Chính vì vậy, quản lý tổng hợp các hoạt động trên là một việc làm rất cầnthiết nhằm góp phần giải quyết những mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển và bảo vệmôi trường, đưa Phú Quốc theo hướ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-Phạm Thị Dinh
XÁC LẬP CƠ SỞ KHOA HỌC CHO QUẢN LÝ TỔNG HỢP
ĐỚI BỜ HUYỆN ĐẢO PHÚ QUỐC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-Phạm Thị Dinh
XÁC LẬP CƠ SỞ KHOA HỌC CHO QUẢN LÝ TỔNG HỢP
ĐỚI BỜ HUYỆN ĐẢO PHÚ QUỐC
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường
Mã số: 60 85 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐÀO MẠNH TIẾN
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ vô cùng quý báu củaTS.Đào Mạnh Tiến, người hướng dẫn khoa học đã hết lòng dạy dỗ, chỉ bảo tận tình,tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các anh chị ở Viện Tài nguyên môitrường và phát triển bền vững đã tạo mọi điều kiện để tôi có thể hoàn thành luậnvăn một cách tốt nhất
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy, các cô khoa Địa lý đã dìudắt, dạy dỗ những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại trườngcũng như trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã đóng góp và độngviên tôi rất nhiều để hoàn thành được luận văn này
Mặc dù đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu, và bản thân tôi cũng rất cốgắng thực hiện tuy nhiên vẫn không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhậnđược sự chỉ dẫn, đóng góp từ các thầy, các cô để có thể hoàn thiện luận văn tốt hơn
Hà Nội, 2014Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
Danh mục bảng biểu i
Danh mục hình vẽ ii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP ĐỚI BỜ 4
1.1 Một số khái niệm về đường bờ và đới bờ 4
1.2 Mục tiêu và cách tiếp cận 9
1.3 Bản chất của quản lý tổng hợp đới bờ 11
1.4 Quá trình lập kế hoạch quản lý tổng hợp đới bờ 12
1.5 Phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ 13
CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24 2.1 Tình hình nghiên cứu 24
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới 24
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 27
2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Phương pháp kế thừa 31
2.2.2 Phương pháp điều tra khảo sát bổ sung 31
2.2.3 Phương pháp thành lập hệ thống bản đồ 32
2.2.4 Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái 42
CHƯƠNG 3 CƠ SỞ KHOA HỌC PHỤC VỤ QUẢN LÝ TỔNG HỢP ĐỚI BỜ HUYỆN ĐẢO PHÚ QUỐC 44
3.1 Cơ sở khoa học cho quản lý tổng hợp đới bờ 44
3.1.1 Cơ sở về điều kiện tự nhiên 44
3.1.2 Cơ sở về tài nguyên môi trường 51
3.1.3 Cơ sở về tai biến thiên nhiên 78
3.1.4 Cơ sở về kinh tế - xã hội 80
3.1.5 Ảnh hưởng của các hoạt động phát triển kinh tế xã hội đến tài nguyên môi trường 86
3.2 Phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ huyện đảo Phú Quốc 91
Trang 53.3 Giải pháp thực thi quản lý tổng hợp và phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
huyện đảo Phú Quốc 102
3.3.1 Giải pháp hoàn thiện chính sách và pháp luật 103
3.3.2 Giải pháp về tổ chức và cán bộ 106
3.3.3 Giải pháp tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức cộng đồng 110
3.3.4 Các giải pháp giải quyết các xung đột trong hoạt động quản lý tổng hợp đới bờ huyện đảo Phú Quốc 111
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tính nhạy cảm và kháng chế của đới bờ 9Bảng 2.1 Quy hoạch phân vùng chức năng sử dụng biển ở Hạ Môn- Trung Quốc 27Bảng 2.2: Ma trận quản lý các hoạt động phát triển trong vùng công viên biển 35Bảng 3.1 Nhiệt độ trung bình ( C) tháng và năm vùng biển Phú Quốc 49oBảng 3.2: Phân loại và đặc điểm các loại đất 52Bảng 3.3 Lượng mưa tháng tại Phú Quốc giai đoạn 2003-2012 54Bảng 3.4 Bảng tổng hợp các mỏ và điểm quặng 57Bảng 3.5: Độ phủ và mật độ cỏ biển tại các thảm cỏ biển quan trắc ở khu bảo tồnbiển Phú Quốc 61Bảng 3.6: Diện tích (ha) rạn san hô ở các khu vực vùng biển Phú Quốc 63Bảng 3.7: Độ phủ (%) của một số thành phần nền đáy rạn san hô chủ yếu tại cáctrạm quan trắc 65Bảng 3.8: Độ phủ (%) của các giống san hô ưu thế tại các trạm quan trắc 66Bảng 3.9: Độ phủ (%) chung và một số giống san hô bị tẩy trắng 67Bảng 3.10: Kết quả phân tích chất lượng nước thải tại các điểm du lịch trên đảo PhúQuốc 89Bảng 3.11 Ma trận tương thích vùng đảo Phú Quốc 96Bảng 3.12: Phân vùng sử dụng theo đặc điểm tự nhiên, tài nguyên – môi trường vàmức độ dễ bị tổn thương vùng đảo và ven đảo Phú Quốc 97
i
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa đới bờ và hệ thống tài nguyên đới bờ 5
Hình 1.2: Vị trí chuyển tiếp của đới bờ 7
Hình 2.1: Sơ đồ các phương pháp nghiên cứu 30
Hình 2.2: Phân vùng quy hoạch quản lý biển của Mỹ 34
Hình 2.3: Phân vùng quản lý tổng hợp ở công viên biển quốc tế Dải San Hô Lớn đông bắc Ustralia 34
Hình 2.4: Phân vùng chức năng và quản lý đới bờ Hạ Môn – Trung Quốc 36
Hình 2.5 Sơ đồ phân vùng quản lý tổng hợp ven biển vịnh Hạ Long, Quảng Ninh 37 Hình 2.6: Sơ đồ phân vùng quản lý tổng hợp vùng bờ biển phía Tây Vịnh Bắc Bộ cấp tỉnh 38
Hình 2.7 Bản đồ phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam (mảnh 4: Xuyên Mộc – Hà Tiên) 39
Hình 2.8: Bản đồ phân vùng quản lý tổng hợp ở Cù Lao Chàm 40
Hình 3.1: Vị trí đảo Phú Quốc trên ảnh vệ tinh 44
Hình 3.2: Bản đồ đất đảo Phú Quốc 53
Hình 3.3: Bản đồ phân bố tài nguyên khoáng sản đảo Phú Quốc 58
Hình 3.4 Mũi nhô tại khu vực cảng An Thới 59
Hình 3.5 Bãi tắm trong khu du lịch tại Bãi Sao 59
Hình 3.6: Khu du lịch suối Tranh 59
Hình 3.7: Phân bố của các thảm cỏ biển ở vùng biển Phú Quốc 62
Hình 3.8: Phân bố rạn san hô ở tây bắc đảo Phú Quốc 63
Hình 3.9: Phân bố rạn san hô ở nam Phú Quốc 63
Hình 3.10: San hô dạng phiến bị tẩy trắng tại Hòn Xưởng 67
Hình 3.11: San hô dạng khối bị tẩy trắng tại Hòn Móng Tay 67
Hình 3.12: Rừng ngập mặn ở cửa Cạn 68
Hình 3.13: Rừng ngập mặn ở cửa Lấp 68
Hình 3.14: Bản đồ phân bố hệ sinh thái đảo Phú Quốc 69
Hình 3.15: Ô nhiễm nước khu vực cửa sông Dương Đông do hoạt động dân sinh 72
Trang 8Hình 3.16: Bản đồ địa hóa môi trường nước vùng biển Phú Quốc 76Hình 3.17: Bản đồ địa hóa môi trường trầm tích vùng biển Phú Quốc 77Hình 3.18: Biến động địa hình tại Cửa Cạn giữa hai thời điểm 78Hình 3.19: Tài liệu sonar quét sườn Tu-PQ34 (phía Tây Nam Vũng Bàu) cho thấy
có thể tồn tại lỗ thoát khí trên bề mặt đáy biển 80Hình 3.20: Bản đồ hiện trạng và quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội huyện đảo PhúQuốc 86Hình 3.21: Bản đồ phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ huyện đảo Phú Quốc 101
iii
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nằm trong quần thể đảo ven bờ biển tây nam, quần đảo Phú Quốc thuộchuyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang là một vùng đảo giữ vị trí chiến lược quantrọng trong phát triển kinh tế biển và đảm bảo an ninh quốc phòng, nơi giao lưuthương mại và dịch vụ mang ý nghĩa quốc tế và khu vực Là vùng biển đặc quyềnkinh tế của Việt Nam thuộc vịnh Thái Lan, biển Phú Quốc nhạy cảm về an ninhquốc phòng và giàu tiềm nămg phát triển kinh tế
Huyện đảo Phú Quốc nổi tiếng như một ngư trường lớn với nguồn tàinguyên sinh vật biển phong phú và đa dạng Nơi đây còn là khu du lịch, đặc biệt là
du lịch sinh thái đang thu hút được sự chú ý của nhiều du khách trong và ngoàinước với nhiều bãi tắm đẹp, phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ
Để phát triển đồng bộ huyện đảo Phú Quốc, những năm qua Đảng và Nhànước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm đầu tư cơ sở hạ tầng, đẩy mạnhphát triển dịch vụ du lịch, kinh tế của huyện Phú Quốc với mục tiêu xây dựng đảoPhú Quốc thành một đảo du lịch, trong đó có Quyết định số 178/2004/QĐ-TTg củaThủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt: “Đề án phát triển tổng thể đảo Phú Quốc,tỉnh Kiên Giang đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” trong đó nhấn mạnh
“ưu tiên cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững gắn với giữ gìn cảnh quan và môitrường sinh thái”
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển đô thị trên toàn đảo đã làm biến đổicác thành phần và chất lượng môi trường đất, nước, không khí ảnh hưởng đến môitrường sinh thái cũng như tác động đến sức khỏe cộng đồng Đảo Phú Quốc hiện đangđối phó với nhiều vấn đề về môi trường: vấn đề ô nhiễm môi trường biển, ô nhiễm môitrường do quá trình phát triển công nghiệp, đô thị, đặc biệt là do hoạt động nuôi trồng
và chế biến thủy hải sản, vấn đề quản lý và xử lý chất thải…Công tác bảo vệ môitrường trên đảo còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển trên đảo Do
đó, để phát triển đảo Phú Quốc theo định hướng phát triển tổng thể kinh tế xã hội, an
ninh quốc phòng, đề tài luận văn: “Xác lập cơ sở khoa học
Trang 10cho quản lý tổng hợp đới bờ huyện đảo Phú Quốc” là rất cần thiết.
Tỉnh đã đề xuất Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ thành lập Đặc khu kinh
tế Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang, với cơ chế chính sách ưu đãi đặc biệt, vượttrội, đủ sức cạnh tranh quốc tế để thu hút đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài
Chính vì vậy, quản lý tổng hợp các hoạt động trên là một việc làm rất cầnthiết nhằm góp phần giải quyết những mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển và bảo vệmôi trường, đưa Phú Quốc theo hướng phát triển kinh tế bền vững đi đôi với bảo
- Đề xuất các giải pháp thực thi về việc hoàn thiện chính sách và phápluật, tổ
chức và cán bộ, tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức cộng đồng, giải quyết xungđột trong hoạt động quản lý tổng hợp và phân vùng quản lý tổng hợp vùng nghiêncứu
4 Nội dung và nhiệm vụ
Trang 11Đề xuất giải pháp phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ huyện đảo Phú Quốc.Đồng thời xây dựng các thiết chế và chính sách để điều hòa các giải pháp trên.
5 Cấu trúc luận văn
Mở đầu
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý tổng hợp đới bờ
Chương 2 Tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Cơ sở khoa học phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ huyện đảo PhúQuốc
Kết luận
Trang 12CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP ĐỚI
BỜ 1.1 Một số khái niệm về đường bờ và đới bờ
1.1.1 Quan niệm về đới bờ ở một số nước trên thế giới
Đới bờ (Coastal Zone) hay vùng bờ (Coastal Area) là một bộ phận đặc biệt vàquan trọng của bề mặt Trái Đất, nơi có sự chuyển tiếp dần cho nhau giữa biển và lụcđịa, có sự tiếp xúc giữa các quyển: thạch quyển, sinh quển, thủy quyển, khí quyểncủa Trái Đất và là nơi chứa đựng các hệ sinh thái có năng suất cao nhất, giàu có và
đa dạng sinh học
* Định nghĩa về mặt tự nhiên của đới bờ
Mang tính khái quát và được sử dụng khá rộng rãi là định nghĩa đới bờ trongmối tương tác giữa môi trường biển và lục địa: “Đới bờ là một vùng chuyển tiếp mà
ở đó môi trường lục địa tương tác lẫn nhau và hình thành một môi trường thốngnhất” (Barbara E Brown, 1997) Về mặt lý thuyết, định nghĩa thể hiện một cách đầy
đủ bản chất của đới bờ, là một không gian cụ thể mà ở đó môi trường tự nhiênmang đặc thù riêng bởi sự kết hợp giữa môi trường của biển và môi trường lục địa,đồng thời mang tính tổng quát cao Đây cũng là định nghĩa được rất nhiều các sáchkhi viết về môi trường tự nhiên của đới bờ sử dụng
Trong chương trình quản lý nguồn tài nguyên ven biển khu vực Đông Á, khi
đề cập đến việc phân định ranh giới của đới bờ, các nhà nghiên cứu của các nướcASEAN đã nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa vấn đề sinh thái nhân văn với các vấn
đề địa kinh tế - xã hội trong việc phân định đới bờ Với cách tiếp cận này, các nhànghiên cứu cho rằng đới bờ là vùng kinh tế - xã hội và nhân văn có liên quan đếnquá trình khai thác tài nguyên ven biển theo quan điểm phát triển bền vững phục vụcho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Quan điểm phân định nàynghiêng về khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội,các yếu tố về địa sinh thái còn mờ nhạt Mặt khác phạm vi không gian của đới bờ ởđây là tương đối mở và không xác định cụ thể Việc xác định phạm vi ranh giới củađới bờ là bao nhiêu km từ bờ biển vào trong đất liền phụ thuộc vào mức độ đầu tưphát triển của các ngành dựa vào khai thác các nguồn tài nguyên biển và ven biển
4
Trang 13của mỗi quốc gia Theo chúng tôi quan điểm này chỉ phù hợp đối với các quốc gia
nhỏ ven biển như Singapore và các quốc gia đảo khác
Đối với khoa học địa mạo, đới bờ được xem là nơi tương tác giữa đất liền và
biển cả để tạo ra các dạng địa hình đặc thù cho nó Tại đây, sóng biển và các loại
dòng chảy do nó sinh ra là yếu tố động lực rất quan trọng đối với sự hình thành và
biến đổi địa hình cũng như trầm tích Bên cạnh đó, các yếu tố thủy triều, sông, dòng
chảy, gió, sinh vật,… cũng giữ vai trò không kém phần quan trọng.[14]
* Định nghĩa trong nghiên cứu khai thác sử dụng tài nguyên và hoạch định
chính sách quản lý tổng hợp đới bờ
Đới bờ là nơi có môi trường sống hết sức đa dạng và bao gồm nhiều hệ sinh
thái phong phú khác nhau như cửa sông, cỏ biển, san hô, đầm phá, vũng vịnh, bãi
triều… Các sản phẩm tự nhiên của đới bờ với các hệ thống đới bờ với các hệ xung
quanh nó Trên thực tế, việc quản lý đới bờ xuất phát từ những hành vi tác động của
con người Các hành vi này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến đới bờ hoặc thông qua
mối quan hệ giữa hệ thống đới bờ với các hệ xung quanh nó Trên thực tế, việc quản
lý đới bờ xuất phát từ những hành vi tác động của con người lên hệ thống đới bờ
với mục đích là bảo vệ và phát triển hệ thống tài nguyên đới bờ
Đ i bớ ờ
Hệ thống tài nguyên đới bờ
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa đới bờ và hệ thống tài nguyên đới bờ
Trang 141.1.2 Quan niệm về đới bờ ở Việt Nam
Trong đề tài “Nghiên cứu xây dựng phương án quản lý tổng hợp đới bờ ViệtNam, góp phần bảo đảm an toàn môi trường và phát triển bền vững” (KT.06.07)thuộc Chương trình “Điều tra nghiên cứu biển” giai đoạn 1996 - 2000 do Phân việnhải dương học tại Hải Phòng, nay là Viện Tài nguyên và Môi trường biển thực hiện(1996 – 2000), các tác giả đã đưa ra khái niệm về đới bờ (hay đới bờ) như sau: Đới
bờ là một khu vực chuyển tiếp giữa lục địa và biển, một đới động và nhạy cảm, làmột hệ thống tự nhiên đặc trưng bởi các quá trình tương tác; một khu vực có tiềmnăng tài nguyên phục vụ phát triển đa ngành và là nơi chịu tác động mạnh của cáchoạt động của con người
Về phạm vi ranh giới của đới bờ, các tác giả cho rằng có nhiều cách phânđịnh khác nhau phụ thuộc vào quan niệm và mục đích khác nhau của các hoạt độngquản lý Theo các tác giả thì trên quy mô toàn cầu, người ta thường xác định giớihạn về phía lục địa của đới bờ là các đồng bằng ven biển, ở nơi khác là giới hạn củathủy triều; còn giới hạn về phía biển là rìa thềm lục địa Còn ở quy mô một Quốcgia thì đới bờ có không gian hẹp hơn Về phía lục địa là đường nối các điểm cònchịu tác động của biển như: ranh giới xâm nhập mặn, tác động của sóng bão, giớihạn thủy triều…, ở nơi khác thì lấy điểm cách đường bờ 10km, là phạm vi mà ở đócác hoạt động của con người có thể tác động trực tiếp đến môi trường cửa sông venbiển Còn về phía biển là đường đẳng sâu bằng một phần hai bước sóng (thườngnằm giữa 30 - 50m nước) Tại khu vực này, sóng biển có thể tác động trực tiếp, làmbiến cải địa hình đáy
Theo quyết định Số: 158/2007/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ:
Phạm vi không gian đới bờ bao gồm:
a) Phần đất liền: bao gồm tất cả các quận, huyện, thị xã ven biển của các tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương nêu trên;
b) Phần biển: bao gồm vùng biển ven bờ cách bờ 6 hải lý trở vào của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nêu trên
6
Trang 15Tóm lại , với cách tiếp câṇ khác nhau , các tác giả đã đưa ra các khái niệmkhác nhau về dải ven biển và các phương pháp khác nhau để xác định ranh giới dảiven biển Trong đó, phần lớn viêcc̣ phân đinḥ ranh giới c ủa dải ven biển dựa trên các căn cưứvềtư c̣nhiên Riêng môṭsốnghiên cưứu vềkinh tếxãhôịlaịthiên vềviêcc̣ phân
đinḥ theo ranh giới hành chinhứ Theo tôi , viêcc̣ phân đinḥ ranh giới dải ven biển nhằm mucc̣ đichứ xây dưngc̣ các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cho một khu vựclãnh thổ đặc thù này cần được xem xét trong mối quan hệ thống nhất giữa cácyếu tốvềtư c̣nhiên sinh thái với các yếu tốvềxa ̃hôịnhân văn vàphát triển kinh tếxa ̃ hôịcủa khu vực này
1.1.3 Đặc tính chung của đới bờ
* Khu vực chuyển tiếp giữa lục địa và biển
Trên bề mặt Trái Đất, 2/3 là biển và đại dương, chỉ có 1/3 là lục địa Khu vựcchuyển tiếp giữa lục địa và biển gọi là đới bờ (coastal) - nơi gặp gỡ của các quyển:khí quyển, thủy quyển, thạch quyển và sinh quyển Một cách đơn giản có thể mô tả
vị trí chuyển tiếp của đới bờ so với vùng lục địa và biển lân cận qua sơ đồ hình 1.2
Hình 1.2: Vị trí chuyển tiếp của đới bờ
Do vị trí chuyển tiếp, nên đới bờ chịu sự tác động tương hỗ của 4 quyển và
Trang 16của các tham số môi trường tự nhiên theo cấu trúc ngang bờ Các thang bậc này kéotheo sự hình thành các diễn thế sinh thái với sự xuất hiện của các loài khác nhau.
7
Trang 17* Một hệ tự nhiên có quy mô hành tinh
Trên bình diện toàn cầu, đới bờ được xem là một hệ tự nhiên trong hệ tráiđất Nói cách khác đó là một thực thể tự nhiên hoàn chỉnh, độc lập và ngang cấp vớilục địa và biển/ đại dương Nó đặc trưng bởi sự phát sinh- phát triển, tiến hóa- suytàn, vận động theo quy luật tiến hóa của tự nhiên Đới bờ tồn tại độc lập nhờ các quátrình tương tác, ràng buộc lẫn nhau trong nội bộ hệ và phát triển nhờ các mối quan
hệ tương tác giữa hệ với các hệ khác xung quanh Phá vỡ tính hoàn chỉnh của cácmối quan hệ hữu cơ đó sẽ dễ làm tổn thương hệ và gây ra các sự cố sinh thái-môitrường
* Một đới động lực và tương tác
Đới bờ là một hệ cân bằng động, thường xuyên biến đổi theo quy mô thờigian khác nhau: từ những biến động chu kỳ ngắn (chu kỳ triều, vài tuần hoặc tháng)đến dài (trên nghìn năm) Nơi đây luôn xảy ra các hoạt động tương tác giữa quátrình lục địa (sông) và biển (sóng, dòng chảy, thủy triều) giữa các yếu tố nội sinh vàngoại sinh Các hoạt động tương tác như vậy biểu hiện rất khác nhau về mức độ và
xu thế ở những khu vực khác nhau của đới bờ Điều này sẽ quyết định xu thế tiếnhóa khác nhau ở các khu bờ biển cụ thể
Trong phạm vi đới bờ có sự trao đổi rõ rệt giữa nước ngọt (bề mặt/ nước ngầm)với nước mặn và giữa các khối nước nhạt ven bờ với khối nước mặn thềm lục địa Quátrình trao đổi nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc vận chuyển và trao đổi nàytạo ra sự hòa trộn phức tạp bên trong đới bờ và tác động biến đổi hóa học liên quan tớicác phản ứng nước- các phần tử và các quá trình tạo gradient độ muối Kết quả đã hìnhthành các khu vực nước khác nhau về mặt thủy hóa và dinh dưỡng, tạo ra các vùngnước ngọt, nhạt, lợ và mặn Sự hòa trộn này cũng gây ra tác động đến ánh sang và dinhdưỡng cần cho sức sản xuất sơ cấp trong các thủy vực và điều kiện bồi tụ hoặc xói lởđường bờ biển Đó là quá trình tương tác ngoại sinh tác động trao đổi vật chất thôngqua các cặp: đất- khí, nước- trầm tích và sông- biển
* Một đới nhạy cảm
Trang 18Đới bờ nói chung và hệ tự nhiên trong nó nói riêng dễ bị lệ thuộc vào nhiễuloạn tự nhiên và nhân sinh, đồng thời cũng có nhiều cách hiểu về những ứng xử đối
với các tình huống thay đổi như vậy Tính nhạy cảm và tính kháng chế là hai khái
niệm thường dùng để giải thích khả năng ứng xử (response) của các hệ thống môitrường Tính nhạy cảm (sensitivity) là mức độ mà tương ứng với nó, một hệ thốngmôi trường phục hồi lại sau những thay đổi như vậy Kết hợp hai đặc tính này trongmột ma trận 2x2 chúng ta có thể phân biệt được những loại khác nhau của hệ thống
bờ biển mà có khả năng ứng xử khác nhau đối với các sức ép
Bảng 1.1 Tính nhạy cảm và kháng chế của đới bờ
những ứng xử đối với các tình hướng thay đổi như vậy Tính dễ bị tổn thương là
khái niệm thường dùng để giải thích khả năng ứng xử (response) của các hệ thống
tự nhiên và xã hội Kết hợp hai đặc tính này trong một ma trận tương thích chúng ta
có thể phân biệt được những loại khác nhau của hệ thống đới bờ mà có khả năngứng xử khác nhau đối với các sức ép, lấy ví dụ cho đới bờ huyện đảo Phú Quốc
Trang 19với các hệ lên cận Đặc biệt phải tính đến các diễn biến chu kỳ dài do tác động củadâng cao mực nước, hiệu ứng ngập lụt ven bờ và các tai biến tự nhiên.
Cần thay thế cách tiếp cận đơn ngành hiện nay bằng cách tiếp cận liên ngànhtrong quy hoạch và quản lý vùng bờ biển, cũng như các nguồn tài nguyên củachúng Do vậy mục tiêu chủ yếu của quản lý tổng hợp là:
- Chấp nhận phát triển đa ngành
- Giảm thiểu các mâu thuẫn lợi ích, các tác hại và mất mát không thể đảo
ngược trong việc lựa chọn sự phát triển cho tương lai
- Bảo toàn chức năng của các hệ thống tự nhiên và sinh thái
- Tối ưu hóa việc sử dụng đa mục tiêu
Như vậy mục tiêu chung của quản lý tổng hợp vùng bờ là tạo ra lợi ích tối đatrong việc khai thác, sử dụng tài nguyên bờ, giảm thiểu mâu thuẫn lợi ích tối đatrong việc khai thác, sử dụng tài nguyên bờ, giảm thiểu mâu thuẫn lợi ích và nhữngảnh hưởng qua lại có hại của các hoạt động trong vùng này
Nhìn từ góc độ thể chế và chính sách, người ta còn hiểu quản lý tổng hợp làmột tổng thể các biện pháp quản lý của Chính phủ dưới hình thức thể chế tổ chức
và luật pháp nhằm đảm bảo cho các chương trình phát triển quản lý vùng bờ biểnđược hòa nhập trong các mục tiêu kinh tế- xã hội, an ninh – quốc phòng, kết hợpvới những vấn đề môi trường quốc gia đã được đề ra và hình thành trên cơ sở cótính đến tất cả những nhân tố có tương tác lẫn nhau trên vùng bờ biển Theo cáchhiểu này quản lý vùng ven bờ là những hành vi chức năng của các cơ quan quản lýcủa chính phủ và áp dụng cho cấp quốc gia Đối với cấp địa phương và một khuvực cụ thể, sự bắt đầu bằng thể chế và chính sách là hoàn toàn không có căn cứ.Cho nên, trong phạm vi một khu vực hoặc một địa phương quản lý tổng hợp tiếpcận điều chỉnh các phương án truyền thông trong quy hoạch và quản lý vùng bờ.Nói cách khác nó kết hợp và lồng ghép các kế hoạch quản lý môi trường và tàinguyên với các kế hoạch phát triển theo ba kiểu phối hợp dưới đây:
- Phối hợp các hệ thống tài nguyên bờ với các hệ thống kinh tế- xã hội
Trang 20- Phối hợp nhiệm vụ, nghĩa là xây dựng kế hoạch quản lý môi trường vùng
bờ (hoặc quy hoạch môi trường) Trên cơ sở đó so sánh kế hoạch quản lý môitrường với kế hoạch phát triển (đã có hoặc sẽ xây dựng) Kế hoạch phát triển nàyphải nhằm vào các mục tiêu của phát triển bền vững
- Phối hợp chính sách: căn cứ vào nhu cầu kế hoạch quản lý môi trường màđiều chỉnh kế hoạch phát triển bằng việc xây dựng hoặc lồng ghép các chính sách vàcác thể chế của chính phủ, ngành và địa phương trên cùng địa bàn
1.3 Bản chất của quản lý tổng hợp đới bờ
Tham gia xây dựng và thực hiện một chương trình quản lý tổng hợp vùng
bờ, không ai khác ngoài các tổ chức, các ngành có quyền lợi và đang tiến hành việc
sử dụng tài nguyên vùng này Đặc biệt là vai trò tham gia với tư cách là nòng cốt kỹthuật của các nhà khoa học Vai trò của họ khác nhau nhưng nhìn chung là họ mớiđáp ứng được các giải pháp phát triển đa ngành, phối hợp quản lý liên ngành và giảiquyết các mâu thuẫn lợi ích
những mục tiêu ưu tiên, các thỏa thuận, các vấn đề và các giải pháp
- Quản lý tổng hợp là một quá trình quản lý hành chính năng động và liên tục
đối với việc sử dụng, phát triển và bảo vệ vùng bờ và các loại tài nguyên phù hợp với các mục đích đã được xã hội chấp nhận
- Quản lý tổng hợp khai thác và giải quyết vấn đề theo một hệ thống theo chức năng trong mối liên kết giữa các hệ thống và việc sử dụng vùng bờ
- Quản lý tổng hợp bảo đảm sự cân bằng giữa việc bảo vệ các hệ sinh thái
quan trọng đối với phát triển kinh tế đới bờ Nó định hình các mục tiêu ưu tiên cótính đến yêu cầu giảm thiểu, trong trường hợp cần thiết thì khôi phục mọi tác độngđến môi trường và định ra những hướng dẫn hợp lý nhất để xử lý vấn đề
Trang 22- Quản lý tổng hợp thực hiện chức năng quản lý trong phạm vi địa lý nhất
định, do các cơ quan phối hợp xác định kể cả tài nguyên vùng này
- Quản lý tổng hợp là một quá trình đòi hỏi những giải pháp lặp đi lặp lại đốivới những vấn đề kinh tế xã hội, môi trường, luật pháp phức tạp Chức năng chínhcủa quản lý tổng hợp là hợp nhất các nhu cầu của các ngành và vấn đề môi trường
Nó được thực hiện thông qua các thỏa thuận pháp lý giữa các ngành, các cấp
- Quản lý tổng hợp định ra một cơ cấu để giảm thiểu hay giải quyết các mâu
thuẫn có thể phát sinh ở mức độ khác nhau liên quan đến việc phân phối và sử dụng tài nguyên ở những khu vực đặc biệt của vùng bờ
- Quản lý tổng hợp đới bờ khuyến khích nâng cao nhận thức về phát triển bềnvững và ý nghĩa của công tác bảo vệ môi trường vùng bờ
- Quản lý tổng hợp là một hành vi chủ động, đi cùng với nhân tố phát triển,chứ không phải là hành vi thụ động, đợt có những dự kiến phát triển rồi mới hànhđộng Như vậy quản lý tổng hợp cũng chứa đựng cả những nguyên tắc cơ bản trongviệc xây dựng các chương trình tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.4 Quá trình lập kế hoạch quản lý tổng hợp đới bờ
Quản lý tổng hợp đới bờ được tiến hành theo 7 bước cơ bản sau:
- Xác định vấn đề quản lý
- Phân tích và đánh giá (hiện tại và tương lai)
- Lựa chọn ưu tiên
Trang 24bờ nghiên cứu.
* Các công cụ kỹ thuật cần thiết:
- Đánh giá nhanh môi trường
- Phân tích và đề xuất khung thể chế chính sách
- Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ nghiên cứu
- Kết hợp sử dụng GIS để xử lý các thông tin không gian
- Đánh giá tác động môi trường tổng thể (integrated EIA)
- Phân vùng chức năng (zoning)
- Thiết lập và quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên biển
- Phục hồi đa dạng sinh học
- Lựa chọn các kỹ thuật môi trường
- Phân tích mâu thuẫn lợi ích
- Sử dụng công cụ kinh tế môi trường trong việc xây dựng kế hoạch phát
triển bền vững đới bờ
- Thiết lập hệ thống monitoring
- Quản lý cộng đồng
Sản phẩm của bước này chính là kế hoạch quản lý môi trường
1.5 Phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
1.5.1 Cách tiếp cận và mục tiêu phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
a Cách tiếp cận
phân vùng quản
Trang 25lý tổng hợp đới
Trang 26Hiện nay, phương pháp phân vùng được mở rộng phạm vi áp dụng sang rấtnhiều các lĩnh vực hoặc các ngành sử dụng tài nguyên có liên quan mà vấn đề quản
lý tổng hợp đới bờ và phân chia chức năng vùng biển là những ví dụ Thực chất việcphân vùng trong các lĩnh vực này thường gắn với việc phân chia và sử dụng cácnguồn tài nguyên thiên nhiên đang có ở khu vực bờ quản lý và do vậy việc phânvùng sử dụng tài nguyên thường gắn với các chức năng sử dụng của các hệ thốngtài nguyên này Chính vì thế, người ta còn dùng thuật ngữ “phân vùng chức năng”
để phân biệt với “phân vùng hành chính” trong phân chia, phân cấp quản lý cácvùng biển/bờ cho các đơn vị hành chính nhà nước giữa trung ương và địa phương
và giữa các địa phương
Trong quản lý tổng hợp đới bờ, phân vùng chức năng được định nghĩa là sự
“phân chia lãnh thổ” ở đới bờ theo những tiêu chí nhất định để có hướng và cách thứcphát triển và sử dụng tài nguyên đới bờ một cách hiệu quả và bền vững Một trongnhững nguyên tắc và tiêu chí quan trọng được sử dụng như là một căn cứ để phânvùng chức năng chính là các đặc điểm tự nhiên hay chức năng tự nhiên, và các chứcnăng khai thác, sử dụng của các hệ sinh thái và các nguồn lợi trong đới bờ Ngoài ra, đểđảm bảo các kết quả phân vùng mang tính khả thi và dễ dàng được chấp nhận bởinhững người hưởng lợi, việc phân vùng chức năng trong đới bờ phải phản ánh đượclợi ích và các đặc điểm xã hội của đới bờ cũng như phải căn cứ vào việc sắp xếp lại cácthể chế sẵn có trong việc quản lý sử dụng các nguồn lợi của đới bờ Các kết quả vềphân vùng cung cấp một quy chế phù hợp cho việc phân định không gian đới bờ theomục đích bảo tồn và phát triển, cung cấp khung pháp lý cho việc sử dụng các nguồn lợi
và tài nguyên của đới bờ theo các vùng chức năng đã phân định
Qua phân tích trên, tôi quan niệm phân vùng quản lý gắn liền với phân vùngchức năng Trước khi phân vùng quản lý phải phân vùng chức năng Trên cơ sởphân vùng chức năng, xác định các đối tượng và hành động quản lý Nói cách khác,phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ là phân chia đới bờ của một khu vực, một quốcgia hay một địa phương theo các mục đích, tiêu chí để quản lý các đối tượng, cáchoạt động phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường, giảm thiểu tai biến thiên
14
Trang 27nhiên, giảm thiểu tối đa mâu thuẫn lợi ích trong xã hội để đạt kết quả sử dụng tàinguyên, môi trường tối ưu, tạo một xã hội phát triển hài hòa và bền vững Kế hoạchtrong quản lý tổng hợp đới bờ chính là giai đoạn đầu của quy hoạch quản lý tổnghợp đới bờ, giúp tổ chức không gian phát triển đới bờ cho việc lập kế hoạch quản lýtổng hợp đới bờ được rõ ràng hơn, mang tính khoa học hơn và khả thi hơn.
b Mục tiêu của phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
Mục tiêu chung của phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ nhằm đảm bảo nângcao hiệu lực, hiệu quả quản lý sao cho sử dụng bền vững đới bờ theo chức năng, đểhài hoà về lợi ích của các ngành/ người sử dụng tài nguyên bờ, trong khi vẫn đảmbảo các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững Còn các mục tiêu
cụ thể của phân vùng thường là:
- Bảo vệ các hệ sinh thái điển hình/đặc trưng và quan trọng của đới bờ, các nơisinh cư (habitat) của các loài đặc trưng và các quá trình diễn tiến sinh thái ở đới bờquản lý
- Bảo vệ chất lượng và giá trị tự nhiên cũng như giá trị văn hoá của đới bờ
mà vẫn đảm bảo được các hoạt động phát triển trong chừng mực cho phép
- Giúp giải quyết hoặc ngăn chặn các mâu thuẫn lợi ích của các ngành kinh tếtrong quá trình phát triển ở đới bờ
- Bảo tồn các vùng sử dụng đặc biệt và giảm thiểu các tác động tiêu cực có
thể nảy sinh trong quá trình khai thác, sử dụng đới bờ
- Xây dựng và bảo vệ được các khu bảo tồn nghiêm ngặt để phục vụ cho các
hoạt động nghiên cứu khoa học và giáo dục lâu dài
Theo Charles Ehler và Fanny Douvere (2009), các nội dung cơ bản của cách tiếp cận phân vùng trong quy hoạch không gian bờ và biển là:
- Định vị và thiết kế các vùng (zones) dựa trên sự chồng khít các yếu
tố địa
hình, hình thể, hải dương học, sinh học, các yếu tố phát triển,… ở đới bờ quản lý
Trang 2815
Trang 29- Thiết lập một cơ chế bảo đảm sự tuân thủ phương án phân vùng và các quy định pháp lý nói trên trong quá trình khai thác, sử dụng.
- Tạo dựng các chương trình giám sát, thẩm định và thích ứng với hệ thống
phân vùng
Có thể nói, đến nay chưa có một khuôn mẫu chung cho phương án phân vùng quản lý Nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện cụ thể (tài nguyên, môi trường, kinh tế, xã hội, cơ chế chính sách, văn hóa,…) của đới bờ quản lý, cũng như vào cơ quan có trách nhiệm đối với việc phân vùng.
1.5.2 Nguyên tắc phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
Các chuyên gia của chương trình PEMSEA (2003) [25] đã khuyến nghị 15nguyên tắc cơ bản khi thực hiện phân vùng chức năng trong đới bờ Nghĩa là một kếhoạch phân vùng phải đảm bảo được các nguyên tắc sau:
(1) Được xây dựng theo các phương pháp đơn giản, dễ hiểu và mang tính
khả thi
(2) Hạn chế các tác động tiêu cực lên các hoạt động kinh tế đang diễn ra ởđới bờ (nếu có thể được), đồng thời phải đồng nhất với mục tiêu bảo vệ và pháttriển các nguồn lợi của đới bờ
(3) Các vùng chức năng trong đới bờ được phân chia nên có sự thống nhất
và tương tự cả về mặt chức năng và điều kiện sử dụng và khai thác với các vùng bảo tồn hiện có trong đới bờ
(4) Các vùng được phân chia nên đảm bảo tính liên tục, ví dụ: vùng đượcbảo vệ nghiêm ngặt, vùng đệm, vùng được phép khai thác có điều kiện, vùng khaithác tự do,… Tránh việc phân vùng „đột ngột‟, ví dụ đặt vùng bảo vệ nghiêm ngặtcạnh vùng được phép khai thác tự do Nên sử dụng „vùng đệm – buffer zone‟ nhưnhững vùng chuyển tiếp giữa các vùng có đặc tính khác nhau
(5) Các vùng đơn lẻ nên được đặt ở những nơi có đặc điểm riêng biệt, đặc
Trang 3016
Trang 31(6) Ở những nơi có thể, việc phân vùng nên dựa vào hoặc kế thừa các ranh
giới về mặt địa lý hoặc hành chính sẵn có của đới bờ
(7) Nơi sinh cư của các loài quý hiếm hoặc có nguy cơ tiệt chủng ở cấp độtoàn cầu, cấp độ vùng, cấp quốc gia hoặc các loài đặc hữu của quốc gia, của địaphương nên được khoanh thành những vùng bảo vệ (ở các mức độ khác nhau tuỳ theo từng hoàn cảnh) như các loài bò biển, cá heo, rùa biển, cá sấu sinh sống
(8) Các bãi đẻ, bãi sinh sản, bãi ương ấp có giá trị về đa dạng sinh học (đặcbiệt là của những loài có giá trị khai thác hoặc đang bị khai thác phổ biến) nên đượckhoanh vùng thành những vùng khai thác hạn chế hoặc khai thác theo mùa để tránh mùa sinh sản, ấp nở của các loài này
(9) Các vùng nuôi thả tự nhiên (ví dụ như các vùng thường được con ngườithả giống thuỷ sản ra tự nhiên để tái tạo nguồn lợi) nên được khoanh vùng ở cạnh cácngư trường khai thác để đảm bảo việc bổ sung quần đàn vào nguồn lợi trong vùng
(10)Các vùng được khai thác hạn chế hoặc khai thác theo mùa nên được phân
loại thành các “vùng khai thác hoặc sử dụng chung” (general use) trong phân loại các vùng
(11) Theo nguyên tắc chung, các vùng có ý nghĩa lớn về đa dạng sinh họchoặc giá trị văn hoá lịch sử hoặc những vùng bị cấm khai thác nên thành lập thànhcác vườn quốc gia hoặc nâng cấp bảo vệ lên mức độ quốc gia
(12) Khi một vùng được khoanh theo định hướng ngăn cấm một hoạt động kinh
tế nào đó sử dụng nguồn lợi trong vùng, nên cung cấp kèm theo các hướng dẫn hoặcđịnh hướng cho các ngành kinh tế đó tiếp cận việc khai thác hoặc sử dụng nguồn lợithay thế trong các vùng khác
(13) Các hướng dẫn về tiếp cận hoặc khai thác các nguồn lợi thay thế này đặcbiệt quan trọng đối với những người dân bản địa của địa phương, đặc biệt là nhữngcộng đồng địa phương đang sống phụ thuộc vào nguồn lợi tự nhiên qua các phươngthức săn bắt hoặc đánh bắt tự nhiên
(14)Vùng neo đậu tàu thuyền nên nằm xa các khu vực nhạy cảm về
Trang 3217
Trang 33(15) Trong các vùng bảo vệ hoặc bảo tồn nên khoanh các tiểu vùng dành cho công tác nghiên cứu khoa học và giáo dục.
Tuy nhiên, những nguyên tắc này được áp dụng chủ yếu cho phần biển ven
bờ, ví dụ như đối với các khu bảo tồn, các khu dự trữ sinh quyển, khu bảo tồn loài,
…Thông thường, các nguyên tắc này được áp dụng ở vùng quản lý tổng hợp đới bờtrên biển tính từ đường bờ ra đến độ sâu từ 30 – 50m
1.5.3 Cơ sở khoa học và pháp lý của phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
Trên thế giới hiện nay đang có 2 xu hướng phân vùng: đó là phân vùng dựatrên cơ sở khoa học tự nhiên và phân vùng dựa trên cơ sở pháp lý
Phân vùng quản lý dựa trên cơ sở khoa học tự nhiên
Phân vùng dựa trên cơ sở khoa học đã và đang được nhiều nước trên thế giới
áp dụng trong việc quản lý tổng hợp đới bờ của mình Phân vùng sử dụng đất hiệnnay đang là hoạt động rất phổ biến ở nhiều quốc gia Trong khi đó, phân vùng sửdụng đới bờ/phân vùng sử dụng biển lại rất hạn chế và chỉ có một số quốc gia đangbắt đầu tiến hành Việc sử dụng lưu vực sông, các vùng nước ở đới bờ phục vụ cácmục đích khác nhau đang ngày càng gia tăng đòi hỏi phải có quy hoạch hợp lý
Từ trước đến nay phân vùng sử dụng đất thường được sử dụng nhiều nhấttrong công tác quy hoạch, quản lý nói chung và quản lý đời bờ nói riêng Khi quyhoạch sử dụng đất thích hợp thì hoàn toàn tránh được thảm họa Một minh chứng
cụ thể là vụ lở đất ở Antipolo, Rizan của Philippine năm 1999 đã làm phá hủy nhiềucông trình và nhà cửa ở nơi đây Thảm họa này là do sai lầm đặc biệt nghiêm trọngtrong công tác quy hoạch sử dụng đất vì nhà cửa được xây dựng ở trên nền đất yếu
ở vùng đồi
Quy hoạch sử dụng đất có thể được sử dụng để nhận diện được các vùng rủi
ro và giải quyết nhu cầu về định cư Tuy nhiên, quy hoạch sử dụng đất là một quátrình phức tạp và lặp đi lặp lại Có nhiều vấn đề bất đồng nảy sinh trong công tácquy hoạch đất đai, các ngành nhìn nhận và đánh giá đất đai rất khác nhau làm chocác giá trị của nó mâu thuẫn nhau Quy hoạch sử dụng đất diễn ra trong bối cảnhchính trị nhất định và thường ưu tiên những lợi ích trước mắt
Trang 34Phân vùng sử dụng biển, hoặc phân vùng chức năng, phân chia diện tích sửdụng theo các tiêu chí cụ thể, trước nhất là theo các chức năng sinh thái, các hoạtđộng truyền thống và sự phát triển tương lai.
Phân vùng sử dụng biển/đới bờ được thiết kế để điều chỉnh các hoạt độngkinh tế tại các khu vực ở đới bờ và bảo vệ môi trường sống Cách làm này cũngthúc đẩy việc sử dụng tài nguyên một cách hợp lý và bền vững và nó càng làm cho
sự phát triển kinh tế và công bằng xã hội được vững chắc hơn Khi một quá trìnhđược hậu thuẫn bởi các đầu vào là khoa học thực tiễn, nó có thể đẩy nhanh các quátrình quản lý tổng hợp đới bờ khác như các kế hoạch phát triển đới bờ và giải quyếtxung đột Trong khi việc phân vùng chức năng có thể giải quyết các vấn đề pháttriển, hiệu quả của nó như một công cụ quản lý chủ yếu phụ thuộc vào luật pháp vàcác quy định hiện hành, cũng như ý chí chính trị để thực thi
Phân vùng bảo vệ thường được sử dụng nhiều hơn trong các dự án bảo tồnnói chung và bảo vệ vùng ven biển nói riêng Một ví dụ về việc nghiên cứu cơ sởkhoa học trong phân vùng bảo vệ biển là ”Dự án nghiên cứu thiết kế và phân vùngcác khu vực bảo vệ biển thuộc Tây Ấn Độ Dương” trong đó cơ sở khoa học đượcdùng để xác định vị trí của đường ranh giới, kích thước của các vùng bảo vệ Vị tríđường ranh giới của các vùng bảo vệ biển phải dựa trên các nhân tố sinh thái như
sự sinh sản, sự thu nhận các yếu tố ngoại lai và bãi ươm giống, bãi đặc sản, hệ sinhthái dễ phục hồi, sự ổn định về quần thể các loài và quần xã quan trọng Nếu nhưviệc thiết kế ranh giới này ban đầu dựa trên các nhân tố kinh tế - xã hội thì các vùngsinh thái quan trọng có thể nằm ngoài ranh giới được bảo vệ Tuy nhiên khi kết hợpvới các cơ sở khoa học nói trên thì việc xác định ranh giới chỉ phải thay đổi mộtchút Đó là cơ sở để bao trong ranh giới trên các hệ sinh thái có thể chịu được cáctác động có hại và những vùng có tính đa dạng sinh học cao có nguy cơ bị suy thoái
để có thể bảo vệ và phục hồi chúng
Nhằm mục đích bảo tồn sinh thái thì kích thước của vùng bảo vệ càng lớncàng tốt do bản chất mở của các hệ sinh thái biển, tuy nhiên đối với cộng đồng thì
19
Trang 35diện tích của vùng bảo vệ càng nhỏ càng tốt Vì vậy cần có các cơ sở khoa học đểxác định mức kích thước tối thiểu để xác định vùng bảo vệ.
Các dự án trong khuôn khổ PEMSEA đã khẳng định mối liên hệ giữa cácvùng bảo vệ biển và các vùng quan trọng về mặt sinh thái khác cũng cần được quantâm trong đó phải quan tâm đến sự di chuyển của các loài sinh vật, sự phát tán của
ấu trùng và trao đổi dinh dưỡng và các vật chất khác giữa các hệ sinh thái Nhữngđại lượng đó là cơ sở khoa học cho phân vùng bảo vệ biển
Ứng dụng nghiên cứu trên vào một khu vực cụ thể, công viên quốc giaQuirimbas, Mozambique Công viên quốc gia Quirimbas được phân thành vùng bảo vệhoàn toàn, vùng sử dụng đặc biệt, vùng sử dụng và phát triển cộng đồng và vùng đệm
Cùng cách phân vùng như trên, công viên biển Great Barrier Reef (Australia)cũng được phân thành vùng sử dụng, vùng bảo vệ hệ sinh thái, vùng công viên bảotồn, vùng đệm, công viên quốc gia, vùng nghiên cứu khoa học, vùng bảo tồn
Về phân vùng quản lý tổng hợp bờ biển, đới bờ biển của Thổ Nhĩ Kỳ được phânthành các vùng theo các đường gần như song song với bờ biển về phía đất liền nhưđường bờ khi triều thấp, đường bờ khi triều cao, đường mép bờ trong đó bờ là vùnggiữa đường bờ và đường mép bờ được định nghĩa như giới hạn tự nhiên của những hệsinh thái hình thành do sự chuyển động của nước biển về phía bờ xuất phát từ đường
bờ như bờ cát, bờ đá, đầm lầy, đất ngập nước,… Theo đó, dải bờ biển là vùng giới hạntrong phạm vi 100 m từ mép bờ Cách phân vùng như vậy bắt buộc phải dựa vào cơ sởkhoa học về điều kiện thủy văn, hải văn như hoạt động của sóng, thủy triều cũng nhưnhững hiểu biết về đặc điểm của các hệ sinh thái trong các vùng đó để có những quyđịnh mang tính pháp lý cho sử dụng hợp lý các vùng đó
Dựa vào sự phân vùng này, Thổ Nhĩ Kỳ có những quy định quản lý ở đới bờnhư không được khai quật, đào bới và khai thác cát, sỏi… ở đới bờ Cấm đổ đất,chất thải, rác thải công nghiệp, xây dựng, sinh hoạt … ở đới bờ biển và dải bờ biển
Ởđới bờ biển, các chủ thể được sử dụng đất cho các mục đích sau: (1) xây dựng các cơ
sở hạ tầng và các phương tiện khác như cảng, bến cảng, bến tàu, các công trình cho tàucập bến, đê chắn sóng, cầu, đập ngăn nước biển, đèn biển, các trạm bơm
Trang 36khô, kho giữ hàng, máy sản xuất muối, thiết bị xử lý, phục vụ đánh bắt cá … vớimục đích bảo vệ bờ biển và sử dụng bờ biển cho lợi ích cộng đồng (2) xây dựng cáccông trình và các phương tiện không thể đặt trong đất liền do bản chất của hoạtđộng như xưởng đóng tàu, các phương tiện bốc dỡ, phương tiện phục vụ nuôi cátrang trại, …
PEMSEA xúc tiến việc áp dụng phân vùng sử dụng biển và kết hợp với quyhoạch sử dụng đất ở cấp địa phương cũng như quốc gia Kế hoạch phân vùng sử dụngđới bờ ở thành phố Hạ Môn – Trung Quốc và Vịnh Batangas – là những điển hình tiênphong về phân vùng chức năng sử dụng đới bờ tại khu vực các biển Đông Á
Ở Trung Quốc, thành phố Hạ Môn đã xây dựng và thực hiện kế hoạch phânvùng sử dụng đới bờ vào giữa những năm 1990 bằng cách phân loại sử dụng vùngbiển theo các chức năng sinh thái và kinh tế và các hoạt động truyền thống Kếhoạch phân vùng này vạch ra các vùng cụ thể để sử dụng cho các mục đích khácnhau như hải quân, hàng hải, cảng biển, du lịch, đánh bắt, nuôi trồng hải sản và bảotồn Như vậy chức năng sinh thái là một cơ sở khoa học quan trọng trong phân vùngquản lý tổng hợp đới bờ ở Trung Quốc Vai trò của pháp lý trong phân vùng và thựchiện phân vùng của mô hình ở thành phố Hạ Môn sẽ được trình bày trong phần sau
về nghiên cứu cơ sở pháp lý trong phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
Phân vùng quản lý đới bờ trên cơ sở pháp lý
Việc phân vùng ở thành phố Hạ Môn, Trung Quốc đã được Quốc hội TrungQuốc phê chuẩn thành luật Các quy định về kiểm soát việc sử dụng các khu vực ởđới bờ có hiệu lực năm 1997 Hệ thống giấy phép cũng được xây dựng và triển khaithực hiện nhằm điều chỉnh các đối tượng sử dụng theo các tiêu chí phân vùng Kếhoạch phân vùng được kết hợp chặt chẽ với kế hoạch sử dụng đất của thành phố,điều chỉnh một cách hiệu quả hoạt động phát triển ở đới bờ
Xác định ranh giới phân vùng là một việc đặc biệt khó khăn, đòi hỏi ứng dụngcác công cụ và kỹ thuật khoa học Trong trường hợp Hạ Môn, kế hoạch phân vùngđược chính quyền thành phố hậu thuẫn bằng cách đưa ra những quy định quản lý hànhchính, bảo đảm có cơ sở pháp lý thích đáng thể thực thi Nhờ sự trợ giúp
21
Trang 37của GIS và viễn thám, các cơ quan liên quan có khả năng kiểm soát hiệu quả việc sửdụng diện tích đới bờ theo như kế hoạch phân vùng đã đề ra.
1.5.4 Các tiêu chí phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
* Tiêu chí sự phân dị về điều kiện tự nhiên đới bờ nghiên cứu.
Nghĩa là trên cơ sở đặc điểm địa hình- địa mạo, dòng chảy, địa chất,… vv,chúng ta phân ra các vùng có những đặc trưng khác biệt
Đây là hình thức được áp dụng khá phổ biến trong việc quản lý tổng hợp đới
bờ của các quốc gia, tổng hợp về địa lý là một trong những thuộc tính về tính tổnghợp trong quản lý đới bờ Theo đó, tổng hợp về địa lý có nghĩa là việc sử dụng ranhgiới được xác định bởi dòng chảy hoặc các quá trình tự nhiên khác, hơn là sử dụngranh giới hành chính Cụ thể áp dụng với đới bờ, khi phân định vùng ven bờ biểnnên kết hợp sử dụng ranh giới xác định bởi tác động của biển với ranh giới hànhchính, để xác định các đơn vị cho quản lý vùng ven bờ biển
* Tiêu chí về sự phân dị tài nguyên và mức độ khai thác tài nguyên của các hoạt động phát triển kinh tế và xã hội.
- Điều tra nghiên cứu sự phân bố các nguồn tài nguyên sinh vật, tài nguyênkhoáng sản, tài nguyên vị thế, tài nguyên văn hóa, lịch sử nguồn nhân lực… vv Từ
đó, phân chia ra các vùng có các đặc điểm khác nhau, có thể phát triển các ngànhkinh tế điển hình
- Khu khai thác hạn chế/hạn định: dành cho các hoạt động kinh tế phụthuộc
vào hoặc có liên quan đến một ngưỡng chất lượng môi trường nước nhất định
- Khu khai thác độc quyền: dành cho các hoạt động phát triển đòi hỏi việc sử
dụng tài nguyên không hạn chế
- Khu khai thác đa ngành: dành cho các hoạt động phát triển đòi hỏi sự dichuyển, vận chuyển và sự hợp tác hoặc chia sẻ với nhau trên cùng một khu vực tạicác thời điểm khác nhau
* Các tiêu chí về pháp lý.
- Phân vùng biển theo quy định của Công ước về Luật biển 1982 của
Trang 3822
Trang 39pháp luật được áp dụng rộng rãi đối với các quốc gia thành viên Trong Công ước chế độ pháp lý của các vùng biển được quy định như sau:
+ Nội thủy (Internal water): là toàn bộ vùng nước nằm phía trong đường cơ
sở và tiếp giáp với bờ biển Tại nội thủy, quốc gia ven bờ biển có chủ quyền hoàntoàn và tuyệt đối như đối với lãnh thổ đất liền của mình
+ Lãnh hải (Territorial sea): là vùng biển tiếp liền và nằm phía ngoài đường
cơ sở Theo quy định tại Công ước 1982, các quốc gia ven bờ biển có quyền ấn địnhchiều rộng lãnh hải của mình tới một giới hạn không vượt quá 12 hải lý tính từđường cơ sở
+ Vùng tiếp giáp (Contiguos zone): là vùng biển nằm phía ngoài và tiếp liềnvới lãnh hải Vùng tiếp giáp không thể mở rộng quá 24 hải lý kể từ đường cơ sởdùng để tính chiều rộng của lãnh hải
+ Vùng đặc quyền kinh tế (Exclusive economic zone): là vùng biển nằm tiếpliền và ở phía ngoài lãnh hải, rộng không quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dụng đểtính chiều rộng lãnh hải
+ Thềm lục địa (Continental Shelf): là phần bao gồm đáy biển và lòng đất
dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tựnhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa hoặcđến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài củarìa lục địa của quốc gia đó ở cách khoảng cách gần hơn
Phân vùng theo địa giới hành chính: trong phân vùng quản lý tổng hợp đới
bờ đặc biệt quan tâm đến ranh giới hành chính Trong điều kiện cho phép để cácranh giới phân vùng quản lý tổng hợp phù hợp với các ranh giới hành chính để tạonên tính khả thi cao của phân vùng quản lý tổng hợp
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là phân vùng quản lý tổng hợp đới bờluôn phải trùng với phân vùng quản lý hành chính Như vậy, một vùng quản lý tổnghợp đới bờ có thể nằm trong nhiều đơn vị quản lý hành chính Nhưng chúng ta cầnnhắc lại là trong điều kiện cho phép cần đưa về một đơn vị hành chính
Trang 40CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình nghiên cứu
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới
a Tình hình nghiên cứu ở các nước phát
triển * Tình hình nghiên cứu ở Hoa Kỳ
Với lợi thế là quốc gia ven biển với vùng biển rộng lớn và giàu có về tàinguyên, Hoa Kỳ đã biết khai thác các tài nguyên biển từ rất sớm để phục vụ pháttriển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước
Trong lĩnh vực quản lý biển, Hoa Kỳ cũng là một trong số các quốc gia điđầu trong chiến lược quản lý tổng hợp và phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ Ngay
từ khi khái niệm này còn chưa được phổ biến rộng rãi và chưa được nhiều quốc
gia trên thế giới quan tâm thì Hoa Kỳ đã ban hành Đạo luật Quản lý tổng hợp đới
bờ số 6217 năm 1972 Luật này đã thể hiện ưu điểm vượt trội so với luật của các
quốc gia khác là Đạo luật này đã có đề cập đến vấn đề phân vùng quản lý Trong đó,
ngoài việc quản lý về mặt hành chính và chuyên môn theo các cơ quan trung ương,các cơ quan quản lý ngành thì hoạt động quản lý vùng biển của Hoa Kỳ còn đượcphân theo từng bang, từng địa phương Đồng thời, giữa các phương thức quản lýnày có sự kết hợp chặt chẽ và được hỗ trợ bởi các cơ chế trung gian có thẩm quyềnnhà nước Đây là một mô hình quản lý tổng hợp tương đối chặt chẽ, hiệu quả đượcthể hiện trong Luật quản lý tổng hợp đới bờ của Hoa Kỳ
* Tình hình nghiên cứu tại Austraylia
Ở Austraylia người ta rất quan tâm đến phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
và vùng trọng điểm quan trọng, ví dụ tại dải san hô lớn hay vùng hồ lớn Tại đây,các vùng được phép hoạt động và không được phép hoạt động đã được xác định.Thực chất việc phân chia trên vừa mang tính chất phân vùng sử dụng đa ngành, vừamang tính chất phân vùng quản lý tổng hợp đa ngành Từ cách phân vùng trên cho phép chúng ta chi tiết hóa thêm nội dung quản lý tổng hợp
b Tình hình nghiên cứu ở các nước đang phát triển
* Tì
nh
hình