.1.3 Phân biệt giữa Phòng công chứng và Văn phòng công chứng Phòng công chứng và Văn phòng công chứng là hai loại hình tổ chức hành nghề công chứng theo quy định của Luật Công chứng năm 2014 và giữa hai loại hình này thì trong quá trình hoạt động cũng có những điểm giống và khác nhau cơ bản sau:
1.1.3.1 Giống nhau
Về tính chất hoạt động thì đều thực hiện việc công chứng, chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng
Về chủ thể thực hiện việc công chứng, chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch thì đều do công chứng viên của Phòng công chứng hoặc công chứng viên của Văn phòng công chứng thực hiện
1.1.3.2 Khác nhau
- Về địa vị pháp lý: “Phòng công chứng là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc
Sở Tư pháp, có trụ sở, có con dấu và có tài khoản riêng"5, còn "Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động như một loại hình công ty hợp danh theo quy định
5 Khoản 2, Điều 19 Luật Công chứng năm 2014
Trang 31của Luật Doanh nghiệp"6 Như vậy, Văn phòng công chứng là tổ chức dịch vụ công thay mặt Nhà nước chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch
có con dấu và tài khoản riêng hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác
mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập như Phòng công chứng
- Về người đại diện: Phòng công chứng thì Trưởng Phòng công chứng là công chứng viên, do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm là người đại diện của Phòng công chứng; còn Văn phòng công chứng thì Trưởng Văn phòng là công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng, đã hành nghề công chứng từ hai năm trở lên là người đại diện của Văn phòng công chứng
- Về tên gọi: Đối với tên gọi của Phòng công chứng bao gồm cụm từ "Phòng công chứng” kèm theo số thứ tự thành lập và tên của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi phòng công chứng được thành lập; còn tên gọi của Văn phòng công chứng phải bao gồm cụm từ "Văn phòng công chứng” kèm theo họ tên của Trưởng Văn phòng hoặc họ tên của một công chứng viên hợp danh khác của Văn phòng công chứng do các công chứng viên hợp danh thỏa thuận, không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của các tổ chức hành nghề công chứng khác, không được vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc Như vậy, khác với Phòng công chứng, tên của Văn phòng công chứng do các công chứng viên lựa chọn không bao gồm số thứ tự và tên tỉnh thành phố trực thuộc trung ương như với tên gọi của Phòng công chứng
- Về thành lập: Văn phòng công chứng phải có hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng gửi Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định Các công chứng viên hợp danh chủ động xin thành lập mà không bị phụ thuộc vào quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; còn Phòng công chứng thì phải căn cứ vào nhu cầu công chứng tại địa phương, Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài
6 Khoản 1, Điều 22 Luật Công chứng năm 2014
Trang 32chính, Sở Nội vụ xây dựng đề án thành lập Phòng công chứng trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định Như vậy, khác với việc thành lập Phòng công chứng, nếu như Phòng công chứng được thành lập phụ thuộc vào quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thì việc thành lập Văn phòng công chứng do các công chứng viên hợp danh chủ động xin phép thành lập và đủ điều kiện thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cho phép thành lập
- Về tổ chức, hoạt động: Phòng công chứng là đơn vị sự nghiệp công lập, Phòng công chứng gồm các công chức, viên chức hưởng chế độ lương theo đơn vị sự nghiệp công lập và Trưởng Phòng công chứng do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức; còn với Văn phòng công chứng phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên và không có thành viên góp vốn Nếu như Trưởng Phòng công chứng được hình thành theo con đường bổ nhiệm thì Trưởng Văn phòng công chứng do các thành viên hợp danh tự bầu, tự thỏa thuận theo quy định của pháp luật liên quan về loại hình công ty hợp danh
- Về giải thể, sáp nhập: Phòng công chứng chỉ được thực hiện việc chuyển đổi, giải thể Phòng công chứng mà không được thực hiện các việc sáp nhập, hợp nhất Trong khi đó Văn phòng công chứng lại được thực hiện việc sáp nhập, hợp nhất hai hoặc một số Văn phòng công chứng và chuyển nhượng Văn phòng công chứng
1.2 Khái quát về hoạt động công chứng
1.2.1 Đặc điểm của hoạt động công chứng
Công chứng đã có lịch sử hình thành, phát triển và gắn bó chặt chẽ với đời sống dân sự Khởi đầu, công chứng là một nghề tự do trong xã hội, phục vụ cho nhu cầu tự nhiên, tự bảo vệ của dân chúng khi thiết lập các văn tự, khế ước Trải qua sự thăng trầm của lịch sử, công chứng đã khẳng định sự tồn tại vững chắc và đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, được Nhà nước thừa nhận và trở thành hoạt động hỗ trợ đắc lực cho công dân và Nhà nước Cho đến nay, công chứng tồn tại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới và hình thành nên ba hệ thống công chứng sau:
Trang 33- Hệ thống công chứng Latinh7: Hệ thống này tồn tại ở hầu hết các nước thuộc cộng đồng châu Âu (trừ Đan Mạch và Anh); châu Phi (các nước thuộc địa cũ của Pháp); các nước châu Mỹ – Latinh và một số nước châu Á (Nhật Bản,…) Hiện nay,
hệ thống công chứng Latinh đã hình thành tổ chức quốc tế của mình đó là Liên đoàn Công chứng quốc tế Latinh (tên viết tắt là UINL) và Việt Nam cũng đã chính thức trở thành thành viên thứ 84 của tổ chức này kể từ ngày 09 tháng 10 năm 2013 Do đặc điểm của các nước theo hệ thống Luật Civil law là trọng vật chứng hơn nhân chứng Hệ thống luật Latinh có nhưng đặc điểm sau:
Phạm vi công chứng được pháp luật quy định cụ thể, chặt chẽ việc nào phải công chứng (bắt buộc), việc nào không phải công chứng nhưng đương sự yêu cầu công chứng
Giá trị pháp lý của văn bản công chứng rất cao, văn bản có hiệu lực thi hành đối với các bên đương sự như một phán quyết của Tòa án Ở một số nước gọi công chứng viên là thẩm phán về hợp đồng
Công chứng viên do Nhà nước bổ nhiệm, có thể là công chức hoặc không, nhưng để hành nghề công chứng họ phải được Nhà nước bổ nhiệm và hoạt động chuyên trách chứ không kiêm nhiệm về công chứng
- Hệ thống công chứng của các nước theo luật án lệ (hay hệ thống công chứng Anglo-Saxon)8: Hệ thống này gắn liền với hệ thống pháp luật Anglo-Saxon (Common Law), tồn tại ở các quốc gia: Vương quốc Anh, Mỹ (trừ bang Luisane), Canada (trừ bang Quebec); Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Đài Loan… Luật án lệ tương đối linh
7 Hoàng Thị Chung, “Tìm hiểu mô hình công chứng trên thế giới và kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam”, Tạp chí Tổ chức nhà nước
http://tcnn.vn/news/detail/5278/Tim_hieu_mo_hinh_cong_chung_tren_the_gioi_va_kinh_nghiem_ tham_khao_cho_Viet_Namall.html, ngày đăng 28/02/2014, ngày truy cập 15/10/2018
8 Hoàng Thị Chung, “Tìm hiểu mô hình công chứng trên thế giới và kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam”, Tạp chí Tổ chức nhà nước
http://tcnn.vn/news/detail/5278/Tim_hieu_mo_hinh_cong_chung_tren_the_gioi_va_kinh_nghiem_ tham_khao_cho_Viet_Namall.html, ngày đăng 28/02/2014, ngày truy cập 15/10/2018
Trang 34hoạt, nhân chứng được tôn trọng hơn vật chứng Hoạt động công chứng này mang đặc điểm sau:
Phạm vị công chứng không được quy định rõ ràng; nội dung, hành vi, hình thức văn bản không được pháp luật quy định chặt chẽ và văn bản công chứng không
có hiệu lực bắt buộc thực hiện với các bên như một phán quyết của Tòa án
Công chứng là một nghề tự do và luật sư có thể kiêm cả công chứng Với những đặc tính này, cho thấy tính chất chuyên môn, nghề nghiệp về công chứng ở các quốc gia này không cao
- Hệ thống công chứng Collectiviste (công chứng tập thể)9: Hệ thống này tồn tại ở các nước Xã hội Chủ nghĩa và phát triển mạnh vào các năm 70 của thế kỷ XX đến trước năm 1990, bao gồm: Liên Xô, Ba Lan, Đông Đức, Bungari, Hungari, Rumani,
Cu Ba, Trung Quốc, Việt Nam Trước đây, công chứng tập thể là công chứng Nhà nước, công chứng viên là công chức Nhà nước, Phòng công chứng là cơ quan Nhà nước, Nhà nước lập ra theo đơn vị hành chính Những nơi chưa có Phòng công chứng thì chính quyền thực hiện việc công chứng Có nơi Phòng công chứng và chính quyền cùng thực hiện hành vi công chứng: Hành vi công chứng được xác định một cách rõ ràng bằng cách liệt kê những công việc công chứng viên được làm, hình thức của văn bản công chứng không được quy định cụ thể Đặc biệt, rất ít quan tâm đến công tác lưu trữ văn bản, giá trị pháp lý của văn bản không được coi trọng, vai trò trách nhiệm của công chứng viên nhất là trách nhiệm vật chất không được đề cập Họ chỉ chịu trách nhiệm hành chính trước cơ quan Nhà nước cấp trên mà không chịu trách nhiệm dân sự trước đương sự
Sau khi Liên Xô và các nước Xã hội Chủ nghĩa tan rã, thì hầu hết các nước này đã chuyển dần sang mô hình công chứng Latinh Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng
9 Hoàng Thị Chung, “Tìm hiểu mô hình công chứng trên thế giới và kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam”, Tạp chí Tổ chức nhà nước
http://tcnn.vn/news/detail/5278/Tim_hieu_mo_hinh_cong_chung_tren_the_gioi_va_kinh_nghiem_ tham_khao_cho_Viet_Namall.html, ngày đăng 28/02/2014, ngày truy cập 15/10/2018
Trang 35của hệ thống công chứng tập thể này Đến khi có Luật Công chứng năm 2006 và Luật Công chứng năm 2014, nước ta đã có một bước chuyển mới, song vẫn chịu ảnh hưởng nặng của hệ thông công chứng Collectiviste (công chứng tập thể)
Mặc dù hình thành ba hệ thống công chứng như trên, song chung quy lại, chỉ
có hai mô hình công chứng: mô hình công chứng tự do (ở hệ thống công chứng Latinh
và hệ thống công chứng Anglo-Saxon) và mô hình công chứng Nhà nước (chỉ tồn tại
ở hệ thống công chứng Collectiviste)
Ở mô hình công chứng tự do, các công chứng viên được Nhà nước bổ nhiệm, hành nghề tự do theo quy định của pháp luật đối với các hình thức Văn phòng công chứng tư nhân hoặc Văn phòng công chứng tập thể, tự chủ trong tổ chức, hoạt động,
tự hạch toán và đóng thuế cho Nhà nước Công chứng viên chịu trách nhiệm cá nhân
về hành vi công chứng của mình, phải bồi thường thiệt hại bằng tài khoản tiền ký quỹ của mình nếu hành vi công chứng gây thiệt hại cho khách hàng hoặc người thứ ba
Ở mô hình công chứng Nhà nước, cơ quan công chứng là thiết chế Nhà nước, công chứng viên là công chức Nhà nước, do Nhà nước bổ nhiệm, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, công chứng viên không phải chịu trách nhiệm vật chất trước đương sự về các hậu quả do hành vi công chứng trái pháp luật của mình gây ra, chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính trước cơ quan Nhà nước Lệ phí công chứng được nộp vào ngân sách nhà nước và có trích lại một phần để trang trải thêm cho hoạt động của Phòng công chứng Có thể nói, với sự bao cấp toàn bộ của Nhà nước, mô hình công chứng Nhà nước chỉ phù hợp với cơ chế kế hoạch hoá tập trung và nền kinh tế hiện vật, trong đó, các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại rất khó phát triển ở đó, vai trò công chứng chủ yếu là nhằm bảo vệ pháp chế Xã hội Chủ nghĩa, bảo vệ tài sản Xã hội Chủ nghĩa và tài sản cá nhân
Có thể thấy rõ ưu thế vượt trội của mô hình công chứng tự do so với mô hình công chứng Nhà nước Đó là sự đề cao, phát huy trách nhiệm cá nhân của công chứng viên, tạo ra cơ chế cạnh tranh lành mạnh, tạo động lực để các công chứng viên phát huy tính tích cực, chủ động nhiệt tình trong hoạt động của mình, giảm nhẹ sự bao cấp
Trang 36của Nhà nước, làm cho bộ máy Nhà nước tinh giản, gọn nhẹ, tách bạch chức năng quản lý nhà nước với chức năng cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng
Mô hình tổ chức này không chỉ tiết kiệm cho ngân sách nhà nước mà còn tăng thu ngân sách thông qua việc đóng thuế của các công chứng viên và các tổ chức hành nghề công chứng Về mặt tổ chức và hoạt động, mô hình công chứng tự do tạo ra sự linh hoạt về mặt tổ chức, bảo đảm đáp ứng kịp thời nhu cầu công chứng của tổ chức,
cá nhân Qua đó, thì hoạt động công chứng có những đặc điểm cơ bản như sau:
Hoạt động của công chứng vừa mang tính công quyền vừa mang tính chất dịch vụ công Tính công quyền thể hiện ở chỗ công chứng viên của Phòng công chứng hay của Văn phòng công chứng đều do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm để công chứng các hợp đồng giao dịch giữa các tổ chức, công dân theo quy định của pháp luật Khi tác nghiệp, công chứng viên nhân danh Nhà nước thực thi công việc Hoạt động công chứng còn mang tính chất dịch vụ công tức là thực hiện một loại dịch vụ của Nhà nước nhưng được Nhà nước giao cho tổ chức hành nghề công chứng đảm nhiệm, đó là công chứng các hợp đồng giao dịch mà các tổ chức và cá nhân yêu cầu Một trong những nguyên tắc cơ bản của dịch vụ công là phải bảo đảm được tính liên tục không bị gián đoạn của dịch vụ công Hoạt động dịch vụ này nhằm hướng tới 3 lợi ích sau:
Lợi ích của nhà nước: Hoạt động công chứng góp phần làm cho các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại được thực hiện theo đúng khuôn khổ của pháp luật, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Lợi ích của các bên tham gia giao dịch: Công chứng giúp cho các tổ chức, cá nhân thực hiện các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại theo đúng pháp luật, nhờ đó giảm thiểu tranh chấp, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia giao dịch
Lợi ích của tổ chức hành nghề công chứng: Khi thực hiện hoạt động công chứng, tổ chức hành nghề công chứng được thu phí và thù lao công chứng theo quy định
Trang 37Công chứng viên có sự độc lập, trong tác nghiệp chuyên môn, công chứng viên không chịu trách nhiệm trước các cơ quan cấp trên hay trước Trưởng Phòng công chứng, Trưởng Văn phòng công chứng mà tự chịu trách nhiệm trước pháp luật
Vì vậy, trong tác nghiệp chuyên môn, công chứng viên không bị lệ thuộc vào cấp trên
Các tổ chức hành nghề công chứng được Nhà nước chuyển giao cho một phần quyền của Nhà nước để thực hiện chức năng của Nhà nước trong một lĩnh vực
cụ thể là công chứng các hợp đồng, giao dịch Đồng thời, Nhà nước cũng chuyển giao cho các tổ chức hành nghề công chứng một trách nhiệm và nghĩa vụ lớn là phải thực hiện công chứng một cách đúng pháp luật và đảm bảo được lợi ích của Nhà nước
1.2.2 Phạm vi hoạt động công chứng
Việc xác định phạm vi, ranh giới các việc công chứng, hay nói cách khác là xác định thẩm quyền của tổ chức hành nghề công chứng được làm những gì, công chứng khác với thị thực hành chính như thế nào, có ý nghĩa rất quan trọng Muốn xác định được thế nào là việc công chứng cần phải căn cứ vào các yếu tố sau đây: căn cứ vào các quy định của pháp luật; căn cứ vào người được giao thực hiện và ký văn bản công chứng Hai yếu tố này là điều kiện cần và đủ cho việc xác định một văn bản công chứng
Vấn đề xác định phạm vi công chứng ở các nước có sự khác nhau, tùy theo điều kiện, hoàn cảnh của từng nước và do Nhà nước lựa chọn, thông thường có hai cách để xác định phạm vi công chứng như sau:
- Cách thứ nhất: Nhà nước xác định phạm vi (khung pháp lý) sau đó các văn bản pháp luật khác quy định một số việc bắt buộc phải có chứng nhận của công chứng
Ví dụ: Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp
Trang 38đồng10; Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực11.
- Cách thứ hai: Nhà nước liệt kê các việc công chứng, việc liệt kê cụ thể có
ưu điểm là giúp cho công chứng viên xác định rõ ràng mình được làm và bắt buộc phải làm những việc nào, giúp cho Nhà nước theo dõi, kiểm tra hoạt động của công chứng viên một cách thuận lợi Nhưng lại có những nhược điểm mà trong hoạt động thực tiễn ngày càng bộc lộ rõ vì quy định như vậy không thể nào liệt kê hết được những việc mà công dân cần công chứng, dẫn đến hạn chế hoạt động công chứng viên
và không đáp ứng được nhu cầu công chứng của công dân Trong những năm vừa qua, các Phòng công chứng nhà nước thường gặp nhiều việc mà pháp luật chưa quy định cụ thể như: chứng nhận chữ ký, chứng nhận lời cam đoan, thỉnh cầu, làm hay không làm một việc
Thực tiễn hoạt động công chứng trong những năm vừa qua cho thấy, hoạt động công chứng ngày càng phát triển Một mặt, do hoạt động sôi động của nền kinh
tế thị trường, các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế thương mại và các quan hệ giao dịch trở nên phong phú, đa dạng, khác hẳn so với các quan hệ giao dịch trong thời kỳ bao cấp trước đây; mặt khác do nhận thức về pháp luật của Nhân dân về quyền
và nghĩa vụ pháp lý phát sinh trong các quan hệ giao dịch dân sự ngày càng cao
Mục đích của việc xác định phạm vi công chứng là: Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Trong bất kỳ một lĩnh vực nào, yếu tố đầu tiên để xác định một công việc, cần hay không cần phải làm là xác định mục đích để làm công việc đó Phạm vi công chứng bắt buộc mở rộng
10 Khoản 1, Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014
11 Điểm a, Khoản 3, Điều 167 Luật Đất đai năm 2013
Trang 39hay thu hẹp và nhằm vào đối tượng nào là tùy thuộc vào yếu tố quản lý của Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển của đất nước
Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, vai trò công chứng hết sức quan trọng, nó giúp cho Nhà nước quản lý các hoạt động giao dịch Tuy nhiên, nếu Nhà nước áp dụng quá nhiều hình thức bắt buộc phải công chứng một cách cứng nhắc thì sẽ gây nên cản trở không cần thiết trong quan hệ giao dịch
Có thể thấy rằng, Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2000
là một bước đột phá trong việc mở rộng phạm vi công chứng Cơ quan công chứng
và các cơ quan có thẩm quyền chứng thực được phép chứng nhận các hợp đồng giao dịch mà pháp luật quy định phải công chứng và cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng Đây là nội dung hết sức quan trọng đối với hoạt động công chứng mà Nghị định số 45/HĐBT ngày 27 tháng 02 năm 1996 và Nghị dịnh số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 trước đây chưa giải quyết Việc liệt kê cụ thể các việc công chứng, cho nên các Phòng công chứng thời điểm này chỉ căn cứ vào đó để thực hiện, dẫn đến việc chưa đáp ứng được các nhu cầu công chứng của cá nhân, tổ chức về hợp đồng, giao dịch thuộc lĩnh vực dân sự, kinh tế, thương mại, gây cản trở các hoạt động kinh
tế, xã hội Nhiều yêu cầu công chứng bị từ chối, hoặc có một số việc phải phối hợp nhiều cấp, nhiều ngành mới thực hiện được
Khi thực hiện công chứng, chứng thực, người thực hiện công chứng, chứng thực phải khách quan, trung thực và phải chịu trách nhiệm về công chứng, chứng thực
do mình thực hiện hoặc nội dung công chứng, chứng thực trái pháp luật, đạo đức xã hội thì không được công chứng, chứng thực
Đây là những quy định rất tiến bộ vừa có tính khoa học, vừa có tính pháp lý chặt chẽ, việc biết hoặc phải biết việc công chứng, chứng thực trái pháp luật, hoặc yêu cầu công chứng, chứng thực trái pháp luật là giới hạn phạm vi công chứng Trách nhiệm pháp lý đặc ra rất nặng nề đối với các chủ thể thực hiện hành vi công chứng,
Trang 40chứng thực, do đó đòi hỏi nghiệp vụ về công chứng, chứng thực phải được chuyên môn hóa cao mới có thể đáp ứng được yêu cầu
1.3 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động công chứng
Nguyễn tắc tổ chức và hoạt động công chứng là những tư tưởng chỉ đạo về xây dựng cơ cấu, tổ chức và cơ chế hoạt động của công chứng Đó là những yêu cầu khách quan của đời sống xã hội được thể chế hóa thành các quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động của công chứng được thể hiện qua một số nguyên tắc cơ bản sau
1.3.1 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Công chứng ở nước ta hoạt động theo nguyên tắc công chứng phải tuân theo các quy định của pháp luật về công chứng Thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động công chứng có nghĩa là những người thực hiện hành vi công chứng và những người yêu cầu công chứng phải nghiêm chỉnh và triệt để tuân thủ pháp luật khi thực hiện quyền hạn và nghĩa vụ của mình, đồng thời cơ quan quản lý công chứng phải thực hiện việc quản lý, cũng phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về công chứng, đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng và thi hành nghiêm minh Mọi công dân, tổ chức có quyền yêu cầu thực hiện công chứng trong khuôn khổ pháp luật quy định, đảm bảo sự thống nhất về kỷ cương, trật tự, hiệu lực quản lý các hoạt động giao dịch, bảo đảm dân chủ và công bằng xã hội, đồng thời tránh khuynh hướng tùy tiện trong hoạt động chứng nhận của những người có thẩm quyền thực hiện hành vi công chứng Khi thực hiện công chứng phải tuân thủ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục được quy định trong pháp luật công chứng, các quy định khác của pháp luật và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
ký kết hoặc công nhận Hoạt động công chứng nhằm giúp đỡ pháp lý cho công dân,
tổ chức trong việc thực hiện quyền và bảo vệ lợi ích hợp pháp của họ Vì vậy những người thực hiện công chứng phải có trách nhiệm giải thích cho đương sự hiểu rõ quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp của họ, cũng như ý nghĩa pháp lý của việc công chứng mà họ yêu cầu Phải đảm bảo thực hiện đúng các quy định về địa điểm, thời