1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu những bất thường nhiễm sắc thể ở cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật 14

121 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tần số rối loạn nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng sảy thai là do bố mẹ mang rối lo

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-TRƯƠNG THỊ THÙY LINH

NGHIÊN CỨU NHỮNG BẤT THƯỜNG NHIỄM SẮC THỂ

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-TRƯƠNG THỊ THÙY LINH

NGHIÊN CỨU NHỮNG BẤT THƯỜNG NHIỄM SẮC THỂ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN RỰC

TS NGUYỄN LAI THÀNH

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn

Văn Rực – Phó trưởng bộ môn Y sinh học – Di truyền - Đại học Y Hà Nội, người

thầy trực tiếp hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này.

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Lai Thành – Trưởng bộ môn Sinh

học tế bào – Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội

-Người đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này.

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô, các kỹ thuật viên tại Bộ môn Y sinh

học – Di truyền, Đại học Y Hà Nội đã chỉ bảo, động viên, tạo điều kiện tốt và giúp

đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này.

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Bộ môn Sinh học tế bào, Đại học

Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã dạy dỗ, tạo nền tảng kiến thức

cơ bản để tôi có thể tiếp cận kiến thức khoa học góp phần rất lớn vào việc học tập

và nghiên cứu.

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè những người đã luôn động viên, khuyến khích, ủng hộ tôi, là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho tôi trong suốt quá trình học tập để và hoàn thành được bản luận văn này.

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Học viên

Trương Thị Thuỳ Linh

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 3

1.1 Lược sử nghiên cứu về nhiễm sắc thể người 3

1.2 Tiêu chuẩn và quy định quốc tế về đặc điểm bộ nhiễm sắc thể người 4

1.2.1 Tiêu chuẩn để xếp loại nhiễm sắc thể trong lập karyotyp 4

1.2.2 Phân loại nhiễm sắc thể 5

1.3 Các rối loạn và cơ chế gây rối loạn nhiễm sắc thể người 6

1.3.1 Rối loạn số lượng nhiễm sắc thể 6

1.3.2 Rối loạn cấu trúc nhiễm sắc thể 7

1.3.3 Hậu quả của các đột biến nhiễm sắc thể lên chất liệu di truyền 11

1.4 Tình hình nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh trên thế giới 11

1.4.1 Tần số rối loạn nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 11

1.4.2 Tần số rối loạn nhiễm sắc thể giữa người vợ và người chồng ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 13

1.4.3 Sự phân bố các kiểu rối loạn nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 14

1.4.4 Nguy cơ sinh sản của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh mang rối loạn nhiễm sắc thể 23

1.5 Tình hình nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh ở Việt Nam 28

CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đối tượng nghiên cứu 31

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 31

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 31

2.2 Phương pháp nghiên cứu 31

Trang 8

2.2.1 Lập hồ sơ bệnh án di truyền 31

2.2.2 Phương pháp phân tích nhiễm sắc thể và lập karyotyp 31

2.2.3 Xử lý số liệu 34

CHƯƠNG 3 – KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 35

3.1 Biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 35

3.2 Biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể giữa người vợ và người chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh con dị tật bẩm sinh 37

3.3 Biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 39

3.3.1 Sự phân bố các kiểu rối loạn do chuyển đoạn tương hỗ ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 43

3.3.2 Sự phân bố các kiểu chuyển đoạn hòa hợp tâm ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 45

3.3.3 Biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể kiểu đảo đoạn 48

3.4 Nguy cơ sinh sản của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh mang rối loạn nhiễm sắc thể 53

3.4.1 Nguy cơ sinh sản của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh mang chuyển đoạn tương hỗ 53

3.4.2 Nguy cơ sinh sản ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh mang chuyển đoạn hoà hợp tâm 55

3.4.3 Nguy cơ sinh sản ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh mang đảo đoạn NST số 9 62

KẾT LUẬN 65

ĐỀ NGHỊ 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Tỷ lệ rối loạn NST ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị

tật bẩm sinh của một số tác giả 37

Bảng 2 Sự phân bố các kiểu rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 40

Bảng 3 Sự phân bố các rối loạn số lượng nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng 41

Bảng 4 Sự phân bố các kiểu karyotyp của chuyển đoạn tương hỗ ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật 44

Bảng 5 Sự phân bố các kiểu chuyển đoạn hòa hợp tâm 46

Bảng 6 Biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể kiểu đảo đoạn ở các cặp vợ chồng 48

Bảng 7 Các dạng rối loạn cấu trúc nhiễm sắc thể khác 50

Bảng 8 Nguy cơ sinh sản của các cặp vợ chồng mang chuyển đoạn tương hỗ 54

Bảng 9 Nguy cơ về sinh sản của các cặp vợ chồng mang chuyển đoạn hòa hợp tâm xảy ra giữa các nhiễm sắc thể khác cặp tương đồng 56

Bảng 10 Nguy cơ sinh sản của các cặp vợ chồng mang chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa các nhiễm sắc thể cùng cặp tương đồng 57

Bảng 11 Nguy cơ sinh sản của các cặp vợ chồng mang đảo đoạn NST số 9 63

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử ở người mang chuyển đoạn tương hỗ

giữa NST số 3 và NST số 21 8

Hình 2: Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử của người mang chuyển đoạn hòa

hợp tâm giữa 2 NST khác cặp tương đồng 9

Hình 3: Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử của người mang chuyển đoạn hòa

hợp tâm giữa 2 NST cùng cặp tương đồng 10Hình 4: Tỷ lệ rối loạn NST ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con

bị dị tật bẩm sinh 35Hình 5: Tỷ lệ rối loạn NST giữa người vợ và người chồng ở những cặp vợ chồng

sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 38Hình 6: Karyotyp của người chồng mang chuyển đoạn tương hỗ 46,XY,t(9;11)(q34;q13)

43

Hình 7: Karyotyp của người chồng mang chuyển đoạn hòa hợp tâm 45,XY,t(13q;14q) 47

Hình 8: Karyotyp của người chồng mang NST đảo đoạn 46,XY,inv(9)(p12;q12)

49

Hình 9: Karyotyp của người vợ mang NST rối loạn phức tạp

46,XX,t(1;16)(q22;p13),t(12;15)(q15;q23) 52Hình 10: Karyotyp của người vợ mang chuyển đoạn hòa hợp tâm 45,XX,t(13q;13q)

58

Hình 11: Sơ đồ gia hệ cặp vợ chồng có người vợ mang chuyển đoạn hòa hợp tâm

45,XX,t(14q;21q) 61

Trang 12

MỞ ĐẦU

Hiện tượng các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp, sinh con bị dị tật bẩm sinh làvấn đề ngày càng được quan tâm theo dõi và điều trị trên các cơ sở y tế ở Việt Namnói riêng và trên thế giới nói chung Sảy thai liên tiếp, sinh con dị tật cũng nhưnhững vấn đề liên quan đến hiếm muộn, vô sinh đã và đang là nỗi đau, nỗi lo củamỗi gia đình và xã hội, gây ra nhiều tổn thất về mặt tinh thần và vật chất Tại ViệtNam, song song với sự phát triển kinh tế - xã hội, những vấn để về sức khỏe sinhsản đang ngày càng được quan tâm và cần có những nghiên cứu sâu rộng để đưa racác biện pháp cải thiện, trong đó tư vấn di truyền đối với những cặp vợ chồng sảythai liên tiếp, sinh con dị tật hay hiếm muộn là một trong những biện pháp cần thiết.Sảy thai liên tiếp và sinh con dị tật bẩm sinh có thể do nhiều nguyên nhân nhưnhiễm trùng, hoocmon, các bệnh mãn tính, bất thường tử cung, bất thường NST…đặc biệt với sảy thai sớm (dưới 3 tháng trong thời kì mang thai) thì phôi mang rốiloạn NST đóng vai trò chủ yếu [10] Đối với các trường hợp sinh con bị dị tật bẩmsinh mang rối loạn NST nguyên nhân có thể do bố hoặc mẹ mang rối loạn NST tạonên những hợp tử mang NST rối loạn Ở những cặp vợ chồng mang rối loạn NSTcân bằng có nguy cơ mang thai bất thường rất cao có thể chết trong thời kì bào thaihoặc sinh ra những đứa trẻ bị dị tật hoặc chậm phát triển trí tuệ

Với sự phát triển của khoa học nói chung và di truyền y học nói riêng, nhữngnguyên nhân dẫn đến hiện tượng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinhngày càng được đánh giá một cách sâu rộng hơn ở mức độ di truyền tế bào và ditruyền phân tử với những rối loạn NST hay rối loạn về gen Ở mức độ di truyền tếbào, bộ NST được quan sát, đánh giá và phân tích về số lượng, cấu trúc bao gồmcác chuyển đoạn, đứt đoạn, lặp đoạn và đảo đoạn

Xét nghiệm và phân tích NST ở những cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liêntiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh nhằm tìm ra nguyên nhân đồng thời đưa ra tư vấn

di truyền để lựa chọn phương pháp công nghệ hỗ trợ sinh sản cần thiết hoặc lựachọn có sinh con nữa hay không?

Trang 13

Hiện nay trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu NST và báo cáo vềnhững cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh mangrối loạn NST Ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều phòng xét nghiệm

di truyền tế bào như Viện nhi Trung ương, Viện Sản Trung ương, phòng Di truyền tếbào bệnh viện Từ Dũ, bộ môn Y Sinh học – Di truyền trường Đại học Y Hà Nội làmxét nghiệm và phân tích NST ở những cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp vàsinh con bị dị tật bẩm sinh góp phần trong chẩn đoán và đưa ra những lời khuyên ditruyền

Sử dụng phương pháp xét nghiệm và phân tích bộ NST, chúng tôi thực hiện đề

tài: “Nghiên cứu những bất thường NST ở cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật” với mục tiêu:

Phát hiện những bất thường của bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh.

Đưa ra những nguy cơ về sinh sản ở một số trường hợp rối loạn NST ở những cặp vợ chồng này.

Trang 14

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN1.1 Lược sử nghiên cứu về nhiễm sắc thể người

Bộ NST người là đối tượng chính trong các nghiên cứu tế bào di truyền họcloài người Các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu NST người từ cuối thế kỷ XIX

và được đánh dấu bằng công trình mở đầu của Walther Flemming (1882) [33] Ông

đã quan sát NST của người ở các kỳ phân bào trên tiêu bản tươi, cắt mảnh lấy từtinh hoàn Trong thời gian đó, NST của người là vấn đề được các nhà di truyền họcquan tâm, nghiên cứu và cũng là đề tài được đem ra tranh luận nhiều lần Tuy nhiên

không phù hợp cho việc nghiên cứu chi tiết NST Ở người, số lượng NST nhiều,kích thước nhỏ và thường tập trung thành từng đám, với những kỹ thuật cắt mảnh,

cố định và nhuộm thông thường, các nhà di truyền tế bào chưa thể đếm chính xácnên đã cho rằng trong nhân của tế bào người có 48 NST, gồm 23 cặp NST thường

và 1 cặp NST giới tính (Winiwarter V, 1912; Painter, T.S, 1923) [102,73]

Những năm thuộc thập kỉ 50 của thế kỉ XX có những phát hiện quan trọngkhai sinh ra chuyên ngành di truyền tế bào người, bằng việc xử lý tế bào bằng sốcnhược trương của Hsu T.C (1952), Ford C.E và Hamerton J.L (1956) tiền xử lý tếbào nuôi cấy bằng colchicine để tích lũy nhiều cụm kì giữa Công trình của Tjio vàLevan (1956) kết hợp xử lý nhược trương và colchicine đã công bố nghiên cứu xácđịnh lại bộ NST 2n của người là 46 NST chứ không phải là 48 NST và công trìnhnày đã được Ford và Hamerton khẳng định [35]

Từ năm 1956 có nhiều phòng thí nghiệm tế bào di truyền được xây dựng đểnghiên cứu NST Các công trình đầu tiên công bố các rối loạn NST liên quan vớibệnh là công trình của Lejeune (1958-1959) về hội chứng Down do thừa một NST

thiếu một NST giới tính X (Ford, 1959), hội chứng Klinefelter ở nam với 47 NSTtrong đó có ba NST giới tính XXY (Jacobs và Strong, 1959) [48]

Từ năm 1956 đến năm 1960 là thời kỳ còn khó khăn của nghiên cứu tế bào ditruyền học người các nghiên cứu đều mới chỉ phân biệt được các rối loạn số lượng

Trang 15

và rối loạn cấu trúc lớn gây bất thường ở người do mới chỉ sử dụng phương phápnhuộm bình thường bằng Giemsa, nhuộm đồng đều các NST.

Năm 1960, Moorhead và cs công bố phương pháp làm tiêu bản NST từ lymphobào nuôi cấy ngắn hạn với việc dùng PHA (phytohemagglutinin) để kích thích phânbào[64]

Năm 1960, Nowell và Hungerford đã mô tả NST Philadelphia (mất đoạnnhánh dài của NST 22) trong bệnh bạch cầu thể tủy mãn tính (Chronic myeloidleukemia) [72]

Năm 1963, hội chứng mèo kêu, một hội chứng do bị mất đoạn nhánh ngắn của

Từ năm 1968 đến năm 1970, sự ra đời của các kỹ thuật nhuộm băng cho phépcác nhà di truyền học đánh giá chính xác tới từng chiếc NST trong bộ NST và pháthiện rối loạn cấu trúc NST Từ sau 1970 trở đi, lần lượt với các kỹ thuật nhuộmbăng Q, băng G, băng R, băng C, băng T, N và nhuộm băng có độ phân giải caoNST, dùng BrdU (Bromodeoxyuridin) gắn vào ADN trên NST và nhuộm phân biệtchromatit chị em đã mở ra thời kỳ phát triển mạnh mẽ của tế bào di truyền họcngười ứng dụng các kỹ thuật băng để phát hiện các bất thường đặc trưng trên từngNST ứng với các bệnh, tật, các hội chứng trong lâm sàng

Từ năm 1980 đặc biệt là sau năm 1985 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ, vượt bậccủa di truyền tế bào và di truyền phân tử ứng dụng trong nghiên cứu bộ gen loàingười Trong di truyền tế bào thì việc nghiên cứu NST chủ yếu vẫn áp dụng cácphương pháp nhuộm băng NST

1.2 Tiêu chuẩn và quy định quốc tế về đặc điểm bộ nhiễm sắc thể người

1.2.1 Tiêu chuẩn để xếp loại nhiễm sắc thể trong lập karyotyp.

Lúc đầu người ta chỉ căn cứ vào chiều dài của NST để đặt tên cho chúng từ 1đến 23 theo thứ tự từ dài đến ngắn (công ước Denver 1960), nhưng ngay sau đócũng năm 1960 Patau không đồng ý và đề xuất thêm tiêu chuẩn vị trí phần tâm, saunày được quốc tế chính thức chấp nhận

Trang 16

Chiều dài tương đối của NST: là tỷ lệ giữa chiều dài của một NST so vớichiều dài trung bình của cả bộ NST, tức chiều dài tổng cộng tất cả các NST của bộđơn bội có chứa NST X tính theo phần nghìn trong cùng một tế bào Vị trí của phầntâm được biểu hiện bằng chỉ số phần tâm, tức là tỷ lệ giữa chiều dài nhánh ngắn trêntổng chiều dài của cả NST.

Ngoài ra còn có một số tiêu chuẩn chi tiết khác vận dụng cho các NST có nhánhngắn rất ngắn (NST tâm đầu) và các vệ tinh của chúng, NST Y có đặc thù riêng

1.2.2 Phân loại nhiễm sắc thể

Ở người bộ NST 2n = 46 trong đó có 22 cặp NST thường (autochromosome)

và 1 cặp NST giới tính (sex chromosome) Dựa vào đặc điểm hình thái như độ dài,

vị trí tâm động người ta sắp xếp các NST thành từng nhóm 46 NST được chia thành

7 nhóm, kí hiệu là A, B, C, D, E, F và G trên nguyên tắc dài trước ngắn sau, nếu cácNST bằng nhau thì tâm giữa đặt trước, tâm lệch đặt sau

1

tâm giữa, cặp số 2 tâm lệch, cặp số 3 tâm giữa

tâm lệch

xếp vào nhóm này Tất cả đều tâm gần giữa và khó phân biệt

cũng được xếp vào nhóm này nhưng không có vệ tinh

Trang 18

1.3 Các rối loạn và cơ chế gây rối loạn nhiễm sắc thể người

1.3.1 Rối loạn số lượng nhiễm sắc thể

Rối loạn số lượng NST gồm hai dạng: đa bội (polyploidy) và lệch bội

(aneuploidy)

* Đa bội thể: là hiện tượng tăng chẵn hoặc tăng lẻ cả bộ NST Ví dụ: ở người

3n = 69 NST = thể tam bội (3n) thuộc dạng thể đa bội lẻ, 4n = 96 NST = thể tứ bội(4n) thuộc dạng thể đa bội chẵn

một vài trường hợp sống đến khi sinh hoặc sau sinh nhưng hầu hết là các

trẻ sơ sinh bị dị tật

Một số trường hợp đa bội thể ở người:

một số thai sống sót vài giờ sau khi sinh hoặc ở phần lớn các khối u

tự nhiên hoặc ở một số thai sống sót vài giờ sau khi sinh

chậm phát triển trí tuệ và nhiều dị tật bẩm sinh khác: dị dạng mắt, thoát vị màng tủy,

dị tật tim, dị tật cơ quan sinh dục…

Karyotyp ở những đứa trẻ này là: 46,XY/69,XXY hoặc 46,XX/92,XXYY…

* Lệch bội: là hiện tượng số lượng NST của tế bào tăng lên hoặc giảm đi một

hoặc vài NST so với bộ NST lưỡng bội

Trang 19

Những dòng tế bào hoặc hợp tử monosomi NST thường, nhìn chung không có khả năng phát triển và thường chết ở giai đoạn sớm của phôi thai.

* Thể khảm lệch bội: NST thường và NST giới tính tức là cá thể có từ hai hoặc

nhiều dòng tế bào, hay gặp nhất là một dòng tế bào lưỡng bội và một dòng tế bàolệch bội hoặc là thừa một NST (trisomi) hoặc là thiếu một NST (monosomi)

* Lệch bội phức tạp – (lệch bội kép): trong tế bào của cơ thể có dư 2 NST ở

hai cặp tương đồng khác nhau (thông thường là một cặp NST thường và một cặpNST giới tính)

1.3.2 Rối loạn cấu trúc nhiễm sắc thể

Rối loạn cấu trúc nhiễm sắc thể bao gồm vật liệu di truyền bị mất, thêm, hoặcđảo ngược trong cùng 1 NST hoặc trao đổi giữa các đoạn của các NST khác nhau(translocations) Rối loạn NST là cân bằng nếu vật liệu di truyền không bị mất (đảođoạn và chuyển đoạn NST cân bằng) và không cân bằng nếu thừa, thiếu vật liệu ditruyền (trong trường hợp lặp đoạn hoặc mất đoạn NST) [56]

* Mất đoạn (deletion): là hiện tượng NST bị đứt rời ra một hoặc nhiều

số trường hợp có biểu hiện chậm phát triển trí tuệ và rối loạn cơ quan sinh dục, haygặp trong số đó là NST X hình vòng Ví dụ: Hội chứng Turner: 46,Xr(Xq)

Trang 20

* Chuyển đoạn (Translocation): Chuyển đoạn là hiện tượng trao đổi các đoạn

của NST Chuyển đoạn NST đã được xác định là hay gặp nhất trong rối loạn cấutrúc của NST [86] Có hai kiểu chuyển đoạn là chuyển đoạn tương hỗ (reciprocaltranslocation) và chuyển đoạn hòa hợp tâm (Robertsonian translocation)

- Chuyển đoạn tương hỗ (reciprocal translocation): là hiện tượng trao đổi đoạn

giữa hai NST Mỗi NST đứt một chỗ, trao đổi đoạn đứt cho nhau và hình thành haiNST mới Cả hai đều thay đổi hình thái nếu những đoạn trao đổi khác nhau về kíchthước Người mang NST chuyển đoạn tương hỗ có kiểu hình bình thường và trong

bộ NST chứa 46 chiếc với 2 NST bất thường [30] Trong quá trình hình thành giao

tử, hợp tử và sinh ra những đứa con hoặc là monosomi (thường chết) hoặc trisomihoặc có karyotype bình thường hoặc mang chuyển đoạn cân bằng giống bố mẹ.Dưới đây là sơ đồ mô tả quá trình hình thành giao tử và hợp tử ở những người mangchuyển đoạn tương hỗ giữa NST số 3 và NST số 21 Các trường hợp chuyển đoạntương hỗ khác cũng tương tự

Hình 1: Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử ở người mang chuyển đoạn tương

hỗ giữa NST số 3 và NST số 21.

- Chuyển đoạn hòa hợp tâm (Robertsonian translocation): Chuyển đoạn hòa hợp

tâm là do phần tâm của hai NST hợp nhất hình thành và hay gặp nhất là sự chuyển đoạngiữa các NST tâm đầu số 13,14,15 (nhóm D), số 21,22 (nhóm G) bao gồm là sự

Trang 21

chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với nhóm D (D/D) hoặc giữa nhóm D với nhóm

G (D/G) hoặc giữa nhóm G với nhóm G (G/G) Nhìn chung trong quần thể, chuyểnđoạn hòa hợp tâm chiếm tỷ lệ khoảng 1,23% ở trẻ sơ sinh còn sống [15]

thiếu 2 NST tâm đầu và thay vào đó 1 NST tâm giữa có kích thước lớn nếu là sựchuyển đoạn giữa các NST nhóm D với nhóm D (D/D) hoặc 1 NST có kích thướctrung bình tâm lệch nếu là sự chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với các NSTnhóm G (D/G) hoặc 1 NST kích thước nhỏ tâm giữa nếu là sự chuyển đoạn giữa cácNST nhóm G với các NST nhóm G (G/G)

Những người đàn ông mang chuyển đoạn hoà hợp tâm, các đoạn chuyển có thểcan thiệp vào sự sản sinh tinh trùng (số lượng tinh trùng thấp hoặc tinh trùng mangNST rối loạn) Bố hoặc mẹ mang chuyển đoạn hoà hợp tâm có thể sinh ra con cái dịtật bẩm sinh sau: hội chứng Down khi con thừa hưởng 3 nhánh dài của NST 21 Hộichứng Patau khi thừa hưởng 3 nhánh dài của NST 13… Nếu cả bố và mẹ đều mangchuyển đoạn hoà hợp tâm thì việc có một đứa con bình thường là rất khó do sự hìnhthành nên hợp tử mang NST không cân bằng [94]

Có 2 dạng chuyển đoạn hòa hợp tâm đó là sự chuyển đoạn hòa hợp tâm giữacác NST trong cùng cặp NST tương đồng và chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa cácNST khác cặp tương đồng Dưới đây là sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử của cáccặp vợ chồng (người vợ hoặc người chồng) mang chuyển đoạn hòa hợp tâm

Hình 2: Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử của người mang chuyển đoạn hòa

hợp tâm giữa 2 NST khác cặp tương đồng t(14q;21q).

Trang 22

Hình 3: Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử của người mang chuyển đoạn hòa

hợp tâm giữa 2 NST cùng cặp tương đồng t(21q;21q).

đôi lên Lặp đoạn xảy ra khi 2 NST tương đồng ghép đôi với nhau không tươngxứng trong kỳ đầu của phân bào giảm phân, có sự đứt của 2 NST và trao đổi đoạngiữa 2 đoạn khác nhau của 2 NST trong cặp tương đồng Trong trường hợp này có 2NST bị thay đổi cấu trúc, nhưng không mất đi hoặc tăng thêm vật liệu di truyềntrong tế bào Khi các NST trong cặp tương đồng này phân ly nhau trong giảm phân

sẽ tạo ra hợp tử mang NST lặp đoạn (trisomi từng phần) hoặc NST thiếu một đoạn

có liên quan (monosomi từng phần)….Ở người hay gặp trisomi một phần nhánh dàihoặc monosomi một phần nhánh dài hoặc nhánh ngắn của NST số 18 (nhóm E)

Đảo đoạn (Inversion): Kết quả đảo đoạn khi hai điểm đứt gãy xảy ra trong

Đảo đoạn mang tâm động (pericentric) nếu nó liên quan đến tâm động Đảo đoạnkhông mang tâm động (paracentric) chỉ liên quan đến một nhánh của một nhiễm sắcthể, hay ngoài tâm động Đảo đoạn là tái sắp xếp cân bằng, nhưng người mang đảođoạn quanh tâm và ngoài tâm động đều có nguy cơ tạo giao tử với nhiễm sắc thểkhông cân bằng bổ sung [5]

Trang 23

Đảo đoạn có thể ở trạng thái đồng hợp tử hoặc dị hợp tử Khi ở trạng thái đồnghợp tử thì đảo đoạn thường gây ảnh hưởng chết cho cơ thể do làm thay đổi vị trí củacác gen (hiệu ứng vị trí) và đứt gãy nhiễm sắc thể sẽ dẫn tới gây chết Khi ở trạngthái dị hợp tử thì đảo đoạn gây nên một số thay đổi về di truyền và tế bào, do đóngười ta có thể dễ dàng phát hiện ra đoạn đảo Khi có đảo đoạn ngoại tâm sẽ khônglàm thay đổi vị trí hai vế, còn khi có đảo đoạn quanh tâm sẽ dẫn đến thay đổi vế củanhiễm sắc thể, có thể biến nhiễm sắc thể tâm cận mút (acrocentrric chromosome)thành nhiễm sắc thể cân tâm (metacentric chromosome) và ngược lại [3].

1.3.3 Hậu quả của các đột biến nhiễm sắc thể lên chất liệu di truyền

Căn cứ vào sự biến đổi chất liệu di truyền trong các loại đột biến NST người tachia làm hai loại:

Đột biến cân bằng (balanced mutation): Đột biến NST không làm mất hoặc

thêm chất liệu di truyền như các trường hợp chuyển đoạn, đảo đoạn Do không làmmất hoặc thêm chất liệu di truyền nên những đột biến này thường không ảnh hưởnglên kiểu hình [98]

Đột biến không cân bằng (unbalanced mutation): Bao gồm các đột biến NST

làm mất chất liệu di truyền như thể đơn nhiễm, đột biến mất đoạn hoặc làm tăngchất liệu di truyền như thể tam nhiễm, thể tam bội, nhân đoạn Đây là những độtbiến gây ra những hậu quả trên kiểu hình [99]

1.4 Tình hình nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh trên thế giới

1.4.1 Tần số rối loạn nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh

Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng sảy thai là do bố

mẹ mang rối loạn NST, đặc biệt là những trường hợp sảy thai sớm Khoảng 60%trường hợp sảy thai liên tiếp trước tuần thứ 20 của thai là do rối loạn NST ở phôithai [22] Các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh có tỷ lệmang rối loạn NST lớn hơn so với tỉ lệ rối loạn NST trong dân số nói chung

Trang 24

(khoảng <0,55%) [16,37,52,53,17,78] Sau đây là một số ghi nhận về nghiên cứutần số rối loạn NST ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con dị tật:

CU Diedrich và cs (1983) khi phân tích truyền tế bào ở 136 cặp vợ chồng cótiền sử sảy thai hai lần trở lên đã phát hiện 15 trường hợp (chiếm tỷ lệ 11%) có rốiloạn NST [28]

Báo cáo của J.P Fryns và cs (1984) trong 1068 cặp vợ chồng có tiền sử sảythai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh được phân tích NST có 59 trường hợpmang rối loạn NST (chiếm 5,5%) [40]

Một nghiên cứu khác của Kroshikina VG và cs (1984) trong 202 cặp vợchồng sảy thai liên tiếp được xét nghiệm NST thì tỷ lệ các cặp mà một trong haingười có rối loạn NST là 2,5% [51]

Năm 1998 Fryns JP và cs khi phân tích NST của 1743 cặp vợ chồng sảy thailiên tiếp đã phát hiện 5,34% trong số họ mang rối loạn NST [39]

Khi tiến hành làm xét nghiệm NST cho 61 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thailiên tiếp từ hai lần trở lên Jiang J và cs (2001) đã phát hiện 7 cặp vợ chồng có mộttrong hai người bị rối loạn NST (chiếm tỷ lệ 11,5%) [49]

M Azim (2003) sử dụng kỹ thuật nhuộm băng G phân tích NST của 300 cặp

vợ chồng có tiền sử sảy thai từ 2 lần trở lên Kết quả cho thấy có 16 cặp (vợ hoặcchồng) mang rối loạn NST (chiếm tỷ lệ 5,3%) [17]

Nghiên cứu NST ở 742 cặp vợ chồng (1484 trường hợp) có tiền sử sảy thailiên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh, Dubey và cs (2005) đã phát hiện được 31trường hợp có rối loạn NST (chiếm tỷ lệ 2%) [30]

Lakshmi Rao và cs (2005) sử dụng kỹ thuật nhuộm băng G để phân tích NSTcho 160 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp Kết quả phát hiện 18 trường hợpmang rối loạn NST chiếm 11,25% tổng số các cặp nghiên cứu [53]

Năm 2006 Figen Celepa và cs đã phân tích NST của 645 cặp vợ chồng (1290trường hợp) có tiền sử sảy thai liên tiếp Kết quả tìm thấy có 25 trường hợp mangrối loạn NST (chiếm tỷ lệ 3,86%) [32]

Trang 25

Razied Dehghani Firoozabadi và cs (2006) phân tích NST của 88 cặp vợchồng có tiền sử sảy thai liên tiếp Kết quả cho thấy 12.5% trong số họ mang rốiloạn NST [75].

Nghiên cứu của Mary D.Stephenson và Sony Sierra thuộc Đại học Chicago(Mỹ) và Đại học Colombia (Anh) năm 2006 khi phân tích kết quả sinh sản của cáccặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp đã phát hiện 51 người mang rối loạn NSTtrong 1853 cặp vợ chồng (2.7 %) [85]

L.V.Tavokina và cs (2007) đã phát hiện 46 trường hợp (10,95%) rối loạnNST khi phân tích NST của 210 cặp vợ chồng có vấn đề về sinh sản [52]

Usha R Dutta (2010) và cs đã phân tích sự bất thường về di truyền tế bàotrong 1162 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp ở vùng phía nam Ấn độ đã pháthiện 78 trường hợp rối loạn NST [95]

Faeza Abdel và cs (2011) khi nghiên cứu nguyên nhân sảy thai liên tiếp ở AiCập đã phát hiện 9 cặp vợ chồng trong 73 cặp được kiểm tra NST mang rối loạnNST tương ứng với 6.1% [31]

1.4.2 Tần số rối loạn nhiễm sắc thể giữa người vợ và người chồng ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh

Năm 1983 ALippman-Hand đã phân tích NST của 347 người (trong đó có

quả là phát hiện có 8 người vợ và 4 người chồng mang rối loạn NST [14]

Phân tích NST của 391 cặp vợ chồng sinh con mắc bệnh Down, Stoll.C và cs(1998) đã phát hiện được 7 người (5 người mẹ và 2 người bố) mang NST chuyểnđoạn hòa hợp tâm [88]

Năm 2005, Dubey và cs kiểm tra NST của 742 cặp vợ chồng có tiền sử sảythai liên tiếp 31 trường hợp đã được phát hiện mang rối loạn NST, trong đó 24 nữ

và 7 nam với tỉ lệ nữ: nam là 2,1:1 [30]

Nghiên cứu kết quả sinh sản của 11.971 cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp, Flyn H

và cs (2013) phân tích NST và phát hiện có 278 trường hợp rối loạn NST trong đó 176người vợ (tương đương 63%) và 102 người chồng (tương đương với 37%) [34]

Trang 26

Cũng trong năm 2013, Ali karaman và Pasa Ulug phân tích NST của 158 cặp

vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp đã phát hiện các trường hợp rối loạn NST baogồm 13 nữ (8,22%) và 7 nam (4,43%) [13]

Ngoài những trường hợp rối loạn NST xảy ra ở người vợ hoặc người chồng ởnhững cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con dị tật, chúng tôi còn ghi nhận một

số kết quả nghiên cứu mà cả hai vợ chồng đều mang rối loạn NST sau:

Khi nghiên cứu cặp vợ chồng 25 tuổi với tiền sử 2 lần sảy thai liên tiếp P.RScarbrough và cs (1984) với phương pháp nhuộm băng G đã phát hiện sự có mặtcủa chuyển đoạn NST số 13 (thuộc nhóm D) với NST số 14 (thuộc nhóm D) ởngười chồng, karyotyp của người chồng là 45,XY,t(13q;14q) Phân tích NST củangười vợ phát hiện chuyển đoạn tương hỗ giữa NST số 7 và NST số 13, karyptyp là46,XX,t(7;13)(p21;q22) Theo tác giả thì xác suất để cặp vợ chồng này có 1 conmang NST cân bằng hoặc mang NST bình thường là 4/48 Xác suất này có thể đượccải thiện trong trường hợp có chọn các tế bào mầm [78]

Ahonadreza Zarifian và cs (2012) đã báo cáo 1 trường hợp cặp vợ chồng vớinhiều lần sảy thai không rõ nguyên nhân: khi phân tích NST trên cơ sở kỹ thuậtnhuộm băng G ở độ phân giải cao đã cho kết quả người chồng có karyotyp là46,XY,t(6;16)(p12;q26), karyotyp của người vợ là 46,XX,t(6;16)(p12;q26) Cũngtheo báo cáo này thì những cặp vợ chồng mà cả 2 đều mang rối loạn NST cân bằng

có khả năng sản xuất những giao tử bất thường tạo lên các hợp tử bất thường dẫnđến hiện tượng sảy thai, thai lưu hoặc con sinh ra mang dị tật bẩm sinh Về lýthuyết, chỉ có 25% giao tử bình thường mỗi người do đó nguy cơ sinh sản đối vớicác cặp vợ chồng mà cả hai đều mang rối loạn NST là rất cao [12]

1.4.3 Sự phân bố các kiểu rối loạn nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh

1.4.3.1 Sự phân bố giữa rối loạn số lượng và cấu trúc nhiễm sắc thể

Năm 1982, Micheles VV và cs phân tích NST của 220 cặp vợ chồng có tiền sửsảy thai từ 2 lần trở lên đã phát hiện có 18 trường hợp mang rối loạn NST trong đó có

13 trường hợp rối loạn cấu trúc NST và 5 trường hợp rối loạn số lượng NST [61]

Trang 27

U Diedrich và cs (1983) khi phân tích NST của 136 cặp vợ chồng có tiền sửsảy thai liên tiếp đã phát hiện 15 trường hợp rối loạn NST trong đó có 11 trườnghợp rối loạn cấu trúc và 4 trường hợp rối loạn số lượng NST [28].

Muneera Al Hussain (2000) khi phân tích các rối loạn NST ở các cặp vợchồng sảy thai liên tiếp đã phát hiện 15 trường hợp mang rối loạn NST trong đó 13trường hợp là rối loạn cấu trúc và 2 trường hợp rối loạn số lượng NST [65]

Khi phân tích nguyên nhân của các trường hợp sảy thai liên tiếp, M.zim và cs(2003) nghiên cứu NST của 300 cặp vợ chồng đã phát hiện 16 trường hợp rối loạnNST trong đó có 14 trường hợp là rối loạn cấu trúc và 2 trường hợp rối loạn sốlượng NST [17]

Năm 2005 Dubey và cs phân tích NST và lập karyotyp của 742 cặp vợchồng (1484 trường hợp) có tiền sử sảy thai liên tiếp hoặc sinh con bị dị tật bẩmsinh Các tác giả đã phát hiện có 9 trường hợp rối loạn số lượng NST, 22 trường hợprối loạn về cấu trúc NST [30]

Raizied Dehghani và cs (2006) khi phân tích di truyền tế bào của các cặp vợchồng có tiền sử sảy thai tái phát đã phát hiện 6 trường hợp rối loạn số lượng và 5trường hợp rối loạn cấu trúc NST [75]

Cũng trong năm 2006, Figen Celapa và cs khi phân tích NST của 645 cặp vợchồng đã phát hiện 25 trường hợp mang rối loạn NST, trong đó rối loạn cấu trúcchiếm 3,7% và rối loạn về số lượng chiếm 0.15% [32]

L.V Tavokina và cs (2007) khi nghiên cứu các bệnh nhân rối loạn sinh sản đãphát hiện 46 trường hợp mang rối loạn NST trong đó rối loạn cấu trúc NST chiếm89,13%, rối loạn số lượng NST chiếm 10,87% [52]

Năm 2008, Hossem Mozdarani và cs khi phân tích NST của các cặp vợchồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh đã phát hiện có 21 trường hợpmang rối loạn NST trong đó có 4 trường hợp là rối loạn số lượng, 17 trường hợp làrối loạn về cấu trúc [46]

Feaza Abdel Mogib và cs (2011) phân tích tế bào các cặp vợ chồng có tiền sửsảy thai ít nhất 2 lần ở bệnh viện Nhi, đại học Mansoura, Ai Cập đã phát hiện 9

Trang 28

trong 73 cặp vợ chồng mang rối loạn NST, trong đó 7 trường hợp là rối loạn cấu trúc và 2 trường hợp là rối loạn về số lượng NST [31].

1.4.3.2 Sự phân bố các kiểu rối loạn nhiễm sắc thể về cấu trúc

Năm 1982, Micheles VV, Medrano C và cs nghiên cứu bất thường NST ở

NST, trong đó chủ yếu là chuyển đoạn hòa hợp tâm 8 trường hợp (3,6%), đảo đoạn

Muneera Al Hussain và cs (2000) khi phân tích NST của các cặp vợ chồngsảy thai liên tiếp đã ghi nhận 13 trường hợp rối loạn cấu trúc NST bao gồm: 10trường hợp chuyển đoạn tương hỗ, 2 trường hợp đảo đoạn và 1 trường hợp chuyểnđoạn hòa hợp tâm [65]

Khi tiến hành xét nghiệm NST của 61 cặp vợ chồng có tiển sử sảy thai liêntiếp từ 2 lần trở lên, Jiang Jing và cs (2001) đã phát hiện 7 cặp vợ chồng có 1 trong

2 người mang rối loạn NST, trong đó có 6 người mang chuyển đoạn và 1 ngườimang NST đảo đoạn quanh tâm [49]

Kết quả nghiên cứu của M Azim và cs (2003) khi phân tích NST ở 300 cặp

vợ chồng phát hiện 14 cặp mang rối loạn cấu trúc NST, trong đó 7 trường hợpchuyển đoạn, 5 trường hợp đảo đoạn và 2 trường hợp mất đoạn [17]

Kết quả nghiên cứu của Dubey và cs năm 2005 trong số 22 người mang rốiloạn cấu trúc NST có 19 trường hợp là chuyển đoạn và 3 trường hợp là mất đoạnNST [30]

Trang 29

Năm 2006, Razied Dehghani Firoozabadi và cs đã phân tích NST của 165cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp đã phát hiện các trường hợp rối loạn cấutrúc NST sau: 2 trường hợp chuyển đoạn, 1 trường hợp mất đoạn và 2 trường hợplặp đoạn NST [75].

Năm 2008, Hossein Mozdra và cs khi phân tích NST của các cặp vợ chồngsảy thai liên tiếp đã phát hiện 16 trường hợp mang rối loạn NST cấu trúc gồm cácdạng rối loạn: đảo đoạn 5 trường hợp, chuyển đoạn 3 trường hợp, lặp đoạn 7 trườnghợp [46]

Usha R.Dutta và cs (2010) khi phân tích NST của 1162 cặp vợ chồng có tiền

sử sảy thai liên tiếp ở vùng phía nam Ấn Độ đã phát hiện 78 trường hợp mang rốiloạn NST, phần lớn là chuyển đoạn tương hỗ cân bằng [95]

Năm 2012, Feaza Abdel Mogib và cs đã phát hiện 7 trường hợp mang rốiloạn NST về cấu trúc trong 73 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai ít nhất 2 lần Trong

đó có 3 trường hợp là chuyển đoạn tương hỗ, 1 trường hợp chuyển đoạn hòa hợptâm, 2 trường hợp đảo đoạn và 1 trường hợp mất đoạn [31]

Ali karaman và Pasa Ulug (2013) khi phân tích NST của 158 cặp vợ chồng

có tiền sử sảy thai liên tiếp đã phát hiện 20 trường hợp rối loạn cấu trúc NST baogồm: 7 trường hợp chuyển đoạn tương hỗ, 7 trường hợp chuyển đoạn hòa hợp tâm,

4 trường hợp đảo đoạn gồm tâm động, 2 trường hợp đảo đoạn ngoài tâm [13]

Theo báo cáo của Flyn H và cs (2013) thì từ 1/1992 đến 1/2001 đã có 11.971cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp được phân tích NST Trong nghiên cứu này, các tácgiả đã ghi nhận 278 trường hợp rối loạn cấu trúc NST Trong đó các kiểu rối loạnđược phân bố như sau: 177 trường hợp mang chuyển đoạn tương hỗ (chiếm 64%),

43 trường hợp mang chuyển đoạn hòa hợp tâm (chiếm 15%), 21 trường hợp đảođoạn NST gồm tâm động (chiếm 8%), 21 trường hợp đảo đoạn NST không gồm tâmđộng (chiếm 8%), và 16 trường hợp rối loạn khác [34]

1.4.3.3 Sự phân bố các kiểu chuyển đoạn tương hỗ

Theo Zarina A L và cs thì chuyển đoạn tương hỗ chiếm 0.2% trong dân số.Tuy nhiên ở những cặp vợ chồng sảy thai trên 3 lần ở 3 tháng đầu thì tỉ lệ này có thểtăng tới 9.2% [99]

Trang 30

Kết quả nghiên cứu của Claude Stoll và cs (1981) khi phân tích NST của 122cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp từ 3 lần trở lên phát hiện 4 trường hợpmang chuyển đoạn tương hỗ ở các cặp NST bao gồm t(2;17), t(11;12), t(17;22),t(5;9) [24].

Năm 1983, khi phân tích NST của 170 cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp,Alippman –Hand và cs đã phát hiện 6 trường hợp mang chuyển đoạn tương hỗ baogồm: t(4;6), t(6;8), t(1;21), t(7;13), t(16;20), t(18;21) [14]

Nghiên cứu của J.P.Fryns và cs (1984) phân tích NST của 1068 cặp vợ chồngphát hiện 33 trường hợp mang chuyển đoạn tương hỗ (chiếm 3.08%) [45]

Phân tích NST và lập Karyotype của 445 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thailiên tiếp Fortuny và cs (1988) đã phát hiện 16 cặp mang chuyển đoạn tương hỗ(3,6%) [36]

Năm 2007, khi nghiên cứu về vai trò của chuyển đoạn NST đối với cáctrường hợp sảy thai liên tiếp, Simona Farcas đã phát hiện 9 trường hợp mang NSTchuyển đoạn tương hỗ bao gồm có các dạng chuyển đoạn giữa các NST t(4;21),t(X;4), t(7;13), t(4;16) [86]

Usha R.Dutta và cs (2010) khi phân tích NST của 1162 cặp vợ chồng có tiền

sử sảy thai liên tiếp ở vùng Nam Ấn Độ đã chỉ ra rằng phần lớn các trường hợp rốiloạn NST được tìm thấy là chuyển đoạn tương hỗ Trong 78 trường hợp mangchuyển đoạn tương hỗ có 3 loại chuyển đoạn giữa các cặp NST lần đầu tiên đượcphát hiện bao gồm (3;14), (18;22), (X;22) [95]

Ali karaman và Pasa Ulug (2013) khi phân tích NST của 158 cặp vợ chồng

có tiền sử sảy thai liên tiếp đã phát hiện 7 trường hợp mang NST chuyển đoạn tương

hỗ bao gồm các dạng chuyển đoạn t(1;18), t(3;8), t(5;8), t(5;11), t(11;12), t(14;17),t(16;22) [13]

1.4.3.4 Sự phân bố các kiểu chuyển đoạn hòa hợp tâm

Chuyển đoạn hoà hợp tâm được công nhận là rối loạn NST phổ biến nhấttrong dân số chiếm 1.23/1000 trẻ sống và đặc biệt ở các cặp vợ chồng có tiền sử sảythai liên tiếp và sinh con bị dị tật thì tỷ lệ này tăng lên (Nielsen et al, 1991) [71]

Trang 31

Dưới đây là một số nghiên cứu về chuyển đoạn hòa hợp tâm ở những cặp vợ chồngsảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh:

Michels và cs (1982) đã phân tích NST của 200 cặp vợ chồng có tiền sử sảythai liên tiếp và sinh con bị dị tật phát hiện số lượng lớn các trường hợp mangchuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST số 13 và NST số 14 [61]

Năm 1983, khi phân tích NST của 170 cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp,Alippman – Hand và cs đã phát hiện 4 trường hợp rối loạn NST kiểu chuyển đoạnhòa hợp tâm bao gồm: 2 trường hợp chuyển đoạn giữa NST số 13 (nhóm D) và NST

số 14 (nhóm D); t(13q;14q), 1 trường hợp mang chuyển đoạn giữa NST số 14(nhóm D) và NST số 15 (nhóm D); t(14q;15q), 1 trường hợp mang chuyển đoạngiữa NST số 15 (nhóm D) và NST số 15 (nhóm D); t(15q;15q) [14]

Năm 1989, Therman và cs đã phát hiện các trường hợp mang chuyển đoạnhòa hợp tâm ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp Trong đó chuyển đoạn giữa NST

số 13 và 14 và NST số 14 và 21 là hay gặp nhất (tương ứng với 73% và 10% trongtất cả các dạng chuyển đoạn HHT) Chuyển đoạn giữa NST số 13 và 21, giữa NST

số 13 và 22 đều là những dạng hiếm gặp [91]

tích NST Các tác giả đã phát hiện được 7 cặp vợ chồng mang NST chuyển đoạnhòa hợp tâm giữa NST số 14 (nhuộc nhóm D) và NST số 21 (thuộc nhóm G).Karyotyp ở những người vợ là 45,XX,t(14q;21q) và ở những người chồng là45,XY,t(14q;21q) [88]

Năm 2003, M Azim và cs khi nghiên cứu 300 cặp vợ chồng có tiền sử sảythai liên tiếp đã phát hiện 16 cặp vợ chồng mang rối loạn NST trong đó chuyểnđoạn hoà hợp tâm gặp nhiều nhất chiếm 2.3% [17]

Dubey S và cs (2005) nghiên cứu 742 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liêntiếp và sinh con dị tật đã phát hiện 4 trường hợp mang chuyển đoạn hòa hợp tâmtrong đó: 2 trường hợp chuyển đoạn nhóm D/D giữa NST số 13 và 14, 2 trường hợpchuyển đoạn nhóm G/G gồm 1 chuyển đoạn giữa NST số 21 với 22 và 1 chuyểnđoạn giữa NST số 22 và 22 [30]

Trang 32

Phân tích NST trong một gia đình có tiền sử thai sản: lần đầu sinh được một

bé gái bình thường, lần 2 bị sảy và lần 3 sinh được một trẻ trai mắc bệnh Down.Cyril cyrus và cs (2006) phát hiện ở người vợ có karyotyp bình thường là 46,XX,nhưng chồng mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST số 13 (thuộc nhóm D)với NST số 21 (thuộc nhóm G), karyotyp của chồng là 45,XY,t(13q;21q) [25]

Simona Farcas và cs (2007) phân tích NST và lập karyotype của 260 cặp vợchồng có tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh con dị tật phát hiện 17 trường hợp rối loạnNST dạng chuyển đoạn, trong đó chuyển đoạn hòa hợp tâm có 6 trường hợp baogồm: 4 trường hợp chuyển đoạn giữa NST nhóm D (trong đó, 3 trường hợp làchuyển đoạn giữa NST số 13 và 14 và 1 trường hợp chuyển đoạn giữa NST số 13 và15), 1 trường hợp mang chuyển đoạn NST nhóm D với nhóm G ở NST số 14 vàNST số 21, 1 trường hợp mang chuyển đoạn giữa NST trong nhóm G giữa NST số

Turleau và cs khi nghiên cứu 413 cặp vợ chồng có tiển sử sảy thai liên tiếp

đã phát hiện tỉ lệ cao nhất trong các rối loạn NST là đảo đoạn NST số 9 [92]

Năm 2003, M Azim và cs khi nghiên cứu nguyên nhân của sảy thai tái phát

đã phân tích NST của 300 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai đã phát hiện 5 trườnghợp mang đảo đoạn NST trong đó 4 trường hợp đảo đoạn quanh tâm NST số 9 [17]

Báo cáo của Lakshmi Rao và cs (2005) khi phân tích NST của 160 cặp vợchồng sảy thai liên tiếp Các tác giả đã phát hiện đảo đoạn NST chiếm tỷ lệ phổ biếntrong các trường hợp rối loạn NST [54]

Năm 2007, Simona Farcas và cs đã nghiên cứu 354 cặp vợ chồng có tiền sử sảythai liên tiếp đã phát hiện 10 nữ và 6 nam mang đảo đoạn NST số 9 Theo báo cáo nàythì các đoạn đảo có nguy cơ bị mất hoặc sắp xếp lại trong quá trình giảm phân [86]

Trang 33

Nasrin Ghasemi và cs năm 2007 cũng đã báo cáo trường hợp của hai cặp vợchồng trong đó 1 người mang đảo đoạn NST số 9 Trường hợp đầu tiên là cặp vợchồng sảy thai liên tiếp (trong ba tháng đầu), xét nghiệm NST cho thấy người vợ cókaryotyp là 46 XX,inv(9)(p11q13) và NST của người chồng bình thường (46XY).Cặp đôi thứ hai vô sinh không rõ nguyên nhân: NST của người vợ bình thường(46XX ), karyotyp của chồng là 46XY,inv(9)(p11;q13) [68].

1.4.3.6 Sự phân bố các rối loạn phức tạp nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh

Rối loạn phức tạp NST là một dạng rối loạn cấu trúc rất hiếm liên quan đến ítnhất 3 NST hoặc nhiều hơn 3 điểm đứt trên NST Rối loạn phức tạp cũng có thể chiathành 2 loại: rối loạn cân bằng và rối loạn không cân bằng Trong đó rối loạn cânbằng thường không làm thay đổi kiểu hình nhưng có nguy cơ cao trong sinh sản như

vô sinh, sảy thai hoặc sinh con dị tật Theo kinh nghiệm của Madan và cs ở các cặp

vợ chồng mà 1 người mang rối loạn phức tạp thì nguy cơ sảy thai là 50%, nguy cơsinh con dị tật là 20% [59] Những người mang rối loạn phức tạp không cân bằngthường có nguy cơ cao chậm phát triển trí tuệ và mang nhiều dị tật khác [70]

Ulrike A Mau và cs (2000) đã báo cáo kết quả phân tích NST trong một gia đình

có một trẻ mắc bệnh Down do mang NST chuyển đoạn với karyotyp là46,XY,t(15q;21q) Người bố có karyotyp bình thường 46,XY, người mẹ mang NSTchuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST số 15 (nhóm D) với NST số 21 (nhóm G) và đảođoạn quanh tâm NST số 21, karyotyp là 45,XX,t(15q;21q),inv(21)(q21.1;q22.1) [93]

Trường hợp rối loạn phức tạp gồm NST số 9, 14 và 13 ở người phụ nữ vớitiền sử sảy thai liên tiếp được Sei Kwang Kim và cs (2001) nghiên cứu Phân tíchNST cho thấy karyotyp của chồng bình thường, karyotyp của vợ mang rối loạn NSTcân bằng phức tạp bao gồm NST 9, 14 và 13, có 3 điểm đứt: 9p21.2, 14q21 và13q12.2, karyotyp của vợ là 46,XX,t(9;14;13)(p21.2,q21;q12.2) [82]

Năm 2009 Priya A.Iyer và cs đã báo cáo về một trường hợp ở người phụ nữ

của người phụ nữ này mang chuyển đoạn phức tạp bao gồm NST số 7, 13 và 15,

Trang 34

karyotyp là 46,XX,t(7;15;13)(p15;q21;q31) Trong khi đó karyotyp của bố mẹ vàcủa chồng là hoàn toàn bình thường [74].

Năm 2011, Ngim CF, Keng WT, Ariffin R đã báo một trường hợp rối loạnphức tạp NST ảnh hưởng tới 3 thế hệ: đối tượng nghiên cứu là một bé trai có những

dị tật về kiểu hình: mặt phẳng, mắt lồi, tai nhỏ và thấp, quẹo chân, chậm nói, khi béđược 2 năm 9 tháng thì qua đời sau cơn viêm phổi Bố mẹ cậu bé có tiền sử 4 lầnsảy thai liên tiếp, phân tích NST cho thấy người bố có karyotyp bình thường, người

mẹ mang rối loạn phức tạp liên quan đến NST số 7, 12 và 14, karyotyp của người

mẹ là 46,XX,t(7;12;14)(q21.2;q24.2;q13) Phân tích NST của ông bà ngoại cậu béphát hiện ông ngoại mang rối loạn phức tạp tương tự như người mẹ và có karyotyp

là 46,XY,t(7;12;14)(q21.2;q24.2;q13) và bà ngoại cậu bé có NST bình thường Phântích hồi cứu gia đình ông bà ngoại cậu bé có 3 lần sảy thai và có 4 người con trong

đó người anh của mẹ cậu bé vô sinh và 2 người em còn lại bình thường Như vậy rốiloạn NST phức tạp cân bằng không làm thay đổi kiểu hình nhưng có thể dẫn đếngiảm khả năng sinh sản của người mang nó [70]

1.4.3.7 Sự phân bố các kiểu rối loạn nhiễm sắc thể về số lượng

Năm 1982, Micheles VV, Medrano C và cs nghiên cứu NST ở 220 cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp đã phát hiện 5 người vợ rối loạn NST giới tính ở thể khảm

Trang 35

Năm 2007 L.V.Tavokina và cs đã phân tích NST của 210 cặp vợ chồng cótiền sử thai sản khó khăn Các tác giả cũng tìm thấy 19 trường hợp rối loạn số lượngNST X và Y ở thể khảm [52].

Năm 2008, Hossem Mozdarani và cs khi phân tích NST của các cặp vợchồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh đã phát hiện có 4 trường hợpmang rối loạn số lượng NST bao gồm: 1 trường hợp Klinefelter (47,XXY), 1 trườnghợp mắc hội chứng XXX, 2 trường hợp đơn nhiễm NST X ở thể khảm [46]

Năm 2012, Feaza Abdel Mogib và cs đã phát hiện 2 trường hợp mang rối loạnNST về số lượng trong 73 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai ít nhất 2 lần: 1 trường hợpmang NST X đơn nhiễm ở thể khảm, 1 trường hợp mang NST X tam nhiễm [31]

1.4.4 Nguy cơ sinh sản của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh mang rối loạn nhiễm sắc thể

Khi nghiên cứu vai trò của rối loạn NST đến sảy thai liên tiếp và sinh con bị

dị tật một số tác giả đã nhật xét rằng: rối loạn NST làm giảm khả năng sinh sản ở cảnam giới và nữ giới Bố mẹ mang rối loạn NST sẽ có nguy cơ cao sinh ra những đứatrẻ dị tật Rối loạn NST được công nhận là nguyên nhân chính dẫn đến sảy thai sớm

Ở các cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp có khả năng mang rối loạn NST caohơn so với các cặp vợ chồng sinh con bình thường [19,44,57,58,66,90] Khoảng 7%các cặp vợ chồng sảy thai trên 2 lần có 1 trong 2 người mang rối loạn NST cânbằng Nếu người vợ hoặc người chồng mang rối loạn NST thì NST khó có thể ghépcặp và phân ly trong quá trình giảm phân hình thành giao tử Kết quả là giao tửmang NST rối loạn khi thụ tinh sẽ tạo ra hợp tử có bộ NST không cân bằng Sự rốiloạn NST này sẽ làm chết phôi hoặc bào thai đang phát triển đây là lý do dẫn đếnhiện tượng sảy thai tự nhiên liên tiếp Tuy nhiên một vài trường hợp bào thai mangNST không cân bằng tiếp tục phát triển cho đến khi sinh thì đứa trẻ mang nhiều dịtật bẩm sinh hoặc chậm phát triển trí tuệ [86]

Theo M Azim và cs (2003), những cặp vợ chồng mang bất thường NST có nguy

cơ cao có con mang rối loạn NST và là nguyên nhân chính dẫn đến sảy thai [17]

Trang 36

Trong một nghiên cứu của Maureen và cs (2006) khi phân tích kết quả sinhsản của các cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai từ 2 lần trở lên (đã phân tích NST) chothấy: 120/247 (49%) số lần sảy thai ở các cặp vợ chồng mang rối loạn NST trongkhi đó tỉ lệ này là 122/409 (30%) ở các cặp vợ chồng không mang rối loạn NST Cơhội để có một đứa con khoẻ mạnh ở những cặp vợ chồng mang rối loạn NST vàkhông mang rối loạn NST là như nhau mặc dù nguy cơ sảy thai ở những cặp vợchồng mang rối loạn NST cao hơn [60].

Cũng nghiên cứu về kết quả sinh sản của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp,Flynn H và cs năm 2013 đã cho thấy: trong 795 cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp có

nhóm không mang rối loạn NST là 28.1% Trong 28 cặp vợ chồng mang rối loạnNST có 159 ca mang thai và 36 ca sống Như vậy nghiên cứu này cũng cho thấy tỷ

lệ sinh được một đứa con khoẻ mạnh ở những cặp vợ chồng mang rối loạn NST làthấp và tỷ lệ sảy thai rất cao [34]

Tuy nhiên ảnh hưởng của các rối loạn NST lên khả năng sinh sản còn phụthuộc vào người vợ hay người chồng mang rối loạn và kiểu rối loạn, hơn nữa cònphụ thuộc vào sự kết hợp giữa người vợ và người chồng [94] Sau đây là một sốnghiên cứu của các tác giả trên thế giới về nguy cơ sinh sản của các cặp vợ chồngmang rối loạn NST

1.4.4.1 Nguy cơ sinh sản ở các cặp vợ chồng mang rối loạn nhiễm sắc thể

chuyển đoạn tương hỗ

Khi nghiên cứu khả năng sinh sản của các cặp vợ chồng mang chuyển đoạncân bằng Nair SB và cs đã chỉ ra có đến 80% thai kì bị sảy và chỉ có 16% dẫn đến

sự ra đời của một trẻ sơ sinh khỏe mạnh [67]

Phân tích NST của 136 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai trên 2 lần U.Diedrich và cs (1983) đã chỉ ra rằng chuyển đoạn NST số 1, 7 hoặc 22 có nhiều khảnăng dẫn đến sảy thai trong khi đó chuyển đoạn ở các NST khác ví dụ NST số 5, 9,

14, 21 có nhiều khả năng sinh ra trẻ bị dị tật [28]

Trang 37

Theo A L Zarina và cs (2006) sảy thai tự nhiên là hiện tượng phổ biếnchiếm tỉ lệ 1/8 các trường hợp mang thai Các tác giả cũng cho biết gần 5% cáctrường hợp sảy thai là do bố mẹ mang rối loạn NST chuyển đoạn cân bằng [99].

Yaliwal Laxmi V và cs đã báo cáo một trường hợp người vợ mang NSTchuyển đoạn tương hỗ giữa NST số 4 và số 13 có tiền sử 2 lần sảy ở 3 tháng đầu,lần thứ 3 sinh được một bé trai dị tật qua đời sau 1 tháng, lần thứ 4 sinh được bé gái

dị tật, lần thứ 5 chấm dứt thai ở tuần 13 do phát hiện bất thường ở thai, lần thứ 6sinh được bé gái bình thường Tác giả cho rằng việc mang NST chuyển đoạn cânbằng không gây thay đổi kiểu hình nhưng có thể làm tăng nguy cơ sảy thai và sinh

Bố mẹ mang chuyển đoạn hoà hợp tâm có thể sinh ra con cái mang dị tật sau:hội chứng Down, hội chứng Patau hoặc các dị tật khác Nếu cả bố và mẹ đều mangchuyển đoạn hoà hợp tâm thì việc có một đứa con bình thường là rất khó do tỷ lệhình thành lên NST không cân bằng rất cao [94]

Năm 2003, M Azim và cs đã phát hiện 16 cặp vợ chồng mang chuyển đoạnhoà hợp tâm Theo nhóm nghiên cứu thì những cặp vợ chồng mang chuyển đoạnhoà hợp tâm có nguy cơ sinh con mang rối loạn NST cao và cũng là nguyên nhânchính dẫn đến sảy thai [17]

Một cặp vợ chồng có tiền sử 11 lần sảy thai liên tiếp được Anil Biricik và cs(2004) phân tích NST và lập karyotyp Kết quả người chồng mang NST chuyển đoạnhòa hợp tâm giữa NST số 15 (thuộc nhóm D) với NST số 15 (thuộc nhóm D),karyotype là 45,XY,t(15q;15q), người vợ có karyotype bình thường 46,XX Khi phân

Trang 38

tích tinh trùng thấy dạng n+1 và n-1 và dẫn tới hình thành hợp tử lệch bội Sự bấtthường của giao tử và hình thành hợp tử lệch bội có lẽ là nguyên nhân chính dẫn đếnsảy thai Trong trường hợp này không có biện pháp hỗ trợ nào để có thể sinh con bìnhthường và lựa chọn duy nhất là đề nghị xin tinh trùng hoặc nhận con nuôi [15].

Trong nghiên cứu của Dubey và cs năm 2005 nhóm nghiên cứu đã phát hiện

chuyển đoạn hoà hợp tâm ở người mẹ thì có nguy cơ sinh sản cao hơn ở người bố.Cũng trong nghiên cứu này tác giả đã ước tính nguy cơ sảy thai ở các cặp vợ chồngmang chuyển đoạn hoà hợp tâm là 25 % [30]

Selim và cs năm 2013 phân tích khả năng sinh sản của 17 cặp vợ chồng mangchuyển đoạn hoà hợp tâm đã cho thấy nguy cơ sinh sản rất cao của các cặp vợ chồngnày Có tới 80% thai bị sảy, 11,1 % trẻ sinh ra còn sống và 8,9% thai chết lưu [83]

Nghiên cứu của Usha R.Dutta và cs năm 2010 cho thấy nguy cơ sinh sản trungbình là 12% nếu người vợ mang chuyển đoạn còn người chồng mang thì nguy cơ là 5%[97] Simona cũng kết luận rằng khi 1 cặp vợ chồng mang chuyển đoạn NST cân bằngthì nguy cơ sảy thai hay sinh con bị dị tật thường khoảng từ 1- 15% [86]

Các nghiên cứu được công bố trên tờ Unique 2005 cho biết: nếu người vợmang chuyển đoạn hòa hợp tâm thì nguy cơ sinh con mang dị tật bẩm sinh làkhoảng 1%, nguy cơ sảy thai hoặc thai lưu khoảng 10 – 15% và phụ thuộc vào kiểuchuyển đoạn hòa hợp tâm Trong khi đó nếu người chồng mang chuyển đoạn hòahợp tâm thì nguy cơ cho con thấp hơn khoảng dưới 1% [94]

Các kiểu chuyển đoạn hoà hợp tâm khác nhau có nguy cơ sinh sản khácnhau Mức độ rủi ro phụ thuộc vào NST có liên quan và phụ thuộc vào việc ngườichồng hay người vợ mang chuyển đoạn Rủi ro cao hơn đối với trường hợp chuyểnđoạn hoà hợp tâm xảy ra ở các NST tương đồng do sự hình thành lên các giao tửkhông cân bằng [79]

Mang chuyển đoạn hoà hợp tâm ở NST tương đồng số 13 (13q;13q) hoặc 21(21q;21q) chỉ có cơ hội sinh con nhưng bị dị tật với hội chứng Patau hoặc hội chứng

Trang 39

Down mà không thể cho ra đời những đứa con bình thường [50,89] Mang chuyểnđoạn hoà hợp tâm ở NST tương đồng số 14 (14q;14q) hoặc 15 (15q;15q) mang rủi

ro rất cao và họ không thể tạo ra được bất kì một đứa trẻ sống nào do giao tử khôngcân bằng và những phôi tạo ra có những khiếm khuyết NST không thể tương thíchvới cuộc sống trong tử cung Trong trường hợp này nguy cơ sinh sản cao tương tựcho cả hai giới [18]

1.4.4.3 Nguy cơ sinh sản ở các cặp vợ chồng mang rối loạn nhiễm sắc thể kiểu đảo đoạn

Đảo đoạn NST được coi là hình thức sắp xếp nhỏ trên NST không ảnh hưởngđến kiểu hình nhưng nhiều báo cáo đã đưa ra quan điểm rằng nó liên quan đến vôsinh, sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật [27] Một số tác giả đã quan sát thấynguy cơ cao sinh con mắc tam nhiễm NST 21 của những người mang đảo đoạn NST

số 9 [43,69]

Husslin P Huber J.Wagenbiehler P đã đưa ra nhận xét: đảo đoạn NST số 9 rấthay xảy ra trong các dạng rối loạn cấu trúc NST, tuy nhiên tác giả coi đó là một biếnđổi thông thường [47]

Theo nghiên cứu của Gardner và Sultherland vào năm 1996 thì những cặp vợchồng (người vợ hoặc người chồng) mang rối loạn NST số 9 có nguy cơ cao sinh racon cái mang NST không cân bằng 1 – 10% [41]

Năm 2007, Farcas và cs nghiên cứu 354 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liêntiếp đã phát hiện 10 nữ và 6 nam mang đảo đoạn NST số 9 Theo báo cáo này thìcác đảo đoạn NST có thể bị mất hoặc sắp xếp lại trong quá trình giảm phân dẫn tới

sự hình thành các giao tử và hợp tử không cân bằng có thể dẫn tới sảy thai hoặc sinhcon mang NST không cân bằng [86]

Nasrin Ghasemi và cs năm 2007 báo cáo trường hợp của hai cặp vợ chồngtrong đó 1 người mang đảo đoạn NST số 9 Trường hợp đầu tiên là cặp vợ chồngsảy thai liên tiếp (trong ba tháng đầu), xét nghiệm NST của người vợ cho kết quả là

46 XX,inv(9)(p11;q13) và NST của người chồng bình thường (46,XY) Cặp đôi thứhai vô sinh không rõ nguyên nhân: NST của người vợ bình thường (46XX), NST

Trang 40

của chồng là 46XY,inv(9)(p11;q13) Nghiên cứu này cho biết các đảo đoạn nhỏ cóthể dẫn tới sự tái tổ hợp gây chết hoặc bổ sung đoạn lớn đối với các trường hợp sảythai không được phát hiện ở đầu thai kì Nhiều trường hợp phôi mang NST cân bằngnhưng không phát triển được có thể chỉ tồn tại trong thời gian ngắn trước khi thửthai dương tính [68].

Mikelsen M và cs (1986) [62], Daniel A và cs (1989) [26] khi nghiên cứunguy cơ mang thai không cân bằng đã đưa ra nguy cơ sắp xếp lại NST không cânbằng ở thai 3 tháng đối với các trường hợp bố hoặc mẹ mang NST cân bằng Trong

đó, nguy cơ thai mang NST không cân bằng nếu người vợ mang đảo đoạn là 3,3%trong khi người chồng mang đảo đoạn thì tỉ lệ này là 0% nhưng tỉ lệ thai mang độtbiến NST cân bằng là 74-79%

1.5 Tình hình nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh ở Việt Nam

Nghiên cứu NST hiện nay là một mảng nghiên cứu quan trọng của ngành Yhọc di truyền và đang phát triển mạnh mẽ ở nước ta Những nghiên cứu về NST vừa

có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn nhằm xác định những rối loạn về sốlượng và cấu trúc NST liên quan đến các hiện tượng di truyền đang ngày càng đượctiến hành rộng rãi

Trong những năm gần đây, sự xuất hiện của các phòng xét nghiệm NST tạinhiều trung tâm tư vấn di truyền và các bệnh viên giúp cho việc chẩn đoán trước,trong và sau khi sinh những bệnh, hội chứng có liên quan đến rối loạn NST đượcthực hiện dễ dàng hơn

Năm 2002 Nguyễn Văn Rực và cs sử dụng phương pháp nhuộm băng G đãphân tích NST ở 30 cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh,kết quả đã phát hiện 8 trường hợp mang NST chuyển đoạn cân bằng [5]

Trịnh Văn Bảo và cs (2002) phân tích NST và lập karyotyp của 195 cặp vợchồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật Kết quả các tác giả đã phát hiện 4trường hợp mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm bao gồm 1 người vợ mang chuyểnđoạn giữa NTS số 13 (thuộc nhóm D) với NST số 13 (thuộc nhóm D), karyotyp là

Ngày đăng: 20/11/2020, 09:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w