Y tế tư nhân giữ vị trí, vai trò quan trọng trong hệ thống y tế, góp phần cải thiện và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân trong khám, chữa bệnh, làm giảm tải cho các cơ sở y tế công. Nhiều cơ sở y tế tư nhân đã đầu tư nhiều trang thiết bị hiện đại, thực hiện được nhiều dịch vụ kỹ thuật cao, thủ tục khám chữa bệnh đơn giản, tinh thần thái độ phục vụ tận tình, chu đáo giúp người dân tiết kiệm được thời gian tạo tâm lý thoải mái cho người bệnh khi đi khám chữa bệnh 27.Bên cạnh những ưu điểm của cơ sở hành nghề khám bệnh, chữa bệnh ngoài công lập ở nước ta còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập như: Chưa quản lý được giá cả dịch vụ; hành nghề không có giấy phép hoạt động, không có chứng chỉ hành nghề y, chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh chưa được quan tâm đúng mức; quảng cáo sai sự thật, vượt quá khả năng thực tế của cơ sở y tế; vừa khám bệnh vừa bán thuốc khi không đủ điều kiện; lạm dụng dịch vụ cận lâm sàng; mang tính thương mại hóa trong khám bệnh, chữa bệnh. Đã có khá nhiều cơ sở y tế tư nhân vi phạm pháp luật nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của người bệnh gây dư luận không tốt, thậm chí gây bức xúc trong nhân dân 27.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Công tác chăm sóc sức khoẻ của nhân dân là trách nhiệm của toàn xã hội [18]
Đa dạng hoá các loại hình khám chữa bệnh nhằm đáp ứng ngày càng cao nhu cầucủa nhân dân, trong điều kiện nguồn lực Nhà nước đầu tư cho y tế còn có hạn Thờigian qua, cùng với hệ thống y tế Nhà nước, y tế tư nhân đã có những bước phát triểnnhanh chóng và rộng khắp, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, thựchiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe nhân dân [3]
Y tế tư nhân giữ vị trí, vai trò quan trọng trong hệ thống y tế, góp phần cảithiện và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân trong khám, chữa bệnh, làm giảm tảicho các cơ sở y tế công Nhiều cơ sở y tế tư nhân đã đầu tư nhiều trang thiết bị hiệnđại, thực hiện được nhiều dịch vụ kỹ thuật cao, thủ tục khám chữa bệnh đơn giản,tinh thần thái độ phục vụ tận tình, chu đáo giúp người dân tiết kiệm được thời giantạo tâm lý thoải mái cho người bệnh khi đi khám chữa bệnh [27]
Bên cạnh những ưu điểm của cơ sở hành nghề khám bệnh, chữa bệnh ngoàicông lập ở nước ta còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập như: Chưa quản lý được giá cảdịch vụ; hành nghề không có giấy phép hoạt động, không có chứng chỉ hành nghề y,chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh chưa được quan tâm đúng mức; quảng cáo sai
sự thật, vượt quá khả năng thực tế của cơ sở y tế; vừa khám bệnh vừa bán thuốc khikhông đủ điều kiện; lạm dụng dịch vụ cận lâm sàng; mang tính thương mại hóatrong khám bệnh, chữa bệnh Đã có khá nhiều cơ sở y tế tư nhân vi phạm pháp luậtnghiêm trọng làm ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của người bệnh gây dưluận không tốt, thậm chí gây bức xúc trong nhân dân [27]
Để y tế tư nhân thực sự phát huy hiệu quả của mình và đi đúng hướng, không
bị chi phối bởi cơ chế thị trường thì vai trò của cơ quan quản lý nhà nước là hết sứcquan trọng [5]
Năm 2009, Luật Khám bệnh, chữa bệnh được ban hành thay thế Pháp lệnhHành nghề y, dược tư nhân Để thực hiện Luật khám bệnh, chữa bệnh một loạt cácvăn bản của Chính phủ, Bộ, liên bộ được ban hành Các quy định về Hành nghề Y
tư nhân ngày càng chặt chẽ Tuy nhiên để pháp luật đi vào cuộc sống thì việc triển
Trang 2khai, thực hiện pháp luật là hết sức quan trọng Trước thực trạng những tồn tại củahoạt động hành nghề y tư nhân hiện nay, cần có những đánh giá khoa học, đầy đủviệc chấp hành pháp luật trong công tác này.
Yên Bái là tỉnh miền núi phía Bắc, toàn tỉnh có 9 huyện, thị xã, thành phố với
180 xã, phường, thị trấn Có 170 cơ sở hành nghề y tư nhân trên địa bàn toàn tỉnhtrong đó: 01 Bệnh viện Đa khoa, 08 Phòng khám Đa khoa, 83 Phòng khám chuyênkhoa, 29 phòng chẩn trị YHCT và 49 cơ sở dịch vụ khác Các cơ sở hành nghề y tưnhân phần lớn được tập trung ở hai khu vực đó là thành phố Yên Bái và thị xãNghĩa Lộ còn các huyện khác với số lượng ít[35]
Thành phố Yên Bái là Trung tâm văn hóa, kinh tế xã hội của tỉnh Yên Bái códiện tích tự nhiên là: 108, 15 km2; dân số tính đến 31/12/2016 là: 100.433 người;gồm 17 xã, phường; có 82 cơ sở HNYTN trong đó: 01 Bệnh viện Đa khoa, 05Phòng khám Đa khoa, 57 Phòng khám chuyên khoa, 13 phòng chẩn trị YHCT và 06
cơ sở dịch vụ khác[35]
Câu hỏi đặt ra là việc chấp hành các quy định về HNYTN được các cơ sởthực hiện ra sao? Có sự khác biệt giữa các loại hình hành nghề không? Yếu tố nàođang ảnh hưởng tới hoạt động của mạng lưới HNYTN trên địa bàn thành phố YênBái? Hiện nay trên phạm vi cả nước có một số đề tài nghiên cứu về thực trạng hànhnghề y tư nhân ở một số địa phương nhưng hầu hết các đề tài nghiên cứu đều đãđược tiến hành từ nhiều năm, do việc triển khai Luật Khám bệnh, chữa bệnh và mộtloạt các quy định về HNYTN mới ra đời nên hoạt động HNYTN đã có nhiều thayđổi Từ trước đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về lĩnh vực này trên địa bàntỉnh Yên Bái Để có cơ sở khoa học, phát huy những mặt tích cực, khắc phục nhữngmặt tồn tại trong lĩnh vực hành nghề y tư nhân trên địa bàn thành phố Yên Bái,chúng tôi nghiên cứu đề tài: Đánh giá hoạt động hành nghề y tế tư nhân trên địa
bàn thành phố Yên Bái năm 2017.
Trang 3MỤC TIÊU
1 Đánh giá việc tuân thủ một số quy định pháp luật về hành nghề y tư nhâncủa các cơ sở hành nghề y tư nhân trên địa bàn thành phố Yên Bái năm 2017
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới việc tuân thủ các quy định pháp luật
về hành nghề y tế tư nhân tại thành phố Yên Bái năm 2017
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số định nghĩa và khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm về hành nghề y tư nhân
- Khu vực dịch vụ y tế tư nhân bao gồm toàn bộ các chủ thể cung cấp dịch vụ
không thuộc sở hữu của Nhà nước Khu vực này có thể hoạt động vì mục đích lợinhận hoặc phi lợi nhuận [33]
- Hành nghề Y tư nhân là việc cá nhân hoặc tổ chức không phải sở hữu nhà
nước đăng ký khám, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữabệnh và các quy định khác của pháp luật có liên quan [33]
- Cơ sở Y tư nhân là cơ sở do cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp đăng ký
kinh doanh và quản lý điều hành [33]
- Cơ sở y dân lập là cơ sở do tổ chức đứng ra thành lập, được đầu tư bằng
vốn ngoài ngân sách nhà nước, do tổ chức, cá nhân đóng góp và tự quản lý, điềuhành [33]
1.1.2 Khái niệm và một số nguyên tắc chung về công tác khám, chữa bệnh
- Khám bệnh: là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi
cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩnđoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận[31]
- Chữa bệnh: là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công
nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chứcnăng cho người bệnh[31]
- Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh: là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp
giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh[31]
- Người bệnh: là người sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh[31].
- Chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh: là văn bản do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền cấp cho người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định[31]
Trang 5- Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh: là văn bản do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cấp cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện hoạt động theoquy định[31]
- Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh: là người có chứng chỉ hành nghề theo quy định của Luật khám bệnh, chữa
bệnh, hành nghề cơ hữu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, có phạm vi hoạt độngchuyên môn phù hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mà mình phụ trách và chịutrách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ hoạt động chuyên môn của cơ sở khámbệnh, chữa bệnh[24]
- Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh: là người đã được cấp chứng chỉ
hành nghề và thực hiện khám bệnh, chữa bệnh[31]
- Người hành nghề cơ hữu là người đăng ký làm việc liên tục 8 giờ/ngày trong
thời gian hoạt động mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã đăng ký hoặc người làmviệc đầy đủ thời gian mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đăng ký hoạt động có thờigian ít hơn 8 giờ/ngày phù hợp với quy định của pháp luật về lao động[24]
- Nguyên tắc trong hành nghề khám bệnh, chữa bệnh: Bình đẳng, công
bằng và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người bệnh Tôn trọng quyền củangười bệnh; giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ
sơ bệnh án Kịp thời và tuân thủ đúng quy định chuyên môn kỹ thuật Ưu tiên khámbệnh, chữa bệnh đối với trường hợp cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, người khuyết tậtnặng, người từ đủ 80 tuổi trở lên, người có công với cách mạng, phụ nữ có thai Bảođảm đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề Tôn trọng, hợp tác và bảo vệ ngườihành nghề khi làm nhiệm vụ [31]
- Chính sách của Nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh: Đẩy mạnh xã hội
hóa các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh; khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tưphát triển dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh Khuyến khích việc nghiên cứu, ứng dụngkhoa học, công nghệ trong khám bệnh, chữa bệnh [31]
- Trách nhiệm quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh: Chính phủ
thống nhất quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh Bộ Y tế chịu trách nhiệmtrước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh và có các
Trang 6nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Xây dựng và ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơquan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật vềkhám bệnh, chữa bệnh; chiến lược phát triển, quy hoạch hệ thống cơ sở khám bệnh,chữa bệnh; Chỉ đạo hướng dẫn, tuyên truyền và tổ chức triển khai thực hiện văn bảnquy phạm pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh; chiến lược phát triển, quy hoạch hệthống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; Quản lý thống nhất việc cấp, cấp lại, thu hồichứng chỉ hành nghề và giấy phép hoạt động; Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệuquốc gia về người hành nghề và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; Thanh tra, kiểm tra,giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh;
Tổ chức đào tạo, đào tạo liên tục, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực; hướng dẫnviệc luân phiên người hành nghề; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệtrong khám bệnh, chữa bệnh; Thực hiện hợp tác quốc tế về khám bệnh, chữa bệnh;thừa nhận chứng chỉ hành nghề giữa các nước; hướng dẫn khám bệnh, chữa bệnhnhân đạo; hợp tác chuyên gia, chuyển giao kỹ thuật và phương pháp chữa bệnh mới
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh trongphạm vi địa phương [31]
- Các hành vi bị cấm: Theo quy định của Luật Khám chữa bệnh năm 2009,
hiện có 19 hành vi bị cấm trong hoạt động khám chữa bệnh cụ thể là:
+/ Từ chối hoặc cố ý chậm cấp cứu người bệnh
+/ KB, CB không có CCHN hoặc đang trong thời gian bị đình chỉ hành nghề; +/ Cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh mà không có GPHĐ hoặc đangtrong thời gian bị đình chỉ hoạt động
+/ Hành nghề KB, CB, cung cấp dịch vụ KB, CB vượt quá phạm vi hoạt độngchuyên môn được ghi trong CCHN, GPHĐ, trừ trường hợp cấp cứu
+/ Thuê, mượn, cho thuê, cho mượn CCHN hoặc GPHĐ
+/ Người hành nghề bán thuốc cho người bệnh dưới mọi hình thức, trừ bác sỹđông y, y sỹ đông y, lương y và người có bài thuốc gia truyền
+/ Áp dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật y tế chưa được công nhận, sửdụng thuốc chưa được phép lưu hành trong KB, CB
Trang 7+/ Quảng cáo không đúng với khả năng, trình độ chuyên môn hoặc quá phạm
vi hoạt động chuyên môn được ghi trong CCHN, GPHĐ; lợi dụng kiến thức y học
cổ truyền hoặc kiến thức y khoa khác để quảng cáo gian dối về phương pháp chữabệnh, thuốc chữa bệnh
+/ Sử dụng hình thức mê tín trong KB, CB
+/ Người hành nghề sử dụng rượu, bia, thuốc lá hoặc có nồng độ cồn trongmáu, hơi thở khi KB, CB
+/ Vi phạm quyền của người bệnh;
+/ Không tuân thủ các quy định chuyên môn kỹ thuật trong KB, CB;
+/ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong quá trình KB, CB;
+/ Lạm dụng nghề nghiệp để xâm phạm danh dự, nhân phẩm, thân thể ngườibệnh;
+/ Tẩy xóa, sửa chữa hồ sơ bệnh án nhằm làm sai lệch thông tin về KB, CB +/ Gây tổn hại đến sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của người hànhnghề
+/ Ngăn cản người bệnh thuộc diện chữa bệnh bắt buộc vào cơ sở KB, CBhoặc cố ý thực hiện chữa bệnh bắt buộc đối với người không thuộc diện chữa bệnhbắt buộc
+/ Cán bộ, công chức, viên chức y tế thành lập, tham gia thành lập hoặc thamgia quản lý, điều hành BV tư nhân hoặc cơ sở KB, CB được thành lập và hoạt độngtheo Luật doanh nghiệp và Luật hợp tác xã, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cử tham gia quản lý, điều hành tại cơ sở KB, CB có phần vốn củaNhà nước
+/ Đưa, nhận, môi giới hối lộ trong KB, CB[31]
1.2 Vai trò của Y tế tư nhân
Trên thế giới hệ thống y tế tư nhân giữ một vai trò quan trọng trong hệ thốngkhám chữa bệnh của các nước Ở nhiều nước phát triển đã hình thành các bệnh viện,các viện nghiên cứu, các trung tâm ứng dụng công nghệ cao tư nhân và được đầu tư
cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến góp phầnlàm giảm gánh nặng cho khối y tế công Mạng lưới y tế tư nhân phát triển giúp
Trang 8người dân dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với các dịch vụ y tế, có cơ hội lựa chọncác cơ sở y tế phù hợp với khả năng chi trả và nhu cầu khám chữa bệnh của người
sử dụng dịch vụ Tuy nhiên ở các nước kém phát triển, thu nhập bình quân đầungười thấp, mạng lưới y tế tư nhân ít phát triển hơn do khả năng chi trả thấp[26] Y
tế tư nhân có thế mạnh là các dịch vụ gần dân, không mất thời gian chờ đợi, thủ tụchành chính đơn giản, tiện lợi, được tiếp đón niềm nở ân cần, phục vụ theo yêu cầucủa người sử dụng dịch vụ
1.3 Hình thức hoạt động của hành nghề y tế tư nhân
Tại Việt Nam, từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, Nghị định số 109/2016/NĐ-CPngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định cấp chứng chỉ hành nghề đốivới người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữabệnh có hiệu lực các hình thức HNYTN được quy định theo Nghị định này gồm:
- Bệnh viện bao gồm bệnh viện đa khoa và bệnh viện chuyên khoa
1.4 Hoạt động của y tế tư nhân trên thế giới
Y tế tư nhân ở các nước trên thế giới hoạt động từ rất lâu Tuy nhiên các sốliệu về HNYTN rất khan hiếm, hầu hết các thông tin tìm kiếm đều đã cũ Có thểkhái quát như sau: Ở các nước phát triển, hành nghề y tư nhân được coi là nguồncung cấp dịch vụ y tế chủ yếu, tham gia vào công tác đào tạo, nghiên cứu, y tế dựphòng và bảo hiểm y tế Đối với các nước Mỹ La tinh và Cận sa mạc Sahara, dokhủng hoảng kinh tế, ngân sách nhà nước dành cho y tế giảm tới 50% dẫn tới hậu
Trang 9quả là y tế nhà nước không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân vềKCB Ở các nước mới công nghiệp hóa và các nước khu vực Đông Nam Á do có sựtăng trưởng kinh tế cao nên mức sống của người dân tăng lên và nhu cầu sử dụngdịch vụ y tế cũng tăng nhưng y tế Nhà nước chưa đáp ứng đủ Đối với một số nướcđang trải qua thời kì quá độ chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nềnkinh tế thị trường, nguồn bao cấp của nhà nước bị cắt giảm dẫn đến tình trạng thiếutrang thiết bị y tế, suy giảm tinh thần và thái độ phục vụ của cán bộ nhà nước, trong
đó có Việt Nam Đó là những yếu tố và lí do dẫn đến sự phát triển của hệ thống y tế
tư nhân của các nước này [26]
Ở các nước khác nhau do có chế độ chính trị, xã hội và điều kiện kinh tếkhác nhau có các quy định khác nhau về hoạt động hành nghề y tế tư nhân khácnhau Song về cơ bản các nước đều có mạng lưới y tế tư nhân hoạt động và giữ vaitrò quan trọng hỗ trợ cho hoạt động y tế công
Philippin: Hình thức tổ chức cơ sở y tế tư nhân chủ yếu là bệnh viện tư, PK vàdịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà Y tế tư nhân ở Philippin cũng to lớn như y tếcông ở tất cả các khía cạnh tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, người cungcấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ Cả y tế công và y tế tư đều được thực hiệnchương trình bảo hiểm xã hội của Chính phủ Hàng năm có khoảng 52,40% kháchhàng sử dụng dịch vụ y tế công; 41,4% sử dụng dịch vụ y tế tư nhân (phòng khámtư: 22,80% và BV tư: 18,30%) và số người bệnh còn lại (6,5%) sử dụng dịch vụchăm sóc sức khoẻ tại nhà Y tế tư nhân ở Philippin chữa bệnh cho cả người nghèo.Chính vì vậy, Chính phủ Philipin rất quan tâm đến sự phát triển của y tế tư nhânbằng cách khuyến khích các nhà cung cấp dịch vụ y tế hỗ trợ tài chính, đặc biệt chophát triển bệnh viện tư [26]
Thái Lan: Y tế tư nhân chủ yếu tập trung vào chữa bệnh và đáp ứng yêu cầucủa những người có khả năng chi trả được dịch vụ Ngoài bệnh viện tư, ở Thái Lancòn có hình thức tổ chức phòng khám đa khoa tư nhân rất phổ biến Nhiều phòngkhám đa khoa tư nhân cung cấp dịch vụ y tế thông thường và chất lượng cao, có từ
10 - 50 giường bệnh quy mô hoạt động của phòng khám đa khoa như bệnh viện nhỏ
Trang 10và vừa Về người cung cấp dịch vụ y tế tư nhân ở Thái Lan, phần lớn là nhân viên y
tế làm việc ở các cơ sở y tế công và làm thêm ngoài giờ, ngày nghỉ cuối tuần Sựphát triển đa dạng các hình thức cơ sở hành nghề y tư nhân ở Thái Lan đã làm cholưu lượng bệnh nhân nội trú tăng lên đáng kể Như vậy, y tế tư nhân ở Thái Lan đãgóp phần làm giảm tải cả bệnh nhân nội trú và ngoại trú Sự bất cập trong phân bố
cơ sở y tế công và y tế tư ở Thái Lan là các cơ sở dịch vụ y tế và nhân lực y tế chủyếu tập trung ở thủ đô Băng Cốc và các thành phố lớn Điều này gây nên sự mất cânđối về phân bố nguồn lực y tế giữa các vùng, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiếpcận dịch vụ y tế có chất lượng của người nghèo và người ở vùng sâu, vùng xa Dođầu tư vào công nghệ mới và đắt tiền, y tế tư nhân ở Thái Lan đang làm tăng thêmchi phí cho người sử dụng dịch vụ, làm cho người có thu nhập thấp càng ít có cơ hộitiếp cận với dịch vụ y tế tư nhân Như vậy, người nghèo, người già vẫn phải dựavào sự cung cấp tài chính của Nhà nước cho việc chăm sóc sức khỏe Điều nàychứng tỏ y tế tư nhân không thể thay thế hoàn toàn y tế Nhà nước mặc dù nó cónhững đóng góp quan trọng trong nguồn cung cấp tài chính và cung cấp dịch vụ[26]
Hàn Quốc: Sự phát triển của y tế tư nhân ở Hàn Quốc chủ yếu theo định hướnglợi nhuận, các bác sĩ tư là những nhà cung cấp dịch vụ y tế chủ yếu; bác sĩ côngchiếm thành phần rất nhỏ Ở Hàn Quốc, sự khác nhau giữa bác sĩ tây y và đông y,giữa bác sĩ tư và dược sĩ tư là không có ranh giới rõ ràng, tất cả đều được kê đơn vàbán thuốc tại cơ sở KCB Hàn Quốc bắt đầu định hướng chính sách tư nhân hóa y tế
từ những năm đầu của thập kỷ 80 thế kỷ XX Lúc đầu là việc giảm tỷ lệ BV công từ14% (1982) xuống 5% (1984) Mặt khác, do đẩy mạnh quá trình tư nhân hóa hệthống y tế nên Hàn Quốc đang đứng trước những khó khăn và bất cập như: Y tế tưnhân chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn và khu công nghiệp đông dân cư nên đãgây ra mất cân bằng trong chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, nhất là người già,người nghèo, người tàn tật và người có thu nhập thấp [26]
Ấn Độ: Mạng lưới y tế tư nhân phát triển rộng rãi cả ở thành thị và nông thôn.Mặc dù cơ sở y tế công có mặt khắp nơi, song tỷ lệ người sử dụng dịch vụ y tế tưnhân để KCB ngoại trú vẫn cao (có đến 80% lượt người bệnh đến KCB ngoại trú ở
Trang 11các cơ sở y tế tư nhân) Ở Ấn Độ, người sử dụng dịch vụ y tế tư nhân không chỉ làngười thuộc tầng lớp trung lưu mà còn có cả người nghèo Điều này càng cho thấy y
tế tư nhân đóng vai trò nhà cung cấp dịch vụ chủ yếu cho cộng đồng Người cungcấp dịch vụ y tế tư nhân ở Ấn Độ còn đóng vai trò quan trọng trong điều trị cácbệnh trẻ em như tiêu chảy và nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính, nhóm bệnh này
lẽ ra thuộc lĩnh vực trách nhiệm của y tế nhà nước và trên thực tế được coi là quantrọng trong chương trình y tế công cộng của Ấn Độ [26]
Nhìn chung y tế tư nhân tập chung vào hoạt động khám chữa bệnh ngoại trú
vì mục đích lợi nhuận, tập trung vào vùng dân cư có điều kiện kinh tế phát triển nhưcác thành phố, các khu đô thị, khu công nghiệp Đối tượng phục vụ bao gồm cảngười giàu và người nghèo Tuy nhiên sự phát triển dịch vụ y tế tư nhân trên thếgiới ngày càng có xu hướng đa dạng, rộng khắp khó kiểm soát do nhu cầu khámchữa bệnh và chăm sóc sức khỏe tăng cao, trong khi hệ thống y tế công còn bộc lộnhiều mặt hạn chế [26]
Các nước trên thế giới đã đưa ra nhiều quy định, chế tài nhằm quản lý hệthống y tế tư nhân Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực y tế tư nhân cũng bộc lộnhiều hạn chế[26]
1.5 Hoạt động của y tế tư nhân tại Việt Nam
1.5.1 Tình hình chung
Trong những năm qua công tác KB, CB cho nhân dân đã đạt được nhiềuthành tựu quan trọng Mạng lưới các cơ sở khám chữa bệnh ngày càng phát triểntrong đó có mạng lưới hoạt động của các cơ sở y tế tư nhân[3] Nhiều công nghệ yhọc cao được áp dụng và mở rộng như hỗ trợ sinh sản, ghép tạng, phầu thuật nộisoi, chẩn đoán hình ảnh, các kỹ thuật hồi sức cấp cứu đáp ứng ngày càng cao nhucầu KB, CB của nhân dân Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác KB, CBcòn những mặt tồn tại, hạn chế trước diễn biến bệnh tật ngày càng phức tạp, khảnăng cung cấp các dịch vụ KB, CB chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao củanhân dân, tình trạng quá tải còn xảy ra ở hầu hết các bệnh viện tuyến trên làm ảnhhưởng tới chất lượng KCB và sự hài lòng của người bệnh[2] Thực tế đòi hỏi việc
Trang 12cung cấp các dịch vụ y tế phải đa dạng, thuận lợi, kịp thời, đạt chất lượng cao nhất
là chúng ta đang tiến hành hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng
1.5.2 Hoạt động hành nghề y tư nhân ở Việt Nam
Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ chính trị đã nêu rõ: "Các loại hình y dược tư nhân hoạt động theo pháp luật là bộ phận cấu thành của hệ thống y tế Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục đầu tư; có chính sách khuyến khích về thuế, đất đai để phát triển các cơ sở y tế ngoài công lập" [18]
Từ năm 1989, y tư nhân chính thức được phép hoạt động, chỉ trong một thờigian ngắn mạng lưới này đã phát triển rộng rãi Các dịch vụ này đã góp phần giảmtải cho các bệnh viện công lập
Theo đánh giá của Cục Quản lý khám chữa bệnh năm 2012: các chỉ số hoạtđộng chuyên môn của các bệnh viện tư nhân tăng trưởng mạnh, khám bệnh tăng19,5%, điều trị nội trú tăng 12,5% Đặc biệt phẫu thuật từ loại 3 trở lên tăng 23,7%trong đó phẫu thuật loại đặc biệt tăng 64,1%; vi phẫu tăng 66,2%; nội soi tăng
49,8%[2].
Năm 2014, chỉ tính riêng các bệnh viện tư nhân đã khám chữa bệnh cho7.700.875 lượt người, Điều trị Nội trú cho 640.138 lượt người, phẫu thuật cho256.268 lượt người[3]
Trên phạm vi toàn quốc, tính đến tháng 12 năm 2016 có 169 bệnh viện với sốgiường bệnh đăng ký là 11.762 giường và hơn 30.000 phòng khám ngoài công lập;khoảng 300.000 người đang hành nghề y dược tư nhân Bệnh viện tư nhân chiếm11% tổng số bệnh viện trên toàn quốc, tỷ lệ giường bệnh chiếm 4,2%[3]
Hầu hết các bệnh viện tư nhân có cơ sở vật chất, trang thiết bị khá tốt; đội ngũ
y bác sỹ tận tình, chu đáo Tuy nhiên, chưa có nhiều bệnh viện tư nhân có thươnghiệu khiến tỷ lệ khám chữa bệnh của khối này vẫn rất thấp, chỉ chiếm 6,7% điều trịngoại trú và 5,7% điều trị nội trú; 56,9% số bệnh viện có công suất sử dụng giườngbệnh dưới 60% Đặc biệt, bệnh viện tư nhân chỉ phục vụ khoảng dưới 4% lượtkhám bảo hiểm y tế[39]
Hoạt động của các cơ sở y tế tư nhân liên quan trực tiếp đến sức khỏe, thậmchí là tính mạng của người dân Do vậy, cần phải xiết chặt quản lý nhà nước trên
Trang 13lĩnh vực này và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Điều này không chỉ là tráchnhiệm của ngành Y tế, mà cần có sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền và các cơquan chức năng trên địa bàn, đồng thời phát huy vai trò của chính người dân trongviệc phát hiện, tố giác các cơ sở hành nghề y, dược có dấu hiệu vi phạm[28]
1.5.3 Những Quy định hiện nay về đăng ký hành nghề:
1.5.3.1 Những quy định đối với người hành nghề tại các cơ sở HNYTN Tại “Điều 12 Nguyên tắc đăng ký hành nghề” Nghị định số 109/2016/NĐ-
CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định:
- Người hành nghề chỉ được làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹthuật của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh[24]
- Người hành nghề chỉ được đăng ký làm người phụ trách một khoa của một
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Không được đồng thời làm người phụ trách từ haikhoa trở lên trong cùng một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc đồng thời làm ngườiphụ trách khoa của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác[24]
- Người hành nghề chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khámbệnh, chữa bệnh có thể kiêm nhiệm phụ trách một khoa trong cùng một cơ sở khámbệnh, chữa bệnh và phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứngchỉ hành nghề đã được cấp[24]
- Người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được đăng ký làm ngườichịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ngoàigiờ[24]
- Người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước khôngđược đăng ký làm người đứng đầu của bệnh viện tư nhân hoặc cơ sở khám bệnh,chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã,trừ trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cử tham gia quản lý, điềuhành tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có phần vốn của Nhà nước[24]
- Người hành nghề đã đăng ký làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹthuật của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được đăng ký hành nghề ngoài giờ tại cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh khác[24]
Trang 14- Người hành nghề được đăng ký hành nghề tại một hoặc nhiều cơ sở khámbệnh, chữa bệnh nhưng không được đăng ký hành nghề cùng một thời gian tại các
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác nhau và tổng thời gian làm ngoài giờ không quá
200 giờ theo quy định của Bộ Luật lao động Người hành nghề phải bảo đảm hợp lý
về thời gian đi lại giữa các địa điểm hành nghề đã đăng ký[24]
1.5.3.2 Những quy định đối với cơ sở hành nghề y tư nhân
Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với các hình thức tổ chức của cơ sởkhám bệnh, chữa bệnh được quy định cụ thể đối với từng loại hình: Bệnh viện,phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa, phòng chẩn trị YHCT, dịch vụ y tế
và các hình thức khác [24] Cụ thể:
- Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với bệnh viện
+/ Cơ sở vật chất: Khoa, phòng, hành lang tập trung, liên hoàn, khép kín;
diện tích sàn xây dựng ≥ 50 m2/giường bệnh; chiều rộng mặt trước ≥ 10 m; Bảođảm các điều kiện về an toàn bức xạ, xử lý chất thải y tế, PCCC; bảo đảm có đủđiện, nước và các điều kiện khác phục vụ người bệnh
+/ Thiết bị y tế: Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động
chuyên môn; có đủ phương tiện vận chuyển cấp cứu trong và ngoài bệnh viện
+/ Nhân sự: Số người hành nghề cơ hữu đạt tỷ lệ ≥ 50% trong mỗi khoa;
Người chịu trách nhiệm chuyên môn, trưởng khoa: là bác sỹ có chứng chỉ hànhnghề, phạm vi hoạt động chuyên môn phù hợp chuyên khoa đăng ký; thời giankhám bệnh, chữa bệnh ≥ 54 tháng; hành nghề cơ hữu tại bệnh viện
- Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với phòng khám đa khoa
+/ Cơ sở vật chất: Địa điểm cố định, tách biệt với sinh hoạt gia đình, đủ ánh
sáng, có trần chống bụi, tường và nền nhà dễ tẩy rửa, vệ sinh; có nơi tiếp đón,phòng cấp cứu, phòng lưu người bệnh, phòng khám chuyên khoa và phòng tiểuphẫu (nếu thực hiện tiểu phẫu); Phòng cấp cứu có diện tích ≥ 12 m2; Phòng lưungười bệnh ≥ 15 m2 (≥ 02 giường lưu); phòng khám chuyên khoa và buồng tiểuphẫu ≥ 10 m2; bảo đảm các điều kiện về an toàn bức xạ, xử lý chất thải y tế, phòngcháy chữa cháy; bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác phục vụ ngườibệnh
Trang 15+/ Thiết bị y tế: Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà phòng khám đa khoa đăng ký; có hộp thuốc chống sốc và đủ thuốc
cấp cứu chuyên khoa
+/ Nhân sự: Số lượng bác sỹ khám bệnh, chữa bệnh hành nghề cơ hữu ≥
50% trên tổng số bác sỹ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa;Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám đa khoa phải đápứng các điều kiện sau đây: Là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề phù hợp với ≥ 01chuyên khoa mà phòng khám đăng ký; có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ≥ 54tháng; là người hành nghề cơ hữu tại phòng khám đa khoa
Người thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh phải có chứng chỉ hành nghề,phân công phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề
- Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với phòng khám chuyên khoa
+/ Cơ sở vật chất: Địa điểm cố định, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình, bảo
đảm đủ ánh sáng, có trần chống bụi, tường và nền nhà phải sử dụng các chất liệu dễtẩy rửa, làm vệ sinh; Phòng khám chuyên khoa phải có phòng khám bệnh, chữabệnh có diện tích ≥ 10 m2 và nơi đón tiếp người bệnh; thực hiện vận động trị liệu thìphòng vận động trị liệu ≥ 20 m2; Phòng khám chuyên khoa Răng - Hàm - Mặt có
trên 01 ghế răng, diện tích cho mỗi ghế răng ≥ 5 m2; phải bố trí khu vực tiệt trùng
riêng biệt để xử lý dụng cụ y tế sử dụng lại; bảo đảm các điều kiện về an toàn bức
xạ, xử lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy; bảo đảm có đủ điện, nước và cácđiều kiện khác phục vụ người bệnh
+/ Thiết bị y tế: Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động
chuyên môn mà cơ sở đăng ký; có hộp thuốc chống sốc và đủ thuốc cấp cứu chuyên
khoa;
+/ Nhân sự: Người chịu trách nhiệm chuyên môn là bác sỹ có chứng chỉ
hành nghề phù hợp với chuyên khoa mà phòng khám đăng ký Có thời gian khámbệnh, chữa bệnh ≥ 54 tháng về chuyên khoa đó
- Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với phòng chẩn trị y học cổ truyền
Trang 16+/ Cơ sở vật chất: Địa điểm cố định, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình, bảo
đảm đủ ánh sáng, có trần chống bụi, tường và nền nhà phải sử dụng các chất liệu dễ
tẩy rửa, làm vệ sinh Phòng chẩn trị có diện tích ≥ 10 m2 và có nơi đón tiếp người
bệnh Châm cứu, xoa bóp day ấn huyệt: nơi kê giường châm cứu, xoa bóp day ấn
huyệt diện tích ≥ 05 m2 một giường bệnh; Xông hơi thuốc: buồng xông hơi diện tích
≥ 02 m2, phải kín nhưng đủ ánh sáng
+/ Thiết bị y tế:
Đối với khám bệnh, kê đơn, bốc thuốc: Có tủ thuốc, các vị thuốc được đựng
trong ô kéo hoặc trong chai lọ thủy tinh hoặc nhựa trắng có nắp và ghi rõ tên vị
thuốc ở bên ngoài; có cân thuốc và phân chia các vị thuốc theo thang, giấy gói thuốc
(không dùng giấy báo, giấy có chữ)
Đối với châm cứu, xoa bóp, day ấn huyệt: Có giường châm cứu, xoa bóp, day ấn huyệt; có đủ dụng cụ để châm cứu, xoa bóp, day ấn huyệt; có đủ dụng cụ và
hướng dẫn xử lý vượng châm
Đối với xông hơi thuốc: Phải có hệ thống tạo hơi thuốc, van điều chỉnh, có
bảng hướng dẫn xông hơi và hệ thống chuông báo trong trường hợp khẩn cấp
+/ Nhân sự: Người làm việc tại cơ sở nếu thực hiện khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề; Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của
phòng chẩn trị y học cổ truyền phải là bác sỹ y học cổ truyền hoặc y sỹ y học cổtruyền hoặc là người có giấy chứng nhận là lương y hoặc người có bài thuốc giatruyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền và phải có chứng chỉ hành nghềkhám bệnh, chữa bệnh y học cổ truyền; Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh bằng y
học cổ truyền ≥ 54 tháng đối với bác sỹ y học cổ truyền; Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền ≥ 48 tháng đối với y sỹ y học cổ truyền; Có thời
gian khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền ≥ 36 tháng đối với lương y hoặcngười có bài thuốc gia truyền hoặc người có phương pháp chữa bệnh gia truyền;
Là người hành nghề cơ hữu tại phòng chẩn trị y học cổ truyền
- Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp
Trang 17+/ Cơ sở vật chất: Địa điểm cố định, có đủ ánh sáng, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình; Phòng tiêm (chích), thay băng phải có diện tích ≥ 10 m2;
+/ Thiết bị y tế: Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động
chuyên môn mà cơ sở đã đăng ký; có hộp thuốc chống sốc
+/ Nhân sự: Người chịu trách nhiệm chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp y
trở lên có chứng chỉ hành nghề; có thời gian khám bệnh, chữa bệnh về tiêm (chích),thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp ≥ 45 tháng; hành nghề cơ hữu tại cơsở
- Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ cấp cứu, hỗ trợ vận chuyển người bệnh
+/ Cơ sở vật chất: Địa điểm cố định, có đủ ánh sáng, tách biệt với nơi sinh
hoạt gia đình; bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện vệ sinh
Thiết bị, phương tiện vận chuyển y tế: Có đủ phương tiện vận chuyển cấp
cứu với đầy đủ thiết bị, dụng cụ y tế; có hộp thuốc chống sốc, đủ thuốc cấp cứu, bảo
đảm an toàn, điều kiện vệ sinh
+/ Nhân sự: Người chịu trách nhiệm chuyên môn: Là bác sỹ có chứng chỉ
hành nghề; có văn bằng chuyên môn hoặc chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận về hồisức cấp cứu; thời gian khám bệnh, chữa bệnh ≥ 54 tháng; hành nghề cơ hữu tại cơsở
- Các quy định về chuyên môn: bao gồm các quy định về phạm vi hành
nghề theo các loại hình đăng ký; quy định bán thuốc tại các cơ sở HNYTN; quyđịnh chống nhiễm khuẩn của cơ sở vật chất; quy định về phác đồ chống sốc; quyđịnh về hộp chống sốc; quy định về tủ thuốc cấp cứu
- Các quy định khác: quy định về theo dõi ghi chép báo cáo khám chữa
bệnh tại các cơ sở HNYTN; quy định về niêm iết giá dịch vụ; quy định về nội dungbiển hiệu của cơ sở; quy định về quảng cáo trong lĩnh vực y tế
1.5.3.3 Trách nhiệm quản lý đối với cơ sở hành nghề y tư nhân
Công tác quản lý hành nghề y tế tư nhân đối với Ngành Y tế: Ở Bộ Y tế giaocho Cục Quản lý khám chữa bệnh quản lý, ở các Sở Y tế thành lập các Phòng Quản
lý hành nghề Y tư nhân hoặc giao cho Phòng Nghiệp vụ Y quản lý Thanh tra Sở Y
Trang 18tế có trách nhiệm phối hợp với các Phòng Nghiệp vụ Y, Nghiệp vụ Dược tổ chứchoạt động thanh tra, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y tế đối với các viphạm hành chính của các cơ sở hành nghề y tế tư nhân trên địa bàn Tại các tuyếnhuyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh do các Phòng Y tế quản lý Ở tuyến xã tráchnhiệm tham gia kiểm tra các hoạt động hành nghề y, dược tư nhân được giao choTrạm Y tế theo quy định tại Thông tư 33/2015/TT-BYT của Bộ Y tế quy định chứcnăng nhiệm vụ của Trạm Y tế[10].
Đối với các địa phương: UBND các cấp là cơ quan hành chính ở địa phương
Là cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung UBND các cấp có những nhiệm
vụ và quyền hạn trên tất cả các lĩnh vực của quản lý nhà nước, nhưng ở các nộidung cấp độ khác nhau [32] Theo đó chính quyền địa phương các cấp có tráchnhiệm quản lý toàn diện các hoạt động tại địa phương, do vậy UBND thành phố vàUBND các xã, phường, thị trấn có trách nhiệm quản lý nhà nước đối với các cơ sởhành nghề Y tư nhân trên địa bàn quản lý
Ngoài ra, theo chức năng nhiệm vụ các cơ quan thanh tra chuyên ngành,công an, thuế, quản lý thị trường có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra các lĩnh vựcthuộc phạm vi quản lý đối với các cơ sở hành nghề y tư nhân
1.5.4 Thực trạng vi phạm các quy định pháp luật về HNYTN qua công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát:
1.5.4.1 Thực trạng vi phạm các quy định pháp luật người hành nghề y tư nhân:
Trong những năm gần đây do có quy định chặt chẽ về điều kiện đối vớingười chịu trách nhiệm chuyên môn và người hành nghề trong các cơ sở khám chữabệnh, một số cơ sở HNYTN do không đủ điều kiện về nhân lực đã xảy ra tình trạngthuê bằng, thuê chứng chỉ hành nghề để hoạt động Bên cạnh đó còn có tình trạng tổchức cho người chưa có chứng chỉ hành nghề hoạt động khám bệnh chữa bệnh dướihình thức học việc[36]
Thực hiện Chương trình phối hợp giám sát năm 2016, Ủy ban Trung ươngMặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Y tế, Tổng hội Y học Việt Nam, Liên hiệp các Hộikhoa học kỹ thật Việt Nam, Hội Dược học Việt Nam đã tổ chức các đoàn giám sát
Trang 19tại 11 cơ sở y tế tư nhân ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Qua giám sát, 11/11
cơ sở y tế cơ bản chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật về hành nghề y tế tưnhân Tuy nhiên, qua giám sát thực tế cho thấy một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnhchưa có đủ chứng chỉ hành nghề của bác sĩ Có cơ sở, bác sĩ mới ra trường chưa cóchứng chỉ hành nghề nhưng đã trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh và kê đơn cho ngườibệnh[37]
1.5.4.2 Thực trạng vi phạm các quy định của pháp luật của cơ sở HNYTN
Qua công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát phát hiện tình trạng vi phạm cácquy định pháp luật về HNYTN diễn ra khá phổ biến trên địa bàn cả nước Thể hiệnqua các bằng chứng sau:
Thực trạng thanh tra hành nghề Y, Dược tư nhân trong 4 năm, từ 2008 đến
2011, tại thành phố Hồ Chí Minh: tỷ lệ chung về số cơ sở bị vi phạm về hành nghề ydược tư nhân dao động gần như nhau theo thứ tự lần lượt là 20%, 18%, 20% và 19%.Trong khi tỷ lệ cơ sở hành nghề dược tư nhân bị vi phạm gần như không thay đổinhiều, thì tỷ lệ cơ sở hành nghề y tư nhân bị vi phạm thay đổi dao động theo hình sin(thấp nhất 17%, cao nhât 24%), còn tỷ lệ cơ sở hành nghề YHCT tư nhân bị vi phạmngày càng giảm dần rõ nét (giảm từ 54% năm 2008 còn 16% năm 2011) Hình thức
xử lý vi phạm đa số là phạt tiền (75-82%), trong đó có một tỷ lệ không nhỏ số cơ sởhàng năm bị buộc ngưng, hoặc tạm ngưng hoạt động (14-24%)[28]
Một số cơ sở y tế chưa chấp hành nghiêm Thông tư của Bộ Y tế về quy định
tổ chức và hoạt động của cơ sở bán lẻ thuốc trong bệnh viện: Giá thuốc cao hơnnhiều so với giá trần được quy định, thặng số bán thuốc cao hơn mức tối đa chophép Có cơ sở khám chữa bệnh không có nhà thuốc mà trực tiếp bán thuốc chongười bệnh Chất thải y tế đôi lúc chưa được thực hiện nghiêm[28]
Theo số liệu thống kê của Sở Y tế Quảng Ninh, qua phối hợp liên ngànhtrong thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với các cơ sở hành nghề được Sở đẩymạnh thực hiện Trong 5 năm qua (2012 – 2016), đã thanh tra, kiểm tra 2.273 cơ sở,
xử phạt vi phạm hành chính 275 cơ sở với số tiền gần 1,5 tỷ đồng Riêng 9 thángnăm 2016, Sở Y tế kiểm tra 233 cơ sở, xử phạt 37 cơ sở với số tiền 132 triệuđồng[40]
Trang 20Tại Bình Phước, trong 9 tháng năm 2016, Sở Y tế đã chỉ đạo thanh tra, kiểmtra 437 cơ sở, trong đó xử phạt 17 cơ sở vi phạm, đình chỉ hoạt động 4 cơ sở vớitổng số tiền phạt 51,7 triệu đồng về các hành vi: Bán thuốc hết hạn sử dụng, khôngghi chép sổ theo dõi thuốc theo quy định, bảng hiệu sai quy định[38].
Năm 2013, Thanh tra Bộ Y tế đã thành lập các đoàn thanh tra công tác quản
lý nhà nước về hành nghề y tư nhân tại 6 tỉnh, thành phố; trực tiếp thanh, kiểm tratại một số bệnh viện, phòng khám tư nhân trên các địa bàn, trong đó có một số bệnhviện chuyên khoa thẩm mỹ và một số khoa Phẫu thuật thẩm mỹ của các Bệnh viện
Đa khoa tư nhân trên địa bàn TP.HCM và Hà Nội Có 22% số cơ sở (835/3789 cơsở) được thanh tra có hành vi vi phạm[36] Theo báo cáo của 63 tỉnh thành trên cảnước năm 2013 số cơ sở HNYTN được kiểm tra là 8.400 cơ sở, số cơ sở vi phạm là1.546 cơ sở, xử phạt vi phạm hành chính số tiền 10.507.650.000 đồng, đình chỉ hoạtđộng 197 cơ sở, tước giấy phép hoạt động 04 cơ sở, tước chứng chỉ hành nghề 3tháng đối với 16 cơ sở[3]
Năm 2014, Thanh tra kiểm tra 7.704 cơ sở, số cơ sở vi phạm là 1.218 cơ sở,cảnh cáo 44 cơ sở, đình chỉ hoạt động 114 cơ sở, có 16 cơ sở hành nghề không cógiấy phép hoạt động, tước chứng chỉ hành nghề 01 cá nhân, tước giấy phép hoạtđộng 01 cơ sở, phạt tiền 994 cơ sở với số tiền là 14.597.550.000 đồng[3]
Năm 2015, cả nước đã tiến hành thanh tra, kiểm tra 5.797 lượt, tại 11.354 cơ
sở khám chữa bệnh, xử phạt cảnh cáo 297 cơ sở, phạt hành chính 712 cơ sở, phạttiền 622 cơ sở, số tiền xử phạt 10.664.370.000 đồng, đình chỉ 42 cơ sở[3]
1.5.5 Hoạt động HNYTN tại tỉnh Yên Bái: Trên địa bàn tỉnh Yên Bái hiện
có 170 cơ sở y tế tư nhân trong đó có 01 bệnh viện còn lại là các phòng khám đakhoa, chuyên khoa và dịch vụ y tế khác Tại thành phố Yên Bái có 17 xã, phường;Tính đến 31/12/2016 có 82 cơ sở hành nghề y tư nhân được cấp phép hoạt động Về
cơ bản các cơ sở hành nghề y tế tư nhân hoạt động tốt, chấp hành các quy định củapháp luật[35] Tuy nhiên qua công tác thanh kiểm tra phát hiện còn có cơ sở y tế tưnhân vi phạm về điều kiện hoạt động như nhân sự không đảm bảo, thuê mượnchứng chỉ, mượn người đứng tên, thiếu trang thiết bị cơ bản như hộp chống sốc,dụng cụ cấp cứu, quảng cáo quá phạm vi chuyên môn cho phép, vừa kê đơn vừa bán
Trang 21thuốc khi không có chứng chỉ hành nghề dược Hàng năm, thanh tra Sở Y tế và các
cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành xử phạt các hành vi vi phạm lên tới hàng trămtriệu đồng[36]
1.5.6 Các văn bản pháp luật có liên quan đến quản lý hành nghề y tư nhân đã được ban hành
Để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân trước yêu cầu củathực tế đòi hỏi phải có hệ thống các văn bản quản lý hoạt động khám chữa bệnh nóichung và hoạt động hành nghề y tế tư nhân nói riêng hết sức chặt chẽ Trong nhữngnăm qua Nhà nước ta đã ban hành một loạt các văn bản quy định về hoạt độngkhám chữa bệnh và hành nghề y tế tư nhân Việc ban hành các văn bản quy định cụthể về HNYTN có vai trò hết sức quan trọng, tạo hành lang pháp lý hướng dẫn các
cơ sở HNYTN hoạt động theo khuân khổ từ đó nâng cao chất lượng khám bệnhchữa bệnh, hạn chế các sai phạm trong hành nghề, đảm bảo an toàn và quyền lợicho người bệnh Việc ban hành các văn bản pháp luật quy định về HNYTN cũnggiúp cho các nhà quản lý có căn cứ để kiểm tra, giám sát, xử lý các vi phạm của các
cá nhân, tổ chức tham gia HNYTN
Sau khi Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân được ban hành ngày30/9/1993 và Pháp lệnh thay thế ngày 25 tháng 02 năm 2003 Đây là mốc quantrọng tạo điều kiện cho HNYTN hoạt động và phát triển
Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 ra đời thay thế Pháp lệnh Hành nghề
Y dược tư nhân Luật Khám bệnh, chữa bệnh được ban hành đã nhất thể hóa điềukiện hành nghề khám chữa bệnh của nhà nước và tư nhân, đáp ứng yêu cầu hội nhậpquốc tế, tuân thủ các hiệp định khung của Tổ chức thương mại quốc tế và các nướcASEAN trong hoạt động khám chữa bệnh tại Việt Nam
Những văn bản liên quan trực tiếp tới hoạt động HNYTN đang có hiệu lực phápluật hiện nay gồm:
STT Văn bản quy phạm pháp luật Nội dung liên quan đến hoạt động
Trang 2223/11/2009 của Quốc hội ban
hành
- Quy định hình thức tổ chức, điều kiệnhoạt động của cơ sở khám bệnh, chữabệnh;
- Quy định điều kiện chuyên môn kỹ thuậttrong khám bệnh, chữa bệnh;
- Điều kiện bảo đảm công tác khám bệnh,chữa bệnh
2
Nghị định số 87/2011/NĐ-CP
ngày 27/9/2011Quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Khám bệnh
3
Nghị định số 109/2016/NĐ-CP
ngày 01 tháng 7 năm 2016 của
Chính phủ Quy định cấp
CCHN đối với người hành
nghề và cấp GPHĐ đối với cơ
Chính phủ sửa đổi, bổ sung
một số quy định liên quan đến
điều kiện đầu tư kinh doanh
- Bổ sung, sửa đổi các điều kiện về CSVC,TBTYT và nhân lực đối với các hình thức
Trang 23Thông tư số 43/2013/TT-BYT
của Bộ Y tế q uy định chi tiết
phân tuyến chuyên môn kỹ
thuật đối với hệ thống cơ sở
KBCB
Căn cứ vào yêu cầu về phạm vi hoạt động
CM, quy mô hoạt động, điều kiện CSVC,TTB, nhân lực và năng lực thực hiện kỹthuật của cơ sở KBCB để phân tuyếnchuyên môn, kỹ thuật
7
Thông tư số 07/2015/TT-BYT
của Bộ Y tế Quy định chi tiết
điều kiện, thủ tục cho phép áp
dụng kỹ thuật mới, phương
pháp mới trong KCB
Quy định chi tiết về điều kiện, thủ tục chophép áp dụng kỹ thuật mới, phương phápmới trong thực hiện khám bệnh chữa bệnhHNYTN
số giờ cập nhật theo quy định
9
Thông tư liên tịch số 51/2015/
TTLT-BYT-BNV Hướng dẫn
chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và cơ cấu tổ chức của Sở
Y tế và Phòng Y tế;
Trong đó quy định chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn của Sở Y tế, Phòng Y tế trongcông tác quản lý đối với các cơ sởHNYTN trên địa bàn
10
Thông tư 33/2015/TT-BYT
của Bộ Y tế Quy định chức
năng nhiệm vụ của Trạm Y tế
Trong đó có quy định cụ thể chức năngnhiệm vụ của các Trạm Y tế trong côngtác quản lý HNYTN
và xử lý chất thải y tế đối với các cơ sở y
tế bao gồm cả các cơ sở HNYTN
Trang 24bỏ
kê đơn trong điều trị ngoại trú
đối với các cơ sở KBCB
thuốc ngoại trú đối với người bệnh ápdụng với các cơ sở KBCB bao gồm cả các
cơ sở HNYTN
Thông tư số 52/2017/TT-BYT
ngày 29/12/2017 quy định về
kê đơn thuốc và việc kê dơn
thuốc hóa dược, sinh phẩm
trong điều trị ngoại trú
Quy định cụ thể về mẫu đơn thuốc,nguyên tắc kê đơn, hình thức kê đơnthuốc, ngoại trú đối với người bệnh ápdụng với các cơ sở KBCB bao gồm cả các
cơ sở HNYTN
13
Thông tư số 29/2014/TT-BYT
ngày 14/8/2014 của Bộ Y tế
Quy định biểu mẫu và chế độ
báo cáo thống kê y tế áp dụng
đối với các cơ sở KBCB tư
nhân
Quy định các biểu mẫu sổ ghi chép banđầu; hướng dẫn thu thập tổng hợp biểumẫu báo cáo và chế độ báo cáo việc hoạtđộng khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sởHNYTN
thực hiện công tác kiểm soát
nhiễm khuẩn trong các cơ sở
KBCB
Quy định cụ thể các kỹ thuật chuyên môn;điều kiện đảm bảo; hệ thống tổ chức,nhiệm vụ và quyền hạn; trách nhiệm thựchiện trong công tác kiểm soát nhiễmkhuẩn tại các cơ sở khám chữa bệnh trong
đó có các cơ sở HNYTN
Trang 25Thông tư số
16/2018/TT-BYTngày 20 tháng 7 năm 2018
quy địn về kiểm soát nhiễm
khuẩn trong các cơ sở KBCB
Quy định về các biện pháp kiểm soátnhiễm khuẩn; hệ thống kiểm soát nhiễmkhuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữabệnh
17
Quyết định 1313/QĐ-BYT
ngày 22/4/2013 của Quyết định
của Bộ trưởng Bộ Y tế Ban
hành quy trình KB tại khoa KB
của bệnh viện
Hướng dẫn các BV thực hiện các giảipháp cải tiến quy trình và thủ tục trongkhám bệnh, rút ngắn thời gian chờ, tránhgây phiền hà và tăng sự hài lòng củangười bệnh khi đến khám tại bệnh viện
18
Nghị định số
177/2013/ND-CP của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều của Luật Giá
số 11/2012/QH13
Trong đó quy định đối với các dịch vụ y tế(bao gồm cả các cơ sở HNYTN) phảiniêm iết giá theo quy định
Nội dung được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật này là các quyđịnh mà các cơ sở HNYTN bắt buộc phải tuân thủ, đồng thời là nội dung mà các cơquan quản lý nhà nước có trách nhiệm đảm bảo việc thực hiện đối với các cơ sởHNYTN
1.6 Một số nghiên cứu đã tiến hành về hành nghề y tư nhân tại Việt Nam
Đã có một số đề tài nghiên cứu về hành nghề y tư nhân tại một số tỉnh, thànhtrong những năm qua cụ thể:
Trang 26Năm 2007, tác giả Đặng Thị Mai Hoa thực hiện Đề tài "Nghiên cứu tình hình
hành nghề Y, dược tư nhân tại thành phố Huế" [26] Kết quả nghiên cứu cho thấy
thực trạng HNYTN trên địa bàn thành phố Huế, cụ thể là: Trên 80% cơ sở chấphành đầy đủ các điều kiện hành nghề và quản lý hành chính; Thanh kiểm tra 947lượt cơ sở hành nghề y dược tư nhân thì có 302 lượt cơ sở vi phạm pháp luật bị xửphạt hành chính; Tập huấn phổ biến các văn bản qui phạm pháp luật và những quyđịnh chuyên môn trong hành nghề y dược tư nhân có 92,03 % người tham gia[26]
Năm 2008, tác giả Nguyễn Thị Thu Hương, tiến hành nghiên cứu “Đánh giá hoạt động hành nghề y tư nhân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, năm 2008” Kết quả
nghiên cứu chỉ ra: Có gần 1/3 (29,5%) các cơ sở đã hành nghề quá phạm vi chophép; 36,7% các cơ sở vi phạm về quy chế bán thuốc Có tới 68,2% các cơ sở viphạm về hộp thuốc chống sốc và 53,5% vi phạm về tủ thuốc cấp cứu Đa số(89,1%) không có sổ ADR; 49,6% không có hóa đơn nguồn gốc thuốc rõ ràng vàvẫn còn 10% cơ sở có thuốc kém chất lượng hoặc quá hạn sử dụng Chỉ có 38,8%các cơ sở có sổ sách theo dõi KCB và ghi đầy đủ các cột, mục theo yêu cầu; 49,6%
cơ sở thực hiện đúng về niêm yết giá; 60,5% các cơ sở có biển hiệu đúng quy định
và chỉ có 1/5 các cơ sở thực hiện đầy đủ quy định về phòng cháy, chữa cháy[25].Năm 2011, một nghiên cứu do Viện Nossal điều phối và được thực hiện tại 3
Quốc gia là Indonesia, Papua New Guinea và Việt Nam là “Đánh giá thực trạng hoạt động và thực trạng công tác quản lý hệ thống y tế ngoài công lập” được công
bố Kết quả nghiên cứu: Sự phát triển của y tế tư nhân trong giai đoạn từ năm 2004đến năm 2008, số lượng bệnh viện tư nhân đã tăng gấp đôi Tuy nhiên bệnh viện tưchỉ chiếm 7% tổng số bệnh viện và 4,4% tổng số giường bệnh Bệnh viện tư tậptrung chủ yếu tại các khu đô thị Chính sách và các văn bản pháp quy còn một sốbất cập Sự phát triển của y tế tư nhân liên quan đến chính sách xã hội hóa cùng với
sự khuyến khích đầu tư tư nhân vào hệ thống y tế công nhằm đáp ứng nhu cầukhám chữa bệnh của người dân Chính sách hỗ trợ đất và thuế cho thành lập các
BV tư nhân không được thực hiện đồng bộ ở các địa phương Mặc dù các Nghị địnhkhuyến khích các cơ sở không vì lợi nhuận nhưng thực tế đã không thực hiện được.Còn thiếu những chính sách quy định về nhân lực, TTB, cơ sở vật chất cũng như
Trang 27quản lý chất lượng dịch vụ phù hợp cho các bệnh viện tư [29].
Năm 2012, tác giả Phạm Hữu Quốc – Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh đã
tiến hành nghiên cứu “Các lỗi thường vi phạm của hành nghề y tế tư nhân tại TP.HCM trong 2 năm (2010-2011) kết quả nghiên cứu đã chỉ ra: Kinh doanh dịch
vụ thuộc danh mục kinh doanh có điều kiện mà không có giấy chứng nhận đủ điềukiện kinh doanh do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp (11,5%), trangphục, biển hiệu, biển hiệu không có, không đúng quy định (10%), không đảm bảođiều kiện vệ sinh, nhà cửa, không đúng địa chỉ, không thu gom rác (10%)[28]
Năm 2014, tác giả Nguyễn Thị Khoa, thực hiện Đề tài "Quản lý nhà nước về hành nghề y tế tư nhân trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh" [27] Kết
quả nghiên cứu đã chỉ ra một số bất cập trong công tác quản lý HNYTN như: Thiếucác quy chế, quy định cụ thể về phân cấp quản lý, giám sát hoạt động HNYTN phùhợp với tình hình ở địa phương Chưa có mô hình, phương thức quản lý phù hợp vớicác loại hình hành nghề Thiếu các chính sách khuyến khích, hỗ trợ YTN Cấp xã,phường chưa thực sự quan tâm đến công tác quản lý hành nghề y Hầu hết các Trạm
y tế chưa chủ động tham mưu cho UBND các xã, phường trong công tác QLNN vềhành nghề y tư nhân Một số cấp uỷ chính quyền chưa thấy hết được vai trò, tráchnhiệm trong điều hành và quản lý cơ sở YTN trên địa bàn, mà còn uỷ thác toàn bộcho cơ quan y tế Sự phối hợp của các cơ quan tại địa phương trong quản lý hoạtđộng HNYTN còn hạn chế, hiệu quả chưa cao Công tác kiểm tra, giám sát các cơ
sở hành nghề y tư nhân chưa kịp thời, thường xuyên Công tác xử lý sau thanh,kiểm tra còn né tránh, nể nang, ít có tác dụng dăn đe Vẫn có những cơ sở HNYTNquá coi trọng lợi nhuận, lợi dụng lòng tin của người dân, coi thường pháp luật hànhnghề không có giấy phép; y bác sỹ hành nghề không có chứng chỉ hành nghề; hànhnghề vượt quá khả năng chuyên môn, quá phạm vi cho phép vẫn còn xảy ra.; Hạnchế của đề tài này là luận văn thạc sỹ chuyên ngành về quản lý kinh tế nên mangnhiều về tính lý luận kinh tế[27]
Mặc dù đã cố gắng tìm kiếm các đề tài nghiên cứu về HNYTN trên các trangthông tin nghiên cứu khoa học, trên mạng Internet và tại Thư viện Trường Đại học
Trang 28Y tế công cộng về HNYTN Đã có 7 đề tài ngoài các đề tài trên nghiên cứu về
HNYTN, trong đó có 04 đề tài ở các Quận, huyện của thành phố Hà Nội và 01 đềtài ở Hòa Bình, 01 đề tài Phú Thọ và 01 đề tài ở Cao Bằng, các nghiên cứu này đềucách đây nhiều năm (Trước năm 2009, khi Luật Khám bệnh, chữa bệnh ra đời), chủyếu tập trung vào mô tả thực trạng tình hình chấp hành pháp luật tại các cơ sởHNYTN theo quy định tại Pháp lệnh HNYTN (Văn bản đã hết hiệu lực) Thực tếđòi hỏi cần có những nghiên cứu sâu hơn về hoạt động hành nghề y tế tư nhân đểcung cấp những bằng chứng giúp các nhà quản lý có những chính sách phù hợp vớitình hình hiện nay Nhằm phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt còn tồntại để huy động lực lượng y tế tư nhân đóng góp ngày càng tốt hơn vào sự nghiệpchăm sóc sức khỏe cho nhân dân
1.7 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu
Thành phố Yên Bái là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹthuật của tỉnh Yên Bái và là trục động lực của vùng trọng điểm phát triển kinh tếphía Đông của tỉnh; được xác định là một trong những Trung tâm tiểu vùng của 14tỉnh miền núi Trung du Bắc Bộ Thành phố có 17 đơn vị hành chính với 9 phường,
8 xã; dân số trung bình đến năm 2016 là 100.433 người[34]
Với mạng lưới giao thông khá thuận lợi bao gồm đường sắt, đường bộ,đường thuỷ, giữ vị trí quan trọng trong đầu mối giao thông huyết mạch nối vùngTây Bắc với đồng bằng Bắc Bộ và các tỉnh Đông Bắc; có tuyến đường sắt liên vậnquốc tế và đường cao tốc xuyên Á nối Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai - Vân Nam(Trung Quốc); cách Lao Cai 156 km về phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 170 km vềhướng Đông[34]
Trên địa bàn đã được đầu tư xây dựng hệ thống y tế công lập gồm các bệnhviện: Bệnh viện Đa khoa Tỉnh (500 giường), Bệnh viện Đa khoa Thành phố (120giường); Bệnh viện Đông Y, Bệnh viện Nội tiết, Bệnh viện Sản-Nhi, Bệnh việnTâm Thần, Bệnh viện Lao và Phổi, các đơn vị Y tế dự phòng và hệ thống các trạm
y tế khá hoàn chỉnh[35]
Trang 29CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cơ sở HNYTN, người chịu trách nhiệm chuyên môn HNYTN của cơ sởHNYTN trên địa bàn thành phố Yên Bái thuộc diện quản lý theo phân cấp tại thờiđiểm nghiên cứu
- Cán bộ trực tiếp, tham gia quản lý hoạt động HNYTN trên địa bàn thànhphố Yên Bái
- Các văn bản, báo cáo về HNYTN lưu tại Sở Y tế, Phòng Y tế thành phố, cơ
sở HNYTN
2.2 Thời gian - Địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 03 năm 2017 đến tháng 09 năm 2017
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu:
Thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái
2.3 Thiết kế nghiên cứu:
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp định lượng với định tính
- Hồi cứu số liệu và các văn bản pháp quy về HNYTN của các cơ quan quản
lý nhà nước các cấp và tại các cơ sở HNYTN
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Nghiên cứu định lượng:
- Chọn toàn bộ các cơ sở HNYTN trên địa bàn thành phố Yên Bái có giấyphép hành nghề đến thời điểm nghiên cứu Tổng số các cơ sở HNYTN trên địa bànthành phố theo danh sách là 82 cơ sở, số cơ sở tham gia ngiên cứu là 77 cơ sở.Trong số 5 cơ sở không tham gia nghiên cứu có 01 cơ sở không đồng ý tham gianghiên cứu với lý do là không có bệnh nhân, 02 cơ sở đã xin ngừng hoạt động và 02
cơ sở người chịu trách nhiệm chuyên môn chuyển đi nơi khác sinh sống
(Không nghiên cứu các cơ sở hành nghề không được cấp phép vì các đốitượng này hoạt động lén lút không xác định được)
Trang 30- Chọn toàn bộ 77 người chịu trách nhiệm chuyên môn tại các cơ sở hànhnghề y tư nhân tham gia nghiên cứu.
- Các văn bản pháp quy và các báo cáo, sổ sách có liên quan đến hoạt độnghành nghề y tế tư nhân tại thời điểm nghiên cứu
2.4.2 Nghiên cứu định tính: Chọn mẫu có chủ đích
- Thảo luận nhóm: 02 nhóm
01 nhóm gồm 06 người chịu trách nhiệm chuyên môn tại các cơ sở thực hiệntốt quy định về HNYTN; 01 nhóm từ 08 người chịu trách nhiệm chuyên môn tại các
cơ sở chưa thực hiện tốt quy định về HNYTN để thảo luận
- Phỏng vấn sâu: 04 cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về HNYTN
gồm: 01 cán bộ Sở Y tế, 01 cán bộ phòng Y tế thành phố, 01 cán bộ UBND thànhphố, 01 cán bộ UNND phường
Tiêu chuẩn lựa chọn: Những người đồng ý tham gia vào nghiên cứu, đối vớicán bộ quản lý là những người có thời gian tham gia công tác quản lý HNYTN từ
03 năm trở lên
Tiêu chuẩn không lựa chọn: Những người không đồng ý tham gia vào nghiêncứu hoặc không có mặt tại thời điểm triển khai thu thập thông tin nghiên cứu
2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Nghiên cứu định lượng
Công cụ thu thập số liệu
- Bảng thu thập số liệu thứ cấp
- Bảng kiểm quan sát, đánh giá việc thực hiện các quy định của Nhà nước về HNYTN đối với từng loại hình dịch vụ: Bệnh viện Đa khoa, PKĐK, PKCK, phòng Chẩn trị YHCT, dịch vụ Y tế
- Bảng hỏi người chịu trách nhiệm chuyên môn của các cơ sở HNYTN
Kỹ thuật thu thập số liệu:
- Đối với người chịu trách nhiệm chuyên môn: phỏng vấn trực tiếp thông quabảng hỏi Trước khi phỏng vấn giải thích rõ về mục đích của nghiên cứu, đảm bảo
bí mật, và chỉ tiến hành phỏng vấn những đối tượng đồng ý tham gia
Trang 31- Điều tra viên đánh giá việc thực hiện các quy định của nhà nước vềHNYTN bằng cách quan sát trực tiếp, kết hợp với hỏi và yêu cầu chủ cơ sở cho xemcác bằng chứng để chứng minh cơ sở đó có thực hiện/không thực hiện, sau đó điềutra viên sẽ cho điểm tương ứng vào bảng kiểm.
- Đánh giá thực hiện quy định tại các cơ sở HNYTN thông qua bảng kiểmbằng quan sát trực tiếp, sao chép, hồi cứu số liệu
2.5.2 Nghiên cứu định tính
* Công cụ thu thập:
- Hướng dẫn thảo luận nhóm đối với người chịu trách nhiệm chuyên môn
- Hướng dẫn phỏng vấn sâu cán bộ quản lý HNYTN
- Máy ghi âm, giấy bút ghi biên bản
* Kỹ thuật thu thập số liệu:
- Ghi chép nội dung các cuộc thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu
- Nghiên cứu viên chính thực hiện tất cả các cuộc thảo luận nhóm và phỏngvấn sâu với sự hỗ trợ của một thư ký là chuyên viên công tác tại Sở Y tế Yên Bái
2.5.3 Thu thập số liệu thứ cấp
Nghiên cứu viên chính thiết kế sẵn mẫu bảng và gửi cho điều tra viên 2.5.4 Điều tra viên, giám sát viên
- Điều tra viên: là các cán bộ của Sở Y tế Yên Bái, được tập huấn kỹ về nộidung và yêu cầu của cuộc điều tra nhằm đảm bảo độ chính xác của thông tin thuthập
- Giám sát viên: là nghiên cứu viên chính, nghiên cứu viên chính cũng thamgia vào quá trình điều tra, giải quyết các khó khăn trong quá trình thu thập số liệu
- Ghi biên bản thảo luận nhóm, ghi âm gỡ băng đối với các cuộc phỏng vấnsâu
2.6 Các biến số nghiên cứu
2.6.1 Các biến số chung thu thập từ số liệu thứ cấp
- Loại hình hành nghề
- Số lượt bệnh nhân đến khám và điều trị tại các cơ sở HNYTN
- Thực trạng CSVC, TTBYT, Nhân sự tại các cơ sở HNYTN
Trang 322.6.2 Các biến thu thập phục vụ mục tiêu 1
……… 2.6.3 Các biến thu thập phục vụ mục tiêu 2
……… 2.7 Các thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
Dựa trên quy định tại các văn bản hướng dẫn của Bộ Y tế và các văn bản quyphạm pháp luật khác để xác định và đánh giá Cụ thể:
- Điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị y tế, nhân sự: Tiêu chuẩn để xác định
dựa theo các tiêu chuẩn quy định tại Nghị định 109/2016/NĐ-CP Chính phủ banhành Nghị định quy định cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấpgiấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
- Về phạm vi hành nghề: Đối với cơ sở xác định trên cơ sở danh mục kỹthuật cơ sở được Sở Y tế cấp phép hoạt động sau khi thẩm định ban hành kèm Giấyphép hoạt động khám chữa bệnh; Đối với cá nhân dựa trên phạm vi hành nghề đượcghi trên Chứng chỉ hành nghề
- Quy chế sử dụng thuốc: Xác định theo quy định Thông tư số BYT ngày 29/02/2016 của Bộ Y tế hướng dẫn kê đơn trong điều trị ngoại trú;
05/2016/TT Quy chế chống nhiễm khuẩn: Xác định theo quy định Thông tư số 18/2009/TT-BYT, ngày 14 tháng 10 năm 2009 của Bộ Y tế hướng dẫn tổ chức thực hiệncông tác kiểm soát nhiễm khuẩn (nhiễm các vi sinh vật gây bệnh) trong các cơ sởkhám bệnh, chữa bệnh
- Quy định về hộp chống sốc, tủ thuốc cấp cứu: Quy định tại Thông tư số08/1999/TT-BYT ngày 04/5/1999 Hướng dẫn phòng và cấp cứu sốc phản vệ vẫncòn hiệu lực và đang được áp dụng
- Quy định về biển hiệu: Quy định tại Điều 41 Quy định về nội dung biển hiệu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Nghị định 109/2016/NĐ-CP
- Quy định về quảng cáo: Theo quy định tại Thông tư số 09 /2015/TT-BYTcủa Bộ Y tế ban hành quy định về xác nhận nội dung quảng cáo đối với sản phẩm,hàng hóa, dịch vụ đặc biệt thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Y tế
Trang 33- Quy định về xử lý chất thải y tế: Quy định tại Thông tư số BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 quy định về quản lý chất thải Y tế;
58/2015/TTLT Quy định về ghi chép sổ sách báo cáo: Thông tư số 29/2014/TT58/2015/TTLT BYT ngày14/8/2014 của Bộ Y tế quy định biểu mẫu và chế độ báo cáo thống kê y tế áp dụngđối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân
- Niêm yết giá dịch vụ: Quy định tại Nghị định số 177/2013/ND-CP củaChính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Giá số 11/2012/QH13
* Tiêu chuẩn đánh giá
Các nội dung đạt phải đảm bảo đầy đủ các tiêu chí theo quy định được nêutại bảng kiểm, nếu thiếu từ một tiêu chí trở nên được coi là không đạt
Đối với phỏng vấn người chịu trách nhiệm chuyên môn: Tiêu chí đạt trongbảng hỏi căn cứ các nội dung trả lời so với quy định tại các văn bản quy định trên,nội dung trả lời phải đạt trên 50% số ý chính nêu trong văn bản
2.8 Phương pháp phân tích số liệu
2.8.1 Nghiên cứu định lượng
- Tất cả số liệu thu thập trong quá trình nghiên cứu được xử lý thô (làm sạch)
sau đó được mã hóa và nhập liệu vào máy tính bằng phần mềm Enpidata
- Số liệu thu thập được quản lý bằng phần mềm excel
- Số liệu nghiên cứu được xử lý và phân tích bằng phần mềm STATA 10
- Các biến số định tính được trình bày dưới dạng tỷ lệ phần trăm
- Mối liên quan giữa các biến định tính được thể hiện bằng tỷ suất chênh(OR) Nếu OR lớn hơn 1 thì yếu tố đang được quan tâm là nguy cơ, nếu OR nhỏhơn 1 thì yếu tố đang được quan tâm là yếu tố bảo vệ, OR bằng 1 thì yếu tố đangđược quan tâm là không liên quan
- Xác định hệ số tương quan (r) giữa 2 biến định lượng có phân phối khôngchuẩn bằng r của spearman Đánh giá mức độ tương quan bằng r như sau: r < 0,3:tương quan yếu; r = 0,3 - 0,5: tương quan trung bình; r = 0,5 - 0,7: tương quan chặtchẽ; r > 0,7: tương quan rất chặt chẽ
2.8.2.Nghiên cứu định tính: Các băng ghi âm phỏng vấn sâu sẽ được gỡ băng, mã
hóa và phân tích theo chủ đề phù hợp với mục tiêu và nội dung nghiên cứu
2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Trang 34- Nghiên cứu nhằm đánh giá hoạt động HNYTN trên địa bàn thành phố YênBái từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục những tồn tại trong giai đoạn tiếp theo
- Nghiên cứu được Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế công cộng thôngqua và được sự đồng ý của các đối tượng tham gia nghiên cứu
- Kết quả điều tra chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không sử dụng chomục đích nào khác
- Kết quả của các đối tượng nghiên cứu được đảm bảo tính bí mật Nghiêncứu tôn trọng kể cả đối tượng tham gia và không tham gia
2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
Sai số và khắc phục
Sai số khi thu thập số liệu như đối tượng cung cấp không trung thực vì sợ bị
xử lý do vậy cần chọn người thu thập thông tin phù hợp, cam kết giữ bí mật thôngtin với đối tượng và giải thích rõ thông tin thu thập chỉ nhằm mục đích nghiên cứukhông có mục đích gì khác
Sai số do thu thập thông tin trong bộ câu hỏi: Khắc phục bằng cách tập huấntrước khi thu thập thông tin, chọn điều tra viên có kinh nghiệm
Sai số trong quá trình sử lý số liệu khắc phục bằng mời chuyên gia hướngdẫn xử lý làm sạch số liệu và xử lý bằng phần mềm thống kê tin cậy
Trang 35Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin chung về cơ sở HNYTN
Bảng 3.1 Loại hình hành nghề y tư nhân tại thành phố Yên Bái (n=77)
Loại hình hành nghề Số lượng (77) Tỷ lệ %
Trang 3642743 56902
13834 20425 45441
60434 54505 58575
32005
42464721
191 163516451327
0 10000
P hòng khám
đa khoa
P hòng khám chuyên khoa
P hòng chẩn trị YHCT
Dịch vụ y tế
Lượt
Biểu đồ 3.1 Số lượng bệnh nhân đến khám
và điều trị trong 3 năm (n=77)
Năm 2015 Năm 2016
6 tháng đầu 2017
Hàng năm các cơ sở HNYTN trên địa bàn thành phố Yên Bái đã khám và
điều trị cho trên 100 ngàn lượt người, số bệnh nhân đến khám và điều trị tăng dầnqua các năm, năm 2015 là 123.554 lượt, năm 2016 là 167.284 lượt, chỉ riêng trong 6tháng đầu năm 2017 đã khám và điều trị đạt 109.510 lượt người
Số lượng bệnh nhân đến khám tập trung chủ yếu ở Bệnh viện, Phòng khám
đa khoa và Phòng khám chuyên khoa, số bệnh nhân đến khám tại các phòng chẩn trịYHCT và các cơ sở dịch vụ số lượng ít hơn nhiều, chênh lệch giữa loại hình khámchữa bệnh cao nhất là phòng khám chuyên khoa và loại hình thấp nhất là các cơ sởdịch vụ tới 31,5 lần (145.085/4.607)
Bảng 3.2 Số lượng nhân viên làm việc tại các cơ sở HNYTN (n=77)
Trang 37Tổng số nhân lực làm việc trong 77 cơ sở HNYTN là 408 người, trong đó có:
24 tiến sỹ và thạc sỹ (02 tiến sỹ, 22 thạc sỹ); 99 bác sỹ chuyên khoa cấp I, II; 42 bácsỹ; 82 y sỹ; 108 điều dưỡng; 09 nữ hộ sinh; 23 kỹ thuật viên Y và 67 cán bộ khác
Biểu đồ 3.2: Phân loại người CTNCM của các cơ sở HNYTN theo hệ thống làm việc (n=77)
57%
Không làm việc tại CSYT công
Trong tổng số 77 người chịu trách nhiệm chuyên môn tại các cơ sở HNYTNthì số người CTNCM hiện đang làm việc tại cơ sở y tế công lập là 44 người chiếm
tỷ lệ 57% Số người hiện không làm việc tại cơ sở y tế công lập là 33 người chiếm
tỷ lệ 43%
Biểu đồ 3.3 Phân loại người CTNCM đã hành nghề tại
các tuyến cao nhất theo hệ thống làm việc (n=77)
Chỉ có 01 người (1,3%) CTNCM tại cơ sở là Giáo sư, tiến sỹ đã làm việc tạiBệnh viện tuyến Trung ương, có tới 51 người CTNCM (66,2%) đã và đang làm việctại Bệnh viện tuyến tỉnh, có 12 người CTNCM (15,6%) đã và đang làm việc tạiBệnh viện tuyến huyện, có 13 người CTNCM (16,9%) đã làm việc tại các tuyến y tếkhác Không có người CTNCM nào làm việc tại tuyến xã
Bảng 3.3 Tình hình cơ sở vật chất, TTB tại các cơ sở HNYTN (n=77)
STT Cơ sở vật chất, trang thiết bị Đơn vị tính Số lượng
Trang 384 Máy siêu âm màu cái 24
Các cơ sở HNYTN đã đầu tư diện tích xây dựng là 12.962 m2 phục vụ hoạtđộng khám bệnh, chữa bệnh Số lượng trang thiết bị cơ bản phục vụ chẩn đoán điềutrị bệnh 179 cái gồm các máy chụp City Scaner, Xquang, siêu âm, điện tim, điệnnão, khí dung, xét nghiệm và ghế răng Ngoài ra các cơ sở còn đầu tư các trang thiết
bị chuyên dụng khác như: Máy phá rung tim đồng bộ 2 pha, máy hút liên tục, máytheo dõi sản khoa, máy đo độ loãng xương, máy đo khúc xạ tự động, xe cứu thương
để phục vụ hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở
3.2- Tuân thủ các quy định của nhà nước về hành nghề y tư nhân
3.2.1- Tuân thủ các quy định về cơ sở vật chất
Bảng 3.4 Quy định chung về tiêu chuẩn cơ sở vật chất (n=77)
Có 65/77 cơ sở đạt các điều kiện chung về cơ sở vật chất đó là có địa điểm
cố định, tách biệt với sinh hoạt gia đình, bố trí các phòng theo quy định, hành langthuận tiện, có nơi tiếp đón người bệnh, đảm bảo đủ ánh sáng Còn 12/77 cơ sở chưađảm bảo các tiêu chí về điều kiện cơ sở vật chất Các cơ sở không đạt các tiêu chí về
cơ sở vật chất chủ yếu là do không tách biệt với sinh hoạt gia đình hoặc chưa bố tríkhu vực tiệt trùng dụng cụ riêng biệt
Vẫn còn một số cơ sở nhỏ lẻ như phòng khám chuyên khoa, phòng chẩn trịYHCT và dịch vụ y tế tận dụng cơ sở vật chất là nhà ở có sẵn để làm cơ sở hoạt
Trang 39động, từ đó dẫn đến thực tế là có quy định đề ra "chỉ mang tính chất hình thức", khó
áp dụng đối với cơ sở phòng khám tư nhân nhỏ lẻ, đặc biệt ở một tỉnh miền núi phíaBắc như Yên Bái Ý kiến của đại diện các cơ sở HNYTN trong thảo luận nhóm chothấy mặc dù quy định nơi đón tiếp người bệnh phải riêng biệt tách khỏi khu vựcphòng tiếp khách của gia đình, do các phòng khám thường không biệt lập với nhà ở,
trong khi điều kiện diện tích của các hộ gia đình có hạn, "thực tế việc tiếp xúc ban đầu với người bệnh vẫn ở khu vực phòng khách của gia đình.".
Bảng 3.5 Tiêu chuẩn về diện tích (n=77)
từ 10 m2 trở lên, diện tích các phòng khác đạt theo quy định đối với mỗi loại hình
Có 3 cơ sở chiếm 3,9% trong đó có 01 phòng khám đa khoa và 01 phòng khámchuyên khoa không đảm bảo điều kiện về diện tích phòng chuyên môn theo quyđịnh (dưới 10 m2), 01 cơ sở dịch vụ đang chuyển địa điểm hành nghề hiện tại không
có cơ sở hoạt động nên không đạt
Bảng 3.6 Tiêu chuẩn về điện, nước, điều kiện phục vụ người bệnh (n=77)
Trang 40cơ sở (98,7%) chỉ có 01 cơ sở dịch vụ (1,3%) không đảm bảo điều kiện này do đanglàm thủ tục chuyển địa điểm mới
Bảng 3.7 Tiêu chuẩn về xử lý chất thải y tế (n=77)
Có 58/77 cơ sở (tỷ lệ 75,3%) đạt tiêu chuẩn về xử lý chất thải có hợp đồng
xử lý chất thải rắn, phân loại chất thải đúng, có xử lý chất thải ban đầu, có khu vựclưu giữ chất thải Còn 19/77 cơ sở (tỷ lệ 24,7%) không đạt tiêu chuẩn về xử lý chấtthải y tế theo quy định, vi phạm của các cơ sở này là phân loại chất thải không đúngcòn để lẫn chất thải lây nhiễm với chất thải thông thường
Khi thảo luận nhóm các nhóm đều thống nhất là: Quy định hiện hành về xử
lý rác thải còn chung chung chưa phù hợp Thực tế có nhiều cơ sở HNYTN có sốlượng chất thải lây nhiễm rất lớn như dịch vụ sản phụ khoa, có cơ sở chất thải rấtđộc hại như cơ sở chụp Xquang, nhưng cũng có cơ sở ảnh hưởng rất ít đến môitrường như cơ sở hành nghề YHCT chỉ kê đơn bốc thuốc mà không hành nghềchâm cứu thì rác thải hầu như không có hoặc chỉ là các bã thuốc ít ảnh hưởng, dịch
vụ kính thuốc cũng vậy các cơ sơ này chỉ thực hiện việc đo cắt kính nên không córác thải, các cơ sở vận chuyển cấp cứu người bệnh có khi chỉ tiếp nhận người bệnh
từ nơi này chuyển đến nơi khác chứ không thực hiện tại cơ sở đăng ký hành nghềnên hầu như không có chất thải