1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng quy trình sản xuất mẫu ngoại kiểm đánh giá chất lượng phòng thí nghiệm huyết thanh học HIV

90 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 2,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.4 CHƯƠNG TRÌNH NGOẠI KIỂM 1.4.1 Khái quát chung về chương trình ngoại kiểm Những tiêu chuẩn về phòng thí nghiệm được công nhận ở mức độ quốc tế,quốc gia, địa phương hay từ một tổ chức

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN HÀ NỘI

-Hoàng Thị Thanh Hà

XÂY DỰNG QUY TRÌNH SẢN XUẤT MẪU NGOẠI KIỂM ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG

PHÒNG THÍ NGHIỆM HUYẾT THANH HỌC HIV

Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm

Mã số: 60 420114

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM HỒNG THẮNG

TS HOÀNG THỊ MỸ NHUNG

Hà nội - Năm 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Phạm Hồng Thắng

và TS Hoàng Thị Mỹ Nhung, những người đã luôn tận tình hướng dẫn, nâng đỡ

và truyền đạt kiến thức cũng như kinh nghiệm và luôn đồng hành cùng tôi suốt quátrình học tập Thầy và Cô đã luôn tận tâ ý, sửa chữa, và động viên tôi hoàn thành tốtluận văn này

Xin gửi lời cảm ơn đến Ths Bùi Thị Vân Khánh, người bạn đã luôn nhiệt

tình giúp đỡ, động viên tôi trong những lúc khó khăn để tôi có thể vững tâm hoànthành khóa luận này

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến các Thầy, Cô và cán bộ trong khoa Sinh học, đặc biệt các Thầy, Cô bộ môn Sinh học tế bào đã luôn tận tình dạy dỗ,

truyền đạt cho tôi những kiến thức chuyên ngành và những kinh nghiệm quý giá

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Đốc và lãnh đạo Khoa HIV/AIDS,Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương đã giúp đã và luôn tạo điều kiện thuận

lợi cho tôi tham gia khóa học và triển khai thực hiện nghiên cứu tại Viện

Xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp trong khoa, đặc biệt các bạn đồng nghiệp tại

Phòng thí nghiệm huyết thanh học HIV đã đồng hành cùng tôi trong suốt thời

gian thực hiện nghiên cứu không kể ngày đêm

Cuối cùng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, đến Bố Mẹ hai bên cùng chồng và các con, những người thân yêu trong gia đình Gia đình luôn là

điểm tựa và là nguồn động viên không thể thiếu đối với tôi trong suốt cuộc đời này

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự ủng hộ về tài chính từ dự án

“Nâng cao năng lực giám sát và xét nghiệm HIV tại Việt Nam, giai đoạn 2015” do Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ tài trợ Hà nội, ngày

2010-4 tháng 12 năm 2012010-4

Hoàng Thị Thanh Hà

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC BẢNG iv

DANH MỤC HÌNH v

BẢNG DANH MỤC VIẾT TẮT vi

MỞ ĐẦU 1

Chương 1- TỔNG QUAN 3

1.1 THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ HIV/AIDS 3

1.1.1 Cấu trúc của Virut HIV 3

1.1.2 Vòng đời của vi rút HIV 4

1.1.3 Dịch tễ học nhiễm HIV trên thế giới và tại Việt Nam 6

1.1.3.1 Dịch tễ học nhiễm HIV trên thế giới 6 1.1.3.2 Dịch tễ học nhiễm HIV tại Việt Nam 6 1.2 XÉT NGHIỆM HIV TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM 7

1.2.1 Các phương pháp xét nghiệm HIV 8

1.2.2 Chiến lược và phương cách xét nghiệm HIV 9

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG XÉT NGHIỆM .10

1.3.1 Một số khái niệm về chất lượng 10

1.3.2 Giới thiệu về hệ thống đảm bảo chất lượng 11

1.3.3 Sơ đồ hoạt động của phòng thí nghiệm 13

1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng xét nghiệm: 13

1.3.4.1 Giai đoạn trước xét nghiệm 14

1.3.4.2 Giai đoạn xét nghiệm 15

1.3.4.3 Giai đoạn sau xét nghiệm 15

1.3.4.4 Các sai số trong phòng thí nghiệm: 15

1.4 CHƯƠNG TRÌNH NGOẠI KIỂM 16

1.4.1 Khái quát chung về chương trình ngoại kiểm 16

1.4.2 Các hình thức ngoại kiểm tra 18

1.4.3 Mô hình chương trình ngoại kiểm 19

Trang 4

1.4.4 Mục đích và ý nghĩa của chương trình 19

1.4.5 Các chương trình ngoại kiểm HIV trên thế giới và tại Việt Nam 20

1.4.6 Mẫu ngoại kiểm và yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng mẫu chuẩn .21 1.4.6.1 Định nghĩa chung về các loại mẫu chuẩn 21

1.4.6.2 Phân loại mẫu chuẩn 22

1.4.6.3 Yêu cầu về chất lượng đối với mẫu ngoại kiểm HIV 23

1.4.6.4 Các phương pháp sản xuất mẫu ngoại kiểm HIV 24

1.4.6.5 Phương pháp đánh giá chất lượng mẫu ngoại kiểm 24

1.5 HỆ THỐNG CÁC PHÒNG THÍ NGHIỆM HIV TẠI VIỆT NAM 25

Chương 2 – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 27

2.1 ĐỐI TƯỢNG 27

2.2 THIẾT BỊ, DỤNG CỤ VÀ HÓA CHẤT 27

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.3.1 Xây dựng bộ mẫu chuẩn EQAS 30

2.3.2 Xác định đặc tính của mẫu chuẩn 30

2.3.3 Kỹ thuật chuyển đổi huyết tương thành huyết thanh 33

2.3.4 Đánh giá chất lượng mẫu sản xuất 35

2.3.4.1 Đánh giá độ đồng nhất 35

2.3.4.2 Đánh giá độ ổn định 36

2.3.4.3 Kiểm tra vô khuẩn 37

2.4 Áp dụng bộ mẫu với các phòng thí nghiệm tại Việt Nam 38

Chương 3 - KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 39

3.1 KẾT QUẢ XÂY DỰNG QUY TRÌNH SẢN XUẤT BỘ MẪU NGOẠI KIỂM.39 3.1.1 Kết quả phân tích đặc điểm bộ mẫu chuẩn 39

3.1.2 Kết quả chuyển đổi huyết tương thành huyết thanh 42

3.2 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG BỘ MẪU 48

3.2.1 Đánh giá độ đồng nhất 48

3.2.2 Đánh giá độ ổn định mẫu 50

3.2.3 Đánh giá tính vô khuẩn của bộ mẫu 53

Trang 5

3.2.4 Đánh giá chất lượng mẫu thông qua phiếu khảo sát 54

3.3 QUY TRÌNH SẢN XUẤT MẪU NGOẠI KIỂM 54

3.4 KẾT QUẢ SẢN XUẤT MẪU NGOẠI KIỂM ÁP DỤNG TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM 56

3.4.1 Các đơn vị tham gia chương trình ngoại kiểm 56

3.4.2 Thời gian trả kết quả của các đơn vị 57

3.4.3 Độ ổn định của bộ mẫu ngoại kiểm 57

3.4.4 Sinh phẩm các đơn vị thực hiện 58

3.4.5 Kết quả thực hiện của đơn vị tham gia 59

3.5 BÀN LUẬN 60

KẾT LUẬN 65

KIẾN NGHỊ 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Máy móc và thiết bị sử dụng 28

Bảng 2: Dụng cụ và vật tư tiêu hao 28

Bảng 3: Hóa chất sử dụng 29

Bảng 4: Kết quả xác định đặc tính mẫu bằng kỹ thuật Elisa 39

Bảng 5: Kết quả xác định đặc tính mẫu bằng kỹ thuật nhanh/đơn giản 40

Bảng 6: Kết quả pha loãng mẫu SB-HIV 15 41

Bảng 7: Kết quả mẫu sau pha loãng tại nồng độ lựa chọn 42

Bảng 8: Kết quả xác định đặc tính mẫu sau khi Thrombin hóa 45

Bảng 9: Kết quả xác định đặc tính mẫu sau khi phục hồi bằng Canxi 46

Bảng 10: Kết quả xét nghiệm sau khi cho Proclin 300 46

Bảng 11: Kết quả đánh giá độ đồng nhất của mẫu sản xuất 49

Bảng 12: Kết quả đánh giá độ ổn định của mẫu chuẩn 52

Bảng 13: Kết quả độ vô trùng của mẫu chuẩn 53

Bảng 14: Độ ổn định của bộ mẫu gửi đến 398 đơn vị 58

Bảng 15: Kết luận của các phòng thí nghiệm về kết quả của bộ mẫu chuẩn 59

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 Cấu trúc vi rút HIV [15] 4

Hình 2: Vòng đời của vi rút HIV[15] 5

Hình 3: Biến đổi các thông số sinh học trên bệnh nhân HIV chưa điều trị 7

Hình 4: Mô hình quản lý chất lượng[70] 12

Hình 5: Sơ đồ hoạt động của phòng thí nghiệm [70] 13

Hình 6: Vai trò của các đơn vị tham gia ngoại kiểm 18

Hình 7: Cách tính T test thông qua phần mềm Exel 37

Hình 8: Thử nghiệm phục hồi Caxi với các nồng độ khác nhau 43

Hình 9: Hình ảnh mẫu chuyển từ huyết tương thành huyết thanh qua 43

2 phương pháp Thrombin và phục hồi Canxi 43

Hình 10: Chai mẫu khuấy từ qua đêm tại nhiệt độ 2-8 o C 45

Hình 11: Kết quả xét nghiệm mẫu dương tính với kỹ thuật Western Blot 47

Hình 12: Hình ảnh bộ mẫu sau khi đã được chia ra ống và đóng gói 49

Hình 13: Kết quả xét nghiệm mẫu bảo quản tại 4 o C và nhiệt độ phòng sau 50 ngày 50

Hình 14: Thời gian bộ mẫu vận chuyển tại nhiệt độ thường đến các đơn vị và quay trở lại Viện VSDTTƯ 51

Hình 15: Kết quả xét nghiệm với sinh phẩm Determine HIV1/2 52

Hình 16: Kết quả xét nghiệm với sinh phẩm SD bioline HIV 1/2 53

Hình 17: Đánh giá sơ bộ của người sử dụng về bộ mẫu 54

Hình 18: Tỷ lệ phần trăm các đơn vị tham gia chạy mẫu 56

Hình 19: Tỷ lệ phần trăm các đơn vị theo vùng địa lý 57

Hình 20: Thời gian các đơn vị gửi kết quả bộ mẫu chuẩn 57

Hình 21 : Tỷ lệ sử dụng sinh phẩm để thực hiện bộ mẫu 58

Hình 22: Độ chính xác trên mẫu lặp lại 59

Trang 8

BẢNG DANH MỤC VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Anh

Deficiency Syndrome

Nghĩa tiếng Việt

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải

Materials

Immunosorbent Assay

Ngoại kiểm

kiểm

Trang 9

HTQLCL Quality Management System Hệ thống quản lý chất lượng

for Standardization

IUPAC International Union of Pure Quy dịnh quốc tế hài hòa dối với thử

trong linh vực hóa phân tích

of Legal Metrology

PEPFAR The President's Emergency Quỹ khẩn cấp phòng chống AIDS của

Trang 10

TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

TTYTDP Center for preventive Trung tâm Y tế dự phòng

Testing

VSDTTƯ National Institute of Hygiene Vệ sinh Dịch Tễ Trung ương

and Epidemiology

Trang 11

MỞ ĐẦU

Kể từ khi được phát hiện vào năm 1981, dịch HIV/AIDS đã nhanh chóng lâylan trên phạm vi toàn thế giới và trở thành một trong những đại dịch nguy hiểm nhấtcho đến hiện nay Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, tính đến cuối năm 2009,toàn thế giới có khoảng 33,3 triệu người lớn và trẻ em nhiễm HIV/AIDS còn sống

và hàng năm có khoảng 2,6 triệu người mới nhiễm và 1,8 triệu người tử vong do

AIDS [12] Do nên (WHO) khu

như

Trong công tác phòng chống HIV/AIDS từ trước cho đến nay, c

thí

và mở rộng ra tuyến xã Độ chính

xác và đáng tin cậy của kết quả xét nghiệm nóichung và đặc biệt là xét nghiệm HIV là vấn đề quan trọng của bất kỳ phòng thínghiệm nào trong công tác chẩn đoán, chăm sóc y tế và nghiên cứu khoa học Kếtquả xét nghiệm HIV sai sẽ mang đến những hậu quả nặng nề đối với người bệnh,gia đình và cả xã hội đồng thời sẽ ảnh hưởng đến uy tín của phòng thí nghiệm Để

có được độ chính xác và đáng tin cậy về kết quả xét nghiệm phòng thí nghiệm cầnphải có một chương trình đảm bảo chất lượng xét nghiệm tổng thể, chương trìnhnày phải được tiến hành thường xuyên liên tục và có độ tin cậy

Ngoài ra, hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại sinh phẩm khác nhau, mặc

dù có các loại sinh phẩm chẩn đoán HIV chất lượng tốt, sẵn có tuy nhiên chưa đủđảm bảo các kết quả của phòng thí nghiệm là đáng tin cậy Mẫu bệnh phẩm từ khithu thập đến khi trả kết quả cho khách hàng phải trải qua nhiều bước, nhiều qui

Trang 12

trình, và trong mỗi bước đều có thể bị nhầm lẫn hoặc sai sót Như vậy phòng thínghiệm cần phải triển khai một chương trình đảm bảo chất lượng xét nghiệm nhằmhạn chế những sai sót trong xét nghiệm Chương trình đảm bảo chất lượng của mỗiphòng thí nghiệm cần được theo dõi và kiểm soát hỗ trợ bằng chương trình đánh giáchất lượng xét nghiệm từ bên ngoài.

Chương trình đánh giá chất lượng phòng thí nghiệm từ bên ngoài giúp chocác phòng thí nghiệm theo dõi chất lượng một cách có hệ thống ở mức độ Quốc gia.Giúp cho nhà quản lý biết thực trạng của hệ thống và có các biện pháp hỗ trợ kịpthời Ngoài ra tham gia chương trình giúp cho các phòng thí nghiệm phát hiện cáclỗi thông thường, hạn chế sai sót trong các khâu của quá trình xét nghiệm, nâng caochất lượng xét nghiệm Thông qua chương trình, các phòng thí nghiệm tham gia tạothành mạng lưới để trao đổi thông tin và cập nhật các thông tin mới nhất về các vấn

đề liên quan đến công tác xét nghiệm HIV (cập nhật các sinh phẩm, các hướng dẫn,quy định mới ) Chương trình ngoại kiểm sẽ khuyến khích thực hành xét nghiệmtốt, sử dụng các quy trình xét nghiệm đã được chuẩn hóa, sử dụng các sinh phẩmtốt Bên cạnh đó thông qua các báo cáo tổng kết cho từng vòng của chương trìnhcũng giúp Bộ y tế xác định được mức độ tin cậy trong công tác xét nghiệm của cácphòng thí nghiệm từ đó có các chính sách phát triển phù hợp

Hiện nay các bộ mẫu chuẩn để đánh giá chất lượng các phòng thí nghiệm

được mua từ nước ngoài về phân phối với giá thành cao Chính vì vậy, đề tài “ Xây

dựng quy trình sản xuất mẫu ngoại kiểm đánh giá chất lượng phòng thí nghiệm huyết thanh học HIV” được thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng

xét nghiệm HIV ở Việt Nam Mục tiêu chính của đề tài là:

- Xây dựng quy trình sản xuất bộ mẫu ngoại kiểm đánh giá chất lượng phòng thí nghiệm huyết thanh học HIV

- Đánh giá chất lượng mẫu sau khi sản xuất

- Sản xuất mẫu ngoại kiểm trong điều kiện ở Việt Nam

Trang 13

Chương 1- TỔNG QUAN

1.1 THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ HIV/AIDS

Tháng 6 năm 1981, lần đầu tiên loài người biết đến một căn bệnh lạ trên thếgiới, đó là Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (AIDS) Đó là những cabệnh được mô tả tại Los Angeles với biểu hiện viêm phổi do Pneumocystis carinii ở

5 thanh niên có quan hệ tình dục đồng giới [38] Do đó tên gọi ban đầu của hộichứng này là suy giảm miễn dịch có liên quan với tình dục đồng giới HIV lần đầutiên được các nhà khoa học Pháp ở Viện Pasteur Paris phân lập vào năm 1983 [23]

Kể từ đó đến nay, nhiễm HIV/AIDS được coi là đại dịch và là thảm họa của nhânloại bởi tốc độ lây truyền rất nhanh và rộng khắp Hiện nay, chưa có thuốc điều trịchữa khỏi và tỷ lệ tử vong rất cao

HIV (Human Immunodeficiency Virus) là vi rút gây suy giảm miễn dịch ởngười, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh

AIDS (Acquired Immune Deficiency Syndrome) là Hội chứng suy giảmmiễn dịch mắc phải ở người do HIV gây ra, thường được biểu hiện thông qua cácnhiễm trùng cơ hội, bệnh ung thư và có thể dẫn đến tử vong Đây là giai đoạn cuốicùng của nhiễm HIV

Một người khi bị nhiễm HIV sẽ trở thành nguồn lây nhiễm suốt đời chongười khác Hầu hết những người nhiễm HIV đều không có các dấu hiệu và triệuchứng của bệnh trong thời gian dài và có thể không biết rằng mình đã bị nhiễmbệnh, tuy nhiên họ vẫn có thể làm lây truyền vi rút cho những người khác [11-13,15]

1.1 1 Cấu trúc của Virut HIV

HIV được xếp vào phân nhóm Lenti vi rút thuộc họ Retro vi rút Người ta đãphân lập được hai thể khác nhau về di truyền nhưng có liên quan với nhau là HIV-1

và HIV-2

HIV có dạng hình cầu, kích thước 100-120 nm gồm 3 lớp (Hình 1):

Trang 14

- Lớp vỏ ngoài: Là một màng lipid kép, gắn trên màng này là các gai nhú,bản chất các gai nhú là các phân tử glycoprotein, có trọng lượng phân tử là 160

kilodalton (gp160) Phân tử này có hai phần là gp120 và gp4, đối với HIV- 2 là gp

125 và gp 36, các phân tử này có ái tính gắn rất cao với các phân tử CD4 Qua đó,

vi rút có thể bám và xâm nhập vào tế bào đích có thụ thể CD4 (lympho T hỗ trợ, bạch cầu đơn nhân, các đại thực bào…)

- Lớp vỏ trong: Gồm 2 lớp protein: Lớp ngoài hình cầu có trọng lượng phân

tử là 17 kilodalton (p17) với HIV- 1 và 18 kilodalton với HIV-2 Lớp trong có hình trụ cótrọng lượng phân tử 24 kilodalton (p24)

- Lớp lõi: Gồm bộ gen có 2 chuỗi ARN gắn enzym phiên mã ngược RT(reverse transcriptase), enzym này đảm nhiệm việc sao mã bộ gen vi rút từ ARNthành ADN bổ sung Enzym intergrase (men tích hợp) giúp cho ADN của HIV đượcgắn vào trong ADN của tế bào bị nhiễm Ngoài ra còn có enzym protease (men thủyphân protein) có tác dụng cắt các polyprotein được mã hóa thành các protein cấutrúc hoặc chức năng, tổng hợp thành một vi rút đầy đủ [11, 13, 15]

Hình 1 Cấu trúc vi rút HIV [15]

1.1.2 Vòng đời của vi rút HIV

Hệ miễn dịch của cơ thể mà chủ yếu là các tế bào Lympho giúp chống lại cáctác nhân gây bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào Trong đó tế bào lympho T4 đóng vai

Trang 15

trò quan trọng trong hệ thống miễn dịch của cơ thể Khi vào cơ thê, HIV tấn công

có lựa chọn vào các tế bào lympho T4 (Hình 2) Về vòng đời của HIV khi xâmnhậm vào cơ thể người diễn ra như sau:

- Vi rút gắn lên bề mặt tế bào: Nhờ phân tử CD4 và các đồng thụ thể CCR5, CXCR4 với tế bào lympho T, vi rút gắn vào bề mặt tế bào đích

- Vi rút xâm nhập tế bào: Sau khi bám vào tế bào đích, phân tử protein gp41của vi rút cắm vào màng tế bào tạo nên hiện tượng hòa màng Do đó, bộ gen và enzymcủa HIV giải phóng vào trong tế bào

- Vi rút nhân lên trong tế bào: Nhờ men sao chép ngược, ADN bổ sung củaHIV được tạo thành từ khuôn mẫu ARN của nó Đầu tiên là phân tử lai ARN-ADN,sau đó ARN được tách ra khỏi ADN nhờ ADN-ase và sợi ADN bổ cứu mới đượctổng hợp tạo thành ADN chuỗi kép Sau khi được tổng hợp, ADN chuỗi kép chuivào nhân tế bào đích, quá trình tích hợp vào ADN tế bào nhờ men integrase Vì vậy,HIV đã tránh được sự phát hiện của hệ thống bảo vệ (hệ thống miễn dịch) của cơ thểcũng như tránh được tác dụng trực tiếp của thuốc

- Vi rút nảy chồi: Từ các thành phần được tổng hợp, các hạt HIV mới đượclắp ráp tại bào tương tế bào Các hạt vi rút tiến gần khu vực màng sinh chất và nảy chồi ởmàng tế bào

Hình 2: Vòng đời của vi rút HIV[15]

Khi vi rút xâm nhập tế bào, có hai khả năng xảy ra:

Trang 16

- Vi rút “ngủ ” trong tế bào nhiễm, đây là giai đoạn không triệu chứng Các

tế bào T-CD4 bị nhiễm vi rút vẫn có thể lây cho người khác Vi rút gây nhiễm các hạchbạch huyết và các đại thực bào

- Vi rút HIV dạng hoạt động: vi rút kết hợp được với tế bào T-CD4, nó gắnADN của nó vào bên trong ADN của tế bào và vi rút được hoạt hóa ngay Khi đó tếbào T-CD4 tình trở thành một nhà máy sản xuất HIV Các vi rút mới được tạo ra sẽphá vỡ tế bào (đây là cơ chế chính gây giảm tế bào lympho T-CD4 ở người nhiễmHIV), đồng thời khi ra khỏi tế bào sẽ làm nhiễm các tế bào lành khác [11, 12, 15]

1.1.3 Dịch tễ học nhiễm HIV trên thế giới và tại Việt Nam

1.1.3.1 Dịch tễ học nhiễm HIV trên thế giới

Dịch HIV/AIDS toàn cầu đã có dấu hiệu ổn định Số lượng nhiễm mới HIV

đã giảm mạnh qua từng năm kể từ cuối những năm 1990 và số tử vong liên quanđến AIDS cũng đã giảm Năm 2009, ước tính đã có 2,6 triệu người bị nhiễm mớiHIV chỉ bằng một phần năm (19%) năm 1999 Tại 33 quốc gia, tỷ lệ mắc HIV đãgiảm hơn 25% giữa năm 2001 và 2009; 22 trong số các nước này nằm ở vùng cậnSahara châu Phi Xu hướng này phản ánh kết quả của nhiều tác động, bao gồmnhững nỗ lựa phòng chống và quá trình diễn biến tự nhiên của dịch bệnh HIV.Trong nỗ lực phòng chống HIV/AIDS thể hiện qua việc tiếp cận các dịch vụ phònglây truyền HIV từ mẹ sang con đã dễ dãng hơn, lượng trẻ em được sinh ra mớinhiễm HIV đã giảm Số tử vong hằng năm liên quan đến AIDS trên toàn thế giớigiảm dần từ đỉnh điểm là 2,1 triệu vào năm 2004 xuống còn 1,8 triệu vào năm 2009[12]

1.1.3.2 Dịch tễ học nhiễm HIV tại Việt Nam

Ca nhiễm HIV được phát hiện đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh vào năm

1990, đến năm 1992 cả nước phát hiện thêm 11 ca thuộc các tỉnh Lạng Sơn, BìnhThuận, Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Sóc Trăng và

Cà Mau Phần lớn người nhiễm HIV thuộc khu vực phía Nam, các trường hợp này

do lây truyền qua đường tình dục [12] Từ năm 1994 dịch bắt đầu lan ra các thànhphố lớn và đến 1998 dịch đã lan ra 100% các tỉnh, thành phố Trong giai đoạn 2001-

Trang 17

2005, dịch lan rộng và tăng nhanh Trong số những ca nhiễm HIV được phát hiệngiai đoạn này, nam giới chiếm 85%, nữ giới chiếm 15%, nhóm tuổi nhiễm HIV tậptrung từ 20-39 tuổi (chiếm 8%) Trong giai đoạn này dịch HIV không chỉ tập trungchủ yếu trong nhóm nghiện chích ma túy và phụ nữ bán dâm như trước mà còn xuấthiện ở tất cả các ngành nghề, địa vị trong xã hội Dịch cũng không tập trung tạithành thị mà lan rộng đến khu vực nông thôn, miền núi.

Tính đến 30/9/2014, cả nước có 224.223 người nhiễm HIV hiện đang cònsống được báo cáo, trong đó có 69.617 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS và

số người tử vong do HIV/AIDS là 70.734 trường hợp [7, 12]

1.2 XÉT NGHIỆM HIV TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM

Khi cơ thể nhiễm HIV, phản ứng của cơ thể đáp ứng lại với tác nhân gâybệnh sẽ có những biến đổi thông số sinh học (hình 3)

thông số sinh học trong quá trình nhiễm vi rút, các kỹ thuật xét nghiệm có thể pháthiện kháng thể kháng HIV, kháng nguyên vi rút hoặc các chất liệu di truyền ARNhoặc tiền ADN

Hinh 3: Biến đổi các thông số sinh học trên người nhiễm HIV chưa điều

Trang 18

Những ngày đầu sau khi nhiễm HIV, vi rút nhân lên rất nhanh trong cơ thể,lúc này các kháng thể kháng HIV chưa được hình thành hoặc ở mức độ quá thấpchưa phát hiện được bằng các kỹ thuật huyết thanh học thông thường Giai đoạn nàyđược gọi là cửa sổ huyết thanh học, người bệnh đã nhiễm vi rút, có thể lây truyềncho những người khác nhưng vẫn có kết quả xét nghiệm phát hiện kháng thể âmtính Thời gian để cơ thể sinh ra kháng thể kháng HIV thông thường từ 4-6 tuần saunhiễm và tồn tại lâu dài trong máu.

Các xét nghiệm vi rút học tìm kháng nguyên vi rút (KN P24), các chất liệu ditruyền ARN/ADN của vi rút có thể phát hiện tình trạng nhiễm HIV sớm đặc biệt làtrường hợp trẻ dưới 18 tháng tuổi sinh ra từ mẹ nhiễm HIV Tuy nhiên các xétnghiệm tìm kháng nguyên và vật liệu di truyền đòi hỏi kỹ thuật trang thiết bị đắttiền, cán bộ xét nghiệm phải được đào tạo kỹ, thêm vào đó HIV là vi rút có tính biến

dị di truyền cao, có nhiều chủng và thứ nhóm khác nhau nên việc chẩn đoán bằng

kỹ thuật phân tử gặp nhiều khó khăn Vì vậy cho đến nay, WHO và nhiều nước trênthế giới không áp dụng phương pháp phát hiện trực tiếp HIV bằng kỹ thuật sinh họcphân tử và XN kháng nguyên P24 là phương pháp tiêu chuẩn để chẩn đoán HIV

Xét nghiệm phát hiện kháng thể kháng HIV là phương pháp đơn giản hơn vàhiệu quả trong chẩn đoán tình trạng nhiễm HIV vì vậy WHO và các nước sử dụng làphương pháp tiêu chuẩn để xác định tình trạng nhiễm HIV ở những người trên 18tháng tuổi [5, 11, 64, 67, 68]

1.2.1 Các phương pháp xét nghiệm HIV

Hiện nay có rất nhiều kỹ thuật sử dụng để phát hiện vi rút HIV Tuy nhiêncác xét nghiệm phát hiện nhiễm HIV được chia thành 2 nhóm phương pháp chính

đó là:

Phương pháp gián tiếp: Là phương pháp phát hiện sự hiện diện của khángthể kháng HIV trong máu hoặc các dịch tiết để xác định tình trạng nhiễm HIV Phươngpháp này áp dụng cho việc xác định tình trạng nhiễm HIV ở người trên 18

Trang 19

tháng tuổi Bao gồm các kỹ thuật như: Kỹ thuật Elisa, kỹ thuật xét nghiệm đơn giản/nhanh, kỹ thuật hóa phát quang, điện hóa phát quang, Western Blot.

Phương pháp trực tiếp: Là phương pháptìm trực tiếp cácthành phần của

vi rút như : ADN tiền virút, ARN, p24 hoặc phân lập virút Các phương pháp xétnghiệm trực tiếp được dùng trong chẩn đoán sớm nhiễm HIV ở trẻ em dưới 18 thángtuổi Bao gồm các kỹ thuật như: Phát hiện kháng nguyên p24 bằng kỹ thuật elisa, kỹthuật sinh học phân tử phát hiện ARN, ADN provirus, kỹ thuật Real time PCR phát hiệnnhiễm HIV (Kỹ thuật PCR theo thời gian thực), kỹ thuật PCR – lai

phân tử phát hiện HIV - ADN tiền virut [5, 11]

1.2.2 Chiến lược và phương cách xét nghiệm HIV

ELISA cho kết quả dương tính và được xét nghiệm khẳng định bằng Western Blotđược coi là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán trường hợp HIV dương tính Các mẫusàng lọc ELISA có kết quả âm tính thì mẫu đó được coi là âm tính [64, 67, 68]

Tuy nhiên để thực hiện xét nghiệm chẩn đoán dương tính HIV theo tiêuchuẩn vàng thường có giá thành rất cao mà nhiều nước không thể áp dụng được donguồn lực tài chính hạn chế Chính vì lý do đó, để đảm bảo chất lượng xét nghiệmcũng như đảm bảo nguồn lực tài chính, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nghiên cứu

và đưa ra các chiến lược xét nghiệm bằng cách phối hợp các loại sinh phẩm thôngthường theo các phương cách nhất định nhưng có thể đưa ra kết quả xét nghiệm có

độ tin cậy cao tương tự như xét nghiệm bằng tiêu chuẩn vàng [64, 68, 69]

Bộ Y tế Việt Nam theo hướng dẫn của WHO cũng đã ban hành các hướngdẫn về xét nghiệm HIV dựa vào chiến lược và phương cách xét nghiệm

Chiến lược xét nghiệm HIV:

Xét nghiệm HIV được tiến hành theo những chiến lược khác nhau tùy thuộcvào mục đích xét nghiệm, tỷ lệ hiện nhiễm HIV của quần thể xét nghiệm

Chiến lược I (áp dụng cho an toàn truyền máu): mẫu được coi là dương tínhvới kháng thể HIV khi mẫu đó có phản ứng với một xét nghiệm bằng sinh phẩm có

độ nhạy ca

Trang 20

Chiến lược II (áp dụng cho giám sát dịch tễ): mẫu được coi là dương tính vớichiến lược II khi mẫu đó có phản ứng với cả hai loại sinh phẩm có nguyên lý hoặcchuẩn bị kháng nguyên khác nhau, sinh phẩm thứ nhất phải có độ nhạy cao, sinhphẩm thứ hai có độ đặc hiệu cao.

Chiến lược III (áp dụng cho xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV): mẫu đượccoi là dương tính với chiến lược III khi mẫu đó có phản ứng với cả ba loại sinhphẩm có nguyên lý hoặc chuẩn bị kháng nguyên khác nhau Sinh phẩm thứ nhấtdùng để sàng lọc có độ nhạy cao, các sinh phẩm tiếp theo để khẳng định có độ đặchiệu cao

Phương cách xét nghiệm HIV

Phương cách xét nghiệm: là thứ tự thực hiện các xét nghiệm bằng các sinhphẩm cụ thể đã được lựa chọn

Thứ tự thực hiện xét nghiệm bằng các sinh phẩm được lựa chọn trong mộtphương cách xét nghiệm cần bảo đảm nguyên tắc: sinh phẩm sàng lọc đầu tiên phải

có độ nhạy cao, các sinh phẩm bổ sung phải có độ đặc hiệu cao ưu tiên các sinhphẩm có độ nhậy cao

Việc xây dựng các phương cách xét nghiệm cần lựa chọn từ các sinh phẩmkhông hoặc ít có cùng nhược điểm như cùng âm tính giả hoặc cùng dương tính giả

Lựa chọn một phương cách xét nghiệm tùy thuộc vào: mục đích xét nghiệm;

số lượng mẫu; yêu cầu thời gian trả lời kết quả; tỷ lệ nhiễm; điều kiện cụ thể vànăng lực thực tế của cơ sở xét nghiệm [5, 53, 56, 58]

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG XÉT NGHIỆM

1.3.1 Một số khái niệm về chất lượng

- Chất lượng (Quality): Là mức độ của tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu

- Quản lý chất lượng (Quality Management-QM): Là một loạt các hoạt động

có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng Việc định

Trang 21

hướng và kiểm soát về chất lượng một tổ chức nói chung bao gồm: chính sách chấtlượng; mục tiêu chất lượng; hoạch định chất lượng; kiểm soát chất lượng; đảm bảochất lượng và cải tiến chất lượng.

- Kiểm soát chất lượng (Quality Control-QC): Các hoạt động và kỹ thuật được sử dụng nhằm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu chất lượng

- Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance-QA): Tất cả các hoạt động hệthống được lập kế hoạch thiết yếu nhằm cung cấp độ tin cậy chắc chắn rằng sản phẩmhoặc dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu chất lượng

- Đánh giá chất lượng bên ngoài (External Quality Assessment-EQA), cònđược gọi ngoại kiểm hay thử nghiệm thành thạo phòng thí nghiệm: Việc xác định hoạt động thử nghiệm của phòng thí nghiệm bằng so sánh liên phòng

- So sánh liên phòng: Việc tổ chức, thực hiện và đánh giá các thử nghiệmtrên cùng một mẫu thử nghiệm hoặc mẫu thử nghiệm tương tự được thực hiện bởi hai haynhiều phòng thí nghiệm theo các điều kiện xác định trước [9-11]

1.3.2 Giới thiệu về hệ thống đảm bảo chất lượng

Hệ thống quản lý chất lượng (HTQLCL) do Viện tiêu chuẩn phòng thínghiệm và lâm sàng CLSI Hoa Kỳ đề xuất , hệ thống này bao hồm 12 thành tố cơbản bao trùm tất cả các hoạt động của phòng thí nghiệm [29, 30] Mô hình củaHTQLCL hoàn toàn phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế (International Organizationfor Standardization -ISO) ISO 90001/ISO 15189/ISO 17025 Chính vì vậy, Tổ chức

Y tế thế giới đã phối hợp với CLSI và CDC Hoa Kỳ ban hành cuốn cẩm nang Quản

lý hệ thống phòng thí nghiệm để các phòng thí nghiệm của các nước trên thế giới cóthể và áp dụng nhằm nâng cao chất lượng (Hình 4) [70]

Để duy trì và cải tiến chất lượng, phòng thí nghiệm cần thực hiện tất cả cácthành tố trong hệ thống này Việc áp dụng một HTQLCL như vậy sẽ không đảm bảophòng thí nghiệm không có sai sót nhưng nó giúp phòng thí nghiệm có thể phát hiện

và ngăn ngừa các sai sót tái diễn

Trang 22

Hình 4: Mô hình quản lý chất lượng[70]

Tổ chức: Để có hệ thống quản lý chất lượng có chức năng tốt, phòng thínghiệm phải có cơ cấu tổ chức, quản lý nhằm thực hiện được các chính sách về chấtlượng

Nhân sự: Nguồn lực của phòng thí nghiệm là vấn đề quan trọng nhất, đó lànhững nhân viên đủ năng lực, năng động, có tầm nhìn và điều quan trọng phải có sựkhích lệ thúc đẩy các cán bộ tận tâm với công việc và tuân thủ các quy định

Thiết bị: Thiết bị phải phù hợp với kỹ thuật xét nghiệm, các thiết bị đảm bảohoạt đọng tốt và có bảo dưỡng định kỳ

Mua sắm và kiểm kê: Quản lý về cung ứng sinh phẩm và vật tư phòng thínghiệm nhằm đảm bảo các sinh phẩm và vật tư có chất lượng tốt, sử dụng đúng mụcđích

Kiểm soát quá trình: Bao gồm nhiều yếu tố để đảm bảo chất lượng của phòngthí nghiệm trong quá trình thực hiện xét nghiệm Những yếu tố này bao gồm kiểmsoát chất lượng, thẩm định và công nhận

Quản lý thông tin: Các thông tin phòng thí nghiệm cần được quản lý cẩn thậnđảm bảo sự chính xác và bí mật

Tài liệu và hồ sơ: Tài liệu và hồ sơ luôn được lưu giữ cẩn thận để đảm bảo sựchính xác và có thể đánh giá được

Trang 23

Quản lý sự cố: Phòng thí nghiệm luôn cần một hệ thống để phát hiện nhữngvấn đề và sự cố, hành động khắc phục, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra những hànhđộng để không tái diễn các sự cố.

Đánh giá: Quá trình đánh giá chính là công cụ để kiểm soát việc thực hiện củaphòng thí nghiệm và so sánh với các chuẩn mực để đánh giá

Cải tiến quá trình: Mục đích đầu tiên của HTQLCL là sự cải tiến liên tục các quá trình trong phòng thí nghiệm và sự cải tiến được thực hiện một cách hệ thống Dịch vụ khách hàng: Đảm bảo khách hàng nhận được các dịch vụ cần thiết cho họ

Cơ sở vật chất và an toàn: Cơ sở vật chất và an toàn bao gồm nhiều vấn đềnhư: An ninh, An toàn, sức khỏe người lao động, môi trường làm việc [20, 25, 44]

1.3.3 Sơ đồ hoạt động của phòng thí nghiệm

Hoạt động của một phòng thí nghiệm được chia thành 3 giai đoạn: Giaiđoạn trước xét nghiệm, giai đoạn trong xét nghiệm và giai đoạn sau xét nghiệm(Hình 5)

Hình 5: Sơ đồ hoạt động của phòng thí nghiệm [70]

1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng xét nghiệm:

Với sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt khoa học y họcnhiều kỹ thuật xét nghiệm, phân tích các thành phần các chất trong cơ thể (liên quanđến xét nghiệm huyết học, sinh hóa và vi sinh cả máu, dịch sinh học và nước tiểu,

Trang 24

dịch não tủy,…) cho kết quả rất nhanh, chính xác và đặc biệt sẽ là cơ sở dữ liệucùng với các dấu chứng và triệu chứng lâm sàng qua thăm khám của bác sĩ giúp chocác thầy thuốc lâm sàng chẩn đoán khá chính xác và điều trị cũng như theo dõi điềutrị hiệu quả Tuy nhiên, không phải lúc nào kết quả xét nghiệm cũng phù hợp vớitình trạng bệnh (có nghĩa là có thể dương tính giả, âm tính giả,…hoặc sai lệch rấtnhiều) Điều đó có thể do nhiều yếu tố tác động và làm ảnh hưởng lên kết quả xétnghiệm từ nhiều phía: bệnh nhân - thầy thuốc - thủ thuật cận lâm sàng.

Từ sơ đồ hoạt động của các phòng thí nghiệm như hình 4 chúng ta nhận thấyrằng kết quả xét nghiệm của khách hàng khi kể từ khi lấy mẫu cho đến khi ra kếtquả có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả Quá trình này được chia thành 3 giaiđoạn như sau:

-Giai đoạn trước xét nghiệm

-Giai đoạn trong xét nghiệm

-Giai đoạn sau xét nghiệm

1.3.4.1 Giai đoạn trước xét nghiệm

Đây là giai đoạn chuẩn bị cho việc làm xét nghiệm, chuẩn bị bệnh nhân, lấymẫu bệnh phẩm, chuẩn bị thuốc thử, chuẩn hóa thiết bị xét nghiệm Trong giai đoạnnày các cán bộ cần đảm bảo lấy và bảo quản bệnh phẩm đúng quy cách ( dụng cụkhô, sạch, dùng chất chống đông thích hợp, ghi đúng tên bệnh nhân trên ống máu,gửi kịp thời đến phòng thí nghiệm …) Những sai sót trong quá trình lấy và bảoquản bệnh phẩm sẽ dẫn đến sai sót trong kết quả xét nghiệm như lấy máu vỡ hồngcầu, hoặc việc tách huyết thanh/huyết tương chậm dẫn đến vỡ hồng cầu hoặc vớimột số xét nghiệm việc đưa chậm máu đến phòng thí nghiệm sẽ làm nồng độglucose trong máu giảm ( mỗi giờ bị giảm 17 % do hồng cầu tiêu thụ glucose).Ngoài ra đối với một số xét nghiệm việc biến động sinh lý, biến động giữa các cáthể như di truyền, tuổi tác, giới tính hay biến động trong bản thân cá thể như chế

độ ăn uống, vận động, nhịp độ sinh học hay tư thế bệnh nhận , biến động do tìnhtrạng bệnh, biến động do lấy mẫu như vị trí lấy mẫu, thời gian lấy, điều kiện bảoquản, vận chuyển cũng đều ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm [9, 10, 21]

Trang 25

1.3.4.2 Giai đoạn xét nghiệm

Trong giai đoạn này việc biến động đối với kỹ thuật phân tích ảnh hưởngnhiều đến kết quả xét nghiệm Đó là việc biến động tại các cơ sở xét nghiệm do sai

so của các thiết bị và kỹ thuật Ngoài ra các biến động trong cơ sở xét nghiệm cũngảnh hưởng nhiều đến kết quả Đó là những sai số trong phòng thí nghiệm hoặc trình

độ tay nghề của cán bộ Những sai sót trong giai đoạn xét nghiệm thường xảy ra khicác đơn vị không có quy trình chuẩn hoặc có nhưng không tuân thủ cũng như cáctrang thiết bị không được hiệu chỉnh định kỳ Vì vậy, giai đoạn này phòng thínghiệm cần đảm bảo thực hiện xét nghiệm theo quy trình chuẩn thức phù hợp, nhằmđạt được kết quả với độ chính xác cao, đáp ứng yêu cầu xét nghiệm Quy trình thựchiện xét nghiệm phải có tính chuẩn thức, được công nhận và được cập nhật Các quytrình phải được viết bằng ngôn ngữ dễ hiểu đối với nhân viên, theo mẫu quy định vàluôn được để sẵn trên bàn làm việc để tiện tham khảo Bên cạnh đó việc đảm bảochất lượng xét nghiệm cần được thực hiện thông qua việc sử dụng các mẫu nội kiểmtra và tham gia các chương trình ngoại kiểm tra và định kỳ hiệu chỉnh các trang thiết

bị [9, 10, 21]

1.3.4.3 Giai đoạn sau xét nghiệm

Sau khi đã hoàn thành xét nghiệm, việc đánh giá và ghi nhận kết quả, gửi trảkết quả đến nơi yêu cầu xét nghiệm là rất quan trọng Việc vào hồ sơ xét nghiệm vàtrả kết quả cần tránh sai sót và chậm trễ, gây tổn hại đến uy tín của phòng thínghiệm Trả lời kết quả xét nghiệm cần đảm bảo đủ thông tin và được lưu trữ ởphòng thí nghiệm để tiện tham khảo hoặc tra cứu khi cần thiết [9, 10, 21]

1.3.4.4 Các sai số trong phòng thí nghiệm:

Trong quá trình tiến hành xét nghiệm không tránh khỏi những sai số ảnhhưởng đến kết quả xét nghiệm có thể chia thành các loại sai số sau:

a) Sai số thô bạo: thường do lỗi của nhân viên làm xét nghiệm trong quátrình xử lý mẫu, sử dụng pipet, pha hoá chất thuốc thử, không tuân thủ đúng quitrình thao tác, nhầm lẫn dung dịch thuốc thử, tính toán sai…

Trang 26

b) Sai số ngẫu nhiên: khi ta tiến hành làm một xét nghiệm trong điều kiệnnhư nhau và lặp lại nhiều lần thì kết quả xét nghiệm không thể cho giá trị như nhau mà

có sự phân tán nhiều hoặc ít Sai số này thường do yếu tố con người, máy móc thiếu bảodưỡng và nhiễm bẩn Muốn hạn chế sai số này cần trang bị máy có độ chính xác cao vàhoá chất có chất lượng tốt, chú ý bảo dưỡng kiểm tra máy móc, thuốc thử

c) Sai số hệ thống: là các sai số lặp li lặp lại trong cách lần thực hiện.Nguyên nhân gây ra sai số hệ thống có thể do máy móc, dụng cụ, hóa chất chưa chuẩn,đôi khi do tật của người thực hiện dẫn đến kết quả có xu hướng luôn thấp hơn hoặc luôncao hơn so với trị số mong muốn

Các sai số trên đặc biệt là sai số ngẫu nhiên và sai số hệ thống liên quan chặt chẽ đến độ chính xác (độ lặp lại) và độ xác thực (độ giá trị) [21]

1.4 CHƯƠNG TRÌNH NGOẠI KIỂM

1.4.1 Khái quát chung về chương trình ngoại kiểm

Những tiêu chuẩn về phòng thí nghiệm được công nhận ở mức độ quốc tế,quốc gia, địa phương hay từ một tổ chức ban hành sẽ làm cơ sở để đánh giá phòngthí nghiệm bằng nhiều cách khác nhau trong những trường hợp cụ thể khác nhau.Các tiêu chuẩn quốc tế ISO là rất rõ ràng về các yêu cầu của đánh giá và thường sửdụng thuật ngữ ”kiểm tra- Audit” thay cho từ “đánh giá - Assessment”, những thuậtngữ này có thể được thay thế cho nhau Đánh giá hay kiểm tra cho phép phòng thínghiệm hiểu rõ được cách thức thực hiện khi so sánh với một tiêu chuẩn nào đó.Việc kiểm tra đánh giá giúp phát hiện các thiếu sót hoặc sự không tuân thủ cácchính sách, quy trình mà phòng thí nghiệm đưa ra

Đánh giá có thể coi như một hệ thống kiểm tra xem việc đáp ứng các quyđịnh, tạo ra các giá trị tin cậy và phù hợp với yêu cầu của khách hàng Ngoại kiểmtra chính là một hình thức đánh giá Ngoại kiểm tra có thể bao gồm cả đánh giá vớimục đích khẳng định sự tin tưởng phục vụ cho việc cấp chứng nhận hoặc cấp phép

16

Trang 27

Đánh giá chất lượng từ bên ngoài (External Quality Assessment-EQA) được

sử dụng để mô tả một phương pháp cho phép so sánh kết quả xét nghiệm của mộtphòng thí nghiệm đối với các phòng thí nghiệm khác, đánh giá chất lượng từ bênngoài thuộc phạm trù ngoại kiểm tra nhưng trọng tâm chủ yếu là đánh giá về kết quảxét nghiệm của phòng thí nghiệm này so với các phòng thí nghiệm khác, xét nghiệmcùng một mẫu xét nghiệm với cùng kỹ thuật xét nghiệm Chương trình ngoại kiểmtra thông thường được tổ chức bởi một phòng thí nghiệm chuẩn thức, đơn vị này,phân phối mẫu xét nghiệm cho các phòng thí nghiệm thành viên cùng tham gia vàochương trình ngoại kiểm tra để làm xét nghiệm, sau đó thu thập các kết quả xétnghiệm để so sánh và đánh giá kết quả của các phòng thí nghiệm thành viên Kếtquả sai ở các phòng thí nghiệm sẽ được nhà quản lý điều tra tìm hiểu các điểmkhông phù hợp và hỗ trợ khắc phục để nâng cao chất lượng Bên cạnh đó cũngkhuyến cáo các cơ sở sử dụng sinh phẩm phù hợp với các yêu cầu về chất lượng,điều kiện (Hình 6) Nhằm nâng cao chất lượng xét nghiệm, WHO đã đưa ra nhữnghướng dẫn kỹ thuật để triển khai chương trình ngoại kiểm cho các phòng thí nghiệmnói chung và đặc biệt là các phòng thí nghiệm HIV nói riêng từ nhiều năm nay [31,63]

Ở Việt Nam, ngày nay do yêu cầu ngày càng cao về chất lượng xét nghiệmngoại kiểm đã trở thành một hoạt động thiết yếu và là nhu cầu thực tế và cần thiết của cácphòng thí nghiệm ở mọi lĩnh vực: thử nghiệm, đo lường, hiệu chuẩn và giám định Thamgia vào các chương trình ngoại kiểm cũng là một trong những yêu cầu bắt buộc đối vớibất cứ phòng thí nghiệm HIV nào, điều này được thể hiện rõ trong các văn bản quy phạmpháp luật của Bộ Y tế như tại thông tư số 15/2013TT-

BYT về ban hành hướng dẫn xét nghiệm huyết thanh học HIV Quốc gia [4, 5, 8]

Trang 28

Hình 6: Vai trò của các đơn vị tham gia ngoại kiểm 1.4.2 Các hình thức ngoại kiểm tra

Có ba phương thức triển khai là thử nghiệm thành thạo (proficiency testing –PT), kiểm tra lại/phân tích lại (rechecking/retesting) và đánh giá tại chỗ (on-siteevaluation) Trong đó thử nghiệm thành thạo là phương thức được sử dụng phổ biếncho mục tiêu đạt các tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế

Thử nghiệm thành thạo (Proficiency testing -PT): là việc xác định hoạt

động thử nghiệm của phòng thí nghiệm bằng so sánh liên phòng Đơn vị tổ chức gửicác mẫu thử nghiệm giống nhau đến các phòng thí nghiệm tham gia

Thử nghiệm thành thạo đánh giá việc thực hiện xét nghiệm của các phòng thínghiệm thông qua so sánh liên phòng thí nghiệm, nghĩa là đánh giá các phòng thínghiệm trên cùng một mẫu thử nghiệm hay những mẫu thử nghiệm tương tự đượcphân tích bởi hai hay nhiều phòng thí nghiệm theo các điều kiện đã xác định trước.Những đơn vị triển khai chương trình thử nghiệm thành thạo trong lĩnh vực xétnghiệm y khoa trên thế giới hiện nay thường sử dụng thuật ngữ ngoại kiểm chấtlượng (External Quality assessment – EQA) tương tự như thuật ngữ thử nghiệmthành thạo Thuật ngữ này được giới chuyên môn công nhận và sử dụng một cáchphổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới [16, 20]

Trang 29

Kiểm tra lại (rechecking/retesting): Phòng thí nghiệm lựa chọn mẫu bệnh

phẩm ngẫu nhiễn gửi đến phòng thí nghiệm tham chiếu hoặc đơn vị kiểm chuẩn đểphân tích và đánh giá lại các kết quả xét nghiệm mà phòng thí nghiệm đã thực hiện

Đánh giá tại chỗ (on-site evaluation): Đoàn đánh giá được lập bởi cơ quan

có thẩm quyền hoặc các tổ chức được công nhận sẽ đến đánh giá phòng thí nghiệmđịnh kỳ hoặc đột xuất Việc đánh giá theo các tiêu chí đã được phê duyệt [20]

1.4.3 Mô hình chương trình ngoại kiểm

Chương trình đánh giá chất lượng phòng thí nghiệm từ bên ngoài (Externalqualiy assessment schemes –EQAS) hay còn gọi là chương trình ngoại kiểm làchương trình đánh giá chất lượng các phòng thí nghiệm một các định kỳ và thườngxuyên

Tổ chức bên ngoài thường là phòng thí nghiệm chuẩn thức có uy tín cung cấpmẫu tới nhiều phòng thí nghiệm để thực hiện xét nghiệm và phân tích, so sánh đánhgiá và báo cáo kết quả tới các phòng thí nghiệm đã tham gia EQAS là hệ thốngkiểm tra khách quan năng lực kỹ thuật của phòng thí nghiệm do tổ chức bên ngoàithực hiện Tất cả các phòng thí nghiệm tham gia EQA cho tất cả các chỉ tiêu xétnghiệm đã thực hiện EQA [16, 20]

Phòng thí nghiệm kể cả các đơn vị đã được công nhận bởi các tổ chức cũngcần tham gia vào các chương trình ngoại kiểm, việc tham gia này nhằm mục đíchgiúp phòng thí nghiệm so sánh năng lực của mình với phòng thí nghiệm khác vàkiểm soát để đảm bảo chất lượng quá trình thử nghiệm Nếu những xét nghiệm nàokhông có sẵn trong chương trình ngoại kiểm trong nước, phòng thí nghiệm có thểtham gia vào các chương trình của Quốc tế hoặc thực hiện so sánh liên phòng thínghiệm với các phòng thí nghiệm khác Các kết quả đánh giá từ bên ngoài cần phảiđược lãnh đạo phòng thí nghiệm xem xét và lưu hồ sơ, đây là cơ sở để cải thiện chấtlượng của đơn vị

1.4.4 Mục đích và ý nghĩa của chương trình

Tham gia vào chương trình ngoại kiểm đem lại nhiều mục đích và ý nghĩaquan trọng cho các đơn vị tham gia Đảm bảo sự tin cậy cho những người sử dụng

Trang 30

là bệnh nhân và bác sỹ điều trị về kết quả xét nghiệm là chính xác và đáng tin cậy.Đánh giá và so sánh kết quả xét nghiệm của các phòng thí nghiệm khác nhau ở mức

độ khu vực, quốc gia hoặc quốc tế Xác định được những sai số về kết quả xétnghiệm và đề xuất những biện pháp khắc phục, sửa chữa Khuyến khích việc sửdụng những phương pháp chuẩn, những sinh phẩm hóa chất và máy xét nghiệm chấtlượng tốt Tạo điều kiện cho các phòng thí nghiệm trao đổi thông tin và hình thànhmạng lưới các phòng thí nghiệm liên hệ với nhau ở mức độ quốc gia và quốc tế.Bên cạnh đó chương trình còn cung cấp những thông tin cập nhật về những kỹ thuậtchẩn đoán HIV mới và những vấn đề liên quan Cung cấp thêm bằng chứng chứngminh năng lực của PTN với cơ quan công nhận, khách hàng hoặc tổ chức độc lậpthứ ba

Phương pháp thống kê cho phép những phòng thí nghiệm thành viên theo dõiquá trình cải thiện chất lượng xét nghiệm của đơn vị trong một thời gian nhất định,đồng thời so sánh chất lượng kết quả xét nghiệm của mình với những phòng thínghiệm thành viên khác [10, 11, 16, 20, 36, 39, 43-45, 47, 52, 55, 60]

1.4.5 Các chương trình ngoại kiểm HIV trên thế giới và tại Việt Nam Chương trình ngoại kiểm về xét nghiệm huyết thanh học HIV trên thế giới: Các nước tiên tiến đã coi đảm bảo chất lượng là một trong những tiêu chí

hàng đầu của chất lượng phòng thí nghiệm Chính vì vậy hệ thống các tiêu chuẩnquốc tế về quản lý phòng thí nghiệm ra đời như ISO 15189, 17025 Việc tham giangoại kiểm là một tiêu chí bắt buộc để duy trì các tiêu chuẩn ISO cho phòng thínghiệm cũng như duy trì chất lượng của phòng thí nghiệm

Nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng xét nghiệm HIV, WHO đã đưa racác hướng dẫn và khuyến cáo cụ thể để xây dựng chương trình ngoại kiểm cho cácnước trên thế giới [61] Hiện nay các chương trình ngoại kiểm tra cho xét nghiệmhuyết thanh học HIV được nhiều nước trên thế giới cung cấp như: Phòng thí nghiệmchuẩn thức Quốc Gia Úc, chương trình đánh giá chất lượng phòng thí nghiệmvương quốc Anh, chương trình đánh giá chất lượng phòng thí nghiệm từ bên ngoàicủa Pháp, Trung Quốc, Hàn Quốc, Tanzania, các nước châu Phi như Botswana,

Trang 31

Comoros, Ivory, Rwanda, Coast, Kenya, Malawi, Senegal, Uganda, Zimbabwe,Tanzania Mỹ, Viện sức khỏe Thái Lan, Haiti, Brazillian Amazon [22, 24, 26, 28,

33, 35, 37, 40, 45, 51, 61]

Phòng thí nghiệm chuẩn thức Quốc gia Úc (NRL) đồng thời là phòng thínghiệm chuẩn thức HIV của WHO khu vực Châu á Thái bình dương là đơn vị cungcấp chương trình ngoại kiểm huyết thanh học HIV cho các nước trong khu vựctrong đó có phòng thí nghiệm chuẩn thức HIV, viện Vệ sinh Dịch tễ trung ương từnăm 1994 cho đến nay

Các chương trình ngoại kiểm tra về xét nghiệm HIV tại Việt Nam

Hiện nay Việt Nam đã có các trung tâm kiểm chuẩn về sản xuất mẫu ngoạikiểm cung cấp cho các phòng thí nghiệm Tuy nhiên lĩnh vực cung cấp chủ yếutrong các lĩnh vực hóa sinh, nuôi trồng thủy sản, xây dựng riêng lĩnh vực xétnghiệm HIV hiện nay Việt Nam đang nhập các mẫu cho xét nghiệm đếm tế bàoTCD4 từ Thái Lan hoặc QACI Canada ngoại kiểm về xét nghiệm đo tải lượng virutHIV hoặc kháng thuốc HIV từ CDC Hoa Kỳ hoặc Phòng thí nghiệm chuẩn thứcQuốc gia Úc [6, 18, 19]

Chương trình ngoại kiểm về xét nghiệm huyết thanh học HIV trước đâychúng ta nhập từ Thái Lan với chi phí cao và không chủ động về nguồn cung Với

sự hỗ trợ từ Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ, Viện Vệ sinhDịch tễ Trung ương (Viện VSDTTƯ) đã học hỏi và hoàn thiện việc sản xuất mẫungoại kiểm cho xét nghiệm huyết thanh học HIV, khắc phục các nhược điểm về việcvận chuyển mẫu tại nhiệt độ lạnh tạo điều kiện dễ dàng khi vận chuyển Cho đếnnay Viện VSDTTƯ đã sản xuất và chứng minh qua nhiều năm với hàng trăm đơn vịtham gia [14]

1.4.6 Mẫu ngoại kiểm và yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng mẫu chuẩn

1.4.6.1 Định nghĩa chung về các loại mẫu chuẩn

Mẫu chuẩn nói ở đây được hiểu như là vật liệu so sánh chuẩn (CertifiedReference Materials - CRMs ) Theo định nghĩa của Cơ quan đo lường hợp phápquốc tế (OIML ): Mẫu chuẩn là một vật liệu hay một chất mà một hay nhiều tính

Trang 32

chất của chúng đủ đồng nhất và được tạo nên để chuẩn hoá một dụng cụ, đánh giámột phương pháp đo hoặc để xác định giá trị đối với các vật liệu Các giá trị chuẩntrong mẫu chuẩn được tạo nên bởi một quy trình kỹ thuật có giá trị và hoàn hảonhất Giá trị chứng chỉ này phải được phê chuẩn bởi cơ quan pháp quy có thẩmquyền Mẫu chuẩn được sản xuất ra trong các dạng khác nhau và cho các mục tiêu

sử dụng khác nhau

Độ chính xác của các kết quả phân tích có thể đạt được dựa trên việc sử dụng hệthống đo phân tích hoàn hảo và kỹ năng thuần thục của phân tích viên cũng nhưtăng số phép đo lặp lại lên nhiều lần (để giảm thiểu các sai số thô bạo và ngẫunhiên) Trong khi đó độ đúng của các kết quả phân tích chỉ có thể thu được khi loạitrừ được sai số hệ thống do các chất có trong chất nền và các yếu tố ảnh hưởng kháccủa chất nền gây ra Mẫu chuẩn được dùng để loại trừ sai số hệ thống này

1.4.6.2 Phân loại mẫu chuẩn

Căn cứ vào độ chính xác có thể phân loại mẫu chuẩn thành chuẩn đầu vàchuẩn thứ cấp :

- Chuẩn đầu: Chuẩn được chỉ định hay được thừa nhận có chất lượng caonhất và hoàn hảo nhất về mặt đo lường Giá trị chứng chỉ của nó được công nhận khôngdựa vào các chuẩn khác của cùng đại lượng

- Chuẩn thứ cấp : Là chuẩn mà giá trị của nó được ấn định bằng cách so sánhvới chuẩn đầu của cùng đại lượng

Căn cứ vào chức năng, mục đích sử dụng có thể phân loại chuẩn thành 4 loạisau:

- Chuẩn quốc tế: Là chuẩn được một hiệp định quốc tế công nhận để làm cơ

sở ấn định giá trị cho các chuẩn khác của đại lượng có liên quan trên phạm vi quốc tế

- Chuẩn quốc gia: Là chuẩn được phê duyệt bởi một cơ quan có thẩm quyềncủa quốc gia có thể lấy nó làm cơ sở ấn định giá trị chuẩn cho các chuẩn khác có liênquan trong nước

22

Trang 33

- Chuẩn chính : Là chuẩn có chất lượng cao nhất về mặt đo lường có thể ởmột địa phương hoặc một tổ chức xác định mà các phép đo ở đó đều được dẫn xuất

1.4.6.3 Yêu cầu về chất lượng đối với mẫu ngoại kiểm HIV

Mỗi bộ mẫu chuẩn cho chương trình ngoại kiểm có các yêu cầu khác nhautuy nhiên do đặc thù gửi đến nhiều đơn vị để cùng đánh giá so sánh với giá trị chuẩnhoặc so sánh với nhau mà mẫu ngoại kiểm có các yêu cầu chung như sau:

- Độ đồng đều: Mỗi chương trình ngoại kiểm tra khi triển khai việc gửi mẫuđược thực hiện đến nhiều phòng thí nghiệm cùng lúc và các kết quả phản hồi được sosánh vì vậy các mẫu cần đồng nhất [10, 52, 62, 63, 71]

- Độ ổn định theo thời gian: Độ ổn định thường được kiểm tra nhằm đảm bảocác đại lượng đo không bị thay đổi trong suốt quá trình nghiên cứu Theo quy đinh củaISO 13528, thỏa thuận hài hòa quốc tế IUPAC và TCVN 8245 (ISO Guide 35), mẫu thửngoại kiểm cần được thử trong các điều kiện thay đổi xuất hiện trong quá

trình triển khai chương trình ngoại kiểm như điều kiện đóng gói, vận chuyển và xử

lý mẫu khi được phân phối cho các đơn vị tham gia [1, 10, 52, 62, 63, 71]

Trang 34

Do vậy, việc sản xuất mẫu chuẩn là một quá trình rất công phu và phải tuânthủ nghiêm ngặt các quy trình và quy định của ISO Guide 30, ISO Guide 35 và quyđịnh của OIML [41, 42]

1.4.6.4 Các phương pháp sản xuất mẫu ngoại kiểm HIV

Hiện nay trên thế giới có nhiều phương pháp sản xuất mẫu ngoại kiểm HIVkhác nhau như mẫu chuẩn sản xuất theo phương pháp mẫu huyết tương khô [24,27]; mẫu huyết thanh thông thường [51, 61]; mẫu huyết tương [66] và máu toànphần tùy thuộc vào tình hình thực tế của mỗi quốc gia và chiến lược của nhà cungcấp Như tại Mỹ, gần đây Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ(CDC) đang cung cấp bộ mẫu ngoại kiểm sử dụng mẫu huyết tương khô cho nhiềunước Châu phi Với bộ mẫu này sẽ hạn chế được việc ảnh hưởng bởi nhiệt độ trongquá trình vận chuyển cũng như việc tiết kiệm được chi phí sản xuất cũng như lượngmẫu sử dụng cho sản xuất Tuy nhiên với những bộ mẫu đông khô thường chỉ ápdụng cho các phòng thí nghiệm sàng lọc, nơi chỉ thực hiện một loại sinh phẩm Đốivới các phòng thí nghiệm khẳng định việc phải thực hiện với nhiều loại sinh phẩmthì áp dụng những mẫu đông khô sẽ gặp khó khăn do lượng mẫu lớn Chính vì vậymột số phòng thí nghiệm trên thế giới vẫn sản xuất theo cách thông thường là huyếtthanh hoặc huyết tương như Phòng thí nghiệm chuẩn thức Quốc gia Úc, phòng thínghiệm chuẩn thức Thái Lan, Hàn Quốc, Anh, Pháp [37, 45, 51, 66]

1.4.6.5 Phương pháp đánh giá chất lượng mẫu ngoại kiểm

Có rất nhiều phương pháp đánh giá chất lượng mẫu ngoại kiểm khác nhautùy thuộc vào yêu cầu của mẫu, tuy nhiên đối với chương trình ngoại kiểm tra vềhuyết thanh học HIV thì tính chất ổn định và đồng nhất của mẫu là những tiêu chíquan trọng để đánh giá chất lượng của mẫu Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVNISO/IEC 17043:2011 và theo hướng dẫn TCVN 7366 và TCVN 8245 việc nhà sảnxuất trước mỗi lô mẫu chuẩn gửi đến các đơn vị tham gia phải được đánh giá độđồng nhất thông qua việc lấy ngẫu nhiên 10% số lượng mẫu sản xuất Bên cạnh đóviệc đánh giá độ ổn định cũng là tiêu chí quan trọng cho các bộ mẫu chuẩn [1, 2, 60,71]

Trang 35

1.5 HỆ THỐNG CÁC PHÒNG THÍ NGHIỆM HIV TẠI VIỆT NAM

Sau hơn 20 năm công cuộc phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam, từ nhữngphòng thí nghiệm HIV được thành lập đầu tiên tại Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương,Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh vào năm 1988, đến năm 1990 trường hợp nhiễmHIV đầu tiên tại Việt Nam được phát hiện tại thành phố Hồ Chí Minh đánh dấu cho

sự hình thành và phát triển mạng lưới các phòng thí nghiệm phục vụ công tácphòng, chống HIV/AIDS trên toàn quốc

Cho đến nay, hệ thống phòng thí nghiệm HIV đã được thiết lập với hơn1.100 phòng, trong đó có 92 phòng thí nghiệm khẳng định HIV tại 58 tỉnh, 04phòng thí nghiệm tham chiếu theo khu vực, 485 phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyệnHIV trong cả nước [3] Bên cạnh đó hệ thống xét nghiệm hỗ trợ theo dõi điều trịHIV/AIDS hình thành từ năm 2006 và mở rộng ra 56 cơ sở xét nghiệm tại 36tỉnh/thành phố với 42 cơ sở hoạt động liên tục, 06 cơ sở xét nghiệm đo tải lượng virút HIV và 02 cơ sở xét nghiệm chẩn đoán sớm nhiễm HIV cho trẻ dưới 18 thángtuổi và xét nghiệm định gen kháng thuốc HIV, riêng 02 phòng thí nghiệm định genkháng thuốc đạt tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới Trong số hơn 1100 cơ sở xétnghiệm HIV, đã có 06 cơ sở xét nghiệm khẳng định HIV đạt tiêu chuẩn ISO 15189:Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh, Khoa Vi sinhBệnh viện Bạch Mai, Phòng thí nghiệm HIV của Trung tâm Y tế dự phòng TP HồChí Minh, Viện Pasteur Nha Trang, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương

Công tác quản lý đảm bảo chất lượng xét nghiệm cũng đã được quan tâmtriển khai và thực hiện ở tất cả các cơ sở xét nghiệm chuyên sâu, tuy nhiên phần lớnphụ thuộc vào chương trình ngoại kiểm của các nước trên thế giới và trong khu vực.Chưa thống nhất một đơn vị quản lý và đảm bảo chất lượng xét nghiệm phục vụhoạt động phòng, chống HIV/AIDS cấp độ quốc gia Việt Nam chỉ cung cấp đượcchương trình ngoại kiểm về huyết thanh học HIV đáp ứng 100% cơ sở xét nghiệmkhẳng định HIV, 37,8% cơ sở xét nghiệm sàng lọc HIV

Công tác quản lý, đánh giá chất lượng sinh phẩm xét nghiệm còn hạn chế,chưa xây dựng được phương cách xét nghiệm tại Việt Nam Trang thiết bị xét

Trang 36

nghiệm quá cũ và lạc hậu không còn phù hợp với sự phát triển của các công nghệxét nghiệm Các chính sách quốc gia về xét nghiệm chưa cập nhật được với tiến bộkhoa học kỹ thuật của thế giới Nguồn lực cho công tác xét nghiệm còn thiếu, cán

bộ xét nghiệm còn thiếu và yếu về chuyên môn chưa đồng đều giữa các tuyến, cáckhu vực

Mạng lưới xét nghiệm đã được hình thành và bao phủ trên toàn quốc nhưng chưa đồng bộ và đồng đều giữa các vùng miền, hệ thống tham chiếu quốc gia mới đang từng bước hình thành và củng cố chất lượng tiến tới việc ứng dụng các kỹ thuật chuyên sâu; Các kỹ thuật chuyên sâu chỉ tập trung tại một số đơn vị trọng điểm do đó cũng có những khó khăn tồn tại nhất định trong việc tiếp cận với dịch vụ xét nghiệm [8].

Trang 37

Chương 2 – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 ĐỐI TƯỢNG

Mẫu huyết tương dương tính với kháng thể kháng vi rút HIV: Là mẫu có chứakháng thể kháng vi rút HIV được chẩn đoán theo phương cách III của Bộ Y tế Mẫuhuyết tương này có phản ứng dương tính với cả 3 loại sinh phẩm có nguyên lý hoặcchuẩn bị kháng nguyên khác nhau

Mẫu huyết tương âm tính với kháng thể kháng vi rút HIV: Là mẫu không chứakháng thể kháng vi rút HIV Mẫu huyết tương này được xét nghiệm với sinh phẩmxét nghiệm phát hiện kháng thể kháng HIV cho kết quả âm tính

Các mẫu huyết tương sử dụng cho chương trình ngoại kiểm thường có thể tíchlớn Do đó những mẫu này được thu thập từ các ngân hàng máu của Viện Huyết họcTruyền máu trung ương, Khoa huyết học của các Bệnh viện đóng trên địa bàn HàNội như bệnh viện Viêt Đức, bệnh viện 108-Bộ Quốc phòng, bệnh viện 198-BộCông An

Tiêu chuẩn nhận mẫu:

+ Mẫu có chất lượng tốt, không tán huyết, đông vón

+ Thời gian bảo quản 1 tuần/2-8oC, hoặc âm sâu từ <-20oC

+ Nhiệt độ vận chuyển 2-8oC (hoặc < -2oC với mẫu cấp đông)

Tiêu chuẩn loại bỏ mẫu: mẫu bị loại nếu một trong các tiêu chuẩn trên không đạt

yêu cầu

Bộ mẫu chuẩn xây dựng gồm 10 mẫu: 6 mẫu âm tính, 4 mẫu dương tính trong

đó có 2 mẫu pha loãng giống hệt nhau

2.2 THIẾT BỊ, DỤNG CỤ VÀ HÓA CHẤT

Máy móc, thiết bị sử dụng trong nghiên cứu được trình bày tại Bảng 1

Trang 38

Bảng 1: Máy móc và thiết bị sử dụng

Dụng cụ và vật tư tiêu hao sử dụng cho nghiên cứu được liệt kê ở Bảng 2

Bảng 2: Dụng cụ và vật tư tiêu hao

Trang 39

Panh, kéo Everbest Pakistan

Hóa chất, sinh phẩm sử dụng trong đề tài được liệt kê trong Bảng 3

Bảng 3:: Hóa chất sử dụng

Dianostics

Dianostics

Laboratories

Trang 40

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu được áp dụng theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thếgiới, UNAIDS và của Phòng thí nghiệm chuẩn thức HIV, Viện sức khỏe Quốc giaThái Lan [28, 63]

2.3.1 Xây dựng bộ mẫu chuẩn EQAS

Bộ mẫu ngoại kiểm EQAS gồm 10 mẫu được sản xuất từ các mẫu huyếtthanh được khẳng định là dương tính và âm tính với HIV Số lượng mẫu trong bộmẫu chuẩn có thể thay đổi tùy thuộc vào mục đích và chất lượng các đơn vị thamgia, tuy nhiên thường không ít hơn 3 mẫu [9] Các loại mẫu là huyết tương sẽ đượcchuyển đổi thành huyết thanh

- Số mẫu huyết thanh dương tính cũng thay đổi tùy thuộc vào số mẫu chuẩn của

bộ mẫu, trong nghiên cứu này chúng tôi thiết kế bộ mẫu chuẩn là 10 vì vậy mẫu dươngtính sẽ là: 4 mẫu, trong đó có 02 mẫu pha loãng giống hệt nhau để kiểm tra độ chính xáctrong xét nghiệm chẩn đoán HIV của một phòng thí nghiệm

- Số mẫu huyết thanh âm: 6 mẫu

2.3.2 Xác định đặc tính của mẫu chuẩn

Các mẫu được xét nghiệm để xác định đặc tính về kháng thể kháng HIV bằngnhiều loại sinh phẩm khác nhau Các sinh phẩm sử dụng để xác định đặc tính là cácsinh phẩm được sử dụng phổ biến tại các phòng thí nghiệm

Một số mẫu huyết thanh dương tính được pha loãng bậc hai với các nồng độkhác nhau Xác định nồng độ pha loãng tối ưu cho kết quả dương tính với kháng thểHIV ở các loại sinh phẩm được sử dụng

Xác định đặc tính mẫu thông qua kỹ thuật Elisa thế hệ 3

Chúng tôi sử dụng bộ sinh phẩm Elisa thế hệ thứ ba như Genscreen HIV 1/2Version 2 của hãng Bio Rad; sinh phẩm SD HIV 1/ 2 Elisa 3.0 của hãng StandardDiagnostics

Nguyên tắc :

- Là kỹ thuật Elisa “Sandwich” với 2 giai đoạn

- Sử dụng giếng microplate có gắn kháng nguyên tinh chế là các protein tái tổhợp

Ngày đăng: 20/11/2020, 08:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w