ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --- ---Lưu Thị Hồng Trang NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TỚI HỆ SINH THÁI NÔNG NGHIỆP VÀ SỨC KHỎE CỘ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
-Lưu Thị Hồng Trang
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC BẢO
VỆ THỰC VẬT TỚI HỆ SINH THÁI NÔNG NGHIỆP VÀ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI VÀ
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
-Lưu Thị Hồng Trang
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC BẢO
VỆ THỰC VẬT TỚI HỆ SINH THÁI NÔNG NGHIỆP VÀ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI VÀ
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập tại Khoa Môi trường – Trường đại học Khoa học Tự
nhiên – Đại học Quốc Gia Hà Nội, tôi đã thực hiện luận văn với đề tài “Nghiên cứu khả năng ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật tới hệ sinh thái nông nghiệp và sức khỏe cộng đồng tại huyện Thường Tín, Hà Nội và đề xuất giải pháp giảm thiểu”.
Để có được thành quả như ngày hôm nay, tôi xin trân trân trọng cảm ơn sựgiúp đỡ, quan tâm của các giảng viên tại Khoa Môi trường trong suốt thời gian họctập, nghiên cứu tại khoa
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo hướng dẫn chínhPGS.TS Trần Văn Thụy – Bộ môn Sinh thái môi trường – Khoa Môi trường – TrườngĐại học Khoa học Tự nhiên đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Đảng ủy, Ban giám hiệu, các đồng nghiệp khoaTài nguyên môi trường, Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây đã tạo điều kiện và
có những đóng góp bổ ích, quý báu cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Trạm bảo vệ thực vậthuyện Thường Tín đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, bạn bè vàngười thân đã động viên, giúp sức rất nhiều để bản thân hoàn thành luận văn này
Tuy nhiên do thời gian nghiên cứu không dài, trình độ và kinh nghiệm bảnthân còn hạn chế, vì vậy không tránh khỏi thiếu sót, kính mong thầy cô và các bạnnhận xét, góp ý để tôi từng bước hoàn thiện kiến thức chuyên ngành và tiếp cậncông việc thực tế tốt nhất
Tôi xin trân trọng cảm ơn./
Hà Nội, ngày tháng năm
Học viên
Lưu Thị Hồng Trang
i
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên thế giới và Việt Nam 3
1.1.1 Khái niệm, phân loại thuốc BVTV 3
1.1.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV 4
1.1.2.1.Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên thế giới 4
1.1.2.2 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam 7
1.2 Các hướng nghiên cứu về hệ sinh thái nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 10 1.2.1 Các hướng nghiên cứu về hệ sinh thái nông nghiệp trên thế giới 10
1.2.2 Các hướng nghiên cứu về hệ sinh thái nông nghiệp tại Việt Nam 12
1.3 Sức khỏe cộng đồng và ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đến sức khỏe cộng đồng 13
1.3.1 Trên thế giới 14
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.2 Phạm vi nghiên cứu 18
2.3 Phương pháp nghiên cứu 18
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu 23
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 23
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 26
3.1.3 Sơ lược đánh giá thực trạng dân cư vùng nghiên cứu 28
3.2 Đánh giá hiện trạng hệ sinh thái nông nghiệp của vùng nghiên cứu 28
Trang 53.2.1 Đa dạng sinh học thực vật 28
3.2.2 Đa dạng sinh học động vật 35
3.2.3 Đa dạng hệ sinh thái 38
3.3 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV và ảnh hưởng 44
3.3.1 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV tại vùng nghiên cứu 44
3.3.2 Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc BVTV đến hệ sinh thái nông nghiệp vùng nghiên cứu 50
3.3.3 Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc BVTV đến sức khỏe cộng đồng vùng nghiên cứu 58
3.4 Đề xuất giải pháp giảm thiểu tác động của thuốc BVTV đến hệ sinh thái nông nghiệp và sức khỏe cộng đồng tại vùng nghiên cứu hướng tới phát triển bền vững.62 3.4.1 Giải pháp quản lý trong kinh doanh thuốc BVTV 62
3.4.2 Giải pháp quản lý sử dụng thuốc BVTV trên đồng ruộng 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 73
iii
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Phân nhóm độc chất thuốc BVTV tại Việt Nam 14Bảng 3.2: Đa dạng các bậc taxon của hệ thực vật tại xã Hà Hồi, Thư Phú 29Bảng 3.3: So sánh hệ số chi, hệ số họ và số loài trung bình của một họ của các hệthực vật của xã Hà Hồi, Thư Phú với hệ thực vật Việt Nam 30Bảng 3.4: So sánh hệ thực vật xã Hà Hồi, Thư Phú và hệ thực vật Việt Nam 30Bảng 3.5: Tỷ lệ % của họ giàu loài nhất thuộc ngành hạt kín của hệ thực vật tại khuvực nghiên cứu 32Bảng 3.6: Thành phần các loài động vật tại khu vực nghiên cứu 36Bảng 3.7: Thống kê việc sử dụng hỗn hợp các loại thuốc 47Bảng 3.8: Số lần phun thuốc trên cây trồng của các hộ tại xã Hà Hồi và Thư Phú.47Bảng 3.9: Cách thức xử lý thuốc còn dư và dụng cụ sau khi sử dụng thuốc BVTVcủa nông dân 49Bảng 3.10: Thành phần các loài sâu hại và thiên địch chính trên cây lúa 51Bảng 3.11: Thành phần các loài sâu hại và thiên địch chính trên cây cà chua 55Bảng 3.12: Kiến thức của người nông dân về chọn thời tiết và hướng gió khi phunthuốc BVTV 60Bảng 3.13: Các triệu chứng xuất hiện sau khi phun thuốc BVTV 60Bảng 3.14: Tình hình bệnh tật của người nông dân vùng nghiên cứu 61
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Mô hình sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện 25
Hình 3.2: So sánh sự phân bố của các taxon thực vật ở khu vực nghiên cứu 29
Hình 3.3: So sánh tỉ lệ % của các ngành hệ thực vật khu vực nghiên cứu và hệ thực vật Việt Nam 31
Hình 3.4: Tỉ lệ nơi sống 33
Hình 3.5: Tỷ lệ công dụng của các loài thực vật khu vực nghiên cứu 34
Hình 3.6: Tỉ lệ % các loài động vật tại khu vực nghiên cứu 37
Hình 3.7: Hệ thống kênh mương nội đồng 40
Hình 3.8: Biểu đồ tình hình sử liều lượng thuốc BVTV của người dân 46
Hình 3.9: Vỏ, thùng chứa thuốc BVTV tại khu vực nghiên cứu 58
Hình 3.10: Biểu đồ nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu 58
Hình 3.11: Trình độ học vấn của đối tượng khảo sát 59
v
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV : Bảo vệ thực vật
ĐDSH : Đa dạng sinh học
SXNN : Sản xuất nông nghiệp
HSTNN: Hệ sinh thái nông nghiệp
IPM: Integrated Pest Management – Quản lý dịch hại tổng hợpWHO: Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 9MỞ ĐẦU
Dân số thế giới hàng năm tăng thêm gần 100 triệu người (K.Lampe, 1994)cho nên nhu cầu của con người về sản phẩm nông nghiệp ngày một tăng Việc đảmbảo nhu cầu về lương thực và thực phẩm bao giờ cũng là vấn đề cần thiết và đượctoàn thế giới quan tâm Để thỏa mãn các nhu cầu này nông nghiệp thế giới đã pháttriển theo hướng tập trung thâm canh Nhưng khi thâm canh trồng trọt thì không chỉtăng năng suất cây trồng mà tăng cả sự thiệt hại do sâu bệnh gây ra Theo tính toáncủa FAO sự tăng năng suất cây trồng nông nghiệp trên toàn thế giới chậm hơn sựtăng thiệt hại do sâu bệnh gây ra khoảng 1,5 lần Vì vậy, để có một mùa màng bộithu con người đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau như cải tạo giống cây trồng,
áp dụng kỹ thuật làm đất, sử dụng phân bón, hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật…Trong đó sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) lâu nay vẫn được coi là biện phápchủ lực có vai trò tích cực trong thời gian dài Việc sử dụng thuốc BVTV đã manglại hiệu quả rất lớn, giúp diệt trừ và hạn chế được nhiều loài dịch hại trong một thờigian rất ngắn Tuy nhiên, ngoài những lợi ích mà thuốc BVTV mang lại thì việc sửdụng không hợp lý và khoa học của một bộ phận lớn người dân đã gây ra nhiều ảnhhưởng tiêu cực như ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, gây ô nhiễm môi trường,tăng tính chống thuốc của dịch hại, tiêu diệt hệ thiên địch, phá vỡ cân bằng sinhthái, gây ra nhiều vụ bùng nổ của dịch hại…
Việt Nam là nước có nền nông nghiệp thâm canh từ lâu đời nên có sự đadạng về thành phần, số lượng loài trong hệ sinh thái nông nghiệp Khí hậu ViệtNam nóng ẩm rất thuận lợi cho sự phát triển của các loài động thực vật nhưng đócũng là điều kiện cho sâu hại và các loại dịch bệnh phát triển Không nằm ngoài xuhướng chung của thế giới trong những năm cuối của thế kỷ XX và những năm đầuthế kỷ XXI chúng ta đã sử dụng thuốc BVTV trong việc giữ gìn và tăng năng suấtnhiều loại cây trồng Tuy nhiên, việc sử dụng tùy tiện và lạm dụng thuốc BVTV ởmột số nơi dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng: gây ngộ độc cho con người, giasúc, để lại dư lượng trong nông sản gây tác hại lâu dài cho người sử dụng, làm ô
1
Trang 10nhiễm môi trường, làm tăng tính chống thuốc của các loài gây hại, làm đảo lộn sinhthái ở nhiều vùng…
Để góp phần nghiên cứu một cách hệ thống về ảnh hưởng của thuốc BVTVđến hệ sinh thái nông nghiệp và sức khỏe cộng đồng làm cơ sở cho việc đề xuất cácbiện pháp giảm thiểu tác động hướng tới phát triển bền vững tôi tiến hành thực hiện
đề tài: “Nghiên cứu khả năng ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật tới hệ sinh thái nông nghiệp và sức khỏe cộng đồng tại huyện Thường Tín, Hà Nội và đề xuất giải pháp giảm thiểu (nghiên cứu trường hợp tại xã Hà Hồi, xã Thư Phú)”
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên thế giới và Việt Nam.
1.1.1 Khái niệm, phân loại thuốc BVTV
Thuốc bảo vệ thực vật hay nông dược là những chất độc có nguồn gốc từ tựnhiên hay hóa chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại
sự phá hoại của những sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật Những sinh vật gâyhại chính gồm sâu hại, bệnh hại, cỏ dại, chuột và các tác nhân khác
Việc phân loại hóa chất bảo vệ thực vật có thể được thực hiện theo nhiềucách như phân loại theo đối tượng phòng trừ (thuốc trừ sâu, trừ bệnh…) hoặc phânloại theo gốc hóa học (nhóm clo hữu cơ, nhóm lân hữu cơ…) Các thuốc BVTV cónguồn gốc khác nhau thì tính độc và khả năng gây độc khác nhau Dựa vào đặcđiểm hóa học, các thuốc BVTV thường được sử dụng thuộc các nhóm sau:
- Nhóm thuốc thảo mộc: Có độc tính cao nhưng nhanh phân hủy trong môi trường, an toàn với con người, vật nuôi và môi trường
- Nhóm clo hữu cơ: DDT, 666…nhóm này có độ độc cấp tính tương đối thấpnhưng tồn lưu lâu trong môi trường gây độc mãn tính nên nhiều sản phẩm bị cấm
hoặc hạn chế sử dụng
- Nhóm lân hữu cơ: Parathion Methyl (Vofatox), Bi-58…độ độc cấp tínhtương đối cao nhưng có khả năng phân hủy trong môi trường nhanh hơn so với nhómclo hữu cơ
- Nhóm cacbamat: Mipcin, Bassa, Sevin…là nhóm thuốc được dùng rộng vìgiá thành rẻ, hiệu lực cao, độ độc cấp tính tương đối cao nhưng khả năng phân hủynhanh tương tự nhóm lân hữu cơ
- Nhóm Pyrethoide (Cúc tổng hợp): Decis, Sherpa, Sumicidine…nhóm này
dễ bay hơi và nhanh phân hủy trong môi trường
- Nhóm các chất Pheromone: Là những hóa chất đặc biệt do sinh vật (côntrùng) tiết ra để kích thích hành vi của những các thể khác cùng loài
- Các chất điều hòa sinh trưởng côn trùng (Nomolt, Applaud…) là nhữngchất được dùng để biến đổi sự phát triển của côn trùng Chúng ngăn cản quá trình
3
Trang 12phát sinh phát triển bình thường ở côn trùng như ngăn cản quá trình biến thái hoặckích thích sự trưởng thành từ rất sớm khi côn trùng chưa hoàn thiện sự pháttriển… Các hợp chất này rất ít độc đối với người và môi trường.
- Nhóm thuốc trừ sâu vi sinh (Dipel, Thuricide, Xentari, NPV…): Chính làcác loài vi sinh vật có thể gây cản trở quá trình phát sinh phát triển của các đối tượngdịch hại, nhóm thuốc này sử dụng an toàn, ít độc đối với người và các vi sinh vật khôngphải là dịch hại
Ngoài ra còn có nhiều thuốc có nguồn gốc hóa học khác, một số sản phẩm từ dầu mỏ cũng được dùng làm thuốc trừ sâu
1.1.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV
1.1.2.1 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên thế giới
Lịch sử phát triển hóa chất BVTV trên thế giới có thể chia thành một số giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1 (Trước thế kỷ XX): Với trình độ canh tác lạc hậu, các giốngcây trồng có năng suất thấp, tác hại của dịch hại còn chưa lớn Để bảo vệ cây, người tadựa vào các biện pháp canh tác, giống sẵn có Sự phát triển nông nghiệp trông chờ vào sựmay rủi
Tuy nhiên từ lâu con người đã biết sử dụng các loài cây độc và lưu huỳnh trongtro núi lửa để trừ sâu bệnh Từ thế kỷ 19 hàng loạt sự kiện đáng nhớ tạo điều kiện chobiện pháp hóa học ra đời Benediet Prevest (1807) đã chứng minh nước đun sôi trong
nồi đồng có thể diệt bào tử nấm than đen Ustilaginales; lưu huỳnh được dùng trị bệnh phấn trắng Esysiphacea hại nho (1848); dung dịch boocđô ra đời năm 1879; lưu huỳnh, vôi dùng trừ rệp sáp Aspidiotus perniciosus hại cam (1881) Mở đầu cho việc dùng các chất xông hơi trong BVTV là sự kiện dùng HCN trừ rệp vảy Aonidiella aurantii hại cam (1887) Năm 1889, aseto asenat đồng được dùng trừ sâu Leptinotarsa decemeatas
hại khoai tây; 1892 gipxin (asenat chì) được dùng để trừ sâu ăn quả, sâu rừng
Porthetria dispr Nửa cuối thể kỷ 19 cacbon disulfua (CS2) được dùng để chống chuột
đồng và các ổ rệp Pluylloxeran hại nho Nhưng
Trang 13biện pháp hóa học lúc này vẫn chưa có một vai trò đáng kể trong sản xuất nông nghiệp [20].
- Giai đoạn 2 (Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1960): Các thuốc trừ dịch hại hữu
cơ ra đời làm thay đổi vai trò của biên pháp hóa học trong sản xuất nông nghiệp
Thuốc trừ nấm thủy ngân hữu cơ đầu tiên ra đời năm 1913; tiếp theo là các thuốc trừnấm lưu huỳnh ra đời rồi đến các nhóm khác DDT đã được Zeidler tìm ra tại Thụy
Sỹ năm 1924 Việc phát hiện khả năng diệt côn trùng của DDT đã mở ra một cuộccách mạng của biện pháp hóa học BVTV Hàng loạt các thuốc trừ sâu ra đời sau đó:clo hữu cơ (những năm 1940 – 1950); các thuốc lẫn hữu cơ, các thuốc carbamat(1945 – 1950) Hóa chất trừ cỏ xuất hiện muộn hơn, năm 1945 chất diệt cỏ carbamatlần đầu tiên được phát hiện ở Anh Lúc này người ta cho rằng mọi vấn đề BVTVđều có thể giải quyết bằng thuốc hóa học Biện pháp hóa học bị khai thác
ở mức tối đa, thậm chí người ta còn hy vọng nhờ thuốc BVTV hóa học để loại trừ hẳn một loài dịch hại trong một vùng rộng lớn [20]
Từ cuối những năm 1950, những hậu quả xấu của việc lạm dụng thuốcBVTV trong nông nghiệp gây ra cho con người và môi sinh được phát hiện như ônhiễm môi trường, gây hại sức khỏe cộng đồng, phả hủy các hệ sinh thái nôngnghiệp… Khái niệm phòng trừ tổng hợp sâu bệnh ra đời
- Giai đoạn 3 (những năm 1960 – 1980): Việc lạm dụng thuốc BVTV đã đểlại những hậu quả rất xấu cho môi sinh, môi trường dẫn đến tình trạng nhiều chươngtrình phòng chống dịch hại của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế dựa vào thuốc hóahọc đã bị sụp đổ, tư tưởng sợ hãi không dám dùng thuốc BVTV xuất hiện Thậm chí cóngười cho rằng cần loại bỏ không dùng thuốc BVTV trong nông nghiệp Chính vì điềunày các nhà khoa học đã đầu tư nghiên cứu các loại hóa chất BVTV mới an toàn với môitrường và sức khỏe con người Nhiều hóa chất BVTV mới ra đời như thuốc trừ cỏ mới,các thuốc trừ sâu nhóm perenthriod tổng hợp
(1970), các thuốc trừ sâu bệnh có nguồn gốc sinh học hay tác động sinh học, cácchất điều tiết sinh trưởng côn trùng liên tục ra đời Lượng thuốc BVTV được dùngtrên thế giới không những không giảm mà còn tăng lên không ngừng
5
Trang 14Giai đoạn 4 (Từ những năm 1980 đến nay): Vấn đề bảo vệ môi trường đượcquan tâm hơn bao giờ hết Nhiều loại thuốc BVTV mới trong đó có nhiều thuốc trừsâu bệnh sinh học có hiệu quả cao với dịch hại nhưng an toàn với môi trường rađời Vai trò của biện pháp hóa học đã được thừa nhận tư tưởng sợ thuốc BVTVcũng ít dần quan điểm phòng trừ tổng hợp được phổ biến rộng rãi [20].
Mặc dù sự phát triển của biện pháp hóa học có nhiều lúc thăng trầm songtổng giá trị tiêu thụ thuốc BVTV trên thế giới và một số hoạt chất tăng lên khôngngừng, số chủng loại ngày càng phong phú Năm 1945 thế giới sản xuất ra gần 400nghìn tấn, thập niên 90 của thế kỷ XX sản xuất ra hơn 3 triệu tấn mỗi năm Đến naythế giới sản xuất khoảng 4,4 triệu tấn/năm với 2.537 loại hóa chất BVTV Nhữngquốc gia có sản lượng kim ngạch xuất nhập khẩu lớn và sử dụng hóa chất BVTVđứng hàng đầu thế giới là Trung Quốc và Hoa Kỳ
Tại Trung Quốc để tăng cường tự chủ về hóa chất BVTV, chính phủ TrungQuốc đã gia tăng đầu tư vào ngành công nghiệp hóa chất BVTV Chính vì vậyngành công nghiệp này phát triển mạnh, hiện tại Trung Quốc có 2.500 nhà máy sảnxuất lớn nhỏ Sản lượng hóa chất BVTV ở Trung Quốc đã tăng trưởng nhanh, năm
2007 đạt 1731 nghìn tấn, năm 2008 đạt 1902 nghìn tấn Trung Quốc là nhà sản xuấtlớn nhất trong ngành công nghiệp hóa chất BVTV toàn cầu Năm 2007 lần đầu tiênTrung Quốc vượt qua Hoa Kỳ và cũng là nước xuất khẩu lượng hóa chất BVTVlớn nhất trên thế giới Theo Tổng cục hải quan Trung Quốc tổng lượng hóa chấtBVTV xuất khẩu năm 2008 là 485 nghìn tấn với kim ngạnh hơn 2 tỷ USD [27]
Tại Hoa Kỳ, từ năm 1966 đến năm 1986 nhu cầu với hóa chất BVTV củanông dân tăng rất mạnh, diện tích đất trồng được phun hóa chất BVTV và chất diệt
cỏ tăng gấp đôi, 75% diện tích đất canh tác của Hoa Kỳ đã và đang sử dụng hóachất BVTV Số hóa chất BVTV nông dân sử dụng tăng từ 353 triệu lên 475 triệuPound Ở Hoa Kỳ, sản lượng hóa chất BVTV được chi phối bởi khoảng 28 công tylớn Hoa Kỳ là quốc gia xuất khẩu hóa chất BVTV lớn, năm 2008 xuất khẩu 115nghìn tấn đạt kim ngạnh hơn 2 tỷ USD [28]
Trang 15Ngoài Trung Quốc và Hoa Kỳ là hai quốc gia hàng đầu thế giới về sảnlượng, kim ngạnh xuất khẩu và sử dụng hóa chất BVTV thì Thái Lan, Nhật Bản,Brazil cũng là những quốc gia sử dụng nhiều hóa chất BVTV Tuy vậy, mức đầu tư
và cơ cấu tiêu thụ các nhóm hóa chất tùy thuộc trình độ phát triển và đặc điểm canhtác của từng nước
Trong những năm gần đây đã có những thay đổi trong ngành công nghiệphóa chất BVTV thế giới Nhiều loại thuốc mới an toàn với môi sinh, môi trườngliên tục xuất hiện bất chấp các quy định quản lý ngày càng chặt chẽ của mỗi quốcgia đối với thuốc BVTV và kinh phí đầu tư cho nghiên cứu để một loại thuốc mới
ra đời ngày càng lớn Tổng lượng thuốc BVTV tiêu thụ có xu hướng giảm nhưnggiá trị của thuốc tăng không ngừng Nguyên nhân là do cơ cấu thuốc thay đổi Nhiềuloại thuốc cũ, giá rẻ dùng với lượng lớn độc với môi trường được thay dần bằngcác loại thuốc mới hiệu quả, an toàn và dùng với lượng ít hơn nhưng lại có giáthành cao Tuy nhiên, mức đầu tư về thuốc BVTV và cơ cấu tiêu thụ các nhómthuốc tùy thuộc trình độ phát triển và đặc điểm canh tác của từng quốc gia Ngàynay biện pháp hóa BVTV phát triển theo các hướng sau:
- Nghiên cứu tìm ra các hoạt chất mới có cơ chế tác động mới, có tính chọnlọc và hiệu lực trừ dịch hại cao hơn, lượng dùng nhỏ hơn, tồn lưu ngắn, ít độc và dễdùng hơn Thuốc trừ sâu tác dụng chậm như điều khiển sinh trưởng côn trùng,pheronmon, các chất phản duy truyền, chất triệt sản là những ví dụ điển hình Thuốc sinhhọc được chú ý nhiều hơn
- Tìm hiểu phương pháp và nguyên liệu để gia công thành các dạng thuốc mới ít ô nhiễm, hiệu lực dài, dễ dùng, loại dần dạng thuốc gây ô nhiễm môi trường
- Nghiên cứu công cụ phun rải tiên tiến và cải tiến các loại công cụ hiện có
để tăng khả năng trang trải, tăng độ bám dính, giảm đến mức tối thiểu sự rửa trôi củathuốc
1.1.2.2 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam
Lịch sử phát triển của biện pháp hóa học, tình hình sản xuất và sử dụng thuốcBVTV ở Việt Nam có thể chia thành ba giai đoạn:
7
Trang 16- Trước năm 1957: Biện pháp hóa học hầu như không có vị trí trong sảnxuất nông nghiệp Một lượng nhỏ sunfat đồng được dùng ở một số đồn điền do Pháp
quản lý để trừ bệnh gỉ sắt cà phê và Phytophthora cao su và một ít DDT được dùng để
trừ sâu hại rau
Việc thành lập Tổ hóa BVTV (1/1956) của Viện khảo cứu trồng trọt đã đánhdấu sự ra đời của ngành Hóa BVTV ở Việt Nam Thuốc BVTV được dùng lần đầutiên trong sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc là trừ sâu gai, sâu cuốn lá lớn ở HưngYên (vụ Đông xuân năm 1956 – 1957) Ở Miền Nam thuốc BVTV được sử dụng từnăm 1962
- Giai đoạn 1957 – 1990:
Thời kỳ bao cấp việc nhập khẩu, quản lý và phân phối thuốc do nhà nướcđộc quyền thực hiện Nhà nước nhập rồi trực tiếp phân phối thuốc cho các tỉnh theogiá bao cấp Bằng mạng lưới vật tư nông nghiệp địa phương thuốc BVTV đượcphân phối thẳng xuống hợp tác xã nông nghiệp Ban quản trị hợp tác xã quản lý vàgiao cho tổ BVTV hướng dẫn xã viên phòng trị dịch hại trên đồng ruộng Lượngthuốc BVTV dùng không nhiều khoảng 15.000 tấn thành phẩm/ năm với khoảng 20chủng loại thuốc trừ sâu bệnh Đa phần các thuốc có độ tồn lưu lâu trong môitrường hay có độ độc cao Việc quản lý thuốc lúc này khá dễ dàng, thuốc giả, thuốckém chất lượng không có điều kiện phát triển Song tình trạng phân phối thuốckhông kịp thời, đáp ứng không đúng chủng loại, nơi thừa, nơi thiếu gây tình trạngkhan hiếm giả tạo, dẫn đến hiệu quả sử dụng thuốc thấp Mặt khác người nông dânkhông có điều kiện lựa chọn thuốc, thiếu tính chủ động và ỷ lại nhà nước [20]
Tuy lượng thuốc dùng ít nhưng tình trạng lạm dụng thuốc BVTV vẫn nảysinh Để phòng trừ sâu bệnh người ta chỉ biết dựa vào thuốc BVTV Thuốc dùngtràn lan, phun phòng là chủ yếu, khuynh hướng phun sớm, phun định kỳ ra đời,thậm chí dùng thuốc cả vào những thời điểm không cần thiết Tình trạng dùng thuốcsai kỹ thuật nảy sinh khắp nơi Thuốc BVTV đã để lại những hậu quả rất xấu đốivới môi trường và sức khỏe con người
Trang 17Khi nhận ra hậu quả của thuốc BVTV, cộng với tuyên truyền quá mức về táchại của chúng đã dẫn đến tâm lý sợ thuốc Từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX đã
có nhiều ý kiến đề xuất nên hạn chế, thậm chí loại bỏ hẳn thuốc BVTV, dùng biệnpháp sinh học để thay thế biện pháp hóa học trong phòng trừ dịch hại nông nghiệp
- Giai đoạn từ 1990 đến nay:
Thị trường thuốc BVTV đã thay đổi cơ bản, nền kinh tế từ tập trung bao cấpsang cơ chế thị trường Năm thành phần kinh tế đều được phép kinh doanh thuốcBVTV Nguồn hàng phong phú, nhiều chủng loại được cung ứng kịp thời, nông dân
có điều kiện lựa chọn thuốc, giả cả tương đối ổn định có lợi cho nông dân Lượngthuốc BVTV tiêu thụ qua các năm đều tăng Trong đó phần lớn là hóa chất trừ sâucòn lại là trừ cỏ, trừ bệnh Nhóm photpho hữu cơ chiếm khoảng 56%, phổ biến nhất
là Wofatox và Monitor Đó là những loại thuốc độc hại cho môi trường và conngười Giai đoạn gần đây cơ cấu tỉ lệ các loại hóa chất BVTV đã được thay đổiđáng kể Nhiều loại thuốc mới và các dạng thuốc mới hiệu quả hơn, an toàn hơn vớimôi trường được nhập khẩu và sử dụng Năm 1991 hóa chất trừ sâu chiếm 83,3%,hóa chất trừ nấm chiếm 9,5%, hóa chất diệt cỏ 4,1% Đến năm 2008 tỉ lệ hóa chấttrừ sâu chiếm 37,9%, hóa chất trừ nấm chiếm 21,12%, hóa chất diệt cỏ 13,77%, hóachất diệt côn trùng 23,46% và những loại khác 3,75% Lượng thuốc BVTV sử dụngqua các năm tăng dần, kim ngạnh nhập khẩu thuốc BVTV tăng mạnh Theo số liệucủa Tổng cục Thống kê kim ngạnh nhập khẩu thuốc BVTV và nguyên liệu năm
2007 là 382.830.015 USD tăng 24,5% so với cùng kỳ năm 2006, năm 2008 là473.760.692 USD tăng 23,8% so với cùng kỳ năm 2007 Nguồn hóa chất BVTVđược nhập khẩu về Việt Nam chủ yếu từ Trung Quốc, Singapore, Ấn Độ, Nhật Bản.Hiện nay số lượng và chủng loại thuốc BVTV sử dụng ở nước ta tương đối cao sovới khu vực Năm 2009 bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho phép 886 hoạtchất và 2.537 thương phẩm được phép sử dụng tại Việt Nam Một mạng lưới phânphối thuốc BVTV rộng khắp cả nước đã được hình thành, việc cung ứng thuốc đếnnông dân rất thuận lợi Công tác quản lý thuốc BVTV được chú ý đặc biệt và đạthiệu quả đáng khích lệ [10]
9
Trang 18Nhưng do nhiều nguồn hàng, mạng lưới lưu thông khá rộng đã gây khó chocông tác quản lý Quá nhiều tên thuốc đẩy người sử dụng khó lựa chọn được thuốctốt và việc hướng dẫn kỹ thuật dùng thuốc cũng gặp khó khăn không ít Tình trạnglạm dụng thuốc, tư tưởng ỷ lại vào biện pháp hóa học đã để lại những hậu quả xấucho môi trường và sức khỏe con người.
1.2 Các hướng nghiên cứu về hệ sinh thái nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Các hướng nghiên cứu về hệ sinh thái nông nghiệp trên thế giới
Từ những năm 40 của thế kỷ XX, do sự xâm nhập của Sinh thái học vào cácchuyên ngành khoa học khác nhau, đã hình thành những chuyên ngành khoa họcmới như Sinh thái - Di truyền, Sinh thái - Sinh lí, Sinh thái - Giải phẫu, Sinh tháihọc nhân chủng, v.v và Sinh thái học Nông nghiệp Trong những năm gần đây,trên thế giới cũng như trong nước, người ta nói nhiều đến sinh thái nông nghiệp,đến sự cần thiết phải xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái Thực tế đã cho thấy,khó có thể giải quyết được các vấn đề do nông nghiệp đặt ra nếu chỉ dựa vào kiếnthức các môn khoa học riêng rẽ Sản xuất nông nghiệp là tổng hợp và toàn diện, cầnphải đặt cây trồng và vật nuôi là các đối tượng của nông nghiệp trong các mối quan
hệ giữa chúng với môi sinh và giữa chúng với nhau
Khoa học nông nghiệp cũng như các ngành khoa học khác ngày càng pháttriển và đi sâu đến mức người ta cảm thấy giữa các bộ môn hầu như không có sựliên quan gì với nhau nữa Khuynh hướng của phát triển khoa học là càng đi sâucàng có sự phân hoá ngày càng chi tiết Với sinh vật, khi tách ra khỏi hệ thống thì
nó không còn ý nghĩa nữa, nó không còn là nó nữa, bởi vì trong thực tế chúng đềugắn bó hữu cơ với nhau Vì vậy nhiệm vụ của sinh thái học nông nghiệp là nghiêncứu một cách tổng hợp, đặt các cây trồng và vật nuôi là các đối tượng của nôngnghiệp trong các mối quan hệ giữa chúng với nhau và giữa chúng với môi sinh, tức
là trong các hệ sinh thái nông nghiệp (HSTNN)
Sự phát triển của nông nghiệp hiện đại đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết.Các HSTNN là các hệ sinh thái chịu tác động của con người nhiều nhất và có năngsuất kinh tế cao nhất Dần dần con người đã nhận ra rằng khuynh hướng tăng
Trang 19việc đầu tư, thực chất là đầu tư năng lượng hoá thạch, để thay thế dần các nguồnlợi tự nhiên một cách quá mức là không hợp lí Sự đầu tư ấy còn dẫn đến tình trạngphá hoại môi trường sống Do đấy, cần phải phát triển một nền nông nghiệp trên cơ
sở đầu tư trí tuệ để điều khiển các hệ sinh thái nông nghiệp cho năng suất cao và ổnđịnh, với sự chi phí ít nhất các biện pháp đầu tư năng lượng hoá thạch, nghĩa là cầnphải phát triển một nền nông nghiệp dựa nhiều hơn vào việc khai thác hợp lí cácnguồn lợi tự nhiên Đã đến lúc con người phải để ý tới năng suất sinh thái vàngưỡng sinh thái, đồng thời với năng suất kinh tế và ngưỡng kinh tế trong sản xuấtnông nghiệp
Yêu cầu của việc phát triển nông nghiệp đặt vấn đề phải phấn đấu để tăngnăng suất cây trồng và vật nuôi hơn nữa Ruộng cây trồng năng suất cao là một hệsinh thái hài hoà, đạt tới sự cân bằng các yếu tố cấu thành nó Thực chất của kĩ thuậttăng năng suất cây trồng là kĩ thuật điều khiển sự hoạt động của hệ sinh thái nôngnghiệp năng suất cao trong quá trình tồn tại và phát triển của nó Tất cả các vấn đềtrên là các yêu cầu cơ bản của việc xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái, vànhững vấn đề ấy chỉ có thể giải quyết được trên cơ sở các quy luật khách quan củaSinh thái học nông nghiệp - một môn khoa học tổng hợp, coi sản xuất nông nghiệp
là một hệ thống đang vận động không ngừng và luôn luôn tự đổi mới
Mặt khác, trên thế giới lí thuyết "hệ thống" cũng bắt đầu xâm nhập rộng rãivào tất cả các ngành khoa học Đối tượng của Sinh thái học nông nghiệp là các hệthống (các HSTNN) Vì vậy thực chất nội dung nghiên cứu của môn học này là ápdụng lí thuyết hệ thống và các công cụ của nó như điều khiển học, mô hình toánhọc, thống kê nhiều chiều và chương trình hoá máy tính cùng với các quy luật Sinhthái học vào việc nghiên cứu các HSTNN Vì thế, Sinh thái học nông nghiệp đã rađời và việc bồi dưỡng, nâng cao những kiến thức về hệ thống tổng hợp là hết sứccần thiết Sinh thái học nông nghiệp là một khoa tổng hợp, nó khảo sát và ứng dụngcác qui luật hoạt động của các HSTNN; hay nói khác đi: Sinh thái học nông nghiệp
là khoa học về sự sống ở những bộ phận của cảnh quan dùng để canh tác và chănnuôi Hiện nay đang đặt ra một số vấn đề tổng hợp cần được giải quyết mới có thể
11
Trang 20phát triển nông nghiệp một cách nhanh chóng và vững chắc như phân vùng sản xuấtnông nghiệp, xác định hệ thống cây trồng và vật nuôi một cách hợp lí, chế độ canhtác cho các vùng sinh thái khác nhau, phát triển nông nghiệp trong điều kiện nănglượng ngày càng đắt, phòng chống tổng hợp sâu bệnh Để giải quyết được các vấn
đề nêu trên một cách có cơ sở khoa học cần phải đẩy mạnh việc nghiên cứu sinhthái và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp [30]
1.2.2 Các hướng nghiên cứu về hệ sinh thái nông nghiệp tại Việt Nam
Tại Việt Nam, sinh thái học nông nghiệp là một ngành khoa học trong đó cácnguyên lí sinh thái được áp dụng triệt để trong công tác nghiên cứu, thiết kế, quản lí
và đánh giá các hệ thống nông nghiệp với mục đích tạo ra nhiều sản phẩm nhưngvẫn thực hiện được chức năng bảo tồn tài nguyên Đối tượng chính của Sinh tháihọc nông nghiệp là nghiên cứu về mối tương tác giữa các yếu tố tự nhiên và kinh tế
xã hội của các hệ thống sản xuất nông nghiệp Trong đó, hệ thống trang trại đượcxem như một đơn vị cơ sở cho các nghiên cứu về chu trình vật chất, chuyển hoánăng lượng, quá trình sinh học và các mối quan hệ kinh tế - xã hội Tất cả các cácyếu tố kể trên được phân tích một cách tổng thể và toàn diện theo hướng đa ngành
Mục tiêu chính của Sinh thái học nông nghiệp là tìm cách duy trì quá trìnhsản xuất nông nghiệp với mức năng suất ổn định và có hiệu quả cao bằng cách tối
ưu hoá đầu vào của sản xuất (như giống, phân bón, sức lao động v.v.) trong khi đóhạn chế ở mức tối thiểu những tác động tiêu cực đến môi trường và hoạt động kinh
tế xã hội
Theo quan niệm của Sinh thái học hiện đại, toàn bộ hành tinh của chúng ta làmột hệ sinh thái khổng lồ và được gọi là sinh quyển (biosphere) Sinh quyển đượcchia ra làm nhiều đơn vị cơ bản, đó lànhững diện tích mặt đất hay mặt nước tươngđối đồng nhất, gồm các vật sống và các môi trường sống, có sự trao đổi chất vànăng lượng với nhau, chúng được gọi là hệ sinh thái (ecosystem) Ngoài những hệsinh thái không có hoặc có rất ít sự can thiệp của con người ở đó là hệ sinh thái tựnhiên, còn có những hệ sinh thái do tác động của con người tạo ra và chịu sự điều
Trang 21khiển của con người, điển hình như các ruộng cây trồng và đồng cỏ; đó chính là các
hệ sinh thái nông nghiệp
HSTNN là hệ sinh thái do con người tạo ra và duy trì dựa trên các quy luậtkhách quan của tự nhiên, với mục đích thoả mãn nhu cầu trên nhiều mặt và ngàycàng tăng của mình HSTNN là một hệ sinh thái tương đối đơn giản về thành phần
và đồng nhất về cấu trúc, cho nên nó kém bền vững, dễ bị phá vỡ; hay nói cáchkhác, HSTNN là những hệ sinh thái chưa cân bằng Bởi vậy, các HSTNN được duytrì trong sự tác động thường xuyên của con người để bảo vệ hệ sinh thái mà conngười đã tạo ra và cho là hợp lí Nếu không, qua diễn thế tự nhiên, nó sẽ quay vềtrạng thái hợp lí của nó trong tự nhiên
Như vậy, HSTNN cũng sẽ có các thành phần điển hình của một hệ sinh tháinhư sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ, sinh vật phân huỷ và môi trường vô sinh.Tuy nhiên, với mục đích hàng đầu là tạo ra năng suất kinh tế cao nên đối tượngchính của hệ sinh thái nông nghiệp là các thành phần cây trồng và vật nuôi Trongthực tế sản xuất, dựa vào tri thức và vốn đầu tư, con người giữ HSTNN ở mức phùhợp để có thể thu được năng suất cao nhất trong điều kiện cụ thể Con người càngtác động đẩy HSTNN đến tiếp cận với hệ sinh thái có năng suất kinh tế cao nhất thìlực kéo về mức độ hợp lí của nó trong tự nhiên ngày càng mạnh, năng lượng và vậtchất con người dùng để tác động vào hệ sinh thái càng lớn, hiệu quả đầu tư càngthấp [30]
1.3 Sức khỏe cộng đồng và ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đến sức khỏe cộng đồng
Tất cả các thuốc BVTV đều có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sứckhỏe con người do đó việc sử dụng thuốc BVTV cần được quản lý và sử dụng đúng
kỹ thuật Những loại độc hại quá cần được hạn chế hoặc cấm sử dụng Tuy nhiênnhững thuốc BVTV này ở một số nước đang phát triển vẫn đang được sử dụng mộtcách rộng rãi nên tình trạng nhiễm độc hàng loạt vẫn đang diễn ra ở mức báo động
Tại hội nghị y tế thế giới lần thứ 8 năm 1975, WHO đưa ra bảng phân loạithuốc BVTV theo độ độc hại đối với các loại sinh vật căn cứ trên giá trị LD50
13
Trang 22(Lethal Dose 50) và LC50 (Lethal Concentration 50) Trong đó, LD50 là liều thuốcgây chết 50% cá thể thí nghiệm, có thể là chuột hoặc thỏ, được tính bằng mg/kgtrọng lượng LD50 gây nhiễm qua đường tiêu hóa hoặc LD50 qua da LC50 là nồng
độ gây chết trung bình của thuốc xông hơi được tính bằng mg hoạt chất/m3 khôngkhí LD và LC càng nhỏ, độc tính càng cao Độ độc của thuốc BVTV dạng rắn caogấp 4 lần độc tính của thuốc BVTV dạng lỏng Căn cứ vào độ độc LD50 người tachia thuốc BVTV ra làm 4 cấp độc từ I đến IV Cấp I rất độc, cấp II độc, cấp III độctrung bình, cấp IV tương đối ít độc Để nhận biết người ta in băng màu trên nhãnthuốc biểu thị cấp độ độc
Bảng 1.1 Phân nhóm độc chất thuốc BVTV tại Việt Nam
Mức độ độc và ký hiệu LD50 (chuột) qua miệng LD50 (chuột) qua da
(mg/kg) (mg/kg) (mg/kg) (mg/kg)
Ia, Ib Rất độc <50 <200 <100 <400Vạch màu đỏ
II Độc 50 - 500 200 – 1000 100 - 1000 400 – 4000Vạch màu vàng
III Độc trung bình >500 >2000 >1000 >4000Vạch màu xanh
Trang 23Trung Quốc trong khoảng thời gian từ 1951 – 1990 có ít nhất 184 vụ ngộ độccấp tính do hóa chất BVTV, gây nhiễm độc cho 24.731 người, chết 1.065 người(4,3%) Năm 1992 – 1995 có 214.094 trường hợp ngộ độc thuốc BVTV cấp tínhvới 22.545 người chết Năm 1997 – 2003 có 108.372 người bị ngộ độc thuốcBVTV Trong đó tỷ lệ nhiễm độc nghề nghiệp chiếm 25,39% và nhiễm độc khôngnghề nghiệp 74,61% Tỷ lệ tử vong 6,86% [31].
Bộ Y tế Thái Lan trong báo cáo thường niên 1998 có 4.398 trường hợp ngộđộc thuốc BVTV và tỷ lệ trên 100.000 dân là 7,16 Năm 2003 số vụ ngộ độc là2.342 trường hợp và tỷ lệ trên 100.000 dân là 3,72 [33]
Ở Irắc có vụ nhiễm độc thuốc BVTV điển hình vào năm 1971 – 1972 hơn6.000 người đã phải vào viện với triệu chứng bị ngộ độc thực phẩm và 459 người chếtsau khi ăn bánh mì được làm từ ngũ cốc bị phun thuốc diệt nấm methylmercury [32]
Ở Ấn Độ đã xảy ra vụ ngộ độc nghiêm trọng tại Bhopal do rò rỉ thuốc BVTVMethylisocyanate làm 200.000 người bị nhiễm độc trong đó có hơn 2.000 ca tửvong
Tại Campuchia theo nghiên cứu của Sylviane Nguyen và cộng sự phỏng vấn
210 nông dân sử dụng thuốc BVTV có 88% có triệu chứng ngộ độc [34]
Nhiễm độc thuốc BVTV là bệnh dịch vô hình luôn tồn tại ở các quốc gia Córất nhiều thống kê, báo cáo và nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới về ngộ độc vàcách phòng ngộ độc cũng như xử trí ngộ độc thuốc BVTV
1.3.2 Tại Việt Nam
Thuốc BVTV được sử dụng ở Việt Nam từ những năm 1957, trong thời gian
20 năm đầu người ta không chú ý đến tác hại của thuốc BVTV đến môi trường vàcon người Đến những năm 80 của thế kỷ XX mới có những công trình nghiên cứu
về ô nhiễm môi trường và tác dụng của thuốc BVTV đến sức khỏe con người [13].Những ảnh hưởng trên lâm sàng, cận lâm sàng của thuốc BVTV đối với người ViệtNam bước đầu được làm sáng tỏ và là tiếng chuông báo động về nguy cơ sức khỏemôi trường do thuốc BVTV gây nên ở nước ta
15
Trang 24Theo Hà Minh Trung và cộng sự nhóm nghiên cứu đề tài cấp nhà nước(2008), cả nước hiện có 11,5 triệu hộ nông nghiệp, số người tiếp xúc nghề nghiệpvới hóa chất BVTV ít nhất cũng tới 11,5 triệu người Với tỷ lệ nhiễm độc hóa chấtBVTV dự đoán 18,26% thì số người nhiễm độc mãn tính trong cả nước có thể tới2,1 triệu người [26].
Theo Bộ Y tế từ năm 1980 – 1985 chỉ tính riêng 16 tỉnh phía phía Bắc đã có2.211 người bị nhiễm độc nặng do hóa chất BVTV, 811 người chết Năm 1997 tại
10 tỉnh thành phố cả nước với lượng hóa chất BVTV sử dụng mới chỉ là 4.200 tấnnhưng đã có 6.103 người bị nhiễm độc, 240 người chết do bị nhiễm độc cấp vàmãn tính Nghiên cứu của Vụ Y tế dự phòng (chương trình VTN/OCH/010 – 96.97)tại 4 tỉnh Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, Tiền Giang, Cần Thơ trong 4 năm (1994 –1997) có 4.899 người bị nhiễm độc, 286 người chết chiếm 5,8% Các biểu hiệnnhiễm độc sau ngày làm việc khá phổ biến là đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi, lợmgiọng, buồn nôn, chán ăn…Nhiều tác giả đã nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng củahóa chất BVTV đến sức khỏe con người [5,9]
Nguyễn Văn Nguyên và cộng sự nghiên cứu 571 công nhân và hai nôngtrường chè có sử dụng hóa chất BVTV thấy 77,2% đau đầu kém ngủ, 75,5% đautức ngực và khó thở, 65,5 đau lưng và xương khớp, 46,5 % mệt mỏi run chân tay,44,8% ho và khạc đờm, 29,3% đau bụng không rõ nguyên nhân, 21,1% chán ăn.Khám lâm sàng thấy 25% có hội chứng suy nhược thần kinh, 26,5% hội chứng rốiloạn tiêu hóa, 16,3% bị bệnh xương khớp, 14,2 bị bệnh đường hô hấp, 10% bị bệnhngoài da Những rối loạn sớm nổi bật là hoạt tính enzym cholinesetrase giảm xuốngchỉ còn 75% so với nhóm chứng, 19,6% thiếu máu, 37,2% có bạch cầu trung tínhthấp [15,16]
Nguyễn Duy Thiết điều tra 100 hộ gia đình tại 5 đội xã Tam Hiệp, huyệnThanh Trì – Hà Nội thấy 73% có triệu chứng như nôn nao, khó chịu, choáng váng,nhức đầu, buồn nôn, khó ngủ, ngứa và nóng các vùng da hở [23]
Trần Ngọc Lan và cộng sự nghiên cứu điều tra 1.667 lao động thường xuyên
sử dụng thuốc BVTV tại 16 xã thuộc 8 tỉnh miền Trung và miền Nam cho thấy các
Trang 25triệu chứng hay gặp là các triệu chứng về hệ thần kinh trung ương, hệ thần kinhthực vật Bệnh thường gặp là các bệnh về đường hô hấp Chỉ tính từ năm 2000 đếntháng 6 năm 2001 tại 14 xã được điều tra có 199 trường hợp nhiễm độc, 86,93%những ca đi phun thuốc có biệu hiện nhiễm độc Tỷ lệ tử vong do nhiễm độc chiếm2,51% [18].
Trần Như Nguyên, Đào Ngọc Phong nghiên cứu trên 500 hộ gia đình ngoạithành Hà Nội thấy dấu hiệu phổ biến nhất ngay sau khi sử dụng thuốc BVTV làchóng mặt, nhức đầu, buồn nôn thấy ở 70% đối tượng ngoài ra còn các triệu chứngkém ăn, đau mắt, đau bụng, rối loạn giấc ngủ [17]
Lê Thị Thu, Nguyễn Thị Dư Loan, Hoàng Thị Bích Ngọc nghiên cứu trên 36người dân thường xuyên tiếp xúc với hóa chất BVTV tại 2 xã thuộc huyện ThườngTín, nhóm chứng gồm 32 sinh viên Học viện Quân Y Kết quả nghiên cứu cho thấy,
ở những người làm nông nghiệp tiếp xúc dài ngày với hóa chất BVTV thì hoạt độenzym cholinesterase (5931U/l) giảm so với nhóm chứng (8359U/l) [25]
Cao Thúy Tạo tiến hành một nghiên cứu ngang mô tả nguy cơ nhiễm độc hóachất BVTV trên người sử dụng tại một số vùng chuyên canh khác nhau Kết quảcho thấy người sử dụng hóa chất BVTV thường có biểu hiện mệt mỏi, chóng mặt,tăng tiết nước bọt Nồng độ hóa chất BVTV/ cm2 da sau khi phun gấp 2 lần trướckhi phun, 32,4% đối tượng nghiên cứu có biểu hiện cường phó giao cảm
Có thể nói nhiễm độc thuốc BVTV là một thực tế, diễn ra thường xuyên liêntục ở tất cả các địa phương trong cả nước và trở thành một vấn đề lớn trong côngtác bảo vệ sức khỏe người lao động nông nghiệp ở nước ta hiện nay
17
Trang 26CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đặc điểm dân cư, các hoạt động kinh tế xã hội trong khu vực nghiên cứu
- Thực trạng sử dụng thuốc BVTV, thực trạng đa dạng sinh học hệ sinh thái nông nghiệp vùng nghiên cứu
- Khả năng ảnh hưởng của thuốc BVTV đến hệ sinh thái nông nghiệp và sức khỏe cộng đồng vùng nghiên cứu
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Hệ sinh thái nông nghiệp Huyện Thường Tín – Thành phố Hà Nội (nghiêncứu trường hợp tại xã Hà Hồi và xã Thư Phú)
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Các công trình nghiên cứu về hệ sinh thái nông nghiệp, thuốc BVTV, các bộdanh lục động thực vật, báo cáo khoa học, báo cáo thống kê có liên quan đến đốitượng và phạm vi nghiên cứu
Báo cáo tóm tắt điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại khu vực nghiên cứu
2.3.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Các đợt nghiên cứu khảo sát thực địa được tiến hành từ tháng 01 đến tháng
10 năm 2014 với tuần suất 02 lần/ 01 tháng Các khảo sát được thiết lập qua các hệsinh thái của khu vực nghiên cứu là:
- Các cánh đồng rau màu, ruộng lúa nước;
Điều tra được tiến hành như sau:
Thu mẫu thực vật, tiến hành chụp ảnh, xác định tên khoa học đối với các loài
phổ biến và dễ xác định bằng các sách chuyên khảo chủ yếu là “Cây cỏ Việt Nam”
Trang 27của Phạm Hoàng Hộ và “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (tập I – 2001, tập II
– 2002 và tập III – 2005) [12], những loài khó xác định được tiến hành chụp ảnhvới ít nhất đủ ba phần lá, thân, hoa và gửi tới chuyên gia xác định Sau khi đã có tênkhoa học của các loài lập danh lục phản ảnh đầy đủ các thông tin cần thiết bao gồmdanh sách các loài theo từng họ, các họ theo từng ngành, các loài có tên khoa học vàtên Việt Nam, dạng sống và công cụ, tiến hành thống kê số loài, họ theo từngngành…phục vụ cho phân tích đánh giá tính đa dạng hệ thực vật
2.3.2.1 Phương pháp phân tích đánh giá tính đa dạng hệ thực vật
Phân tích đa dạng về thành phần loài
Dựa trên quan niệm truyền thống về hệ thực vật, chỉ kiểm kê các loài thựcvật bậc cao có mạch, mọc tự nhiên hoặc loài ngoại lai tự nhiên hóa không phụ thuộc
sự chăm sóc của con người Số lượng các loài được căn cứ vào:
- Mẫu vật thu được tại thực địa trong quá trình khảo sát, được định loạitrong phòng thí nghiệm theo các tài liệu chuyên khảo hoặc theo phương pháp chuyên giatại chỗ
- Kết quả khảo sát trực tiếp tại thực địa xác định thành phần loài theo chuyên gia
- Thảm khảo một số tài liệu về sự phân bố và nơi sống của thực vật trong
một số tài liệu có uy tín khoa học đã được công bố Chủ yếu là tài liệu “Cây cỏ Việt Nam”, Phạm Hoàng Hộ gồm 3 tập, “Danh lục thực vật Việt Nam”, 3 tập do Viện Sinh
thái và Tài nguyên Sinh vật và Đại học Quốc Gia Hà Nội biên soạn
Đánh giá tính đa dạng về thành phần loài, đặc trưng cấu trúc hệ thống hệ thực vật.
Sự sắp xếp các loài vào Taxon bậc cao hơn (chi, họ…) theo quan điểm củavườn thực vật Kiu, liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ailen (Brummitt, 1992) Têntác giả các taxon viết theo Brummitt và Powell (1992) Các ngành thực vật đượcxếp theo sự tiến hóa của thực vật, từ phát tán bằng bào tử (Khuyết lá thông, Thôngđất, Dương xỉ) đến các ngành thực vật có hạt (Thông, Ngọc lan) Các họ trong từngngành (riêng ngành Ngọc lan thì xếp các họ trong từng lớp), các chi trong từng họ
và các loài trong từng chi thì xếp theo thứ tự chữ cái trong bảng chữ cái ABC theo
19
Trang 28tên khoa học Sự phân bố các loài trong các chi, các họ, các ngành thực vật được phân tích theo quan điểm của Tomachev (1974).
Phân tích đánh giá bản chất sinh thái đa dạng hệ thực vật
Dựa trên nguyên tắc phân chia dạng sống của Raunke (1937)
Phân tích đánh giá mức độ giàu loài quý hiếm
Theo IUCN, 2004 các tiêu chuẩn trong sách đỏ Việt Nam 2007 và các loài có
giá trị tài nguyên (theo “Tài nguyên thực vật Đông Nam Á” – Prosea, 1995”)
2.3.2.2 Phương pháp đánh giá phân tích đa dạng hệ động vật
- Xác định tuyến điều tra, vị trí thu mẫu ngoài thực địa
- Ghi nhận các đặc trưng của các sinh cảnh trên tất cả các tuyến khảo sát
- Sử dụng các bẫy động vật đơn giản như sau:
Bẫy hố:
Bẫy hố là một công cụ cần thiết cho việc bắt và nghiên cứu côn trùng cư trútrên mặt đất, đặc biệt là các loài bọ cánh cứng mặt đất Chúng tôi tạo ra các bẫy nhưsau: Sử dụng một ống hộp kim loại có chiều cao cao hơn đường kính ngang từ 2đến 3 lần, đào hố theo kích thước của hộp kim loại sao cho độ sâu của hố bằng vớichiều cao của hộp, đổ một chút nước vào bẫy để tạo chất dính côn trùng không chothoát ra ngoài Kiểm tra bẫy thường xuyên trong ngày
Lưới thu mẫu thủy sinh
Kích thước 40 cm x 40 cm dùng để thu thập các loài thủy sinh thuộc các ngànhđộng vật không xương sống và cá, được thu bằng vợt qua các thủy vực khác nhau.Mẫu vật thu được định loại tại chỗ hoặc đưa về phòng thí nghiệm để định loại
Bẫy ánh sáng (bẫy đèn)
Trang 29Sử dụng một số bóng đèn và một màn màu trắng, bật đèn vào buổi tối để thuhút côn trùng và các loài động vật khác hoạt động vào ban đêm có xu tính dươngvới áng sáng vào bẫy, sử dụng lưới và lọ đựng axeton để thu mẫu.
2.3.3 Phương pháp điều tra phỏng vấn
- Tiến hành điều tra 110 nông hộ dựa vào bảng hỏi kết hợp phỏng vấn Nộidung điều tra, phỏng vấn nông dân tập trung vào 3 vấn đề
(1) Tình hình sử dụng thuốc BVTV của nông dân: nội dung này tập trungvào tìm hiểu các thuốc BVTV thương phẩm được sử dụng phổ biến, cách thức sử dụngthuốc BVTV của người nông dân (về liều lượng, kỹ thuật phun thuốc, xử lý thuốcBVTV khi còn dư ) và cách thức tiếp cận với những thông tin về thuốc BVTV củangười dân;
(2) Đánh giá của nông dân về tác động của thuốc BVTV đối với môi trường vàsức khỏe cộng đồng dựa trên tìm hiểu những vấn đề môi trường được quan tâm tại địaphương và xác định mối liên hệ giữa những vấn đề đó với việc sử dụng thuốc
- Bên cạnh đó chúng tôi còn phỏng vấn các đối tượng khác như cán bộ hợptác xã nông nghiệp, cán bộ y tế xã, cán bộ trạm bảo vệ thực vật…bằng phương phápphỏng vấn nhanh
2.3.4 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
21
Trang 30Số liệu thu thập và xử lý thống kê theo phương pháp thông dụng trên các chương trình Excel.
- Từ bảng danh lục động thực vật thông kê được, tiến hành phân tích về sốloài, thành phần loài trong khu vực nghiên cứu, đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học tạivùng nghiên cứu
- Từ kết quả phỏng vấn các đối tượng như nông dân, cơ sở kinh doanh thuốcBVTV, cán bộ chuyên trách tại địa phương…tiến hành tổng hợp, phân tích về tỉ lệ ngườidân sử dụng thuốc BVTV đúng cách, về bảo hộ lao động, về tỉ lệ người bị ảnh hưởnghoặc biểu hiện nhiễm bệnh do sử dụng thuốc BVTV… bằng các bảng và biểu đồ dưới sự
hỗ trợ của công cụ Excel
Trang 31CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Ranh giới địa lý huyện Thường Tín
- Phía Đông giáp huyện Văn Giang và huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên vớingăn cách tự nhiên là sông Hồng
- Phía Nam giáp huyện Phú Xuyên
- Phía Tây giáp huyện Thanh Oai, ngăn cách bởi sông Nhuệ
- Phía Bắc giáp huyện Thanh Trì
Huyện Thường Tín có hệ thống đường giao thông thuận lợi với hai tuyếnđường bộ chạy dọc huyện là quốc lộ 1A dài 17,2 km và đường cao tốc Pháp Vân –Cầu Giẽ dài 17 km Chạy ngang huyện còn có tuyến đường tỉnh lộ, huyện lộ nhưđường 71 cũ, 73 cũ Trên huyện có tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua với 3 nhà
ga là ga Thường Tín, ga Tía và ga Đỗ Xá Đường thủy có sông Hồng với cảngHồng Vân, cảng Vạn Điểm
Vị trí huyện Thường Tín tương đối thuận lợi cho phát triển nền kinh tế đadạng định hướng công nghiệp hóa, thương mại hóa, dịch vụ
* Địa hình:
Huyện Thường Tín nằm ven theo hai dòng sông là sông Hồng và sông Nhuệnên đất đai ở đây chủ yếu là đất phù sa bồi đắp mà thành, địa hình tương đối bằngphẳng rất thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp
* Khí hậu:
23
Trang 32Huyện Thường Tín nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa ẩm Thời tiết đượcchia thành hai mùa rõ rệt Mùa nóng ẩm từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng
11 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình năm khoảng 24,30C, nhiệt độ cao nhất
có thể lên tới 420C, nhiệt độ thấp nhất có thể xuống tới 2,70C Lượng mưa trungbình năm khoảng 1.678 mm, chủ yếu tập trung vào mùa nóng ẩm Độ ẩm tương đốitrung bình 78,6% Hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Nam và gió mùa ĐôngBắc
Với đặc điểm khí hậu như trên huyện Thường Tín có nhiều thuận lợi cho sựphát triển nền nông nghiệp đa dạng
* Hiện trạng tài nguyên đất đai
- Đất sản xuất nông nghiệp có 7827,67 ha trong đó: + Đất trồng lúa 6065,88 ha;
+ Đất trồng cây hàng năm khác 750,21 ha;
+ Đất trồng cây lâu năm 137,96 ha;
+ Đất nuôi trồng thủy sản 868,33 ha;
+ Đất nông nghiệp khác 5,29 ha
- Đất phi nông nghiệp có 4808,22 ha trong đó: + Đất ở 1343,73 ha;
+ Đất chuyên dùng 2377,50 ha;
+ Đất tôn giáo, tin ngưỡng 89,13 ha;
+ Đất nghĩa trang, nghĩa địa 153,33 ha;
+ Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 820,51 ha;
+ Đất phi nông nghiệp khác 24,02 ha
- Đất chưa sử dụng 102,75 ha
Quỹ đất nông nghiệp ở Thường Tín trong giai đoạn này chịu sức ép lớn vềdiện tích từ phát triển công nghiệp, làng nghề, xây dựng đô thị và chính từ sản xuấtnông nghiệp với yêu cầu đảm bảo thu nhập tăng và ổn định cho nông dân Tiến bộkhoa học kỹ thuật và công nghệ mới đã được áp dụng có hiệu quả góp phần làmtăng khối lượng và chất lượng sản phẩm trong trồng trọt và chăn nuôi Cây lúa vẫn
Trang 33giữ vai trò chủ đạo trong trồng trọt nhưng đã giảm 571 ha do chuyển đổi sang mục đíchphi nông nghiệp và chuyển sang trồng rau, màu, nuôi trồng thủy sản Vụ đông đã pháttriển trở thành vụ sản xuất chính với diện tích trên 4100 ha Diện tích cây công nghiệpngắn ngày có xu hướng giảm Đất trồng 3 vụ chiếm 50% diện tích đất trồng hàng năm.Các hệ thống luân canh cây trồng chính là: 2 lúa – khoai tây đông; khoai tây – bí xanh– rau màu; lúa mùa – cà chua – cải bắp; dưa chuột – cà chua – bắp cải; ngô nếp hè thu– bắp cải sớm – xu hào; hoặc lúa – cá – vịt; lúa – cây vụ đông.
Nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi bán công nghiệp hoặc công nghiệp ngàycàng phát triển Số hộ chăn nuôi với số lượng lớn ngày càng nhiều Diện tích đấtnuôi trồng thủy hải sản tăng mạnh một phần do chuyển đổi các chân ruộng trũngcấy lúa một vụ cho hiệu quả kém sang nuôi trồng thủy sản Cuối năm 2005 huyện
có 132,9 ha chuyển đổi cơ cấu trồng lúa sang mô hình trang trại thì đến năm 2013huyện đã chuyển đổi được gần 700 ha sang các mô hình vườn, ao chuồng; trồnghoa, cây cảnh và sản xuất rau an toàn Trên địa bàn huyện đã hình thành nhiều vùngchuyên canh rau như tại xã Hà Hồi, Thư Phú, Liên Phương, Vân Tảo nhằm cungcấp các sản phẩm rau xanh cho thị trường Hà Nội (hình 3.1)
Hình 3.1: Mô hình sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện
Đất nông nghiệp của huyện được sử dụng khá triệt để với sự đa dạng về câytrồng Đất chưa sử dụng giảm do được khai thác vào các mục đích sử dụng khác.Đất ở và đất chuyên dùng tăng do dân số tăng nhanh, quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa đang trên đà phát triển mạnh mẽ, môi trường đã có các dấu hiệu ônhiễm do các hoạt động công nghiệp, sản xuất nông nghiệp, đô thị hóa Đất nông
25
Trang 34nghiệp ở Thường Tín đã có dấu hiệu ô nhiễm cục bộ bởi các kim loại nặng Việc sửdụng các hóa chất như phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ còn tùy tiện Công tácquản lý sử dụng đất và việc sử dụng đất của huyện chưa có sự gắn kết với nhữngyêu cầu bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Thường Tín là huyện có tốc độ phát triển kinh tế tương đối cao Tốc độ tăngtrưởng GDP năm 2013 ước tính 13,8% Chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra mạnh mẽ:Nông nghiệp 15,5%; Công nghiệp – xây dựng 52%; Thương mại – dịch vụ 32,5%
Về sản xuất nông nghiệp, huyện Thường Tín đã cơ cấu lại các ngành sảnxuất nông nghiệp theo hướng phát huy các lợi thế của địa phương; Trên cơ sở quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2005-
2010, định hướng 2015, đã hình thành vùng sản xuất lúa hàng hoá, quy hoạchnhững diện tích cấy lúa kém hiệu quả sang trồng cây cây ăn quả, nuôi trồng thuỷsản, chăn nuôi tập trung, sản xuất rau an toàn, vùng hoa cây cảnh với tổng diện tích
đã chuyển đổi 649ha Huyện đã đầu tư kinh phí 23 tỷ đồng khuyến khích sản xuất
và hoàn thiện hệ thống giao thông, thủy lợi nội đồng và có chính sách hỗ trợ nôngdân về vốn, giống và kỹ thuật Sau 5 năm, nền sản xuất nông nghiệp của huyệnbước đầu phát triển toàn diện, theo hướng hiện đại hóa Giá trị sản xuất bình quântăng 3,3%; Giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích đạt 93 triệu đồng/ha/năm; Sảnlượng lương thực trên 71.000 tấn/năm Thu nhập bình quân đầu người năm 2012đạt 18,74 triệu đồng/người/năm, tăng gấp 1,5 lần so với năm 2008 (đạt 12,44 triệuđồng/người/năm)
Lĩnh vực công nghiệp, trong giai đoạn 2008 đến năm 2013, huyện ThườngTín đã tiến hành đầu tư xây dựng thêm Cụm công nghiệp Quất Động mở rộng vớidiện tích 43,4 ha; Đến nay, cụm công nghiệp đã đi vào hoạt động, tỷ lệ lấp đầy là77,4% Thường Tín hiện có 126 làng nghề thủ công, trong đó có 46 làng được côngnhận làng nghề cấp thành phố, đã giải quyết việc làm cho 28.929 lao động, với mứcthu nhập bình quân năm 2012 đạt 2,2 triệu đồng/người/tháng Tổng doanh thu củacác làng nghề được công nhận đạt 3.629,5 tỷ đồng, giá trị sản xuất chiếm hơn 50%
Trang 35giá trị công nghiệp toàn huyện Sáu tháng đầu năm 2013, tổng giá trị sản xuất côngnghiệp - tiểu thủ công nghiệp ước đạt 1.424,8 tỷ đồng, tăng 7,1% so với cùng kỳnăm 2012 Giá trị xuất khẩu ước đạt 239,5 tỷ đồng, tăng 7,1% so với cùng kỳ nămtrước Tổng giá trị thương mại - dịch vụ ước đạt 846,7 tỷ đồng, tăng 7,5% so vớicùng kỳ năm 2012 Về nông nghiệp, tổng diện tích lúa vụ xuân 2013 của huyện đạt5.600 ha, đạt năng suất bình quân 64,1 tạ/ha Huyện đã thực hiện chính sách hỗ trợsản xuất nông nghiệp với tổng kinh phí 1,2 tỷ đồng Trong năm 2013 toàn huyện đãgiảm được 1.294 hộ nghèo, đưa số hộ nghèo toàn huyện xuống chỉ còn chiếm 4%
cư văn hóa, 114 đơn vị đạt danh hiệu văn hóa
Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thông tin cổ động, thư viện, thể dục thểthao được các cơ quan, đơn vị các xã, thị trấn hưởng ứng tích cực
Công tác bảo tồn các di sản văn hóa được quan tâm Năm 2011, huyện đã lập
hồ sơ và đề nghị xếp hạng thêm 10 di tích, trong đó Đình Phương Quế được côngnhận di tích Quốc gia, đình Phúc Trạch và đình Thượng Giáp (xã Thống Nhất)được công nhận di tích cấp Thành phố, nâng tổng số di tích được xếp hạng lên 93
di tích Hoàn thành công trình phục hồi Tam bảo Chùa Đậu và dự án tu bổ, tôn tạođình Khánh Vân; triển khai lập dự án xin chủ trương đầu tư phục hồi, tu bổ, tôn tạo
và chống xuống cấp một số di tích khác trên địa bàn huyện
27
Trang 363.1.3 Sơ lược đánh giá thực trạng dân cư vùng nghiên cứu
Thường Tín là huyện có bề dày lịch sử lâu đời Dân cư sinh sống trên địabàn huyện chủ yếu là người dân tộc kinh Tổng dân số toàn huyện 240.000 người.Với vị trí địa lý tương đối gần trung tâm thủ đô Hà Nội và lịch sử phát triển từ lâuđời huyện Thường Tín là vùng tập trung đông dân cư, mật độ dân số trên địa bànhuyện là 1881 người/km2, cá biệt như thị trấn Thường Tín mật độ dân số lên đến9.190 người/km2 Năm 2013 tỉ lệ sinh con thứ 3 trên toàn huyện giảm 0,29%, tỷ lệtrẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm 0,8% so với năm 2012
Lao động trẻ có xu hướng thoát ly nông nghiệp nhiều hơn, trình độ chuyênmôn kỹ thuật của lao động đặc biệt là lao động nông nghiệp chưa thực sự cao là yếu
tố cản trở chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới trongnông nghiệp, thương mại, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
3.2 Đánh giá hiện trạng hệ sinh thái nông nghiệp của vùng nghiên cứu.
3.2.1 Đa dạng sinh học thực vật
Trong quá trình nghiên cứu, khảo sát thực địa, thu thập mẫu thực vật tại khuvực nghiên cứu (nghiên cứu điểm tại xã Hà Hồi và Thư Phú) đã thống kê được hệthực vật tại đây phân phối trong cấu trúc hệ thống ở bảng 3.2
Qua bảng số liệu và biểu đồ so sánh sự phân bố của các taxon thực vật tạikhu vực nghiên cứu cho thấy thành phần thực vật ở khu vực nghiên cứu khá phongphú và đa dạng với 244 loài thực vật bậc cao có mạch phân bố trong 187 chi, 82 họ
và 4 ngành Trong đó ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) có số họ, chi, loài phong
phú nhất với 227 loài (93,03% tổng số loài toàn hệ) Tiếp đến là ngành Dương xỉ
(Polypodiophyta) với 6 họ (7,32%), 7 chi (3,74%), 13 loài (5,33%) Các ngành còn
lại chiếm tỉ lệ rất nhỏ trong tổng số loài thực vật toàn hệ Mặc dù diện tích vùngnghiên cứu tương đối nhỏ chỉ hơn 1% so với diện tích chuẩn của một hệ thực vật cụthể nhưng số liệu này thể hiên tính quy luật đối với hệ thực vật nhiệt đới và thuộc
hệ thực vật Việt Nam khi chứng tỏ rằng vai trò của thực vật hạt kín luôn giữ vị tríhàng đầu và không phụ thuộc diện tích các hệ thực vật được nghiên cứu trong mộtkhu hệ thực vật
Trang 37Bảng 3.2 Đa dạng các bậc taxon của hệ thực vật tại xã Hà Hồi, Thƣ Phú
LanIV.2 Liliopsida Lớp Ngọc 20 24,39 49 26,20 58 23,77
lan
Hình 3.2: So sánh sự phân bố của các taxon thực vật ở khu vực nghiên cứu
Trang 3829
Trang 39Hệ thực vật khu vực nghiên cứu có hệ số chi là 1,3; hệ số họ là 2,3 và trungbình 3,0 loài/ 1 họ Qua đây nhận thấy diện tích khu vực nghiên cứu quá nhỏ chƣađặc trƣng cho hệ thực vật cụ thể, các hệ số thực vật tại khu vực nghiên cứu có chỉ
số khá thấp, phù hợp với quy luật chung là diện tích của một hệ thực vật tăng lêncác taxon cũng tăng lên Theo quy luật này hệ thực vật Việt Nam là khu vực có diệntích lớn hơn nên các hệ số chi, hệ số họ và số loài trung bình trong một họ lớn hơn,điều này thể hiện rõ trong bảng sau:
Bảng 3.3: So sánh hệ số chi, hệ số họ và số loài trung bình của một họ của các hệ
thực vật của xã Hà Hồi, Thƣ Phú với hệ thực vật Việt Nam
Bảng 3.4: So sánh hệ thực vật xã Hà Hồi, Thƣ Phú và hệ thực vật Việt Nam
Trang 4030