Rác thải sinh hoạt nói chung hay chất thải sinh hoạt là những chất thải bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động sản xuất của con người và động vật,nguồn tạo thành chủ
Trang 1ĐAỊ HOC̣ QUÔ ́
Trang 2ĐAỊ HOC̣ QUÔ ́
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy côgiáo trong Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc giaHà Nội đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong thời gian học vừa qua
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo hướng dẫnchính PGS.TS Nguyễn Mạnh Khải - Phó chủ nhiệm Khoa Môi trường - Trường Đạihọc Khoa học Tự nhiên là người đã trực tiếp tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi hoànthành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môitrường, Tổng cục Môi trường đã giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành tốtviệc học
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới những bạn bè, đồng nghiệp đã động viênvà giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Học viên
Đỗ Mai Phương
1
Trang 4MỤC LỤC
BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan chung về chất thải sinh hoạt và xử lý chất thải sinh hoạt 3
1.1.1.Khái niệm chất thải sinh hoạt gia đình 3
1.1.2 Đặc điểm nguồn gốc và thành phần của chất thải sinh hoạt 3
1.1.3 Yêu cầu về quản lý chất thải sinh hoạt ở Việt Nam 5
1.1.4 Xử lý và tái sử dụng chất thải rắn ở các nước trên Thế giới 7
1.1.5 Xử lý và tái sử dụng chất thải rắn ở Việt Nam 11
1.2 Công nghệ khí sinh học 14
1.2.1 Thành phần khí sinh học và phụ phẩm khí sinh học 14
1.2.2 Bản chất của quá trình phân huỷ kỵ khí sinh mêtan 16
1.2.3.Hiện trạng phát triển công nghệ khí sinh học ở Việt Nam 22
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 29
2.2 Nội dung nghiên cứu: 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu: 29
2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu, kế thừa các nghiên cứu đã có 29
2.3.2 Phương pháp điều tra và khảo sát thực địa 29
2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu hoạt động của công nhân thu gom và khối lượng rác thu gom 29
Trang 52.3.4 Phương pháp phỏng vấn trực tiếp 30
2.3.5 Phương pháp xác định thành phần chất thải rắn tại hiện trường 31
2.3.6 Nghiên cứu khả năng hình thành khí sinh học từ chất thải sinh hoạt 31
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Hiện trạng chất thải rắn sinh hoạt đô thị tại Việt Nam 33
3.1.1 Tình hình phát sinh CTR sinh hoạt đô thị 33
3.1.2 Công tác phân loại, thu gom và vận chuyển 34
3.2 Hiện trạng chất thải rắn sinh hoạt tại Hà Nội 38
3.2.1 Các nguồn phát sinh CTRSH tại Hà Nội 39
3.2.2 Thành Phần CTRSH tại Hà Nội 40
3.2.3 Khối lượng CTR 41
3.3 Kết quả thực nghiệm xây dựng mô hình thu hồi khí sinh học từ chất thải sinh hoạt hộ gia đình 48
3.3.1 Thành phần chất thải hộ gia đình 48
3.3.2 Một số tính chất của chất thải hộ gia đình 49
3.3.3 Diễn biến biogas thu được sau thời gian ủ 51
3.3.4 Diễn biến biogas thu được tại thí nghiệm có bổ sung chất thải 53
3.4 Đề xuất phương án thu hồi khí sinh học từ quá trình xử lý chất thải sinh hoạt hộ gia đình tại khu vực nội thành Hà Nội 55
3.4.1 Cơ sở đề xuất 55
3.4.2 Đề xuất và lựa chọn phương án 57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
ii
Trang 6Khí sinh học
Ủy ban nhân dânChất thải rắnChất thải rắn sinh hoạt
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Điều kiện tối ưu cho quá trình tạo khí sinh học 18
Bảng 1.2 Thời gian lưu đối với phân động vật 20
Bảng 1.3 Tỷ lệ C/N của các nguyên loại nguyên liệu 20
Bảng 1.4 Hàm lượng chất khô của các loại nguyên liệu (%) 21
Bảng 3.1 Ước tính lượng CTR đô thị phát sinh đến năm 2025 33
Bảng 3.2 Chất thải rắn sinh hoạt từ các nguồn khác nhau tại phường Phan Chu Trinh 39
Bảng 3.3 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt tiếp nhận tại đầu vào tại các bãi chôn lấp chất thải rắn của thành phố Hà Nội 40
Bảng 3.4 Thống kê về khối lượng phát sinh và tỷ lệ thu gom rác thải trên địa bàn các huyện 43
Bảng 3.5 Thống kê các điểm tồn đọng trên địa bàn các huyện 45
Bảng 3.6 Các thông số đầu vào cho quá trình ủ 49
iv
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Nguồn gốc hình thành chất thải rắn sinh hoạt 4Hình 1.2 Chiến lược quản lý chất thải rắn 6Hình 1.3 Quá trình phân hủy kỵ khí tạo ra khí sinh học 17Hình 2.1 Sơ đồ hình thí nghiệm nghiên cứu khả năng hình thành khí sinh học từchất thải sinh hoạt 32Hình 3.1 Các công nghệ hiện đang được sử dụng để xử lý, tiêu hủy CTRSH đô thị
ở Việt Nam 38Hình 3.2 Thành phần chất thải từ hộ gia đình sau khi được tách loại tạp chất sửdụng trong hệ biogas 48Hình 3.3 Diễn biến lượng khí sinh học phát sinh theo thời gian của mẫu chất thảirắn có bổ sung chế phẩm (BCCP) và không bố sung chế phẩm (BKCP) 52Hình 3.4 Tổng lượng khí sinh học phát sinh theo thời gian của mẫu chất thải rắn có
bổ sung chế phẩm (BCCP) và không bố sung chế phẩm (BKCP) 52Hình 3.5 Diễn biến lượng khí sinh học phát sinh theo thời gian của mẫu chất thảirắn có bổ sung vật liệu hàng ngày không tuần hoàn bùn (KTHADD) và có tuầnhoàn bùn (BTHADD) 54Hình 3.6 Tổng lượng khí sinh học phát sinh theo thời gian của mẫu mẫu chất thảirắn có bổ sung vật liệu hàng ngày không tuần hoàn bùn (KTHADD) và có tuầnhoàn bùn (BTHADD) 55Hình 3.7 Sơ đồ phương án thu hồi khí sinh học từ CTR sinh hoạt hộ gia đình 58
Trang 9MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, trở thànhnhân tố tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Bên cạnh vấn đề vềlợi ích kinh tế - xã hội đã kéo theo sức ép về nhiều mặt, dẫn đến sự suy giảm chấtlượng môi trường và phát triển không bền vững Chính do tốc độ phát triển quánhanh, thiếu bền vững dẫn đến lượng chất thải phát sinh ngày càng lớn
Việt Nam là một trong những quốc gia có mật độ dân số cao nhất trên thếgiới với số dân đứng thứ 3 ở Đông Nam Á, thứ 14 trên thế giới Thu nhập bình quânđầu người của khu vực đô thị cao hơn 2 lần so với khu vực nông thôn Theo đánhgiá, tính bình quân đầu người, dân số đô thị sử dụng tài nguyên thiên nhiên gấp 2-3lần so với người dân sống ở nông thôn; chất thải do người dân đô thị thải ra cũngcao gấp 2-3 lần so với người dân nông thôn
Theo số liệu thống kê, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam ướctính khoảng 12,8 triệu tấn/năm, trong đó khu vực đô thị là 6,9 triệu tấn/năm (chiếm54%) lượng chất thải rắn còn lại tập trung tại các huyện lỵ, thị xã thị trấn Dự báotổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị đến năm 2020 sẽ là khoảng 22 triệutấn/năm [18]
Lượng chất thải sinh hoạt đang có xu hướng phát sinh ngày càng tăng nhanhnhưng việc quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt chưa hợp lý Việc xử lý rác thải sinhhoạt chủ yếu là việc chôn lấp nhưng có những bãi chôn lấp lại chưa hợp vệ sinh,chỉ là những nơi đổ rác không được chèn lót kỹ, không được che đậy, do vậy đangtạo ra sự ô nhiễm nặng nề tới môi trường đất, nước, không khí… ảnh hưởng trựctiếp đến sức khỏe cộng đồng Bên cạnh đó, do ý thức của người dân, việc tự ý đổbừa rác thải sinh hoạt xuống những sông, hồ, ao, khu đất trống vẫn thường xuyêndiễn ra tại nhiều nơi làm ô nhiễm môi trường nước và không khí
Thành phần trong chất thải sinh hoạt gồm: Rác hữu cơ (41,98%); Giấy(5,27%); Nhựa, cao su (7,19%); Len, vải (1,75%); Thủy tinh (1,42%); Đá, đất sét,sành sứ (6,89%); Xương, vỏ hộp (1,27%); Kim loại (0,59%); Tạp chất (10 mm):
1
Trang 1033,67% Qua đó thấy chất thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ chiếm tới 41,98%,
có thể tận dụng để tạo ra nguồn năng lượng sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày giúpgiảm ô nhiễm môi trường và thay thế một phần cho nhiên liệu hóa thạch [19]
Từ thực trạng trên, trong khuôn khổ luận văn tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng chuyển hóa chất thải sinh hoạt thành khí sinh học” với mục tiêu góp
phần đánh giá khả năng sinh biogas trong việc tận dụng chất thải từ hộ gia đình, chủyếu tập trung đối với chất thải rắn sinh hoạt Nội dung nghiên cứu bao gồm:
- Tổng hợp các nghiên cứu khoa học có liên quan;
- Tiến hành khảo sát thực địa để thu thập số liệu;
- Xây dựng mô hình thu hồi khí mê tan từ chất thải sinh hoạt hộ gia đình;
- Đánh giá lượng khí thu hồi
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan chung về chất thải sinh hoạt và xử lý chất thải sinh hoạt
1.1.1 Khái niệm chất thải sinh hoạt gia đình
Chất thải sinh hoạt gia đình (household waste) được hiểu là các chất thải phátsinh từ hoạt động sinh hoạt của gia đình bao gồm chất thải trong sinh hoạt, thải ra từquá trình chế biến thức ăn, chất thải từ các đồ dùng sinh hoạt và vật dụng trong giađình Chất thải này có thể bao gồm các loại như như chai lọ, lon, quần áo loại bỏ, đồdùng loại bỏ, bao bì thực phẩm, thức ăn thừa, báo, các tạp chí, và đồ trang trí có nguồngốc từ nhà hoặc căn hộ tư nhân Nó cũng có thể chứa chất thải nguy hại hộ gia đình.Chất thải sinh hoạt gia đình còn được gọi là chất thải sinh hoạt hoặc chất thải khu dân
cư Như vậy hàm ý của chất thải sinh hoạt gia đình (household waste) được ám chỉchủ yếu là các loại chất thải tồn tại ở dạng rắn từ các hộ gia đình [18]
Rác thải sinh hoạt nói chung hay chất thải sinh hoạt là những chất thải bị loại
ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động sản xuất của con người và động vật,nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâmdịch vụ, thương mại Rác thải sinh hoạt có thành phần bao gồm: kim loại, sành sứ,thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, thực phẩm dư thừa, gỗ, vải, giấy, rơm, rạ,xác động vật, vỏ rau củ quả… Sự khác biệt giữa chất thải sinh hoạt gia đình và chấtthải sinh hoạt nói chung là quy mô của nguồn phát sinh ra loại chất thải này [13]
Có rất nhiều các khái niệm về chất thải sinh hoạt nhưng có thể khái quátrằng, chất thải sinh hoạt là các vật chất phục vụ sinh hoạt của con người, bị loại bỏ
ra trong quá trình sử dụng, sinh hoạt, hoạt động sống của con người, chúng khôngcòn được sử dụng và bị loại bỏ lại môi trường sống
1.1.2 Đặc điểm nguồn gốc và thành phần của chất thải sinh hoạt
1.1.2.1 Nguồn gốc chất thải sinh hoạt
Chất thải rắn nói chung (rác thải) phát sinh từ các nguồn chủ yếu: các hộ giađình (nhà ở riêng biệt, khu tập thể, chung cư ); các trung tâm thương mại (chợ, văn
3
Trang 12phòng, khách sạn, trạm xăng dầu, gara ); cơ quan (trường học, bệnh viện, các cơquan hành chính ), các công trường xây dựng, dịch vụ công cộng (rửa đường, tusửa cảnh quan, công viên, bãi biển ) như được mô tả ở sơ đồ 1.
Hình 1.1 Nguồn gốc hình thành chất thải rắn sinh hoạt
Nguồn: [11,13]
Nguồn phát sinh chất thải rắn, thông thường, liên quan đến sử dụng đất vàđặc điểm của từng khu vực Thực tế có nhiều cách phân loại nguồn phát sinh chấtthải rắn, tuy nhiên có thể thấy cách chia phổ biến đối với nguồn phát sinh chất thảirắn thành các loại: (1) từ khu dân cư, (2) từ các khu thương mại, (3) từ các công sở,trường học, (4) từ các hoạt động xây dựng và phá hủy công trình, (5) từ các hoạtđộng dịch vụ, (6) từ khu dịch vụ khám chữa bệnh, (7) từ hoạt động công nghiệp, và(8) từ các hoạt động nông nghiệp
1.1.2.2 Thành phần rác thải sinh hoạt
Khác với rác thải, phế thải công nghiệp, rác thải sinh hoạt là một tập hợpkhông đồng nhất Tính không đồng nhất biểu hiện ngay ở sự không kiểm soát đượccác nguyên liệu ban đầu dùng cho thương mại và sinh hoạt Sự không đồng nhấtnày tạo nên một số đặc tính rất khác biệt trong các thành phần của rác thải sinhhoạt
Trang 13Thành phần chất thải sinh hoạt có thể bao gồm [3,4,11]:
- Các chất dễ phân hủy sinh học: Thực phẩm thừa, cuộng, lá rau, lá cây, xác động vật chết, vỏ hoa quả…;
- Các chất khó bị phân hủy sinh học: Gỗ, cành cây, cao su, túi nylon;
- Các chất hoàn toàn không bị phân hủy sinh học: Kim loại, thủy tinh, mảnh sành, gạch, ngói, vôi, vữa khô, đá, sỏi, cát, vỏ ốc hến…;
Thành phần hóa học: Trong các chất hữu cơ của rác thải sinh hoạt, thànhphần hóa học của chúng chủ yếu là nguyên tử H, O, N, S và tro
1.1.3 Yêu cầu về quản lý chất thải sinh hoạt ở Việt Nam
Quản lý chất thải rắn là vấn đề then chốt của việc đảm bảo môi trường sốngcủa con người cũng như đưa tới những giá trị lợi ích thu hồi Việc lập kế hoạchtổng thể quản lý chất thải rắn thích hợp là yêu cầu cần thiết để có thể xử lý kịp thờivà có hiệu quả vấn đề này Vì vậy, tất cả các địa phương trong cả nước đều phải cóhành động của mình và phải hoạch định thực hiện chính sách về quản lý chất thảirắn [11,18,19] Chính sách này gồm 3 nội dung chủ yếu:
- Giảm thiểu các chất thải rắn trong sản xuất, sinh hoạt;
- Thu hồi tái chế, tái sử dụng chất thải rắn;
- Xử lý các chất thải rắn
Đồng thời, xây dựng chiến lược quản lý chất thải rắn Đó là Reduce (giảmthiểu; Reuse (dùng lại); Recycle (tái chế) Validate (xử lý nâng cao giá trị của chấtthải) và Eliminate (xử lý thải bỏ) là biện pháp xử lý cuối cùng như hình 1.2
5
Trang 14Hình 1.2 Chiến lược quản lý chất thải rắn
Việc quản lý tài nguyên chất thải rắn nói chung, về cơ bản phải đảm bảo các
yêu cầu sau:
- Phải thu gom và vận chuyển hết chất thải Đây là yêu cầu đầu tiên, cơ bản
của việc xử lý chất thải nhưng còn đang gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi phải có nhiều cố
gắng khắc phục;
- CTR còn được phân loại tại nguồn phát sinh;
- Phải đảm bảo việc thu gom, xử lý có hiệu quả theo nguồn kinh phí nhỏ
nhất, nhưng lại thu được kết quả cao nhất Bảo đảm sức khỏe cho đội ngũ cán bộ, những
người lao động trực tiếp tham gia vào quá trình thu gom, vận chuyển, xử lý và tái chế
chất thải;
- Đưa các công nghệ và kỹ thuật, các trang thiết bị xử lý chất thải tiên tiến của
các nước vào sử dụng ở trong nước; đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và lao động
Trang 15có đầy đủ kiến thức, kinh nghiệm và lòng yêu nghề, có trách nhiệm với vấn đề quản
lý chất thải và bảo vệ môi trường;
- Phù hợp với cơ chế quản lý chung của Nhà nước theo hướng mở cửa; đadạng hóa, xã hội hóa công tác quản lý chất thải theo tinh thần Chỉ thị số
23/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 21/6/2005 về “Đẩy mạnh công tácquản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp”
1.1.4 Xử lý và tái sử dụng chất thải rắn ở các nước trên Thế giới
Xuất phát từ vấn đề bảo vệ môi trường, quản lý và xử lý phế thải đang được
cả thế giới quan tâm Xu hướng chung là áp dụng các công nghệ giảm thiểu chấtthải, tạo ra ít nhất các chất gây ô nhiễm, sử dụng ít năng lượng và nguyên liệu Cáccông nghệ tái chế phế thải ngoài mục đích tiết kiệm nguyên vật liệu, giảm giá thànhsản phẩm còn có ý nghĩa bảo vệ môi trường, tăng cường phát triển bền vững Bởi
lẽ mọi hoạt động của con người không thể không tạo ra chất thải, vì vậy xử lýchúng như thế nào để đảm bảo vệ sinh môi trường và chi phí xử lý thấp nhất đượcđặt ra như một vấn đề sống còn của nhân loại
Để xử lý phế thải, tùy thuộc vào tính chất của chúng có thể áp dụng mộttrong ba phương pháp sau [8,11,19]:
Trang 16- Chế biến chất thải làm phân bón;
- Ủ rác để thu hồi khí sinh học
* Khái quát về phương pháp thiêu đốt
Xử lý CTR bằng phương pháp thiêu đốt (còn gọi là phương pháp nhiệt) làgiai đoạn xử lý cuối cùng được áp dụng cho một số loại CTR nhất định khôngđược xử lý bằng các biện pháp khác Trong điều kiện oxy hóa nhiệt độ cao với sự
có mặt của oxy trong không khí, trong đó có CTR độc hại được chuyển hóa thànhkhí, nhiệt, chất lỏng, tro và các chất thải rắn không cháy khác Các chất khí đượclàm sạch hoặc không được làm sạch thoát ra ngoài không khí Chất thải rắn khôngcháy và phần tro sau khi đốt được đem đi chôn lấp
Khi xử lý bằng phương pháp thiêu đốt sẽ sinh khí độc và dễ sinh dioxin nếugiải quyết xử lý rác không tốt Phần xử lý khói bụi là phần đắt nhất trong công nghệđốt rác, kinh nghiệm cho thấy giá thiết bị xử lý khói bụi chiếm tới 40% - 60% giáthành lò đốt
Năng lượng phát sinh có thể tận dụng cho lò hơi, hệ thống lò sưởi hoặc cungcấp nhiệt cho công nghiệp năng lượng (phát điện) Mỗi lò đốt phải được trang bịmột hệ thống xử lý khí thải rất tốn kém, nhằm khống chế ô nhiễm không khí do quátrình đốt gây ra
Xử lý rác bằng phương pháp đốt có ý nghĩa quan trọng, làm giảm thể tích tớimức nhỏ nhất cho khâu xử lý cuối cùng (chôn lấp) nếu xử lý công nghệ tiên tiếncòn có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ môi trường Đây là phương pháp xử lý ráctốn kém nhất, so với phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh thì chi phí để đốt 1 tấn ráccao hơn khoảng từ 10 đến 15 lần; so với phương pháp chế biến phân compost caohơn khoảng 8 - 10 lần [19]
Một trong những thách thức hiện nay đối với xử lý rác thải tại Việt Nam làthiếu chỗ chôn lấp Đến đầu năm 2012, Hà Nội sẽ không còn chỗ đổ rác Mỗi ngàyHà Nội có 5.000 tấn chất thải rắn sinh hoạt và khối lượng rác tăng trung bình
Trang 1715%/năm ở thành phố này Ở thành phố Hồ Chí Minh, mỗi ngày cũng phát sinh7.000 tấn rác và tiêu tốn 235 tỷ đồng để xử lý rác mỗi năm Phần lớn rác thải đượcchôn lấp với công nghệ xử lý thô sơ nên phải đối mặt với vấn đề xử lý nước rỉ rác.Tuy có nhiều nhược điểm song chôn lấp vẫn được lựa chọn bởi giá thành thấp.Nhưng với tốc độ phát sinh rác như hiện nay, tìm kiếm chỗ chôn lấp quả thật làmột thách thức Trong khi quỹ đất tính trên đầu người của Việt Nam rất thấp (chỉhơn Singapore, Hong Kong), rác thải ngày càng nhiều thì lâu dài chúng ta cần đầu
tư cho công nghệ xử lý rác [46]
Việc áp dụng công nghệ đốt rác để tái tạo năng lượng sẽ giúp giảm đến 8 lầndiện tích chôn lấp Thay vì cần 20.000 ha như hiện nay, chúng ta chỉ cần 2.000 halà có thể không lo việc chôn lấp trong 100 năm tới Với 18.000 ha thừa, chúng ta cóthể sinh lợi nhuận cao Tuy nhiên, chỉ nên áp dụng công nghệ này với các thành phốlớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh vì đây là hai địa phương rác khối lượng lớn và chấtlượng phù hợp [47]
Theo Nguyễn Trung Việt, Trưởng Phòng Quản lý chất thải rắn, Sở Tàinguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, rất khó đánh giá chính xáckhối lượng và thành phần chất thải công nghiệp, chất thải nguy hại bởi rất thiếu sốliệu Phải biết chính xác thành phần, khối lượng rác mới tính toán được hiệu quảcủa việc đốt rác Hơn nữa, rác ở nước ta được “tận thu” khá kỹ lượng qua hệ thốngbuôn bán đồng nát Các loại rác phát sinh nhiều nhiệt lượng phần lớn đã được thugom
* Khái quát về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh:
Bãi chôn lấp CTR hợp vệ sinh là bãi dùng để chôn lấp an toàn, tin cậy và lâudài các loại CTR không thể tái chế, thu hồi, các phần còn lại dư thừa sau tái chếCTR và tro lò đốt; với các lớp chống thấm kỹ thuật ở thành và đáy bãi; hệ thống thugom và xử lý nước rác; khí rác; lớp đất phủ trung gian và phủ bề mặt; các kỹ thuậtđầm nén… [11,18,19]
9
Trang 18Bãi chôn lấp CTR thường được thiết kế và vận hành trong thời gian ít nhấtlà 5 năm, thường từ 20 - 30 năm; đối với các đô thị lớn (đô thị loại 1 và đô thị loạiđặc biệt) là 50 năm [2].
Bãi chôn lấp CTR bao gồm một hay nhiều ô rác, mỗi ô rác được thiết kế saocho có thể tiếp nhận để chôn lấp CTR trong thời gian từ 1 đến 3 năm, mỗi ô chônlấp cần được thiết kế đặc biệt, có hệ thống chống thấm kỹ thuật ở thành và đáy bãi,
hệ thống thu gom nước rác và khí rác, kỹ thuật chôn lấp và đầm nén… Trong bãichôn lấp có thể thiết kế riêng 1 hoặc 2 ô để chôn lấp chất thải nguy hại: Ô chôn lấpCTR nguy hại công nghiệp và ô chôn lấp CTR y tế [2,11,13]
Quy hoạch, thiết kế, xây dựng và vận hành bãi chôn lấp CTR hợp vệ sinhphải tuân thủ theo các nguyên tắc nghiêm ngặt, áp dụng các kiến thức khoa học kỹthuật, công nghệ, kinh tế - xã hội
Các yếu tố cần xem xét khi quy hoạch, thiết kế và vận hành bãi chôn lấpCTR là: (1) Xác định vị trí và quy hoạch bãi chôn lấp CTR; (2) Quản lý và vậnhành bãi chôn lấp; (3) Quá trình chuyển hóa trong bãi chôn lấp; (4) Quản lý khí rác;(5) Quản lý nước rác; (6) Giám sát và quan trắc môi trường khu vực bãi chôn lấp và khu vực lân cận; (7) Đóng cửa bãi chôn lấp [18]
* Khái quát phương pháp xử lý sinh học chất thải rắn, công nghệ sản xuất phân Compost:
Quá trình phân hủy vật chất hữu cơ thường diễn ra trong điều kiện hiếu khí aerobic (có oxy), kỵ khí hay yếm khí - anaerobic (không có oxy) như quá trình phânhủy bùn cặn trong bể phốt và thiếu oxy (anôxic) dưới sự tham gia của vi sinh vật,đồng thời trong thực tế cũng có các loại vi khuẩn hiếu khí (cần ôxy), kỵ khí (sốngkhông cần có oxy) và anôxic (thiếu oxy) hay còn gọi là vi khuẩn tùy tiện Đối vớiCTR hữu cơ, ủ sinh học trong điều kiện hiếu khí để sản xuất phân compost đượcxem là hiệu quả nhất [12,14,17]
-Các phương pháp ủ sinh học: Ủ sinh học (compost) có thể được coi là quátrình ổn định sinh hóa các chất hữu cơ để tạo thành các chất mùn, với quy trình sản
Trang 19xuất, thao tác và kiểm soát chặt chẽ các yếu tố như: nhiệt độ, độ ẩm, hàm lượngoxy, tỷ lệ C/N, độ pH, mức độ xáo trộn, thành phần và kích thước vật liệu nhằm tạo
ra môi trường tối ưu đối với quá trình
* Khái quát phương pháp ủ chất thải rắn để thu hồi khí sinh học:
Khí sinh học (KSH) là hỗn hợp khí được sinh ra từ sự phân hủy những chấthữu cơ dưới tác động của vi khuẩn trong môi trường yếm khí, trong đó thành phầnchủ yếu là khí mêtan (CH4)
Dùng công nghệ vi sinh để phân hủy rác, thu khí mêtan làm khí đốt chạymáy phát điện, hoặc sử dụng vào mục đích năng lượng khác [9,11,14]
1.1.5 Xử lý và tái sử dụng chất thải rắn ở Việt Nam
1.1.5.1 Hiện trạng chất thải rắn ở Việt Nam
Trong những năm qua lượng chất thải rắn (CTR) ở nước ta tăng nhanh, tuynhiên công tác quản lý và xử lý chưa theo kịp Nhiều khu xử lý, bãi chôn lấp CTRlại trở thành những điểm gây ô nhiễm nghiêm trọng, khiến người dân bức xúc.Nhiều nhà máy, khu xử lý CTR khi đi vào hoạt động luôn gặp sự cố, “đầu ra”(lượng chất thải phải chôn lấp, nước thải, khí thải) không đảm bảo
Theo Báo cáo Hiện trạng môi trường Việt Nam 2010 [3]: từ 2003 - 2008bình quân CTR tăng 150 - 200%; Tổng lượng CTR phát sinh ở đô thị (2008)khoảng 35.100 tấn/ngày, ở nông thôn 24.900 tấn/ngày, trong đó CTR công nghiệpkhoảng 13.100 tấn/ngày; CTR y tế 490 tấn/ngày
Hiện nay, CTR sinh hoạt đô thị chủ yếu được “xử lý” bằng chôn lấp Hiện cảnước có 98 bãi chôn lấp nhưng chỉ có 16 bãi chôn lấp hợp vệ sinh Theo Quyếtđịnh 64/2003/QĐ-TTg, cả nước có 52 bãi rác gây ô nhiễm nghiêm trọng và giaocho bộ Xây dựng chủ trì xử lý trong giai đoạn 2003 - 2012, tuy nhiên đến 2011 chỉmới 20 cơ sở được chứng nhận hoàn thành khắc phụ ô nhiễm Gần đây C49 pháthiện nhiều bãi chôn lấp CTR thông thường còn chôn cả CTR nguy hại [3]
11
Trang 20Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này nhưng chủ yếu là do ý thứccủa người dân và công nghệ tái chế chất thải của nước ta còn chưa cao, các khâutrong chu trình tái chế chưa đồng bộ và chưa tạo ra các sản phẩm, mặt hàng có giátrị tốt.
Trong khi đó nhiều địa phương lựa chọn con đường đi đầu tư công nghệ xử
lý CTR từ A đến Z, CTR không cần phân loại Nhiều tỉnh, thành phố áp dụng côngnghệ trong nước (Chủ yếu công nghệ Seraphin, An sinh - ASC) như Nhà máy rácThủy Phương - Thừa Thiên Huế, Đông Vinh - Thành phố Vinh, Sơn Tây - Hà Nội,Rạch Giá - Kiên Giang, Thanh Hóa - Long An, Củ Chi - Thành phố Hồ Chí Minh,
… Một số địa phương khác áp dụng công nghệ ngoại nhập: Nhà máy Phước Hiệp Thành phố Hồ Chí Minh, Tràng Cát - Hải Phòng, Thanh Liêm - Hà Nam, Hà Tĩnh,Trảng Dài - Đồng Nai…[3]
-Nhìn chung, công nghệ này xử lý được rác chưa qua phân loại, tái chế tạonguyên liệu hoặc sản phẩm có ích, có hệ thống xử lý nước thải, giám sát môi trường…một số nhà máy xử lý CTR đạt hiệu quả cao Đặc biệt, công nghệ Seraphin và An SinhASC đã được Chính phủ khuyến khích các địa phương ưu tiên áp dụng Tuy nhiên,khối lượng rác phải chôn lấp của nhiều nhà máy vẫn chiếm trên 50%, nước rỉ rác vàmùi hôi chưa được quan tâm xử lý đúng mức, sản phẩm tái chế như phân compost,gạch, bê tông… chất lượng chưa cao, cạnh tranh kém [3]
1.1.5.2 Công nghệ tái chế/ thu hồi tài nguyên từ quá trình xử lý
Các công nghệ xử lý, tái chế CTR đô thị đang áp dụng ở Việt Nam là: (1)Công nghệ Seraphin; (2) Công nghệ An Sinh - ASC và (3) Công nghệ MBT -
CD.08 - Công nghệ xử lý rác thải thành nhiên liệu [8]
a Công nghệ Seraphin
Công nghệ Seraphin tái chế chất thải bằng thiết bị cơ khí và áp lực cho 3dòng sản phẩm:
Trang 21- Chất thải rắn đô thị loại hữu cơ có khả năng phân hủy cao chế biến thành phân compost;
- Phế thải nhựa dẻo, phế thải trơ thành nguyên liệu hạt nhựa SERAPHIN
để sản xuất một số sản phẩm hữu dụng như tấm cốppha, ống thoát nước, xô chậu đựngvữa và vật liệu xây dựng, bát đựng mủ cao su;
- Gạch, đá, đất cát, sành sứ, tạp chất bẩn khác được đóng rắn áp lực cao tạothành gạch block, dải phân cách giao thông
Công nghệ này đang được triển khai, áp dụng tại nhà máy Xuân Sơn - Sơn Tây và một số nhà máy khác
b Công nghệ An Sinh – ASC
Công nghệ An Sinh - ASC xử lý rác thải đô thị cho 2 dòng sản phẩm [48]:
- Chất thải đô thị có thành phần hữu cơ để sản xuất phân compost;
- Nguyên liệu hỗn hợp nhựa dẻo để sản xuất các loại ống thoát nước, tấm sàn, vách ngăn…
Theo công nghệ này lượng CTR còn lại không thể tái chế, thu hồi phải chônlấp chỉ chiếm khoảng 10 %
Công nghệ này hiện đang triển khai áp dụng tại nhà máy xử lý rác ThủyPhương, tỉnh Thừa Thiên Huế
c Công nghệ MBT - CD.08 - Xử lý rác thải thành nhiên liệu
Công nghệ này do Công ty TNHH Thủy Lực và Máy ứng dụng nghiên cứu,chế tạo Đây là công nghệ xử lý CTR sinh hoạt, hạn chế chôn lấp đối với loại CTRchưa qua phân loại tại nguồn [49]
Công nghệ này có tính linh hoạt cao, tạo ra nhiều lựa chọn sản phẩm tái chế
từ các nguyên liệu trong rác thải Có thể dùng sản xuất phân compost, sản xuất
13
Trang 22nhiên liệu tái tạo từ các chất thải hữu cơ và nhiên liệu công nghiệp từ các chất thải hỗn hợp, nhiều thành phần khác…
- Chất cháy được tái chế thành viên nhiên liệu (Bao gồm tất cả các vật chấtcháy được không còn xà bần)
- Chất vô cơ được tái chế thành gạch xỉ (bao gồm tất cả các vật chất không cháy được không còn thủy tinh sành sứ hay đất cát)
- Tách loại tự động tới 98 % nylon ra khỏi rác hỗn hợp (bán tái chế nhựa)
- Tách loại tự động 100% kim loại ra khỏi rác hỗn hợp (bán tái chế kimloại)
- Một số lượng rất ít rác độc hại như pin cũng được tách từ tự động, đóng rắn thành khối cùng với kim loại sẽ được tiêu hủy trong lò nấu thép
- Sử dụng rất ít công nhân tiếp xúc trực tiếp với rác trong dây chuyền: 4 - 6người/dây chuyền phân loại
- Xử lý và tái chế triệt để 100% rác đầu vào, không chôn lấp
- Nước rác được thu vào bể xử lý và được dùng để hồi ẩm cho tháp xử lý sinh học nên không có nước rỉ rác
- Khí thải được hút thu tự động trên toàn dây chuyền xử lý, được xử lý hóa học - Không phát tán ra ngoài
- Một số lượng nhỏ lốp cao su, giày da được nghiền nhỏ và tái chế thành các tấm cao su trải sàn công nghiệp (hoặc đốt tận dụng nhiệt sấy khô viên nhiên liệu)
Tất cả các vật chất có trong rác thải được xử lý và tái chế 100% thành cácsản phẩm hữu ích (không còn % nào phải chôn lấp) Các sản phẩm rác từ công nghệ
MBT - CD.08 có thị trường rộng Đây là nguồn thu đáng kể để tái sản xuất cho nhà
máy xử lý rác
1.2 Công nghệ khí sinh học
1.2.1 Thành phần khí sinh học và phụ phẩm khí sinh học
Trang 23* Khí sinh học:
Khí sinh học (KSH) là khí được sinh ra từ quá trình phân hủy các chất thảiđộng vật và thực vật trong môi trường không có oxy (phân hủy kỵ khí) Trong tựnhiên, KSH sinh ra ở đầm lầy, dưới đáy ao, hồ, ruộng ngập nước sâu hoặc trong bộmáy tiêu hóa của động vật KSH là một hỗn hợp khí, trong đó thành phần chủ yếu làmêtan (CH4) và cacbonic (CO2) [50]
Thành phần của KSH phụ thuộc vào loại nguyên liệu tham gia vào quá trìnhphân giải và các điều kiện trong quá trình đó như nhiệt độ, pH, hàm lượng nước…Thông thường, thành phần của KSH gồm 50 - 70 % metan (CH4), 30 - 45% khícacbonic (CO2) và một lượng nhỏ các khí khác như hydro (H2), hydro sulfua(H2S), oxit cacbon (CO) và nitơ (N2) [14,15,17,40]
* Phụ phẩm khí sinh học:
Phụ phẩm KSH là sản phẩm ở dạng lỏng và rắn của quá trình phân giải cơchất, gồm 3 phần: nước xả, bã cặn và váng:
- Nước xả: là chất lỏng xả ra khỏi bể phân giải;
- Bã cặn: là chất đặc lắng đọng ở dưới đáy bể phân giải;
- Váng: là chất đặc nổi lên bề mặt dịch phân giải trong bể
Thành phần hóa học và dinh dưỡng của phụ phẩm KSH gồm: 93% nước,7% chất khô (trong đó có 4,5% là hợp chất hữu cơ và 2,5% là các chất vô cơ).Thành phần chính của phụ phẩm KSH bao gồm:
- Những chất hữu cơ ở thể rắn (chất mùn);
- Chất dinh dưỡng dễ hòa tan (có đặc tính làm phân bón và có tác dụng cảitạo đất);
- Các nguyên tố vi lượng (Cu, Zn, Fe, Mn…);
- Những tế bào mới hình thành trong quá trình phân giải
15
Trang 24Hàm lượng đạm dễ tiêu trong bã cặn chiếm khoảng 60% N tổng số Cácnghiên cứu của Viện Chăn nuôi quốc gia cũng cho biết hàm lượng các kim loạinặng trong nước xả đều thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn Việt Nam dành cho nướcsinh hoạt.
1.2.2 Bản chất của quá trình phân huỷ kỵ khí sinh mêtan
Các chất thải được phân hủy nhờ các vi sinh vật trong điều kiện kỵ khí(không có oxi) Quá trình này được phân chia thành 3 giai đoạn chính[14,15,17,36]:
a Giai đoạn thủy phân
Ở giai đoạn đầu một nhóm vi khuẩn biến đổi các chất hữu cơ phức tạp,không tan trong nước như xenlulozo, licnin… thành các chất hữu cơ đơn giản và tanđược như glucozo Giai đoạn này được gọi là thủy phân và các vi khuẩn tham gia đượcgọi là vi khuẩn thủy phân
Các nhóm vi sinh vật đầu tiên tham gia vào quá trình thủy phân carbonhydrat, lipid và protein để tạo ra các thành phần đơn giản hơn là đường, axit béo vàcác axit amin
b Giai đoạn sinh axit
Các chất đơn giản được sinh ra ở giai đoạn đầu bị phân giải thành các axithữu cơ có phân tử lượng nhỏ hơn như axit axetic, axit propionic, axit butyric… cácaldehyt, rượu và một số loại khí như N2, H2, CO2, NH3… Giai đoạn này được gọilà giai đoạn sinh axit và các vi khuẩn tham gia được gọi là vi khuẩn sinh axit để tạo
ra axit carbonic, rượu, H2, CO2, NH3 Tiếp đến là quá trình sinh axeton để tạo raaxit axetic, H2, CO2
Các vi khuẩn thủy phân và sinh axit là kỵ khí không bắt buộc Chúng pháttriển tương đối nhanh Các phản ứng thủy phân và sinh axit xảy ra một cách nhanhchóng và đồng bộ trong cùng một pha là pha axit (gồm 2 giai đoạn: thủy phân vàsinh axit) Ở giai đoạn này do sinh nhiều axit nên pH của môi trường giảm mạnh
Trang 25c Giai đoạn sinh mêtan
Đây là giai đoạn các axit hữu cơ và các hợp chất đơn giản là sản phẩm củagiai đoạn 2 được biến thành khí CH4, H2S, H2, CO2… Giai đoạn này được gọi làgiai đoạn sinh mêtan, xảy ra do tác động của các vi khuẩn gọi là vi khuẩn sinhmêtan gồm 2 nhóm: nhóm ưa ấm với nhiệt độ thích hợp nhất là 37 - 41oC và nhóm
ưu nhiệt với nhiệt độ thích hợp nhất là 50 - 52oC Khi lên men chúng có thể nângnhiệt độ cơ chất lên đến 70oC
Sự phân chia các giai đoạn như trên chỉ mang tính quy ước, trong vận hànhthực tế của các hệ thống KSH toàn bộ các quá trình hóa học của cả 3 giai đoạn hoạtđộng cùng một lúc và đồng bộ với nhau: sản phẩm sinh ra ở giai đoạn 1 sẽ được các
vi khuẩn sử dụng hết ngay ở giai đoạn 2, tiếp theo toàn bộ sản phẩm sinh ra ở giaiđoạn 2 sẽ được vi khuẩn sinh mêtan của giai đoạn 3 sử dụng để tạo thành hỗn hợp KSH
Cứ như vậy các phản ứng sản xuất KSH hoạt động liên tục và đồng bộ như một dâychuyền sản xuất Sau khi đạt trạng thái cân bằng thì pH của môi trường đạt trung tính (pH
= 7) Nếu vì một lý do nào đó mà một mắt xích trong chuỗi dây chuyền bị trục trặc sẽ ảnhhưởng nghiêm trọng đến sản lượng KSH được sinh ra Chẳng hạn ở giai đoạn 2 khi axitsinh ra quá nhiều mà vi khuẩn sinh mêtan không kịp tiêu thụ hết thì pH giảm nhanh, môitrường axit làm kìm hãm mạnh, thậm chí có thể tiêu diệt cả các vi khuẩn trung tính làmgiảm khả năng sinh mêtan
điôxít
axít
Hình 1.3 Quá trình phân hủy kỵ khí tạo ra khí sinh học
Trang 2617
Trang 27Quá trình sản sinh ra KSH chịu ảnh hưởng của các yếu tố chủ yếu sau đây:nhiệt độ, pH, thời gian lưu, loại nguyên liệu, tỷ lệ carbon và nitơ (C/N), hàm lượngchất khô, các độc tố, khuấy đảo.
Các giá trị tối ưu đối với quá trình sản sinh KSH thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.1 Điều kiện tối ưu cho quá trình tạo khí sinh học
15oC thì thiết bị không còn hiệu quả kinh tế nữa
Quá trình sinh mêtan rất nhạy cảm với sự biến đổi nhiệt độ Sự tăng giảmnhiệt độ vượt quá giới hạn 1oC/giờ sẽ làm giảm tốc độ sinh khí rõ rệt
Đối với các thiết bị xây ngầm dưới đất, sự thay đổi nhiệt độ giữa ngày vàđêm không ảnh hưởng lớn vì nhiệt độ của dịch phân giải biến đổi theo nhiệt độ của
18
Trang 28đất Ở độ sâu từ 1m trở xuống thực tế nhiệt độ của đất thay đổi không đáng kể Dovậy xây thiết bị KSH ngầm dưới đất giữ nhiệt độ ổn định tốt hơn.
* pH:
Quá trình phân giải kỵ khí có thể xảy ra trong giới hạn pH từ 6,2 - 8,5 Vượt
ra ngoài giới hạn này, quá trình phân giải kỵ khí sẽ ngừng lại Giá trị tối ưu của pHlà 6,8 - 7,5
* Thời gian lưu:
Thời gian lưu là thời gian nguyên liệu được lưu giữ trong thiết bị Trongthời gian này nguyên liệu phân giải và KSH sinh ra có thể thu được
Đối với thiết bị nạp thường xuyên hàng ngày, thời gian lưu được tính theocông thức sau:
T = Vd/LTrong đó: T là thời gian lưu
Vd là thể tích phân giải
L là lượng nạp hàng ngàyVới các thiết bị KSH thông thường không được cung cấp nhiệt để giữ nhiệtđộ ổn định ở giá trị tối ưu, muốn nguyên liệu phân giải hoàn toàn phải tới hàngtrăm ngày Do vậy thiết bị phải có thể tích chứa nguyên liệu rất lớn Tuy nhiên tốcđộ sinh khí chỉ cao ở giai đoạn đầu, càng về sau càng giảm dần Do vậy người tachọn thời gian lưu tương ứng với giai đoạn tốc độ sinh khí cao để giảm thể tích bểphân giải và đạt hiệu quả kinh tế cao
Như trên đã thấy, tốc độ sinh khí phụ thuộc nhiệt độ Nhiệt độ càng cao thìtốc độ sinh khí càng lớn Vì vậy người ta chọn thời gian lưu theo nhiệt độ của địaphương về mùa đông để đảm bảo trong điều kiện ít thuận lợi nhất thiết bị vẫn hoạtđộng hiệu quả Ở Việt Nam, ta chọn thời gian lưu ít nhất phải bằng giá trị trongbảng sau :
Trang 29Bảng 1.2 Thời gian lưu đối với phân động vật
Vùng Nhiệt độ trung bình về mùa đông ( o C) Thời gian lưu (ngày)
ra chậm, thậm chí ngừng trệ
Bảng 1.3 Tỷ lệ C/N của các nguyên loại nguyên liệu
Nguồn: [33, 40]
Chất thải động vật có tỷ lệ C/N thích hợp Nguyên liệu thực vật có tỷ lệ C/Ncao, nguyên liệu càng già thì tỷ lệ này càng cao Do đó nên dùng thực vật phối hợpvới chất thải động vật
20
Trang 30* Hàm lượng chất khô:
Hàm lượng KSH thu được từ các loại nguyên liệu khác nhau phụ thuộc vàohàm lượng chất khô của chúng Hàm lượng chất khô thường được biểu thị bằng %của tổng khối lượng nguyên liệu Bảng sau đây biểu thị hàm lượng chất khô củacác loại nguyên liệu:
Bảng 1.4 Hàm lượng chất khô của các loại nguyên liệu (%)
Nguồn: [33, 40]
Trong các thiết bị KSH hoạt động theo kiểu nạp liên tục hàng ngày, quá trìnhphân hủy sinh metan xảy ra thuận lợi nhất khi môi trường có hàm lượng chất khôtối ưu vào khoảng 5 - 10%
Bảng trên cho thấy nguyên liệu ban đầu có hàm lượng chất khô cao hơn giátrị tối ưu nên khi nạp vào thiết bị KSH cần phải pha thêm nước Tùy theo hàmlượng chất khô của nguyên liệu, tỷ lệ nước pha loãng thích hợp đối với chất thảiđộng vật là 1 - 2 lít/kg, đối với phân nguyên là 3 - 4 lít/kg
* Khuấy đảo:
Khuấy đảo dịch phân giải làm cho nguyên liệu mới nạp tiếp xúc được với vikhuẩn khiến các phản ứng xảy ra mạnh hơn Khuấy đảo cũng có tác dụng hạn chếhình thành váng Vì vậy khuấy đảo có tác dụng làm tăng năng suất sinh khí Khuấyđảo mỗi ngày vài lần, mỗi lần khoảng 10 - 15 phút
Trang 31* Các độc tố:
Các chất kháng sinh, chất sát trùng vệ sinh chuồng trại, thuốc trừ sâu, nướcxà phòng… có thể ức chế hoạt động của vi khuẩn, ảnh hưởng xấu đến quá trìnhsinh mêtan
1.2.3 Hiện trạng phát triển công nghệ khí sinh học ở Việt Nam
1.2.3.1 Quá trình phát triển công nghệ khí sinh học ở Việt Nam [7]
Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi nói riêng và ngànhkinh tế nói chung, công nghệ KSH đã phát triển để đáp ứng nhu cầu về môi trường vànăng lượng KSH được bắt đầu nghiên cứu và ứng dụng từ những năm 1960
Năm 1964, hầm ủ KSH đầu tiên của Việt Nam được xây dựng tại Bắc Thái.Một số hầm ủ khác cũng được tiếp tục xây dựng sau đó nhưng chỉ vận hành đượcmột thời gian phải ngừng hoạt động vì một số vấn đề công nghệ và kinh nghiệmquản lý
Ở miền Nam Việt Nam, năm 1960 Nha Khảo cứu và Nông lâm súc của chínhquyền Sài Gòn có thí nghiệm biện pháp sản xuất khí mêtan từ phân động vật, nhưng doviệc nhập khẩu ồ ạt các loại khí đốt như Butan, Propan và phân hóa học nên việc nghiêncứu đã không tiếp tục được thực hiện
Mặc dù bắt đầu được nghiên cứu ứng dụng từ những năm 1960 ở cả 2 miền(Bắc, Nam) nhưng KSH vẫn chưa được phát triển Sau khi đất nước thống nhấtnăm 1975, do nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ khủng hoảng nănglượng quốc tế, KSH lại được chú ý dưới góc độ năng lượng
Năm 1976, Viện Năng lượng khởi động dự án “Nghiên cứu sản xuất KSH” tậptrung vào thiết kế, phát triển và thử nghiệm các hầm ủ KSH Thiết bị sản xuất KSHđược lựa chọn để thử nghiệm ban đầu thuộc loại nắp nổi bằng tôn, bể phân hủy xâybằng gạch và cổ bể có gioăng nước để giữ kín khí được tích trong nắp chứa khí Tuynhiên, những công trình này đã phải bỏ dở vì những lý do kỹ thuật và quản lý
22
Trang 32Tới cuối năm 1979, công trình KSH ở nông trường Sao Đỏ (Mộc Châu, SơnLa) có thể tích phân hủy là 27m3 đã hoàn thành và hoạt động tốt Kết quả này lànguồn cổ vũ khích lệ lớn đối với cán bộ nghiên cứu, những nhà quản lý và ngườidân, đặt cơ sở cho việc triển khai tiếp tục công nghệ KSH sau này.
Từ năm 1981 đến 1990, công nghệ KSH đã trở thành một trong những lĩnh vực
ưu tiên trong chương trình nghiên cứu nhà nước về năng lượng mới Sau này có một
số kiểu thiết bị KSH nắp cố định vòm cầu bằng compozit của Trung tâm phát triểnnông thôn và thiết bị KSH hình hộp chữ nhật của VACVINA cũng được đưa vào ứngdụng ở một số địa phương Năm 1996, Chương trình quốc gia về nước sạch và vệ sinhmôi trường nông thôn phát triển KSH thông qua Trung tâm tư vấn hỗ trợ phát triểnnông thôn Tổ chức này phát triển loại thiết bị nắp cố định có vòm cầu làm bằngcompozit hoặc xi măng lưới thép đặt trên phần hình trụ xây bằng gạch ở dưới Loạithiết bị này phát triển chủ yếu ở Hà Tây và Nam Định Đến năm 1990, nhiều tỉnh trongtoàn quốc đã có những công trình KSH được xây dựng, chủ yếu là
ở các tỉnh phía Nam vì có những điều kiện thuận lợi như nguồn phân từ chăn nuôi,khí hậu… Tính chung trong toàn quốc thời kỳ này có khoảng trên 2000 hầm ủ được xâydựng với thể tích 3 - 10m3
Tại đồng bằng sông Cửu Long, nhóm nghiên cứu chuyển giao kỹ thuật khíđốt sinh học của trường đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh triển khaichương trình từ năm 1992 và chọn loại túi nylon để phát triển
Từ năm 1993 tới nay, công nghệ KSH phát triển khá mạnh mẽ trong khuôn khổcác Dự án vệ sinh môi trường, nông nghiệp và phát triển nông thôn với nhiều kiểu thiết
bị KSH mới Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi, KSH được phát triển mạnh
mẽ hơn và thu hút sự tham gia của nhiều tổ chức thuộc lĩnh vực nông nghiệp Việc ứngdụng KSH được mở rộng nhanh chóng nhờ áp dụng loại túi nylon rẻ tiền và dễ lắp đặtlà một hợp phần của Chương trình giúp đỡ kỹ thuật của Cơ quan Hợp tác phát triểnquốc tế Thụy Điển (SIDA) và Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) Chươngtrình Mục tiêu quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh
Trang 33môi trường nông thôn cũng ứng dụng KSH để góp phần giải quyết vệ sinh môitrường nông thôn.
Năm 2002, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN&PTNN) banhành bộ Tiêu chuẩn đầu tiên về thiết kế và xây dựng hầm ủ KSH (TCVN 492-499/2002: Thiết bị KSH nhỏ)
Từ năm 2003 đến nay, nhiều dự án KSH trực thuộc Bộ NN&PTNN đượctriển khai Mở đầu là Dự án “Chương trình KSH cho ngành chăn nuôi” do Chínhphủ Hà Lan tài trợ được triển khai từ năm 2003, tới nay đã mở rộng tại 48tỉnh/thành phố và xây dựng được trên 120.000 công trình KSH kiểu nắp cố địnhvòm cầu KT1, KT2 Dự án “An toàn thực phẩm và cạnh tranh trong chăn nuôi” vớivốn vay của Ngân hàng Thế giới thực hiện trong thời gian từ 2008 - 2013 tại 12tỉnh/thành phố, dự án này cũng có hợp phần KSH với mục tiêu xây dựng 20.600công trình Dự án “Nâng cao chất lượng và an toàn cho các sản phẩm nông nghiệpvà Phát triển KSH” với vốn vay của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) được triểnkhai trong thời gian 6 năm (2009 - 2015) tại 16 tỉnh/thành phố Hợp phần KSH cómục tiêu hỗ trợ xây dựng 40.000 công trình
Ngoài 3 Dự án lớn nêu trên, Chương trình Mục tiêu quốc gia về sử dụngnăng lượng tiết kiệm và hiệu quả do Bộ Công thương chủ trì cũng có nội dung hỗtrợ ứng dụng KSH Hội Làm vườn Việt Nam (VACVINA) cũng phổ cập ứng dụngKSH trong việc phát triển mô hình VAC (vườn, ao, chuồng) Sau một thời gianphát triển loại túi, VACVINA đã chuyển sang loại VACVINA cải tiến với bể phângiải dạng hình hộp xây bằng gạch và túi chứa khí bằng chất dẻo
Cho tới nay, KSH đã được ứng dụng tại tất cả 63 tỉnh/thành phố trong cảnước Riêng 3 Dự án của Bộ NN&PTNN đã có 52 tỉnh tham gia Các tỉnh/thànhphố khác tuy không tham gia 3 Dự án này nhưng có những dự án riêng của tỉnhhoặc người dân tự xây dựng công trình
Từ những công trình quy mô nhỏ có thể tích vài chục m3 hợp với quy môchăn nuôi gia đình đã phát triển lên những công trình quy mô vừa và lớn hàng nghìn
24
Trang 34m3 phù hợp với quy mô chăn nuôi trang trại Từ lĩnh vực chăn nuôi, KSH đã mởrộng sang lĩnh vực công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm (rượu, bia, tinh bộtsắn, chế biến hải sản…) Từ năm 2003 - 2004 một số nghiên cứu định hướng ở quy
mô lớn hơn như các hệ thống xử lý nước thải áp dụng cho các khu chung cư caotầng đã được xem xét KSH tạo ra từ các hệ thống này sử dụng để cấp nhiệt phục vụsinh hoạt Các thiết bị cỡ lớn quy mô tập trung 50 - 100m3 cũng đã được triển khaithận trọng ở các mô hình chăn nuôi tập trung tại các tỉnh như Đồng Nai, Bắc Ninh,Thái Bình, Hải Phòng Tuy nhiên, các thiết bị cỡ lớn này còn chưa hoàn thiện vềcông nghệ và năng suất khí thấp
Theo báo cáo của Trung tâm Khuyến nông 61 tỉnh thành trên toàn quốc đãxây dựng được khoảng 80.000 công trình các loại, trong đó chiếm nhiều nhất làkiểu thiết bị KSH nắp cố định vòm cầu dựa theo thiết kế của Viện Năng lượng(70%), sau đó đến loại thiết bị bằng túi chất dẻo theo mẫu do Hội Làm vườn Việtnam (VACVINA) triển khai ở phía Bắc và Đại học Nông lâm Thành phố Hồ ChíMinh triển khai ở phía Nam
Hiện nay, đội ngũ những người hoạt động về KSH rất đông đảo Bên cạnhcác tổ chức Chính phủ như: Viện nghiên cứu, Trường Đại học, các Sở Nông nghiệpvà Phát triển nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài nguyên và Môitrường…, Hội Phụ nữ, Hội Làm vườn, Hội Nông dân… và các công ty, cửa hàngtham gia các hoạt động như triển khai dự án, sản xuất/hoặc cung ứng dịch vụ xâydựng và trang thiết bị Đội ngũ thợ xây và kỹ thuật viên do các dự án đào tạo đã mởrộng tới cấp huyện ở nhiều tỉnh/thành phố trên cả nước
Tuy nhiên, có nhiều rào cản đối với các công nghệ năng lượng tái tạo đangnổi lên trong thời gian gần đây đặc biệt đối với trường hợp ứng dụng năng lượngsinh khối Việc ứng dụng công nghệ này không phụ thuộc vào phương thức sử dụngcũng như loại sinh khối, do vậy, rất khó nói rằng rằng đây là những lĩnh vực cầnđược ưu tiên để cấp vốn cho nghiên cứu cơ bản hoặc chế tạo Hơn nữa, các thiết bịKSH đã được phát triển trong những năm gần đây do nhiều yếu tố sau: công nghệ
Trang 35sản xuất KSH đã được cải tiến, các nguồn nguyên liệu dồi dào và có nhu cầu lớn từngành chăn nuôi, có nguồn tài trợ và cấp vốn Tuy nhiên, sản xuất nhiệt và điện từKSH còn gặp những rào cản về mặt công nghệ như các thiết bị sử dụng (bếp, đèn,máy phát điện…), chủ yếu còn chế tạo thủ công hoặc cải tạo từ các thiết bị sử dụngkhác nên chất lượng và độ tương thích của thiết bị chưa được tiêu chuẩn hoá.
1.2.3.2 Hiện trạng sử dụng khí sinh học ở Việt Nam
KSH từ các hầm khí sẽ thay thế than, phụ phẩm nông nghiệp và củi cho đunnấu ở các hộ gia đình nông thôn Hiện nay, phần lớn các hộ gia đình nông thônthường sử dụng hỗn hợp các loại nhiên liệu để đáp ứng nhu cầu nhiệt hàng ngày(đun nấu, nấu cám lợn, chế biến thủ công…)
Hiện nay chỉ có 0,3% trong số 17.000 các trang trại lớn đã sử dụng khí sinhhọc Chiến lược quốc gia của Chính phủ về Cung cấp nước sạch và vệ sinh môitrường đặt mục tiêu là đến năm 2020 sẽ có khoảng 45% trang trại sử dụng hệ thốngquản lý chất thải, đặc biệt là bể biogas để xử lý và quản lý chất thải Tương tự nhưvậy, một lượng lớn rác thải đô thị và rác thải chế biến nông sản, chẳng hạn nhưđường và sắn, cũng chưa được sử dụng đúng mức và cả hai loại chất thải này đềugây ra ô nhiễm nghiêm trọng đối với môi trường và lãng phí tài nguyên Các công
ty cũng đang chịu áp lực mạnh mẽ từ cả phía chính phủ trung ương và địa phươngtrong việc phải có hệ thống xử lý chất thải thích hợp Do đó, nhu cầu và động lực để
sử dụng và sản xuất biogas ở Việt Nam thực sự lớn [51]
Trong khi nhận thức về sự cần thiết cũng như lợi ích của các hệ thống biogas
đã tăng lên một cách đáng kể, thì cho đến nay rào cản lớn nhất cho việc đầu tư vào
hệ thống biogas vẫn là sự thiếu thốn về mặt tài chính và khả năng thương mại thấptrong tương lai gần Vì vậy, một số cơ chế tài chính đang được chính phủ Việt Namvà các nhà tài trợ chuẩn bị
a Hiện trạng sử dụng biogas
Có hai xu hướng chính sản xuất ứng dụng biogas tại Việt Nam: (i) sử dụngbiogas phục vụ đun nấu và phát điện cho chiếu sáng ở quy mô hộ gia đình và (ii) sử
26
Trang 36dụng biogas cho phát điện và làm nhiên liệu/sưởi ở một quy mô lớn hơn (quy mô công nghiệp).
Ở quy mô hộ gia đình, hiện nay có khoảng 500.000 hầm phân hủy biogas.Tuy nhiên hầu hết các hầm này đều có quy mô nhỏ (dưới 10m3) được xây dựng bởi cáchộ gia đình Riêng chương trình Khí sinh học cho ngành chăn nuôi Việt
Nam, do chính phủ Hà Lan tài trợ, tính đến năm 2011 đã xây được 15.678 hầm quy
mô nhỏ Mặc dù không có con số chính thức, nhưng người ta ước tính rằng cóchưa đến 100 hầm biogas thương mại, với dung tích khoàng 100 - 200m3, trong số
đó hầu hết đều được khai thác bởi các trang trại nuôi lợn Hiện nay có khoảng17.000 trang trại lợn (với hơn 500 con lợn mỗi trang trại), và dưới 0,3% trong số đó
có hầm biogas Do việc thi hành luật vệ sinh môi trường nghiêm ngặt hơn, nhiềutrang trại trong số này sẽ cần đến các hầm phân hủy biogas tại chỗ trong tương lai
Xét về mặt công nghệ, hầu hết các hầm ủ nhỏ là loại hầm vòm cố định Đốivới các hầm ủ trung bình và lớn hơn, phổ biến nhất là các hồ kỵ khí phủ bạt có thểtích nằm trong khoảng 300 - 190.000 m3 Các hồ phủ bạt kỵ khí này thường được
sử dụng bởi các trang trại lớn, các nhà máy công nghiệp hoặc các khu chứa rác thải
đô thị
Ở quy mô lớn hơn (quy mô công nghiệp), người ta ước tính rằng có hàngchục nhà máy sản xuất biogas trên khắp Việt Nam Mục đích chính của sản xuất biogaslà phát điện phục vụ cho tự dùng của nhà máy hoặc để sấy sản phẩm (mục đích sử dụngnhiệt) Cho đến nay, vẫn chưa có nhà máy sản xuất biogas nào được nối lưới vào lướiđiện quốc gia [51]
b Nhu cầu tiềm năng cho biogas
Biogas hiện nay được sử dụng chủ yếu cho đun nấu và chiếu sáng ở quy môhộ gia đình ở các khu vực nông thôn Tiềm năng sử dụng biogas trong tương lại cóthể là dùng để phát điện, bã thải sinh học cho các loại phân bón hữu cơ, và nhiênliệu sinh học Trong khi đó, nhu cầu sử dụng biogas cho đun nấu và chiếu sáng sẽtăng cao tại các khu vực nông thôn
Trang 37Ngoài ra biogas còn có tiềm năng sử dụng cho quy mô lớn Các tiềm năngnày được nhận dạng như (i) trang trại chăn nuôi, (ii) các nhà máy chế biến nông –thực phẩm, (iii) các công ty xử lý chất thải (xử lý chất thải rắn, và sau đó xử lýnước thải), (iv) các tỉnh thành có ngành nông nghiệp chiếm ưu thế vì nguyên liệucho sản xuất biogas ở đây rất phong phú.
Nhu cầu tiềm năng từ Việt Nam sẽ là một hệ thống biogas tích hợp, bao gồmthu gom rác thải, các thiết bị sản xuất khí, và máy phát điện hoặc thiết bị sản xuấtphân bón
Hầu hết các khách hàng tiềm năng sẽ là các trang trại chăn nuôi lớn, các nhàmáy chế biến nông sản như sắn và đường, và các công ty quản lý rác thải đô thị vì:(i) áp lực về bảo vệ môi trường đối với các đơn vị này rất cao, (ii) khối lượng chấtthải là đáng kể và vì vậy có thể cung cấp đủ cho các hệ thống với quy mô thương mại, và(iii) họ có thể huy động vốn để đầu tư vào các công trình này [51]
28
Trang 38CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Chất thải sinh hoạt từ các hộ gia đình khu vực nội thành Hà Nội Trong nộidung của luận văn chỉ tập trung việc khảo sát lượng CTRSH phát sinh từ các hộ dânsinh sống trong khu vực phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
2.2 Nội dung nghiên cứu:
- Khảo sát, nghiên cứu thành phần, tính chất của chất thải sinh hoạt hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu, lấy mẫu về phòng thí nghiệm phân tích;
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý, xử lý chất thải sinh hoạt, thực trạngcông nghệ xử lý chất thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, khảo sát thực tế trực tiếp một sốkhu chôn lấp, khu xử lý rác thải sinh hoạt của thành phố;
- Nghiên cứu thực nghiệm
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu, kế thừa các nghiên cứu đã có
Tiến hành thu thập các số liệu, dữ liệu, thông tin có sẵn liên quan đến nộidung của đề tài nghiên cứu từ các tạp chí khoa học, sách và trang web tin cậy đãxuất bản Danh mục tài liệu tham khảo được liệt kê ở phần cuối của luận văn
2.3.2 Phương pháp điều tra và khảo sát thực địa
Khảo sát thực địa là phương pháp quan sát và khảo sát thực tế tại khu vựcnghiên cứu thông qua các hình thức như quan sát, điều tra trực tiếp thu thập thôngtin… để có cái nhìn khách quan tại khu vực nghiên cứu
Điều tra và khảo sát thực địa về việc xả thải từ các hộ gia đình khu vực nộithành Hà Nội, nghiên cứu về thành phần của chất thải sinh hoạt từ các hộ gia đìnhcủa khu vực nghiên cứu, lấy mẫu
2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu hoạt động của công nhân thu gom và khối lượng rác thu gom
Trang 39Việc điều tra khảo sát được tiến hành trên 11 công nhân với các tuyến thugom ở tuyến thu trên địa bàn nghiên cứu Thời gian điều tra trong ngày của mỗituyến phụ thuộc vào thời gian làm việc của công nhân tại từng khu vực khảo sát vàchia thành 2 ca chính là (i) ca ngày (khoảng từ 5 giờ ÷ 12 giờ) (ii) ca tối (khoảng từ
16 giờ 30 phút ÷ 24 giờ)
2.3.4 Phương pháp phỏng vấn trực tiếp
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp công nhân, hộ dân của phường vàmột số công nhân lâu năm ở phường khác về sức khỏe bằng phiếu điều tra kiểu trắcnghiệm Từ đó so sánh mức độ ảnh hưởng từ sự ô nhiễm môi trường của rác thảitới sức khỏe của công nhân và người dân khác nhau như thế nào
Quan sát: Quan sát các khu vực tập trung rác thải, các bãi rác xung quanh để
có cái nhìn khách quan nhất đối với khu vực nghiên cứu
Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Điều tra, phỏng vấn là phương pháp
điều tra thực tế bằng cách phỏng vấn những người trực tiếp liên quan đến vấn đề
nghiên cứu Trong giới hạn của nội dung luận văn, tác giả đã tiến hành phỏng vấnmột số hộ dân, những người thu gom trực tiếp Cách thức điều tra, phỏng vấn bằngphương thức hỏi trực tiếp qua các phiếu điều tra
* Nội dung của phiếu điều tra được lập như sau:
- Nội dung của phiếu điều tra tập trung vào thành phần và khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh, cách thức thu gom rác thải như thế nào
- Hình thức điều tra phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp hoặc phát phiếu điềutra Tiến hành điều tra phỏng vấn trong phạm vi khu vực phường Phan Chu Trinh,
quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
- Số lượng điều tra phỏng vấn: Trong quá trình thực hiện, tác giả luận văntiến hành phỏng vấn trên 10 hộ gia đình đang sinh sống trong khu vực phường Phan ChuTrinh, quận Hoàn Kiếm và các công nhân của công ty môi trường đô thị đang làm côngviệc thu gom rác thải sinh hoạt hàng ngày
30
Trang 402.3.5 Phương pháp xác định thành phần chất thải rắn tại hiện trường
Dụng cụ: 1 cân 120kg, 1 cân 2kg, 4 đôi găng tay nhựa
Số lượng người phân loại: 4 người.
- Mẫu chất thải rắn ban đầu được lấy từ khu vực nghiên cứu có khối lượng
từ 100kg - 250kg Sau đó đổ đống tại một nơi riêng biệt, xáo trộn đều bằng cách vunđống thành hình côn Chia hình côn trộn đều bằng 4 phần bằng nhau
- Lấy 2 phần chéo nhau tiếp tục trộn đều thành một đống hình côn mới,chia thành 2 phần bằng nhau Lấy ở đống 1/2 phần để phân loại lý học (khoảng 20 - 30kg)
- Mẫu CTR sau đó được phân loại thủ công Mỗi thành phần được bỏ vào
1 túi nylon Sau đó cân và ghi khối lượng của các thành phần có trong CTR
- Do thời gian hạn hẹp nên chúng tôi đã tiến hành xác định thành phần mẫuCTR 2 lần ở cùng 1 địa điểm Sau đó lấy kết quả trung bình ta được thành phần khốilượng (ướt) của CTR địa điểm khảo sát đó
2.3.6 Nghiên cứu khả năng hình thành khí sinh học từ chất thải sinh hoạt
Chất thải sinh hoạt chủ yếu từ các hộ gia đình được thu gom và phân loại thành
2 loại chính gồm: chất thải có khả năng phân huỷ sinh học (thức ăn dư thừa, rau, củquả…) và các loại chất thải còn lại (đồ gia dụng, gạch, đất đá lẫn, túi nilong…) Lấy 5
kg lượng chất thải có khả năng phân huỷ sinh học đưa vào can nhựa 20 lít để ủ trêncác công thức: (1) ủ liên tục để theo dõi khả năng tạo khí sinh học; (2) ủ liên tục có bổsung chế phẩm EM; (3) ủ liên tục có bổ sung cơ chất không tuần hoàn bùn, lượng cơchất được bổ sung hàng ngày bằng 1/12 lượng ban đầu; (4)
ủ liên tục có bổ sung cơ chất và tuần hoàn bùn, lượng cơ chất bổ sung hàng ngàybằng 1/12 lượng ban đầu và lượng bùn tuần hoàn tương ứng với 10% lượng dịch thảiđược chuyển ra ngoài hệ thống Nhiệt độ ngoài môi trường không kiểm soát và tuân theo
sự biến thiên của nhiệt độ phòng thí nghiệm trong thời gian nghiên cứu từ