1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phiếu lý lịch tư pháp số 2 trong mối liên hệ với nguyên tắc bảo đảm bí mật đời tư của cá nhân theo quy định của luật lý lịch tư pháp

4 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 113,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đề cập, phân tích các quy định của pháp luật, thực tiễn thực hiện về Phiếu lý lịch tư pháp số 2 trong mối liên hệ với nguyên tắc bảo đảm bí mật đời tư của cá nhân theo quy định của Luật lý lịch tư pháp, đồng thời đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành liên quan đến Phiếu lý lịch tư pháp số 2.

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

PHIẾU LÝ LỊCH TƯ PHÁP SỐ 2 TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM BÍ MẬT ĐỜI TƯ CỦA CÁ NHÂN THEO QUY ĐỊNH

CỦA LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP

Nguyễn Thị Minh Phương 1

Tĩm tắt: Ngày 17 tháng 6 năm 2009 tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khĩa XII đã thơng qua Luật lý lịch

tư pháp Đây là một bước tiến quan trọng trong quá trình hồn thiện pháp luật về lý lịch tư pháp ở nước

ta Luật lý lịch tư pháp đã tạo cơ sở pháp lý để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và nhu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp ngày càng tăng của cá nhân Theo quy định của Luật lý lịch tư pháp, cĩ hai loại phiếu lý lịch tư pháp: Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và Phiếu lý lịch

tư pháp số 2 Bài viết đề cập, phân tích các quy định của pháp luật, thực tiễn thực hiện về Phiếu lý lịch

tư pháp số 2 trong mối liên hệ với nguyên tắc bảo đảm bí mật đời tư của cá nhân theo quy định của Luật lý lịch tư pháp, đồng thời đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm gĩp phần tháo gỡ khĩ khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành liên quan đến Phiếu lý lịch tư pháp số 2.

Từ khĩa: Luật lý lịch tư pháp; Bí mật đời tư; Phiếu lý lịch tư pháp số 2.

Nhận bài: 05/05/2018; Hồn thành biên tập: 13/06/2018; Duyệt đăng: 24/07/2018

Abstract: On June 17, 2009, at its 5th session, the 12th National Assembly adopted the law of Criminal Records.This is an important step in the process of improving the law on criminal records

in our country The law of criminal records has created a legal basis for the establishment of a criminal record database that meets the state management requirements and the need for the issuance

of judicial record cards of individuals According to the Law on Criminal Records, there are two types

of criminal record cards including criminal record card No 1 and criminal record card No 2 This article mentions and analyzes the provisions of the law and the practical implementation of Criminal Record card No 2 in relation to the principle of securing the privacy of individuals according to the provisions of the law of Criminal Records, at the same time, recommendations and proposals were made to remove difficulties and obstacles in the practical implementation related to Criminal Record card No 2.

Key words: The law of Criminal Records Privacy secrets The Criminal Record card No.2.

Date of receipt: 05/05/2018; Date of revision: 13/06/2018; Date of approval: 24/07/2018

1 Quan niệm bí mật đời tư của cá nhân

Hiện nay bí mật đời tư của cá nhân đã được

pháp luật Việt Nam cơng nhận và quy định khơng

chỉ trong Hiến pháp mà cịn trong các văn bản

quy phạm pháp khác: Luật lý lịch tư pháp,

Bộ luật dân sự2, Bộ luật hình sự3, các văn bản

quy phạm pháp luật khác trong các lĩnh vực quản

lý nhà nước4 Tuy nhiên, hiểu thế nào là “bí mật

đời tư” thì hiện nay chưa cĩ một văn bản quy phạm pháp luật nào đưa ra khái niệm, giải thích

từ ngữ cho cụm từ này

Trước tiên, cần làm rõ hiểu thế nào là “bí mật”, và hiểu thế nào là “đời tư” Theo từ điển tiếng việt, thì “bí mật”5 được hiểu là kín đáo khơng lộ ra ngồi “Đời tư” là một từ Hán Việt, trong đĩ “đời” ở đây cĩ thể hiểu là đời sống, cuộc

1 Thạc sỹ, Phĩ Cục trưởng Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp.

2 Xem Điều 38 Bộ luật dân sự năm 2015.

3 Xem Điều 159 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

4 Xem khoản 2 Điều 3 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009; điểm a khoản 1 Điều 5 Luật Căn cước cơng dân; khoản 4 Điều 4 Nghị định số 20/2016/NĐ-CP ngày 30/3/2016 của Chính phủ Quy định cơ sở dữ liệu quốc gia về

xử lý vi phạm hành chính.

5 Xem Từ điển tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội 2005, tr 66.

Trang 2

Số 4/2018 - Năm thứ Mười Ba

sống, “tư”: thuộc về cá nhân6 Qua đĩ, cĩ thể

thấy, đã nĩi đến “bí mật đời tư” là những thơng

tin của cá nhân phải được giữ kín, khơng được

để lộ ra bên ngồi Vậy nếu thơng tin được cơng

khai hợp pháp thì cĩ được coi là bí mật đời tư

nữa hay khơng? Đây cũng là một vấn đề cần tiếp

tục được nghiên cứu, làm rõ và “bí mật đời tư”

theo nguyên tắc của Luật lý lịch tư pháp được

tiếp cận theo cách hiểu nào

Hiện nay, quan niệm về “bí mật đời tư” đã

được nhiều nhà nghiên cứu trong nước đưa ra với

những lập luận, căn cứ khác nhau:

Cĩ quan điểm cho rằng, bí mật đời tư là

những thơng tin, tư liệu (gọi chung là thơng tin)

về tinh thần, vật chất, quan hệ xã hội hoặc những

thơng tin khác liên quan đến cá nhân trong quá

khứ cũng như trong hiện tại, được pháp luật bảo

vệ và những thơng tin đĩ được bảo mật bằng

những biện pháp mà pháp luật thừa nhận7

Cĩ quan điểm khác cho rằng, bí mật đời tư là

những gì gắn với nhân thân con người: thơng tin

về hình ảnh, cuộc sống, quan hệ xã hội được giữ

kín, khơng thể tiết lộ

Cĩ thể thấy rằng cĩ rất nhiều cách tiếp cận

khác nhau về hiểu thế nào là “bí mật đời tư”,

nhưng các cách tiếp cận cĩ điểm chung là đều

coi “bí mật đời tư” là những thơng tin liên quan

và gắn liền đến cuộc sống của một cá nhân nhất

định Những thơng tin đĩ là những thơng tin cĩ

nội dung mang tính chất “bí mật”, cá nhân thấy

rằng cần thiết và mong muốn được giữ kín,

khơng muốn cơng khai cho người khác biết “Bí

mật đời tư” được hiểu là quyền bất khả xâm

phạm và được pháp luật bảo vệ (trừ trường hợp

pháp luật cĩ quy định khác)

2 Phiếu lý lịch tư pháp số 2 và thực tiễn

cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2

Hiện nay, theo quy định của Luật lý lịch tư

pháp, cĩ hai loại phiếu lý lịch tư pháp: Phiếu lý

lịch tư pháp số 1 và Phiếu lý lịch tư pháp số 2

So với Phiếu lý lịch tư pháp số 1, Phiếu lý lịch

tư pháp số 2 ghi đầy đủ các thơng tin của cá

nhân, bao gồm các thơng tin về án tích (đối với

người đã bị kết án thì ghi đầy đủ án tích đã được xĩa, thời điểm được xĩa án tích, án tích chưa được xĩa, ngày, tháng, năm tuyên án, số bản án, Tịa án đã tuyên bản án, tội danh, điều khoản luật được áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, nghĩa vụ dân sự trong bản án hình sự, án phí, tình trạng thi hành án) và thơng tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản

lý doanh nghiệp, hợp tác xã 8 (Phiếu lý lịch tư pháp số 1 chỉ ghi những án tích chưa được xĩa (những án tích đã được xĩa khơng ghi vào Phiếu lý lịch tư pháp số 1 Phiếu lý lịch tư pháp

số 1 cũng khơng ghi thơng tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức9khơng cĩ yêu cầu)

Do nội dung Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cĩ sự khác biệt so với Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và do tính chất đặc thù của việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 theo yêu cầu của cá nhân nhằm mục đích “để người đĩ biết được nội dung về lý lịch

tư pháp của mình”10nên Luật lý lịch tư pháp quy định chặt chẽ về thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch

tư pháp số 2 của cá nhân Theo đĩ, trường hợp cá nhân yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 thì khơng được ủy quyền cho người khác làm thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp (Trong khi đĩ, cá nhân khi cĩ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số

1 cĩ thể ủy quyền cho người khác làm thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp)

Bên cạnh quy định chặt chẽ về cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cho cá nhân như đã nêu trên, theo quy định của Luật lý lịch tư pháp, Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cịn được cấp cho các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử

Như vậy, cĩ thể thấy, quy định của Luật lý lịch

tư pháp về Phiếu lý lịch tư pháp số 2 và nguyên tắc

“bảo đảm tơn trọng bí mật đời tư của cá nhân”

6 Xem Từ điển tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội 2005, tr.878.

7TS Lê Đình Nghị, Giảng viên Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội, Bàn về khái niệm bí mật đời tư.

https://dqlaw.wordpress.com/2011/08/15/ban-về-khai-niệm-bí-mat-doi-tu

8 Xem Điều 43 Luật Lý lịch tư pháp năm 2009.

9 Xem điểm a khoản 1 Điều 41; điểm b khoản 3 Điều 42 Luật lý lịch tư pháp năm 2009.

10 Xem điểm b khoản 1 Điều 41 Luật lý lịch tư pháp năm 2009.

Trang 3

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

được tiếp cận, nhìn nhận dưới gĩc độ các thơng

tin của cá nhân cần thiết được giữ kín, khơng cơng

khai cho người khác biết (mục đích cấp Phiếu lý

lịch tư pháp số 2 cho cá nhân là để người đĩ biết

được cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp

đang lưu trữ những thơng tin lý lịch tư pháp nào

của bản thân, khơng nhằm phục vụ các yêu cầu

của cá nhân tham gia các quan hệ pháp luật), trừ

trường hợp pháp luật cĩ quy định khác - cấp cho

các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự nhằm phục

vụ cơng tác điều tra, truy tố, xét xử

Vậy trên thực tế các quy định này được hiểu

và thực hiện như thế nào? Qua theo dõi tình hình

thi hành pháp luật về lý lịch tư pháp cho thấy, hàng

năm, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Bộ Tư

pháp và các Sở Tư pháp trên tồn quốc đã cấp

hàng trăm nghìn phiếu lý lịch tư pháp, trong đĩ

chủ yếu là Phiếu lý lịch tư pháp số 1 theo yêu cầu

của cá nhân để làm các thủ tục xin việc làm, kết

hơn, nhập quốc tịch, du học, xuất cảnh Tuy nhiên,

từ tháng 10 năm 2012 đến nay, số lượng yêu cầu

cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 của cơng dân Việt

Nam và người nước ngồi cĩ thời gian cư trú tại

Việt Nam ngày càng tăng Tính đến ngày

31/12/201611, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia,

Bộ Tư pháp và các Sở Tư pháp đã thụ lý 1.617.649

yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp, đã giải quyết

được 1.602.468 yêu cầu, bao gồm 1.271.648 yêu

cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và 330.820 yêu

cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2

Thực tế giải quyết yêu cầu cấp Phiếu lý lịch

tư pháp số 2 thời gian qua cho thấy, cá nhân yêu

cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 chủ yếu để bổ

túc hồ sơ xin cấp thị thực nhập cảnh theo yêu cầu

của các cơ quan đại diện ngoại giao của một số

nước như Hoa Kỳ, Canada, Australia, ….và một

số ít theo yêu cầu của một số cơ quan, tổ chức

trong nước12, hồn tồn khơng xuất phát từ mục

đích muốn biết về nội dung lý lịch tư pháp của

mình Trong khi đĩ, trước thời điểm này, các cơ

quan đại diện ngoại giao của các nước này vẫn

tiếp nhận và sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp số 1 của cá nhân khi xem xét giải quyết cấp thị thực nhập cảnh

Việc các cơ quan yêu cầu cá nhân nộp Phiếu

lý lịch tư pháp số 2 như trên là khơng phù hợp với mục đích sử dụng của Phiếu lý lịch tư pháp

số 2 Đồng thời, khơng phù hợp với ý nghĩa, mục

đích quản lý lý lịch tư pháp“Ghi nhận việc xĩa

án tích, tạo điều kiện cho người đã bị kết án tái hịa nhập cộng đồng’’13 Cũng cĩ ý kiến cho rằng, theo quy định của Luật lý lịch tư pháp, cá nhân

cĩ quyền yêu cầu cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu

lý lịch tư pháp cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cho mình Việc cá nhân sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp

số 2 vào mục đích gì là quyền của họ và như vậy,

họ tồn quyền quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định này của bản thân đối với việc sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp số 2

Hiện nay, yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp

số 2 của cá nhân vẫn tiếp tục gia tăng, tuy nhiên, việc tiếp nhận, giải quyết yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 thời gian qua và hiện nay cho thấy cĩ một số khĩ khăn, vướng mắc:

Thứ nhất, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc

gia và các Sở Tư pháp khơng cĩ quyền từ chối yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 của cá nhân, bởi việc cá nhân sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp số 2 khơng đúng mục đích khơng phải là căn cứ để cơ quan cĩ thẩm quyền cấp phiếu lý lịch tư pháp từ chối cấp phiếu lý lịch tư pháp theo quy định của Luật lý lịch tư pháp

Thứ hai, mục đích của việc cấp Phiếu lý lịch

tư pháp số 2 là để người đĩ biết được nội dung về

lý lịch tư pháp của mình nên theo quy định của Luật lý lịch tư pháp, cá nhân khi yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 thì khơng được ủy quyền cho người khác làm thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp Tuy nhiên, hiện nay do một số cơ quan, tổ chức lạm dụng quyền được cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 của cá nhân để yêu cầu cá nhân phải nộp loại phiếu này khi thực hiện các thủ tục

11 Xem Báo cáo số 173/BC-BTP ngày 20/6/2017 của Bộ Tư pháp tổng kết 06 năm thi hành Luật lý lịch tư pháp.

12 Xem Nghị định số 106/2011/NĐ-CP ngày 23/11/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định

số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số

và dịch vụ chứng thực chữ ký số; Thơng tư số 30/2015/TT-NHNN ngày 25/12/2015 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định việc cấp giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng.

13 Xem khoản 2 Điều 3 Luật lý lịch tư pháp.

Trang 4

Số 4/2018 - Năm thứ Mười Ba

tại các cơ quan, tổ chức, trong khi đĩ, quy định

của pháp luật khơng cho phép ủy quyền khi yêu

cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2, gây khĩ khăn

cho cá nhân khi cĩ yêu cầu cấp Phiếu, đặc biệt là

người nước ngồi đã cư trú tại Việt Nam hoặc

cơng dân Việt Nam đang ở nước ngồi phải trực

tiếp về Việt Nam nộp hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý

lịch tư pháp số 2

3 Đề xuất, kiến nghị hồn thiện quy định

pháp luật về Phiếu lý lịch tư pháp số 2

Trước yêu cầu, thực tiễn về cấp Phiếu lý lịch

tư pháp số 2 như đã nêu trên, hiện nay, cĩ hai

quan điểm khác nhau liên quan đến việc đề xuất,

kiến nghị hồn thiện quy định pháp luật về Phiếu

lý lịch tư pháp số 2, cụ thể:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: cần nghiên

cứu, sửa đổi quy định về cấp Phiếu lý lịch tư

pháp số 2 theo hướng bỏ quy định về việc cá

nhân cĩ quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp

số 2, thống nhất chỉ cĩ 01 loại phiếu lý lịch tư

pháp cấp cho cá nhân – là loại Phiếu lý lịch tư

pháp số 1 đang được cấp và sử dụng theo quy

định của Luật lý lịch tư pháp vì các lý do sau đây:

Thứ nhất, phù hợp với chính sách nhân đạo

của pháp luật hình sự “Người đã chấp hành xong

hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống

lương thiện, hồ nhập với cộng đồng, khi cĩ đủ

điều kiện do luật định thì được xĩa án tích’’ 14,

“Người được xĩa án tích coi như chưa bị kết

án’’ 15

Thứ hai, phù hợp với mục đích và nguyên

tắc quản lý lý lịch tư pháp đĩ là “Ghi nhận việc

xĩa án tích, tạo điều kiện cho người đã bị kết án

tái hịa nhập cộng đồng” 16 , “Bảo đảm tơn trọng

bí mật đời tư của cá nhân”17

Thứ ba, khắc phục được một số khĩ khăn,

vướng mắc trong việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp

số 2 như đã nêu trên

Thứ tư, phù hợp với pháp luật của nhiều

nước trên thế giới Hiện nay, theo quy định của

pháp luật một số nước, cá nhân chỉ cĩ quyền

yêu cầu cấp 01 loại phiếu lý lịch tư pháp18: Tại

Cộng hịa Pháp, quy định cĩ 3 loại Phiếu lý lịch

tư pháp, trong đĩ: Phiếu lý lịch tư pháp số 1

(B1): là loại phiếu chỉ cấp cho các cơ quan tư

pháp (thẩm phán) Thơng tin của Phiếu lý lịch

tư pháp số 1 bao gồm tất cả các thơng tin liên quan đến án tích của một người và những thơng tin liên quan đến phán quyết của tịa án thương mại như cấm quản lý doanh nghiệp, cấm hành nghề (Điều 774, Điều 774-1 Bộ luật Tố tụng

hình sự) Phiếu lý lịch tư pháp số 2 (B2): là loại

phiếu cấp cho các cơ quan hành chính Phiếu lý lịch tư pháp số 2 khơng bao gồm các quyết định liên quan đến tội vi cảnh, một số quyết định liên quan đến tội phạm chưa thành niên, khơng bao gồm hình phạt án treo, khơng bao gồm những phán quyết do Tịa án nước ngồi tuyên (Điều

775 Bộ Luật tố tụng hình sự) Phiếu lý lịch tư

pháp số 3 (B3): chỉ chứa đựng những thơng tin

liên quan đến bản án của tịa án về những hình phạt tước tự do trên hai năm khơng được hưởng

án treo và với thời hạn 2 năm hoặc dưới 2 năm nhưng Tịa án quyết định là ghi vào Phiếu lý lịch tư pháp số 3 Cá nhân chỉ được quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 3

Quan điểm thứ hai cho rằng: cần nghiên

cứu, cân nhắc về việc bỏ Phiếu lý lịch tư pháp số

2 cấp cho cá nhân vì trên thực tế chỉ cĩ số lượng rất nhỏ các trường hợp trong số các đối tượng xin cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 đã từng cĩ án tích nên khơng thể vì bảo đảm bí mật của đối tượng này mà ảnh hưởng đến nhiều cá nhân khác Mặt khác, thực tiễn cho thấy nhu cầu cấp Phiếu lý lịch

tư pháp số 2 của cá nhân ngày một tăng để phục

vụ mục đích xin thị thực nhập cảnh, định cư, kết hơn, xuất khẩu lao động theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức trong nước và nước ngồi Nếu bỏ quy định về cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cĩ thể gây khĩ khăn và ảnh hưởng đến quyền lợi của chính cơng dân Việt Nam

(Xem tiếp trang 22)

14 Xem điểm g khoản 1 Điều 3 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

15 Xem khoản 1 Điều 69 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

16 Xem khoản 2 Điều 3 Luật lý lịch tư pháp.

17 Xem khoản 2 Điều 4 Luật lý lịch tư pháp.

18 Xem Báo cáo ngày 26/7/2017 của Bộ Tư pháp tổng thuật pháp luật nước ngồi về lý lịch tư pháp.

Ngày đăng: 20/11/2020, 07:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w