1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một vài nguyên nhân gây hư hỏng kết cấu dầm cầu bê tông cốt thép trong quá trình khai thác biện pháp khắc phục

101 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 492,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong luận án này tác giả sẽ giải quyết việc tìm hiểu các nguyên nhân gâynên sự hư hỏng trong các kết cấu nhịp cầu bê tông cốt thép; Xác định phương phápthu thập thông tin từ đó chọn phư

Trang 1

Mục lục

Chương mở đầu: Giới thiệu tổng quan 3

Chương 1: Một số nguyên nhân gây hư hỏng và phương pháp thu thập thông tin đối với cầu bê tông cốt thép đang khai thác 1.1 Một số nguyên nhân gây hư hỏng cầu bê tông cốt thép đang khai thác 6

1.1.1 Các hư hỏng do quá trình phá hủy vật liệu 6

1.1.1.1 Sự phá hủy lý hóa của bê tông 6

1.1.1.2 Sự hư hỏng do hiện tượng ăn mòn cốt thép trong bê tông 11

1.1.1.3 Sự hư hỏng về nứt do co ngót bê tông 15

1.1.2 Những hư hỏng do khảo sát, thiết kế có sai sót 15

1.1.2.1 Những hư hỏng do tính toán kết cấu 16

1.1.2.2 Những hư hỏng xảy ra lựa chọn giải pháp kết cấu không tốt 18

1.1.3 Những hư hỏng liên quan đến thi công chế tạo 19

1.1.3.1 Bê tông 19

1.1.3.2 Cốt thép trong bê tông 19

1.1.3.3 Bố trí cốt thép trong ván khuôn và thi công căng kéo 20

1.1.3.4 Những sai sót trong quá trình thi công 20

1.1.4 Những hư hỏng trong quá trình khai thác sử dụng 21

1.1.4.1 Nứt do cấu kiện chịu nhiệt quá tải 21

1.1.4.2 Trạng thái nứt do lún không đều của công trình 22

1.1.4.3 Trạng thái nứt do mỏi 22

1.2 Các phương pháp thu thập thông tin về cầu bê tông cốt thép đang khai thác 23

1.2.1 Mục tiêu của thu thập thông tin 23

1.2.2 Nguyên tắc trong thu thập thông tin 23

1.2.3 Các hình thức và mức độ kiểm tra thu thập thông tin 23

1.2.3.1 Kiểm tra thường xuyên 23

1.2.3.2 Kiểm tra định kỳ 24

1.2.3.3 Kiểm tra đặc biệt 24

1.2.4 Các phương pháp kiểm tra vật liệu 24

1.2.4.1 Phương pháp phá hoại mẫu 24

1.2.4.2 Phương pháp không phá hoại mẫu NDT 25

1.2.4.3 Sử dụng kết hợp các phương pháp 28

1.2.5 Các phương pháp đo đạc hiệu ứng kết cấu 30

1.2.5.1 Thử tải tĩnh 30

1.2.5.2 Thử tải động 31

1.2.5.3 Đo đạc trong thời gian dài 31

1.2.6 Trang thiết bị được sử dụng 31

Trang 2

Chương 2: Phương pháp xác định sự suy giảm chất lượng cầu BTCT đang khai thác

2.1.1 Bài toán chẩn đoán kỹ thuật đối với công trình xây dựng

2.1.2 Quy trình chẩn đoán kỹ thuật

2.1.3 Phương pháp đánh giá sự suy giảm chất lượng công trình cầu

2.1.3.1 2.1.3.2 2.1.4 Các mức độ của việc chẩn đoán đánh giá cầu

2.1.5 Ưu nhược điểm của hai phương pháp chẩn đoán cầu

2.2 Xây dựng bài toán chẩn đoán kỹ thuật đối với cầu BTCT

2.2.1 Mục tiêu của bài toán

2.2.2 Sơ đồ giải bài toán chẩn đoán kỹ thuật cho cầu BTCT

2.2.2.1 Theo quan điểm nhận dạng cơ học hệ thống

2.2.2.2 Theo quan điểm thống kê

2.2.3 Giải bài toán chẩn đoán, đánh giá cầu BTCT

2.2.3.1 Theo quan điểm nhận dạng cơ học hệ thống

2.2.3.2 Theo quan điểm thống kê

Chương 3: Các biện pháp sửa chữa khắc phục hư hỏng cầu BTCT 3.1 Nguyên tắc xử lý các hư hỏng của kết cấu bê tông cốt thép

3.1.1 Đối với các vết nứt bê tông

3.1.2 Xử lý các vết nứt

3.1.3 Đối với những hư hỏng bong vỡ bê tông

3.1.4 Đối với cốt thép và khu vực quanh cốt thép

3.2 Các loại vật liệu chuyên dùng cho công tác sửa chữa cầu BTCT

3.2.1 Yêu cầu đối với vật liệu chuyên dùng cho công tác sửa chữa cầu BTCT

3.2.2 Chuẩn bị bề mặt liên kết và làm sạch khu vực sửa chữa

3.3 Giới thiệu một vài biện pháp sửa chữa điển hình đã áp dụng tại Việt nam

3.3.1 Biện pháp sửa chữa bằng vật liệu truyền thống

3.3.2 Biện pháp phun bê tông

3.3.3 Phun keo êpôxy

3.3.4 Thêm cốt thép

3.3.5 Sử dụng vật liệu bê tông polyme cốt sợi

3.4 Các biện pháp sửa chữa dầm cầu do Viện KHCN GTVT nghiên cứu áp dụng

3.4.1 Vật liệu bê tông polyme PEX do Viện KHCN GTVT nghiên cứu chế tạo

3.4.2 Sửa chữa phục hồi dầm bằng tăng cường thêm dự ứng lực ngoài

3.4.3 Sửa chữa tăng cường dầm bằng phương pháp dán bản thép

3.4.4 Áp dụng thực tế sửa chữa phục hồi cầu Muối

3.4.5 Áp dụng thực tế sửa chữa phục hồi cầu Đa Phúc

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 3

Chương mở đầu

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN

Trong hệ thống đường bộ Việt nam có một khối lượng cầu bê tông cốt thép khá lớnvới nhiều chủng loại khác nhau Khi những công trình cầu bê tông cốt thép đầu tiênđược xây dựng, chưa qua thử thách với môi trường và thời gian, không ít người nghĩrằng bê tông cốt thép là một loại vật liệu vĩnh cửu Song về sau qua một thời gian sửdụng thực tế, người ta đã nhận ra rằng vật liệu này có những nhược điểm cơ bản như:

-Khối lượng nặng nề thông qua tỷ số giữa trọng lượng thể tích với cường độ vật liệu,gây tốn kém cho nền móng

- Bê tông dù với độ đặc theo công nghệ thi công hiện hành cũng mang tính rỗng, đễ

bị thấm nước hoặc bị mao dẫn

- Trong quá trình rắn kết bê tông bị co ngót, tạo ra trạng thái nứt, làm mất tính toàn khối và khả năng chống thấm của kết cấu

- Bê tông dễ bị nứt nhỏ vì cường độ chịu kéo quá thấp Đây chính là nguyên nhân chung của mọi trạng thái nứt khác nhau

-Bê tông là loại vật liệu bị biến đổi bởi quá trình lão hoá Quá trình suy thoái này xảy

ra trên cả ba phương diện cơ học, hoá học và vật lý

- Khả năng dính bám giữa bê tông mới với bê tông cũ thi công ở các thời điểm khác nhau là rất kém, nhất là khi chịu tải trọng động

- Nhược điểm chính của dầm cầu bê tông cốt thép là khi chịu tải trọng, khi ứng suất

trong cốt thép mới đạt tới 500 kg/cm2 thì bê tông đã bị nứt chính bởi độ dãn của bê tông khi chịu kéo không thể vượt quá 0,15-0,20%

Chính những nhược điểm trên là một trong những nguyên nhân gây hư hỏng các kếtcấu bê tông cốt thép nói chung và cầu bê tông cốt thép nói riêng, làm giảm độ tin cậy

và tuổi thọ công trình

Do sự phát triển kinh tế của đất nước, hiện nay đa phần các cầu trên phải gánh mộtlượng vận tải lớn, nhiều khi vượt quá tải trọng cho phép Mặt khác, những công trìnhcầu cũ ở nước ta còn chịu ảnh hưởng của môi trường, chiến tranh và công tác duy tu

Trang 4

bảo dưỡng không được thường xuyên Chính vì vậy nên có rất nhiều cầu cũ đangtrong tình trạng hư hỏng và xuống cấp nghiêm trọng Việc xây dựng các cầu mới đểthay thế các cầu cũ là rất khó thực hiện do thiếu vốn, do đó việc gia cố, sửa chữa,tăng cường các cầu này là giải pháp cơ bản nhất, hiện thực và cấp bách nhất Để tiếptục tận dụng, khai thác và phát huy khả năng làm việc của công trình cần phải đánhgiá, phân loại hiện trạng và nguyên nhân gây hư hỏng, từ đó nghiên cứu các giải pháp

xử lý

Hiện nay ở trên thế giới, đối với những cầu BTCT đã thực hiện những loại sửa chữanhư : Công nghệ phun sơn êpôxy trên bề mặt bê tông nhằm hạn chế thâm nhập môitrường vào bê tông làm gỉ cốt thép Công nghệ phun vữa-keo để xử lý vết nứt của kếtcấu BTCT, trám vá các mảng vỡ Công nghệ sửa chữa gỉ cốt thép trong kết cấuBTCT Công nghệ sửa chữa cầu BTCT bằng dự ứng lực ngoài Công nghệ dán bảnthép, vải sợi các bon

Ở Việt Nam việc sửa chữa các cầu BTCT cũng theo những phương hướng đã đượcthực hiện trên thế giới Chúng ta đã nghiên cứu các loại vật liệu để trám vá vỡ bêtông, phun vào các vết nứt Viện KHCN GTVT đã nghiên cứu chế tạo thiết bị đểphun keo vào sâu trong vết nứt; áp dụng công nghệ sửa chữa cầu BTCT bằng dự ứnglực ngoài do hãng Fressinet (Pháp) chuyển giao trong sửa chữa cầu Niệm; cầu chữ Y:sửa chữa đứt cáp ngang bằng dự ứng lực ngoài; sửa chữa tăng cường nhiều cầu bằngDƯL ngoài (cầu Đa Phúc, Châu ổ, Tân Thuận, Chữ Y, An Dương, Sài Gòn ); ngoài

ra còn nghiên cứu sửa chữa và tăng cường cầu bằng công nghệ dán bản thép

Với mục đích nâng cao hiệu quả của quá trình khai thác, phát huy khả năng làm việccũng như nâng cao độ tin cậy của các công trình cầu bê tông cốt thép trong điều kiệnViệt nam Trong luận án này tác giả sẽ giải quyết việc tìm hiểu các nguyên nhân gâynên sự hư hỏng trong các kết cấu nhịp cầu bê tông cốt thép; Xác định phương phápthu thập thông tin từ đó chọn phương pháp tính toán đánh giá sự suy giảm chất lượng

để đề xuất biện pháp khắc phục có hiệu quả các hư hỏng Trên cơ sở đó áp dụng kếtquả nghiên cứu trong sửa chữa các cầu bê tông cốt thép cũ đang khai thác trên hệthống mạng giao thông đường bộ ở nước ta

Tên của luận án là: Một vài nguyên nhân gây hư hỏng kết cấu dầm cầu bê tông cốtthép đang khai thác, biện pháp khắc phục

Trang 5

Nội dung của luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Tìm hiểu một số nguyên nhân gây hư hỏng và phương pháp thu thậpthông tin đối với dầm cầu BTCT đang khai thác

Chương 2: Phương pháp xác định sự suy giảm chất lượng dầm cầu BTCT đang khaithác

Chương 3: Các biện pháp sửa chữa khắc phục hư hỏng dầm cầu BTCT

Qua thực tế các công trình cầu BTCT cũ đã được tham gia sửa chữa và tham khảo kếtquả của các đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước cùng một số công trình cầu đã vàđang sửa chữa khác, mục tiêu mà luận văn muốn đạt được là nghiên cứu đề xuất biệnpháp sửa chữa cầu BTCT một cách có hiệu quả xuất phát từ việc xác định rõ nguyênnhân gây hư hỏng và chữa đúng bệnh Luận văn giới thiệu một loại vật liệu sửa chữacầu BTCT cũ có nhiều ưu điểm do Viện KHCN GTVT nghiên cứu chế tạo và đãđược dùng cho một số công trình là vật liệu bê tông polyme PEX Đồng thời giớithiệu hai biện pháp sửa chữa tăng cường cầu BTCT cũ là : Tăng cường thêm dự ứnglực ngoài và dán bản thép tăng cường cho dầm BTCT Các kết quả nghiên cứu nàyđược thí nghiệm tại phòng Công nghệ Vật liệu – Viện KHCN GTVT và đã được ápdụng vào sửa chữa các công trình cầu BTCT đang khai thác do Viện KHCN GTVTtriển khai

Trang 6

Chương 1

MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN GÂY HƯ HỎNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

THU THẬP THÔNG TIN ĐỐI VỚI DẦM CẦU BTCT ĐANG KHAI THÁC

1.1 MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN GÂY HƯ HỎNG DẦM CẦU BTCT ĐANG KHAI THÁC

Sự hư hỏng của cầu bê tông cốt thép có thể do những nguyên nhân chính sau:

- Quá trình phá hủy vật liệu do tác động của môi trường, bão, lũ lụt

- Khảo sát và thiết kế có sai sót

- Sai sót trong quá trình thi công

- Trong quá trình sử dụng, thiếu duy tu sửa chữa, khai thác quá tải

1.1.1 Các hư hỏng do quá trình phá hủy vật liệu do tác động của môi trường 1.1.1.1 Sự phá hủy lý hóa của bê tông

Dạng hư hỏng này có thể xảy ra do các tác động bên ngoài hoặc do thành phần củabản thân bê tông Phản ứng hóa học phổ biến nhất xảy ra dưới tác dụng của sự ngậmnước và thẩm thấu của nước Khi kết cấu thay đổi liên tục giữa ẩm và khô, nước thấmqua bê tông sẽ hòa tan một vài thành phần, khi đó làm tăng độ rỗng Hiện tượng này

sẽ kéo theo sự xuất hiện của sùi mặt thành mụn và vỡ mủn Các phá hủy này thường

do một số các tác động sau:

a Sự hư hỏng do tác dụng cacbonat hóa bê tông

Chúng ta biết rằng, không khí luôn chứa chất dioxit cacbon (CO2) với một tỷ lệ trungbình là 0,03% theo thể tích, hàm lượng khí CO2 này tùy thuộc vào áp suất và nhiệt

độ Tỉ lệ đó thay đổi theo điều kiện địa lý Ở khu vực đô thị hay trung tâm dân cư,công nghiệp, hàm lượng khí này tăng lớn hơn các khu vực khác Khí CO2 trong khíquyển tác động trở lại trên các vùng chứa vôi ở vữa xi măng để tạo ra cacbonat canxi(CaCO3), và dẫn đến sự sụt giảm tính kiềm (pH) của dung dịch nội bao xuống cònkhoảng 9, thường là không đủ để bảo vệ cốt thép chống lại sự ăn mòn Phản ứngđược viết như sau:

nước + gốc alcaliCa(OH)2 + CO2 CaCO3 + H2O

Trang 7

Cơ chế phản ứng phụ thuộc vào mối quan hệ phức tạp Sự cacbonat hóa thực hiện bắtđầu từ điôxít cacbon tan trong nước phản ứng với vôi thông qua sự hòa tan Trong khi

đó sự hòa tan của dung dịch bão hòa vôi ở nhiệt độ 250 C theo quy định là 1,2g/l và

nó giảm khi nằm ở khu vực giàu tính kiềm Phản ứng này tăng trưởng dần từ ngoàivào trong theo tốc độ thay đổi rất lớn và xảy ra theo nhiều giai đoạn:

-CO32- + H2O CaCO3 + OH Nhiều thành phần của vữa ximăng pooclăng có thể phản ứng (C – S – H, C – A – H)

-và có thể hình thành CaCO3

Cuối cùng trong bê tông đã cacbonat hóa, người ta có thể phân biệt 3 vùng:

- Bê tông hoàn toàn bị cacbonat hóa (pH gần 8,3)

- Bê tông bị cacbonat hóa từng phần (pH gần 10)

- Bê tông nguyên, pH gần 13,5 –12,5 (kiềm bị khuyếch tán)

Để theo dõi sự tiến triển của hiện tượng cacbonat hóa, cần phải xác định chiều sâu cacbonat hóa theo một trong hai phương pháp sau:

- Phương pháp xác định sự mất trọng lượng của các thành phần trong vữa

- Phương pháp kiểm tra bằng phenonlphtalin (tương đương với pH = 9,1)

Về mặt tính thụ động của cốt thép, có thể định nghĩa vùng giới hạn cacbonat hóa bắt đầu từ pH = 11

Những kết quả thí nghiệm đã khẳng định có sự quan hệ giữa độ sâu cacbonat hóa tỉ lệvới căn bậc hai của thời gian:

trong đó:

x - độ sâu của sự cacbonat hóa; t - thời gian; D - hệ số biến thiên sự khuyếch tán

CO2

Trang 8

Phương trình trên cho thấy cơ chế của việc khuyếch tán CO2 điều khiển sự tác độngcủa cacbonat hóa Các sản phẩm của sự cacbonat hóa làm thay đổi cấu trúc xốp của

bê tông bằng cách làm giảm độ chống thấm của nó Người ta cũng xác định có giá trịgiới hạn của sự cacbonat hóa xlim qua đó sự cacbonat hóa không tiến triển nữa

Với một công trình đang sử dụng, xác định D không dễ dàng Nó đụng chạm đến tất

cả các khả năng không chắc chắn của mô hình và lịch sử công trình

Có hai phương pháp xác định hệ số khuyếch tán D, đó là:

- Phương pháp thực nghiệm bằng cách đo độ sâu của sự cacbonat hóa ở từng thờiđiểm khác nhau để thu được D = x / t Đồng thời người ta cũng chứng minh sự phụ thuộc của D với sự thẩm thấu của không khí trên bề mặt của bê tông đo bằng máy bơm chân không.

- Phương pháp bán thực nghiệm bằng cách xác định các thông số chính ảnh hưởngđến D và tổ hợp các kết quả thí nghiệm Các thông số đó là độ ẩm và thành phần bêtông Với thông số độ ẩm, ngườig ta rút ra nhận xét rằng các bê tông bão hòa không

có sự cacbonat hóa đáng kể (sự khuyếch tán của CO2 rất khó) Sự cacbonat hóa cũng

ít xảy ra khi bê tông rất khô (sự khuyếch tán của CO2 dễ dàng nhưng không có phảnứng hóa học khi không có nước) Với thành phần bê tông nào đó có rất nhiều cácthông số: nước/xi măng (N/X), loại và lượng xi măng, loại và lượng phụ gia, lượngnước, sự có mặt của chất làm lỏng, làm dẻo, sự có mặt của các chất tạo khí, độ bền cơhọc, chất lượng trộn trong đó có 2 thông số chính là lượng vôi có thể phản ứng và

sự thẩm thấu của nguyên liệu

b Sự hƣ hỏng nguyên nhân do kiềm hóa

Hiện tượng ăn mòn có trong đá xi măng xảy ra ngay trong lòng khối bê tông giữa cácphần tử với nhau Bản thân clinke luôn chứa một lượng các chất kiềm Trong khi đótrong cốt liệu bê tông, đặc biệt là trong cát, lại hay gặp hợp chất silic vô định hình(opan, chanxeđôn, thủy tinh núi lửa) Chúng có thể tác dụng với kiềm của xi măng ởngay nhiệt độ thường làm cho bề mặt của hạt cốt liệu nở ra, bê tông sẽ phồng lên theomọi hướng, sau đó tạo thành một hệ thống vết nứt theo ô lưới khoảng 30 cm mỗichiều cho đến khi kết cấu bị phá hủy hoàn toàn Do sự phồng rộp của bê tông, mà khí

CO2 thâm nhập vào đưa đến sự hình thành CaCO3 và tạo ra một sự sụt giảm pH củadung dịch nội bao, đây chính là khởi điểm của hiện tượng cacbonat hóa mà chúng ta

Trang 9

đã biết ở trên Hiện tượng hư hỏng do ăn mòn kiềm hóa diễn ra chậm và kéo dài hàngnăm, có thể hạn chế chúng bằng cách lựa chọn thành phần bê tông thích hợp.

c Sự hƣ hỏng nguyên nhân do tác dụng của clorua và sunfat

Nguyên nhân này chính là do tính chất xâm thực của môi trường ven biển có chứacác muối là sản phẩm của phản ứng giữa axit và bazơ Các dung dịch của các muốiaxit mạnh và bazơ mạnh có pH trung tính (pH = 7) Ngược lại sự thủy phân các muốicủa bazơ mạnh với axit yếu và của axit mạnh với bazơ yếu dẫn đến các dung dịch cóthể có tính kiềm hoặc axit Quá trình tấn công của các dung dịch muối rất phức tạp,

nó không phụ thuộc vào tính chất các axit gốc của muối mà còn vào áp lực của chúngvới các ion canxi và các ion OH -

Tác dụng của một muối cũng phụ thuộc vào độ hòa tan của sản phẩm, vào phản ứngthủy phân của chất dính kết và vào tính chất giãn nở tức thời

Các clorua, ngoài tác dụng xấu lên cốt thép trong kết cấu bê tông cốt thép, còn có thể

là nguyên nhân gây nên sự hư hỏng của chất dính kết nếu chúng có nồng độ cao (nhưmôi trường kiềm nhiễm mặn), hoặc ngay cả nồng độ thấp (< 1000mg/l)

Quá trình xuống cấp, trong trường hợp có nồng độ ion Cl – tương đối thấp, tương ứngchủ yếu với sự mất canxi của các chất dính kết do sự tạo thành CaCl2 tan thường kéotheo sự mất dần canxi, nó được gắn liền vào hệ số tốc độ khuyếch tán trong bê tôngcủa các ion Cl – với các cation kết hợp Các ion Cl – xâm nhập rất nhanh vào sâutrong vữa xi măng, tác dụng như một màng bám thấm Chúng trao đổi với các ion

OH– khuyếch tán ngược chiều và tạo ra với Ca(OH)2 và các C – S – H, chất cloruacanxi tan và thấm ngược Các cation kiềm thổ ít di động hơn sẽ kết tủa trên bề mặtcủa bê tông dưới dạng hydroxit (thí dụ: Ca(OH)2, Mg(OH)2)

Hơn nữa một phần các clorua được gắn bởi silicat canxi ngậm nước và dưới dạngmono cloro aluminat canxi 3CaO.Al2O3.CaCl2.10H2O; chất sau này phản ứng vớialuminat canxi và tạo ra ximăng

Các ảnh hưởng của sunfat cũng là một trong những nguồn quan trọng của sự xuốngcấp của bê tông, nó có thể được thể hiện dưới dạng rắn, lỏng hoặc khí Nhưng donguyên nhân gì đi nữa, tác dụng của nó ở trạng thái rắn và khí đều cần tới sự có mặtcủa nước dưới dạng chất lỏng hoặc hơi

Trang 10

Các sunfat có thể có nguồn gốc tự nhiên, sinh học hoặc từ các chất bẩn sinh hoạthoặc công nghiệp Nước mưa, đặc biệt mưa axit có thể có chứa sufat dưới dạng axitsunfuric, rất đáng sợ cho bê tông mới cứng rắn.

Nước biển Việt Nam có chứa một số muối mang tính xâm thực bê tông và cốt thépnhư NaCl (2,7%), MgCl2 (0,32%), MgSO4 (0,22%), KHCO3 (0,02%)

Không khí vùng biển khác so với không khí trong nội địa, có chứa hàm lượng ionclorua cao Kết quả điều tra sơ bộ về nồng độ ion clorua trong khí quyển ở một số địaphương ven biển Việt Nam cho thấy hàm lượng muối dần theo chiều sâu vào đất liền

và theo chiều cao cách mặt biển Ảnh hưởng của khí hậu biển có thể vào sâu trongđất liền tới trên 5 km

Nét đặc trưng cơ bản của khí hậu Việt nam là độ ẩm rất cao (>80%) Nhiệt độ trungbình tương đối lớn Miền Nam có nhiệt độ cao hơn miền Bắc Tuy nhiên miền bắc lại

có biên độ dao động lớn hơn miền Nam và kèm theo nhiều ngày sương mù gây ẩmướt trực tiếp lên bề mặt kết cấu Một yếu tố cần phải kể tới nữa là hiện tượng mưa ràođột ngột ở Việt Nam tạo nên các chu kỳ khô - ẩm và làm tăng quá trình thẩm thấuchất xâm thực vào bê tông Các đợt gió mùa cũng như giông bão góp phần đưa lượngmuối lớn vào đất liền

Tổng hợp tất cả các yếu tố khí hậu nói trên kết hợp với nồng độ muối cao trongkhông khí cho thấy khí quyển ven biển Việt Nam là môi trường xâm thực mạnh đốivới kết cấu bê tông cốt thép và có những đặc thù riêng so với vùng biển khác trên thếgiới: Tùy theo tính chất xâm thực của từng vùng (vùng ngập nước, vùng nước lênxuống, vùng khí hậu ven biển) mà quá trình ăn mòn bê tông và cốt thép có khácnhau

d Sự xuống cấp của bê tông có nguồn gốc sinh học

Các loại nước bẩn nhỏ xuống ở trong đó xảy ra các phản ứng vi sinh vật hiếm khí vàyếm khí, có khả năng làm hư hỏng bê tông Các vùng dễ bị hư hỏng là các vùng ở nơi

đó có các nồng độ của các chất thải lớn, tốc độ chảy thấp và nhiệt độ cao

Trong những vùng ấy sẽ bay lên khí hydro sunfua (H2S) do tác động ôxy hóa của các

vi sinh vật sunfo kỵ khí lên các lớp chất hữu cơ hay vô cơ của lưu huỳnh có chứatrong nước Bản thân H2S ít tính xâm thực bê tông Nhưng nó có thể trở thành axit

Trang 11

sunfuric H2SO4 bằng cách tự đóng lại trên các thành ẩm ướt ở trên mực nước và bịoxy hóa bằng các vi sinh vật hiếm khí và nó có thể gây ra sự xuống cấp quan trọngcủa bê tông bởi sự tác động của axit một phần và phần khác bởi sự phồng lên do cómặt của SO 2

4  Sự ăn mòn bê tông do các vi sinh vật thường xảy ra với các cầu nằm

ở khu vực đông dân cư như thành phố, thị trấn, những nơi vệ sinh môi trường kém,nước bẩn tù đọng

1.1.1.2 Sự hƣ hỏng do hiện tƣợng ăn mòn cốt thép trong bê tông

Kết cấu bê tông cốt thép bị phá hủy chủ yếu bởi ăn mòn cốt thép Việc ăn mòn cốtthép sẽ dẫn đến nứt vỡ lớp bê tông bảo vệ phá hủy kết cấu Thực trạng này thườnggặp ở các công trình hay bộ phận công trình nằm trong vùng nước thủy triều lênxuống hoặc khu vực gần bờ biển Điều kiện cần để cốt thép bắt đầu gỉ là độ pH trong

bê tông giảm đến dưới giá trị 11 hoặc hàm lượng ion Cl- tự do vượt quá ngưỡng 0,4 % xi măng Để quá trình ăn mòn cốt thép phát triển mạnh còn phải cần tới oxy vàhơi nước thẩm thấu vào bê tông Sự suy giảm pH của bê tông trong vùng biển đượcgây nên do rửa trôi hoặc quá trình cacbonat hóa trong khí quyển Trong thực tế cácquá trình trên diễn ra tương đối chậm và thường không phải là nguyên nhân chínhgây ra gỉ cốt thép Ở đây sự tích tụ ion Cl- trong bê tông qua quá trình sử dụng mới lànguyên nhân chính gây ra gỉ cốt thép Tốc độ khuyếch tán ion Cl- phụ thuộc vào bảnthân lớp bê tông bảo vệ (chiều dày, khả năng chống thẩm thấu) và phụ thuộc vào điềukiện môi trường Qua quá trình nghiên cứu cho thấy các nguyên nhân chính gây ănmòn thép trong bê tông như sau:

0,2-a Ăn mòn điện hóa

Quá trình đó gồm hai phần: Hòa tan anốt kim loại và phản ứng catôt

+Quá trình xảy ra tại anôt cục bộ diễn ra như sau: Nguyên tử kim loại có xu hướngtrở về trạng thái nghèo năng lượng nên khi có chất điện li (nước, cation axit, muối ),

nó sẽ rời khỏi mạng lưới tinh thể và trở thành ion mạch điện trong dung dich Một sốlượng các điện tử tự do tương ứng sẽ trở lại trên bề mặt của thép

Trang 12

màng nước trên bề mặt cốt thép thu nhận Các oxy này hấp thụ nước và biến thànhcác ion âm (OH)-

4e- + O2 + 2H2O 4(OH)

-Sự cân bằng tích điện trong chất điện ly đạt được qua sự kết hợp các ion Hyđrô vớicác ion sắt Tùy thuộc độ ẩm và sự có mặt của oxy mà phản ứng xảy ra qua nhiềubước trung gian để tạo ra các sản phẩm gỉ khác nhau dưới dạng công thức chung sau:

Sơ đồ quá trình gỉ cốt thép do ăn mòn điện hóa

b Gỉ cốt thép trong bê tông vùng bị nứt

Tại vùng có xuất hiện vết nứt với bề rộng nhất định, cũng trong điều kiện môi trườngbình thường không chứa các tác nhân gây ăn mòn, cơ chế gỉ cốt thép có thể có haidạng khác nhau tùy thuộc vào khả năng thâm nhập của oxy qua lớp bê tông bảo vệđến bề mặt của cốt thép, hai cơ chế đó có thể tóm tắt như sau:

- Cơ chế 1: bê tông có đủ độ chặt và chiều dày lớp bê tông bảo vệ đủ để cho ôxykhông thâm nhập được lên bề mặt cốt thép mà chỉ có thể có mặt tại chỗ có vết nứtxuất hiện mà thôi Do vậy vùng tác dụng của catốt và anốt sát nhau ngay trong phạm

vi của vết nứt Sản phẩm gỉ tạo thành sẽ lấp đầy vết nứt ngăn sự thâm nhập của oxy,

do đó sẽ ngăn cản gỉ

Trang 13

- Cơ chế 2: loại này được nghiên cứu thực nghiệm chứng minh là thường xảy ra hơn.

Cơ chế này xảy ra khi mà bê tông có độ rỗng, không đủ chặt, bề dày lớp bảo vệkhông đủ ngăn cản sự thấm nhập của ôxy lên bề mặt cốt thép và cả những vùngkhông có vết nứt Lúc đó, anốt sẽ là bề mặt thép có lớp thụ động đã bị gỉ ngay tại vếtnứt và catốt là bề mặt thép nằm trong bê tông chưa nứt ngay bên cạnh Quá trình gỉchỉ có thể xảy ra nếu như bê tông đủ khả năng dẫn điện nhờ một lượng ngậm nướcnhất định và lúc này đã có sự phân cực cách biệt giữa catôt và anôt

Qua đây chúng ta thấy rõ khả năng chống thấm của lớp bê tông bảo vệ đóng vai tròquan trọng đến mức nào đối với quá trình gỉ của cốt thép Bê tông không đủ độ chặt,lớp bảo vệ không đủ chiều dày không những tạo điều kiện để oxy thâm nhập mà còn

đủ hút ẩm để dẫn điện tạo nên dòng điện ly

Sự có mặt của oxy và dòng điện ly là hai điều kiện cần và đủ để gây gỉ; cũng vì thế ởmôi trường khô ráo do bê tông không đủ dẫn điện, nên cốt thép ít bị gỉ còn trong môitrường ngấm nước hoàn toàn thì có dòng điện ly, nhưng nước lại ngăn cản sự thấmnhập của oxy qua bê tông nên cốt thép cũng ít bị gỉ Gỉ sẽ xảy ra mạnh nhất, khi môitrường có độ ẩm không khí 85% - 95% (là độ ẩm trung bình hàng năm của nước) vànhất là khi độ ẩm thay đổi thường xuyên để tạo chu trình khô cho oxy thấm nhập, sau

đó độ ẩm tạo dòng điện ly dẫn đến gây gỉ Cũng vì vậy, các vùng tiếp giáp giữa nước

và không khí, các vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của ẩm với khô, của mưa rồi nắng lànhững vùng mà cốt thép trong bê tông dễ bị gỉ nhất

Nhiều kết quả thí nghiệm chúng minh rằng bề rộng vết nứt đến 0,4mm chỉ đóng vaitrò thứ yếu đến sự phát triển của gỉ trong bê tông so với trường hợp bê tông bị xốp,chiều dày lớp bảo vệ không đủ Tóm lại, trong môi trường bình thường quá trình gỉcủa cốt thép trong bê tông, kể cả vùng không nứt cũng như vùng có vết nứt chỉ xảy rakhi tồn tại đồng thời các điều kiện sau:

- Bê tông bị cacbonat hóa đến tận chỗ đặt cốt thép, như vậy độ pH giảm xuống tạođiều kiện cho lớp bảo vệ thụ động trên bề mặt cốt thép bị phá vỡ để tạo sự hòa tankim loại anốt

- Bê tông phải đủ chứa được ẩm tạo dòng điện ly để các ion hydro xuất hiện trong phản ứng catốt chuyển sang anốt và kết hợp với ion sắt

Trang 14

Bê tông bị cacbonat hoá

Bê tông bị cacbonat hoá

Cơ chế gỉ của cốt thép trong vùng bê tông có vết nứt

c Gỉ của cốt thép trong bê tông khi có mặt của các ion Cl –

Trong các môi trường xâm thực mạnh như nước biển, khí hậu ven biển thì ion Cl– lànhân tố ảnh hưởng đến quá trình gỉ nhiều nhất Khi nồng độ clo thâm nhập đến cốtthép vượt quá chỉ số giới hạn, thì ngay cả đối với trường hợp bê tông không bịcacbonat hóa, quá trình gỉ cũng sẽ xuất hiện; còn nếu bê tông bị cacbonat hóa thì quátrình gỉ sẽ nhanh hơn, vì các ion Cl– nằm trong bê tông trước đó không nguy hiểm,thì nay lại dễ hòa tan hơn và dễ gây gỉ Sự có mặt của Cl– sẽ làm cho bê tông dẫnđiện tốt hơn, tăng tốc độ gỉ của cốt thép nằm trong vùng bê tông bị cacbonat hóa.Quá trình gỉ của cốt thép trong bê tông khi có mặt Cl – cũng cần phải có ba điều kiệnsau đây:

- Hàm lượng Cl – tại chỗ đặt cốt thép vượt quá trị số giới hạn (thường là 0,4% trọnglượng xi măng) để Cl - có thể xâm nhập được vào bê tông bảo vệ bề mặt cốt thép đểtạo nên quá trình anôt

- Phải có đủ lượng oxy thâm nhập qua lớp bê tông bảo vệ lên bề mặt cốt thép để tạo nên quá trình catôt

- Để tạo dòng ion giữa catôt và anôt phải có đủ độ ẩm để dẫn điện trong bê tông

Cũng tương tự như quá trình gỉ của cốt thép trong bê tông ở môi trường bình thường trong trường hợp có mặt Cl –, nhân tố quyết định vẫn là độ chặt của bê tông và độ ẩm

Trang 15

thay đổi trong bê tông Tuy nhiên, khi hàm lượng Cl – vượt quá giới hạn, lớp thụđộng bảo vệ cốt thép sẽ bị phá vỡ cục bộ, lúc này, trên bề mặt cốt thép sẽ xuất hiệnnhững anốt nhỏ trong khi catốt lại lớn, kết quả là sẽ xuất hiện những vết gỉ sâu.

Đối với điều kiện địa lý, khí hậu và thời tiết ở nước ta, các công trình cầu bê tông cốtthép thường được bố trí nằm tại các khu vực ven biển nên các hư hỏng về gỉ cốt thép

có đặc thù riêng Xét về bản chất vật liệu, bê tông và cốt thép được hình thành từ cácvật liệu thông thường như hiện nay, không phải là không sử dụng được trong môitrường biển Vấn đề cần phải xét là nguyên nhân gì đã dẫn tới sự suy giảm độ bềnnhanh chóng của các công trình bê tông cốt thép ven biển Việt nam Qua quá trìnhđiều tra khảo sát ta có thể nhận thấy các nguyên nhân chính sau:

+ Mác bê tông và chiều dày lớp bảo vệ không phù hợp với môi trường biển

+ Sử dụng các vật liệu có độ nhiễm mặn cao

+ Giải pháp hoặc chi tiết thiết kế không phù hợp với môi trường nước mặn

+ Thiếu biện pháp bảo vệ bổ sung cho công trình nằm ở khu vực biển và giáp biển

1.1.1.3 Sự hƣ hỏng về nứt do co ngót bê tông

Nứt là hiện tượng hư hỏng do nhiều nguyên nhân gây ra Mọi nguyên nhân đều donhược điểm chính của bê tông tạo thành Cường độ chịu kéo quá thấp, khoảng 5%của cường độ chịu nén Một đặc điểm đáng lưu ý ở bê tông xi măng có tỷ lệ N/X caohơn so với bê tông có chất dính kết hữu cơ (bê tông polime)

Co ngót là hiện tượng thể tích thay đổi do mất độ ẩm (mất nước), nó là một đặc tínhcủa bê tông Tỷ lệ N/X càng cao, sự chênh lệch giữa mức co ngót ở mặt ngoài và bêntrong tiết diện càng nhiều, co ngót tạo ra biến dạng khối Tính chất của sơ đồ rất dễnhận dạng vì quy luật của nó khá ổn định Cốt thép và cốt liệu cản trở sự biến dạng

co ngót Do đó hàm lượng cốt thép trong tiết diện bê tông càng cao, mức độ cản trở

co ngót càng lớn, càng dễ gây nứt

Bằng biện pháp cấu tạo và giảm tỷ lệ N/X đến mức thích hợp sẽ làm hạn chế đếnmức tối đa hiện tượng nứt do co ngót bê tông

1.1.2 Những hƣ hỏng do quá trình khảo sát, thiết kế có sai sót

Những sai lầm do khảo sát, thiết kế sẽ kéo theo những hư hỏng có thể biểu hiện theocác dạng:

Trang 16

- Tính toán sai hoặc tính chưa đủ.

-Chọn giải pháp kết cấu không tốt, không tôn trọng những nguyên tắc đảm bảo an toàn công trình

a Tính toán bản mặt cầu không đạt

Trong các cầu BTCT do Pháp xây dựng đầu thế kỷ, bản mặt cầu kê trên dầm dọc vàdầm ngang (kiểu kê trên 4 cạnh) được đổ tại chỗ, có chiều dày nhỏ (10-12cm), và chỉ

bố trí một lưới cốt thép 10mm Rõ ràng, do chỉ bố trí một lưới cốt thép chịu mômen âm tại nơi tiếp giáp với dầm dọc và ngang mà không xét đến mô men dương tạigiữa bản nên bản hay bị nứt theo ô lưới tại giữa bản và dễ có khả năng bị chọc thủng

do tác dụng của những lực đặt tập trung

- Tính toán độ cứng theo phương dọc không đạt: Theo quy trình của Liên xô (cũ) vàquy định của Pháp cũng như của một số nước châu Âu về bê tông dự ứng lực có hiệulực đến năm 1983, cấm xuất hiện các ứng suất kéo theo phương dọc cũng như các vếtnứt trong kết cấu bê tông dự ứng lực

Các vết nứt do độ cứng dọc

Từ năm 1983, trong một vài điều kiện ở một vài vùng người ta cho phép có thể cóứng suất kéo nhỏ nhưng với điều kiện các vùng đó có khả năng chịu kéo sao cho phùhợp với cốt thép đã được bố trí và vết nứt không phát triển Tuy nhiên những sai sót

Trang 17

trong tính toán làm xuất hiện ứng xuất kéo theo phương dọc sẽ gây ra vết nứt thẳngđứng nằm ở các thớ dưới khoảng giữa nhịp nơi có mô men dương đạt giá trị lớn nhất.

- Tính toán khả năng chịu cắt không đạt: Việc tính toán khả năng chịu cắt không đạt

sẽ gây ra sự xuất hiện vết nứt do cắt Các vết nứt loại này thường xuất hiện ở lõi kếtcấu, nghiêng khoảng 45o trong phạm vi khu vực 1/3 dầm

Các vết nứt do thiếu cốt thép chịu cắt

b Tính toán về lực căng cáp dự ứng lực không chính xác

Do giả thiết không chuẩn lực căng trước trong dây cáp phụ thuộc vào nhiều thông sốnhư hệ số ma sát (mất mát ứng suất) theo lý thuyết và thực tế là khác nhau, sự tựtrùng của cốt thép cũng là một đại lượng giả thuyết đối với các công trình cũ (theoquy định giá trị này lớn gấp đôi) Mặt khác các sợi cáp hoặc các bó cáp có thể bị ănmòn và gẫy do quá trình bơm phụt vữa hoặc do quá trình thi công không tốt Việctính toán không chính xác các yếu tố trên dẫn đến tạo nên các lực căng cốt thép quálớn làm xuất hiện những vết nứt dọc theo cáp căng, những vết nứt này xuất hiện trongquá trình xây dựng và theo thời gian sẽ được ổn định

c Tính toán sai sót khi sự phân phối lại nội lực dưới tác dụng của các biến dạng khác nhau

Đối với một công trình xây dựng cầu dầm liên tục cần phải nắm được quá trình thicông nó Trạng thái ứng lực của kết cấu trong giai đoạn thi công cuối phụ thuộc vàotrình tự, biện pháp thi công Nếu sơ đồ tĩnh học trong quá trình thi công không khác

sơ đồ tĩnh học cuối cùng (cầu dầm liên tục thi công theo công nghệ đúc hẫng), thìnhững biến dạng khác nhau của bê tông (biến dạng từ biến) chịu sự phân phối lại nộilực cho tới khi trạng thái của công trình có xu thế tiến đến trạng thái thực của công

Trang 18

trình Sự phân phối lại nhìn chung được biểu hiện bởi sự xuất hiện mômen dươnglàm căng thớ dưới Mô men dương sinh ra do ảnh hưởng của từ biến có thể tính chínhxác hoặc cũng có thể tính một cách quy ước theo công thức:

M = 1/2 ( S1 + S2) trong đó S1 và S2 là mômen uốn trước và sau khi có sự phân phốilực Nếu không lưu ý tới hiện tượng này thì kích thước của kết cấu sẽ không sẽ không

đủ đảm bảo yêu cầu về độ võng dọc

Ngoài ra những biến dạng bị do nhiệt (Gradien nhiệt) cũng gây nên sự phân bố lại nộilực Sự chênh lệch nhiệt độ giữa thớ trên và thớ dưới của đáy bản do tác dụng củaánh nắng mặt trời gây nên biến dạng cho kết cấu, theo quy trình người ta xem như sựthay đổi nhiệt độ là tuyến tính trên chiều dày của bề mặt kết cấu Trong kết cấu siêutĩnh, sự biến dạng bị cản trở Do vậy nó xuất hiện một mômen phụ Mômen dogradien nhiệt này nhìn chung là dương và gây ra sự giảm ứng lực ở thớ dưới vàokhoảng 2MPa khi sự thay đổi nhiệt độ là 6oC

1.1.2.2 Những hƣ hỏng xảy ra lựa chọn giải pháp kết cấu không tốt

Khi thiết kế một công trình, ngoài vấn đề phải tính toán đủ khả năng chịu lực theoyêu cầu thiết kế, cần thiết phải có sự lựa chọn giải pháp kết cấu hợp lý, nếu không sẽdẫn đến những hư hỏng mà nguyên nhân chính hoàn toàn do vấn đề lựa chọn về cấutạo của kết cấu không hợp lý Một vài hư hỏng xuất phát từ nguyên nhân này là:

a Đối với bản mặt cầu

Trong các bản mặt cầu cầu thép bản bê tông cốt thép liên hợp, nhiều trường hợp cáccốt thép chịu lực sử dụng loại có đường kính quá lớn so với chiều dày và khẩu độ làmviệc của bản nên mặc dù về diện tích cốt thép chịu lực thì đủ nhưng do số lượng trênmột mét chiều rộng bản nhỏ dẫn đến không đảm bảo khả năng chịu lực cục bộ vàthường bị nứt dọc theo cốt thép kiểu ô lưới và phá hoại kết cấu bản rất nhanh

Trong các bản mặt cầu của cầu dầm hộp, thường khẩu độ làm việc của bản lớn nênnếu sử dụng cốt thép thường sẽ dễ bị phát sinh vết nứt dọc bản Các vết nứt nàykhông vượt quá độ mở rộng vết nứt cho phép thì không gây nguy hiểm cho kết cấunhưng về lâu dài thì có thể là nguyên nhân gây hư hỏng về mặt vật liệu đối với kếtcấu

Trang 19

b Đối với kết cấu dự ứng lực

Trong một vài công trình dạng khung T dầm đeo, cốt thép dự ứng lực thường được bốtrí ở nắp hộp phía trên và được bảo vệ bằng bê tông thường, được thi công sau khiđúc xong toàn bộ cánh T, do lớp bê tông này không được dự ứng lực nên khi chịu lựckéo do tĩnh tải phần 2 và hoạt tải, lớp bê tông bị nứt và gây gỉ cốt thép dự ứng lựcdẫn đến kết cấu bị phá hoại

Sự liên kết giữa đáy bản mặt cầu và sườn dầm không tốt, trong những trường hợp nàythường xuyên xuất hiện những vết nứt rất rộng ở chỗ liên kết giữa đáy bản và sườndầm suốt dọc các vết nứt có kèm theo những phần rộp bê tông, điều đó chứng tỏ vếtnứt là chủ động dưới tác dụng tải trọng thay đổi

1.1.3 Những hƣ hỏng liên quan đến thi công

-Khi sản xuất bê tông: do không tôn trọng công thức qui định, cho nước không đúng,

sử dụng không đúng chất phụ gia, pha trộn không đúng nhiệt độ quy định

-Khi chế tạo kết cấu: do ván khuôn không được rửa sạch, dùng lại những công cụ đổ

bê tông không tốt, đầm dung bê tông không tốt, lắp thiếu đầm dung hoặc khi đầmdung hỏng, không thay thế kịp thời, chiều cao đổ bê tông lớn không sử dụng thiết bị

đổ như vòi voi, làm bê tông bị phân tầng

Những sai sót trong chế tạo bê tông sẽ làm ảnh hưởng tới cường độ chịu lực của vậtliệu và gây rỗ bề mặt kết cấu tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ cacbônat hóa trong bêtông

1.1.3.2 Cốt thép trong bê tông

Việc chế tạo gia công các cốt thép trong bê tông dự ứng lực, việc chế tạo các khungcốt thép cũng có thể dẫn tới một số sai sót với thiết kế Không tuân thủ chiều dày lớpbảo vệ, thép đặt không đảm bảo nên khi đổ bê tông bị di chuyển, hàn những thépkhông được phép hàn hoặc không tôn trọng những bán kính cong, để lẫn lộn thép này

Trang 20

với thép khác Ngoài ra khi giao nhận các chi tiết đi kèm theo các bó cốt thép dự ứnglực cũng như các chi tiết kèm theo bị xây xước, bẩn, gỉ, các ống dẫn bị cong, thủng Các sai sót này ảnh hưởng tới khả năng chịu lực của kết cấu và là nguyên nhân gây gỉcốt thép.

1.1.3.3 Bố trí cốt thép trong ván khuôn và thi công căng kéo

Trong quá trình thi công có xảy ra các sai lệch về mặt hình học, có thể kể đến sự lúncục bộ của ván khuôn, độ vồng ngược của dầm không thích hợp, các mối nối khôngđảm bảo, các sai lệch có liên quan đến chất lượng không đồng đều của bê tông, sựchất tải hoặc kéo căng cốt thép không đối xứng, sự tạo dự ứng lực quá thô bạo, hoặcbơm vữa phụ không đúng quy cách Các thiếu sót này làm biến dạng thực tế của kếtcấu khác xa so với tính toán

1.1.3.4 Những sai sót trong quá trình thi công

- Việc lắp đặt các ống dẫn, các bó thép dự ứng lực, các thiết bị neo, chuyển hướngkhông chính xác, các thiết bị giữ cố định vị trí của các bó thép dự ứng lực không đủcứng, bị xê dịch, biến dạng trong quá trình đổ bê tông

- Đặt cốt thép không đúng quy cách, sai số về vị trí lớn, kê chèn không đủ cho chiềudày lớp bảo vệ theo dự định, không hàn các mối nối cốt thép, thiếu cốt thép chờ giữacác mối nối bê tông

- Việc lau rửa bôi dầu mỡ ván khuôn làm không tốt

- Chặt sắt hoặc uốn móc gây khó khăn khi đổ bê tông

- Không tôn trọng các giai đoạn đổ bê tông đã được quy định trong khi thiết kế

-Xử lý nhiệt không tốt dẫn tới nứt, không dưỡng hộ hoặc dưỡng hộ không đủ tạo nên

sự nứt bề mặt và tăng mức độ thấm của bê tông

- Tháo ván khuôn sớm dẫn đến biến dạng quá lớn, thậm chí gây nứt

- Thiếu cẩn thận khi vận chuyển các kết cấu đúc sẵn

- Sai sót khi bơm vữa vào ống dẫn các cốt thép dự ứng lực Nguy cơ đứt các sợi cáp

dự ứng lực do gỉ luôn luôn tồn tại nếu công trình có sai sót trong bơm vữa Sai sót cóthể xảy ra do chất lượng vữa không đảm bảo (độ lưu động, độ phân tầng, thời gian cóthể bơm sai khác giữa thiết kế và thực tế), việc bố trí lỗ kiểm tra không đủ, còn đọngnước trong ống, tắc ống không kiểm tra được

Trang 21

- Sai sót do căng kéo các bó cốt thép dự ứng lực như trượt chốt neo, lún côn neo, căng kéo không đủ lực, đứt cục bộ các sợi cáp

Những sai sót trên ảnh hưởng rất lớn đến khả năng chịu lực của kết cấu, gây nứt bê tông và gỉ cốt thép

- Quá tải do các đoàn xe đặc biệt không dự tính trước

- Tăng chiều dày mặt đường trên cầu một cách lạm dụng

- Sự ô nhiễm của môi trường (khí thải công nghiệp), sự thay đổi chế độ nước

- Việc làm của một số đơn vị, cá nhân gây tác hại đến công trình như sử dụng hệ mặt cầu làm chỗ treo móc cẩu, dùng trụ, mố làm hố thế

- Thiếu sót do bảo dưỡng hệ thống thoát nước, bảo dưỡng mối nối đường

- Sai sót do việc điều chỉnh sự làm việc của các gối tựa bị hỏng

Những hư hỏng trong quá trình sử dụng phổ biến nhất là các hư hỏng về nứt Các vết nứt này là do:

1.1.4.1 Nứt do cấu kiện chịu nhiệt quá tải

Ởđây tải trọng có thể gây mômen M hoặc lực cắt Q Song dù ở trạng thái nội lực nàothì vết nứt cũng đã xảy ra khi k  Rk (ứng suất và cường độ chịu kéo của bê tông)

Do cấu tạo, các loại đường nứt này có thể theo phương song song với trục cấu kiệnhoặc nghiêng một góc nào đó

Chiều rộng vết nứt trong trường hợp này theo quy trình Việt nam cũng như một sốnước được giới hạn rất nghiêm ngặt, không được quá 0,2mm Đồng thời ứng với mỗimức độ chiều rộng vết nứt có những giai đoạn tính toán khác nhau

Giai đoạn I-a hình thành vết nứt, chứng tỏ k đã bắt đầu đạt đến Rk, bê tông ở miềnchịu kéo không còn làm việc nữa, toàn bộ nội lực ở đó do cốt thép chịu

Trang 22

Riêng đối với kết cấu bê tông cốt thép dự ứng lực, nhờ có lực nén trước Nd đã làmchậm thời điểm xuất hiện giai đoạn I-a Song về phương diện lý thuyết tính toán thìđây là thời điểm kết thúc hiệu lực của ứng lực trước đối với bê tông Khi bề rộng vếtnứt do quá tải đã đạt xấp xỉ tối đa cho phép thì kết cấu đã ở vào trạng thái làm việcnguy hiểm và cần phải có biện pháp gia cố.

Tuy nhiên, hiện tượng nứt do quá tải sẽ còn nguy hiểm hơn nữa nếu đường nứt xảy ra

ở miền chịu nén do không đủ tiết diện bê tông

1.1.4.2 Trạng thái nứt do lún không đều của công trình

Tính đồng nhất về cường độ và khả năng chống biến dạng của nền đóng vai trò rấtquan trọng Nếu trong khảo sát, thiết kế và thi công không đảm bảo chất lượng nàythì trong công trình sẽ xảy ra hiện tượng lún không đều Từ biến dạng không đều củanền, dẫn đến sự biến dạng không đều của các bộ phận công trình Độ chênh lệch đáng

kể về các giá trị biến dạng đó tạo ra ứng suất kéo xấp xỉ với cường độ kéo của vậtliệu nên gây nứt Quy luật của trạng thái nứt trong trường hợp này rất dễ nhận dạng,

vì từ sơ đồ chịu lực tổng thể do lún không đều làm hình thành các đường nứt nghiêngkhoảng 40o -50o và chiều rộng vết nứt lớn dần từ trên xuống và không có giới hạn tốiđa

1.1.4.3 Trạng thái nứt do mỏi

Mỏi là hiện tượng xảy ra khá phổ biến trong công trình và được quan tâm nhiều ở cácnước hiện nay Ta biết rằng mỏi là hiện tượng suy thoái tính năng của vật liệu do tácđộng lặp của các loại tải trọng khác nhau

Thường vật liệu khi xét tới mỏi trong kết cấu bê tông cốt thép và bê tông dự ứng lựcchỉ xét với tải trọng xe lửa vì đây là tải trọng lặp Ngoài ra, ở khí hậu lục địa, có độchênh lệch đáng kể của nhiệt độ ngày và đêm, thường xảy ra hiện tượng mỏi nhiệthoặc mỏi nhiệt ẩm Hiện tượng như vậy cũng rất dễ gặp ở các công trình bê tông cốtthép nằm trong nước có chế độ thủy triều lên xuống thường xuyên hoặc mực nướcngầm thay đổi do những tác động cơ học không tự nhiên

Tuy nhiên, để đánh giá mức độ gây hư hại do mỏi của hai nguyên nhân trên, hiệntượng suy thoái lớp kết dính ở cả ba tổ hợp của bê tông cốt thép Ở trạng thái lão hóatột cùng, vật liệu biến thành những hạt rời rạc, dẫn đến kết cấu bị phá hủy hoàn toàn

Trang 23

1 2 NHỮNG PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN VỀ CẦU BÊ TÔNG CỐT THÉP ĐANG KHAI THÁC

1.2.1 Mục tiêu của thu thập thông tin

Mục tiêu của thu thập thông tin về cầu BTCT đang khai thác để đánh giá chất lượngvật liệu và đánh giá khả năng làm việc của kết cấu Thu thập thông tin đóng vai tròquan trọng trong chẩn đoán đánh giá cầu

Hai loại thông tin cần thu thập là:

- Về vật liệu: Thu thập các đặc trưng vật liệu; thu thập các hư hỏng của vật liệu; các tác động của môi trường đến vật liệu

- Về kết cấu: Đo đạc các trạng thái biến dạng của kết cấu; thu thập các hư hỏng của kết cấu

1.2.2 Nguyên tắc trong thu thập thông tin

- Thu thập được càng nhiều thông tin liên quan đến công trình càng tốt

- Cố gắng tiếp cận công trình càng gần càng tốt

- Ghi chép, phác hoạ hiện trạng công trình tỷ mỉ, kỹ lưỡng và chính xác

- Các trang thiết bị kiểm định phải có độ chính xác theo yêu cầu và được so chuẩn theo quy định

- Sử dụng các trang thiết bị kiểm định đúng mục đích

- Chỉ những người được đào tạo mới dược sử dụng thiết bị

- Sử dụng các trang thiết bị theo đúng các quy định kèm theo

1.2.3 Các hình thức và mức độ kiểm tra thu thập thông tin

Để thu thập thông tin cần sử dụng những phương tiện và trang thiết bị kiểm tra Tuỳtheo loại hình kiểm tra mà mức độ sử dụng phương tiện và trang thiết bị kiểm trakhác nhau

1.2.3.1 Kiểm tra thường xuyên

Trang 24

Thường được tiến hành hàng năm, trước khi duy tu, nhằm phát hiện các dấu hiệu bấtthường trên cầu Kiểm tra thường xuyên cần các trang thiết bị: Thiết bị bảo hộ và antoàn lao động; các phương tiện tiếp cận công trình; các thiết bị đo đạc thông thườngnhư thước, phấn đánh dấu, sổ ghi chép

1.2.3.3 Kiểm tra đặc biệt

Thường được tiến hành sau một sự cố bất thường như lũ bão, động đất, hỏa hoạn, vachạm lớn, sau khi sửa chữa nâng cấp hoặc cần khai thác với tải trọng lớn hơn

Kiểm tra đặc biệt cần các trang thiết bị: Thiết bị bảo hộ và an toàn lao động; cácphương tiện tiếp cận công trình; các thiết bị đo đạc thông thường như thước, phấnđánh dấu, sổ ghi chép; các thiết bị đo đạc kiểm tra không phá huỷ như siêu âm, bắnsúng; các thiết bị khoan lấy mẫu; các thiết bị đánh giá mức độ gỉ của cốt thép; cáctrang thiết bị đo biến dạng; thiết bị đo dao động

1.2.4 Các phương pháp kiểm tra vật liệu

Khi nghiên cứu trạng thái làm việc và khả năng chịu lực của các công trình BTCTngười ta thấy yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đầu tiên đến khả năng làm việc và tuổi thọcủa các kết cấu BTCT là chất lượng vật liệu hiện tại của chúng Chất lượng đó thểhiện qua giá trị của các loại cường độ giới hạn, số lượng và tính chất của các khuyếttật do các trạng thái bệnh lý đã tồn tại hoặc mới xuất hiện trong quá trình khai thác.Nhiệm vụ đầu tiên của đánh giá công trình là phải xác định và đánh giá chất lượngvật liệu Hiện nay việc khảo sát và xác định các đặc trưng cơ bản của vật liệu thườngđược thực hiện theo hai phương pháp cơ bản là phương pháp thí nghiệm phá hoạimẫu và phương pháp thí nghiệm không phá hủy NDT

Trang 25

1.2.4.1 Phương pháp phá hoại mẫu

a Nguyên tắc và đặc điểm:

Vật liệu cần nghiên cứu được lấy từ công trình ra được chế tạo thành các mẫu thử.Hình dạng và kích thước của các mẫu thử được xác định tuỳ theo: loại vật liệu; mụcđích nghiên cứu; các quy định trong các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm Các mẫuvật liệu được được đưa vào các máy thí nghiệm tương ứng với trạng thái làm việc củavật liệu (kéo, nén, uốn, xoắn ) và cho chịu tác dụng của lực ngoài có giá trị tăng dầntheo từng cấp cho đến lúc mẫu bị phá hoại hoàn toàn Dưới tác dụng của lực ngoàivật liệu sẽ bị biến dạng Đo các giá trị biến dạng tương ứng với mỗi cấp ứng suất Giátrị của các cặp ứng suất biến dạng nhận được cho phép dựng được một đường congbiểu diễn quan hệ giữa ứng suất và biến dạng; được gọi là biểu đồ đặc trưng vật liệu

vì qua đồ thị này có thể xác định được các đặc trưng cơ lý của vật liệu Quá trìnhnghiên cứu các vật liệu xây dựng cho thấy, biểu đồ đặc trưng vật liệu nhận được bằngphương pháp thí nghiệm mẫu sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố sau: Tốc độgia tải; nhiệt độ môi trường; trạng thái ứng suất tác dụng

Khi tiến hành các thí nghiệm theo phương pháp thí nghiệm phá hoại mẫu thử thườngtiến hành trong các phòng thí nghiệm, ở đây các điều kiện thí nghiệm đều đượckhống chế chuẩn Các số liệu nhận được theo phương pháp này thường ít chịu ảnhhưởng của các yếu tố khác, vì vậy kết quả nhận được phản ánh tương đối chính xáckhả năng chịu lực vốn có của vật liệu

Khi vật liệu làm việc trên công trình thực tế sẽ chịu nhiều yếu tố ảnh hưởng khácnhau làm thay đổi khả năng chịu lực so với các điều kiện chuẩn Phương pháp thínghiệm phá hoại mẫu thử vật liệu thường ít có khả năng xét đến sự thay đổi đó

Việc lấy mẫu thử trên kết cấu thực tế không phải lúc nào cũng thuận lợi do tính chất,

vị trí và phương pháp tiếp cận của công trình, và phải lấy ở vị trí không ảnh hưởngđến khả năng chịu lực của kết cấu

b Xác định một số đặc trưng của vật liệu BTCT

-Xác định cường độ giới hạn chịu nén của bê tông Rn: Khoan lấy mẫu trực tiếp từ kếtcấu Kích cỡ phụ thuộc vào mũi khoan, thường phải đảm bảo chiều cao gấp đôiđường kính Gia công mẫu theo quy định Lắp đặt và ép mẫu theo quy định, xác định

Trang 26

được lực nén phá hoại mẫu và tính được cường độ giới hạn khi nén của mẫu Chuyển đổi cường độ nhận được về cường độ mẫu chuẩn.

- Xác định cường độ lăng trụ Rlt , modun đàn hồi động Eb và hệ số Poisson  : Mẫuthử lấy từ công trình được gia công thành mẫu hình lăng trụ theo quy định Lắp đặt

và ép đặt mẫu theo quy định Chia giá trị lực thí nghiệm thành n cấp Tiến hành từngcấp cho đến khi phá hoại Với mỗi cấp tải trọng xác định được các biến dạng theo cácphương tương ứng và xác định được Rlt, Eo, Eb, và 

- Xác định các chỉ tiêu cơ lý của cốt thép: Mẫu thử được lấy từ kết cấu BTCT bằng

cách đập vỡ bê tông, cắt cốt thép và gia công mẫu Tùy theo yêu cầu thí nghiệm Lắpđặt và tiến hành thí nghiệm theo quy định Xác định được giới hạn chảy c, giới hạnbền b, ứng suất kéo đứt đ, độ dãn dài tương đối  và độ thắt tương đối  hoặc xây dựng đường cong mỏi của thép

- Nhiệm vụ thứ hai và cũng là nhiệm vụ chủ chốt của phương pháp NDT là phát hiệncác khuyết tật tồn tại bên trong môi trường vật liệu do quá trình chế tạo, do các trạngthái bệnh lý của vật liệu gây ra Các khuyết tật này ảnh hưởng lớn đến tuổi thọ củacông trình vì vậy việc xác định được vị trí, kích thước của các khuyết tật là rất quantrọng

Phương pháp phương pháp NDT là một hệ gồm nhiều phương pháp kiểm tra không phá hủy khác nhau như:

- Đo cường độ bê tông bằng phương pháp đo độ cứng bề mặt (súng bắn bê tôngschmidt ): Cho kết quả cường độ bê tông trên bề mặt tại các điểm thí nghiệm Có thểdùng để so sánh chất lượng bê tông trong các bộ phận khác nhau của cầu hoặc

Trang 27

giữa các cầu có cùng mác bê tông Dùng kết hợp với các phương pháp khác để khẳngđịnh kết quả.

- Đo chiều dày lớp bê tông bảo vệ (d < 120mm), vị trí cốt thép, đường kính cốt thép

- Phương pháp siêu âm đo vận tốc của xung siêu âm truyền qua bê tông Vận tốcxung siêu âm phụ thuộc thành phần hỗn hợp bê tông, mác bê tông, độ chặt, bề mặt vàcác đặc trưng đàn hồi khác của bê tông Phương pháp siêu âm được sử dụng để xácđịnh cường độ bê tông, xác định độ chặt, độ đồng nhất, các đặc tính đàn hồi của bêtông, xác định vị trí, độ lớn của khuyết tật ẩn dấu bên trong bê tông (vật lạ, lỗrỗng ), xác định chiều sâu vết nứt trong bê tông Phương pháp này bị ảnh hưởng bởicốt thép trong bê tông, kết quả sẽ bị sai lệch so với bê tông không cốt thép và cầnphải được hiệu chỉnh Phải có số lượng thí nghiệm đủ lớn để xây dựng quan hệ giữacác thông số của bê tông và vận tốc sóng siêu âm

- Phương pháp lan truyền âm thanh dùng để phát hiện những khuyết tật ẩn dấu, thulượm thông tin về các quá trình diễn ra bên trong vật liệu như sự phát triển của cácvết nứt, các hư hỏng cục bộ, sự dịch chuyển và bị gỉ của cốt thép

- Phương pháp chụp ảnh nội soi (Endoscopes) dùng để kiểm tra, xem xét và chụpảnh hiện trạng bên trong bê tông hoặc của cốt thép tại các vị trí không kiểm tra bằngcác thiết bị kiểm tra thông thường được Quan sát bằng cách đưa đầu dò vào các lỗrỗng hoặc các lỗ khoan trong bê tông Nhược điểm của phương pháp này không sửdụng được trong môi trường nước, ẩm

- Đo mức độ thấm nhập của khí hoặc nước qua bê tông bắng cách khoan các lỗkhoan trong bê tông, gắn các ống dẫn và nén nước hoặc khí Phương pháp này dùng

để đánh giá độ chặt của bê tông qua độ thấm nhập khí hoặc nước vào bên trong bêtông Có thể dùng phương pháp này để xác dịnh các vết nứt hoặc các lỗ rỗng thôngnhau

- Đo dộ xâm nhập của khí cácbon (mức độ carbonate hóa) trong bê tông bằng chấtchỉ thị màu Đo chiều sâu thâm nhập khí cácbon trong bê tông tại các bộ phận củacầu bằng cách phun chất chỉ thị màu vào các lỗ khoan ở các độ sâu khác nhau của lớp

bê tông bảo vệ Căn cứ vào quan hệ giữa độ thấm nhập khí cácbon và sự suy giảmcường độ bê tông để đánh giá sự suy giảm cường độ bê tông và mức độ gỉ của cốtthép

- Xác định độ thấm nhập clo theo thời gian, xác định hàm lượng sulphate, xác địnhhàm lượng xi măng trong bê tông Khoan lấy mẫu bột bê tông, đưa về phòng thí

Trang 28

nghiệm để phân tích đo hàm lượng clo (tính theo % trọng lượng bê tông hoặc ximăng) tại các độ sâu khác nhau của chiều dày lớp bê tông bảo vệ Dựa trên luật thấmnhập clo, xây dựng quan hệ giữa độ thấm nhập clo và sự suy giảm cường độ bê tông,ngưỡng gây gỉ, có thể dự báo thời gian cốt thép có thể bị gỉ.

- Đo điện thế trong cốt thép, điện trở của bê tông để dự báo khả năng bị gỉ của cốtthép trong bê tông dựa trên các giá trị điện thế trong cốt thép hoặc điện trở của bêtông

- Đo đạc, chụp ảnh bằng tia phóng xạ (tia X, gamma ) nhờ máy đo, chụp phóng xạ

để xác định mật độ bê tông, phát hiện các khuyết tật bên trong bê tông, các lỗ rỗng,vết nứt cũng như vị trí, đường kính và tình trạng của cốt thép

- Thử tải tĩnh để đo độ võng tại các mặt cắt của các dầm và của bản mặt cầu Đo biếndạng trong bê tông vùng nén và biến dạng trong cốt thép chịu kéo tại các mặt cắt củacác dầm và của bản mặt cầu Kiểm tra độ mở rộng vết nứt dưới tác dụng của tải trọngthử Kiểm tra sự làm việc của các gối cầu Phương pháp này cần phải có các trangthiết bị chuyên dùng (như máy đo biến dạng, đo độ võng, chuyển vị )

- Thử tải động để đo các tần số dao động riêng của cầu Đo các thông số dao độngqua đó xác định được các đặc trưng động học của cầu do tác động của hoạttải.Phương pháp này cần phải có các trang thiết bị chuyên dùng (như máy đo daođộng, thiết bị gây chấn dộng )

Trang 29

bản Nhiệm vụ của các chuyên gia kết cấu công trình là nghiên cứu sử dụng thànhthạo các thiết bị đo đó và dùng phương pháp NDT như phương tiện có ý nghĩa lớnlao để làm rõ mối quan hệ phức tạp giữa các đặc trưng cơ học và vật lý để làm rõ hơnbản chất vật liệu của bê tông.

Vấn đề lập chuẩn trong phương pháp NDT: Như đã trình bày, phương pháp NDT dựatrên nguyên tắc so sánh với chuẩn Chuẩn ở đây là mối quan hệ giữa các thông số đotrên các dụng cụ và thiết bị đo với các đặc trưng vật liệu được lập ra khi tiến hành thửtrực tiếp trên các mẫu thử trong các trong điều kiện tiêu chuẩn Vì thế độ chính xáccủa các biểu đồ chuyển đổi chuẩn đúng thì mức độ sai lệch của thiết bị đo sẽ giảm và

độ chính xác của kết quả đo sẽ tăng Việc xây dựng biểu đồ chuyển đổi chuẩn chomỗi thiết bị đo là không thể thiếu và thường mất rất nhiều thời gian và công sức đốivới các công trình xây dựng mới

Riêng đối với bê tông là vật liệu có tính đồng nhất kém và tính biến động lớn nên tạimỗi công trình xây dựng mới sẽ gặp các ảnh hưởng đáng kể nếu sử dụng các chuẩn

cũ đã thiết lập Với bê tông trên công trình cũ, việc đánh giá chất lượng bê tông sẽchính xác hơn nếu xem phương pháp thí nghiệm phá hoại mẫu là điều kiện đủ còn kếtquả khảo sát phương pháp NDT là điều kiện cần Trước khi thí nghiệm phá hủy mẫunhỏ để lấy các đặc trưng vật liệu thì tiến hành các phép đo theo các phương phápNDT Kết quả của 2 phương pháp cho phép thiết lập chuẩn chuyển đổi giữa các thông

số để dùng cho đánh giá công trình đó Với nhiều công trình có tính tương tự có thể

có chuẩn tương đối chính xác

Qua những công trình nghiên cứu về việc lập chuẩn chuyển đổi đã công bố, nhận thấy các chuẩn đều có dạng tổng quát: R = f(Px) Trong đó : R là cường độ của bê tông

Px là một thông số đo được nào đó bằng các phương pháp NDT

Chuẩn cường độ vận tốc siêu âm (chuẩn này có các dạng sau):

R = f()R=A+B"

Trang 30

Chuẩn cường độ - modun đàn hồi trượt :

1.2.5 Các phương pháp đo đạc hiệu ứng kết cấu

Trong kiểm định công trình, việc xác định các hiệu ứng trong kết cấu (còn được gọi

là các trạng thái cơ học) dưới tác động của các tải trọng ngoài là rất cần thiết Cáchiệu ứng trong kết cấu bao gồm biến dạng và dịch chuyển của các bộ phận kết cấukhi có tải trọng tĩnh tác động trên kết cấu hoặc biến dạng động cũng như các đặctrưng dao động của kết cấu khi có tải trọng động của công trình Các hiệu ứng kết cấucho những số liệu cần thiết để chẩn đoán xác định mô hình thực trạng của công trình

và là cơ sở quan trọng khi đánh giá công trình

Một đặc điểm quan trọng của việc xác định đo đạc các hiệu ứng kết cấu là chỉ có thểtiến hành khi tải trọng tác động trên công trình Do đó cần có kế hoạch chi tiết và cácphương pháp, thiết bị đo phù hợp với mỗi loại hiệu ứng kết cấu Thông thường để xácđịnh các hiệu ứng kết cấu, thường tiến hành thử tải tĩnh và thử tải động công trìnhhoặc đo đạc trong thời gian dài

1.2.5.1 Thử tải tĩnh

Đối với công trình cầu BTCT thường thử tải tĩnh bằng các xe ô tô có chất tải theotính toán Các xe được xếp tải và cân xe để có số liệu chính xác cho từng trục xe vàđược xếp trên cầu theo các sơ đồ chất tải đã chuẩn bị trước Đối với chất tải tĩnhthông thường xác định được các hiệu ứng kết cấu sau:

- Đo độ võng tĩnh do hoạt tải: Xác định bằng các tenxơmet đòn hoặc các thiết bị đovõng, maximop có độ dịch chuyển lớn Với mỗi sơ đồ chất tải thường ra vào tải nhiềulần để đọc thiết bị và lấy giá trị trung bình của các lần đọc khi không tải và có tải

- Đo biến dạng của bê tông vùng nén: Với các mặt cắt dầm chữ T, I có thể đo đượcbiến dạng của bê tông vùng nén ở nách dầm bằng các thiết bị đo biến dạng cơ họchoặc điện tử Với mỗi sơ đồ chất tải thường ra vào tải nhiều lần để đọc thiết bị và lấygiá trị trung bình của các lần đọc khi không tải và có tải

Trang 31

- Đo biến dạng kéo trong cốt thép: Cũng có thể cắt bê tông tại vị trí cốt thép chủ chịukéo để đo biến dạng trong cốt thép bằng các thiết bị đo biến dạng điện tử Với mỗi sơ

đồ chất tải thường ra vào tải nhiều lần để đọc thiết bị và lấy giá trị trung bình của cáclần đọc khi không tải và có tải

- Đo biến dạng của bê tông vùng kéo khi bê tông chưa bị nứt hoặc đo độ mở rộng vếtnứt khi có tải bằng các thiết bị đo biến dạng cơ học hoặc bằng các thiết bị theo dõivết nứt

1.2.5.2 Thử tải động

Đối với công trình cầu BTCT người ta cũng thường dùng thử tải động để xác địnhcác hiệu ứng kết cấu Thông thường bố trí các đầu đo dao động tại các ví trí cần đođạc và cho các xe thử tải được chất tải theo tính toán chạy qua cầu với các tốc độkhác nhau và ghi lại các phổ dao động Dựa vào các chương trình phân tích chuyêndụng sẽ tìm được các phổ gia tốc, vận tốc và chuyển vị động Từ đó tìm được các đặctrưng động học của công trình:

- Tìm được chuyển vị động theo phương thẳng đứng và qua đó đánh giá được hệ số xung kích của cầu

- Tìm được các trị riêng, các tần số dao động riêng và các chu kỳ dao động riêng

1.2.5.3 Đo đạc trong thời gian dài

Tại các nước phát triển, đôi khi người ta cũng sử dụng phương pháp đo đạc trong thờigian dài Các trang thiết bị đo đạc được sắp đặt và bảo quản tại công trình, các số liệuđược ghi vào một thiết bị lưu trữ Thiết bị sử dụng thường gồm các thiết bị đo đếmhoạt tải xe qua cầu và các thiết bị đo hiệu ứng của kết cấu như biến dạng, chuyển vị

và các đặc trưng dao động Xử lý các số liệu trên sẽ có được phổ tải trọng, và các phổ

về các hiệu ứng tải Đây là phương pháp cho bức tranh khá đầy đủ về tác động vàhiệu ứng kết cấu nhưng chi phí lớn và thường chỉ áp dụng cho những mục đíchnghiên cứu

1.2.6 Trang thiết bị đƣợc sử dụng

Mỗi một phương pháp kiểm tra đòi hỏi có các trang thiết bị riêng Cùng với sự pháttriển của các ngành khoa học khác, hiện nay các trang thiết bị kiểm tra có tính năng

và độ chính xác rất cao:

Trang 32

- Các thiết bị đo độ cứng bề mặt của hãng Schmidt (Digi - Schmidt 2).

- Các thiết bị chuyên dùng siêu âm bê tông (Pundit, BT-12, Tico )

- Các thiết bị phân tích ăn mòn, rỉ (Canin, Resistivity Meter Resi )

- Các thiết bị xác định vị trí cốt thép (Micro Covermeter 700-MC-87, Micro Covermeter 700-MC-94-5, Profometter 4 )

- Các thiết bị đo biến dạng kéo bê tông bề mặt hoặc của lớp phủ (Dyna Z, Dyna Ze )

- Các thiết bị kiểm tra và theo dõi vết nứt (Demec Gauge, Demec Studc )

- Các trang thiết bị đo đạc thử tải: (Máy đo biến dạng Digital Strainmeter DMD 20A)

- Các thiết bị đo biến dạng cơ học (MK3, KK100 )

- Các thiết bị đo võng, maximop có độ dịch chuyển lớn

- Thủy bình đo phối hợp Ni-003

- Kính lúp có độ phóng đại từ 20 lần trở lên

- Máy đo dao động

Trang 33

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH SỰ SUY GIẢM CHẤT LƯỢNG DẦM CẦU BTCT ĐANG KHAI THÁC

2.1 GIỚI THIỆU CHUNG

Để đánh giá tình trạng kỹ thuật của dầm cầu BTCT đang khai thác, ta phải xây dựng

bài toán chẩn đoán kỹ thuật đối với dầm cầu dựa trên cơ sở các số liệu thông tin thu

được

Khái niệm chẩn đoán công trình (Diagnosic) là nhận biết, xác định tình trạng của

công trình dựa trên cơ sở xem xét các triệu chứng Quá trình chẩn đoán công trình là

quá trình xác định trạng thái của hệ thống kỹ thuật Chẩn đoán kỹ thuật là khoa học

về sự nhận thức dự báo trạng thái của hệ kỹ thuật Dựa trên các kết quả khảo sát, đo

đạc và xử lý số liệu để đưa ra các dự đoán về nguyên nhân, mức độ hư hỏng của công

trình, để đảm bảo an toàn cho công trình trong quá trình khai thác, tránh hậu quả

nguy hiểm

Mục tiêu của chẩn đoán kỹ thuật là nghiên cứu các phương pháp nhận và đánh giá

thông tin chẩn đoán, mô hình chẩn đoán và thuật toán giải Nâng cao độ tin cậy và độ

dự trữ của hệ kỹ thuật là mục tiêu của chẩn đoán kỹ thuật

Cuộc đời của công trình xây dựng trải qua các giai đoạn sau:

Lập dự

án khả thi

Thẩm định thiết kế

+Lập dự án khả thi (Lập luận chứng kinh tế, kỹ thuật): đây là giai đoạn lập hồ sơ để

xem xét tính cần thiết, quy mô của công trình, các điều kiện về tự nhiên, xã hội, đề

xuất các giải pháp kết cấu, công nghệ và dự trù kinh phí xây dựng

Trang 34

+Thiết kế: là giai đoạn chuẩn bị xây dựng, lập hồ sơ dự toán, thiết kế chi tiết trên cơ

sở các số liệu khảo sát địa chất, địa hình…

+ Thẩm định: kiểm tra xem thiết kế có đáp ứng được yêu cầu đặt ra không, có phù hợp với các điều kiện tự nhiên, xã hội, kinh tế hay không

+ Xây dựng công trình: là giai đoạn thực hiện xây dựng, thi công theo hồ sơ thiết kế

+ Kiểm định và đánh giá: Phát hiện các thay đổi của công trình xây dựng Trong quátrình khai thác có thể có các thay đổi về vật liệu, kết cấu, về cả tải trọng và tác độnglàm công trình bị giảm hiệu quả sử dụng hoặc xảy ra sự cố, giảm tuổi thọ, do đó phải

có công việc kiểm tra, đánh giá

2.1.1 Bài toán chẩn đoán kỹ thuật đối với công trình xây dựng

Bài toán cơ bản của chẩn đoán công trình là sự nhận biết về trạng thái kỹ thuật của hệtrong điều kiện thông tin hạn chế Nhận biết trạng thái của hệ là mang trạng thái của

hệ tới một trong các lớp khả năng

Nội dung cơ bản của bài toán chẩn đoán kỹ thuật gồm những bước sau:

* Xây dựng không gian trạng thái của đối tượng kỹ thuật {D}

* Xác định dấu hiệu chẩn đoán

* Tiêu chuẩn nhận dạng

2.1.2 Quy trình chẩn đoán kỹ thuật:

Thu

Trang 35

-34

Trang 36

-Mô hình tĩnh: thu thập số liệu thể hiện sự phản ứng của công trình trước tác động củatải trọng cố định không thay đổi theo thời gian.

Mô hình động: thu thập số liệu thể hiện sự phản ứng của công trình trước tác động của tải trọng biến đổi theo thời gian

2.1.3 Phương pháp đánh giá sự suy giảm chất lượng công trình cầu

Để nhận biết, đánh giá được trạng thái kỹ thuật của cầu người ta đưa ra 2 phương pháp đánh giá sau:

a)Phương pháp thống kê: xử lý dấu hiệu chẩn đoán trên cơ sở thống kê dữ liệu về hư hỏng và khuyết tật, từ đó xác định được trạng thái khuyết tật của cầu

b) Phương pháp cơ học: xác định mô hình cơ học hệ thống trên cơ sở xây dựng không gian trạng thái của đối tượng và xác định dấu hiệu chẩn đoán

2.1.3.1 Phương pháp thống kê:

a) Xây dựng không gian trạng thái của đối tượng:

Xác định các trạng thái có thể của đối tượng (tập hợp các trạng thái) gọi là D

Một thể hiện của dấu hiệu thu thập được:

Z* = {Z 1* , Z *2 , , Z *m }Mỗi dấu hiệu có thể có các cấp độ khác nhau, ví dụ như cường độ của vật liệu có các cấp độ kém, trung bình, đạt, cao

c) Tiêu chuẩn nhận dạng

Trang 37

Xác định đối tượng đang ở trạng thái nào:

Một trạng thái của công trình gắn với một tập hợp các dấu hiệu biểu hiện.Nếu biểu hiện của D

Thì D là trạng thái của đối tượng

2.1.3.2 Phương pháp cơ học:

Hồ sơ

Xây dựng mô hình trong

không gian trạng thái

Trang 38

Các hồ sơ được sử dụng để thu thập thông tin: hồ sơ khảo sát, hồ sơ thiết kế, hồ sơkiểm định trong giai đoạn thi công hoặc chế tạo lắp đặt, hồ sơ trong giai đoạn khaithác sử dụng như: hồ sơ các lần kiểm tra định kỳ, các lần sửa chữa, các sự cố Từ đóxác định các khả năng hư hỏng, các sự cố có thể xảy ra để phục vụ cho việc xây dựng

mô hình trạng thái của đối tượng kỹ thuật

(2a) Xây dựng mô hình trong không gian trạng

thái Tập tham số trạng thái

d = {d1, d2, , dn}Mỗi giá trị cụ thể d* ứng với trạng thái nào đó của d, ví dụ d0 (trạng thái gốc)

Xây dựng các mô hình tham số của kết cấu:

{M(d), C(d), K(d)}

Với d là tham số chẩn đoán Các tham số này được chọn tuỳ ý phụ thuộc vào việc môhình hoá Chúng có thể là các tham số mô hình như kích thước hình học, tính chất vậtliệu, các đặc trưng số của các hư hỏng như vết nút (số lượng, vị trí, độ sâu, ),độcứng của phần tử, Thông thường chọn d sao cho khi d = 0 ứng với trạng thái gốccủa kết cấu (trạng thái nguyên vẹn)

(3a) Phân tích tính toán

Tính toán, phân tích để xây dựng mối liên hệ giữa các trạng thái có thể với véc tơ dấuhiệu:

z(d) = {zl(d), z2(d), , zm(d) }

(4a) Cơ sở dữ liệu của chẩn đoán

Kết quả của việc phân tích tính toán cho ta những biểu hiện của các trạng thái có thể

ởvéc tơ dấu hiệu đã chọn Tổ hợp những biểu hiện đó là cơ sở dữ liệu của chẩn đoán

kỹ thuật

b) Xác định dấu hiệu chẩn đoán

(1b) Khảo sát đo đạc tại hiện trường

Thu thập các thông tin trên đối tượng kỹ thuật đang tồn tại Công việc này đòi hỏi phải có các máy móc thiết bị

Trang 39

(2b) Thu thập thông tin chẩn đoán

Là các thông tin về đối tượng kỹ thuật thu nhận được bằng việc khảo sát đo đạc hiệntrường Thông tin chẩn đoán được chọn phải thoả mãn các yêu cầu: Có thể đo đạcđược bằng thiết bị Phải là những thông tin về các dấu hiệu chẩn đoán có liên hệ vớitrạng thái của đối tượng Cho phép ta xác định được dấu hiệu chẩn đoán

(3b) Xử lý thông tin chẩn đoán:

Xác định dấu hiệu chẩn đoán:

z* = {zl*,z2*, , zm*}

c) Mô hình thực trạng kết cấu và lý thuyết nhận dạng

Để có thể phân tích, đánh giá và đưa ra những kết luận về trạng thái kỹ thuật của đốitượng thì phải có một mô hình thực trạng kết cấu, nó phản ánh sự làm việc thực tế, sựthay đổi của kết cấu một cách đầy đủ hơn cùng với sự xuất hiện của các hư hỏng.Việc thiết lập mô hình thực trạng của kết cấu từ các số liệu khảo sát, đo đạc, hồ sơthiết kế, hoàn công chính là vấn đề nhận dạng hệ thống (system identification) Lýthuyết nhận dạng hệ thống đã được phát triển từ lâu, xuất phát từ các bài toán điềukhiển và mô phỏng, nhưng trong cơ học thì nó mới chỉ được quan tâm gần đây Đốivới kết cấu công trình, hiện nay vẫn là những bước đầu tiên và tập trung vào hướngnghiên cứu gọi là nhận dạng kết cấu

2.1.4 Các mức độ của việc chẩn đoán đánh giá cầu

Có nhiều phương pháp chẩn đoán đánh giá cầu tùy thuộc vào dạng thử nghiệm vàdạng dữ liệu thu được Việc chẩn đoán cũng tuỳ theo yêu cầu của công tác quản lýcầu mà có những mức độ khác nhau Nói chung có thể chia thành các mức độ khácnhau như sau:

Xác nhận kết cấu đã bị hư hỏng hay chưa

- Nếu kết cấu đã bị hư hỏng thì tìm các vị trí hư hỏng

- Biết vị trí hư hỏng, tiến hành đánh giá mức độ hư hỏng

- Biết mức độ hư hỏng, đánh giá khả năng chịu tải của cầu

Dù bài toán chẩn đoán được giải quyết đến mức độ nào thì cũng đều có ý nghĩa thiếtthực và phục vụ cho công tác quản lý cầu Để giải trọn vẹn bài toán đánh giá cầu,

Trang 40

trước hết kết cấu phải được mô hình hoá và tính toán các phản ứng lý thuyết của nódưới tác động của bên ngoài Trong khảo sát đo đạc ở hiện trường các số liệu thực tế

sẽ được đo và so sánh với số liệu lý thuyết theo quan điểm số liệu đo đạc là chân lý.Như vậy mô hình tính toán lý thuyết sẽ được điều chỉnh theo các số liệu đo đạc khảosát để phản ánh thực trạng về cầu Sau đó việc tính toán khả năng chịu lực của cầuđược tiến hành trên mô hình đã hoàn thiện này, trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghịkhai thác cầu

2.1.5 Ưu nhược điểm của hai phương pháp chẩn đoán cầu

Việc chẩn đoán kỹ thuật cầu theo phương pháp nhận dạng cơ học hệ thống có ưuđiểm là có thể đánh giá tình trạng kỹ thuật của cầu một cách tương đối về mặt địnhtính và định lượng Tuy vậy phương pháp này có một số tồn tại:

- Việc thu thập thông tin qua thử tải trọng tại hiện trường rất tốn kém và nhiều khi không chính xác do nhiều nguyên nhân như số lượng, vị trí điểm đo, sai số đo đạc

- Chưa xác định được sự diễn biến của các nguyên nhân, dự báo sự phát triển trong tương lai

- Không tận dụng được các kết quả chẩn đoán kỹ thuật của các cầu cùng hệ thống

Hiện nay việc áp dụng các phương pháp thử tải trọng ở nhiều nước phát triển đãkhông sử dụng tại hiện trường, nó thường chỉ được áp dụng trong các phòng thínghiệm hoặc có tính chất nghiên cứu bổ sung cho lý thuyết

Chẩn đoán cầu theo phương pháp thống kê khắc phục được những nhược điểm nóitrên của phương pháp nhận dạng cơ học, rất thích hợp đối với các đơn vị có chứcnăng kiểm tra, quản lý cầu, nó có thể cho kết quả chẩn đoán sau mỗi lần kiểm tratổng quát hoặc kiểm tra chi tiết Hơn nữa, với những công trình đặc biệt cần thử tảitrọng, thì những thông tin thu thập được trong các lần thử tải cũng có thể sử dụngđược khi đưa vào ma trận chẩn đoán và dùng cho các lần chẩn đoán sau này

Với kết cấu cầu BTCT, để chẩn đoán theo phương pháp này cần xây dựng tập hợpcác dấu hiệu nhận biết trạng thái của kết cấu Thống kê các dấu hiệu trên một loạt cầuthực tế Để chẩn đoán kỹ thuật của một cầu nào đó ta phải thu thập các dấu hiệu biểuhiện của kết cấu đó trong thực tế Sau đó bằng các phương pháp giải thống kê đưatrạng thái của cầu cần chẩn đoán đến với một trong các lớp khả năng đã được xâydựng

Ngày đăng: 20/11/2020, 08:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w