ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN ---Nguyễn Văn Đạt NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI MÒ ACARIA: TROMBICULIDAE, VẬT CHỦ TẠI MỘT SỐ XÃ VÀ TÌNH HÌNH BỆNH NHÂN SỐT MÒ Ở TỈNH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-Nguyễn Văn Đạt
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI MÒ (ACARIA: TROMBICULIDAE), VẬT CHỦ TẠI MỘT SỐ XÃ VÀ TÌNH HÌNH BỆNH NHÂN SỐT MÒ Ở TỈNH YÊN BÁI
NĂM 2016 – 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-Nguyễn Văn Đạt
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI MÒ (ACARIA: TROMBICULIDAE), VẬT CHỦ TẠI MỘT SỐ XÃ VÀ TÌNH HÌNH BỆNH NHÂN SỐT MÒ Ở TỈNH YÊN BÁI
Trang 3Em xin cảm ơn đến lãnh đạo và các cán bộ Khoa Côn trùng, Viện Sốt rét –
Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương đã tạo điều kiện thuận lợi cho em thực hiện tốt luận văn.
Cuối cùng em xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên tinh thần và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày
thán
g Học viên
năm 201
Nguyễn Văn Đạt
Trang 4Cộng sựCộng tác viênLông bao kìm chia nhánh nhiều (galeal branch seta)Lông bao kìm trần (gageal nude seta)
GahrliepiaLeptotrombidiumLaurentellaĐường nối sau bên (posterolateral seta)Khoảng cách giữa hai lông sau bên (posterior widths)Lông cảm giác (sensillia)
Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùngWalchia
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số đặc điểm hình thái phân loại mò 3
1.2 Một số đặc điểm sinh học của mò 4
1.3 Liên quan giữa mò, vật chủ, phương thức truyền bệnh sốt mò 5
1.4 Tình hình nghiên cứu về mò và bệnh sốt mò trên thế giới 5
1.4.1 Nghiên cứu về mò (Trombiculidae) trên thế giới 5
1.4.2 Nghiên cứu về bệnh sốt mò trên thế giới 7
1.5 Tình hình nghiên cứu về mò và bệnh sốt mò ở Việt Nam 9
1.5.1 Nghiên cứu về mò (Trombiculidae) ở Việt Nam 9
1.5.2 Nghiên cứu bệnh sốt mò ở Việt Nam 10
1.6 Tình hình bệnh sốt mò ở tỉnh Yên Bái 14
1.6.1 Tình hình nghiên cứu sốt mò tại Yên Bái 14
1.6.2 Một số đặc điểm tự nhiên, xã hội ở Yên Bái 14
Chương 2- THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 16
2.1.1 Thời gian nghiên cứu 16
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 16
2.2 Đối tượng nghiên cứu 18
2.3 Phương Pháp nghiên cứu 18
2.3.1 Thu thập mò ký sinh trên chuột, gia cầm và trên giá thể 18
2.3.2 Thu thập mò ký sinh trên động vật nuôi 18
2.3.3 Thu thập mò tự do ngoài thiên nhiên 19
2.3.4 Định loại mò, chuột 19
2.3.5 Điều tra bệnh nhân sốt mò 19
Trang 62.4 Tính các chỉ số của mò, vật chủ và xử lý số liệu 19
2.4.1 Tính các chỉ số của mò, vật chủ 19
2.4.2 Phương pháp tính mức độ gần gũi về thành phần loài mò 20
2.4.3 Xử lý số liệu 20
Chương 3 - KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 21
3.1 Thành phần loài và phân bố của mò tại các điểm nghiên cứu 21
3.2 So sánh thành phần loài mò tại 4 điểm nghiên cứu với các khu vực lân cận 23 3.3 Đặc điểm các loài mò có vai trò truyền bệnh sốt mò tại các điểm điều tra 26
3.3.1 Loài Ascoschoengastia (Laurentella) indica 26
3.3.2 Loài Leptotrombidium (Leptotrombidium) deliense 27
3.3.3 Loài Eutrombicula hirsti 29
3.3.4 Loài Eutrombicula wichmanni 31
3.3.5 Xây dựng khóa định loại mò cho khu vực nghiên cứu 33
3.4 Thành phần loài, phân bố vật chủ của mò và tình hình nhiễm mò của vật chủ 35 3.4.1 Thành phần loài, phân bố vật chủ, giá thể của mò tại các điểm điều tra 35 3.4.2 Tỷ lệ nhiễm mò của các loài chuột tại các điểm điều tra ………….… 36
3.4.3 Phân bố của chuột theo sinh cảnh tại điểm điều tra 37
3.4.4 Tỷ lệ vật chủ, giá thể nhiễm mò tại các điểm điều tra năm 2016 -2017 38
3.5 Phân bố của các loài mò theo vật chủ 39
3.6 Tình hình bệnh nhân sốt mò tại bốn xã 42
3.7 Phân bố bệnh sốt mò theo giới tính, độ tuổi và nghề nghiệp 43
3.7.1 Phân bố bệnh nhân sốt mò theo giới tính 43
3.7.2 Phân bố bệnh nhân sốt mò theo độ tuổi 44
3.7.3 Phân bố bệnh nhân sốt mò theo nghề nghiệp 45
3.8 Một số yếu tố liên quan đến bệnh sốt mò tại các điểm nghiên cứu 46
KẾT LUẬN 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
PHỤ LỤC 55
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Hình thái ấu trùng Leptotrombidium (Leptotrombidium) deliense 3
Hình 1.2: Vòng đời phát triển của mò Trombiculidae 4
Hình 1.3: Phân bố địa lý của bệnh sốt mò 7
Hình 2.1: Sơ đồ vị trí các điểm nghiên cứu 17
Hình 3.1: Ascoschoengastia (Laurentella) indica 26
Hình 3.2: Leptotrombidium (Leptotrombidium) deliense 28
Hình 3.3: Eutrombicula hirsti 30
Hình 3.4: Eutrombicula wichmanni 32
Hình 3.5: Tỷ lệ % vật chủ nhiễm mò tại 4 điểm nghiên cứu 39
Hình 3.6: Số lƣợng bệnh nhân sốt mò tại 4 xã qua các tháng trong thời gian nghiên cứu 43
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Thành phần và phân bố các loài mò tại các điểm nghiên cứu năm
2016-2017 21
Bảng 3.2: So sánh thành phần loài mò ở Yên Bái với một số khu vực 24
Bảng 3.3: Số loài chung và riêng của thành phần loài mò khu vực nghiên cứu so với khu vực lân cận 25
Bảng 3.4: Số lƣợng thành phần loài vật chủ, giá thể của mò thu thập đƣợc tại điểm điều tra năm 2016-2017 35
Bảng 3.5: Số lƣợng chuột nhiễm mò tại các điểm điều tra năm 2016-2017 36
Bảng 3.6: Số lƣợng cá thể các loài chuột tại các sinh cảnh trong khu vực điều tra 37
Bảng 3.7: Tỷ lệ (%) vật chủ, giá thể nhiễm mò tại các điểm nghiên cứu (2016-2017) 38
Bảng 3.8: Phân bố của các loài mò theo vật chủ 40
Bảng 3.9: Chỉ số phong phú của mò trên vật chủ tại 4 điểm nghiên cứu 41
Bảng 3.10: Số lƣợng bệnh nhân sốt mò ở 4 xã điều tra qua các tháng 42
Bảng 3.11: Tỷ lệ bệnh nhân sốt mò theo giới tính năm 2016-2017 44
Bảng 3.12: Phân bố bệnh nhân sốt mò theo lứa tuổi 45
Bảng 3.13: Phân bố bệnh nhân sốt mò theo nghề nghiệp 45
Bảng 3.14: Liên quan giữa bênh nhân, tỷ lệ nhiễm mò, tỷ lệ vật chủ nhiễm mò 46
Trang 9MỞ ĐẦU
Bệnh sốt mò hay bệnh tsutsugamushi là một bệnh lan truyền bởi động vậtchân đốt Bệnh sốt mò khó phân biệt với các bệnh khác ở giai đoạn cấp tính bệnh đedọa đến tính mạng con người Bệnh lây truyền sang người qua vết đốt của mò
thuộc giống Leptotrombidium và tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Orientia
tsutsugamushi (hay Rickettsia tsutsugamushi)
Bệnh sốt mò phổ biến trong chiến tranh thế giới thứ II và giờ đây là một bệnhquan trọng đối với du khách đến các vùng dịch [48] Vùng dịch tễ của bệnh nàyphân bố chủ yếu ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Hiện nay hơn một nửa dân
số thế giới sống ở vùng sốt mò, trong đó hơn một tỷ người có nguy cơ mắc bệnh,khoảng một triệu người mắc mới hàng năm [43, 60] Bệnh sốt mò thường xuất hiệntheo mùa, phụ thuộc vào thời điểm xuất hiện của mò do con người bị nhiễm qua vếtđốt của ấu trùng mò Bệnh sốt mò phát triển về mùa hè và những tháng mưa có độ
ẩm cao là thời gian chỉ số mò cao
Mò vừa là vật chứa mầm bệnh vừa là véc tơ của Orientia tsutsugamushi,
động vật gặm nhấm là vật chủ chủ yếu của mò Mò đốt động vật gặm nhấm dễ lantruyền Orientia hơn các động vật khác [33] Trong tự nhiên có khoảng 45 loài mò
mang tác nhân truyền bệnh (Orientia tsutsugamushi), nhưng chỉ có các loài thuộc
giống Leptotrombidium là véc tơ truyền bệnh sốt mò [32, 40, 44] Các loài véc tơphân bố theo các vùng dịch tễ khác nhau
Hiện chưa có vắc xin đặc hiệu phòng bệnh sốt mò Thuốc kháng sinh hiệnnay có tác dụng điều trị là Chloramphenicol, Tetracyclin, Doxycyclin
Họ mò Trombiculidae là một trong những họ lớn nhất của bộ ve bét(Acarina) gồm khoảng 3.000 loài, trong đó hơn 45 loài có khả năng đốt người Sinhcảnh của mò thường là những nơi có cây bụi thấp, hoặc thảm thực vật chuyển tiếp,bao gồm bìa rừng, bờ sông suối, khoảng đất trống trong rừng sau khi khai thác cây
to để cỏ mọc thứ phát, ruộng bỏ hoang, các cánh đồng lúa và các khoảng đất vườnven các đô thị lớn [13, 28, 34, 46, 49]
Trang 10Ở Việt Nam, từ năm 1980 đến 2000 bệnh sốt mò hầu như lắng xuống, nhưngnhững năm gần đây bệnh có xu hướng gia tăng ở một số địa phương như Quảng
Ninh, Khánh Hòa, Kon Tum [14, 16] Chỉ tính từ năm 2001 đến 2003 tại bệnh viện
Y học Lâm sàng các bệnh Nhiệt đới có tới 255 bệnh nhân bị mắc sốt mò từ 24 tỉnh
và thành phố của miền Bắc vào điều trị [13] Bệnh xuất hiện quanh năm nhưng chủyếu về mùa mưa từ tháng 4 tháng 5 đến tháng 9 tháng 10, đỉnh cao vào các tháng 6tháng 7
Tại tỉnh Yên Bái vào những năm 1971 bệnh sốt mò đã xuất hiện, huyện VănChấn (trước đây thuộc tỉnh Nghĩa Lộ) Bệnh nhân khu trú trong phạm vi một xã, sau đóbệnh đã lắng xuống trong suốt hơn 40 năm qua Nhưng đến năm 2014 bệnh đã quay trởlại trên diện rộng với 31 xã phường thuộc 4 huyện thị với 136 bệnh nhân, số bệnh nhânđiều trị nội trú chiếm 68% trong đó, bệnh nhân nặng chiếm 0,03%
[15] Đến năm 2015, theo báo cáo của Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Yên Bái bệnhsốt mò tiếp tục bùng phát trên địa bàn tỉnh với 261 bệnh nhân sốt mò tại 60 xã thuộc 06huyện tăng gần gấp đôi so với năm 2014, trong đó xác định 04 trường hợp tử vong do sốt
mò, chiếm 1,5% Mặc dù bệnh sốt mò tại địa phương xảy ra nghiêm
trọng, nhưng chưa có nhiều nghiên cứu sâu về véc tơ và bệnh sốt mò ở đây
Trước tình hình bệnh sốt mò diễn biến phức tạp những năm gần đây tại tỉnh
Yên Bái nên chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu thành phần loài
mò (Acaria: Trombiculidae), vật chủ của mò tại một số xã và tình hình bệnh nhân sốt mò ở tỉnh Yên Bái năm 2016 – 2017”
Mục tiêu:
1 Xác định thành phần loài mò và vật chủ của mò tại một số điểm nghiên cứu
2 Đánh giá tình hình bệnh nhân sốt mò tại tỉnh Yên Bái năm 2016 – 2017
Trang 11Chương 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số đặc điểm hình thái phân loại mò
Họ Mò Trombiculidae thuộc bộ ve bét (Acarina), lớp hình nhện (Arachnida),ngành chân đốt (Arthropoda) Mò có kích thước bé không quá 1mm, màu sắc từvàng đến da cam nên còn gọi là mò đỏ [6]
Đặc điểm hình thái bên ngoài của ấu trùng mò (Hình 1.1)
Hình 1.1 Hình thái ấu trùng Leptotrombidium (Leptotrombidium) deliense
(Walch, 1922) (nguồn: Nadchatram et Dohanyi, 1974)
1 Pan (palp); 2 Kìm (chelicera); 3 Lông bao kìm ( galea seta); 4 Mắt (ocellus); 5 Lông bên gần mút bàn (parasubterminala); 6 Lông gần mút bàn (subterminala); 7 Cựa bàn I (tarsal); 8 Gai cảm giác bàn chân ( microtasala); 9 Gai cảm giác cẳng chân (spine tibiala); 10 Gậy cảm giác đốt cẳng chân (tibiala); 11 Gậy cảm giác đốt gối (genuala); 12 Gai cảm giác đốt gối (micritiala); 13 Đốt chuyển (trochanter); 14 Đốt gốc đùi (basifemur); 15 Đốt ngọn đùi (telofemur); 16 Đốt gối (genus); 17 Đốt cẳng chân (tibia); 18 Bàn chân ( tarsal); 19 Lông trước mút bàn (pretarsala); 20 Mai lưng (scutum); 21 Lông vai (humeral); 22 Hàng lông lưng thứ nhất “1st ” (Dorsala I); 23 Hàng lông lưng thứ hai “ 2 st‟‟ (Dorsala II); 24 Móng chân (claw); 25 Đệm (epodium); 26 Lông đuôi (caudal seta); 27 Lỗ hậu môn (anus); 28 Lông bụng (ventral seta); 29 Gốc chân III (coxa); 30 Lông gốc chân ba ( coxal seta III); 31 Lông ức (sternal seta); 32 Gốc chân II ( coxa II);
33 Lỗ thở (urtigma); 34 Gốc chân I (coxa I).
Trang 121.2 Một số đặc điểm sinh học của mò
Vòng đời của mò phát triển qua 4 giai đoạn trứng, ấu trùng, thanh trùng vàtrưởng thành Mò trưởng thành sống trong đất xốp, ẩm Mò cái đẻ trứng trên bề mặtcác lớp đất xốp, ấu trùng nở ra từ trứng bò lên cây cỏ hoặc tán cây bụi, một số nấptrong các khe kẽ hoặc hang chuột để bám vào động vật chủ Sau khi đốt động vật,
ấu trùng mò rơi xuống đất phát triển thành thanh trùng Thanh trùng phát triển thành
mò trưởng thành Thời gian sống của mò trưởng thành có thể kéo dài 15 tháng hoặclâu hơn Chu kỳ sinh trưởng của mò kéo dài 2 tháng đến 3 tháng ở những vùng cókhí hậu ấm và có thể kéo dài 8 tháng ở những vùng khí hậu lạnh [3, 46, 50]
Ấu trùng mò ký sinh trên các động vật có xương sống, chủ yếu là chuột vàcác thú nhỏ khác trong bộ gặm nhấm, có thể đốt người (người là vật chủ vô tìnhcủa ấu trùng mò) Thời gian đốt động vật của ấu trùng mò kéo dài 48 giờ đến 72 giờ(có thể lâu hơn ở một số loài) Khi đốt động vật chúng thường tập trung thành từngđám vài trăm cá thể thường ở những nơi kín như tai và vùng hậu môn – sinh dụccủa động vật Những yếu tố này góp phần hình thành nên các “điểm nóng” lâytruyền mò được mô tả trong các nghiên cứu khác [46, 50] (Hình 1.2)
Hình 1.2 Vòng đời phát triển của mò Trombiculidae
(nguồn: TV Rao, 2012)
Trang 131.3 Liên quan giữa mò, vật chủ, phương thức truyền bệnh sốt mò
Bệnh sốt mò lây truyền từ vật chủ này qua vật chủ khác nhờ vật trung gian là
ấu trùng mò Ấu trùng mò mang mầm bệnh và truyền sang vật chủ khác Ấu trùng
mò có thể truyền mầm bệnh qua 3 đến 4 thế hệ sau Các mầm bệnh này được lantruyền từ động vật gặm nhấm (chủ yếu từ chuột) sang người và không truyền bệnh
từ người sang người [5]
Vi khuẩn Orientia tsutsugamushi tồn tại trong tất cả các giai đoạn phát triển
của mò từ trứng, ấu trùng đến mò trưởng thành, nhưng chỉ giai đoạn ấu trùng mới
ký sinh truyền bệnh cho người Giai đoạn trưởng thành mò sống tự do nên khó thuthập Do vậy, việc điều tra nghiên cứu về mò chủ yếu thu thập được ấu trùng sống
ký sinh trên các loài động vật Ấu trùng mò chỉ hút máu một lần trong đời Ấu trùng
mò thường bám vào thân cây, ngọn cỏ hoặc ngay cả mặt đất và khi con người hay
động vật đi qua chúng bám vào để hút máu và truyền vi khuẩn Orientia
tsutsugamushi cho người gây ra bệnh sốt mò.
1.4 Tình hình nghiên cứu về mò và bệnh sốt mò trên thế giới
1.4.1 Nghiên cứu về mò (Trombiculidae) trên thế giới
Năm 1960, Vercammen Grandjean đã xuất bản khóa định loại bằng hình vẽbản phân loại hơn 100 giống và phân giống thuộc họ Trombiculidae Vào thời điểm
đó đã biết khoảng 1.200 loài mò trên thế giới Năm 1966, Brennan và Yunker đãxây dựng khóa định loại cho 29 giống mò ở Panama Năm 1974 Nadchatram vàDohany xây dựng khóa phân loại cho 50 giống và phân giống của họ Trombiculidaevùng Đông Nam Á Các tác giả cho biết khoảng 1900 loài thuộc họ này đã đượccông bố trên thế giới; khu vực Châu Á khoảng 600 loài, trong đó vùng Đông Nam
Á 350 loài chủ yếu được phát hiện ở bán đảo Malaysia và Thái Lan (khoảng 250loài) [45] Năm 1977, Brennam và Goff đã xuất bản khóa định loại 87 giống vùng
Tây bán cầu, kèm theo hình vẽ và thuật ngữ phân loại, đồng thời thông báo hơn
3000 loài mò đã được phát hiện trên thế giới, trong số đó dưới 10 % biết đến cácgiai đoạn sau ấu trùng [28]
Trang 14Công trình nghiên cứu của Takeo Tamiya (1962) về sốt mò ở Nhật Bản khá toàndiện đề cập nhiều khía cạnh về sốt mò và mò Tác giả cho biết, từ năm 1951 đến năm
1960 điều tra 1.022 điểm và một số điểm theo dõi hàng tháng hoặc vài tuần trong năm
đã thu thập được 6036 mẫu thú trong đó có 5807 mẫu gặm nhấm phân lập đượcOrientia Trong nghiên cứu này dùng chuột để bẫy mò và dùng đĩa hát để bắt mò, đãthu được 30.000 mẫu mò dùng để phân lập Orientia, chuột được dùng để thử nghiệmgây nhiễm Orientia nhằm chứng minh vai trò dịch tễ từng loài chuột Đã phát hiện hơn
500 chủng Orientia gây bệnh ở các vùng khác nhau trên lãnh thổ Nhật Bản và đã phát
hiện được 73 loài mò, xác định được 2 loài gây bệnh: loài Orientia tsutsugamushi gây bệnh vào mùa hè và loài Orientia shichito-nestu gây bệnh vào mùa đông Mùa bệnh
trùng với mùa phát triển của các loài mò truyền bệnh Các loài mò truyền bệnh thuộc
giống Leptotrombidium và phân giống Neotrombicula gồm: Leptotrombidium (Leptotrombidium) akamushi, Leptotrombidium (Leptotrombidium) palilida, Leptotrombidium (Leptotrombidium) suctellare, Leptotrombidium
(Leptotrombidium) palpalis, Neotrombicula fuji, Neotrombicula jiponica, Neotrombicula myiaimai, Neotrombicula saduskyi, Neotrombicula tamiyai (Asanuma et al, 1962) [55].
Cho đến nay nhiều nước vùng Đông Nam Á – Thái Bình Dương, đã cónhững công trình nghiên cứu về khu hệ mò và xây dựng khóa định loại Thái Lan,
đã công bố danh sách 121 loài thuộc 27 giống, kèm theo danh sách vật chủ và phân
bố từng loài [54] Trung Quốc đã công bố 131 loài thuộc 14 giống và kèm theo phânloại tới loài, đã phát hiện được 52 loài thuộc 15 giống [61] Tại Malaysia,Philippines, Indonesia, Australia, Ấn Độ, Mianmar có các công trình nghiên cứucủa Traub và Audy (1953), Traub và Evans (1957)[57, 58]
Kimito Uchikawa và Nobuo Kunada (1989) khi nghiên cứu vật chủ và véc tơtại một số ổ bệnh sốt mò ở Nhật Bản đã cho thấy rằng; trong tổng số 487 cá thể
động vật gặm nhấm gồm có Apodemus speciosus Temminck có 391 cá thể,
Apodemus argenteus có 51 cá thể, Microtus montebili Milne – Ewards có 33 cá thể, Eothenomys kageus Imaizumi có 12 cá thể, đã tìm thấy được 51548 cá thể mò thuộc
ba giống và 12 loài trong đó các loài Leptotrombidium fuji (Kuwata et al),
Trang 15Leptotrombidium intermedturn (Nagayo et al) và Gahrliepia suduski Womersley là
các loài chiếm ưu thế [40]
1.4.2 Nghiên cứu về bệnh sốt mò trên thế giới
Bệnh sốt mò là bệnh khá nguy hiểm, tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Orientia
stutsugamushi Theo Kulagin và Tarashevich (1972), bệnh sốt mò phát hiện ở 15
nước trên thế giới chủ yếu khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (Hình 1.3) Bệnhsốt mò xảy ra nghiêm trọng nhất ở Nhật Bản từ năm 1917 đến năm 1962 đã có
17074 người mắc và 2079 người chết [42] Do tầm qua trọng của mò, nên đã cónhiều công trình nghiên cứu về hình thái, phân loại và khu hệ mò trên thế giới
Hình 1.3 Phân bố địa lý của bệnh sốt mò
(nguồn: Daryl et al, 2009)Vùng lưu hành của sốt mò rất đa dạng về sinh thái từ rừng nhiệt đới tới cácvùng cây cỏ thấp, ngoại ô thành phố đến vùng núi cao trên 950m Ảnh hưởng của sốt
mò đã được biết đến từ trước và nửa đầu thế kỷ XX, nhưng chỉ thật sự được ghi
Trang 16nhận trong chiến tranh thế giới thứ hai, khi quân đội Đồng Minh và Quân đội phátxít Nhật chịu những tổn thất nặng nề do sốt mò [41, 60] Từ sau chiến tranh thế giớithứ hai, nhiều nghiên cứu về sốt mò được tiến hành ở các nước trong vùng dịch tễnhư Nhật Bản, Malaysia, Hàn Quốc, Nepal, Lào, Campuchia … [30, 31, 56].
Tại Nhật Bản bệnh sốt mò được Hashimoto mô tả lần đầu tiên vào năm 1810nhưng cho đến năm 1878 mới được biết đến rộng rãi thông qua ghi nhận củaTheodor Palm với tên địa phương là “shima mushi” Vai trò truyền bệnh của ấutrùng mò Leptotrombidium được Brumpt đề cập đến lần đầu tiên vào năm 1910.Bản chất của vi khuẩn gây sốt mò được xác định vào cuối những năm 1920 [42].Những loài mò được xác định là trung gian truyền bệnh sốt mò bao gồm:
Leptotrombidium akamushi, Leptotrombidium deliense, Leptotrombidium fletcheri, Leptotrombidium pallidum, Leptotrombidium scutellare, Leptotrombidium arenicola và một số loài khác Leptotrombidium akamushi là véc tơ truyền bệnh sốt
mò vào mùa hè ở các vùng dịch truyền thống của Nhật Bản như: Niigata, Yamagata
và Akita [37, 50] Các loài Leptotrombidium pallidum, Leptotrombidium scutellare
là véc tơ lây truyền bệnh sốt mò vào cuối thu và đầu xuân ở Nhật Bản và các nước
khác như Hàn Quốc, vùng Viễn Đông của Nga [46], Leptotrombidium pallidum
cũng được tìm thấy ở Malaysia, Thái Lan. Mò Leptotrombidium deliense phân bố
rộng rãi tại Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, New Guinea, Bắc Queensland,
Australia, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Myanmar, Ấn Độ Leptotrombidium
fletcheri được tìm thấy tại Philippines, New Guinea và Malaysia [45] Leptotrombidium arenicola được xác định là véc tơ lây truyền sốt mò ở vùng cát
ven biển Malaysia, Indonesia [46] Tại mỗi vùng dịch tễ có thể có nhiều loài mòcùng tồn tại, mỗi loài mò có thể là vật chủ của chủng Orientia nhất định [38], ngượclại ngay trong một cá thể mò cũng có thể có nhiều chủng Orientia cùng ký sinh [46]
Trẻ em ở vùng sốt mò lưu hành cũng có thể bị mắc bệnh, theo các ghi nhận
từ Thái Lan, Ấn Độ và Austrailia, bệnh sốt mò ở trẻ em không đặc hiệu, với cácbiểu hiện sốt, ho, gan to, lách to, hạch to, phát ban, biểu hiện phổi [31, 47, 51, 52]
Trang 17Tỷ lệ trẻ bị sốt mò có vết loét ngoài da ở vùng dịch tễ rất thấp: 7% trong quan sátcủa Silpapojakul, 0/2 bệnh nhi ghi nhận từ Ấn Độ.
1.5 Tình hình nghiên cứu về mò và bệnh sốt mò ở Việt Nam
1.5.1 Nghiên cứu về mò (Trombiculidae) ở Việt Nam
Mò họ Trombiculidae ở Việt Nam có số lượng giống và loài phong phú gồm:
107 loài thuộc 23 giống và phân giống [5]
Tháng 9 năm 1962 đến tháng 5 năm 1966 đoàn điều tra động vật ký sinhtrùng do Ủy ban khoa học Bộ khoa học Công nghệ chủ trì, có sự tham gia của ViệnSốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương, Trường Đại học Khoa học Tựnhiên, Trường Đại học Nông nghiệp I, đã tiến hành điều tra cơ bản động vật ký sinh
ở 12 tỉnh miền Bắc, Bắc Trung Bộ Việt Nam gồm: Sơn La, Lai Châu, Yên Bái,Nghĩa Lộ, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Nghệ An, HàTĩnh, Quảng Bình Năm 1968 đến 1969, đoàn tiếp tục điều tra ở hai tỉnh TháiNguyên và Bắc Giang, đã thu được 18 loài mò, thuộc 6 giống và phân giống [22]
Hadi và Carney từ năm 1968 đến năm 1969 đã tiến hành điều tra nghiên cứukhu hệ mò trên thú nhỏ tại các tỉnh: Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam vàCôn Đảo thu được 8 loài mò thuộc 5 giống Đã bổ sung 3 loài cho khu hệ mò Việt
Nam, trong đó 2 loài mới cho khoa học là Leptotrombidium (Leptotrombidium)
vanpeeneni và Helenicula consonensis [36].
Năm 1974, theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, một đoàn điềutra về Tài nguyên Sinh vật và tiết túc y học được thành lập do giáo sư Đặng NgọcThanh và giáo sư Đào Văn Tiến chủ trì, thành phần đoàn gồm các cơ quan sau:Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, TrườngĐại học Nông Nghiệp I Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Viện Sốt rét -
Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương tiến hành nghiên cứu tại tỉnh Hà Tĩnh từ năm
1974 đến năm 1975, đã phát hiện 9 loài mò thuộc 4 giống [11]
Trang 18Nguyễn Văn Châu (2005), trong quá trình phân loại hơn 50.000 mẫu vật tạibảo tàng Côn trùng Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương đã xácđịnh được 3 loài mò mới cho khoa học thuộc ba giống ký sinh trên thú, chim, bò sát[4] Bao gồm loài Trombigastia chrotogalis Chau sp, Toritrombicula dicrura sp và
Fonsecia fascita Chau sp.
Năm 2007, trong cuốn Động Vật chí Việt Nam (Tập 16) Nguyễn Văn Châu,Nguyễn Thu Vân và Đỗ Sĩ Hiển đã xác định ở Việt Nam đã biết 107 loài và phânloài thuộc 24 giống, 2 phân họ là Trombiculinae và Leuwenhoekiinae, thuộc họ mòTrombiculidae [9]
Stalislav Kaluz, Nguyễn Mạnh Hùng và ctv (2016), trong quá trình nghiêncứu tại Vườn Quốc gia Cúc Phương đã cho thấy trong tổng số 12 loài mò(acariformes: Trombiculidae) ký sinh trên chim và đã phát hiện được 2 loài mò cho
khoa học đó là Neoschoengastia vietnamensis sp và Hypogastia stekolnikovi sp
[53]
Sự phân bố của các loài mò ở Việt Nam liên quan chặt chẽ với cảnh quan:Sinh cảnh đồng bằng chỉ có 21 loài mò còn ở sinh cảnh đồi núi có tới 102 loài, nhưvậy sự khác nhau về thành phần loài giữa 2 sinh cảnh rất rõ rệt Trong khi đó giữa
ba miền địa lý sự khác nhau về số lượng và thành phần loài không đáng kể: miềnBắc- Đông Bắc có 60 loài mò, miền Tây Bắc- Bắc Trung Bộ 54 loài mò và miềnnam Trung Bộ - Nam Bộ 60 loài mò Ở các cảnh quan đồng bằng số loài vật chủ rấtnghèo nàn, chủ yếu là các loài gặm nhấm sống gần người, chỉ bắt gặp ở 8 loàichuột, còn ở cảnh quan đồi núi gặp hầu hết các loài chuột Gặm nhấm là vật chủ ưathích nhất của mò [5], trong số 63 loài gặm nhấm ở Việt Nam [19], có 16 loài có
khả năng mang mầm bệnh sốt mò (đã phân lập được Orientia tsutsugamishu) [2, 3,
26] Đặc điểm này tạo đều kiện thuận lợi cho sự lưu hành ổ bệnh sốt mò ở nước ta
1.5.2 Nghiên cứu bệnh sốt mò ở Việt Nam
Bệnh sốt mò tại Việt Nam được phát hiện từ năm 1915 nhiều vụ dịch xảy ratrong quân đội Pháp, Mỹ và ở người Việt Nam đã được ghi nhận bởi: Audy ( 1947),
Trang 19Deaton (1969), Heziett (1970), Le Gae (1969) Miler et al (1974) Những nơi đượccoi là vùng dịch sốt mò tiềm tàng tại Việt Nam là Lạng Sơn, Sơn La, Quảng Trị,Khánh Hòa, Bình Dương Một số yếu tố dịch tễ của bệnh tại Việt Nam cũng đượcchỉ ra là thảm thực vật thấp phù hợp với sinh cảnh của mò, tính chất đất ở nhiều nơiphù hợp với sự phát triển của mò Trombiculidae Vai trò trung gian lây truyền bệnh
của Leptotrombidium deliense cũng được nghiên cứu (dẫn theo LeGac, 1964) [62].
Sau hòa bình lập lại (1954) ở miền Bắc một số vụ dịch sốt mò và các trườnghợp bệnh lẻ tẻ đã được báo cáo Vụ dịch sốt mò đầu tiên được ghi nhận xảy ra ởMộc Châu, Sơn La tháng 6 năm 1965 với hàng trăm người bị bệnh; vùng xảy ra làrừng núi nơi người dân thường vào hang để trú ẩn mỗi khi có máy bay Mỹ tấn
công; loài mò Leptotrombidium deliense được phát hiện ở các cá thể dơi cư trú
trong hang Từ năm 1965, sốt mò chính thức được công nhận và được đăng kýtrong báo cáo thống kê sức khỏe của ngành Y tế Chỉ riêng năm 1976, tại khu vực
Hà Tuyên, 175 bộ đội đã bị mắc sốt mò, có 2 trường hợp tử vong Theo NguyễnVăn Sản và cộng sự trong thời kỳ chống Mỹ, ở một số đơn vị bộ đội có tới 50% sốquân mắc sốt mò Một số ổ dịch thiên nhiên của sốt mò đã được xác định ở TâyBắc, ven sông Mã, các hải đảo [18] Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn XuânHòe tiến hành vào giai đoạn năm 1950 đến đầu năm 1960, ấu trùng mò
Leptotrombidium deliense thu thập được tất cả các loại địa hình ở miền Bắc, bao
gồm vùng núi, đồi, và đồng bằng, có cả ở nông thôn và thành phố Ấu trùng mò
Leptotrombidium deliense ký sinh trên động vật hoang dã nhưng cũng thấy ở chuột
sống gần người và xâm nhập nhà ở của người, ở nông thôn cũng như thành phố
Nguyễn Kim Bằng và cộng sự (1971), qua 12 tháng nghiên cứu tại các ổ dịch
sốt mò đã thấy Leptotrombidium deliense chiếm 62,3% tổng số mò thu thập được, phân
bố ưu thế ở các miền rừng ẩm ướt, ven sông suối và trong hang đá, mật độ cao vàotháng 5 đến tháng 11 là thời gian có nhiệt độ và lượng mưa cao; ký sinh trên rất nhiều
loài chuột, nhưng cao nhất là chuột Rattus flavipectus Chỉ số nhiễm ấu trùng mò Leptotrombidium deliense ở một số loài chuột ở Mộc Châu và Tây Nguyên qua khảo
sát các năm 1970 và năm 1980 lên tới 160 cá thể mò/một cá thể chuột [1]
Trang 20Viện Vệ sinh Dịch tễ Hà Nội đã ghi nhận phân lập được mầm bệnh sốt mò
trên mẫu vật gồm chuột Rattus surifer và Rattus niviventer Nguyễn Văn Biền,
Nguyễn Chác Tiến (1971), Nguyễn Kim Bằng, Nguyễn Văn Sản (1968) thông báo
về phân lập mầm bệnh sốt mò trên các loài chuột Rattus flavipectus, Rattus
sladeni… [2] Các công trình điều tra và phân loại mò, khu hệ mò truyền bệnh sốt
mò được tiến hành bởi các tác giả Liên Xô phối hợp với Việt Nam gồmGrokovskaia, Schluger, Đào Văn Tiến, Đặng Văn Ngữ, Nguyễn Xuân Hòe, ĐỗKinh Tùng (1960, 1969) Các tác giả này đã chú ý mối quan hệ giữa thú nhỏ và mò[22] Tiếp đến là các công trình nghiên cứu kỹ hơn về quan hệ bộ ba: thú nhỏ - mò –người ở Việt Nam như các công trình của Nguyễn Ái Phương và ctv (1970, 1972)[16] Nguyễn Kim Bằng (1971) Lê Võ Định Tường và ctv (1970), Lê Võ ĐịnhTường và ctv (1972)… Nguyễn Hoàn, Vũ Thị Vi và ctv (1971), Nguyễn Văn Biền,Nguyễn Chác Tiến và ctv (1971), Nguyễn Xuân Hòe, Lê Võ Định Tường và ctv(1972) [14, 16]
Lê Võ Định Tường (1989), phân lập Orientia tsutsugamushi dương tính trên
14 loài và loài phụ thú nhỏ trong đó có 11 loài chuột, 3 loài sóc Một nghiên cứuhuyết thanh tiến hành trên 15 loài thú nhỏ bẫy bắt tại Tây Nguyên đã phát hiệnkháng thể với sốt mò ở 9 loài, trong đó thú nhỏ ở nương rẫy, bờ bụi ven nhà có tỷ lệ
kháng thể cao hơn so với thú trong rừng già Mò đỏ Leptotrombidium deliensis ưa thích ký sinh trên một số loài thú nhỏ (Rattus flavipectus, Rattus koratensis, Rattus
indica) nhưng phụ thuộc vào sinh cảnh, cảnh quan Dịch sốt mò phụ thuộc biến
động chỉ số mò mà biến động này phụ thuộc chủ yếu vào lượng mưa trong vùng cóbệnh sốt mò [26]
Tại Bắc Giang từ năm 1998 đến năm 2000 có 71 trường hợp mắc bệnh sốt
mò, 14 loài mò đã được phát hiện tại xã Đông Sơn huyện Yên Thế, trong đó có 4loài mò truyền bệnh [7] Năm 2011 tại Bắc Giang số bệnh nhân đến bệnh viện điềutrị sốt mò là 18 trường hợp trong đó có 6 nam và 12 nữ bệnh nhân đến từ cáchuyện: Lạng Giang, Lục Nam, Yên Dũng, Tân Yên, Lục Ngạn
Trang 21Từ năm 2000 đến 2002 tại bệnh Viện Uông Bí tỉnh Quảng Ninh có 449 bệnhnhân sốt mò đến điều trị Bệnh nhân sốt mò được phát hiện quanh năm, nhưng cao vàotháng 5 đến tháng 10 Các dấu hiệu lâm sàng: Có nốt ban đỏ, sốt cao liên tục, nổi hạch.Điều trị bằng Chloramphenicol và Tetracyclin sau 5 đến 7 ngày hết sốt Đã thu thập
được 14 loài mò tại các điểm nghiên cứu Trong đó, loài Leptotrombidium (L) deliensi, Ascochosengastia (Laurentella) indica chiếm ưu thế về số lượng và cá thể; mò chủ yếu
ký sinh trên chuột nhà (Rattus flavipectus) và chuột rừng (Rattus koratensis)
[8] Theo Phạm Thị Thanh Thủy (2007), ở miền Bắc nước ta 24 tỉnh/thành có bệnhnhân sốt mò đã điều trị tại Viện Y học Lâm sàng và các bệnh nhiệt đới Điều nàycho thấy bệnh sốt mò ở Việt Nam có xu hướng ngày càng mở rộng [21]
Từ năm 2008 đến năm 2010 tại miền Trung và Tây Nguyên có 471 bệnh nhânsốt mò trong đó huyện M‟Drak tỉnh Đắk Lắk có 2 bệnh nhân, còn 469 bệnh nhân thuộctỉnh Khánh Hòa, chủ yếu tập trung ở huyện Ninh Hòa, thành phố Nha Trang, huyệnDiên Khánh, huyện Cam Lâm, huyện Vạn Ninh… [10, 25] Kết quả điều tra vật chủ,véc tơ và mầm bệnh sốt mò tại tỉnh miền Trung và Tây Nguyên trong năm 2010 chothấy; tại Dục Mỹ, xã Ninh Sơn, huyện Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa có 14,30 % cá thể
chuột Bandicota savilei và 21,4% dân cư có kháng thể kháng
vi khuẩn Orientia tsutsugamushi Tại huyện Chư Prông tỉnh Gia Lai có 40 % cá thể chuột Rattus exulans và 13,99% dân cư phát hiện kháng thể kháng Orientia
tsutsugamushi Trong thời gian nghiên cứu này Viện Sốt rét – KST – CT Quy Nhơn đã
tiến hành một nghiên cứu hồi cứu tại Khánh Hòa kết quả cho thấy ở xã Ninh Thượnghuyện Ninh Hòa có 4 loài mò có khả năng truyền bệnh sốt mò:
Ascoschengastia (Laurentella) indica; Leptotrombidium (Leptotrombidium) deliense; Garhliepia (Walchia) chinensis và Eutrombicula wichmanni Xã Vĩnh
Lương thành phố Nha Trang có 3 loài mò: Ascoschengastia (Laurentella) indica;
Leptotrombidium (Leptotrombidium) deliense; Garhliepia (Walchia) chinensis.
Trong đó Véc tơ Leptotrombidium (Leptotrombidium ) deliense có mật độ cao trên các loài chuột thu thập được [20].
Trang 221.6 Tình hình bệnh sốt mò, mò ở tỉnh Yên Bái
1.6.1 Tình hình nghiên cứu sốt mò tại Yên Bái
Sốt mò ở tỉnh Yên Bái đã được biết đến cách đây hơn 40 năm Nhưng nhữngnăm trở lại đây bệnh diễn ra trên diện rộng cụ thể trong hai năm, năm 2014 và năm
2015 bệnh sốt mò xuất hiện tại 10 huyện thị với tổng số bệnh nhân là 397 ca bệnh,bệnh tập trung ở phía Tây của tỉnh gồm: Văn Chấn, Mù Cang Chải, Trạm Tấu, vàthị xã Nghĩa Lộ Bệnh sốt mò gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng tập trung vào nhóm tuổihọc sinh và nhóm tuổi lao động Theo báo cáo của trung tâm y tế dự phòng tỉnh YênBái đã có 4 trường hợp tử vong do sốt mò năm 2015
Các nghiên cứu về mò tại tỉnh Yên Bái cũng như vai trò truyền bệnh của véc
tơ chưa nhiều Trong tháng 8 năm 2014 một điều tra về mò chỉ thu thập được 3 loài
chủ yếu ký sinh trên gà, trên đất nền nhà và đất vườn: Neoschoengatia gallinarum,
Eutrombicula hirsti và Eutrombicula wichmanni [27].
1.6.2 Một số đặc điểm tự nhiên, xã hội ở Yên Bái
Yên Bái là tỉnh miền núi, với 12 dân tộc bản địa cùng sinh sống Sự phân bốdân cư các dân tộc ở Yên Bái không có lãnh thổ tộc người rõ rệt, họ sống xen kẽvới nhau Tuy nhiên mỗi dân tộc đều có những vùng quần tụ đông đảo Tại các vùngnày dân số dân tộc chiếm tỷ lệ cao hơn so với dân tộc khác như là: Dân tộc Kinhchiếm 54%, Tày chiếm 17%, Dao chiếm 9,1%, Mông chiếm 8,1% trong đó ngườiKinh tập trung ở thành phố Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ, người Mông cư trú tập trung
ở hai huyện Trạm Tấu và Mù Cang Chải; người Dao cư Trú ở hai huyện Văn Yên
và Văn Chấn Nhà ở, tập quán sản xuất, đời sống văn hóa của đồng bào ở mỗi vùng cónhững nét đặc thù riêng Người Mông ở vùng cao có ngôi nhà truyền thống là nhà đất,làm lúa nương, người Tày, người Dao và các dân tộc khác nhà của họ là nhà sàn, nhàđất, nhà nửa sàn nửa đất, nền văn minh lúa nước
Yên Bái nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, giữa hai vùng sinh tháiĐông Bắc và Tây Bắc Việt Nam Địa chất có lớp vỏ phong hóa dày đã tạo nên thảmthực vật phong phú về chủng loại và giàu về trữ lượng Do điều kiện địa hình và khí
Trang 23hậu có sự chênh lệch giữa các vùng nên Yên Bái có nhiều loại rừng khác nhau như:rừng nhiệt đới, á nhiệt đới và núi cao Vì vậy, tổng lượng của các loại rừng là rấtlớn tập trung chủ yếu ở các huyện Văn Yên, Văn Chấn, Mù Cang Chải, Trạm Tấu.Ngoài ra, về động vật rừng có khoảng 72 loài thú, 240 loài chim… các loài này tậptrung ở khu rừng tự nhiên tại các huyện như: Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Văn Yên,Văn Chấn đặc biệt là khu bảo tồn loài sinh cảnh Mù Cang Chải và khu bảo tồn thiênnhiên Na Hẩu, huyện Văn Yên Bên cạnh hệ sinh thái và thảm thực vật đa dạng vàphong phú tại khu vực nghiên cứu đã tạo điều kiện cho ấu trùng mò và các loài gặmnhấm, thú nhỏ phát triển Mặc dù chưa có nhiều nghiên cứu về bệnh sốt mò tại Yên
Bái, nhưng thông qua các điều tra về bệnh sốt mò (scrub typhus) do Orientia
tsutsugamushi gây nên có thể hình dung được phần nào sự lưu hành của bệnh sốt
mò ở tỉnh Yên Bái nói chung
Trang 24Chương 2 - THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 4 năm 2016 đến tháng 12 năm 2017 Gồm hai đợt điều tra, vào tháng 6 năm 2016 và tháng 8 năm 2017 Mỗi đợtđiều tra bốn điểm, mỗi điểm điều tra 5 ngày
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại 4 xã (Hình 4), mỗi xã được xem là 1
điểm nghiên cứu
- Xã Nậm Mười, huyện Văn Chấn,
- Xã Nậm Lành, huyện Văn Chấn,
- Xã Nậm Khắt, huyện Mù Cang Chải,
- Xã La Pán Tẩn, huyện Mù Cang Chải,
Tiêu chí chọn điểm: Các điểm được chọn là những xã có nhiều bệnh nhânsốt mò trong năm 2014 – 2015 (dựa theo số liệu thống kê bệnh nhân sốt mò củaTrung tâm Y tế Dự phòng tỉnh Yên Bái)
2.1.2.1 Đặc điểm tự nhiên, vị trí của các xã nghiên cứu
Xã Nậm Mười có diện tích 26, 72 km2 dân số năm 1999 là 2.701 người, cótọa độ 21078‟79,9‟‟ N 104017‟45,7‟‟E độ cao 1135m Xã Nậm Lành có diện tích78,14km2 dân số năm 1999 là 2.674 người, có tọa độ 21039‟45,5‟‟N 104024‟54,2‟‟
E, độ cao 792m Cả hai xã này thuộc huyện Văn Chấn, đặc điểm tự nhiên của huyệnVăn Chấn; phía Bắc giáp huyện Văn Yên, phía Tây giáp Mù Cang Chải, Trạm Tấu,phía Đông giáp Yên Lập và phía Nam giáp huyện Phù Yên Sơn La Huyện VănChấn có độ cao trung bình 800m Phía Bắc của huyện là vùng nhiều mưa, phía Namcủa huyện là vùng ít mưa: nhiệt độ trung bình 18 đến 20 độ C mùa đông nhiệt độxuống dưới 1 độ C, lượng mưa 1.800mm/năm độ ẩm 84% Xã Nậm khắt và xã La
Trang 25Pán Tẩn thuộc huyện Mù Cang Chải Xã Nậm Khắt có diện tích 117,94 km2 dân sốnăm 1999 là 3.194 người, có tọa độ 210 41‟ 22,02‟‟ N 1040 12‟ 12,4‟‟ E, độ cao1929m Xã La Pán Tẩn có diện tích 33.038km2, dân số 3.636 người, có tọa độ 210
78‟ 79,9‟‟ N 1040 17‟ 45,7‟‟ E, độ cao 1958m huyện Mù Cang Chải Phía Bắc giáphuyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai, phía Nam giáp huyện Mường La tỉnh Sơn La, phíaTây giáp huyện Than Uyên của tỉnh Lai Châu, phía Đông giáp huyện Văn Yên củatỉnh Có độ cao trung bình 900m, nhiều nắng chịu ảnh hưởng của gió mùa TâyNam Do độ cao địa hình lớn nên nhiệt độ thấp, nhiệt độ trung bình 18 đến 20 độ Cmùa đông lạnh có khi xuống 0 độ C, lượng mưa 1.800mm/ năm độ ẩm 80% Các
xã này đại diện cho các điểm có phát hiện mò, vật chủ mò, bệnh nhân sốt mò trongthời gian nghiên cứu và sinh cảnh (Hình 4)
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí các điểm nghiên cứu
Ghi chú: (1) xã Nậm Mười; (2) xã Nậm Lành; (3) xã Nậm Khắt; (4) xã La Pán Tẩn
Trang 262.2 Đối tượng nghiên cứu
- Mò thuộc họ Trombiculidae và vật chủ của mò
- Bệnh nhân sốt mò tại tỉnh Yên Bái
2.3 Phương Pháp nghiên cứu
2.3.1 Thu thập mò ký sinh trên chuột,
Do điều kiện và thời gian hạn chế, cho nên việc điều tra chủ yếu trên các loàichuột là nhóm có vai trò quan trọng trong dịch học của bệnh sốt mò Do đó chưa cóđiều kiện điều tra kỹ những nhóm thú nhỏ khác như dơi, sóc, chim…
Sử dụng bẫy lồng bắt chuột theo từng sinh cảnh khác nhau như: trong nhà,ngoài nhà, trong rừng, nương rẫy, mỗi điểm đặt 100 bẫy trong ba đêm Bẫy đượcđặt từ 18 giờ hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau Mồi là những loại thức ăn sẵn có ởđịa phương như (khoai lang, sắn tươi, bắp ngô tươi…)
Chuột sau khi bẫy được cho vào túi nilon đánh thuốc mê bằng (ether) haychloroform buộc kín, sau đó dùng kéo cắt chỗ da có ấu trùng mò ký sinh hoặc dùngpanh nhỏ gắp ấu trùng mò ký sinh Cố định ấu trùng mò trong cồn 70 % đem vềphòng thí nghiệm làm tiêu bản và định loại
2.3.2 Thu thập mò ký sinh trên động vật nuôi
Các phương pháp thu thập theo quy trình của Viện Sốt rét Ký sinh trùng Côn trùng Trung ương
-Thu thập mò ký sinh trên vật nuôi chủ yếu là (gà) tiến hành bắt từng cá thểkiểm tra kỹ tại các vị trí có mò khu trú: như dưới mỏ, dưới hai cánh Đối với chó,mèo việc thu thập mò trên chúng khó khăn do việc bắt giữ chúng cũng như khảnăng gây tổn thương đến người
Mẫu mò sau khi tách khỏi vật chủ cho vào ống nghiệm có nắp hoặc lọ nhỏ cónắp chứa cồn 70 % để bảo quản, có nhãn ghi các thông tin rồi đem về phòng thínghiệm để xử lý, gắn tiêu bản mò theo phương pháp của Nguyễn Kim Bằng (1971)
Trang 272.3.3 Thu thập mò tự do ngoài thiên nhiên
Mò trưởng thành và ấu trùng mò trước khi bám vào vật chủ thường sống tự
do ngoài thiên nhiên trên các bụi cây, ngọn cỏ, trên mặt đất, rơm, rác… do đó sửdụng đĩa hát để trên mặt đất, các vị trí có mò như ngoài vườn, bên cạnh bụi cây,ngọn cỏ, để cho mò bám vào; cứ 6 giờ quan sát một lần bằng lúp tay (10x và 20x),nếu thấy mò ta dùng bút lông hoặc kim mũi mác nhặt cho vào ống nghiệm có nắphoặc lọ (vial) chứa cồn 70 độ đóng chặt nắp, ghi nhãn đem về phòng thí nghiệmphân tích, xử lý Mỗi điểm đặt 30 tấm trong 3 ngày đêm
2.3.4 Định loại mò, chuột
Định loại mò: làm tiêu bản mò, sử dụng kính hiển vi quan sát hình thái ngoài,dựa vào các tài liệu của tác giả: Nguyễn Kim Bằng (1971) [1], Nguyễn Văn Châu(1997) [6]
Định loại chuột dựa vào đặc điểm hình thái ngoài theo tài liệu của Cao VănSung (1980) [20], Đào Văn Tiến (1985) [23, 24]
2.3.5 Điều tra bệnh nhân sốt mò
Hồi cứu số liệu tất cả bệnh án bệnh nhân sốt mò được lấy từ bệnh viện huyện
và trung tâm y tế các xã nghiên cứu giai đoạn 2106 – 2017
Số cá thể một loài vật chủ thu được
Tổng số cá thể mò thu thậpMật độ mò chung =
Tổng số chuột bẫy được
Trang 28Tổng số cá thể mò thu đượcMật độ mò trên tấm nhựa =
Tổng số lần kiểm tra
Tổng số chuột bẫy đượcChỉ số chuột =
(Bẫy/ đêm) Tổng số bẫy dùng trong 3 đêm
2.4.2 Phương pháp tính mức độ gần gũi về thành phần loài mò
Chúng tôi sử dụng công thức Stugren và Radulesdus (1961) để xét quan hệ thành phần loài mò khu vực nghiên cứu với các vùng lân cận
(X+Y)-Z
R =
X+Y +ZTrong đó:
R: là hệ số tương quan giữa hai vùng X, Y: Số loài riêng của mỗi vùng
Trang 29Chương 3 - KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 Thành phần loài và phân bố của mò tại các điểm nghiên cứu
Qua hai đợt điều tra nghiên cứu tại 4 điểm thuộc hai huyện của tỉnh Yên Bái,chúng tôi thu thập được 1192 mẫu mò qua phân tích thấy rằng có 12 loài thuộc 5giống, 1 phân họ Trombiculinae Ewing, 1944 của họ Trombiculidae Ewing, 1944(Bảng 3.1)
Bảng 3.1 Thành phần và phân bố các loài mò tại các điểm nghiên cứu
năm 2016- 2017
Số lượng cá thể mò thu được
Tổng tại các điểm
4 Eutrombicula wichmanni (Oudemans,
Trang 3021
Trang 31Ghi chú:* Véc tơ truyền bệnh sốt mò chủ yếu tại Việt Nam
Trong 5 giống mò đã thu thập đƣợc tại Yên Bái, giống Garhliepia có số loàinhiều nhất 4 loài, tiếp đến giống Leptotrombidium 3 loài, giống Ascoschengastia vàgiống Eutrombicula đều có 2 loài; giống Neoschoengastia chỉ có 1 loài Hai loài;
Leptotrombidium (Leptrotrombidium) deliense và Ascoschoengastia (Lau.) indica là
véc tơ truyền bệnh sốt mò, theo tài liệu của Nguyễn Kim Bằng (1971) [1] vàNguyễn Văn Châu (2007) [9] có mặt tất cả các điểm điều tra
Trang 3222
Trang 33Nậm Lành và Nậm Khắt đều có 6 loài thuộc 5 giống và xã La Pán Tẩn có 5 loàithuộc 5 giống Tổng số cá thể loài mò thu thập được chung tại 4 điểm khác nhau.
Loài Leptotrombidium (L.) deliense có số lượng cá thể nhiều nhất chiếm 55, 11 %
so với tổng số cá thể của 12 loài (657/ 1192 cá thể) tiếp đến là loài Eutrombiculla
hisrt chiếm 12, 91% (154/1192 cá thể), loài Neoschoengastia gallinarum chiếm
10,06% (120/ 1192 cá thể)
Số lượng cá thể ấu trùng mò thu thập được ở từng điểm cũng khác nhau Tại
xã Nậm Mười có số lượng mò nhiều nhất với 364 cá thể chiếm 30, 53% so với tổng
số mò thu được ở cả 4 điểm (364/1192); trong đó số lượng cá thể loài
Leptotrombidium (L.) deliense nhiều nhất chiếm 35,31% (232/657 cá thể) Tiếp đến
xã Nậm Khắt có 322 cá thể chiếm 27,01% (322/1192), trong đó loài
Leptotrombidium (L.) deliense số lượng cá thể chiếm 29,68% so với tổng số cá thể
của loài này thu được tại 4 điểm Hai xã còn lại gồm xã Nậm Lành và xã La PánTẩn có số lượng cá thể các loài mò lần lượt chiếm 19,46% và chiếm 22,98%, số
lượng cá thể loài mò Leptotrombidium (L.) deliense thuộc hai xã; xã Nậm Lành
chiếm 19,02% (125/657) xã La Pán Tẩn chiếm 15,98% (105/657)
Thành phần loài mò nhìn chung trong bốn xã thuộc hai huyện tương đốikhác nhau, tại hai xã thuộc huyện Văn Chấn có 8 loài cao hơn so với hai xã thuộchuyện Mù Cang Chải có 6 loài Điều này có thể do các điểm nghiên cứu thuộchuyện Mù Cang Chải có độ cao cao hơn, khí hậu lạnh hơn và độ ẩm cũng thấp hơn.Ngoài ra sinh cảnh và tính chất đất cũng khác
3.2 So sánh thành phần loài mò tại 4 điểm nghiên cứu với các khu vực lân cận
Thành phần loài mò Trombiculidae thu được tại 4 xã thuộc tỉnh Yên Báichưa được phong phú do hạn chế về mặt thời gian nên chưa có điều kiện điều tra
mò trên tất cả các vật chủ Để thấy rõ hơn chúng tôi tiến hành so sánh kết quả thuđược với các kết quả điều tra của các nghiên cứu trước đây ở các khu vực lân cậnnhư Yên Thế, Bắc Giang; Mộc Châu, Sơn La, theo số liệu của Nguyễn Văn Châu(2000) [7] và Nguyễn Ái Phương, Nguyễn Kim Bằng, ctv (1970) [16] (Bảng 3 2)
Trang 34Bảng 3.2 So sánh thành phần loài mò ở Yên Bái với một số khu vực
4 điểm Khu vực lân cận nghiên cứu
tại Yên Bái Bắc Giang Sơn La (Cá thể) (Cá thể) (1) (Cá thể) (2)
Trang 3524
Trang 36Kết quả cho thấy số lƣợng giống và loài thu đƣợc ở 4 xã nghiên cứu là (5giống, 12 loài) ít hơn hai loài nhƣng số giống bằng nhau so với Bắc Giang (5 giống,
14 loài), còn ở Mộc Châu Sơn La có 3 giống 11 loài ít hơn Yên Bái 2 giống 1 loài.Tuy nhiên tại 4 điểm nghiên cứu thuộc tỉnh Yên Bái số lƣợng cá thể loài
Leptotrombidium (L.) deliense nhiều hơn so với số lƣợng cá thể loài Leptotrombidium (L.) deliense tại Yên Thế, Bắc Giang, cụ thể tại 4 điểm nghiên cứu
của tỉnh Yên Bái có 657 cá thể Leptotrombidium (L.) deliense còn ở Yên Thế, Bắc Giang là 251 cá thể Leptotrombidium (L.) deliense Mộc Châu, Sơn La là 294 cá thể
Leptotrombidium (Leptotrombidium) deliense.
Bên cạnh đó tổng số cá thể loài mò ở 4 điểm nghiên cứu của Yên Bái gấp 1,2lần so với tổng số cá thể loài mò tại Yên Thế, Bắc Giang và gấp 2 lần so với MộcChâu, Sơn La
Từ dẫn liệu có ở (Bảng 3.2) chúng tôi đánh giá mức độ quan hệ thành phầnloài mò tại 4 điểm nghiên cứu với các khu vực lân cận (Bảng 3.3)
Bảng 3.3 Số loài chung và riêng của thành phần loài mò khu vực nghiên cứu so
với khu vực lân cận
Trang 3725
Trang 383.3 Đặc điểm các loài mò có vai trò truyền bệnh sốt mò tại các điểm điều tra
3.3.1 Loài Ascoschoengastia (Laurentella) indica (Hirst, 1915)
3.3.1.1 Đặc điểm hình thái.
Ấu trùng mò, hình ô van dài, nửa sau hẹp dần, ấu trùng lúc đói vai lồi nhiềukhi no vai lồi ít Công thức lông pan: lông đùi pan chia nhánh ít/ lông gối pan chianhánh ít/ lông lưng cẳng pan chia 6 nhánh Lông bao kìm trần (galeal setae nude)Gal N
Hình 3.1 Ascoschoengastia (Laurentella) indica (Hirst, 1915)
a Mặt lưng ấu trùng, b- Mặt bụng ấu trùng, c- Mai lưng , d- Pan, đ- Gối I, e- Bàn III, g- Lông lưng, h- Lông bụng (nguồn: Schluger et al., 1960).
Móng pan xẻ 2 Mắt 2+2, bé, mắt sau thường không thấy Mai lưng gần hìnhthang, chiều rộng hơn chiều dài 1,5 đến 1,8 lần, góc trước tròn và lồi rõ; góc saubên thu hẹp dần vào giữa Bờ sau mai lưng lượn sóng; giữa bờ sau lõm giữa hai bênlồi, bờ bên lõm Lông trước bên (Aterior lateral) ở vai và sau lông trước giữa