1. Lý do chọn đề tài Vốn kinh doanh là điều kiện thiết yếu cho quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, là cơ sở trong việc hình thành và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Do đó, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là vấn đề luôn vấn đề quan tâm hàng đầu đối với DN. Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế hiện nay, DN đang phải chịu sức ép cạnh tranh ngày càng lớn từ các DN nước ngoài. Để tồn tại và phát triển trên thị trường, DN cần khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là nguồn vốn để đáp ứng tốt nhất nhu cầu sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, sử dụng vốn kinh doanh một cách hiệu quả đang là vấn đề cấp thiết đối với các DN. Do đó, để có thể cạnh tranh được trên thị trường cũng như khai thác tốt các cơ hội từ môi trường kinh doanh, thì ngay từ đầu DN phải có vốn kinh doanh và sử dụng số vốn kinh doanh có hiệu quả nhất. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh sẽ làm cho dòng vốn của DN quay vòng nhanh hơn, vốn được bảo toàn và tạo ra nhiều giá trị thặng dư cho DN, trên cơ sở đó nguồn vốn của DN sẽ ngày càng lớn mạnh để thực hiện tái sản xuất cũng như mở rộng quy mô. Do đó việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn không chỉ đảm bảo an toàn về tài chính cho DN mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của một DN. Thực tế cho thấy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một trong những biện pháp để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm và dịch vụ, nâng cao lợi nhuận và khả năng cạnh tranh của DN trên thị trường. Đối với Công ty cổ phần Vật liệu Xây dựng Lào Cai trong những năm gần đây đã đạt được những kết quả quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, tỷ suất lợi nhuận VLĐ và VCĐ của công ty, cũng như khả năng thanh toán, vòng quay hàng tồn kho vẫn còn hạn chế, công tác quản trị vốn trên nhiều phương diện, khả năng phối hợp giữa tình hình huy động và sử dụng vốn còn nhiều bất cập. Để kinh doanh có hiệu quả trong môi trường ngày càng cạnh tranh đòi hỏi cán bộ quản lý của công ty phải xác định chính xác nhu cầu vốn, có kế hoạch huy động vốn kịp thời, phân phối nguồn vốn một cách phù hợp, đồng thời thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, đặc biệt trong tình hình hiện
Trang 1TRẦN TIẾN NAM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT LIỆU
XÂY DỰNG LAO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2TRẦN TIẾN NAM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT LIỆU
XÂY DỰNG LÀO CAI
NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 8.34.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Võ Thy Trang
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn được thực hiện nghiêm túc và mọi số liệu trong này được trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
Trần Tiến Nam
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu, toàn thể các thầy, cô giáo trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình theo học tại trường và tạo điều kiện thuận lợi nhất trong thời gian học tập và nghiên cứu nhằm hoàn thành chương trình Cao học
Với tình cảm trân trọng nhất, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành, sâu sắc tới
TS Võ Thy Trang đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan nơi tôi công tác và nghiên cứu luận văn, cùng toàn thể các đồng nghiệp, gia đình bạn bè đã tạo điều kiện, cung cấp tài liệu cho tôi hoàn thành chương trình học của mình và góp phần thực hiện tốt hơn cho công tác thực tế sau này
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
Trần Tiến Nam
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của luận văn 3
5 Bố cục của luận văn 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 4
1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp 4
1.1.1 Cơ sở lý luận về vốn kinh doanh của doanh nghiệp 4
1.1.2 Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp 16
1.2 Cơ sở thực tiễn về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh 27
1.2.1 Kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại một số DN 28
1.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng Lào Cai 31
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 34
2.2 Phương pháp nghên cứu 34
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 34
2.2.2 Phương pháp tổng hợp số liệu 34
2.2.3 Phương pháp phân tích 35
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 39
2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của DN 39
2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp 40
2.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp 44
Trang 6CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT LIỆU XÂY DỰNG LÀO CAI 46
3.1 Tổng quan về CTCP Vật liệu Xây dựng Lào Cai 46
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 46
3.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty 47
3.1.3 Tình hình lao động của công ty 50
3.1.4 Khái quát kết quả kinh doanh của công ty 52
3.2 Thực trạng vốn và cơ cấu vốn kinh doanh tại CTCP Vật liệu XD Lào Cai trong những năm gần đây 53
3.2.1 Cơ cấu tài sản của công ty 53
3.2.2 Cơ cấu nguồn vốn của công ty 57
3.2.3 Tình hình phân bổ vốn kinh doanh 62
3.3 Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của CTCP Vật liệu XD Lào Cai 64
3.3.1 Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty 64
3.3.2 Hiệu quả sử dụng vốn cố định của Công ty 66
3.3.3 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty 70
3.4 Đánh giá chung hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của CTCP Vật liệu xây dựng Lào Cai 88
3.4.1 Những kết quả đạt được 88
3.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 90
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT LIỆU XÂY DỰNG LÀO CAI 95
4.1 Định hướng phát triển sản xuất kinh doanh của CTCP Vật liệu Xây dựng Lào Cai trong giai đoạn 2020 - 2030 95
4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại CTCP Vật liệu Xây dựng Lào Cai 96
4.2.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tổng vốn kinh doanh 96
4.2.2 Nhóm các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ 100
4.2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ 103
4.3 Kiến nghị với các cơ quan, đơn vị 104
Trang 74.3.1 Kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước 104
4.3.2 Kiến nghị với các tổ chức tín dụng 105
KẾT LUẬN 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Phụ lục 01 CƠ CẤU TÀI SẢN GIAI ĐOẠN 2017 – 2019 109
Phụ lục 02 CƠ CẤU NGUỒN VỐN GIAI ĐOẠN 2017 – 2019 110
Trang 8MỤC CHỮ VIẾT TẮT Tiếng Việt
Từ viết tắt Viết đầy đủ
BCTC Báo cáo tài chính
SXKD Sản xuất kinh doanh
TCDN Tài chính doanh nghiệp
Từ viết tắt Viết đầy đủ tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
BEP Basic Earning Power Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài
sản
ROA Return on Tatal Assets Tỷ suất LNST trên tổng tài sản
Trang 9ROS Return on Sales Tỷ suất LNST trên doanh thu
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ
Sơ đồ 3.1: Mô hình tổ chức của Công ty cổ phần Vật liệu xây dựng Lào Cai 48
Sơ đồ 3.2: Tỷ lệ đầu tư vào TSDH của công ty giai đoạn 2017 – 2019 67
Sơ đồ 3.3: Kết cấu VLĐ của công ty qua 3 năm 2017 – 2019 71
Sơ đồ 3.4: Tốc độ tăng DTT và tốc độ tăng VLĐ bình quân của công ty 73
Sơ đồ 3.5: Mức độ biến động của tỷ suất lợi nhuận VLĐ, tốc độ tăng LNST và tốc độ tăng VLĐ bình quân của công ty 75
Sơ đồ 3.6: Kỳ thu tiền và khả năng thanh toán nhanh của công ty 84
Sơ đồ 3.7: Vòng quay hàng tồn kho bình quân của công ty 86
Bảng biểu Bảng 3.1: Thống kê lực lượng lao động của công ty 50
Bảng 3.2: Bảng kết quả kinh doanh của công ty 52
Bảng 3.3: Bảng phân tích cơ cấu tài sản giai đoạn 2017 – 2019 55
Bảng 3.4: Bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn giai đoạn 2017 – 2019 60
Bảng 3.5: Tóm tắt tình hình tài sản và nguồn vốn của công ty 61
Bảng 3.6: Cơ cấu phân bổ tài sản-nguồn vốn của CTCP Vật liệu XD Lào Cai: 63
Bảng 3.7: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tổng VKD 64
Bảng 3.8: Bảng tính ROE của Công ty cổ phần Vật liệu xây dựng Lào Cai 65
Bảng 3.9: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng VCĐ của công ty 69
Bảng 3.10: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng VLĐ của công ty 73
Bảng 3.11: Các nhân tố ảnh hưởng đến số lần luân chuyển VLĐ (L) 77
Bảng 3.12: Các nhân tố ảnh hưởng đến kỳ luân chuyển VLĐ (K) 77
Bảng 3.13: Các chỉ tiêu phản ánh tình hình VLĐ của công ty 78
Bảng 3.14: Khả năng thanh toán của công ty 79
Trang 10đó, để có thể cạnh tranh được trên thị trường cũng như khai thác tốt các cơ hội từ môi trường kinh doanh, thì ngay từ đầu DN phải có vốn kinh doanh và sử dụng số vốn kinh doanh có hiệu quả nhất
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh sẽ làm cho dòng vốn của DN quay vòng nhanh hơn, vốn được bảo toàn và tạo ra nhiều giá trị thặng dư cho DN, trên cơ sở đó nguồn vốn của DN sẽ ngày càng lớn mạnh để thực hiện tái sản xuất cũng như mở rộng quy mô Do đó việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn không chỉ đảm bảo an toàn về tài chính cho DN mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của một DN Thực tế cho thấy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một trong những biện pháp để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm và dịch vụ, nâng cao lợi nhuận và khả năng cạnh tranh của DN trên thị trường
Đối với Công ty cổ phần Vật liệu Xây dựng Lào Cai trong những năm gần đây
đã đạt được những kết quả quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, tỷ suất lợi nhuận VLĐ và VCĐ của công ty, cũng như khả năng thanh toán, vòng quay hàng tồn kho vẫn còn hạn chế, công tác quản trị vốn trên nhiều phương diện, khả năng phối hợp giữa tình hình huy động và sử dụng vốn còn nhiều bất cập
Để kinh doanh có hiệu quả trong môi trường ngày càng cạnh tranh đòi hỏi cán bộ quản lý của công ty phải xác định chính xác nhu cầu vốn, có kế hoạch huy động vốn kịp thời, phân phối nguồn vốn một cách phù hợp, đồng thời thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, đặc biệt trong tình hình hiện
Trang 11nay khi nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, thị trường xây dựng và kinh doanh bất động sản khá ảm đạm sẽ là thách thức rất lớn cho doanh nghiệp kinh doanh vật liệu xây dựng Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và tầm quan trọng của công tác nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như tìm hiểu thực trạng công tác này tại công ty cho nên tác
giả chọn chủ đề: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần
Vật liệu Xây dựng Lào Cai” để đề tài nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổ phần Vật liệu Xây dựng Lào Cai, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong DN kinh doanh vật liệu xây dựng
Trang 124 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của luận văn
Luận văn cung cấp những cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, cung cấp các thông tin cần thiết phục vụ tốt cho việc quản lý và sử dụng vốn kinh doanh tại các DN nói chung và DN đá xây dựng nói riêng
Phân tích, đánh giá thực trạng sử dụng vốn kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh gồm hiệu quả sử dụng vốn cố định và hiệu quả sử dụng vốn lưu định của Công ty cổ phần Vật liệu Xây dựng Lào Cai, chỉ ra những thành công, nguyên nhân của hạn chế trong việc huy động và sử dụng vốn kinh doanh, khả năng thanh toán, đánh giá vòng quay hàng tồn kho của công ty trong thời gian qua
Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ cho Công
ty cổ phần Vật liệu Xây dựng Lào Cai, có thể là tài liệu tham khảo cho một số DN cùng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh
5 Bố cục của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 4 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng
vốn kinh doanh tại công ty cổ phần
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần Vật liệu Xây dựng Lào Cai
Chương 4 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty
cổ phần Vật liệu Xây dựng Lào Cai
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1 Cơ sở lý luận về vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm về vốn kinh doanh
Vốn là điều kiện tiên quyết để tiến hành sản xuất kinh doanh; hình thành các yếu tố đầu vào của sản xuất, tiến hành công tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm VKD cần thiết trong mọi khâu của quá trình sản xuất và giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục, mở rộng sản xuất và phát triển doanh nghiệp Vì vậy, về mặt lý luận vốn kinh doanh được hiểu như thế nào?
Khái niệm về vốn rất phong phú và đa dạng, các quan niệm này được đưa ra dựa trên tư duy logic, quan điểm, mục tiêu và lĩnh vực nghiên cứu của các tác giả hoặc nhóm các nhà khoa học Sau đây là một số quan niệm về vốn được đưa ra dựa trên cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau, trong những thời kỳ lịch sử khác nhau
Trên giác độ của các nhà nghiên cứu kinh tế học thì quan niệm về vốn có phần trìu tượng hơn Theo Mác, vốn hay “tư bản là giá trị đem lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động làm thuê, là một đầu vào của quá trình sản xuất” Nhà tư bản ứng tiền ra mua tư liệu sản xuất và sức lao động, tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất Mác cho rằng tư bản gồm tư bản bất biến và tư bản khả biến Trong đó, tư bản bất biến được ứng trước để mua tư liệu sản xuất gồm máy móc, thiết bị, nhà xưởng… giá trị của tư liệu sản xuất được lao động của người công nhân chuyển nguyên vẹn vào giá trị của sản phẩm và lượng giá trị của nó không đổi Còn tư bản khả biến là bộ phận dùng để mua sức lao động, trong quá trình sản xuất, sức lao động của người công nhân sẽ tạo ra một giá trị mới, giá trị đó không chỉ bù đắp được sức lao động đã
bỏ ra mà còn tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản Giá trị mới mà người lao động tạo ra vượt quá chi phí tiền lương, hay nói cách khác tư bản khả biến tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản, bộ phận tư bản này có sự thay đổi về lượng trong quá trình sản xuất, tăng lên một lượng bằng giá trị thặng dư Quan niệm về vốn của Mác được
Trang 14xem xét trên giác độ về mặt giá trị, có tính khái quát cao và có ý nghĩa khoa học sâu sắc
Theo Paul A Samuelson, nhà kinh tế học người Mỹ của trường phái tân cổ điển cho rằng vốn là một trong ba yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (ba yếu tố bao gồm đất đai, lao động và vốn) “Vốn được quan niệm là các hàng hóa được sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp, có thể bao gồm máy móc, trang thiết bị, nhà xưởng…” Như vậy, nhà kinh tế học này đã đưa ra khái niệm về vốn dựa trên giác độ về mặt hiện vật
Nhà kinh tế học hiện đại, David Begg, cũng quan niệm “vốn là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất” Tuy nhiên, ông đưa ra quan điểm rộng hơn và cho rằng “ Vốn bao gồm vốn hiện vật và vốn tài chính Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hóa đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hóa khác, vốn tài chính là tiền và các giấy
tờ có giá của doanh nghiệp, được sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”
Với mục tiêu phục vụ cho công tác quản trị tài chính doanh nghiệp và dựa trên cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu về quản trị tài chính doanh nghiệp hiện đại, “vốn được cho rằng có liên quan tới các nguồn lực tài chính phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra giá trị tăng thêm” Tuy nhiên, vẫn có những khái niệm cụ thể khác nhau phụ thuộc vào cách đánh giá và tiếp cận của từng nhóm tác giả
Ở nước ta, cũng có một số quan điểm về vốn được đưa ra trong thời gian gần đây Theo tác giả Nguyễn Văn Phúc cho rằng “Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời” Như vậy Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tư liệu sản xuất, được doanh nghiệp sử dụng một cách hợp lý
và có kế hoạch vào hoạt động kinh doanh nhằm đạt mục tiêu lợi nhuận”
Theo quan điểm của Nguyễn Đình Kiệm của Học viện Tài chính cho rằng “vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
Trang 15nghiệp” Theo đó, có thể hiểu vốn kinh doanh chính là biểu hiện bằng tiền của toàn
bộ giá trị các tài sản mà doanh nghiệp đã đầu tư và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận (Trần Đình Tuấn (2008) Vốn được đưa ra trong nghiên cứu được hiểu: Vốn là biểu hiện bằng tiền của các yếu tố đầu vào (nhà xưởng, máy móc thiết bị, vật tư hàng hóa, nguồn nhân lực, tiền bạc, uy tín của doanh nghiệp thị trường…) được huy động và sử dụng cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời
1.1.1.2 Đặc trưng của vốn kinh doanh
Có thể nhận thấy rằng với những cách tiếp cận, mục tiêu nghiên cứu khác nhau, trong những điều kiện lịch sử khác nhau thì có những khái niệm khác nhau về VKD Song, nhìn chung các quan niệm khác nhau đó đều có những điểm chung nhất
và cho rằng VKD của doanh nghiệp có những đặc trưng sau:
Một là, vốn kinh doanh đại diện cho một lượng tài sản ứng trước và biểu hiện bằng giá trị tiền tệ nhất định để dùng vào quá trình sản xuất kinh doanh
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có những tài sản hữu hình như nhà cửa, máy móc thiết bị, vật kiến trúc… và những tài sản vô hình như lợi thế thương mại, quyền phát minh, sáng chế… những tài sản này biểu hiện bằng tiền gọi là vốn kinh doanh Vốn kinh doanh của doanh nghiệp luôn vận động từ hình thái này sang hình thái khác và dịch chuyển giá trị của nó vào giá trị sản phẩm Tùy theo từng loại vốn kinh doanh mà việc dịch chuyển giá trị một lần hay nhiều lần Đối với vốn cố định thì giá trị của nó được dịch chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu
kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định (TSCĐ) hết thời gian sử dụng thông qua tính khấu hao TSCĐ Đối với vốn lưu động thì giá trị của nó được chuyển một lần vào giá trị sản phẩm và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất Vì lẽ đó, quản trị vốn kinh doanh cần phải xem xét cả về mặt giá trị
và hiện vật
Hai là, vốn kinh doanh phải tích tụ và tập trung với một lượng nhất định mới
có thể phát huy được tác dụng trong đầu tư vào sản xuất kinh doanh
Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc điểm khác nhau nên mức độ tích tụ và tập trung vốn nhiều hay ít cũng khác nhau Song, để thực hiện được việc sản xuất kinh doanh thì cần phải có một lượng vốn đủ lớn nhất định mới có thể phát huy được tác
Trang 16dụng Nếu không có một lượng vốn đủ lớn thì doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất kinh doanh được
Ba là, vốn kinh doanh gắn liền với chủ sở hữu nhất định
Vốn kinh doanh có thể xem như loại hàng hóa đặc biệt, vừa có giá trị vừa có giá trị sử dụng; quyền sở hữu và quyền sử dụng có thể tách rời nhau Do đó, người cần vốn kinh doanh có thể mua quyền sử dụng vốn kinh doanh trên thị trường vốn hoặc thị trường tài chính và phải trả cho người nhượng bán quyền sử dụng đó số tiền chi phí sử dụng vốn theo thỏa thuận
Bốn là, khi sử dụng vốn kinh doanh vào mục tiêu nào đó, đều phải tính đến giá trị và hiệu quả của nó
Mục đích cuối cùng của người sử dụng vốn kinh doanh là lợi nhuận Trong quá trình này, vốn kinh doanh thường xuyên vận động từ hình thái này sang hình thái khác Sau một vòng tuần hoàn, doanh nghiệp sẽ thu về với giá trị vốn kinh doanh lớn hơn, nghĩa là vốn đã sinh lời
Từ những phân tích trên, vốn kinh doanh có thể được hiểu một cách khái quát
là giá trị được đo lường bằng tiền của những yếu tố được ứng trước dùng để hình thành nên các tư liệu sản xuất, trả công cho người lao động, tiến hành hoạt động sản xuất và hoàn thành sản phẩm, dịch vụ với mục đích thu về lợi ích lớn hơn số vốn bỏ
ra Nói cách khác, vốn kinh doanh là giá trị của toàn bộ tài sản doanh nghiệp đã đầu
tư và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thu được lợi ích trong tương lai
1.1.1.3 Phân loại vốn kinh doanh
Trong quá trình SXKD của DN, VKD luôn vận động không ngừng và tồn tại dưới các hình thái khác nhau Mỗi loại vốn khác nhau có tính chất và đặc điểm khác nhau nên cũng cần thiết phải có phương thức quản trị khác nhau Vì vậy, để thuận tiện cho quá trình quản lý và sử dụng VKD, cần phải nghiên cứu VKD trên những góc độ khác nhau Dưới đây nghiên cứu một số tiêu thức phân loại VKD
Phân loại vốn kinh doanh theo kết quả của hoạt động đầu tư
Theo tiêu thức này, VKD của doanh nghiệp được chia thành VKD đầu tư vào tài sản lưu động (TSLĐ), VKD đầu tư vào tài sản cố định (TSCĐ), VKD đầu tư vào tài sản tài chính (TSTC) của DN
Trang 17VKD đầu tư vào TSLĐ là số vốn DN đầu tư để hình thành các TSLĐ phục vụ cho hoạt động SXKD của DN Thuộc loại này, gồm các loại vốn bằng tiền, vốn vật
tư, hàng hóa, vốn sản phẩm dở dang, các khoản phải thu, các loại TSLĐ khác của DN như chi phí trả trước…
VKD đầu tư vào TSCĐ là số vốn đầu tư để hình thành các TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình như: nhà xưởng, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, lợi thế thương mại, giá trị bằng phát minh sáng chế, các phần mềm máy tính…
VKD đầu tư vào TSTC là số vốn DN đầu tư vào các TSTC như: cổ phiếu, trái phiếu DN, trái phiếu chính phủ, chứng chỉ quỹ đầu tư và các giấy tờ có giá khác
Trong quá trình sử dụng, mỗi loại VKD đầu tư vào từng loại tài sản trên đây
có thời gian luân chuyển khác nhau và mức độ rủi ro cũng khác nhau Phân loại tiêu thức này, giúp nhà quản trị tài chính nhận biết tác dụng của từng loại VKD khi tham gia vào SXKD, từ đó có thể lựa chọn được cơ cấu vốn đầu tư hợp lý và có hiệu quả tốt nhất
Phân loại vốn kinh doanh theo đặc điểm luân chuyển
Theo tiêu thức này, vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành vốn cố định và vốn lưu động
a Vốn cố định
Để tiến hành SXKD, DN cần phải ứng trước một lượng VKD nhất định để đầu
tư xây dựng, mua sắm TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình như nhà xưởng, máy móc thiết bị,… Số vốn ứng ra này gọi là vốn cố định Như vậy, vốn cố định là một bộ phận của VKD mà DN ứng ra để đầu tư hình thành nên các TSCĐ dùng cho hoạt động SXKD của DN Nói cách khác, vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của các TSCĐ trong DN
Vốn cố định là bộ phận vốn được sử dụng để hình thành tài sản cố định và các khoản đầu tư tài chính dài hạn của doanh nghiệp Nói cách khác, vốn cố định của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định và các khoản đầu tư dài hạn của doanh nghiệp (Nguyễn Đình Kiệm và Bạch Đức Hiển (2010)
Vốn cố định của DN là bộ phận quan trọng của VKD Cơ sở vật chất kỹ thuật của DN, của ngành và của nền kinh tế quốc dân phụ thuộc vào quy mô phát triển đầu
Trang 18tư tăng thêm VCĐ của các DN Tùy theo đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi DN để quyết định quy mô, tính đồng bộ của TSCĐ Đối với các DN hoạt động trên lĩnh vực sản xuất, tỷ lệ đầu tư, mua sắm TSCĐ thường lớn hơn các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực lưu thông phân phối
Đặc điểm chủ yếu của VCĐ thể hiện qua đặc điểm của TSCĐ, đó là:
- Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của DN;
- Vốn cố định luân chuyển từng phần trong các chu kỳ sản xuất, giá trị của nó được chuyển dần dần vào giá trị sản phẩm dưới hình thức khấu hao TSCĐ;
- Vòng luân chuyển vốn cố định hoàn thành sau nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh
Trong quá trình tham gia hoạt động SXKD, TSCĐ bị hao mòn dần, giá trị của
nó được chuyển dần dần vào giá trị sản phẩm Đặc điểm này cho thấy VCĐ của DN được chia thành 2 phần: một phần được tính vào chi phí sản xuất dưới hình thức khấu hao TSCĐ tương ứng với phần giá trị hao mòn TSCĐ, phần còn lại của VCĐ được
“cố định” trong TSCĐ [10] Trong chu kỳ sản xuất tiếp theo phần “cố định” được giảm dần tương ứng với giá trị tính vào chi phí sản xuất kỳ đó và làm cho giá trị sử dụng của TSCĐ giảm đi tương ứng Kết thúc vòng tuần hoàn của VCĐ, toàn bộ giá trị TSCĐ được chuyển hết vào sản phẩm của các chu kỳ SXKD, lúc này TSCĐ hết thời gian sử dụng và VCĐ hoàn thành một vòng luân chuyển
b Vốn lưu động
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền toàn bộ tài sản lưu động (TSLĐ) của doanh nghiệp phục vụ cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Để quá trình SXKD của DN được diễn ra thường xuyên, liên tục thì ngoài các TSCĐ đòi hỏi
DN cần phải có một lượng các tài sản lưu động nhất định như nguyên nhiên vật liệu, thành phẩm, nửa thành phẩm, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán… các loại TSLĐ này được chia thành 2 loại: TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông [10]
- TSLĐ sản xuất bao gồm các loại như nguyên vật liệu, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật tư dự trữ để đảm bảo quá trình sản xuất được diễn ra liên tục và một bộ phận đang nằm trong quá trình sản xuất như những sản phẩm làm dở, nửa thành phẩm
và những tư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định
Trang 19- TSLĐ lưu thông là những TSLĐ đang nằm trong quá trình lưu thông của DN như các sản phẩm, thành phẩm trong kho, thành phẩm đang gửi bán, các loại vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước… Trong quá trình SXKD, TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn luôn vận động không ngừng và thay thế chỗ cho nhau để đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn
ra bình thường, không bị gián đoạn
Để đảm bảo quá trình SXKD diễn ra thường xuyên liên tục, DN cần phải có một lượng TSLĐ ở một mức nhất định Để hình thành nên các TSLĐ đó, đòi hỏi phải có một lượng vốn ban đầu, số vốn đó được gọi là VLĐ của DN Vì thế, có thể nói VLĐ của DN
là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư mua sắm các loại tài sản lưu động của DN nhằm đảm bảo cho quá trình SXKD được diễn ra thường xuyên, liên tục
TSLĐ có đặc điểm là luôn luôn thay đổi hình thái biểu hiện để tạo ra sản phẩm, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá thành của sản phẩm mới tạo
ra Quá trình hoạt động SXKD của DN diễn ra liên tục, do đó VLĐ của DN cũng diễn
ra liên tục, không ngừng vận động qua các chu kỳ kinh doanh được thể hiện qua ba giai đoạn: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông Cụ thể, giai đoạn dự trữ sản xuất:
DN dùng tiền mua hàng hóa, nguyên vật liệu… Khi đó, VLĐ chuyển từ hình thái tiền
tệ sang hình thái hiện vật (vật tư, hàng hóa…) Giai đoạn sản xuất: Hàng hóa, vật tư được đưa vào qua các bước sản xuất Trong giai đoạn này, VLĐ được chuyển từ hình thái hàng hóa sang hình thái sản phẩm dở dang, nửa thành phẩm Giai đoạn lưu thông:
DN tiến hành tiêu thụ sản phẩm và thu tiền về Giai đoạn này, vốn được chuyển từ hình thái thành phẩm sang hình thái tiền tệ
Do quá trình SXKD diễn ra một cách liên tục cho nên quá trình vận động tuần hoàn của vốn lưu động cũng diễn ra một cách thường xuyên liên tục, lặp đi lặp lại Sự chu chuyển diễn ra không ngừng, do đó trong cùng một thời gian, thường xuyên có sự tồn tại của các bộ phận vốn lưu động khác nhau trên các giai đoạn khác nhau của quá trình tái sản xuất Khi tham gia vào quá trình SXKD, VLĐ chuyển hết giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ khi DN thực hiện xong một chu kỳ kinh doanh Như vậy, VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh
Từ phân tích trên có thể thấy rằng, VLĐ của DN là số vốn ứng trước để hình
Trang 20thành nên TSLĐ của DN, đảm bảo cho quá trình hoạt động SXKD của DN diễn ra một cách thường xuyên, liên tục Trong quá trình chu chuyển giá trị, VLĐ được chuyển dịch toàn bộ giá trị khi kết thúc quá trình tiêu thụ sản phẩm Khi đó VLĐ đã hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh
Đối với bất kỳ DN thuộc loại hình kinh doanh nào, vốn lưu động cũng là điều kiện vật chất không thể thiếu được trong quá trình tái sản xuất Để quá trình này diễn
ra liên tục, DN phải có đủ vốn đầu tư vào các thành phần khác nhau của VLĐ Tuy nhiên, mỗi loại hình DN hoạt động trên lĩnh vực SXKD khác nhau sẽ có mức độ hợp
lý khác nhau đối với từng thành phần vốn lưu động Do đó, việc đầu tư như thế nào cho mỗi thành phần VLĐ được hợp lý nhất là một trong những yêu cầu quan trọng trong công tác quản lý VLĐ
Sự tuần hoàn, luân chuyển VLĐ của DN nhanh hay chậm phản ánh mức độ hiệu quả của việc sử dụng các loại vật tư, tiền vốn của DN Vì vậy, thông qua tình hình luân chuyển VLĐ có thể đánh giá mức độ hiệu quả của việc sử dụng VLĐ của DN
Trong quá trình tham gia vào hoạt động SXKD, do bị chi phối bởi các đặc điểm của TSLĐ nên VLĐ trong DN có những đặc điểm sau:
- VLĐ trong quá trình luân chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái tiền sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền tệ với giá trị lớn hơn
- VLĐ chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh
- VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh
VLĐ giữ một vai trò quan trọng trong hoạt động SXKD của DN VLĐ đảm bảo cho sự thường xuyên liên tục của quá trình SXKD từ khâu mua sắm vật tư đến tiến hành sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Đây cũng chính là vốn luân chuyển, giúp cho DN sử dụng tốt máy móc, thiết bị và lao động để tiến hành SXKD nhằm thu lợi nhuận
VLĐ với đặc điểm về khả năng luân chuyển của mình có thể giúp DN thay đổi chiến lược sản xuất, kinh doanh một cách dễ dàng, đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường cũng như các nhu cầu tài chính trong các quan hệ kinh tế đối ngoại cho DN
VLĐ luân chuyển một lần vào giá trị của sản phẩm mới và là một trong những
Trang 21nhân tố chính tạo nên giá thành sản phẩm Do vậy, quản lý tốt VLĐ sẽ giúp DN giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận và khả năng cạnh tranh cho
DN
Ngoài ra, vòng tuần hoàn và luân chuyển của VLĐ diễn ra trong toàn bộ các giai đoạn của chu kỳ SXKD nên đồng thời trong quá trình theo dõi sự vận động của VLĐ, DN quản lý được gần như toàn bộ các hoạt động diễn ra trong chu kỳ SXKD Chính vì vậy, VLĐ có ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng chiến lược SXKD của DN Quy mô của VLĐ ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô SXKD của DN Nó làm tăng khả năng cạnh tranh của DN nhờ cơ chế dự trữ, khả năng tài chính trong các quan hệ đối ngoại, tận dụng được các cơ hội trong kinh doanh và khả năng cung cấp tín dụng cho khách hàng Đó là những công cụ đặc biệt hiệu quả trong cơ chế cạnh tranh hiện nay
Phân loại theo quan hệ sở hữu vốn
Theo tiêu thức này, VKD của doanh nghiệp được phân loại thành nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản nợ phải trả (gọi tắt là nợ phải trả)
Nguồn vốn chủ sở hữu
Nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn hình thành nên các loại tài sản của DN do chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư góp vốn hoặc hình thành từ kết quả hoạt động kinh doanh (khoản lãi) của doanh nghiệp Nguồn vốn chủ sở hữu thuộc quyền sở hữu của
DN, DN được sử dụng lâu dài trong suốt thời gian hoạt động, bao gồm các nguồn vốn sau:
- Nguồn vốn đầu tư ban đầu: Khi thành lập doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp cần phải đầu tư một số VKD nhất định Tùy thuộc vào loại hình kinh doanh và quy mô doanh nghiệp mà nguồn vốn đầu tư ban đầu thuộc về các đối tượng khác nhau với số vốn đầu
tư là khác nhau: đối với doanh nghiệp nhà nước, nguồn vốn đầu tư ban đầu chính là vốn điều lệ của NSNN cấp; đối với doanh nghiệp tư nhân, nguồn vốn đầu tư ban đầu do chủ doanh nghiệp bỏ ra; đối với các doanh nghiệp liên doanh liên kết, nguồn vốn đầu tư ban đầu là những khoản đóng góp theo tỷ lệ cam kết giữa các bên; đối với doanh nghiệp cổ phần, nguồn vốn đầu tư ban đầu do các cổ đông đóng góp
- Nguồn vốn bổ sung: Nguồn vốn bổ sung là số vốn được bổ sung cho hoạt
Trang 22động SXKD của DN, được lấy từ kết quả hoạt động kinh doanh (lãi) giữ lại để tái đầu
tư và từ các quỹ đầu tư phát triển…
Nguồn vốn chủ sở hữu tại một thời điểm có thể được xác định bằng công thức: Nguồn vốn chủ sở hữu = Giá trị tổng tài sản – Nợ phải trả
Nguồn vốn chủ sở hữu có ý nghĩa rất quan trọng với mối doanh nghiệp, tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu trong tổng VKD càng cao, thể hiện tiềm lực tài chính của DN càng mạnh, tính tự chủ, độc lập về tài chính trong kinh doanh của DN càng cao, DN càng có uy tín cao trên thương trường nên khả năng thu hút các nguồn lực tài chính từ bên ngoài của DN càng thuận lợi
Nợ phải trả
Các khoản nợ phải trả là các nguồn vốn phát sinh trong quá trình SXKD mà doanh nghiệp phải trả cho các đơn vị, tổ chức kinh tế, xã hội hoặc cá nhân như nợ tiền vay, nợ phải trả cho người bán, các khoản phải trả, phải nộp cho nhà nước, phải trả cho người lao động, phải trả cho cấp trên, cấp dưới và các khoản phải trả khác
Theo tính chất và thời hạn thanh toán, các khoản nợ phải trả được chia thành:
nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và nợ khác
- Nợ ngắn hạn: Là các khoản nợ mà DN phải trả cho chủ nợ trong vòng thời gian một năm Nợ ngắn hạn gồm các khoản vay ngắn hạn; phải trả cho người bán và người nhận thầu, các khoản người mua trả tiền trước, thuế và các khoản phải nộp nhà nước, phải trả người lao động, các khoản phải trả khác…
- Nợ dài hạn: Là các khoản nợ mà DN phải trả cho chủ nợ trong thời gian trên một năm Nợ dài hạn của DN bao gồm vay dài hạn cho đầu tư phát triển, đầu tư vào các dự án, đầu tư mua sắm TSCĐ, xây dựng cơ bản, thuê tài chính dài hạn…
- Nợ khác: Là các khoản nợ phải trả không xác định thời hạn như các khoản nhận kỹ quỹ, ký cược, tài sản thừa chờ xử lý và các khoản chi phí phải trả
Cách phân loại theo quan hệ sở hữu tạo điều kiện cho DN trong việc xem xét các phương án tối ưu để huy động các nguồn vốn hợp lý, tối ưu nhằm đảm bảo an toàn cho DN và tăng hiệu quả hoạt động của quá trình SXKD
Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn
Theo tiêu thức này, VKD của DN được chia thành nguồn vốn thường xuyên
Trang 23và nguồn vốn tạm thời
Nguồn vốn thường xuyên
Là nguồn vốn DN được sử dụng lâu dài và có tính chất ổn định trong sản xuất kinh doanh, bao gồm: vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn Đây là nguồn vốn lâu dài, được DN dùng để đầu tư xây dựng, mua sắm TSCĐ và một bộ phận TSLĐ tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động SXKD của DN
Nguồn vốn thường xuyên của DN tại một thời điểm có thể được xác định bằng công thức sau: Nguồn vốn thường xuyên = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn
Hoặc Nguồn vốn thường xuyên = Giá trị tổng tài sản – Nợ ngắn hạn
Nguồn vốn tạm thời
Là nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng ngắn hạn, trong vòng một năm để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời Thuộc nguồn vốn này gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tài chính, tín dụng khác, các khoản phải trả nhưng chưa đến hạn phải trả
Phân loại theo tiêu thức thời gian huy động và sử dụng này giúp doanh nghiệp xem xét huy động các nguồn vốn phù hợp với thời gian sử dụng nhằm đáp ứng kịp thời vốn cho SXKD, với chi phí sử dụng vốn hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Đồng thời, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch huy động VKD đáp ứng nhu cầu trước mắt cũng như lâu dài của DN
Phân loại theo phạm vi huy động
Theo tiêu thức phân loại này VKD của doanh nghiệp được chia thành hai nguồn: Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp và nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp
Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp
Là nguồn vốn có thể huy động được để đầu tư từ chính hoạt động của doanh nghiệp tạo ra, thể hiện khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm: lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư, tiền khấu hao TSCĐ, các quỹ của DN, khoản tiền thu
từ thanh lý, nhượng bán TSCĐ… Nguồn vốn này đảm bảo cho sự phát triển bền vững của DN, đồng thời vừa tạo ra sự chủ động cho việc sử dụng vốn vừa nâng cao tính tự chủ về mặt tài chính của DN
Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp
Là nguồn vốn doanh nghiệp có thể huy động từ bên ngoài để đáp ứng nhu cầu
Trang 24về vốn cho hoạt động SXKD Thuộc nguồn vốn này gồm: tiền vay ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính, tín dụng khác, tiền vay từ các tổ chức, cá nhân; vốn góp của các đối tác liên doanh, liên kết, khoản tín dụng thương mại của các nhà cung cấp, vốn do phát hành chứng khoán (đối với một số loại hình doanh nghiệp được pháp luật cho phép)
Việc phân loại nguồn VKD của DN theo phạm vi huy động vốn giúp cho các
DN xác định được chi phí sử dụng cũng như những ưu, nhược điểm của từng nguồn vốn huy động Từ đó, xây dựng được kế hoạch huy động vốn tối ưu, phù hợp với chi phí thấp nhất và phù hợp với điều kiện cụ thể của DN trong từng thời kỳ
1.1.1.4 Vai trò của vốn kinh doanh
Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bất cứ DN, ngành nghề kinh doanh nào trong nền kinh tế Để tiến hành hoạt động kinh doanh, DN cần phải nắm giữ một lượng vốn nhất định Số vốn này thể hiện giá trị toàn bộ tài sản và các nguồn lực của DN trong hoạt động kinh doanh Vì vậy VKD có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động và phát triển của DN, cụ thể:
- Vốn kinh doanh có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của DN theo luật định Là điều kiện tiên quyết, quan trọng cho sự ra đời, tồn tại
và phát triển của DN Tùy theo nguồn hình thành của VKD, cũng như phương thức huy động vốn mà DN có tên là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh…
- Vốn kinh doanh là một trong những tiêu thức để phân loại quy mô của DN, xếp loại DN vào loại lớn, nhỏ hay trung bình và là một trong những tiềm năng quan trọng để DN sử dụng hiệu quả các nguồn lực về sức lao động, nguồn cung ứng hàng hóa, mở rộng và phát triển thị trường, mở rộng lưu thông hàng hóa
- Trong cơ chế kinh doanh mới, trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh Vốn kinh doanh bao giờ cũng là cơ sở, là tiền
đề để DN tính toán hoạch định các chiến lược và kế hoạch kinh doanh
- Vốn kinh doanh của DN là yếu tố giá trị Nó chỉ phát huy được tác dụng khi bảo toàn, phát triển sau mỗi chu kỳ kinh doanh Nếu vốn không được bảo toàn và
Trang 25Sự thiệt hại lớn sẽ dẫn đến DN mất khả năng thanh toán sẽ làm cho DN bị phá sản, tức là VKD đã bị sử dụng một cách lãng phí, không hiệu quả
1.1.2 Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Trong cơ chế thị trường, các DN tiến hành SXKD đều nhằm mục tiêu đạt được
và không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh Trong quản lý kinh tế, hiệu quả kinh doanh là phạm trù khó đạt được sự đồng thuận về sự nhận thức, thậm chí, đây là vấn
đề luôn gây ra tranh luận giữa các nhà kinh tế học Tùy theo các góc độ tiếp cận khác nhau, người ta cũng đưa ra những quan niệm khác nhau về hiệu quả kinh doanh của
DN Nhìn chung, có 2 cách tiếp cận chính về phạm trù hiệu quả
Theo cách tiếp cận truyền thống: hiệu quả là phạm trù phản ánh quan hệ so
sánh giữa kết quả đạt được với các chi phí hoặc các nguồn lực đã bỏ ra để có được kết quả đó Theo đó, hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, vật tư, thiết bị, tiền vốn và các yếu tố khác) nhằm đạt được mục tiêu mà DN đã đề ra Theo cách tiếp cận này, hiệu quả có thể được biểu diễn ở dạng hiệu số hoặc thương số Ở dạng hiệu số, kết quả và chi phí phải cùng sử dụng một đơn vị đo lường, còn dạng thương số có thể khác nhau Trong một số trường hợp, hiệu số của kết quả và chi phí cho ra một chỉ tiêu hoàn toàn khác Do đó, cách tiếp cận này có thể bị sai lệch, không phản ánh hết bản chất của chỉ tiêu hiệu quả
Theo cách tiếp cận gắn với mục đích của chủ thể: hiệu quả là chỉ tiêu phản
ánh mức độ đạt được kết quả so với mục đích đặt ra của chể thể trên cơ sở các nguồn lực đã bỏ ra trong quá trình thực hiện hoạt động đó Theo cách tiếp cận này, khi tiến hành bất cứ hoạt động nào, chủ thể tiến hành hoạt động bao giờ cũng đặt ra mục đích cần đạt được kết quả như thế nào Do vậy, khi nói đến hiệu quả của hoạt động thì tất yếu phải so sánh giữa mức kết quả đạt được so với mục đích, mục tiêu đặt ra khi tiến hành hoạt động đó Nói đến “mức độ đạt được kết quả” là đã bao gồm cả mục tiêu cần đạt được Do đó, không thể xác định hiệu quả của hoạt động nếu tiến hành hoạt động lại không có mục tiêu Nói cách khác: hiệu quả luôn gắn với mục tiêu nhất định, không có hiệu quả chung chung
Hiệu quả sử dụng vốn có ảnh hưởng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
Trang 26một DN Nhìn nhận dưới các giác độ khác nhau thì lại có những quan niệm khác nhau
về hiệu quả sử dụng vốn Nhưng nói chung, việc sử dụng vốn có hiệu quả là phải nhằm đạt được kết quả cao nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh với chi phí bỏ
ra thấp nhất
Hiệu quả sử dụng vốn nhìn nhận từ giác độ kinh tế là tối đa hóa lợi nhuận Như vậy có thể hiểu với một số vốn nhất định đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ đem lại lợi nhuận cao nhất và làm cho đồng vốn không ngừng sinh sôi nảy
nở, tức là hiệu quả sử dụng vốn thể hiện ở hai mặt: bảo toàn được vốn và tạo ra được các kết quả theo mục tiêu kinh doanh, trong đó đặc biệt là kết quả về mức sinh lời của đồng vốn
Bên cạnh đó, phải chú ý cả mặt tối thiểu hóa lượng vốn và thời gian sử dụng vốn của DN Kết quả sử dụng vốn phải thỏa mãn được lợi ích của DN và các nhà đầu
tư ở mức mong muốn cao nhất, đồng thời nâng cao được lợi ích xã hội
Nếu xét trên giác độ tài chính DN, ngoài mục tiêu lợi nhuận, sử dụng vốn có hiệu quả còn phải đảm bảo an toàn, lành mạnh về mặt tài chính, tăng cường khả năng cạnh tranh của DN trước mắt và lâu dài
Từ những phân tích trên, ta có khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn: Hiệu quả
sử dụng vốn kinh doanh của DN là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác,
sử dụng nguồn vốn của DN vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi tối đa với chi phí hoạt động là thấp nhất (Nguyễn Đình Kiệm và Bạch Đức Hiển,
2010)
1.1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong DN
Vốn kinh doanh có vai trò quyết định quy mô của DN, quyết định năng lực kinh doanh của DN Vốn càng lớn thì quy mô DN càng lớn, nâng cao khả năng tài chính của DN, tạo điều kiện hiện đại hoá công nghệ, nâng cao trình độ của người lao động, nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng cao khả năng cạnh tranh của DN kinh doanh vật liệu xây dựng (Ngô Ngọc Luận, 2016)
Vốn kinh doanh có vai trò nâng cao vị thế, uy tín của DN, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình hợp tác phát triển của DN Quy mô của DN càng lớn sẽ tạo điều kiện để thực hiện mở rộng thị trường trong và ngoài mước, tạo lợi thế trong cạnh
Trang 27tranh, là điều kiện tồn tại và phát triển của DN
Ngoài ra vốn kinh doanh còn tạo điều kiện cho DN tham gia tốt các chính sách xã hội, các đóng góp với chính phủ, góp phần vào phát triển kinh tế đất nước
Vì vậy, công tác quản lý và sử dụng vốn sao cho hiệu quả có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động quản lý của DN
Yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là một tất yếu khách quan trong quá trình hoạt động của DN Trong nền kinh tế thị trường, khi chế độ bao cấp không còn tồn tại, các DN là những đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ về vốn thì vấn đề
sử dụng vốn hiệu quả càng trở nên cấp thiết vì một số lý do sau đây:
Thứ nhất: Sử dụng vốn hiệu quả giúp DN đạt được mục tiêu hàng đầu và quan
trọng nhất của DN - đó là tối đa hóa lợi nhuận Khi tối đa hóa lợi nhuận làm cho doanh lợi vốn là cao nhất, giúp DN dễ dàng huy động vốn để phục vụ tái sản xuất kinh doanh
Thứ hai: Sử dụng vốn hiệu quả đảm bảo khả năng an toàn về tài chính, đảm
bảo khả năng thanh toán và hạn chế rủi ro trong kinh doanh cho DN Điều này ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của DN
Thứ ba: Sử dụng vốn hiệu quả giúp nâng cao khả năng tài chính của DN, tạo
điều kiện hiện đại hóa công nghệ, nâng cao trình độ của người lao động, tăng lợi thế cạnh tranh, từ đó DN có khả năng mở rộng quy mô cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
Thứ tư: Sử dụng vốn hiệu quả góp phần nâng cao vị thế, uy tín của DN trên
thị trường, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình hợp tác phát triển của DN, để DN thực hiện mở rộng thị trường trong và ngoài nước
Thứ năm: Sử dụng vốn hiệu quả cũng có nghĩa là DN tạo ra những sản phẩm
có chất lượng cao, giá thành hạ, tạo được lợi thế trong cạnh tranh, đó là điều kiện quan trọng để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường
Thứ sáu: Sử dụng vốn hiệu quả sẽ làm tăng lợi nhuận của DN Đây là cơ sở
để tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động
Thứ bẩy: Sử dụng vốn hiệu quả góp phần kéo dài thời gian sử dụng hữu ích
của tài sản và tạo ra hiệu quả kinh tế cao DN sử dụng hiệu quả nguồn lực của mình
sẽ đem lại sự tăng trưởng ổn định, bền vững cho nền kinh tế
Trang 28Thứ tám: Sử dụng vốn hiệu quả tạo điều kiện cho DN tham gia tốt các chính
sách xã hội, đóng góp vào các chương trình vì lợi ích cộng đồng, góp phần vào xây dựng phát triển nền kinh tế của đất nước
1.1.2.3 Nội dung hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Đứng trên góc độ doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng vốn được đánh giá thông qua tỷ suất lợi nhuận ròng thực tế Lợi ích thu được từ việc sử dụng vốn phải đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và nhà đầu tư ở mức độ cao nhất Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp được lượng hóa thông qua các chỉ tiêu sau:
a Hiệu quả chung về vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách chung nhất người ta có thể sử dụng một số chỉ tiêu sau:
- Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh : Hiệu suất sử dụng vốn cho biết một
đồng vốn được doanh nghiệp huy động vào sản xuất đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần Qua chỉ tiêu này ta có thể đánh giá được khả năng sử dụng tài sản của doanh nghiệp thể hiện qua doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản doanh nghiệp đã đầu tư Hiệu suất sử dụng vốn càng lớn, trong các điều kiện khác không đổi có nghĩa
là hiệu quả sử dụng vốn càng cao
Các chỉ tiêu sinh lời luôn đựơc các nhà quản trị tài chính quan tâm Đây chính
là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ nhất định,là đáp số sau cùng của hiệu quả kinh doanh và còn là một luận cứ quan trọng để các nhà hoạch định đưa ra các quyết định tài chính trong tương lai
- Vòng quay vốn kinh doanh: Vòng quay VKD hay vòng quay tài sản phản ánh
hiệu suất sử dụng tài sản hiện có hay chính là hiệu quả VKD của DN Chỉ tiêu này cho phép đánh giá tổng quát hiệu suất sử dụng tài sản của DN, nó liên quan đến trình
độ và hiệu quả quản trị sử dụng vốn hiện có của DN
- Tỷ suất sinh lợi vốn kinh doanh (ROA): Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh
là chỉ tiêu đo lường mức sinh lời của đồng vốn Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư Chỉ tiêu này được các nhà quản trị tài chính sử dụng nhiều bởi lẽ nó phản ánh số lợi nhuận còn lại, (sau khi
đã trả lãi vay ngân hàng và thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước), được sinh ra do sử
Trang 29dụng bình quân một đồng vốn kinh doanh
- Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE): Mục tiêu hoạt động của doanh
nghiệp là tạo ra lợi nhuận ròng cho các chủ nhân của doanh nghiệp đó Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu đánh giá mức độ thực hiện của mục tiêu này Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp Tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ
sở hữu là một trong những mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu, một mặt phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh hay phụ thuộc vào trình độ sử dụng vốn Mặt khác, còn phụ thuộc vào trình độ tổ chức nguồn vốn của doanh nghiệp
- Ba chỉ tiêu trên cho ta một cái nhìn tổng quát về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp được dùng để đầu tư cho các loại tài sản khác như tài sản cố định, tài sản lưu động Do đó, các nhà phân tích không chỉ quan tâm tới đo lường hiệu quả sử dụng của tổng nguồn vốn mà còn chú trọng tới hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành nguồn vốn của doanh nghiệp đó là vốn cố định và vốn lưu động
b Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
Một trong những vấn đề quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là thường xuyên phải nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ Khi phân tích hiệu quả sử dụng VLĐ người ta thường dùng một số chỉ tiêu sau:
Tỷ suất lợi nhuận VLĐ: Các nhà quản lí tài chính quan tâm đến hiệu quả sử
dụng VLĐ trên mức sinh lợi của VLĐ xem một đồng VLĐ làm ra bao nhiêu đồng lợi nhuận hoạt động kinh doanh trong kỳ Do đó, tỷ suất lợi nhuận VLĐ càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn VLĐ càng tốt và ngược lại Đây là chỉ tiêu chính đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ
Đồng thời, trong quá trình sản xuất kinh doanh, VLĐ không ngừng vận động qua các hình thái khác nhau Do đó, nếu đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động
sẽ góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn
Tốc độ luân chuyển VLĐ có thể được đo bằng hai chỉ tiêu đó là số lần luân
chuyển (số vòng quay VLĐ) và kỳ luân chuyển vốn (số ngày một vòng quay VLĐ) Vòng quay vốn càng nhanh thì kỳ luân chuyển vốn càng được rút ngắn và chứng tỏ
Trang 30VLĐ càng được sử dụng có hiệu quả
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh vận tải do đặc thù kinh doanh nên VLĐ thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản, VLĐ thường được quay vòng nhanh theo ngày nên tốc độ luân chuyển VLĐ thường lớn
Mặt khác, do VLĐ biểu hiện dưới nhiều dạng tài sản lưu động khác nhau như tiền mặt, nguyên vật liệu, các khoản phải thu, … nên khi đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động người ta còn đi đánh giá các mặt cụ thể trong công tác quản lý sử dụng vốn lưu động Sau đây là một số chỉ tiêu cơ bản nhất phản ánh chất lượng của công tác quản lý ngân quỹ và các khoản phải thu:
Vốn bằng tiền và khả năng thanh toán ngắn hạn
Khả năng thanh toán phản ánh tình trạng tài chính của doanh nghiệp tốt hay xấu và ảnh hưởng như thế nào đến tình hình thanh toán Các chỉ số này cho biết hiện doanh nghiệp có đủ khả năng trả các món nợ tới hạn không nên được rất nhiều người quan tâm như các người đầu tư, người cho vay, người cung cấp nguyên vật liệu…
Khả năng thanh toán hiện hành: Hệ số thanh toán hiện thời là mối quan hệ giữa TSLĐ và các khoản nợ ngắn hạn Hệ số này thể hiện mức độ đảm bảo của TSLĐ
và đầu tư ngắn hạn với khoản nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn là khoản nợ phải thanh toán trong kỳ, do đó doanh nghiệp phải dùng tài sản thực của mình để thanh toán bằng cách chuyển thành tiền trong thời gian một năm Nếu chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1 thì doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính
là bình thường hoặc khả quan Tuy nhiên, để kết luận hệ số này tốt hay xấu còn phụ thuộc vào lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp
Khả năng thanh toán nhanh: Các TSLĐ trước khi thanh toán cho chủ nợ đều phải chuyển đổi thành tiền Trong TSLĐ hiện có thì vật tư hàng hoá tồn kho (các loại vật tư, công cụ, dụng cụ, thành phẩm tồn kho) chưa kể chuyển đổi ngay thành tiền mặt, do đó nó có khả năng thanh toán kém nhất Do đó, hệ số khả năng thanh toán nhanh là thước đo khả năng trả nợ các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ không dựa vào việc phải bán các loại vật tư hàng hoá Nếu chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1 thì doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn trong kỳ không
Trang 31dựa vào việc phải bán các loại vật tư hàng hoá
Khả năng thanh toán tức thời: Chỉ tiêu khả năng thanh toán tức thời chỉ xem xét các khoản có thể sử dụng để thanh toán nhanh nhất đó là tiền Khả năng thanh toán tức thời cho biết, với số tiền và các khoản tương đương tiền, doanh nghiệp có đảm bảo thanh toán kịp thời các khoản nợ ngắn hạn hay không Nói chung hệ số này thường xuyên biến động từ 0,5 đến 1 Nếu hệ số khả năng thanh toán tức thời nhỏ hơn 1 tức lượng tiền và tương đương tiền của doanh nghiệp ngay tại thời điểm tính chỉ có thể thanh toán được một phần nợ ngắn hạn Nếu hệ số khả năng thanh toán tức thời lớn hơn 1 tức lượng tiền và tương đương tiền của doanh nghiệp ngay tại thời điểm tính toán có thể thanh toán được nhiều lần nợ ngắn hạn, tức là doanh nghiệp đang bị ứ đọng tiền bởi mỗi khoản nợ có thời hạn trả nợ nhất định và thông thường thời điểm tất toán các khoản nợ không trùng nhau Do vậy, để đánh giá hệ
số này còn phụ thuộc vào lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu: Đây là một chỉ số cho thấy tính hiệu quả của chính sách tín dụng mà doanh nghiệp áp dụng đối với các bạn hàng Chỉ số vòng quay càng cao sẽ cho thấy doanh nghiệp được khách hàng trả nợ càng nhanh Nhưng nếu
so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành mà chỉ số này vẫn quá cao thì có thể doanh nghiệp sẽ có thể bị mất khách hàng vì các khách hàng sẽ chuyển sang tiêu thụ sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh cung cấp thời gian tín dụng dài hơn Và như vậy thì doanh nghiệp chúng ta sẽ bị sụt giảm doanh số Khi so sánh chỉ số này qua từng năm, nhận thấy sự sụt giảm thì rất có thể là doanh nghiệp đang gặp khó khăn với việc thu
nợ từ khách hàng và cũng có thể là dấu hiệu cho thấy doanh số đã vượt quá mức
Kỳ thu tiền trung bình: Chỉ tiêu này cho thấy để thu hồi được các khoản phải thu cần một thời gian bao nhiêu Nếu số ngày này mà lớn hơn thời gian bán chịu quy định cho khách hàng thì việc thu hồi các khoản phải thu là chậm và ngược lại
Số ngày quy định bán chịu cho khách lớn hơn thời gian này thì có dấu hiệu chứng tỏ việc thu hồi nợ đạt trước kế hoạch về thời gian
Vòng quay hàng tồn kho: Chỉ số này thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho
hiệu quả như thế nào Chỉ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh
Trang 32nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều trong doanh nghiệp
Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu nhìn thấy trong báo cáo tài chính, khoản mục hàng tồn kho có giá trị giảm qua các năm Tuy nhiên chỉ số này quá cao cũng không tốt vì như thế có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần Thêm nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến cho dây chuyền bị ngưng trệ Vì vậy chỉ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất đáp ứng được nhu cầu khách hàng
c Hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp
Khi đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định người ta thường xem xét thông qua hiệu quả sử dụng tài sản cố định Xuất phát từ việc coi TSCĐ là một yếu tố đầu vào của doanh nghiệp ta sẽ tiến hành đánh giá bằng việc so sánh nó với các kết quả thu được trong chu kỳ kinh doanh Có những chỉ tiêu biểu đạt hiệu quả sử dụng tài sản
cố định (vốn cố định) như sau:
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ
trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất
sử dụng TSCĐ càng cao và ngược lại
Sức sinh lợi của TSCĐ: Chỉ tiêu này cho biết trung bình 1 đồng TSCĐ trong
kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng TSCĐ càng hiệu quả và ngược lại
Ngoài ra để đánh giá trực tiếp hiệu quả sử dụng vốn cố định, doanh nghiệp sử dụng hai chỉ tiêu sau:
Hiệu suất sử dụng vốn cố định: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định
có thể đảm bảo tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Ta thấy rằng, chỉ tiêu này càng cao càng có lợi cho doanh nghiệp, nó phản ánh hiệu quả sử dụng VCĐ của doanh nghiệp ra sao Còn nếu chỉ tiêu này ngày càng đi xuống thì doanh nghiệp cần xem xét lại cơ cấu và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định: Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định tạo
ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ Chỉ tiêu này càng lớn, hiệu quả sử dụng vốn cố
Trang 33định càng cao
Sau khi đã tính được các chỉ tiêu nêu trên, người ta tiến hành so sánh chúng giữa các năm với nhau để thấy VCĐ (hoặc TSCĐ) sử dụng có hiệu quả hay không Người ta cũng có thể so sánh giữa các Doanh nghiệp trong cùng một ngành, một lĩnh vực để xem xét khả năng cạnh tranh, tình trạng sử dụng và quản lý kinh doanh có hiệu quả hay không
1.1.2.4 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Những nhân tố chủ quan
a Trình độ quản lý của doanh nghiệp
Quản lý nhu cầu sử dụng VKD trong DN: Ban lãnh đạo DN có vai trò quan
trọng trong việc xây dựng chiến lược kinh doanh đồng bộ, tổ chức quản lý, điều hành hoạt động SXKD phù hợp, huy động, quản lý sử dụng vốn sao cho thật hiệu quả Do vậy, nếu ban lãnh đạo không nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và sự cần thiết về hiệu quả sử dụng vốn, hoặc nhận thức không đúng thì có thể dẫn đến tình trạng VKD
bị sử dụng lãng phí, kém hiệu quả, từ đó ảnh hưởng đến tình hình tài chính của DN
Trước sức ép cạnh tranh ngày càng lớn giữa các DN đòi hỏi ban lãnh đạo DN phải có trình độ, có kinh nghiệm trong việc tổ chức điều hành từ trên cơ quan đến các
bộ phận phòng ban, phân xưởng sản xuất Nhất là việc xác định nhu cầu sử dụng VKD trong từng khâu của quá trình sản xuất, quản lý vốn theo từng giai đoạn của chu
kỳ kinh doanh, thời gian vay nợ, số tiền và thời gian thanh toán vốn từ khách hàng Thực tế cho thấy, khi nguồn vốn dễ huy động, chi phí lãi vay thấp, thì bị khống chế
về hạn mức tín dụng, thời gian đáo hạn ngắn, khi đó chỉ phù hợp với DN có quy mô trung bình, giá trị hợp đồng nhỏ Đối với DN có quy mô lớn thì việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay ngân hàng, vốn chủ sở hữu lớn thì mới mạnh dạn đầu tư công nghệ hiện đại mới đáp ứng được yêu cầu của những khách hàng lớn, mua thường xuyên, lâu dài, đây là sự lựa chọn phù hợp với mục tiêu phát triển của DN
DN phải ứng trước kinh phí cho quá trình sản xuất và lưu thông nên VCSH không thể đáp ứng đủ cho nhu cầu SXKD Do vậy, khi DN không có nguồn vốn tối
ưu, DN cần kết hợp giữa nợ phải trả và VCSH Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là kết hợp
nợ phải trả và VCSH với tỷ lệ bao nhiêu là an toàn tài chính Để trả lời câu hỏi này
Trang 34nhà quản lý phải trả lời các câu hỏi về chi phí vốn bình quân thấp nhất, sao cho chi phí vốn càng giảm thì hiệu quả kinh tế trong DN càng cao
Quản lý kênh huy động vốn trong DN: Huy động và sử dụng vốn có liên quan
chặt chẽ với nhau, huy động đủ vốn sẽ tạo điều kiện cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Ngược lại, sử dụng vốn có hiệu quả, tránh thất thoát lãng phí sẽ tạo ra cơ hội mới để huy động vốn Có thể nói, ở đâu sử dụng vốn có hiệu quả thì tất yếu dòng vốn sẽ thu hút nhiều Huy động vốn là cách thức khai thác các nguồn vốn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động của DN, là biện pháp làm tăng vốn của DN Việc huy động vốn phải đáp ứng một số yêu cầu cơ bản sau: xác định đúng nhu cầu vốn, tạo một cơ cấu nguồn vốn hợp lý; tổ chức nguồn vốn đầy đủ, kịp thời cho nhu cầu SXKD
và đầu tư của DN; lựa chọn hình thức huy động vốn phù hợp, đáp ứng nhu cầu vốn với chi phí phải trả là thấp nhất; đảm bảo khả năng của DN
Quản lý tay nghề của công nhân trong DN: Công nhân là những người trực
tiếp lao động sản xuất, hình thành nên sản phẩm, tạo ra của cải vật chất cho DN và
xã hội; do đó trình độ, tay nghề của họ có ý nghĩa quan trọng trong quản lý, sử dụng vốn Nếu DN sử dụng máy móc thiết bị hiện đại, khó thao tác, vận hành sai quy trình, dẫn tới tăng chi phí vận hành, chi phí sửa chữa, không phát huy hết công suất, chất lượng Nếu DN sử dụng công nhân có tay nghề phù hợp với công việc đảm nhận sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí sửa chữa, bảo dưỡng, tiền lương, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm khi đó sẽ góp phần tăng giá trị DN
Như vậy, trình độ quản lý của ban lãnh đạo DN ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí nguyên vật liệu, quản lý công nhân, ca xe máy, tiêu hao nhiên liệu, tính và phân
bổ khấu hao TSCĐ, và từ đó làm ảnh hưởng đến lợi nhuận DN
b Về công tác quản trị doanh nghiệp
Bộ máy quản lý điều hành DN: Quản lý VKD là hoạt động phức tạp, cần sự phối hợp của nhiều bộ phận như tài chính, kinh doanh, kỹ thuật, sản xuất… do đó cơ cấu tổ chức, sắp xếp trong DN có ảnh hưởng tới quá trình quản lý VKD Sự phân cấp quản lý rõ ràng, thống nhất, có chuyên môn cao, không chồng chéo, không kiêm nhiệm sẽ tạo điều kiện quản lý thông suốt Hơn nữa, các bộ phận tác nghiệp được bố trí phù hợp về mặt không gian cũng góp phần tăng tính liên kết và khả năng phối hợp nhịp nhàng trong nội bộ DN Do vậy, việc lựa chọn kênh huy động vốn nhanh và chi
Trang 35phí thấp, đòi hỏi nhà quản lý phải am hiểu về các nhân tố tác động đến chi phí vốn của DN, như: lãi suất thị trường, chi phí phát hành, mức độ rủi ro của ngành, sự thay đổi các chính sách kinh tế… Đồng thời, các nhà quản lý phải có khả năng dự báo được sự thay đổi của các yếu tố để lường trước được sự tác động đến chi phí vốn của
DN, từ đó tác động đến việc lựa chọn các giải pháp và các kênh huy động vốn cho
b Chính sách kinh tế của Nhà nước đối với các doanh nghiệp
Để tạo ra môi trường kinh tế ổn định, đảm bảo cho sự phát triển bền vững, nhà nước điều hành và quản lý nền kinh tế vĩ mô bằng các chính sách kinh tế vĩ mô Với bất kỳ sự thay đổi nào trong chế độ chính sách hiện hành sẽ ảnh hưởng đến hoạt động SXKD nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng Sự nhất quán trong chủ trương đường lối cơ bản của Nhà nước luôn là yếu tố tạo điều kiện cho DN hoạch định kế hoạch SXKD và có điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Hệ thống tài chính tiền
tệ, vấn đề lạm phát, thất nghiệp và các chính sách tài khóa của chính phủ có tác động lớn đến quá trình ra quyết định kinh doanh và kết quả hoạt động kinh doanh của DN Nhất là các chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các chính sách về quy hoạch ngành vật liệu xây dựng, …
Chính sách lãi suất: Lãi suất tín dụng là một công cụ chủ yếu để điều hành
lượng cung tiền tệ, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến việc huy động vốn và kinh doanh của DN Khi lãi suất tăng làm chi phí vốn tăng, nếu DN không có cơ cấu vốn hợp lý,
Trang 36kinh doanh không hiệu quả thì hiệu quả sử dụng vốn nhất là phần vốn vay sẽ bị giảm sút Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất là vấn đề quan trọng khi quyết định thực hiện một hoạt động đầu tư hay một phương án kinh doanh DN phải tính toán xem liệu hoạt động đầu tư có đảm bảo được doanh lợi vốn lãi suất tiền vay hay không, nếu nhỏ hơn thì có nghĩa là không hiệu quả, DN sẽ thu hồi vốn Đối với hoạt động đầu tư hay phương án kinh doanh có sử dụng vốn đầu tư cũng phải tính đến chi phí vốn, nếu
có hiệu quả thì mới thực hiện
Chính sách thuế: Thuế là công cụ quan trọng của nhà nước để điều tiết kinh
tế vĩ mô nói chung và điều tiết hoạt động của DN nói riêng Chính sách thuế của nhà nước có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của DN bởi vì mức thuế cao hay thấp sẽ làm cho phần lợi nhuận sau thuế nhiều hay ít, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và hiệu quả sử dụng vốn của DN
c Sự tiến bộ về khoa học và công nghệ
Tiếp cận sớm khoa học công nghệ là cơ hội để DN đi trước đón đầu làm thay đổi biện pháp tổ chức sản xuất, giảm chi phí nhân công, tăng được năng suất, nâng cao được chất lượng sản phẩm Để tiếp cận được công nghệ hiện đại, đòi hỏi DN phải đầu tư vốn dài hạn, phải có nguồn tài trợ, phải có kế hoạch thu hồi vốn, trích khấu hao và phân bổ khấu hao để tái mở rộng sản xuất Mặt khác, DN phải tính đến thành tựu khoa học - công nghệ để xác định mũi nhọn cần đầu tư cho trang thiết bị, đòi hỏi
DN dám chấp nhận sự mạo hiểm để thay đổi toàn diện năng lực của mình Ngược lại, nếu không tiếp cận kịp thời khoa học - công nghệ để đổi mới trang thiết bị, đổi mới biện pháp sản xuất, mở rộng thị trường thì sẽ có nguy cơ DN rơi vào tình trạng làm
ăn thua lỗ, không ký kết được những hợp đồng có giá trị lớn, sản phẩm không đáp ứng đòi hỏi khắt khe về chất lượng, đặc tính kỹ thuật
1.2 Cơ sở thực tiễn về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
CTCP Vật liệu Xây dựng Lào Cai hoạt động kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực khai thác và chế biến đá xây dựng, ngoài ra còn phục vụ cung cấp dịch vụ bốc xúc, vận chuyển đá xây dựng Do đó tác giả đã lấy kinh nghiệm kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại doanh nghiệp đá xây dựng và DN vận tải làm làm bài học rút kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh cho
Trang 37CTCP Vật liệu Xây dựng Lào Cai
1.2.1 Kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại một số DN
1.2.1.1 Kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần khoáng sản và xây dựng Bình Dương (BIMICO)
Công Ty CP Khoáng Sản & Xây Dựng Bình Dương (viết tắt là Bimico), địa chỉ Đại lộ Bình Dương, Thuận Giao, Thuận An, Bình Dương Đây là doanh nghiệp tiên phong trong ngành khai thác sản xuất vật liệu xây dựng tại Bình Dương Sản phẩm chính bao gồm: Khai thác và chế biến Cao lanh: cao lanh thô, cao lanh bột, cao lanh lọc, Công suất cao lanh nghiền bột 9.500 tấn/ năm, công suất cao lanh lọc cao cấp 8.000 tấn/ năm; Vật liệu xây dựng: Đá xây dựng, cát xây dựng, gạch Tuynel, cống bê tông,
Với nguồn tài nguyên chất lượng cao, thiết bị sản xuất hiện đại, đây là một trong những doanh nghiệp tiên phong trong ngành khai thác khoáng sản và sản xuất vật liệu xây dựng Những sản phẩm luôn được đánh giá cao và được tin dùng bởi nhiều nhà đầu tư nhà thầu lớn trên thị trường, cam kết trở thành nhà cung cấp uy tín
và có trách nhiệm trong ngành vật liệu xây dựng
* Kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty
Là một công ty cổ phần với bề dày truyền thống trong lĩnh vực đá xây dựng, Công ty đã có nhiều giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, chất lượng sản phẩm, tình hình doanh thu lợi nhuận tăng trưởng khá, đời sống cán bộ công nhân viên không ngừng được nâng cao Công ty luôn tận dụng mọi tiềm năng bên trong và bên ngoài mà công ty có thể huy động được nhằm tăng vốn Trong tổng vốn, nguồn vốn huy động từ bên ngoài luôn chiếm tỷ trọng cao, còn nguồn vốn chủ sở hữu của công ty chủ yếu được bổ sung từ quỹ đầu tư phát triển và lợi nhuận
để lại qua các năm Công ty đã tái cơ cấu vốn, tỷ trọng cơ cấu nguồn vốn nợ đang có
xu hướng giảm xuống để tiến về mức độ an toàn, tự chủ về mặt tài chính Đây là một chính sách hợp lý trong thời điểm lạm phát đang hoành hành, kinh tế thế giới cũng như trong nước còn nhiều khó khăn Những chính sách này đã giúp công ty giảm bớt được các gánh nặng về mặt tài chính trong thời gian tới Ngoài ra, Công ty còn có những biện pháp thanh lý, nhượng bán những tài sản hư hỏng, không cần dùng để
Trang 38giải phóng vốn cho Công ty Công ty đã áp dụng những phương thức quản lý mới, tăng cường hạch toán kinh doanh, tiết kiệm chi phí, đảm bảo công tác hạch toán kinh doanh một cách kịp thời, chính xác, làm cơ sở kiểm tra quản lý chi phí nhằm hạ giá thành Tuy nhiên để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhưng vẫn còn một vài hạn chế Những hạn chế này đã làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của công ty Cụ thể: Cơ chế phân cấp quản lý tài sản cố định chưa thực sự tốt, điều này nhiều khi gây chậm trễ, làm tăng chi phí kinh doanh của công ty Cơ cấu tài sản cố định của công ty vẫn chưa thực sự hợp lý, vẫn còn những tài sản cố định đã quá cũ, hiệu năng sử dụng thấp nhưng chi phí sử dụng lại cao gây lãng phí và khó khăn trong quá trình quản lý tải sản làm giảm hiệu quả sử dụng vốn; Khả năng thanh toán ngắn hạn còn khá thấp, chi phí lãi vay cao
Công ty BIMICO đã có những biện pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, có một số giải pháp chính như sau:
- Chủ động trong công tác huy động VKD Huy động vốn thông qua liên doanh, liên kết Nhờ đó, nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường
- Tăng cường quản lý chi phí sản xuất kinh doanh: Quản lý tăng cường tiết kiệm
các nguồn lực nhằm làm giảm chi phí, tăng lợi nhuận là một trong những biện pháp hữu hiệu
Tóm lại, là một công ty cổ phần với bề dày truyền thống trong lĩnh vực vận tải biển, trong thời gian qua BIMICO đã có nhiều giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, chất lượng sản phẩm, tình hình doanh thu lợi nhuận tăng trưởng khá, đời sống cán bộ công nhân viên không ngừng được nâng cao
1.2.1.2 Kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty TNHH MTV Vật liệu xây dựng Hiệp Hà
Công ty chuyên cung cấp vật liệu xây dựng, cát đá xây dựng và sắt thép xây
dựng cho các nhà thầu lớn nhỏ trên toàn quốc Văn phòng Đại Diện: Tầng 1 , Tòa nhà Packsimex, 52 Đông Du,Phường Bến Nghé,Quận 1,TP.Hồ Chí Minh (Tòa nhà Packsimex ) và 3189/23 Phạm Thế Hiển , phường 7, Quận 8 TP.HCM Đặc biệt công
ty hiệp hà có hệ thống kho bãi chứa cát đá xây dựng phân bố trên tất cả các quận ở Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo thời gian giao hàng tới quý khách hàng là nhanh
Trang 39nhất và thuận tiện nhất Công ty được biết đến với chức năng là nhà phân phối Vật Liệu Xây Dựng và chuyên cung cấp cát đá xây dựng như: cát hồng ngự, cát xây thô, cát tô trát, cát san lấp, cát bê tông , cát tăng ba, cát vàng, đá đen, đá trắng, đá xanh biên hòa với đầy đủ các kích cỡ cho nhà thầu chọn lựa, gạch tuynel bình dương, gạch không nung, gạch block, xi măng xây dựng các loại, xi măng trắng, sắt thép xây dựng các loại (https://vlxdhiepha.com/gioi-thieu.html)
Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty
Công ty đầu tư trong những năm qua là tương đối hiệu quả, các khoản phải thu lớn nhưng không có nợ khó đòi; Có tình hình tài chính tương đối khả quan, lợi nhuận giữ lại tương đối ổn định hứa hẹn một sự tăng trưởng trong thời gian tới; Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động cho thấy công ty sử dụng vốn lưu động tương đối hiệu quả; Tỷ trọng phần vốn chiếm dụng của khách hàng trong tổng nguồn vốn ngắn hạn của công ty ngày càng tăng Tỷ trọng này tuy lớn song công ty vẫn chứng tỏ sự đảm bảo về khả năng thanh toán Do vậy, những rủi ro về tài chính đã được hạn chế rất nhiều; Công ty đã tạo công ăn việc làm ổn định cho cán bộ công nhân viên công ty với mức lương ổn định Bên cạnh đó Công ty vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục đó là: Tỷ lệ nợ / tổng nguồn vốn khá cao nên ít nhiều tính chủ động về nguồn vốn của công ty bị giảm sút, khả năng thanh toán của công ty mặc dù được đảm bảo, nhưng cách thức dự phòng này sẽ mang đến một trở ngại là công ty luôn bị tồn đọng một lượng vốn nhất định Điều này gây ra tình trạng lãng phí vốn đồng thời giảm tính chủ động trong kinh doanh; Mặc dù công ty chiếm dụng được một lượng vốn lớn nhưng bù lại nguồn vốn của công ty cũng bị chiếm dụng một tỷ lệ khá cao Các khoản phải thu, phải trả cũng như thời hạn thanh toán cần phải được xem xét theo từng nội dung và đối tượng thanh toán một cách cụ thể để tránh tình trạng bị động về tài chính Công ty chưa
có chiến lược vay dài hạn để tài trợ cho các khoản đầu tư các dự án kinh doanh vận tải Nên trong thời gian tới nếu không tìm được nguồn tài trợ công ty sẽ gặp phải những khó khăn về tài chính (https://vlxdhiepha.com/gioi-thieu.html) Do đó Công ty đã có những giải pháp giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh như :
Trang 40- Tăng thời hạn tín dụng cho khách hàng: Có nhiều khách hàng để nợ quá hạn
không trả tiền đúng thời hạn quy định, khi tăng thời hạn bán chịu lên, kỳ thu tiền bình quân của công ty sẽ cao hơn, chi phí bán hàng, thu nợ cũng tăng, Doanh nghiệp phải đầu tư lớn hơn vào các khoản phải thu, nợ khó đòi sẽ cao hơn Nhưng công ty sẽ thu hút được nhiều hợp đồng, khách hàng mới, doanh thu bán hàng cũng tăng theo
- Quản lý sử dụng tốt hơn hàng tồn kho: Công ty có những biện pháp cắt giảm
chi phí lưu kho xuống mức thấp nhất Công ty luôn đảm bảo dự trữ nguyên vật liệu hợp lý, lập hồ sơ cập nhật cho các bộ phận vật tư dự trữ theo số lượng và giá trị, tiến hành kiểm kê tài sản, theo dõi sự phân phối vật tư cho xây dựng, kiểm tra tình hình
dự trữ, đảm bảo an toàn , sản xuất liên tục nhưng không để chi phi quá lớn do dự trữ gây nên Đặc biệt là xây dựng các chiến lược dự trữ sẵn sàng cung cấp tối ưu vật tư cho sản xuất
- Tăng nhanh vòng quay vốn lưu động: Công ty tăng nhanh vòng quay vốn lưu
động, giảm thời gian luân chuyển vốn bằng việc tăng nhanh tốc độ hoạt động làm giảm lượng vốn trong lưu thông.Việc tăng nhanh vòng quay của vốn được thực hiện
ở tất cả các khâu Trong việc kinh doanh kho, bến bãi tận dụng tối đa diện tích kho bãi và năng suất lao động , đầu tư thêm đầu xe, công nghệ hiện đại, tăng thu nhập, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh vận tải, kho, bến bãi và cố gắng tăng cường vốn chủ sở hữu bằng cách huy động thêm từ nhân viên cũ Bằng những giải pháp trên, tính tự chủ của Công ty đã tăng thêm đáng kể và làm giảm áp lực về lãi vay của công
ty
1.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng Lào Cai
Từ những kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công
ty cổ phần khoáng sản và xây dựng Bình Dương và Công ty TNHH MTV Vật liệu xây dựng Hiệp Hà, nhận thấy rằng: hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện trực tiếp thông qua kết quả cuối cùng hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Như vậy, để có định hướng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh thì phải theo hướng nâng cao khả năng thu lợi nhuận của doanh nghiệp: Tích cực tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm Đồng thời đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm để tăng doanh thu Từ đó, mỗi doanh nghiệp tuỳ thuộc vào đặc