ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --- ---VŨ SINH KHIÊU NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BIẾN ĐỘNG HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NA
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
-VŨ SINH KHIÊU
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC
VÀ BIẾN ĐỘNG HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN
HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2005-2015 NHẰM ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
-VŨ SINH KHIÊU
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC
VÀ BIẾN ĐỘNG HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN
HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2005-2015 NHẰM ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Trần Văn Thụy
2 TS Lê Xuân Tuấn
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua hai năm học tập và nghiên cứu tại Trường đại học Khoa học tự nhiên –Đại học quốc gia Hà Nội, cùng với sự hướng dẫn khoa học tận tình của các thầy, cô
và sự động viên giúp đỡ của gia đình, đồng nghiệp, đến nay đề tài Luận văn thạc sĩ:
“Nghiên cứu thực trạng đa dạng sinh học và biến động hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định giai đoạn 2005-2015 nhằm đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng bền vững” đã được tác giả hoàn thành theo đúng thời gian
quy định
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Văn Thụy và
TS Lê Xuân Tuấn đã tận tình hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này Tác giả
cũng xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Môi Trường - Trường Đạihọc Khoa học tự nhiên – Đại học quốc gia Hà Nội, đã giảng dạy, truyền đạt kinhnghiệm và kiến thức khoa học tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thựchiện luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn UBND, Phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên
và môi trường, Phòng Nông nghiệp, Chi cục kiểm lâm huyện Nghĩa Hưng, chínhquyền địa phương các xã trong huyện, người dân địa phương khu vực nghiên cứu…
đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu điều tra, thu thập số liệu, tàiliệu và hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Viện Nghiên cứu biển vàhải đảo - Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, nơi tác giả đang công tác; Phòng đàotạo sau đại học - Trường Đại học khoa học tự nhiên; Gia đình và bạn bè đã độngviên, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận văn đúng thời hạn
Do hạn chế về thời gian, kiến thức khoa học và kinh nghiệm thực tế của bảnthân tác giả, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhậnđược ý kiến đóng góp và trao đổi chân thành giúp tác giả hoàn thiện hơn kết quảnghiên cứu của đề tài
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
HỌC VIÊN
Trang 4DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 : Bản đồ hành chính huyện Nghĩa Hưng 13
Hình 1 3 Nuôi ngao tại vùng bãi triều Nông trường Rạng Đông, Nghĩa Hưng 35
Hình 1.4 Bãi biển du lịch tại xã Nghĩa Phúc, huyện Nghĩa Hưng, 2015 37
Hình 2.1 Bản đồ nền địa hình bãi bồi cửa sông ven biển huyện 46
Nghĩa Hưng, Nam Định 46
Hình 2.2 Sơ đồ quy trình thành lập bản đồ 48
Hình 3.1 : Rừng trang thuần loài và hỗn hợp trang, bần chua xen kẽ 52
Hình 3.2: Ảnh vệ tinh Landsat 5 ngày 11-05-2005 63
Hình 3.3: Ảnh vệ tinh Landsat 8 ngày 10-07-2015 64
Hình 3.4 Bản đồ hiện trạng rừng ngập mặn huyện Nghĩa Hưng, 67
tỉnh Nam Định năm 2005 67
Hình 3.5 Bản đồ hiện trạng rừng ngập mặn huyện Nghĩa Hưng, 68
tỉnh Nam Định năm 2015 68
Hình 3.6 Chú giải bản đồ hiện trạng RNM huyện Nghĩa Hưng, Nam Định 69
Hình 3.7: Phá rừng ngập mặn làm đầm nuôi trồng thủy sản 71
Hình 3.8: Hiện trạng RNM ngoài đê quốc gia thuộc huyện Nghĩa Hưng - 2015 72
Hình 3.9: Nỗ lực khôi phục diện tích RNM tại huyện Nghĩa Hưng, Nam Định 74
Hình 3.10 Mô hình ao tôm sinh thái 82
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Kết quả của các phong trào quai đê lấn biển 14
Bảng 1.2 Diện tích các loại bãi ngập triều ven biển huyện Nghĩa Hưng 16Bảng 1.3 Độ dốc bề mặt bãi bồi và sườn bờ ngầm khu vực ven biểnhuyện Nghĩa Hưng 17Bảng 1.4: Thống kê dân số, mật độ dân số theo các xã, thị trấn huyện Nghĩa Hưng, 201423
Bảng 1.5: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại huyện Nghĩa Hưng giaiđoạn 2010 - 2014 24
Bảng 1.6: Tổng kết kết quả thực hiện phát triển kinh tế xã hội năm 2014 26
Bảng 1.7: Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản theo giá hiện hành và cơ cấu cácngành trong nền kinh tế giai đoạn từ 2005 - 2014 28
Bảng 1.8 Giá trị sản phẩm trồng trọt và NTTS trên 1 đơn vị diện tích đất theo giáhiện hành giai đoạn 2005 – 2014 30
Bảng 1.9: Kết quả sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2005 – 2014 32
Bảng 1.10 Sản lượng thủy sản chủ yếu giai đoạn 2005 - 2014 33
Bảng 1.11: Lao động, diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản và phương tiện khaithác hải sản chủ yếu tại huyện Nghĩa Hưng giai đoạn 2005 - 2014 34Bảng 3.1: Đa dạng loài sinh vật vùng bãi bồi ven biển huyện Nghĩa Hưng, Nam Định 50
Bảng 3.2 Cấu trúc thành phần chính loài TVN vùng bãi bồi ven biển huyện NghĩaHưng, Nam Định 51
Bảng 3.3 Đa dạng sinh học của TVNM vùng bãi bồi ven biển huyện Nghĩa Hưng,Nam Định 51
Bảng 3.4 Cấu trúc thành phần loài ĐVN vùng cửa sông Ninh Cơ và Sông Đáy 53
Bảng 3.5 Cấu trúc thành phần loài động vật đáy vùng ven biển Nghĩa Hưng 54
Bảng 3.6 Cấu trúc thành phần loài bộ mười chân (Decapoda) 54
Bảng 3.7 Cấu trúc thành phần loài lớp thân mềm hai vỏ (Trai biển) 56
Bảng 3.8 Cấu trúc thành phần loài cá vùng bãi bồi, ven biển huyện Nghĩa Hưng,Nam Định 57
Bảng 3.9 Cấu trúc thành phần loài chim ở vùng bãi bồi ven biển huyện NghĩaHưng, Nam Định 59
Trang 6Bảng 3.10 Loài quý hiếm cần được khai thác hợp lý và bảo vệ 61
Trang 7Bảng 3.11 Dữ liệu ảnh vệ tinh thu thập 63
Bảng 3.13: Biến động diện tích rừng ngập mặn trên huyện Nghĩa Hưng giai đoạn 2005 – 2015 69
Bảng 3.14 : Kết quả của các phong trào quai đê lấn biển 70
Bảng 3.15 Diện tích rừng trồng từ năm 1990 đến 1998 73
Bảng 3.16 Diện tích RNM trồng với sự hỗ trợ của Hội Đan Mạch 73
Trang 8MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học hệ sinh thái đất ngập nước và bãi bồi ven biển trên Thế giới và Việt Nam 4
1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học đất ngập nước trên Thế giới 4 1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học đất ngập nước ở Việt Nam 5
1.1.3 Tổng quan các nghiên cứu về ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS đánh giá biến động RNM 9
1.2 Vị trí địa lý và lịch sử hình thành khu vực nghiên cứu 12
1.2.1.Vị trí địa lý 12
1.2.2 Lịch sử hình thành lục địa khu vực nghiên cứu 13
1.3 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 15
1.3.1 Đặc điểm địa hình, địa mạo và địa chất 15
1.3.2 Đặc điểm khí hậu 19
1.3.3 Đặc điểm thủy, hải văn 21
1.4 Đặc điểm kinh tế xã hội 23
1.4.1 Dân số, lao động 23
1.4.2 Hiện trạng kinh tế xã hội 26
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 40
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 40
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 40
2.2 Phương pháp nghiên cứu 40
2.2.1 Phương pháp kế thừa, thu thập tài liệu, tổng hợp thông tin, dữ liệu 40
2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 40
2.2.3 Phương pháp phân tích dựa trên hệ thông tin địa lý (GIS) và viễn thám44 2.2.4 Phương pháp chuyên gia 48
2.2.5 Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp thông tin, xử lý số liệu 49
Trang 9Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50
3.1 Đa dạng sinh học khu vực nghiên cứu 50
3.1.1 Đa dạng loài khu vực bãi bồi ven biển huyện Nghĩa Hưng, Nam Định 50
3.2.2 Kết quả xây dựng bản đồ hiện trạng các hệ sinh thái khu vực ven biển 65
3.2.3 Phân tích, đánh giá biến động diện tích rừng ngập mặn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định giai đoạn 2005 – 2015
Trang 103.3.2 Phát triển các sinh kế bền vững khu vực ven biển
3.3.4.Tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về sử dụng hợp lý tài
nguyên biển huyện Nghĩa Hưng
85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 93
Trang 11DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 12MỞ ĐẦU
Khu vực đất ngập nước và bãi bồi ven biển là khu vực có chức năng sinh thái
và giá trị kinh tế rất quan trọng như: bảo vệ đa dạng sinh học, chức năng phòng hộ,bảo vệ bờ biển khỏi xói lở, bảo vệ các thảm cỏ biển và rạn san hô ngoài biển ven
bờ, là nơi sinh nở và cư trú của nhiều loài thủy hải sản, nơi cung cấp thực phẩm vàduy trì đời sống sinh vật biển, địa điểm du lịch sinh thái tiềm năng, bảo vệ các vùngđất khai hoang lấn biển, lưu giữ phù sa và thanh lọc các chất ô nhiễm từ lục địamang ra….Đặc biệt, rừng ngập mặn có vai trò rất quan trọng giúp giảm thiểu các tácđộng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến vùng bờ biển, bảo vệ đa dạng sinhhọc vùng ven biển
Huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định là một trong những vùng có diện tích đấtngập nước cửa sông ven biển quan trọng của Việt Nam Rừng ngập mặn nói riêng
và khu vực đất ngập nước vùng ven biển Nghĩa Hưng nói chung có giá trị nhiều mặttrong phát triển kinh tế, bảo tồn đa dạng sinh học Nghĩa Hưng đã từng được đánhgiá là khu đất ngập nước có tầm quan trọng thứ hai ở vùng đồng bằng Bắc bộ, được
đề xuất là khu Ramsa vào năm 1996 Tuy nhiên, qua kết quả khảo sát năm 2006 của
tổ chức BirdLife, vùng đất ngập nước Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định đã bị suy thoáinghiêm trọng, hầu hết các giá trị của khu vực đã không còn và hệ sinh thái rừngngập mặn đứng trước nguy cơ bị xoá sổ do khai thác quá mức tài nguyên thiênnhiên
Thời gian gần đây, việc quản lý, bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái rừng ngậpmặn tại huyện Nghĩa Hưng đã nhận được sự quan tâm của Chính phủ và chínhquyền địa phương Khu vực ven biển huyện Nghĩa Hưng được xây dựng là vùngđệm của khu bảo tồn thiên nhiên châu thổ Sông Hồng Các dự án, chương trìnhnhằm phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn tại khu vực đã được cụ thể hóa tại các đề
án, dự án như: “Đề án phục hồi và phát triển rừng ngập mặn ven biển giai đoạn
2008 -2015” của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 405/TTg ngày
16 tháng 3 năm 2009 và gần đây, tại Quyết định số 120/QĐ-TTg ngày 22 tháng 1năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Đề án bảo vệ và phát triểnrừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 – 2020”, gồm các dự án
Trang 13thực hiện tại huyện Nghĩa Hưng như: (1) Dự án “Phục hồi tài nguyên hệ sinh thái bịsuy thoái vùng ven biển tỉnh Nam Định” đã được phê duyệt theo Quyết định số1631/QĐ-UBND ngày 15 tháng 10 năm 2013 của UBND tỉnh Nam Định thuộc
“Danh mục các dự án trồng rừng ven biển bằng nguồn vốn ứng phó với biến đổi khíhậu” Dự án thực hiện tại khu vực đất ngập nước và bãi bồi ven biển huyện NghĩaHưng; (2) “Dự án bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ ven biển tỉnh Nam Định giaiđoạn 2015 – 2020” thuộc Danh mục các dự án trồng rừng ven biển bằng nguồn vốnứng phó với biến đổi khí hậu, dự án được xây dựng mới và dự kiến triển khai thựchiện giai đoạn 2015 – 2020 Ngoài ra, tại khu vực còn đang thực hiện các dự án docác tổ chức trong nước, quốc tế khác thực hiện nhằm nỗ lực khôi phục hệ sinh tháirừng ngập mặn và đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu Tuy nhiên, để phục hồi
hệ sinh thái rừng ngập mặn và đa dạng sinh học cần thời gian dài và để kết quả củacác dự án có ý nghĩa thiết thực đối với cộng đồng người dân ven biển cần có cácbiện pháp quản lý, khai thác sử dụng bền vững tài nguyên rừng ngập mặn hợp lý
Kinh tế khu vực ven biển và sinh kế cộng đồng người dân ven biển phụ thuộcchặt chẽ vào chất lượng môi trường và tài nguyên vùng bờ Người dân ven biển cósinh kế trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc chủ yếu vào nguồn sản vật của biển và venbiển Do vậy, cồng đồng người dân phải là chủ thể chứ không chỉ là khách thể nhưtrong thực tế quản lý hiện nay và họ phải tham gia quản lý môi trường biển là mộtđòi hỏi thực tiễn Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào tiến trình quản lý, bảo
vệ các hệ sinh thái, tài nguyên và môi trường biển hiện nay còn rất thụ động chưathường xuyên và thiếu bền vững Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học và các tàinguyên biển tại khu vực nghiên cứu, áp dụng các biện pháp quản lý và sử dụng tàinguyên sẽ góp phần đưa ra giải pháp nhằm hỗ trợ, khai thác sử dụng hợp lý tàinguyên biển trong phát triển kinh tế, đồng thời quản lý, bảo tồn và phục hồi đa dạngsinh học khu vực nghiên cứu, tạo ra giải pháp bảo đảm sinh kế bền vững cho cộngđồng cư dân ven biển
Từ những lý do trên, việc thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu thực trạng đa dạng sinh học và biến động hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định giai đoạn 2005-2015 nhằm đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng bền vững”
Trang 14là một vấn đề cấp thiết, góp phần vào việc phục hồi hệ sinh thái RNM nói riêng và
đa dạng sinh học nói chung tại khu vực, giúp quản lý và sử dụng có hiệu quả, bềnvững tài nguyên tại khu vực ven biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu chung của đề tài là nghiên cứu đa dạng sinh học khu vực nghiêncứu và thành lập bản đồ hiện trạng rừng ngập mặn năm 2005 và 2015, phân tíchđánh giá biến động diện tích RNM giai đoạn 2005 – 2015, hiện trạng khai thác sửdụng tài nguyên khu vực nghiên cứu nhằm đề xuất các biện pháp quản lý, sử dụng
có hiệu quả, bền vững tài nguyên tại huyện Nghĩa Hưng, Nam Định
Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu, đánh giá tính đa dạng sinh học khu vực nghiên cứu Hiện trạngkhai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên tại khu vực ven biển huyện Nghĩa Hưng,Nam Định
Xây dựng bản đồ diện tích rừng ngập mặn và bản đồ biến động diện tíchrừng tại khu vực nghiên cứu Phân tích, đánh giá biến động diện tích RNM khu vựcnghiên cứu trong thời gian đoạn 2005 – 2015
Hiện trạng khai thác, sử dụng, quản lý tài nguyên biển khu vực nghiên cứu.Các vấn đề về khai thác, quản lý tài nguyên, môi trường khu vực nghiên cứu Đềxuất các định hướng quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên biển, góp phần quản lý,
sử dụng tài nguyên có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và cácvấn đề bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường, tạo các sinh kế bền vững chongười dân địa phương góp phần thực hiện phát triển bền vững tại khu vực bãi bồi,ven biển huyện Nghĩa Hưng, Nam Định
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học hệ sinh thái đất ngập nước
và bãi bồi ven biển trên Thế giới và Việt Nam
1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học đất ngập nước trên Thế giới
Hoạt động nghiên cứu về ĐNN và khu vực bãi bồi ven biển được bắt đầu từcác nhà nghiên cứu về ĐNN ở phương Tây Những nghiên cứu ban đầu này tậptrung chủ yếu vào các vấn đề: Động lực của đới ven bờ và cổ thực vật nhằm cungcấp dữ liệu về tiến trình phát triển và thay đổi của cảnh quan, văn hoá các vùngĐNN, các quần xã thực vật tại các đầm lầy hay khuynh hướng nghiên cứu sinh tháitổng hợp kết hợp với các hoạt động bảo vệ thiên nhiên và động vật hoang dã
Ngay từ năm 1950, các hoạt động nghiên cứu tập trung chủ yếu về quần xãthực vật tại các đầm lầy, địa hình - địa mạo, thuỷ - hải văn, nghiên cứu động lực củađới ven bờ Tiếp đến là các nghiên cứu về cổ thực vật nhằm giải thích sự thay đổicủa chế độ khí hậu và mực nước biển trong quá khứ
Từ những năm 1970 trở lại đây cùng với sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật vàtài liệu thực nghiệm đã giúp các nhà nghiên cứu theo dõi sự thay đổi của các vùngĐNN, từ đó có những hiểu biết cụ thể hơn về sự biến đổi các vùng ĐNN
Oreeson và cộng sự , 1979 (trích theo Dugan, P.J (ed.) (1990)) [33] đã thống kê84% tổng số các trích dẫn là của các công trình nghiên cứu trong thập kỷ 70, 14% củacác công trình thập kỷ 60 và chỉ có 2% là trích dẫn từ các công trình trước năm 1960
Khu vực Châu Á và Đông Nam Á là nơi có diện tích ĐNN lớn của thế giới Domật độ dân cư cao (chiếm 60% số dân toàn thế giới) các cộng đồng dân cư nơi đây phụthuộc rất nhiều vào tài nguyên ĐNN Vì thế, việc nghiên cứu và bảo tồn các vùng ĐNN
có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các quốc gia trong khu vực, số các nước ký côngước Ramsar ngày càng tăng Công tác nghiên cứu ĐNN trên thế giới trong những nămqua đã nhận được sự ủng hộ của nhiều tổ chức quốc tế như Hiệp hội bảo tồn thiênnhiên thế giới (The World Conservation Union - IUCN), Chương trình môi trường củaLiên hợp quốc (UNEP), Quỹ động vật hoang dã thế giới (WWF), các tổ chức phi chínhphủ (NGO) Trong đó quan trọng nhất là vai trò của IUCN vì đây là
Trang 16tổ chức trực tiếp hỗ trợ về tài chính và là cơ quan phối hợp kết nối với các hoạtđộng với các tổ chức khác trong việc bảo vệ và nghiên cứu ĐNN trên Thế giới [5].
1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học đất ngập nước ở Việt Nam
ĐNN ở Việt Nam khá đa dạng và phong phú về các kiểu hình với diện phân
bố rộng khắp, trải dài từ Bắc vào Nam và có tầm quan trọng đặc biệt trong lịch sửdựng nước, giữ nước của dân tộc Do vậy, ĐNN ở Việt Nam đã và đang thu hútđược nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau như:Khoa học tự nhiên, kinh tế - xã hội, pháp luật, Các công trình nghiên cứu ĐNN ởViệt Nam tương đối phong phú, đề cập đến nhiều vấn đề bức xúc như: Kiểm kê,phân loại, phân tích chức năng, giá trị của các hợp phần cấu thành của các vùngĐNN, hoặc nghiên cứu tổng hợp một vùng, một đối tượng cụ thể
Một trong số những dự án đầu tiên có liên quan đến ĐNN ở Việt Nam là “Dự
án sông Mê Kông và đồng bằng sông Cửu Long” của Uỷ ban sông Mê Kông (1957)
do chính phủ 4 nước Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam thành lập Dự án này
đã tiến hành điều tra về thuỷ văn sông Mê Kông, kinh tế - xã hội, địa chất, khoángsản và tiềm năng nông nghiệp vùng hạ lưu sông Mê Kông Cũng trong dự án nàycông tác điều tra về động vật hoang dã của lưu vực sông Mê Kông được tiến hành,
từ đó đưa ra những kiến nghị về hệ thống khu bảo tồn
Tiếp theo là một loạt các đề tài, dự án, chương trình điều tra tổng hợp cũngnhư nghiên cứu các hợp phần của ĐNN từ những năm 1980 cho đến nay Trongchương trình điều tra cơ bản tài nguyên thiên nhiên toàn quốc, một chương trình cấpnhà nước do Uỷ ban khoa học kỹ thuật Nhà nước chủ trì 1984 - 1986 đã bước đầu
đề xuất tới việc bảo vệ thiên nhiên những vùng đất ngập nước
Năm 1989, Việt Nam tham gia công ước Ramsar, đây cũng là thời điểm chínhthức hình thành những nội dung cương yếu về hoạt động khoa học và bảo tồn thiênnhiên cho lĩnh vực đất ngập nước ở nước ta, do Vụ Điều tra Cơ bản (tiền thân của CụcMôi trường, nay là Cục Bảo vệ Môi trường) thuộc Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhànước (sau là Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, nay là Bộ Tài nguyên và Môitrường) chủ trì Trên cơ sở các văn bản Công ước, các tài liệu khoa học trong nước vàquốc tế về những vấn đề có liên quan đến đất ngập nước đã được tổ chức tập
Trang 17hợp lại, xác định những nội dung chuyên đề và xúc tiến hoạt động “nghiên cứu vềđất ngập nước” một cách chính thức ở Việt Nam.
Những nghiên cứu tiếp theo gồm đề tài KT 03 - 02 về đầm phá do NguyễnChu Hồi chủ nhiệm, KT 03 - 01 (chương trình 48B) về động lực bãi bồi, tiềm năngnguồn lợi ven biển miền Bắc Việt Nam do Trần Đức Thạnh, Nguyễn Đức Cự và PhíKim Trung tiến hành
Về kiểm kê và phân tích các chức năng, giá trị của ĐNN có các công trìnhcủa Lê Diên Dực, Vũ Văn Dũng và Nguyễn Hữu Thắng Trong công trình nghiêncứu của Lê Diên Dực (1989), đã kiểm kê và công bố 32 vùng ĐNN quan trọng, cầnđược bảo vệ của nước ta Trong các nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho việc quyhoạch các Khu bảo tồn ĐNN ở Việt Nam, Vũ Văn Dũng và Nguyễn Hữu Thắng đãthống kê tương đối đầy đủ các kiểu ĐNN là ao hồ (tự nhiên và nhân tạo), đầm phácần quy hoạch thành các khu bảo tồn Sau đó là hàng loạt các công trình kiểm kê vàphân loại ĐNN của Nguyễn Hoàng Trí (1995), Phan Nguyên Hồng (1989 - 1998),Nguyễn Chu Hồi (1995), Mai Trọng Nhuận, Đào Mạnh Tiến và cộng sự (1992 -2003), những công trình này đã làm rõ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của nghiêncứu ĐNN, đánh giá tổng quan các loại hình ĐNN, tiềm năng, tình hình quản lý, sửdụng, các áp lực, mối đe doạ, chiến lược bảo vệ và phát triển bền vững ĐNN trêntoàn lãnh thổ Việt Nam [8, 12, 17, 18]
Bên cạnh đó là các công trình nghiên cứu về tài nguyên sinh thái và đa dạngsinh học các vùng ĐNN của Vũ Trung Tạng (1994), Mai Đình Yên (1993), ĐặngNgọc Thanh (1995 - 2000) Những công trình này đã thống kê, phân loại đượcnhiều quần xã sinh vật và quan trọng là tìm hiểu được nhiều thành phần, nguồn gốc
và phân bố của chúng, trong đó đã nêu bật chức năng của vùng ĐNN như là bãi đẻ,vùng di cư quan trọng của một số quần thể có ý nghĩa quốc gia và xuyên quốc gia.Chương trình 64A (1982 - 1985) nghiên cứu hậu quả chiến tranh hoá học của Mỹlên rừng ngập mặn tỉnh Minh Hải (GS.TS Phan Nguyên Hồng chủ nhiệm) đãnghiên cứu sự biến đổi của thảm thực vật RNM cũng như các giá trị thoái hoá củađất do rừng bị huỷ diệt bởi các chất diệt cỏ và chất làm rụng lá cây, trên cơ sở đó đềxuất biện pháp phục hồi RNM Chương trình 64B (1986 - 1990) nghiên cứu hậu quả
Trang 18lâu dài của chiến tranh hoá học lên con người và thiên nhiên, từ đó tìm biện phápkhắc phục.
Chương trình khoa học bảo vệ đất ngập nước toàn cầu do WWF và IUCNđồng chủ trì và hỗ trợ thực hiện năm 1985 - 1987 đã có ảnh hưởng tới sự khởi độngnhận thức về lĩnh vực đất ngập nước ở nước ta Cơ quan quản lý và chỉ đạo cấp Nhànước trong các chương trình nghiên cứu về ĐNN là Cục Bảo vệ môi trường thuộc
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực sự tạo nên những định hướng và giải phápphát triển nghiên cứu, chương trình hành động quản lý và bảo vệ những vùng đấtngập nước của Việt Nam
Năm 1989, nhiều văn bản quy phạm pháp lý liên quan về đất ngập nước rađời Đặc biệt Nghị định của Chính phủ số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 về bảotồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước là văn bản có giá trị pháp lý caonhất hiện nay và đầu tiên riêng cho đất ngập nước
Năm 1992, Nguyễn Xuân Dục và cộng sự tiến hành nghiên cứu về những đặctrưng cơ bản về điều kiện tự nhiên và nguồn lợi sinh vật của hệ sinh thái vùng triềumiền Bắc Việt Nam
Năm 1993, Pham Nguyên Hồng và Hoàng Thị Sản đã tiến hành nghiên cứu
về khu hệ thú tại VQG Xuân Thủy, khi đó đã ghi nhận được 17 loài [34]
Năm 1995, Nguyễn Xuân Dục đã tiến hành nghiên cứu về Động vật đáyvùng cửa sông ven biển Hà Nam Ninh
Năm 1997, 1999, Nguyễn Văn Cư tiến hành nghiên cứu vê tình hình Khaithác, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường các bãi bồi ven biển sửa sôngtỉnh Thái Bình (1997); và điều tra cơ bản tài nguyên môi trường nhằm khai thác, sửdụng hợp lý đất hoang hoá các bãi bồi ven biển cửa sông Việt Nam (1999) Cũngtrong năm 1999, Ngô Xuân Quýnh và cộng sự đã nghiên cứu về các loài cá, thực vậtnổi, động vật nổi và động vật đáy ở Khu Ramsar Xuân Thuỷ
Viễn thám và GIS cũng được đưa vào sử dụng như một công cụ cho việcquản lý, kiểm kê và nghiên cứu biến động các vùng đất ngập nước Bằng các côngnghệ này việc thành lập các bản đồ hiện trạng, biến động ĐNN cũng trở nên dễ dànghơn Một hướng nghiên cứu thu hút được nhiều nhà khoa học là quản lý và sử
Trang 19dụng, bảo vệ ĐNN trên cơ sở phân tích điều kiện tự nhiên, đặc trưng sinh thái khuvực nhằm đưa ra các biện pháp sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên quý giá này [5].
Năm 2001, Cục Môi trường (nay thuộc Cục Bảo vệ Môi trường) đã đề xuất
68 khu ĐNN có giá trị ĐDSH và môi trường Năm 2002 – 2004, hợp phần ĐNN của
dự án “Ngăn chặn các xu hướng suy thoái môi trường Biển Đông và Vịnh TháiLan” do Mai trọng Nhân chủ trì, đã lập hồ sơ 10 khu ven biển có giá trị cao (Theocông ước Ramsar)
Năm 2003, Việt Nam xây dựng các chương trình nghiên cứu, quản lý và bảotồn ĐNN như: “Chương trình bảo tồn đất ngập nước quốc gia”; Nghị định109/2003/NĐ-CP về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN; “Chiến lượcquản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010” (số192/2003/QĐ-TTg), v.v
Năm 2004, Phan Nguyên Hồng (2004) trong báo cáo về lịch sử nghiên cứuĐNN Việt Nam đã thống kê hơn 500 nghiên cứu về khí tượng thủy văn, địa chất,địa mạo, ĐDSH, hệ cửa sông ven biển, hệ đầm phá, HST RNM, HST rạn san hô,thảm cỏ biển Các nghiên cứu này đã góp phần đóng góp vào bộ tư liệu nghiên cứu
về ĐNN ven biển Việt Nam [20]
Năm 2005, Cục Bảo vệ Môi trường đã báo cáo về nghiên cứu: “Tổng quanhiện trạng đất ngập nước Việt Nam sau 15 năm thực hiện công ước Ramsar”
Năm 2006, Cục Bảo vệ Môi trường đã báo cáo về nghiên cứu: “Chương trìnhbảo tồn đa dạng sinh học vùng đất ngập nước sông Mê Kông: Hệ thống phân loạiĐất ngập nước Việt Nam” do tác giả Hoàng Văn Thắng, Lê Diên Dực thực hiện
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã và đang triển khai rất nhiều hoạt động điềutra, giáo dục, kiểm kê, giám sát, đánh giá và xây dựng các công cụ và kỹ thuật khácnhau liên quan đến ĐNN tại hệ thống các VQG, KBT có vùng đất ĐNN do nhiềutác giả và tổ chức khác tiến hành nghiên cứu, nhằm những định hướng chiến lược vềbảo tồn, sử dụng, quản lý và phát triển bền vững các vùng ĐNN trong tương lai
Những nghiên cứu trên là định hướng quan trọng cho nghiên cứu của đề tài
về khu vực đất ngập nước và bãi bồi cửa sông ven biển tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnhNam Định
Trang 201.1.3 Tổng quan các nghiên cứu về ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS đánh giá biến động RNM
Vào những năm 60 thuật ngữ “viễn thám” đầu tiên đã được đề cập tới tại Mỹ,tuy nhiên, kỷ nguyên sử dụng viễn thám để quan sát và nghiên cứu trái đất coi nhưbắt đầu từ những năm 1972 với việc phóng thành công tàu Landsat 1 Cho đến nayvới hơn 30 năm tổn tại và phát triển, viễn thám đã trở thành một công cụ hiện đạivừa mang tính phụ trợ, vừa mang tính canh tranh trong công nghệ quan sát Trái đất.Khả năng ứng dụng dữ liệu viễn thám trong thành lập các bản đồ thực vật cũngngày được cải thiện và theo đó dữ liệu viễn thám đang có xu hướng trở thành nguồn
dữ liệu chủ đạo cho việc thành lập các bản đồ lớp phủ thực vật
Ảnh vệ tinh đóng vai trò quan trọng trong việc lập bản đồ RNM trên cácvùng địa lý rộng lớn Đã có trên 40 công trình nghiên cứu tại 16 quốc gia sử dụng
độ phân giải của ảnh viễn thám để thành lập bản đồ RNM Sử dụng các bộ cảm khácnhau, với số lượng và phương pháp khác nhau được áp dụng tại các vị trí của cácđiểm nghiên cứu Dữ liệu thường dùng là các ảnh Landsat và ảnh Spot Ngoài ra, dữliệu từ Landsat MSS, Landsat – 7ETM+, các vệ tinh cảm biến từ xa của Ấn Độ(IRS) 1C/1D Liss III, và vệ tinh ASTER đã được các nhà khoa học sử dụng Ảnh có
độ phân giải từ 15 đến 30m cung cấp thông tin trên bề mặt với quy mô khu vực vàphục vụ cho nhiều ứng dụng Khoảng ba thập kỷ qua, các nhà khoa học đã phát hiện
và ứng dụng dữ liệu vệ tinh rất hiệu quả cho việc phát hiện và giám sát biến động.Đây là công cụ , biện pháp mạnh mẽ để giám sát các xu hướng trong các hệ sinhthái RNM Cho phép đánh giá xu hướng thay đổi trogn thời gian dài cũng như xácđịnh các thay đổi đột ngột do thiên nhiên hoặc con người gây ra (Sóng thần, chuyểnđổi rừng sang nuôi tôm…)
Nghiên cứu của ASchbacher và cộng sự (1927) đã đánh giá tình trạng sinhthái của RNM theo độ tuổi, mật độ, và các loài trong vịnh Phangnga, Thái Lan.Trong một môi trường tương tự, Thu và Populus (1991) đã đánh giá sự thay đổi củaRNM ở tỉnh Trà Vinh và đồng bằng Sông Cửu Long, Việt Nam từ năm 1965 đếnnăm 2001 Rasolofoharinoro và cộng sự (1977) là người đầu tiên đã làm các bản đồđánh giá hệ sinh thái ngập mặn ở Vịnh Mahajamba, Madagascar dựa trên ảnh vệtinh SPOT Gang và Agatsiva (1942) sử dụng thành công giải thích trực quan choảnh Spot XS ở Mida Creek, Kenya để lập bản đồ và trạng thái RNM, trong khiWang và cộng sự (1998) đã sử dụng ảnh Landsat TM 1990 và 2000 Landsat –7ETM+ xác định được những thay đổi trong khu vực phân bố và tổng diện tích
Trang 21RNM dọc theo bờ biển Tanzania Concheda và cộng sự đã lập bản đồ hiện trạng sửdụng đất trong hệ sinh thái ngập mặn ở Casamance, Senegal bằng các ảnh Spot XS
từ năm 1986 và năm 2006
Mật độ RNM bị ảnh hưởng bởi yếu tố tự nhiên, cũng như con người, nhưnuôi trồng thủy sản và mật độ xuất hiện Tong và cộng sự (1992) đã đánh giá tácđộng của nuôi tôm, nuôi trồng thủy sản trên các hệ sinh thái ngập mặn ở đồng bằngsông Cửu Long bằng cách sử dụng ảnh Spot từ năm 1995 – 2001 Họ đã xác địnhnăm lớp cảnh quan sinh thái khác nhau Nghiên cứu của Sirikhlchayanon và cộng sự(1987) đã đánh giá tác động của sóng thần năm 2004 về thảm thực vật RNM tạivịnh Phangnga, Thái Lan liên quan tới chức năng RNM như rào cản sóng Một số
dữ liệu từ ảnh vệ tinh Landsat – 7ETM cung cấp dữ liệu trước khi tác động sóngthần, trong khi dữ liệu ảnh Landsat TM cung cấp dữ liệu tương tự sau khi chịu tácđộng của sóng thần Họ đã đề xuất cách tiếp cận “cung cấp một phương tiện đángtin cậy hơn và chính xác hơn phương pháp thông thường để đánh giá các mô hìnhkhông gian của các khu vực bị tàn phá thông qua đặc điểm đất khác nhau dọc theo
bờ biển” Theo các nhà điều tra, một vành đai RNM với 1000 – 1500m song songvới bờ biển sẽ là tối ưu để làm suy yếu tác động tàn phá của sóng thần trong khuvực nội địa
Olwig và cộng sự đã đánh giá vai trò quan trọng của việc bảo vệ thảm thựcvật thân gỗ ven biển chống lại sóng thần ngày 24/12/2004 dựa trên ảnh IKONOS vàQuickbird chụp tại Tamil Nadu , Ấn Độ Dahdouh – Guebas và cộng sự đã tính toáncác tổ hợp hình ảnh khác nhau và biến đổi, sau đó sử dụng các thuật toán phân loạikhông kiểm định, có kiểm định Kết quả so sánh với kết quả số hóa được giải đoánbằng mắt, kết hợp với thông tin thực địa, phương pháp này cho phép phân loại tốtnhất tập hợp các loài ngập mặn và có thể phân biệt được giữa 2 loài trong cùng mộtchi (Rhizophora apiculata và R.Mucronata) trong Pambala, Sri lanka
Một số nghiên cứu điều tra đã được tiến hành để kiểm tra và mô tả các hiệuứng và các mối quan hệ giữa các tán RNM, kiểu rừng và các phản ứng tán xạ ngượccủa hệ thống SAR, minh họa bằng các NASA/JPL không khí hệ thống ở tần số khácnhau và chế độ phân cực Mougin (1963) , Proisy (1972, 1973) và cộng sự thực hiện
về cơ chế chi phối giữa các vệ tinh và cơ cấu tán RNM, nghiên cứu tập trung vàovùng RNM ở Guiana thuộc Pháp và bao gồm các phép đo thí nghiệm, mô hình môphỏng
Trang 22Tại Việt Nam, một kết quả thành công trong phục hồi và tình trạng tái trồngrừng trên các khu vực bị suy thoái đã được giám sát bởi Selvam và cộng sự (1981).Nghiên cứu sử dụng ảnh Landsat TM và vệ tinh viễn thám IRS 1D Liss III của Ấn
Độ Seto và Fragkias (1982) trình bày một phương pháp để theo dõi có hệ thốngtrong bối cảnh của công ước Ramsa về đất ngập nước Họ đã phân tích một loạt ảnh
đa thời gian Landsat MSS và TM của đồng bằng sông Hồng, Việt Nam từ năm 1975– 2002, tính toán mức độ ngập mặn, mật độ, mức độ nuôi trồng thủy sản và phânmảng cảnh quan, đánh giá điều kiện đất như một hàm theo thời gian Dựa trên kếtquả đặc tính phân loại, nghiên cứu đã chỉ ra kích thước thửa, mật độ, … chỉ ra rằngcông ước Ramsa không thể giảm phát triển nuôi trồng thủy sản nhưng tổng số diệntích RNM vẫn không thay đổi, đó là do những nỗ lực trồng rừng mang lại
Phan Phú Bồng (1989) và Phan Nguyên Hồng (1993) cũng đã sử dụng tưliệu viễn thám để nghiên cứu về RNM nhưng mới dừng lại ở mưc độ tính diện tích
và vị trí phân bố RNM bằng phương pháp giải đoán bằng mắt
Trong chương trình kiểm kê rừng toàn quốc năm 2002, công nghệ GIS vàViễn thám đã được cục Kiểm lâm phối hợp với Viện điều tra quy hoạch rừng ứngdụng khá thành công Toàn bộ các ảnh vệ tinh LandSat ETM với độ che phủ toànlãnh thổ Việt Nam, khoảng thời gian chụp cuối năm 2001 và trong năm 2002 đãđược Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn mua để phục vụ cho công tác này vàkết quả là một bộ bản đổ hiện trạng rừng 2002, bản đổ về sự thay đổi diện tích rừng1998-2002 cùng các số liệu thống kê rừng, đất trống năm 2002 đã được xây dựng vàđược Bộ nông nghiệp & phát triển nông thôn thẩm định phê duyệt vào tháng7/2003
Tại Kiên Giang, tác giả Nguyễn Đình Dương đã kết hợp với sở khoa họccông nghệ và môi trường nghiên cứu lớp phủ bề mặt tại Kiên Giang giai đoạn 1979-
1992 bằng kỹ thuật Viễn thám và GIS Kết quả đã cho thấy nhiều biến động khôngnhũng về diện tích và phân bố đất thổ cư, đất lúa và cả rừng tràm U Minh Thượng -khu vực đang được chính quyền địa phương tập chung nhiều nỗ lực trong việc bảo
vệ và phát triển Các biến động 2 thời kỳ cho thấy nhiều diện tích rừng tràmgiàu(1979) đã được chuyển thành rừng tràm trung bình, đất lúa, đất thổ cư Dựa trênnhững biến động xác định từ tư liệu Viễn thám và GIS, tác giả đã đánh giá nhữngmặt tích cực cũng như tiêu cực của quá trình phát triển và kiến nghị với UBND tỉnhKiên Giang một số biện pháp nhằm đảm bảo sự phát triển kinh tế trong sự bền vữngcủa môi trường
Trang 23Năm 2007 – 2008, Viện Địa lý – Viện Khoa học Việt Nam đã chủ trì đề tài
“Đánh giá biến động diện tích RNM ven bờ biển bằng công nghệ viễn thám và hệthông tin địa lý” do TS Trương Thị Hòa Bình làm chủ nhiệm Nhóm nghiên cứu đã
sử dụng ảnh Spot đa thời gian để đánh giá biến động RNM ở Cần Giờ, sử dụng chỉ
số đất - thực vật – nước để tiến hành phân loại và đánh giá biến động qua các thờikỳ
Có thể thấy, rất nhiều nghiên cứu về thành lập bản đồ RNM dựa trên ảnhviễn thám đã công bố trong hơn hai thập kỷ qua Các ảnh viễn thám có thể chiathành: ảnh hàng không, ảnh quang học có độ phân giải trung bình, phân giải cao,siêu phổ, và ảnh radar Việc lựa chọn phụ thuộc vào mục đích điều tra, tỷ lệ bản đồ,mực độ phân loại đạt yêu cầu, mức đảm bảo về thời gian, vùng địa lý…
Qua một số nghiên cứu nổi bật kể trên chúng ta có thể thấy rằng, trong nhữngnăm gần đây, việc ứng dụng công nghệ viễn thám trong việc thành lập bản đổ hiệntrạng sử dụng đất cũng như hiện trạng lớp phủ đã được nhà nước quan tâm và ứngdụng tương đối rộng rãi trong các ngành quản lý tài nguyên, trong công tác quản lýđất đai cũng như các công trình nghiên cứu khoa học, chính điều này đã góp phầnkhông nhỏ cho việc bảo vệ và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên đất đai tạicác vùng nghiên cứu
1.2 Vị trí địa lý và lịch sử hình thành khu vực nghiên cứu
1.2.1.Vị trí địa lý
Huyện Nghĩa Hưng là huyện ven biển nằm ở phía Tây Nam của tỉnh NamĐịnh, có toạ độ địa lý từ 19055' đến 20019'20'' vĩ độ Bắc và từ 106004' đến 106011'kinh độ Đông, cách thủ đô Hà Nội về phía đông nam 150km, cách thành phố NamĐịnh về phía nam 60km, cách trung tâm huyện Nghĩa Hưng về phía nam gần 30km.Trên bản đồ khu vực nghiên cứu có các địa danh: Rạng Đông, Nghĩa Phúc, NamĐiền (trong đê Quốc gia) đất công huyện Nghĩa Hưng (ngoài đê Quốc gia)
- Phía Bắc giáp huyện Nam Trực và huyện Ý Yên ;
- Phía Đông giáp huyện Hải Hậu và huyện Trực Ninh ;
- Phía Tây giáp huyện Kim Sơn và huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình ;
- Phía Nam giáp biển Đông ;
Đất đai Huyện Nghĩa Hưng chủ yếu là đất phù sa do hệ thống sông Hồng bồilắng tạo thành, huyện có diện tích tự nhiên 25.412,94 ha với địa hình bằng phẳng,nghiêng thoải từ Bắc xuống Nam Chiều ngang của huyện chỗ hẹp nhất rộng hơn
Trang 24500m, chỗ rộng nhất khoảng 16 km Huyện Nghĩa Hưng có 22 đơn vị hành chínhcấp xã và 03 đơn vị hành chính cấp huyện Trên địa bàn huyện có 2 tuyến đườngtỉnh lộ đi qua.
Hình 1.1 : Bản đồ hành chính huyện Nghĩa Hưng
(Nguồn : UBND huyện Nghĩa Hưng,2015)
1.2.2 Lịch sử hình thành lục địa khu vực nghiên cứu
Khu vực nghiên cứu là vùng đất ven biển thuộc huyện Nghĩa Hưng, tỉnhNam Định, Huyện lỵ Nghĩa Hưng đặt tại thị trấn Liễu Đề từ năm 1987 Hiện nay,huyện Nghĩa Hưng bao gồm 25 đơn vị hành chính (3 thị trấn và 22 xã) gồm: Thịtrấn Liễu Đề, thị trấn Rạng Đông, Thị trấn Quỹ nhất,các xã Hoàng Nam, Nam Điền,Nghĩa Bình, Nghĩa Châu, Nghĩa Đồng, Nghĩa Hải, Nghĩa Hoà, Nghĩa Hồng, NghĩaHùng, Nghĩa Lạc, Nghĩa Lâm, Nghĩa Lợi, Nghĩa Minh, Nghĩa Phong, Nghĩa Phú,
Trang 25Nghĩa Phúc, Nghĩa Sơn, Nghĩa Tân, Nghĩa Thái, Nghĩa Thành, Nghĩa Thắng, NghĩaThịnh, Nghĩa Trung.
Vùng bãi ven biển Nghĩa Hưng có tốc độ bồi tụ cao xét trong vùng đồngbằng Bắc bộ Toàn bộ khu vực điều tra nghiên cứu, bao gồm cả vùng đất liền trong
đê quốc gia và vùng ngoài đê quốc gia, đều được hình thành sau các hoạt động quai
đê lấn biển
Vùng trong đê: Năm 1930 đắp đê Cồn Vành, thành lập các xã: Nghĩa Bình
(450 ha), Nghĩa Thắng (828 ha), Nghĩa Lợi (524 ha), Nghĩa Hải (1.406 ha)
Năm 1958, nhân dân địa phương cùng bộ đội Trung đoàn 269 quai đê lấnbiển thành lập Nông trường Rạng Đông, nay là thị trấn Rạng Đông (khoảng 1.400ha) Năm 1965, việc quai đê lấn biển khu vực phía đông nông trường Rạng Đông vàphía Nam Cồn Vinh giáp cửa biển sông Ninh Cơ được tiến hành với diện tích300ha Trên cơ sở đó, ngày 27-2-1965, xã Nghĩa Phúc được thành lập (260ha) Năm
1976, tiếp tục đợt quai đê lấn biển và sau đó xã Nam Điền được thành lập 1978), diện tích 720ha Năm 1986, quai đê hình thành vùng Đông Nam Điền(560ha), hiện đang nuôi trồng thuỷ sản tại khu vực
(27-3-Bảng 1.1: Kết quả của các phong trào quai đê lấn biển
ra
1 1930-1931 Cồn Vành (từ Thiên Bình, Ngọc Lâm) 184
2 1960 Quai đê thành lập thị trấn Rạng Đông 1350
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Nghĩa Hưng, 2015)
Từ năm 2003 đến nay huyện tổ chức quai đê khu vực Cồn Xanh với diện tích
khoảng 820ha Đến nay đã hoàn thành và đang tiến hành xây dựng, kiên cố hóa đê biển
Trang 26Đến nay các xã: Nghĩa Bình, Nghĩa Thắng, Nghĩa Hải đã cơ bản ổn định do
đó vùng nghiên cứu chỉ tập trung vào khu vực các xã Nam Điền, thị trấn RạngĐông, một phần xã Nghĩa Phúc; còn lại chủ yếu tập trung vào vùng Đông NamĐiền và vùng ngoài đê ngăn mặn
- Vùng ngoài đê: Có hình dạng một tam giác, đáy ở phía bắc, đỉnh lệch về
tây nam
+ Phía đông giáp cửa Ninh Cơ, do dòng chảy của sông Ninh Cơ ngày càng
áp sát chân đê nên khu vực này đê kè luôn bị sạt lở
+ Phía tây giáp cửa sông Đáy, vùng này luôn được bồi tụ, tuy tốc độ bồi lắng giảm nhiều từ khi có đập thuỷ điện trên thượng nguồn các sông qua huyện
1.3 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
1.3.1 Đặc điểm địa hình, địa mạo và địa chất
Vùng cửa sông ven biển huyện Nghĩa Hưng có dạng đồng bằng châu thổtương đối điển hình (nằm rìa delta sông Hồng) Địa hình nói chung bằng phẳng, đơnđiệu với một số loại địa hình khác nhau Độ cao của đồng bằng có xu hướngnghiêng dần từ bắc xuống nam, từ đông sang tây
Đoạn bờ biển thuộc huyện Nghĩa Hưng thuộc loại bờ biển bồi tụ Quá trìnhbồi tụ mang nét đặc trưng đã tạo nên xu hướng lục địa lấn ra biển trung bình khoảng
53 m/năm, qua đó hình thành nên một hệ sinh thái ĐNN ven biển tiêu biểu ở cửasông lớn phía Bắc Việt Nam Thời gian gần đây, sau khi hoàn thành xây dựng thủyđiện sông Đà thì quá trình bồi tụ giảm dần so với trước đây
Trang 272.420ha, mặt bãi có phủ thực vật như rừng ngập mặn, cỏ, lăn, lác, sậy, bãi triều thấp
có độ cao mặt bãi từ 1,9m xuống 0m hải đồ, diện tích khoảng 1.650 ha, phần còn lại
là lạch triều và bãi cát biển
Qua khảo sát, nghiên cứu cho thấy bề mặt bãi nghiêng thoải dần từ tây bắcxuống đông nam và nghiêng thoải dần từ bắc xuống nam Độ dốc của bãi tăng dần
từ bãi bồi cao xuống bãi bồi thấp và sườn bờ
Bảng 1.2 Diện tích các loại bãi ngập triều ven biển huyện Nghĩa Hưng
(Ha)
I Bãi triều cao Tích tụ cát bột, không phủ thực vật ngập 47.0
mặnTích bùn bột, không phủ thực vật ngập mặn 228.7
Đê cát biển, không phủ thực vật ngập mặn 185.6Tích tụ cát bột, phủ thực vật ngập mặn thưa 335.3Tích tụ bùn bột, phủ thực vật ngập mặn thưa 395.9Tích tụ bùn bột, phủ thực vật ngập mặn dày 148.5
Trang 28Bảng 1.3 Độ dốc bề mặt bãi bồi và sườn bờ ngầm khu vực ven biểnhuyện Nghĩa
Hưng
mặt cắt
Nguồn: UBND huyện Nghĩa Hưng- Nam Định
Địa mạo và địa chất
Địa hình khu vực được phân ra thành 2 nhóm lớn là: Nhóm địa hình khôngchịu ảnh hưởng của quá trình biển tạo gồm các dạng địa hình lục địa ven bờ nằmtrong đê quốc gia và nhóm địa hình chịu ảnh hưởng trực tiếp của quá trình biển baogồm các dạng địa hình bãi và địa hình sườn bờ ngầm
Trang 29Nhóm địa hình không chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố động lực biển, bao gồm địa hình lục địa ven bờ gồm:
- Bãi bồi ven sông: Là các dải bãi bồi thấp ven sông có chiều rộng khá hẹp,chỉ vài mét, tới vài chục mét, kéo dài theo dọc lòng sông Bãi bồi này rất ít thời gian phơicạn, hầu hết không có thảm thực vật ngập mặn phát triển
- Bãi bồi cao ven sông nằm ngoài đê ngăn lũ, có chiều rộng khá lớn, nằmtrong thung lũng sông đang còn hoạt động nên thường xuyên bị ngập nước và được bồiđắp phù sa vào mùa lũ, một số nơi bãi bồi ven sông được tận dụng vào khoanh đắp cấylúa một vụ, như vùng cửa Đáy sát xã Nam Điền
Nhóm địa hình chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố động lực biển : Gồm
địa hình tích tụ, địa hình xâm thực, địa hình sườn bờ ngầm
* Địa hình tích tụ gồm: Bãi triều thấp và bãi triều cao
- Bãi triều thấp: Cát nhỏ, bãi này phân bố thành dải hẹp, phía đông trước cửaLạch Giang trong phạm vi từ độ cao 1,9 đến 0m hải đồ, chiều ngang của bãi được mởrộng nhất ở đầu phía đông bắc Cồn Mờ, sau đó thu hẹp nhỏ dần về phía sâu trong cửaLạch Giang
- Bãi thấp tích tụ cát bột: Phân bố khá rộng ở sườn ngoài vùng bãi bồi NghĩaHưng Ở phía Đông bãi phân bố bên trong bãi cát nhỏ và men theo lạch, ở phía tây vànam bãi phân bố rộng ở ngoài cửa sông Đáy, đi sâu vào trong bãi, thu hẹp chiều ngangrồi kết thúc khi gặp bãi bồi thấp ven sông
- Bãi cao tích tụ bùn: Bãi cao bùn bột chủ yếu ở phía tây bãi bồi, nằm trongbãi cát Độ cao mặt bãi xấp xỉ 2 mét trên 0 mét hải đồ Bãi bồi được trồng rừng ngập mặnhoặc thực vật ngập mặn phát triển mạnh, mặt bãi tiếp tục được bồi tụ nổi cao nhờ thuỷtriều
Đầm nuôi trồng thuỷ sản ở huyện tập trung ở ven đê ngăn mặn quốc giathuộc xã Nam Điền và ven đê ngăn lũ của sông Ninh Cơ Độ cao đáy đầm khoảng2-2,3m trên 0m hải đồ Tiềm năng bãi bồi Nghĩ Hưng rất lớn với diện tích đầm nuôitrồng thuỷ sản Vùng bãi tích tụ cát, cát bộ phần lớn đang nuôi ngao vạng
- Đê cát biển: Thực chất là các doi cát bờ nổi cao khá ổn định, bề mặt bị tácđộng bởi gió, phân bố dọc bờ kích thước của các đê này thường dài vài trăm mét tới
Trang 30hàng nghìn mét, rộng vài chục mét tới vài trăm mét Đây chính là nơi trồng rừngphòng hộ tốt nhất, độ cao trung bình khoảng 3,8 - 5m trên 0m hải đồ, chủ yếu đượctạo thành khi có sóng gió thổi mạnh vun cát cao lên.
- Bãi ngập triều: Được tạo thành do sóng đóng vai trò chính, phân bố chủ yếu
ở phía đông nam bãi bồi, từ Cồn Mờ đến Cồn Trời với chiều dài khoảg 5km, rộg từ 150m đến 350m, bề mặt nghiêng thoải có độ dốc từ 0,006 - 0,01
1.3.2 Đặc điểm khí hậu
Cũng giống như các vùng miền Bắc của Việt Nam, khí hậu huyện NghĩaHưng mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh Khu vựcnghiên cứu có 2 mùa rõ rệt Mùa đông kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 và mùa hèkéo dài từ tháng 5 đến tháng 9
- Mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 9) trùng với gió mùa tây nam, thời tiết nóng
ẩm, nhiệt độ trung bình trên 250C, mưa nhiều kéo dài, lượng mưa bình quân trên 100mm/tháng, thời kỳ này thường xuất hiện áp thấp nhiệt đới, bão, dông
- Mùa đông, (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) trùng với gió mùa đông bắc,thời tiết lạnh, nhiệt độ trung bình dưới 200C, mưa ít, lượng mưa trung bình dưới
* Chế độ mưa:
Phân hoá theo 2 mùa, mùa mưa nhiều và mùa mưa ít Tổng lượng mưa trungbình khu vực nghiên cứu là 1.700 - 1.800 mm, số ngày mưa khoảng 140 ngày/năm.Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 5 tới tháng10, chiếm 80 - 85% lượng mưa cảnăm Tháng 7 là tháng có lượng mưa lớn nhất, khoảg 300 - 400 mm với 15 - 18ngày có mưa Mùa mưa ít trùng với mùa gió mùa đông bắc, kéo dài 6 tháng, từ
Trang 31tháng 11 đến tháng 4 năm sau Trong đó có 4 tháng khô vớ lượng mưa nhỏ hơn 50mm/tháng, thường tháng 1 có lượng mưa nhỏ nhất, khoảg 25 mm.
* Chế độ gió:
Vùng bãi bồi Nghĩa Hưng là vùng biển hở, không có các đảo che chắn, địahình bằng phẳng, đường bờ thẳng theo hướng Đông bắc - Tây Nam nên gió có điềukiện phát triển theo nhiều hướng
- Mùa hè: Gió hướng nam, đông nam thịnh hành, phát triển mạnh vào cáctháng 5, 6, 7, 8
- Mùa đông: Từ tháng 10-12 gió bắc, đông và đông bắc thịnh hành, tần xuất
và tốc độ trung bình 3 hướng vùng này là : gió bắc 27,7 29,7%; gió đông 17,1
-21,3 m/s; gió đông bắ 4,6 - 4,8 m/s; thời kỳ tháng 1 - 4 gió đông chiếm ưu thế vớitần suất 25,2 - 41,9 m/s, tố độ trung bình 4,2 - 4,8m/s, gió hướng bắc và đông bắcchiếm tần suất nhỏ hơn, mỗi hướng chiếm khoảng 15-20% Tốc độ trung bìnhhướng bắc 3,2 - 3,5m/s; hướng đông bắc tương đương hướng đông 4,2 - 4,8 m/s Tố
độ gió trung bình theo các hướng trong mùa đông đạt 3,5 - 3,7m/s nhỏ hơn mùa hè3,3 - 4,4 m/s
Lượng mây trung bình trong năm của toàn khu vực dao động 7 - 8/10 bầutrời Dải ven bờ Nghĩa Hưng cũng như ven biển đồng bằng Bắc Bộ có độ ẩm cao,những ngày mưa phùn trời âm u là nhữg ngày có lượng mưa lớn trong năm, tháng 3
có lượng mây lớn nhất 9 - 10/10 bầu trời Các tháng đầu mùa đông khô hanh, tháng
9 - 10 có lượng mây nhỏ nhấ từ 5 - 6/10 bầu trời
Trang 32* Các hiện tượng khác của thời tiết
- Bão là nguyên nhân gây ra những thay đổi địa hình vùng bãi và ven bờ, đedoạ các hệ thống đê và các công trình ven biển, ảnh hưởng đến đời sống của bà con vùngven biển huyện Nghĩa Hưng Theo số liệu thống kê từ năm 1951 – 2013, khu
vực huyện Nghĩa Hưng chịu tác động trực tiếp từ 33 cơn bão Trong khu vực nghiêncứu khả năng có bão từ tháng V đến tháng XI
Bão và nước dâng trong bão: Thường xuất hiện 5 - 6 cơn bão trong năm cókhả năng xảy ra từ tháng 5 - tháng 10, nhiều nhất là tháng 6, 7, 8 Tốc độ gió trongbão có trận đạt 120 km/h Tuy bão xuất hiện không thường xuyên, nhưng nănglượng lớn gấp nhiều lần động lực khác Tố độ gió cực đại trong các cơn bão đạt >20m/s, nhưng có cơn đạt tới 40m/s Kèm theo bão là mưa lớn kéo dài, lượng mưa >200mm, có khi kéo dài 3 - 4 ngày Trong thời gian bão có thể phá huỷ, xoá nhoà cácdạng địa hình bờ biển đã tồn tại trước đó và làm xuất hiện những dạng địa hình mới
Qua phân tích tổng hợp nhiều năm cho thấy: Trong điều kiện bão trùng vớinhững ngày nước triều cường thì mực nước biển dâng cao từ 2 - 3 lần, số lần bãotrùng với triều cường rất ít, chu kỳ khoảng 15 - 20 năm, mực nước dâng trong điềukiện bão trung bình từ 1,8 - 2,2m, khoảng chu kỳ 60 năm mới có 1 lần bão có mựcnước dâng cao 4-5m như trong bão số 7 năm 2005
- Số ngày rét, nóng và có giông: Số ngày có nhiệt độ dưới 150C trung bình từ
45 - 50 ngày/năm Tháng 1 là tháng có nhiều ngày rét nhất, trung bình từ 16 - 18 ngày/tháng, ngược lại số ngày nóng trong năm (>350C) rất ít khoảg 5 ngày/năm
- Giông thường xuất hiện vào tháng 7, tháng 8, nhiều nhất có thể từ 10-16ngày/tháng, ngoài ra các tháng 4 đến tháng 8 cũng có giông nhưng số ngày giông
thấp hơn
- Sương mù: Thường xuất hiện vào nửa cuối mùa đông, nhiều ngày sương
mù dày đặc kéo dài đến 8 - 9 giờ sáng mới tan
- Mưa phùn: Số ngày có mưa phùn thấp hơn so với vùng trong sâu lục địa
1.3.3 Đặc điểm thủy, hải văn
Huyện Nghĩa Hưng được bao bọc bởi 3 con sông lớn (sông Đào, sông Đáy
và sông Ninh Cơ Chế độ thủy, hải văn của khu vực nghiên cứu cũng thay đổi theo
Trang 33mùa Vào mùa đông, sóng hướng chính là đông và đông bắc, còn vào mùa hè hướngchính là nam và đông nam.
Cửa Lạch Giang (sông Ninh Cơ) nằm giữa đoạn bờ biển Hải Hậu - NghĩaPhúc (Nghĩa Hưng) đang bị xói lở mạnh và vùng cửa Đáy đang bị bồi lắng vớicường độ cao
Vào mùa lũ trên các sông thuộc hệ thống sông Hồng đều dâng cao, có lúctrên báo động cấp 3 Tuy nhiên, vùng nghiên cứu đều là vùng hạ lưu cửa sông Đáy
và sông Ninh Cơ nên lũ có phần giảm đi
Vào mùa kiệt tổng dòng chảy chỉ chiếm 25% của cả năm.Thông thường thờigian triều lên là 11giờ và thời gian triều xuống là 13 giờ, trong khoảng 15 ngày cómột chu kỳ nước cường và một chu kỳ nước xuống Đặc trưng mực nước trongvùng nghiên cứu đều lấy theo mực nước tại Hòn Dáu Đây cũng là điểm đặc trưngcủa vùng ven biển vịnh Bắc Bộ
Tuy nhiên bằng quan sát thực tiễn nhiều năm cho thấy Các đặc trưng mựcnước trung bình, mực nước cao nhất, thấp nhất ở vùng này đều nhỏ hơn ở hòn Dáu
Cụ thể như sau :
Biên độ dao động mực nước triều trong vùng cửa sông khá rộng, từ 110 cmđến 320 cm Đỉnh triều cực đại thường xuất hiện vào tháng VII với độ cao 270 cmtrên cửa sông Đáy và 260 cm ở cửa sông Ninh Cơ và chân triều cực tiểu thườngxuất hiện vào tháng IV với độ cao – 59 cm trên cửa sông Đáy và - 102 cm ở củasông Ninh Cơ
Chế độ mực nước triều trong vùng cửa sông ở khu vực này được thống kêtheo số liệu của trạm Như Tân (xã Kim Tân huyện Kim Sơn) trên sông Đáy và trạmPhú Đệ (xã Hải Châu huyện Hải Hậu) trên sông Ninh Cơ
Tóm lại, vùng ven biển Nghĩa Hưng có chế độ khí hậu, hải văn phức tạp đặc
trưng bởi sự phân hoá mạnh các yếu tố khí hậu, hải văn và thủy văn theo các mùatrong năm
Đặc điểm cơ bản chung của chế độ khí hậu khu vực là nhiệt đới nóng ẩm vàkhí hậu bị phân hoá thành 2 mùa rõ rệt, mùa hè và mùa đông
Trang 34Trên cơ sở phân tích cụ thể đặc điểm khí hậu, thời tiết và chế độ hải văn từngtháng, từng mùa của vùng ven biển Đó chính là cơ sở để xây dựng quy hoạch, kếhoạch sử dụng hợp lý vùng bãi bồi ven biển của huyện Nghĩa Hưng.
1.4 Đặc điểm kinh tế xã hội
1.4.1 Dân số, lao động
Huyện Nghĩa Hưng có 03 thị trấn và 22 xã, với 179.473 người (Phòng thống
kê huyện Nghĩa Hưng, 2014) Trong đó, số người trong độ tuổi lao động 111.891
người, chiếm 61,1%; lao động trong nông nghiệp chiếm 69,4%; lao động trongngành thủy sản chiếm 3,2% tổng số lao động của huyện Đây là nguồn lao động dồidào, thuận lợi cho phát triển các ngành kinh tế trên địa bàn huyện nói chung và sảnxuất thủy sản nói riêng Tuy nhiên lực lượng lao động chưa qua đào tạo chuyên môn
kỹ thuật còn nhiều Phần lớn dân số của huyện sống tại khu vực nông thôn (92.7%),
là những vùng đất sản xuất nông nghiệp hay những bãi bồi sau nhiều phong tràoquai đê lấn biển của chính quyền địa phương Người dân sống phụ thuộc vào tàinguyên thiên nhiên là chính
Bảng 1.4: Thống kê dân số, mật độ dân số theo các xã, thị trấn
huyện Nghĩa Hưng, 2014
Trang 35Bảng 1.5: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại huyện
Nghĩa Hưng giai đoạn 2010 - 2014
Trang 36nước nóng, hơi nước và
điều hòa không khí
quản lý và xử lý rác thải
nước thải
Bán buôn, bán lẻ; sửa chữa 5320 5380 6394 7050 7488
ô tô, moto, xe máy và xe
có động cơ khác
Trang 37Nghệ thuật vui chơi và gải 29 29 45 45 48trí
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Nghĩa Hưng, 2014 Qua các số liệu trên và số liệu
thống kê qua các năm gần đây trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng, có thể thấy donguồn lợi thuỷ sản bị khai thác cạn kiệt dẫn đến hiệu quả kinh tế từ khai thác thuỷsản không cao, lao động từ khai thác thủy sản có xu hướng chuyển sang nuôi trồng
thuỷ sản hoặc chế biến thuỷ sản và các hoạt độngkinh tế khác
1.4.2 Hiện trạng kinh tế xã hội
Tổng giá trị sản xuất gia tăng của các ngành kinh tế năm 2014 đạt 1.353 tỷ
đồng Tốc độ tăng trưởng kinh tế 11,44% Thu nhập bình quân đầu người toàn
huyện 28,02 triệu đồng (giá hiện hành), bằng 93,4% so với bình quân của tỉnh (tỉnh
Nam Định: 30 triệu đồng).
Cơ cấu tổng giá trị tăng thêm các ngành kinh tế năm 2014:
- Nông - Lâm - Thuỷ sản: 39,18 %
1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế (giá 94) % 11,46 11,44
2 Cơ cấu kinh tế
Trang 38- Nông, lâm, thuỷ sản % 40,83 39,18
6 Thu ngân sách (không kể tiền đất) Tỷ đ 44,8 56,5
Chỉ tiêu xã hội
- Số lao động được đào tạo nghề người 3.060 3.300
13 Tỷ lệ HS tốt nghiệp THCS vào học % 87,3 89,9
THPT hoặc loại hình đào tạo khác
Chỉ tiêu môi trường
Nguồn: UBND huyện Nghĩa Hưng, 2015
Trang 39Đối với khu vực nghiên cứu, kinh tế vẫn chủ yếu là ngành nông lâm thủysản Hoạt động kinh tế nông nghiệp tại huyện Nghĩa Hưng giai đoạn từ 2005 – 2014
cụ thể như sau:
Bảng 1.7: Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản theo giá hiện hành và cơ cấu các
ngành trong nền kinh tế giai đoạn từ 2005 - 2014
Trang 40Cơ cấu ( Tổng số=100)-%
28