Trình bày cơ sở lý thuyết, thực trạng hoạt động phát hành thẻ và đưa ra định hướng phát triển các sản phẩm thẻ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông Việt Nam. Trình bày cơ sở lý thuyết, thực trạng hoạt động phát hành thẻ và đưa ra định hướng phát triển các sản phẩm thẻ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông Việt Nam.
Trang 1Hà Nội - 04/2008
Luận văn thạc sỹ khoa học Hoạch định một số giải pháp nhằm phát triển sản phẩm thẻ của ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn việt nam CHUYấN NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
GIÁO VIấN HƯỚNG DẪN : TS.PHẠM CẢNH HUY SINH VIấN THỰC HIỆN : BÙI QUANG NGHĨA
Hà Nội – 04/2008
Trang 2Hệ thống ngân hàng Việt Nam trong những năm gần đây đã phát triển vượt bậc cả về số lượng lẫn chất lượng Thời gian qua, ngành Tài chính Ngân hàng Việt Nam đã chứng kiến sự ra đời của hàng loạt hệ thống ngân hàng trong nước và quốc
tế Chính vì sự góp mặt sôi động của nhiều hệ thống ngân hàng khác nhau đã làm cho chất lượng dịch vụ tài chính ngân hàng chuyển biến tích cực hơn, mở ra nhiều dịch vụ ngân hàng mới, tạo tiền đề cho sự phát triển vững mạnh của ngành tài chính ngân hàng nói riêng và của chung nền kinh tế Việt Nam trong những năm sắp tới
Ngày nay hệ thống ngân hàng nhờ sự hỗ trợ của công nghệ thông tin mà có thể cung cấp cho khách hàng những dịch vụ thanh toán rất hiện đại, vừa nhanh chóng, vừa chính xác trên phạm vi toàn thế giới mà nổi bật là dịch vụ thẻ Đây là một dịch vụ mang tính hội nhập quốc tế cao vì tính chất mọi lúc, mọi nơi của nó Dịch vụ thẻ của Agribank Việt Nam còn khá mới mẻ do cơ chế chính sách của Ngân hàng thương mại nhà nước có những khó khăn nhất định, song với những gì nghiên cứu, học tập được thời gian qua đã thôi thúc tôi viết đề tài này, nội dung:
H oạch định một số giải pháp nhằm phát triển sản phẩm thẻ của Agribank Việt Nam Mục đích chính là tìm ra giải pháp phát triển sản phẩm thẻ, nhằm giúp Agribank tăng thu dịch vụ và góp phần đưa thẻ đi vào cuộc sống người dân như một thói quen Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với định hướng chiến lược lâu dài của Chính phủ cho ngành Tài chính Ngân hàng Việt Nam là hiện đại hóa hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt vì những lợi ích vi mô và vĩ mô cho nền kinh tế
Để hoàn thành đề tài này, bên cạnh sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp còn có sự hỗ trợ rất lớn của Quý thầy cô Khoa Kinh Tế Năng Lượng Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của Thầy tiến sĩ Phạm Cảnh Huy Tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm, sự hướng dẫn
và sự trợ giúp nhiệt tình đầy quý báo đã dành cho tôi trong suốt thời gian qua Tuy nhiên, vì thời gian nghiên cứu có hạn, vừa làm công tác nghiệp vụ chuyên môn vừa
thực hiện luận văn nên bài viết còn có nhiều điểm chưa đáp ứng yêu cầu của Quý Thầy cô Rất mong sự cảm thông cũng như sự góp ý quý báu từ Quý Thầy cô
Xin chân thành cảm ơn !
Trang 31 LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI:
Chúng ta đều biết rằng tiền tệ vừa là sự khởi đầu cũng là kết thúc của các hoạt động kinh tế, tuy nhiên bên cạnh phương thức thanh toán dùng tiền mặt còn có những phương thức thanh toán không dùng tiền mặt như: séc, thẻ thanh toán
Phương thức thanh toán không dùng tiền mặt thể hiện ưu điểm của nó hơn phương thức thanh toán sử dụng tiền mặt trong việc tiết kiệm chi phí in ấn, phát hành, bảo quản quan trọng nhất là tập trung nguồn vốn nhàn rỗi cho nền kinh tế, giúp quay vòng vốn nhanh hơn và một số các lợi ích khác của phương thức này, giúp đem lại hiệu quả cho nền kinh tế
Ở các nước phát triển trên thế giới, thẻ thanh toán rất phổ biến và thông dụng đối với người dân trong sinh hoạt hàng ngày Ở nước ta hiện nay, số lượng các ngân hàng tham gia vào thị trường phát hành thẻ ngày càng nhiều, bao gồm các ngân hàng quốc doanh, thương mại cổ phần cũng như các ngân hàng liên doanh, chi nhánh nước ngoài…, như ngân hàng Ngoại thương - Vietcombank (VCB), ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank), ngân hàng Á Châu (ACB), ngân hàng Đông Á, ngân hàng ANZ…Thị trường thẻ thanh toán ngày càng sôi động do sự cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau Cụ thể như sự xuất hiện của các liên kết tay đôi, tay ba trong lĩnh vực thẻ (Phương Nam - Southernbank, Sài gòn Thương tín - Sacombank và ANZ) và đặc biệt là sự hình thành Công ty Cổ phần Chuyển mạch Quốc gia Bank Net bao gồm sự liên kết của 3 ngân hàng
thương mại quốc doanh (Công thương - Incombank, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – Agribank và ngân hàng Đầu tư Phát triển - BIDV), 4 ngân hàng
thương mại cổ phần (Sacombank, ACB, Đông Á và Nam Á) và công ty Điện toán
và Truyền dữ liệu (VDC)
2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI:
Mục tiêu chủ yếu của đề tài là “Hoạch định một số giải pháp nhằm phát triển các sản phẩm thẻ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam”
Trang 4Nông nghiệp & PTNT Việt Nam, giúp cho Ngân hàng có định hướng trong việc thu hút khách hàng cũng như tăng nguồn vốn huy động
4 PHẠM VI ĐỀ TÀI:
• Đối tượng: Các Tổ chức tín dụng quốc doanh và ngoài quốc doanh trong
phạm vi lãnh thổ Việt Nam
• Sản phẩm: các loại thẻ của Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT Việt Nam
5 PH ƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu trong đó chủ yếu chủ yếu là phương pháp phân tích thống kê, điều tra, tổng hợp, khảo sát, chuyên gia, so sánh
6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 phần sau:
+ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
+ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH THẺ CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP & PTNT VIỆT NAM
+ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM THẺ CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP & PTNT VIỆT NAM
Trang 5CH ƯƠNG 1
1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẺ NGÂN HÀNG:
1.1 Sự hình thành và phát triển của thẻ ngân hàng:
Chiếc thẻ đầu tiên ra đời vào năm 1949 do một doanh nhân người Mỹ tên là Frank Mc Namara sáng chế Sáng kiến này nảy sinh sau một lần ông dùng bữa tối ở cửa hàng và bỗng phát hiện ra mình quên mang tiền Ông đã phải gọi điện cho vợ đến thanh toán Từ đó ông nghĩ rằng phải có một phương tiện để chi trả trong những
trường hợp tương tự như vậy và thẻ Diners Club ra đời
Sự xuất hiện của thẻ Diners Club khởi đầu cho nhiều loại thẻ mới ra đời như Gorden Key, Trip Charge, Gourmet Club, Esquire Club Năm 1958 thẻ Carte Blanche, American Express ra đời Lúc đó phần lớn thẻ dành cho giới doanh nhân
nhưng ngân hàng nhận thấy rằng giới bình dân mới là đối tượng chủ yếu trong
tương lai Ngân hàng Mỹ là nơi đầu tiên phát đạt với thẻ Bank Americard Năm
1966 Bank Americard mà ngày nay được biết đến với tên gọi Visa Card liên kết với các ngân hàng ở tiểu bang khác để phát triển mạng lưới thẻ Nó đã phải cạnh tranh khốc liệt với đối thủ Well Fargo liên kết với 77 ngân hàng chủ nhân của Masters Charge (ngày nay là Master Card)
Thẻ Diners Club thẻ du lịch và giải trí đầu tiên được phát hành năm 1949 Năm 1960 có mặt tại Nhật chi nhánh được quản lý bởi Citi Corp người đứng đầu trong số ngân hàng phát hành thẻ Năm 1990 Diners Club có 6,9 triệu người sử dụng với doanh số 16 tỉ đôla Năm 1993 doanh số giảm xuống còn 7,9 tỉ đôla với 1,5 triệu thẻ lưu hành
Thẻ Amex ra đời năm 1958, hiện nay đang là tổ chức thẻ du lịch và giải trí lớn nhất thế giới Tổng số thẻ phát hành gấp 5 lần Diners Club, gấp 2 lần JCB Năm
1990 tổng doanh thu là 111,5 triệu đôla với 36,5 triệu thẻ lưu hành Năm 1993 doanh thu khoảng 124 tỉ đôla với 35,4 triệu thẻ lưu hành và 3,6 triệu cơ sở chấp nhận thẻ Khác với các thẻ khác, Amex tự phát hành cho chính mình và trực tiếp quản lý chủ thẻ nhờ đó mà họ có thể nắm bắt nhu cầu thực tế của khách hàng từ đó
có chương trình phát triển như phân loại khách hàng để cung cấp dịch vụ Năm
1987 Amex cho ra đời loại thẻ tín dụng mới có khả năng cung cấp tín dụng tuần hoàn cho khách hàng là Optima Card để cạnh tranh với Master và Visa
Thẻ Visa tiền thân là Bank Americard do Bank of America phát hành năm
1960 Ngày nay là loại thẻ có qui mô phát triển lớn nhất toàn cầu Cuối năm 1990
Trang 6có 25 triệu thẻ với doanh thu 354 tỉ đôla Cuối năm 1993 doanh thu đạt 542 tỉ đôla với 164.000 máy ATM ở 65 nước Visa không trực tiếp phát hành thẻ mà giao cho các thành viên, điều này giúp cho Visa mở rộng thị trường hơn các loại thẻ khác
JCB xuất phát từ Nhật năm 1961 bởi ngân hàng Sanwa và phát triển thành
cơ sở quốc tế năm 1981 Mục tiêu hướng vào thị trường du lịch và giải trí, hiện đang là loại thẻ cạnh tranh với Amex Năm 1990 doanh thu đạt 16,5 tỉ đôla với 17 triệu thẻ lưu hành Năm 1992 doanh thu là 30,9 tỉ đôla và phát hành được 27,5 triệu thẻ Ngày nay thẻ JCB được công nhận trên 400.000 nơi và trên 109 quốc gia ngoài
nước Nhật
Master ra đời năm 1966 với tên Master Charge do hiệp hội thẻ liên ngân hàng ICA phát hành thông qua các thành viên trên thế giới Năm 1990 hệ thống ATM lớn nhất trên thế giới được sử dụng để phục vụ cho người sử dụng thẻ Master trên 50.000 địa phương trên thế giới, phát hành trên 178 triệu thẻ với 5.000 thành viên phát hành, 9 triệu cơ sở chấp nhận thẻ Năm 1993 doanh thu đạt 320,6 tỉ đôla, 215,8 triệu thẻ lưu hành ở 220 nước Hệ thống quản lý rút tiền tự động (Cirrus ATM) cũng phát triển với 162.000 máy ở 152 nước Đến nay mạng lưới được triển khai rộng rãi có 29.000 thành viên tham gia vào hiệp hội Master trên 191 chi nhánh ngân hàng
Thẻ Mondex ra đời năm 1990 xuất phát từ ý tưởng phát triển một loại tiền điện tử có đầy đủ những tính năng hiện đại, thuận tiện và an toàn của Tim Jones và Graham Higgins – chuyên gia đầy kinh nghiệm của tập đoàn ngân hàng National Westminster Bank/NatWest Mondex chính thức trở thành tổ chức thanh toán thẻ quốc tế vào tháng 7/1996 với tên viết tắt MXI Năm 1997 Mastercard sau khi sở hữu 51% cổ phần của MXI đã thu nhận Mondex như là một nhánh sản phẩm và công bố sẽ áp dụng công nghệ thẻ chip của MXI để phát triển dịch vụ thẻ Mastercard Thẻ Mondex đang ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới Từ những năm 1990 khi những thẻ Mondex đầu tiên được phát hành tại Mỹ đến nay thẻ này
đã triển khai ở rất nhiều nước trên thế giới Tại Hàn Quốc chỉ sau một năm triển khai số lượng phát hành đạt gần 1 triệu thẻ và được đánh giá là một trong những
nước có tốc độ phát triển thẻ Mondex nhanh nhất
2 KHÁI NIỆM
2.1 Khái niệm chung về các loại thẻ:
Thẻ là một phương thức thanh toán mà người sở hữu thẻ có thể dùng để thanh toán tiền mua hàng hoá dịch vụ hay rút tiền mặt tự động thông qua máy đọc thẻ hay các máy rút tiền tự động (ATM)
Trang 72.2 Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ:
2.2.1 Thẻ tín dụng (Credit Card)
Thẻ tín dụng là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó người chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, khách sạn, sân bay chấp nhận loại thẻ này
Gọi đây là thẻ tín dụng vì chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định Cũng từ đặc điểm trên mà người ta còn gọi thẻ tín dụng là thẻ ghi nợ hoãn hiệu (delayed debit card) hay chậm trả
Một số loại thẻ tín dụng thông dụng ở nước ta hiện nay như: Master Card, Visa Card, JCB, American Express, Dinner Club được các ngân hàng Agribank, Vietcombank, ACB, … phát hành và thanh toán
2.2.2 Thẻ ghi nợ (Debit card)
Thẻ ghi nợ là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi Loại thẻ này khi được sử dụng để mua hàng hoá hay dịch vụ, giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết
bị điện tử đặt tại cửa hàng, khách sạn đồng thời chuyển ngân ngay lập tức vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn Thẻ ghi nợ còn hay được sử dụng để rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động (ATM)
Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ Tuy nhiên, hiện nay một số các ngân hàng đã phát hành các loại thẻ kết hợp tính chất của thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ như thẻ Đa năng (Unicard) của ngân hàng Đông Á
Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản:
Thẻ online: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản chủ thẻ
Thẻ offline: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ vào tài khoản chủ thẻ sau đó vài ngày
Thẻ SUCCESS là thẻ ghi nợ online kết nối trực tiếp đến tài khoản của chủ thẻ
được mở tại tất cả các chi nhánh của Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT VN
Trang 8Hình 1.1 Theû SUCCESS cuûa Agribank
2.2.3 Thẻ rút tiền mặt (Cash card)
Thẻ rút tiền mặt là loại thẻ rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc ở ngân hàng Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, yêu cầu đặt ra đối với loại thẻ này là chủ thẻ phải ký quỹ tiền gởi vào tài khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ được cấp tín dụng thấu chi mới sử dụng được
Thẻ rút tiền mặt có hai loại:
Loại 1: chỉ rút tiền tại những máy rút tiền tự động của Ngân hàng phát hành
Loại 2: được sử dụng để rút tiền không chỉ ở Ngân hàng phát hành mà còn được sử dụng để rút tiền ở các Ngân hàng cùng tham gia tổ chức thanh toán với Ngân hàng phát hành thẻ
CÁC THUẬT NGỮ VỀ THẺ CỦA AGRIBANK
Thẻ ghi nợ nội địa NHNo: là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do NHNo phát hành cho phép chủ thẻ sử dụng trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi không kỳ hạn và (hoặc) hạn mức thấu chi để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ; rút tiền mặt tại đơn vị chấp nhận thẻ hoặc điểm ứng tiền mặt trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Thẻ tín dụng nội địa: là phương tiện thanh toán do NHNo phát hành, có một hạn mức tín dụng nhất định dùng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc ứng tiền mặt tại các đơn vị chấp nhận thẻ hoặc các điểm ứng tiền mặt trong phạm vi lãnh thổ Viêt Nam trong một khoảng thời gian nhất định
Chủ thẻ của thẻ tín dụng: là cá nhân hoặc người được tổ chức, đơn vị uỷ quyền (nếu là thẻ công ty) được NHNo phát hành cho phép sử dụng thẻ trong phạm
vi hạn mức tín dụng được cấp Chủ thẻ bao gồm chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ
o Chủ thẻ chính: là cá nhân đứng đơn đề nghị NHNo cấp thẻ tín dụng
Trang 9o Chủ thẻ phụ: là cá nhân được NHNo cấp thẻ tín dụng theo đề nghị của chủ thẻ chính.
Chủ thẻ của thẻ ghi nợ nội địa: là cá nhân hoặc người được tổ chức, đơn vị
uỷ quyền (nếu là thẻ công ty) được NHNo phát hành cho phép sử dụng thẻ ghi nợ
Đơn vị chấp nhận thẻ: là tổ chức hay cá nhân cung ứng hàng hoá, dịch vụ chấp nhận thẻ làm phương tiện thanh toán
Điểm ứng tiền mặt: là máy rút tiền tự động (ATM), đơn vị chấp nhận thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ, ngân hàng đại lý thanh toán thẻ mà tại đó chủ thẻ cỏ thẻ
sử dụng thẻ để ứng tiền mặt hay sử dụng các dịch vụ ngân hàng khác
Thấu chi (Overdraft): là một phương thức cho vay theo đó NHNo cho phép khách hàng là cá nhân được rút tiền hoặc thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ vượt quá số dư trên tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng mở tại NHNo
Trung tâm thẻ (TTT): là đơn vị nghiệp vụ thuộc Trụ sở NHNo Bao gồm các phòng nghiệp vụ, kỹ thuật Có nhiệm vụ quản lý, điều hành và giám sát hoạt động của hệ thống thẻ trong toàn hệ thống NHNo
Ngân hàng phát hành thẻ (NHPHT): là các chi nhánh NHNo trực tiếp thực hiện nghiệp vụ cấp thẻ cho chủ thẻ sử dụng, chịu trách nhiệm thanh toán và cung cấp các dịch vụ liên quan đến thẻ tín dụng nội địa
Ngân hàng thanh toán thẻ (NHTTT): là các chi nhánh NHNo thực hiện nghiệp vụ thanh toán chấp nhận thẻ
Ngân hàng đại lý thanh toán thẻ (NHĐL): là ngân hàng được ngân hàng thanh toán thẻ uỷ quyền thực hiện một số dịch vụ chấp nhận thanh toán thẻ thông qua hợp đồng đại lý
Mã số xác định chủ thẻ (PIN): là mã số mật cá nhân của chủ thẻ, được sử dụng để thực hiện các giao dịch thẻ
Thời hạn hiệu lực thẻ: là thời gian chủ thẻ được phép sử dụng thẻ theo quy định của NHNo, thời hạn hiệu lực được dập nổi hoặc in trên thẻ (tháng, năm)
Hợp đồng sử dụng thẻ: là thoả thuận sử dụng thẻ của NHNo và chủ thẻ
Hợp đồng đại lý: là thoả thuận chấp nhận thanh toán thẻ giữa NHNo với các đơn vị chấp nhận thẻ
Hoá đơn giao dịch: là chứng từ xác nhận giao dịch do chủ thẻ thực hiện bằng thẻ tín dụng
Sao kê: là bảng kê chi tiết các khoản chi tiêu và trả nợ của chủ thẻ cùng lãi
và phí phát sinh trong một chu kỳ sử dụng thẻ
Trang 10 Ngày đến hạn thanh toán: là ngày cuối cùng mà chủ thẻ phải thanh toán cho NHNo các khoản chi tiêu cùng phí và lãi phát sinh trong kỳ sao kê đó theo quy định.
Số tiền thanh toán tối thiểu: là số tiền tối thiểu mà chủ thẻ phải thanh toán cho NHNo sau mỗi kỳ sao kê
ATM (Automatic Teller Machine): máy rút tiền tự động
EDC (Electronic Data Capture): thiết bị điện tử đọc thẻ
POS (Point of Sale): điểm bán hàng, điểm chấp nhận thẻ
Tổ chức thẻ quốc tế: Hiệp hội các tổ chức tài chính tín dụng tham gia phát hành và thanh toán thẻ quốc tế Tổ chức này chỉ là trung tâm xử lý cung cấp thông tin phục vụ cho qui trình phát hành và thanh toán thẻ ở các ngân hàng thành viên
mà không có quan hệ trực tiếp với chủ thẻ hay đơn vị chấp nhận thẻ
Warning Bulletin: Danh sách những thẻ không được thanh toán do lộ số PIN, thẻ giả, thẻ bị mất cắp thất lạc,
2.3 Đặc điểm cấu tạo thẻ:
Xét theo công nghệ làm thẻ trên thế giới hiện nay sử dụng 2 loại thẻ là thẻ từ
và thẻ thông minh trong đó phổ biến nhất là thẻ từ Thẻ được cấu tạo theo nguyên tắc không chỉ dễ nhận biết, phân biệt các loại thẻ với nhau mà còn đảm bảo an toàn, chống giả mạo, hạn chế rủi ro trong thanh toán Trong phần này ta chỉ tìm hiểu về cấu tạo của thẻ từ Thẻ được làm từ nhựa cứng, hình chữ nhật với kích thước tiêu chuẩn là 96mm x 54mm x 0,76mm Thẻ có 3 lớp, màu sắc trên thẻ thay đổi tùy thuộc vào ngân hàng phát hành và quy định của mỗi Tổ chức thẻ
Mặt trước của thẻ có các yếu tố:
• Số thẻ: Được in rõ ràng cách đều nhau, chia thành các nhóm cách biệt, không mờ nhạt hoặc có dấu vết của thẻ bị in nổi lại
Thẻ Visa có 2 loại 16 số và 13 số, bắt đầu bằng số 4
Thẻ Master có 16 số, bắt đầu bằng số 5
Thẻ JCB có 16 số, bắt đầu bằng số 35
Thẻ Amex có 15 số, bắt đầu bằng số 34 hoặc 37
• Họ tên chủ thẻ: Được dập nổi
• Tên ngân hàng phát hành thẻ
• Biểu tượng và thương hiệu của thẻ: Dùng để phân biệt với thẻ khác và chống giả mạo
Trang 11Thẻ Visa: Biểu tượng là hình chim bồ câu in chìm trong hình chữ nhật màu bạc nằm ở bên phải, khi nghiêng qua lại sẽ thấy cánh chim chấp chới Thương hiệu hình chữ nhật 3 màu kẻ ngang xanh tím, trắng, vàng nâu có dòng Visa chạy ngang dòng kẻ trắng nằm ở góc bên phải dưới biểu tượng
H 2.1: Visa Debit Card
Thẻ Master: Biểu tượng là 2 quả địa cầu lồng vào nhau nằm bên phải, khi nghiêng qua lại sẽ thấy đủ 5 châu lục trong hình địa cầu Thương hiệu 2 hình tròn lồng vào nhau màu da cam và đỏ, dòng Mastercard màu trắng chạy ngang giữa nằm
ở góc bên phải thẻ dưới biểu tượng
H 3.1: Master Card
Thẻ Amex: Biểu tượng là hình đầu người chiến binh đội mũ sắt ở giữa thẻ hoặc ở góc bên trái Thương hiệu hình chữ nhật màu xanh nước biển, dòng AMERICAN EXPRESS chạy ngang giữa
Trang 12H 4.1: Amex Card
Thẻ JCB: Thương hiệu 3 màu xanh lam, đỏ, lá cây, dòng JCB trắng chạy ngang giữa
H 5.1: JCB Card
• Ngày hiệu lực là thời hạn thẻ được lưu hành
Ngoài ra thẻ còn có một số đặc điểm riêng Thẻ Master trước ngày hiệu lực
là 4 số in nổi cho biết mã số ICA của ngân hàng phát hành, sau ngày hiệu lực có chữ V (CV, PV với thẻ thường, RV, GV với thẻ vàng) Thẻ Master sau ngày hiệu lực có chữ M và C viết lồng vào nhau Thẻ JCB có chữ G sau ngày hiệu lực nếu là thẻ vàng Thẻ Amex còn in số mật mã đợt phát hành
Mặt sau của thẻ có băng từ chứa đựng các yếu tố bảo mật như số thẻ, tên chủ thẻ, thời hạn hiệu lực, mã số bí mật, hạn mức tín dụng Dải băng từ này có 2 hoặc
3 rãnh được đọc bởi các thiết bị chuyên dùng như POS, Veri phone…, rãnh thứ 3 được sử dụng cho máy ATM để khách hàng rút tiền mặt qua PIN
Ngoài ra trên thẻ còn có số điện thoại dịch vụ giải đáp thắc mắc của khách hàng và băng chữ ký trên đó có tên loại thẻ được in nghiêng trái 45 độ trên nền trắng Băng chữ ký được làm từ một chất liệu đặc biệt nếu cố tình cạo, sửa đổi phần
ô chữ ký hoặc chữ ký gốc thì trên ô chữ ký sẽ hiện ra chữ “VOID”
Trang 132.4 Theo công nghệ làm thẻ:
Thẻ khắc chữ nổi: Thẻ được làm dựa trên kĩ thuật khắc chữ nổi, các thông tin cần thiết đều được khắc nổi trên thẻ do đó lưu giữ được ít thông tin và thẻ dễ bị làm giả, hiện nay những thẻ loại này không còn được sử dụng nữa
Thẻ băng từ: Thẻ có băng từ lưu giữ thông tin Nhược điểm của nó là chứa đựng ít thông tin, chỉ mang được những thông tin cố định, thông tin chưa được mã hóa do vậy kém an toàn, dễ làm giả
Thẻ thông minh: Thẻ có gắn con chíp điện tử để lưu giữ thông tin, có thể lưu giữ chi tiết tối đa 200 giao dịch gần nhất Thẻ có nhiều ưu điểm nổi trội hơn hẳn các thẻ trên như chứa đựng nhiều thông tin hơn, thông tin được mã hóa do vậy độ
an toàn cao hơn, khó làm giả Hiện nay, thẻ thông minh được sử dụng phổ biến ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới và được coi là phương tiện thanh toán an toàn và hiệu quả
2.5 Theo đối tượng chịu trách nhiệm thanh toán:
Thẻ cá nhân: Thẻ phát hành cho các cá nhân có nhu cầu và đáp ứng đủ điều kiện phát hành thẻ Chủ thẻ chịu trách nhiệm thanh toán các khoản chi tiêu trên thẻ bằng nguồn tiền của bản thân mình Chủ thẻ thẻ cá nhân có thể phát hành thêm thẻ phụ Hạn mức thẻ phụ cũng giống như thẻ chính chỉ khác là mọi giao dịch trên thẻ phụ do chủ thẻ chính thanh toán và chỉ chủ thẻ chính mới có thể thay đổi hạn mức, ngừng sử dụng thẻ…
Thẻ cá nhân do công ty ủy quyền sử dụng: Thẻ phát hành cho cá nhân thuộc một tổ chức, công ty đứng tên xin phát hành thẻ và ủy quyền cho cá nhân đó sử dụng thẻ Tổ chức, công ty xin phát hành chịu trách nhiệm thanh toán các khoản chi tiêu trên thẻ bằng nguồn tiền của tổ chức, công ty đó Tổ chức, công ty xin phát hành thẻ phải nêu rõ việc ủy quyền này trong đơn xin phát hành thẻ Cá nhân được
ủy quyền sử dụng thẻ công ty không được phép phát hành thẻ phụ
2.6 Những tiện ích và rủi ro trong hoạt động phát hành và thanh toán thẻ: 2.6.1 Những tiện ích của thẻ ngân hàng:
2.6.1.1 D ưới góc độ của các ngân hàng:
Nghiệp vụ thẻ trước hết mang lại nguồn vốn huy động rẻ Ngân hàng luôn có một nguồn tiền gửi rất lớn từ tài khoản giao dịch của khách hàng mà phải trả lãi rất thấp Tài khoản giao dịch phát triển cho phép mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt và là điều kiện để tạo ra tiền ghi sổ, chức năng tạo tiền của ngân hàng được thực hiện Cũng qua tài khoản này, ngân hàng có thể cấp tín dụng cho khách hàng
dưới hình thức thấu chi dựa trên cầm cố tài sản, thế chấp hoặc tín chấp Những khách hàng sử dụng thẻ tín dụng được ngân hàng cấp cho một khoản tín dụng theo
Trang 14đó khách hàng được chi tiêu, thanh toán hàng hóa dịch vụ trong hạn mức tín dụng được cấp Hạn mức tín dụng là hạn mức tuần hoàn do đó khi khách hàng đã thanh toán thì hạn mức sẽ tự động tăng lên, điều này đồng nghĩa với việc khách hàng được ngân hàng cấp một khoản vay mới Phương thức này vừa đơn giản vừa an toàn, giúp ngân hàng mở rộng tín dụng, mở rộng thị trường Bằng việc gia tăng các tiện ích của thẻ nói riêng và nâng cao chất lượng các dịch vụ ngân hàng nói chung, ngân hàng không chỉ duy trì mối quan hệ với khách hàng cũ mà còn thu hút thêm khách hàng mới Việc đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ giúp ngân hàng phân tán rủi ro, tăng tính cạnh tranh và tăng lợi nhuận Thu nhập có được từ việc cung cấp các dịch vụ hiện tại chưa chiếm tỉ trọng lớn trong tổng thu nhập song trong tương lai đây sẽ là nguồn thu nhập đáng kể của ngân hàng Hơn nữa, phát triển loại hình dịch vụ này còn tạo cơ hội để ngân hàng mở rộng quan hệ với các ngân hàng, tổ chức tài chính trên thế giới, học hỏi kinh nghiệm, tiếp thu những tiến bộ khoa học
kĩ thuật, cải thiện vị thế của ngân hàng trên thị trường Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong điều kiện toàn cầu hóa, khoa học công nghệ phát triển như vũ bão và kinh tế chính trị xã hội thế giới còn nhiều bất ổn như hiện nay
2.6.1.2 D ưới góc độ của khách hàng:
Sử dụng thẻ đem lại sự thuận tiện trong tiêu dùng Khách hàng dễ dàng mua hàng hóa, dịch vụ thông qua một mạng lưới rộng khắp các ĐVCNT, không phải mang quá nhiều tiền mặt, không sợ mất cắp hay bị tiền giả, có thể ngồi ở nhà mà vẫn thực hiện được các giao dịch thông qua điện thoại, Internet Thẻ tín dụng đem lại cho chủ thẻ một khoản tín dụng tuần hoàn mà không phải nhiều lần đến ngân hàng xin vay với những thủ tục phức tạp do đó tiết kiệm được thời gian và chi phí Ngoài ra với đặc điểm chi tiêu trước trả tiền sau, chủ thẻ tín dụng vẫn có thể mở rộng các giao dịch tài chính trong điều kiện nguồn tài chính hạn hẹp mà không phải trả lãi (trong khoảng thời gian nhất định theo qui định của ngân hàng) Hơn nữa, những khách hàng có uy tín và năng lực tài chính lành mạnh có thể được ngân hàng xem xét cấp một hạn mức thấu chi Hình thức này giúp khách hàng cân đối ngân quĩ mà lãi chỉ tính trên số dư nợ thực tế của tài khoản vãng lai trong ngày dư nợ do vậy khách hàng có thể nộp tiền vào tài khoản để trả nợ và giảm lãi phải trả cho ngân hàng Khách hàng còn có thể dùng thẻ để thanh toán tiền điện, nước, điện thoại, Internet, phí bảo hiểm hoặc nhận lương hàng tháng Bằng việc phát hành thêm thẻ phụ, khách hàng dễ dàng thanh toán, kiểm soát các khoản chi phí của con
em đang du học ở nước ngoài Thông qua các dịch vụ sao kê, vấn tin, xem số dư tài khoản , chủ thẻ sẽ kiểm soát được những khoản chi tiêu hàng tháng từ đó lên kế hoạch chi tiêu cho hợp lý Ngoài ra, chủ thẻ còn được hưởng lãi trên số dư có tài khoản vãng lai Trường hợp chủ thẻ cầm cố sổ tiết kiệm để phát hành thẻ tín dụng thì sổ tiết kiệm vẫn được tính lãi như bình thường Với thẻ quốc tế chủ thẻ có thể
Trang 15Thanh toán thẻ là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt tương đối an toàn và hiệu quả Nếu bị mất thẻ hoặc bị lộ mã số cá nhân thì chủ thẻ vẫn có thể không bị mất tiền khi kịp thời thông báo cho ngân hàng để khóa thẻ, đưa vào danh sách Bulletin Thêm vào đó với kỹ thuật làm thẻ ngày càng tinh vi, hiện đại, hệ thống bảo mật tốt và sự liên kết giữa các ngân hàng trong hoạt động phát hành và thanh toán thẻ, tính an toàn của thẻ ngân hàng sẽ ngày một nâng cao Hơn nữa khách hàng luôn giữ thế chủ động, linh hoạt khi sử dụng Khách hàng có quyền chọn cách thức thanh toán như ghi nợ trực tiếp vào tài khoản hay rút tiền mặt để thanh toán Không những thế khách hàng còn được tiếp cận với các phương thức giao dịch hiện đại như mua hàng qua thư, điện thoại, Internet Ngoài ra, sử dụng thẻ giúp khách hàng tiếp cận với nhiều dịch vụ khác của ngân hàng và được cung cấp một số dịch vụ như dịch vụ khách hàng 24/24, dịch vụ tư vấn, bảo hiểm y tế, bảo hiểm mất mát hàng hóa
2.6.1.3 D ưới góc độ của các đơn vị chấp nhận thẻ:
Trước hết, thanh toán thẻ giúp các đơn vị chấp nhận thẻ giảm chi phí kiểm đếm, vận chuyển, bảo quản tiền mặt, giảm rủi ro do tiền giả và tình trạng chậm thanh toán của khách hàng Đồng thời với việc đa dạng hóa các phương thức thanh toán các điểm cung ứng hàng hóa dịch vụ sẽ có thể tăng tính cạnh tranh, thu hút được nhiều khách hàng nhờ đó mà tăng doanh số bán hàng, mở rộng thị trường Thẻ là phương thức thanh toán hiện đại, xóa nhòa giới hạn về không gian và thời gian Chính lợi thế này khiến cho ĐVCNT có thể tiếp cận với nhiều phương thức bán hàng hiện đại như bán hàng qua thư, điện thoại, Internet thu hút không chỉ khách hàng trong nước mà cả khách nước ngoài, mở rộng thị trường mà tốn ít chi phí Các ĐVCNT cũng được lợi do việc tiết giảm chi phí nhân công, trụ sở trong khi vẫn đảm bảo thu đủ, nhanh chóng, an toàn Hiệu quả kinh tế của đồng vốn tăng, lợi nhuận tăng Thêm vào đó các đơn vị này còn được hưởng lợi từ chính sách khách hàng của ngân hàng, được ưu đãi về tín dụng, có cơ hội được giới thiệu với công chúng bằng hình thức quảng cáo mới trên máy ATM… Ngoài ra các đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ còn được ngân hàng trang bị cho các thiết bị hiện đại, đào tạo nhân viên phục vụ cho hoạt động thanh toán thẻ
2.6.1.4 Dưới góc độ xã hội:
Việc phát triển và sử dụng các loại thẻ giúp giảm lượng tiền mặt lưu thông
do đó giảm chi phí xã hội như chi phí bảo quản, in ấn tiền, chi phí nhân công, chi phí quản lý… hạn chế các rủi ro do mất cắp, tiền giả, tiền xấu, thiệt hại do cháy… Ngân hàng là một kênh dẫn vốn của nền kinh tế Do đó khi khối lượng giao dịch qua ngân hàng tăng dẫn đến luồng vốn được khơi thông, tốc độ chu chuyển vốn tăng sẽ làm tăng hiệu quả đồng vốn Khi đó nền kinh tế sẽ vận động thuận lợi và tăng trưởng tốt Ngoài ra thanh toán thẻ giúp kiểm soát khối lượng giao dịch của
Trang 16dân cư cũng như toàn nền kinh tế, hạn chế những hoạt động của nền kinh tế ngầm, tăng cường sự quản lý của nhà nước, chống thất thu thuế Kiểm soát được lượng tiền giao dịch cũng có nghĩa là kiểm soát được lượng tiền cung ứng và đảm bảo thực thi có hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia
Thanh toán thẻ thể hiện lối sống văn minh hiện đại, phù hợp với sự phát triển và tiến bộ của xã hội Ngày nay khi khoa học kĩ thuật ngày càng tiến bộ thực hiện thanh toán thẻ không chỉ đơn thuần là phục vụ nhu cầu thanh toán của khách hàng trong một phạm vi địa lý giới hạn mà còn là một sản phẩm cần thiết cho quá trình hội nhập quốc tế
2.6.2 Một số rủi ro trong nghiệp vụ phát hành, thanh toán thẻ:
Đơn phát hành thẻ với các thông tin giả mạo: Đơn xin phát hành thẻ của
khách hàng có các thông tin giả mạo hoặc không đầy đủ, khi thẩm định ngân hàng không phát hiện ra sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng khi chủ thẻ sử dụng thẻ
mà không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán
Thẻ giả: Những thẻ này được làm căn cứ vào các thông tin có được từ các
chứng từ giao dịch thẻ, từ các thẻ bị mất cắp thất lạc Đây là loại rủi ro nguy hiểm nhất mà các tổ chức thẻ rất quan tâm và gây tổn thất cho ngân hàng phát hành thẻ vì theo tổ chức thẻ quốc tế ngân hàng phát hành thẻ phải chịu trách nhiệm với mọi giao dịch mang mã số ngân hàng phát hành thẻ
Thẻ mất cắp, thất lạc: Thẻ bị mất cắp hoặc thất lạc mà chủ thẻ chưa kịp
thông báo đến ngân hàng phát hành để tạm ngừng sử dụng thẻ thì rủi ro xảy ra do thẻ bị người khác sử dụng ngân hàng phát hành thẻ không phải chịu trách nhiệm
Chủ thẻ không nhận được thẻ do ngân hàng phát hành thẻ gửi: Ngân hàng
phát hành thẻ đã gửi thẻ cho chủ thẻ qua đường bưu điện nhưng thẻ bị đánh cắp trên đường đi do vậy thẻ bị sử dụng mà chủ thẻ thực không biết Rủi ro này ngân hàng phát hành phải chịu
Tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng: Ngân hàng phát hành thẻ nhận được
thông báo thay đổi địa chỉ của chủ thẻ và được yêu cầu gửi thẻ mới về địa chỉ này Rủi ro xảy ra khi thẻ bị sử dụng trong khi chủ thẻ đích thực không biết Mọi tổn thất do các giao dịch phát sinh dựa trên thẻ này ngân hàng phát hành phải chịu
Thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng thẻ qua thư, điện thoại: Rủi ro xảy ra khi
đơn vị chấp nhận thẻ cung cấp hàng hóa dịch vụ theo yêu cầu qua thư điện thoại, internet, fax dựa trên các thông tin giả mạo như loại thẻ, số thẻ, tên chủ thẻ, ngày hiệu lực khi đó ngân hàng thanh toán sẽ từ chối thanh toán cho những giao dịch giả mạo
Trang 17Nhân viên đơn vị chấp nhận thẻ in nhiều hóa đơn thanh toán của một thẻ:
Khi thực hiện giao dịch nhân viên đơn vị chấp nhận thẻ cố tình in nhiều hóa đơn thanh toán nhưng chỉ giao một hóa đơn cho chủ thẻ ký Sau đó, nhân viên này giả mạo chữ ký của chủ thẻ và nộp những hóa đơn đó cho ngân hàng thanh toán để đòi tiền
Sao chép, tạo băng từ giả: Các tổ chức tội phạm lấy cắp thông tin trên băng
từ của thẻ thật được sử dụng tại các đơn vị chấp nhận thẻ và mã hóa tạo ra các thẻ giả Hình thức này khá tinh vi, rất khó phát hiện và gây nên những tổn thất lớn cho ngân hàng phát hành
Rủi ro tín dụng: Rủi ro xảy ra khi thẻ được sử dụng nhưng không thực hiện
thanh toán
Ngoài những rủi ro nêu trên còn có các rủi ro do lộ PIN, sử dụng thẻ đã báo mất, hệ thống máy móc thiết bị trục trặc, đơn vị chấp nhận thẻ vô tình hay cố tình chấp nhận thẻ giả, đơn vị chấp nhận thẻ thanh toán vượt hạn mức giao dịch mà không xin cấp phép, không cung cấp kịp thời danh sách Bulletin
2.7 Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động phát hành và thanh toán thẻ và kinh nghiệm của một số nước trong việc phát hành và thanh toán thẻ ngân hàng: 2.7.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát hành và thanh toán thẻ:
2.7.1.1 Nhân tố khách quan:
a Môi trường pháp lý:
Môi trường pháp lý được coi là yếu tố quan trọng quyết định sự hình thành
và phát triển của thẻ Nó qui định các chủ thể tham gia, lĩnh vực hoạt động và điều chỉnh các mối quan hệ pháp lý phát sinh Nếu môi trường pháp lý không đầy đủ và đồng bộ sẽ không đảm bảo được lợi ích của các bên tham gia, gây nên những khó khăn phiền hà thậm chí tạo kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng và không khuyến khích thị trường này phát triển Thanh toán thẻ ở Việt Nam vẫn là hoạt động còn nhiều mới
mẻ Một trong những nguyên nhân thanh toán thẻ ở Việt Nam chưa phát triển là văn bản pháp luật nước ta hiện nay chưa có qui định hạn chế việc thanh toán bằng tiền mặt nên chưa thay đổi được thói quen dùng tiền mặt của người dân
b Khách hàng:
Thẻ là một phương tiện thanh toán hiện đại, thể hiện trình độ văn minh, trình
độ phát triển của nền kinh tế Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thẻ là thói quen tiêu dùng của người dân ở một nước như Việt Nam nơi thanh toán bằng tiền mặt đã trở thành một thói quen và giao dịch qua ngân hàng vẫn còn khá mới mẻ thì để phát triển nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ trước hết phải bắt đầu từ việc thay đổi thói quen đó
Trang 18Thu nhập của người dân cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của thị trường thẻ Với khoản thu nhập hàng tháng ít ỏi người dân sẽ muốn thanh toán bằng tiền mặt hơn là sử dụng dịch vụ thanh toán hộ mà phải trả phí cho dịch vụ đó… Khi thu nhập tăng nhu cầu của người dân cũng tăng, họ đòi hỏi các dịch vụ đa dạng hơn, tiện lợi nhanh chóng hơn Nhu cầu mới phát sinh thúc đẩy các ngân hàng đưa ra nhiều tính năng mới hấp dẫn hơn Dịch vụ thanh toán thẻ sẽ có điều kiện phát huy những tiện ích của nó
Là sản phẩm của khoa học kĩ thuật hiện đại, sự phát triển của thẻ chịu ảnh hưởng của trình độ dân trí Trình độ dân trí ở đây được hiểu là khả năng tiếp cận và
sử dụng các dịch vụ về thẻ của người dân Khi trình độ của công chúng tăng thì khả năng tiếp cận và sử dụng thẻ cũng tăng
và cơ hội phát triển nhiều hơn thị trường độc quyền
d Sự phát triển của khoa học công nghệ:
Nghiệp vụ thẻ ứng dụng nhiều sự tiến bộ của khoa học công nghệ và chính những tiến bộ này đem lại nhiều tiện ích kỳ diệu Từ hình thức sơ khai ban đầu để thanh toán thay tiền mặt đến nay thẻ ngày càng phát triển thêm nhiều tính năng mới đem lại an toàn, thuận tiện, nhanh chóng, hiệu quả cho chủ thẻ Nó không chỉ giúp các ngân hàng tăng tính hấp dẫn, tính cạnh tranh của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của công chúng mà còn tối thiểu chi phí, giảm rủi ro…
Ngoài những nhân tố trên, nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ còn chịu ảnh hưởng bởi số lượng các đơn vị chấp nhận thẻ, điều kiện kinh tế như sự tăng trưởng của nền kinh tế, sự ổn định của tiền tệ, các điều kiện chính trị xã hội…
2.7.1.2 Nhân tố chủ quan:
Trước hết vì thẻ là phương tiện thanh toán ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học công nghệ và máy móc hiện đại nên ngân hàng cần một lượng vốn lớn để cung ứng
Trang 19thanh toán thẻ, ngân hàng phải có tiềm lực tài chính đủ mạnh Với những ngân hàng còn hạn chế về tài chính đây là một vấn đề nan giải Chi phí trang bị, vận hành, bảo dưỡng máy ATM, máy cà thẻ, các thiết bị đầu cuối… khá lớn trong khi
đó với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật các thiết bị này cũng dễ bị lạc hậu Qui mô
và phạm vi hoạt động của ngân hàng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động phát hành và thanh toán thẻ Một ngân hàng có qui mô lớn, phạm vi hoạt động rộng, có uy tín sẽ
dễ dàng đầu tư, phát triển sản phẩm mới, trang bị công nghệ tiên tiến tiếp cận với các sản phẩm của ngân hàng hiện đại Nhìn chung chỉ có hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng của những ngân hàng lớn mới đem lại lợi nhuận do đạt được hiệu ứng kinh
tế nhờ qui mô
Thẻ thanh toán được chuẩn hóa cao, ứng dụng nhiều kĩ thuật hiện đại Để thực hiện được nghiệp vụ thẻ, ngân hàng phải có đội ngũ nhân lực có khả năng tiếp cận vận hành được máy móc thiết bị, thực hiện được quy trình nghiệp vụ Thêm vào đó, để phát triển nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ đòi hỏi đội ngũ nhân lực có năng lực, không chỉ giỏi chuyên môn nghiệp vụ mà còn giỏi kĩ năng giao tiếp, Marketing… Sở dĩ như vậy vì thẻ là một sản phẩm dịch vụ và cũng như các sản phẩm dịch vụ khác sự phát triển của nó phụ thuộc vào mối quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng
2.7.2 Kinh nghiệm của một số nước trong việc phát hành và thanh toán thẻ ngân hàng và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
2.7.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trong việc phát hành và thanh toán thẻ ngân hàng:
Như một công cụ tài chính đa năng, thẻ ngân hàng có tầm quan trọng ngày càng tăng trong thị trường cạnh tranh hiện đại của các ngân hàng thương mại Tuy vậy, chi phí đầu tư cho thiết bị và nhân lực rất lớn, thời gian hoàn vốn dài khiến cho các ngân hàng không thể triển khai ngay ở tất cả các chi nhánh mà chỉ có thể mở rộng từ từ Vì thế ngân hàng cũng bị mất đi nhiều cơ hội kinh doanh Để giải quyết bài toán này ở các nước phát triển thiết bị kết nối thường do các công ty cung cấp
và ngân hàng chỉ cần thuê Điều này không chỉ giúp ngân hàng tiết kiệm chi phí mà còn đảm bảo sự phát triển an toàn, tính tương thích của thiết bị, tăng khả năng mở rộng thị trường Mặc dù chi phí đầu tư cho máy ATM là khá tốn kém nhưng nó vẫn được coi là kinh tế hơn so với việc thiết lập một chi nhánh cung cấp đầy đủ các dịch vụ Ngày nay một vài ngân hàng thường sử dụng chung máy ATM (những máy này được nối mạng với hàng trăm máy khác) nhằm mục đích giảm chi phí Bên cạnh đó, dịch vụ tài chính cá nhân ở những nước này luôn được đề cập đến như một lĩnh vực cơ bản để mở rộng các lĩnh vực kinh doanh khác và tiếp cận với khách hàng Ngành kinh doanh thẻ được coi là một phần quan trọng và cơ bản của kinh doanh ngân hàng mà không chỉ đơn thuần là phần thêm vào của kinh doanh tín
Trang 20dụng Bởi vậy số lượng máy ATM, thiết bị đầu cuối POS ở các nước phát triển chiếm tỉ lệ cao so với dân số đơn cử ở Nhật số dân/ATM = 1.399, số POS= 12.152,
ở Mĩ số dân/ATM = 2.700, số POS = 4.149, ở Bỉ số dân/ATM = 10.638, số POS =
353 Chính sự thuận lợi của công cụ thanh toán thẻ khiến cho ngày càng nhiều người sử dụng thay cho Séc Ở những nước này tiền gửi thanh toán không được trả lãi mà ngược lại khách hàng thanh toán qua ngân hàng phải trả phí thanh toán Phí này tùy theo mỗi ngân hàng mà có thang bảng phí khác nhau Những dịch vụ thanh toán sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại phải trả phí cao hơn nhưng khách hàng vẫn ưa chuộng vì tính ưu việt của nó là nhanh, an toàn, thuận lợi Khi tính phí
sử dụng cho khách hàng, một số ngân hàng thường căn cứ vào bảng giá có điều kiện nếu số dư tiền gửi khách hàng giảm xuống dưới mức nhất định thì sẽ tính phí cho mỗi lần giao dịch với máy ATM, ngược lại có thể sử dụng miễn phí Theo kinh nghiệm của những nước này, việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trước hết cần phát triển hệ thống tài khoản và các dịch vụ liên quan đến tài khoản đó Chẳng hạn ở Cộng hòa Liên bang Đức từ năm 1960 trở lại đây việc trả lương qua tài khoản cá nhân đã làm cho thanh toán không dùng tiền mặt phát triển nhanh Ở những nước này số lượng tài khoản tiền gửi thanh toán của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân cũng như số dư của tài khoản đó rất lớn Một điều khá quan trọng là thẻ phải đảm bảo lợi ích cho cả chủ thẻ, doanh nghiệp và ngân hàng ở một số nước phát triển chủ tài khoản được phép thấu chi tài khoản tiền gửi không kì hạn, đối với
cá nhân tối đa bằng 3 tháng lương, với doanh nghiệp tối đa bằng hạn mức tín dụng Các ngân hàng đưa ra các mức lãi suất khác biệt dựa trên những khoản mua bằng thẻ tín dụng để khuyến khích khách hàng có những tín dụng thấu chi tốt Chính sách lãi suất này phải linh hoạt để đảm bảo lợi nhuận và thị phần của ngân hàng Những người sở hữu thẻ tín dụng có thể vay trả dần hoặc trả một lần Nếu trả dần
họ phải chịu mức phí tài chính hàng tháng Các công ty phát hành thẻ tín dụng nhận
ra rằng những người sử dụng thẻ tín dụng trả dần mang lại cho ngân hàng nhiều lợi nhuận hơn so với người trả một lần Tuy vậy việc giám sát thẻ tín dụng là vô cùng quan trọng vì có một lượng lớn thẻ đã bị đánh cắp hoặc bị sử dụng gian lận Bên cạnh đó, chính sách Marketing cũng đóng vai trò quan trọng và phải có tiêu điểm tập trung nhiều vào khuếch trương thị trường và dịch vụ Cán bộ Marketing thường chiếm 20% trong cơ cấu tổ chức của ngân hàng Theo chức năng bộ phận này được chia thành dịch vụ kinh doanh, dịch vụ khách hàng, quảng cáo, tư vấn… Họ phải kết hợp giữa tiêu chuẩn mang tính khuôn mẫu với các dịch vụ cụ thể để cung cấp đến khách hàng gói sản phẩm tốt nhất với chất lượng phục vụ cao Để kích thích tiêu dùng thẻ, ngân hàng các nước này triển khai một hệ thống cộng dồn tính điểm Theo đó ngân hàng phát hành cung cấp cho khách hàng một số điểm ban đầu tùy theo thông tin về thu nhập, chi tiêu của khách… Số điểm này sẽ được điều chỉnh theo số lần tiêu dùng, lượng tiêu dùng, số lần vi phạm nguyên tắc trung thực…
Trang 21Ngân hàng cũng có thể mở rộng hay thu hẹp giao dịch, hạn mức tín dụng, sự ưu đãi đối xử theo số điểm này Phương thức này sẽ khuyến khích những khách hàng ở thứ hạng cao tăng tiêu dùng, tăng sự trung thành của khách với ngân hàng, tăng thu nhập của ngân hàng Đây là phương thức quản lý rủi ro năng động, tăng thế chủ động cho ngân hàng Ngoài ra tổ chức quản lý cũng đóng vai trò quan trọng trong
sự phát triển của thị trường thẻ ở Mỹ nơi hệ thống thẻ phát triển rất mạnh mẽ, việc quản lý được chia thành các mô đun Đó là hệ thống tài chính, hệ thống mở tài khoản, hệ thống quản lý giao dịch, hệ thống nhận hoá đơn, hệ thống dịch vụ khách hàng, hệ thống quản lý gian lận, hệ thống kho dữ liệu, hệ thống xác minh khách hàng… và các mô đun phụ Các mô đun này có tính độc lập tương đối vì giữa chúng vẫn có sự nối kết phức tạp Đặc điểm quan trọng của hệ thống là tổ chức vận hành thuận lợi và được quản lý chặt chẽ Một trong số những mô hình tổ chức gần đây cho phép các ngân hàng thông tin và phục vụ lẫn nhau được gọi là hệ thống mạng lưới trong đó cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình lưu thông vốn và thông tin tài chính được một nhóm các ngân hàng cùng nhau sử dụng Với hệ thống ATM ngày nay khách hàng sử dụng thẻ tín dụng và thẻ nợ do một ngân hàng trong mạng
lưới phát hành có thể tiến hành các giao dịch tài chính tại bất cứ máy ATM nào thuộc cùng mạng lưới bất kể máy đó thuộc sở hữu của ngân hàng nào Một số máy còn cho phép ngân hàng tiếp cận với vài mạng lưới ATM khác nhau do đó khách hàng có thể liên hệ với các hệ thống đa chức năng Tuy vậy hành vi gian lận trên máy ATM đang trở thành một trong những vấn đề tội phạm ngân hàng khó giải quyết Thêm vào đó nếu chỉ có một máy ATM mà lại không hoạt động thì khách hàng sẽ không hài lòng và sẽ tìm kiếm ngân hàng khác để giao dịch Đây là lý do tại sao ngân hàng cần lắp đặt nhiều hệ thống ATM tại cùng một địa điểm và các thiết bị bảo vệ đi kèm, thường xuyên thay thế những máy cũ Việc tuyên truyền gây tâm lý thích hình thức thanh toán hiện đại đồng thời để người dân có ý thức bảo vệ thiết bị ngân hàng là rất cần thiết Ở các nước công nghiệp phát triển vấn đề này được thực hiện rất tốt, không có tình trạng phá phách máy ATM Nhìn lại kinh nghiệm của các nước Tây Âu, vấn đề phát triển đại trà dịch vụ ngân hàng trong dân
cư đã được thực hiện từ thập niên 70 khoảng sau hơn 20 năm kết thúc chiến tranh Thế giới thứ II Những nước này đã đạt những tiền đề quan trọng về thu nhập bình quân đầu người, về luật pháp, công nghệ, mật độ ngân hàng bởi vậy việc xóa bỏ tập quán thích dùng tiền mặt của dân cư được thực hiện tương đối dễ dàng nhanh chóng
So với những nước đã phát triển, thị trường thẻ ở những nước đang phát triển kém sôi động hơn Nếu chỉ xét giữa các nước phương Đông và các nước
phương Tây đã thấy sự khác biệt cơ bản trong tâm lý tiêu dùng Nói chung người phương Đông thích tiêu tiền mặt hơn dùng thẻ Mô hình thu nhập – tiết kiệm – tiêu dùng vẫn được ưa thích hơn và vì vậy ở các nước này thẻ ngân hàng chỉ thể hiện
Trang 22một vai trò tiền mặt thứ yếu Ngành kinh doanh thẻ Trung Quốc bắt đầu phát triển nhanh chóng từ năm 1993 khi nước này tiến hành dự án thẻ vàng đa dạng hóa các loại thẻ, cải thiện cấu trúc thẻ, tăng số lượng các ĐVCNT và lĩnh vực phục vụ được
mở rộng ra toàn nền kinh tế Tuy nhiên cũng như một số nước khác trong khu vực
nó cũng gặp nhiều trở ngại đó là thói quen tiêu dùng của người dân, chi phí đầu tư lớn nhưng dàn trải, quản lý không nghiêm, pháp luật chưa hoàn chỉnh… Những trở ngại này khiến cho thẻ vẫn chưa thích ứng với nền kinh tế, chưa phát huy đầy đủ các tiện ích vốn có của nó Đến nay, ngành kinh doanh thẻ ngân hàng Trung Quốc
đã được xử lý bằng máy tính một cách căn bản song hầu hết các thiết bị được trang
bị để phù hợp với việc tổ chức lao động thủ công dẫn đến tốc độ xử lý thấp, nhiều sai sót Máy móc lại chưa đồng bộ dẫn đến chưa thể phô bày tất cả các tiện ích của thẻ Bên cạnh đó, do quảng cáo xúc tiến không đầy đủ hầu hết chủ thẻ chỉ rút tiền ở quầy hoặc máy ATM mà ít khi tiêu dùng vì vậy lợi nhuận của ngân hàng giảm Do
không có những nghiên cứu có hệ thống về sự ưu tiên trong tiêu dùng của khách hàng dẫn đến chất lượng tiêu dùng thẻ không được cải thiện Sự phát triển của thị
trường thẻ ngân hàng Trung Quốc chỉ ra rằng thẻ cần đáp ứng nhu cầu và thu hút khách hàng bằng cách thêm vào các phương thức giao dịch mới, đa dạng hóa chủng loại hoặc cung cấp dịch vụ gia tăng Sản phẩm Pass Card của Merchants Bank (Trung Quốc) là một ví dụ Nó cung cấp dịch vụ rút tiền tự động, tín dụng tài chính, tiêu dùng, chuyển khoản, công bố số lượng giao dịch cổ phiếu, mua hàng trên mạng, thẻ đơn đa tài khoản… những thứ có thể làm cho thẻ có lợi thế cạnh tranh
tương đối Sự phát triển của Merchants Bank là do nó luôn đặt mục tiêu tập trung vào khuếch trương thị trường và dịch vụ, đem lại sản phẩm hỗn hợp Thực tế của thị trường thẻ Trung Quốc cho thấy sự hợp tác giữa các ngân hàng không chỉ đem lại nhiều thuận lợi cho khách hàng mà còn tối ưu hóa nguồn lực của ngân hàng
Ngoài ra, để đảm bảo tính pháp lý cho cạnh tranh và sự phát triển của thị trường này cần hoàn thiện hệ thống luật pháp, bảo đảm tính cân xứng về thông tin… Năm
1999 với sự hợp tác của 15 ngân hàng thương mại Thượng Hải, Văn phòng Thông tin Thượng Hải và Ngân hàng Trung Ương Trung Quốc, công ty Bao thầu tín dụng
đã thành lập với chức năng chính là thu thập cung cấp các thông tin bao thầu tín dụng cá nhân và doanh nghiệp, hạn chế các lỗ hổng trong hệ thống tín dụng, tạo lập
cơ sở để thiết lập hoàn thiện hệ thống dữ liệu tín dụng cá nhân, thành lập hệ thống định giá tín dụng cá nhân, hệ thống phòng chống rủi ro… Một yếu tố quan trọng giúp tăng tiêu dùng thẻ là thu nhập của người dân Trong những năm gần đây khi thu nhập của người dân Trung Quốc tăng thì mức tiêu dùng bình quân đầu người và
số dư tiết kiệm cũng tăng
Thực tế cho thấy khách hàng thường có nhu cầu sử dụng một nhóm dịch vụ của ngân hàng có quan hệ với nhau như một giải pháp tài chính tổng thể Tại
khoản tiết kiệm cũng có thể rút ở máy ATM Ngoài ra ngân hàng cũng
Trang 23cần phối hợp với các tổ chức, doanh nghiệp để thực hiện trả lương qua ngân hàng, thanh toán phí dịch vụ… Việc này không chỉ giúp tiết kiệm chi phí, đa dạng hóa các kênh phân phối, tạo thói quen thanh toán qua ngân hàng mà còn đem lại nguồn thu đáng kể cho ngân hàng cung ứng dịch vụ Kinh nghiệm của các nước cho thấy việc phân phối sản phẩm bảo hiểm qua hệ thống ngân hàng là một bước phát triển tất yếu Các nước Châu Á như Hồng Kông, Singapo… kênh phân phối qua ngân hàng mang lại 20 đến 25% doanh thu phí bảo hiểm
2.7.2.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
Từ thực tế phát triển thị trường thẻ các nước, Việt Nam có thể rút ra nhiều bài học kinh nghiệm cho mình Cụ thể về giải pháp kĩ thuật cần đa dạng các loại thẻ, cải thiện cấu trúc thẻ, tăng tính an toàn của thẻ cũng như những tiện ích mới Việc cải tiến này phải dựa trên nhu cầu của chủ thẻ và xu hướng của đối thủ cạnh tranh góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, không chỉ đáp ứng tốt nhu cầu hiện tại của khách hàng mà còn gợi mở nhu cầu mới Trong quá trình cung cấp dịch vụ thẻ tới công chúng có thể áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt để khuyến khích chủ thẻ tiêu dùng Các ngân hàng cũng có thể sử dụng biện pháp tính điểm và
có những ưu đãi cụ thể với khách hàng tiêu dùng nhiều, thanh toán đúng hạn, khách hàng truyền thống… Ngoài ra chính sách Marketing cần được quan tâm một cách thỏa đáng theo định hướng khách hàng Ngân hàng cần có chương trình quảng cáo khuếch trương sản phẩm rộng rãi giúp khách hàng hiểu về ngân hàng cũng như tiện ích của việc sử dụng dịch vụ ngân hàng, góp phần thay đổi thói quen tiêu dùng của người dân Bên cạnh đó việc nghiên cứu một cách có hệ thống về sự ưu tiên trong tiêu dùng cũng như những thay đổi trong nhu cầu của công chúng là rất cần thiết
Về mặt tổ chức ngân hàng nên chia ra thành các bộ phận theo chức năng nhiệm vụ
cụ thể, có phân định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của mỗi thành viên Để tránh hoạt động phân tán, tăng hiệu quả hoạt động, các ngân hàng cần tăng cường hợp tác với nhau trong cả lĩnh vực cung cấp dịch vụ cũng như quản trị rủi ro Ngoài
ra ngân hàng cũng cần phối hợp với các tổ chức, đơn vị để thanh toán dịch vụ, phí, trả lương qua ngân hàng Để đảm bảo tính đồng bộ của thiết bị, tránh mua phải thiết
bị lạc hậu, các ngân hàng cần phối hợp thành lập nên một đầu mối cung cấp thông tin, thiết bị (có thể bán hoặc cho thuê thiết bị) Mạng lưới máy móc thiết bị phải được đầu tư, bố trí hợp lý đảm bảo thanh toán nhanh, an toàn, thuận tiện cho khách hàng
Ngoài ra hệ thống pháp luật cũng cần được hoàn thiện vừa để bảo vệ quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường vừa thúc đẩy thị trường thanh toán không dùng tiền mặt phát triển Về dài hạn nhà nước cần có chính sách lương thỏa đáng khích thích tiêu dùng của người dân và kinh tế phát triển
Trang 24Tóm lại, thẻ là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt có vai trò ngày càng quan trọng không chỉ với những chủ thể tham gia thanh toán mà còn có ý nghĩa kinh tế xã hội đối với một đất nước nói riêng và toàn cầu nói chung Việc phát triển thanh toán thẻ là xu hướng tất yếu thể hiện trình độ văn minh của quốc gia đó Thanh toán thẻ tiềm ẩn nhiều rủi ro song cũng mang lại không ít lợi ích, vấn
đề đặt ra là phải phát huy tối đa các lợi ích, quản lý và hạn chế các rủi ro để sản phẩm này thực sự trở thành một phần không thể thiếu được cho một xã hội văn minh, hiện đại
2.8 Quy trình phát hành và thanh toán thẻ:
2.8.1 Các chủ thể chính tham gia hoạt động kinh doanh thẻ:
- Tổ chức thẻ quốc tế: là tổ chức đứng ra liên kết với các thành viên, đặt ra các quy định bắt buộc đối với các thành viên phải áp dụng và tuân theo thống nhất thành một hệ thống toàn cầu Bất cứ ngân hàng nào hiện nay hoạt động trong lĩnh vực thẻ thanh toán quốc tế đều phải gia nhập vào ít nhất là một tổ chức thẻ quốc tế
Tổ chức thẻ được tổ chức dưới hai hình thức: hiệp hội và ngân hàng (hay công ty)
Hình thức hiệp hội: do một nhóm ngân hàng liên kết với nhau thành lập ra
Hiệp hội soạn thảo các quy định riêng về cách tổ chức, cấp phép, bù trừ thanh toán
áp dụng cho tất cả các thành viên của hiệp hội, đồng thời tổ chức về vấn đề cạnh tranh trên thị trường và vấn đề pháp lý Hiệp hội không trực tiếp phát hành thẻ mà giao việc này cho các ngân hàng thành viên và thu phí thường niên Điển hình của loại hình này là các tổ chức Visa và Master
Hình thức ngân hàng (hay công ty): Do một hoặc hai ngân hàng hay công ty
đứng ra tổ chức và độc quyền phát hành loại thẻ của họ Họ trực tiếp phát hành thẻ
và đứng ra quản lý chủ thẻ.Việc mở rộng thị trường được thực hiện bằng cách lập các chi nhánh hay văn phòng đại diện phát hành thẻ, do vậy phạm vi hoạt động thường nhỏ hơn so với hình thức hiệp hộ JCB và American Express là điển hình của tổ chức này
- Ngân hàng phát hành thẻ: là thành viên chính thức của tổ chức thẻ và được phép phát hành thẻ Ngân hàng này có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý hồ sơ xin cấp thẻ, thiết kế các tiêu chuẩn kỹ thuật, mật mã ký hiệu,… cho các loại thẻ để đảm bảo
an toàn trong quá trình sử dụng thẻ, sau đó phát hành thẻ cho khách hàng, mở và quản lý tài khoản thẻ, chịu trách nhiệm việc thanh toán số tiền mà khách hàng trả cho người bán bằng thẻ
- Ngân hàng thanh toán thẻ: là thành viên chính thức hoặc thành viên liên kết của tổ chức thẻ hoặc các ngân hàng được các ngân hàng phát hành thẻ uỷ quyền thực hiện nghiệp vụ thanh toán thẻ Ngân hàng thanh toán ký hợp đồng trực tiếp với
cơ sở chấp nhận thẻ để tiếp nhận và xử lý các giao dịch thẻ tại cơ sở chấp nhận thẻ,
Trang 25cung ứng các dịch vụ hỗ trợ, hướng dẫn cho cơ sở chấp nhận thẻ Một ngân hàng có thể vừa đóng vai trò ngân hàng thanh toán vừa đóng vai trò ngân hàng phát hành
- Ngân hàng đại lý thanh toán thẻ: là ngân hàng được ngân hàng thanh toán thẻ tín dụng uỷ quyền thực hiện một số dịch vụ thanh toán thẻ tín dụng thông qua hợp đồng ngân hàng đại lý Ngân hàng đại lý có nhiệm vụ trả tiền cho cơ sở chấp nhận thẻ khi nhận được biên lai thanh toán, trả tiền mặt theo yêu cầu của chủ sở hữu thẻ, nhận chuyển tiếp số tiền thanh toán bằng thẻ đến bên bán Ngân hàng đại
lý là ngân hàng trực tiếp ký hợp đồng với các cơ sở chấp nhận thẻ để tiếp nhận và
xử lý các giao dịch về thẻ tại cơ sở chấp nhận thẻ, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho
- Người chịu trách nhiệm thanh toán thẻ: là chủ thẻ chính (đối với thẻ cá nhân) hoặc tổ chức công ty xin cấp thẻ (đối với thẻ công ty)
- Đơn vị chấp nhận thẻ: là đơn vị bán hàng hoá dịch vụ hoặc cung ứng tiền mặt, có ký hợp đồng với ngân hàng thanh toán thẻ để chấp nhận thanh toán thẻ như: cửa hàng, khách sạn, nhà hàng… Các đơn vị này được ngân hàng thanh toán thẻ trang bị máy móc thiết bị kỹ thuật để tiếp nhận thẻ thanh toán bằng tiền mặt và sử dụng máy đọc thẻ do ngân hàng đại lý trang bị để kiểm tra thẻ và biên lai thanh toán Thông thường cơ sở chấp nhận thẻ phải trả một khoản phí về việc sử dụng tiện ích này
Trang 262.8.2 Các bước phát hành và thanh toán thẻ
(6)
(1) Khách hàng nộp hồ sơ yêu cầu phát hành thẻ bao gồm đơn yêu cầu phát hành thẻ, các giấy tờ tùy thân như chứng minh thư (hộ chiếu), tình hình tài chính thu nhập nếu là khách hàng cá nhân hoặc giấy phép thành lập, giấy phép đăng ký kinh doanh, báo cáo tài chính, chữ ký của giám đốc và kế toán trưởng nếu là khách hàng công ty
NHPH thẩm định hồ sơ, phân loại khách hàng, tùy theo nhu cầu cũng như năng lực tài chính của khách hàng mà quyết định cấp loại thẻ nào, hạn mức bao nhiêu Những thông tin này cũng là cơ sở để NHPH yêu cầu khách hàng muốn phát hành thẻ tín dụng phải ký quỹ, cầm cố thế chấp nhằm hạn chế rủi ro cho ngân hàng hay tín chấp Sau đó NHPH mã hóa thông tin, ấn định số PIN, mã số khách hàng
(2) NHPH thẻ giao thẻ và số PIN cho khách hàng Sau đó NHPH phải thông báo, kết nối thẻ này với Tổ chức thẻ quốc tế (đối với thẻ quốc tế) và với ĐVCNT Việc này được thực hiện nhanh chóng qua hệ thống kết nối trực tuyến
(3) Chủ thẻ dùng thẻ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt (4) ĐVCNT kiểm tra xác định tính chân thực của thẻ, xin cấp phép với những giao dịch vượt quá hạn mức ĐVCNT lập hóa đơn thanh toán và yêu cầu khách hàng ký Hóa đơn được lập thành 4 liên rồi giao dịch vụ cho chủ thẻ kèm 1 liên hóa đơn, ĐVCNT giữ 1 liên
(5) Sau đó ĐVCNT lập giấy đòi tiền gửi kèm hoá đơn đến NHTT
(6) NHTT kiểm tra hóa đơn rồi thanh toán tạm ứng cho ĐVCNT Nếu ĐVCNT và NHTT không có quan hệ đại lý với nhau thì qui trình (5), (6) phải thực hiện thông qua ngân hàng đại lý
(7) NHTT tổng hợp dữ liệu, gửi giấy báo nợ tới hiệp hội thẻ
Trang 27(8) Hiệp hội thẻ báo có cho NHTT
(9) Hiệp hội thẻ báo nợ cho NHPH
(10) NHPH báo có cho hiệp hội thẻ
(11) Hàng tháng ngay sau ngày sao kê, NHPH sẽ gửi bảng sao kê tới chủ thẻ
để làm căn cứ trả nợ Sao kê là bảng kê chi tiết các khoản chi tiêu và trả nợ của chủ thẻ cùng lãi và phí phát sinh trong một chu kì sử dụng thẻ
(12) Định kỳ khách hàng thanh toán sao kê cho ngân hàng
2.9 Những phương hướng đẩy mạnh phát triển sản phẩm thẻ
Cùng với tiến trình hội nhập là sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường Ngân hàng nói chung cũng như thị trường thẻ nói riêng Đặc biệt với sự tham gia của các Ngân hàng nước ngoài với thế mạnh về vốn, công nghệ và kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh thẻ, đòi hỏi mỗi Ngân hàng trong nước phải có
nỗ lực rất lớn, chuẩn bị hành trang mới có thể giữ vững được mảng thị trường hiện
có và tiếp tục phát triển trong tương lai
Sự cạnh tranh gay gắt thể hiện trên rất nhiều mặt như phí sử dụng dịch vụ, những tiện ích gia tăng trên thẻ, công tác chăm sóc khách hàng của các Ngân hàng nước ngoài Ngoài ra các Ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong công tác phát triển mạng lưới ATM, POS
Dự đoán được tình hình hoạt động của Thị trường thẻ trong thời gian tới, để sản phẩm thẻ cạnh tranh hiệu quả và phát triển vững mạnh, các Ngân hàng đề ra những phương hướng hành động thời gian tới như sau:
2.9.1 Phát huy tích cực vai trò liên kết, hợp tác giữa các thành viên để cùng phát triển
Phương hướng này chú trọng vai trò chủ đạo của Hiệp hội thẻ trong việc
thúc đẩy sự liên kết, hợp tác giữa các Ngân hàng là thành viên của Hội Cụ thể, các Ngân hàng thành viên phải đẩy nhanh tiến độ kết nối hệ thống thanh toán thẻ Hiện nay, các Ngân hàng thương mại quốc doanh đã có thể kết nối thanh toán thẻ với nhau qua hệ thống thanh toán hiện đại được chuẩn hoá của Công ty Cổ phần Chuyển mạch tài chính BanknetVN Tuy nhiên, việc kết nối chưa thực sự mở rộng cho các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Vì vậy, vai trò chủ đạo của Hiệp hội thẻ cần phát huy tích cực trong những năm tới nhằm gắn kết các thành viên với nhau cùng phát triển các sản phẩm, dịch vụ thẻ
Để phương hướng liên kết, hợp tác phát huy hiệu quả tích cực, các Ngân hàng cần chú trọng phát triển mạng lưới đơn vị chấp nhận thẻ Mặc dù các đơn vị chấp nhận thẻ có tăng về số lượng nhưng xét trên quy mô toàn quốc vẫn còn rất
Trang 28nhỏ Các đơn vị chấp nhận thẻ là mắc xít liên kết thanh toán thẻ giữa các thành viên, tăng trưởng thị phần thẻ tỷ lệ thuận với số lượng đơn vị chấp nhận thẻ
Tuy nhiên việc gia tăng về số lượng thì chưa đủ, phương hướng đề ra cũng chú trọng chất lượng thanh toán thẻ bằng việc hiện đại hóa hệ thống quản lý và phòng ngừa rủi ro, hạn chế tối đa sự cố thường xảy ra cho chủ thẻ và các hành thức gian lận trong thanh toán
Ngoài ra, các Ngân hàng phát hành thẻ tiếp tục thống nhất thu phí phát hành
và thu phí chiết khấu ĐVCNT nhằm hạn chế cạnh tranh không lành mạnh giữa Ngân hàng thương mại Nhà nước với Ngân hàng thương mại Cổ phần và Ngân hàng nước ngoài
2.9.2 Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho các Ngân hàng thành viên
Tiếp tục tăng cường tổ chức các khoá đào tạo, về nội dung: Quản lý rủi ro,
phòng ngừa giả mạo; Kỹ năng xử lý tra soát, khiếu nại Giới thiệu các sản phẩm và dịch vụ mới thẻ mới của các nước
Kết hợp với các cuộc hội thảo chuyên đề mời các chuyên gia Thẻ của nước ngoài và trong nước có kinh nghiệm Hội thẻ cũng chú trọng đến các kiến nghị của
NH tổ chức các đoàn thực tập dài ngày tại các NH nước ngoài cho các cán bộ của các NH thành viên
Phương hướng này được đề ra nhằm cũng cố chất lượng dịch vụ thẻ cho các Ngân hàng Đội ngủ nhân viên chuyên nghiệp, am hiểu về thẻ sẽ tạo niềm tin vững chắc cho chủ thẻ, góp phần thu hút khách hàng và đủ khả năng cạnh tranh với Ngân hàng nước ngoài
2.9.3 Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền để quảng bá hoạt động thẻ
Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền để quảng bá hoạt động thẻ đến
với mọi tầng lớp dân cư trong xã hội để từng bước xã hội hóa dịch vụ Thẻ, đồng thời nâng cao sự hiểu biết của công chúng về quản lý, bảo mật thẻ, sử dụng thẻ an toàn Hội thẻ sẽ kết hợp với các chương trình sự kiện lớn của đất nước hoặc các ngày lễ lớn thực hiện các chương trình tuyền truyền quảng bá hình ảnh thẻ, thúc đẩy thanh toán thẻ trên các cơ quan thông tấn, báo chí hoặc truyền hình Bên cạnh
đó nâng cao chất lượng, cải tiến hình thức ấn phẩm “Thị trường thẻ VN” của Hội thẻ, để xứng đáng là kênh thông tin hợp pháp, chính thức thể hiện quá trình phát triển Thị trường thẻ VN
2.9.4 Nâng cao tiện ích và sự an toàn, bảo mật khi sử dụng thẻ
Thực hiện đồng bộ đề án sử dụng Thẻ chip điện tử thay thế Thẻ từ để giảm thiểu đến mức thấp nhất các hành vi gian lận về Thẻ cũng như hạn chế tối đa hiện
Trang 29tượng làm giả Thẻ Đồng thời nâng cao hơn nữa các tiện ích của Thẻ ATM như thanh toán tại Đơn vị chấp nhận Thẻ, thanh toán tại máy ATM, bán các Thẻ cào trả trước, thanh toán hóa đơn điện thoại trả sau,…
Nhanh chóng lắp đặt Camera tại các máy ATM để theo dõi được các giao dịch của khách hàng, tránh tình trạng chủ Thẻ bị kẻ gian lợi dụng lấy tiền trong tài khoản và nghiên cứu ứng dụng công nghệ hiện đại đối với việc quản lý rủi ro Thẻ trong điều kiện hội nhập quốc tế mở rộng, tội phạm Thẻ gia tăng
Trang 30KẾT LUẬN
Để phát triển hoạt động thanh toán thẻ đòi hỏi các NHTM nói chung và Agribank nói riêng phải có một công nghệ thanh toán hiện đại, an toàn và nhanh chóng Vì vậy đòi hỏi vốn đầu tư khá lớn và cần có sự đầu tư đồng bộ mà không phải NH nào cũng dễ dàng thực hiện được Chính vì vậy mà việc liên kết của các NHTM nhỏ với những NH đã có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực thẻ là điều kiện rất tốt để phát triển hệ thống thanh toán thẻ ở VN, các NH sẽ tận dụng được công nghệ và hệ thống ATM sẵn có, việc phát triển hoạt động ATM sẽ nhanh chóng và giảm thiểu được chi phí cho các NH được lợi từ hệ thống khách hàng đối tác, ngược lại NH đối tác sẽ tận dụng được công nghệ và hệ thống máy ATM sẵn có
Sự liên kết giữa các NH có một ý nghĩa hết sức to lớn và là mốc quan trọng trong lịch sử phát triển thị trường thẻ VN bởi lẽ nó tạo ra một cộng đồng đông đảo các NH tham gia hoạt động thanh toán, phát hành thẻ, mở rộng đối tượng khách hàng sử dụng thẻ cũng như mạng lưới đơn vị chấp nhận thẻ, tạo nền tảng xây dựng chuẩn mực chung về kỹ thuật để từ đó tạo ra tiện ích có giá trị ngày một cao cho người tiêu dùng, tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả kinh doanh của NH
Chương I đã khái quát về các loại thẻ, những tiện ích, rủi ro của việc phát hành và thanh toán thẻ cùng những phương hướng phát triển sản phẩm thẻ nói chung tại thị trường Việt Nam Trên cơ sở đó, đề tài phân tích thực trạng phát hành
và thanh toán thẻ tại Agribank Việt Nam và một số ngân hàng khác đề từ đó có
những giải pháp phù hợp khắc phục điểm yếu, phát huy điểm mạnh trong các
chương tiếp theo
Trang 31CH ƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH THẺ CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM
2.1 GIỚI THIỆU NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM - AGRIBANK (VBARD)
2.1.1 Sự hình thành và phát triển:
Năm 1988: Ngân Hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Chính Phủ) về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh, trong đó
có Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp hình thành trên cơ sở tiếp nhận từ Ngân hàng Nhà nước: tất cả các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước huyện, Phòng Tín dụng Nông nghiệp, quỹ tiết kiệm tại các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố Ngân hàng Nông nghiệp TW được hình thành trên cơ sở tiếp nhận Vụ Tín dụng Nông nghiệp Ngân hàng Nhà nước và một số cán bộ của Vụ Tín dụng Thương nghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng, Vụ kế tóan và một số đơn vị
Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng (nay là Thủ tướng Chính
phủ) ký quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thay thế Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam Ngân hàng Nông nghiệp là Ngân hàng thương mại đa năng, họat động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn,
là một pháp nhân, hạch tóan kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu tránh nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật
Ngày 01/03/1991 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số
18/NH-QĐ thành lập Văn phòng đại diện Ngân hàng Nông nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh và ngày 24/06/1994, Thống Đốc có văn bản số 439/CV-TCCB chấp thuận cho Ngân hàng Nông nghiệp được thành lập văn phòng miền Trung tại Thành phố Quy Nhơn – tỉnh Bình Định
Trang 32Ngày 22/12/1992, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số 603/NH-QĐ về việc thành lập chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp các tỉnh thành phố trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp gồm có 3 Sở giao dịch (Sở giao dịch I tại Hà Nội và Sở giao dịch II tại Văn phòng đại diện khu vực Miền Nam và Sở giao dịch III tại Văn phòng Miền Trung) và 43 chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh, thành phố Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp quận, huyện, thị xã
mưu và cấp trực tiếp kinh doanh Đây thực sự là bước ngoặt về tổ chức bộ máy của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam và cũng là nền tảng cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam sau này Ngày 07/03/1994 theo Quyết định số 90/TTg của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam hoạt động theo mô hình Tổng công ty Nhà
nước với cơ cấu tổ chức bao gồm Hội đồng Quản trị, Tổng giám đốc, bộ máy giúp việc bao gồm: Bộ máy kiểm soát nội bộ, các đơn vị thành viên bao gồm các đơn vị hạch toán phụ thuộc, hạch tóan độc lập, đơn vị sự nghiệp, phân biệt rõ chức năng quản lý và chức năng điều hành, Chủ tịch Hội đồng quản trị không kiêm Tổng giám đốc
Trang 33Trên cơ sở những kết quả tốt đẹp của Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo,Ngân hàng Nông nghiệp tiếp tục đề xuất kiến nghị lập Ngân hàng phục vụ người nghèo, được Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước ủng hộ, dư luận rất hoan nghênh Ngày 31/08/1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 525/TTg thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo Đây là nềm tự hào to lớn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong sự nghiệp phát triển kinh
tế và xóa đói giảm nghèo
Ngày 15/11/1996, được Thủ tướng ủy quyền, Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam ký Quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoạt động theo mô hình Tổng công ty 90, là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng và chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Với tên gọi mới, ngoài chức năng của một Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam được xác định thêm nhiệm
vụ đầu tư phát triển đối với khu vực nông thôn thông qua việc mở rộng đầu tư vốn trung dài hạn để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy hải sản góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Trong năm 1998, NHNo tập trung nâng cao chất lượng tín dụng, xử lý nợ tồn động cũ và quản lý chặt chẽ hơn công tác thẩm định, xét duyệt các khoản cho vay mới, tiến hành các biện pháp phù hợp để giảm thấp nợ quá hạn
Năm 1999, Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm và tập trung đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực thi hành, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng Đẩy mạnh huy động vốn trong và ngoài nước chú trọng tiếp nhận thực hiện tốt các dự
án nước ngoài uỷ thác, cho vay các chương trình dự án lớn có hiệu quả đồng thời
mở rộng cho vay hộ sản xuất hợp tác sản xuất được coi là như(ng biện pháp chú trọng của Ngân hàng Nông nghiệp trong kế hoạch tăng trưởng
Tháng 2 năm 1999, Chủ tịch Hội đồng quản trị ban hành Quyết định số 234/HĐQT-08 về quy định quản lý điều hành hoạt động kinh doanh ngoại hối trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam Tập trung thanh toán quốc tế về Sở giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam (Sở giao dịch được thành lập thay thế Sở giao dịch kinh doanh hối đoái, Sở giao dịch là đầu mối vốn cả nội tệ và ngoại tệ của toàn hệ thống) Sở giao dịch II không làm đầu mối thanh toán quốc tế Tài khoản Nostro
Trang 34tập trung về Sở giao dịch Tất cả các chi nhánh đều nối mạng SWIFT trực tiếp với Sở giao dịch Các chi nhánh tỉnh thành phố đều thực hiện nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại
Năm 2000 cùng với việc mở rộng kinh doanh trên thị trường trong nước, NHNo tích cực mở rộng quan hệ quốc tế và kinh doanh đối ngoại nhận được sự tài trợ của các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế như WB, ADB,IFAD, ngân hàng tái thiết Đức …… đổi mới công nghệ, đào tạo nhân viên., tiếp nhận và triển khai có hiệu quả 50 dự án nước ngoài với tổng số vốn trên 1300 triệu USD chủ yếu đầu tư vào khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn Ngoài hệ thống thanh toán quốc tế qua SWIFT, NHNo đã thiết lập đựơc hệ thống thanh tóan chuyển tiền điện tử, máy rút tiền tự động ATM trong toàn hệ thống., tiến hành đổi mới toàn diện mô hình tổ chức, mạng lưới kinh doanh theo hướng tinh giảm trung gian, tăng năng lực cho các đơn vị trực tiếp kinh doanh., đổi mới công tác quản trị điều hành, quy trình nghiệp vụ theo hướng đơn giản hóa các thủ tục tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng Tập trung mọi nguồn lực đào tạo cán bộ nhân viên theo hướng chuyên môn hóa., tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, hiện đại hóa công nghệ
Năm 2001 là năm đầu tiên NHNo triển khai thực hiện đề án tái cơ cấu các nội dung chính sách là cơ cấu lại nợ, lành mạnh hóa tài chính, nâng cao chất
lượng tài sản có, chuyển đổi hệ thống kế tóan hiện hành theo chuẩn mực quốc tế, đổi mới sắp xếp lại bộ máy tổ chức theo mô hình ngân hàng thương mại hiện đại tăng cường đào tạo và đào tạo lại cán bộ Tập trung đổi mới công nghệ ngân hàng, xây dựng hệ thống thông tin quản lý hiện đại
Bên cạnh mở rộng kinh doanh trên thị trường trong nước, năm 2002, NHNo tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế Đến cuối năm 2002 NHNo
là thành viên của APRACA, CICA và ABA, trong đó Tổng giám đốc NHNo là thành viên chính Ban điều hành của APRACA va CICA
Năm 2003 Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT Việt Nam đã đẩy mạnh tiến
độ thực hiện Đề án tái cơ cấu nhằm đưa hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp
& PTNT VN phát triển với quy mô lớn chất lượng cao Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong thời kỳ đổi mới, đóng góp tích cực và rất có hiệu quả vào
sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước, sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp – nông thôn Chủ tịch nước CHXHCNVN đã ký quyết định số 226/2003/QD/CTN ngày 07/05/2003 phong tăng danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới cho Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt nam
Trang 35Tính đến năm 2004, sau 4 năm triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu giai đoạn 2001-2010, Ngân hàng Nông nghiệp đã đạt được những kết quả đáng khích
lệ Tình hình tài chính đã được lành mạnh hơn qua việc cơ cấu lại nợ và tăng vốn điều lệ, xử lý trên 90% nợ tồn động Mô hình tổ chức từng bước được hòan thiện nhằm tăng cường năng lực quản trị điều hành Bộ máy lãnh đạo từ trung ương tới chi nhánh được củng cố, hoàn thiện, quyền tự chủ trong kinh doanh được mở rộng hơn
Đến cuối năm 2005, vốn tự có của Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT VN đạt 7.702 tỷ VND, tổng tài sản có trên 190 ngàn tỷ, hơn 2000 chi nhánh trên tóan quốc và gần 30 vạn cán bộ nhân viên (chiếm 40% tổng số CBNV trong toàn
hệ thống ngân hàng Việt Nam), ứng dụng công nghệ hiện đại, cung cấp những sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hoàn hảo …… đến nay, tổng số dự án nước ngoài
mà NHNo & PTNT VN tiếp nhận và triển khai là 68 dự án với tổng số vốn 2.486 triệu USD, trong đó giải ngân qua NHNo là 1.5 tỷ USD Hiện nay NHNo
& PTNT VN đã có quan hệ đại lý với 932 ngân hàng đại lý tại 112 quốc gia và vùng lãnh thổ, là thành viên của nhiều tổ chức, hiệp hội tín dụng có uy tín lớn Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam được khẳng định là ngân hàng chủ đạo, chủ lực trong thị trường tài chính nông thôn, đồng thời là ngân hàng thương mại đa năng, giữ vị trí hàng đầu trong hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam
2.2 THỰC TRẠNG PHÁT HÀNH THẺ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM:
2.2.1.Tổng quan thị trường thẻ Việt Nam:
Hiện nay, sản phẩm thẻ thanh toán gồm hai loại thông dụng là thẻ tín dụng
và thẻ ghi nợ Đối với sản phẩm thẻ tín dụng, có nhiều rủi ro cho các ngân hàng và các tổ chức phát hành thẻ bởi việc khách hàng dùng tiền vay từ ngân hàng để chi tiêu Chính vì lý do đó nên để các ngân hàng chấp nhận phát hành thẻ tín dụng thì
có nhiều yêu cầu đối với các chủ thẻ như ký quỹ, thế chấp, phải có uy tín đối với ngân hàng …Vì vậy nên thẻ tín dụng thật sự không phổ biết đối với mọi tầng lớp
người dân
Bên cạnh đó, đồng thời với việc đa dạng hóa sản phẩm để cạnh tranh, thì độ
an toàn khi phát hành thẻ ghi nợ vì số tiền khách hàng tiêu dùng được trừ trực tiếp vào tài khoản hiện có của khách hàng, đã khiến cho các ngân hàng nước ta tập trung vào khai thác thị trường đầy tiềm năng này
Trang 36Hình 1.2 Thị phần máy ATM của các ngân hàng – 2007
Nguồn: Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT VN
Trên thị trường thẻ ghi nợ hiện nay, có các sản phẩm thẻ của các ngân hàng
như Connect 24 (VCB), E-card (ACB), thẻ ghi nợ nội địa (ngân hàng Đông Á), thẻ ghi nợ quốc tế Access (ANZ)…Hiện nay, Agribank đang là ngân hàngdd?ng th? hai trong thị trường thẻ nội địa nói chung và thẻ ghi nợ nói riêng (98% thẻ nội địa
là thẻ ghi nợ, trừ ACB có phát hành thẻ tín dụng nội địa)
2.2.1.1 Sự ra đời và phát triển thị trường thẻ ở Việt Nam:
Trên thế giới doanh số thanh toán thẻ trong một năm (cả doanh số dịch vụ và rút tiền mặt) lên đến hơn 3.000 tỷ USD, số thẻ phát hành khoảng hơn 2 tỷ thẻ với hơn 36 tỷ giao dịch và khoảng 25 triệu đơn vị chấp nhận thẻ Trong khi đó ở Việt Nam hoạt động kinh doanh thẻ vẫn đang còn là một lĩnh vực mới Thực chất thẻ là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt Việt Nam hiện nay vẫn là một thị trường thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt Các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt như thẻ tín dụng, séc, chuyển tiền qua ngân hàng… đã được triển khai song chưa xâm nhập vào cuộc sống Hệ thống thanh toán của ngân hàng, đặc biệt là
hệ thống thanh toán liên ngân hàng điện tử chưa phát triển mạnh Đây là những khó khăn trong việc phát triển một thị trường các sản phẩm thanh toán phi tiền mặt Tuy nhiên, nó cũng cho thấy cơ hội và tiềm năng to lớn cho các ngân hàng biết khai thác tốt các sản phẩm dịch vụ để cung cấp cho khách hàng
Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường đã thúc đẩy mạnh mẽ các loại hình dịch vụ mới trong mọi hoạt động ngân hàng, đáp ứng yêu cầu về tài chính ngân hàng cho mọi thành phần xã hội Kinh nghiệm cho thấy kinh tế xã hội ngày càng phát triển, tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt, trong đó có thanh toán thẻ, sẽ ngày càng tăng thêm
Hoạt động kinh doanh thẻ xuất hiện ở Việt Nam lần đầu tiên là vào năm
1990, bắt đầu từ việc ký hợp đồng làm đại lý chi trả thẻ Visa của Ngân hàng Ngoại thương với ngân hàng Pháp BFCE Mục đích chủ yếu của việc liên kết này là nhằm phục vụ lượng khách nước ngoài đang đổ xô vào Việt Nam Tiếp theo
Trang 37Vietcombank, Sài Gòn Công thương ngân hàng cũng liên kết với trung tâm thẻ Visa để làm đại lý thanh toán thẻ tín dụng Visa cho các công ty nước ngoài Trong thời gian đầu, do đây là hình thức thanh toán mới xuất hiện ở Việt Nam nên doanh
số thanh toán thấp, hệ thống cơ sở chấp nhận còn ít và các ngân hàng Việt Nam lúc này chưa phải là thành viên của bất kỳ một tổ chức thẻ quốc tế nào
Từ 1992, sau khi hai Pháp lệnh Ngân hàng có hiệu lực, điều kiện pháp lý cho hoạt động của các ngân hàng đã thông thoáng, mặt khác chính sách mở cửa tạo
cơ hội đầu tư cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước đang được thực hiện một cách khẩn trương Chính điều này đã khiến cho Việt Nam trở thành một thị trường hấp dẫn Lượng khách du lịch quốc tế tăng vọt trong những năm gần đây Nhu cầu về thanh toán không dùng tiền mặt cũng tăng lên tuy chưa phải là đại chúng nhưng đó
là những dấu hiệu để cho các nhà ngân hàng và các tổ chức quốc tế nhận định về tiềm năng phát triển thẻ thanh toán trong tương lai gần ở Việt Nam Nắm bắt được tình hình đó Master Card, JCB, Dinners Club, Amex theo chân Visa Card vào Việt Nam thông qua các đại lý là những ngân hàng thương mại như: Vietcombank, Sài Gòn Công thương ngân hàng, Eximbank, Ngân hàng liên doanh Indovina, chi nhánh ngân hàng ANZ (Úc và New Zealand), Ngân hàng Á Châu… Các ngân hàng đại lý thanh toán lần lượt mở rộng các điểm thanh toán tại các nhà hàng, khách sạn, sân bay… đó chính là mạng lưới các cơ sở chấp nhận thẻ Tính cho đến năm 1994 thị trường thẻ ở Việt Nam đã phát triển được một thời gian và đã tạo được tiền đề vững chắc cho việc phát triển thị trường thẻ trong tương lai Chỉ tính riêng Ngân hàng Ngoại thương đã có khoảng 500 cơ sở tiếp nhận thẻ, trong đó tại thành phố
Hồ Chí Minh đã có đến 300 điểm và tại Hà Nội có 140 điểm Tại các cơ sở có doanh số lớn đã lắp đặt máy xử lý cấp phép tự động nối mạng trực tiếp với Trung tâm thẻ quốc tế hoạt động 24/24 giờ Thị trường thẻ tính đến năm 1994 đã có một
bộ mặt mới
H 2.2 : S ố liệu thanh toán thẻ Visa, Amex, Master,
JCB c ủa một số NH qua các năm
Indovina
Trang 38Ngân hàng Ngoại thương chấp nhận thanh toán trực tiếp 4 loại thẻ: Visa, Amex, Master Card, JCB, chiếm thị phần lớn nhất trong cả nước (khoảng 75%)
Ngân hàng Sài Gòn Công thương: Chấp nhận thanh toán Master Card chiếm khoảng 15% thị phần này tại thành phố Hồ Chí Minh
Ngân hàng liên doanh Indovina: thanh toán thẻ tín dụng Dinners Club Chi nhánh ngân hàng ANZ: thanh toán thẻ tín dụng Visa tại Hà Nội
Hàng loạt các ngân hàng khác như: á Châu, Nam Đô… làm dịch vụ ứng tiền mặt thông qua Vietcombank
Đến 2007 đã có khá nhiều ngân hàng trong nước, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chú ý đến thị trường thẻ ở Việt Nam Đến tháng 10/2007 có 5 ngân hàng
thương mại Việt Nam được kết nạp làm thành viên chính thức của tổ chức thẻ quốc
tế Master Card là: Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT Việt Nam (Agribank), Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), ngân hàng thương mại cổ phần á Châu (ACB), ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu (Eximbank) và ngân hàng Fist Vina Bank
Trước đây vào năm 1996 có hai ngân hàng trở thành thành viên chính thức của tổ chức thẻ quốc tế Visa là VCB và ACB Tiếp đó hai ngân hàng này với tư cách là thành viên chính thức của cả Master Card và Visa đã bắt đầu triển khai dịch
vụ thẻ quốc tế và thanh toán trực tuyến (On-line) với các tổ chức thẻ quốc tế Từ đó ngày càng có nhiều ngân hàng tham gia vào thị trường thẻ, ngoài ra các ngân hàng
thương mại Việt Nam còn có các chi nhánh nước ngoài như UOB, Hong Kong Bank, ANZ Bank…
Từ những năm 2000 Hiệp hội các ngân hàng thanh toán thẻ tín dụng được thành lập Đây là bộ phận cấu thành của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam bao gồm 4 sáng lập viên là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Eximbank, First Vina Bank
Trang 39(nay là Chohung Bank) và ACB, đến nay cĩ thêm Sài Gịn Cơng thương và ANZ Bank Hiệp hội đã ấn định mức phí tối thiểu cho các ngân hàng thương mại cùng áp dụng đối với các cơ sở chấp nhận thẻ tại Việt Nam, làm cho thị trường thẻ Việt Nam đi vào cuộc cạnh tranh lành mạnh Đây là một hoạt động được tổ chức thẻ quốc tế đánh giá rất cao
Trong những năm qua doanh số thanh tốn thẻ tín dụng tại Việt Nam đã đạt gần 600 triệu USD/năm Doanh số sử dụng thẻ tín dụng quốc tế do các ngân hàng
thương mại phát hành khoảng 800 tỷ VND một năm Con số này cịn rất khiêm tốn
so với các nước trong khu vực và cũng chỉ chiếm tỷ trọng khơng đáng kể trong tổng
số doanh số thanh tốn khơng sử dụng tiền mặt Số lượng thẻ phát hành và đối
tượng sử dụng thẻ của các ngân hàng thương mại trong thời gian qua cĩ gia tăng (khoảng 200% đến 300% một năm) nhưng so với tiềm năng cịn hạn chế Tỷ trọng doanh số sử dụng thẻ ở nước ngồi cĩ xu hướng giảm dần nhưng vẫn cịn ở mức cao chiếm khoảng 70% tổng doanh số sử dụng thẻ Doanh số sử dụng thẻ trong
nước chỉ chiếm cĩ 30% tổng doanh số Tuy vậy đây cũng một tỷ lệ tương đối khả quan so với những năm đầu chỉ cĩ vỏn vẹn 10%
Bảng 4.2 :Tình hình hoạt động thẻ của một số Ngân hàng thương mại
(Tính đến 01/01/2008)
STT TÊN NGÂN HÀNG SỐ LƯỢNG MÁY ATM
TOÀN QUỐC TP HCM TP HÀ NỘI
01
Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam
(Vietcombank)
890 253 189
02
Ngân hàng Nông
nghiệp & PTNT Việt
Nam (Agribank)
682 115 76
03
Ngân hàng Đầu tư và
phát triển Việt Nam
(BIDV)
621 138 140
04
Ngân hàng Công
thương Việt Nam
(Incombank)
492 115 89
Trang 4005
Ngân hàng TMCP
Đông Á (Easternbank)
Ngân hàng TMCP Kỹ
Thương Việt Nam
(Techcombank)
08 Ngân hàng TMCP
Ngoài quốc doanh 118 7 83
09 Ngân hàng TMCP Á
Châu (ACB) 102 64 8
10 Ngân hàng Quân Đội
TỔNG CỘNG 3.924 1.043 771
Thời gian đầu, ở nước ta chỉ cĩ khoảng 30 đơn vị cung ứng hàng hố dịch
vụ chấp nhận thanh tốn thẻ tín dụng gồm một số khách sạn, nhà hàng lớn chuyên phục vụ cho khách nước ngồi Với sự cố gắng của các ngân hàng thương mại đến nay mạng lưới cơ sở chấp nhận thẻ đã lên tới trên 5.500 điểm nhưng chủ yếu vẫn
là các khách sạn, nhà hàng và các cửa hàng cĩ khả năng tiếp cận với các đối
tượng là khách du lịch, doanh nhân nước ngồi vào Việt Nam Mạng lưới cơ sở chấp nhận thẻ chưa được đa dạng và phong phú để phục vụ cho nhu cầu của người tiêu dùng Tuy nhiên chất lượng dịch vụ ở các cơ sở chấp nhận thẻ cũng đã tăng lên đáng kể nhờ cĩ sự tập trung đầu tư phát triển cơng nghệ, tự động hố quy trình chấp nhận và thanh tốn thẻ tín dụng Khách hàng thay vì trước kia phải chờ rất lâu (khoảng 10 phút đến 15 phút) để thực hiện một giao dịch thì nay chỉ cần mất
10 giây đến 15 giây là đã thực hiện xong một giao dịch Thời gian thanh tốn được rút ngắn một cách đáng kể do trước kia các cơ sở chấp nhận thẻ sử dụng máy thanh tốn thẻ tín dụng thủ cơng (máy cà tay- Inprinter) cịn hiện nay đã cĩ 35% số lượng cơ sở chấp nhận thẻ được trang bị máy thanh tốn thẻ tín dụng tự động (máy CAT hoặc máy EDC) và số lượng giao dịch xử lý thẻ tự động đã chiếm gần 70% Với những tiện ích của việc sử dụng thẻ, hơn nữa thời gian thanh