Bài viết đề cập những điểm mới của nội dung trên và một số đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định về biện pháp bắt người phạm tội quả tang và bắt người đang bị truy nã.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
Trên cơ sở kế thừa nội dung Điều 82 của
BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 đã cĩ
những sửa đổi, bổ sung nhất định về hai biện
pháp này
1 Những điểm mới trong Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2015 về biện pháp bắt
người phạm tội quả tang và bắt người đang
bị truy nã
Thứ nhất, khoản 1 Điều 82 BLTTHS năm
2003 quy định: “Đối với người đang thực hiện
tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm
thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như
người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào
cũng cĩ quyền bắt và giải ngay đến cơ quan
Cơng an, Viện kiểm sát hoặc Uỷ ban nhân dân
nơi gần nhất Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến Cơ quan điều tra cĩ thẩm quyền.” Với quy định này thì
cơ quan Cơng an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất cĩ trách nhiệm lập biên bản về việc bắt người và giải ngay người bị bắt đến Cơ quan điều tra cĩ thẩm quyền Tuy nhiên, trên thực tế do nhiều nguyên nhân khác nhau như khoảng cách địa lý xa xơi mà việc bắt đối tượng lại diễn ra trong đêm, phương tiện đi lại khơng cĩ, điều kiện thời tiết xấu… nên nhiều trường hợp các cơ quan này khơng thể giải ngay đối tượng đến Cơ quan điều tra cĩ
thẩm quyền được Vì vậy để khắc phục được
bất cập này, khoản 1 Điều 111 và khoản 1 Điều
NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015
VỀ BIỆN PHÁP BẮT NGƯỜI PHẠM TỘI QUẢ TANG, BẮT NGƯỜI ĐANG BỊ TRUY NÃ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN TRAO ĐỔI
Ngơ Văn Vịnh 1
1 Thạc sỹ, giảng viên Bộ mơn Pháp luật và Nghiệp vụ Cơng an, Học viện Chính trị Cơng an nhân dân.
Tĩm tắt: Trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003, biện pháp bắt người phạm tội
quả tang và biện pháp bắt người đang bị truy nã được quy định chung trong Điều 82 Tuy nhiên xét về bản chất thì đây là hai biện pháp ngăn chặn khác nhau, với căn cứ áp dụng khác nhau,
do đĩ để đảm bảo tính rõ ràng, BLTTHS năm 2015 đã tách riêng hai biện pháp này để quy định trong hai điều luật: Điều 111 (quy định về biện pháp bắt người phạm tội quả tang) và Điều 112 (quy định về biện pháp bắt người đang bị truy nã) Bài viết đề cập những điểm mới của nội dung trên và một số đề xuất nhằm hồn thiện các quy định về biện pháp bắt người phạm tội quả tang và bắt người đang bị truy nã
Từ khĩa: Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát
Nhận bài: 0410/2016; Hồn thành biên tập: 25/11/2016; Duyệt đăng: 20/12/2016
New issues in the Criminal Procedure Code 2015 on arresting red handed offenders, wanted criminals and some discussions
Abstract: In the Criminal Procedure Code (CrPC) 2003, measures arresting red-handed
offenders, and wanted criminals are regulated in the general provisions Article 82 However, in terms of nature, the two measures are different in purposes and grounds of the application Aiming at ensuring transparency, the Criminal Procedure Code in 2015 has separated the two measures to the provisions of the two laws: Article 111 (provisions on measures to arrest red-handed offenses) and Article 112 (provisions on measures to arrest people wanted criminals) The paper mentions the new changes of the content on and some suggestions for improvement
of the regulations on measures to catch red-handed offenders and wanted criminals.
Keywords: Criminal Procedure Code, The Investigating Bodies, The Procuracy
Received: Oct 04 th , 2016; Editingcompleted: Nov 25 th , 2016; Accepted for publication: Dec 20 th , 2016
Trang 2Số tháng 1/2017 - Năm thứ Mười Hai
112 BLTTHS năm 2015 đã quy định: “ Các cơ
quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải
ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan
điều tra cĩ thẩm quyền” Như vậy với quy định
này thì các cơ quan nĩi trên cĩ thể giải ngay
người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều
tra cĩ thẩm quyền
Thứ hai, Điều 111 và Điều 112 BLTTHS
năm 2015 cũng đã bổ sung trách nhiệm của Cơng
an xã, phường, thị trấn, Đồn Cơng an trong việc
phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả
tang, người đang bị truy nã để tạo cơ sở pháp lý
cho lực lượng này thực hiện nhiệm vụ, đáp ứng
yêu cầu của thực tiễn2, cụ thể:
Khoản 3 Điều 111 BLTTHS năm 2015 quy
định: “Trường hợp Cơng an xã, phường, thị
trấn, Đồn Cơng an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận
người phạm tội quả tang thì thu giữ, tạm giữ vũ
khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật cĩ
liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời
khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định
của pháp luật; giải ngay người bị bắt hoặc báo
ngay cho Cơ quan điều tra cĩ thẩm quyền”;
Khoản 3 Điều 112 BLTTHS năm 2015 quy
định: “Trường hợp Cơng an xã, phường, thị
trấn, Đồn Cơng an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận
người đang bị truy nã thì thu giữ, tạm giữ vũ
khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật cĩ
liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời
khai ban đầu; giải ngay người bị bắt hoặc báo
ngay cho Cơ quan điều tra cĩ thẩm quyền”.
Thứ ba, BLTTHS năm 2015 cũng đã rút
ngắn thời gian xem xét việc ra quyết định tạm
giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt từ 24 giờ
xuống cịn 12 giờ3, cụ thể khoản 1 Điều 114
BLTTHS năm 2015 quy định: “Sau khi giữ
người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người
hoặc nhận người bị giữ, bị bắt, Cơ quan điều
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và
trong thời hạn 12 giờ phải ra quyết định tạm
giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt”.
Thứ tư, khoản 2 Điều 83 BLTTHS năm
2003 quy định: “…Trong trường hợp xét thấy
cơ quan đã ra quyết định truy nã khơng thể đến nhận ngay người bị bắt thì sau khi lấy lời khai,
Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải ra ngay quyết định tạm giữ và thơng báo ngay cho
cơ quan đã ra quyết định truy nã biết…” Tuy
nhiên, thực tiễn đấu tranh phịng chống tội phạm cho thấy, nhiều trường hợp do những lý
do khác nhau mà khi hết thời hạn tạm giữ (thời hạn tạm giữ tối đa là 03 ngày), cơ quan đã ra quyết định truy nã vẫn chưa thể đến nhận người bị bắt Do đĩ, để tháo gỡ vướng mắc này, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung quy định cho phép Cơ quan điều tra nhận người bị bắt
được gia hạn tạm giữ, cụ thể: “…nếu đã hết thời hạn tạm giữ mà cơ quan ra quyết định truy
nã vẫn chưa đến nhận thì Cơ quan điều tra nhận người bị bắt gia hạn tạm giữ và gửi ngay quyết định gia hạn tạm giữ kèm theo tài liệu liên quan cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn…” (khoản 2 Điều 114).
Thứ năm, trên thực tế người bị bắt cĩ thể cĩ
nhiều quyết định truy nã của các cơ quan khác nhau, tuy nhiên BLTTHS năm 2003 chỉ quy định: Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải thơng báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã để đến nhận người bị bắt Với quy định này thì Cơ quan điều tra nhận người bị bắt cĩ thể thơng báo và chuyển giao người bị bắt cho bất kỳ
cơ quan nào đã ra quyết định truy nã đối tượng Tuy nhiên để tạo điều kiện về thời gian cho việc đến nhận người bị bắt, BLTTHS năm 2015 đã
bổ sung quy định thơng báo và chuyển giao người bị bắt cho cơ quan đã ra quyết định truy nã
nơi gần nhất cụ thể: “Trường hợp người bị bắt cĩ nhiều quyết định truy nã thì Cơ quan điều tra nhận người bị bắt chuyển giao người bị bắt cho
cơ quan đã ra quyết định truy nã nơi gần nhất”
(khoản 3 Điều 114)
2 Một số vấn đề cần trao đổi để tiếp tục hồn thiện quy định về biện pháp bắt người phạm tội quả tang và bắt người đang bị truy nã
2 GS.TS Nguyễn Ngọc Anh, ThS Ngơ Đức Thắng, ThS Đào Anh Tới, Cn Lê Hà Thắng, CN Phan Dương Điệp, Tài liệu Tập huấn chuyên sâu Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Thanh niên, Hà Nội, tr.106.
3 GS.TS Nguyễn Ngọc Anh, ThS Ngơ Đức Thắng, ThS Đào Anh Tới, Cn Lê Hà Thắng, CN Phan Dương Điệp, Tài liệu Tập huấn chuyên sâu Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Thanh niên, Hà Nội, tr.107.
Trang 3HỌC VIỆN TƯ PHÁP
Như vậy, so với BLTTHS năm 2003, biện
pháp bắt người phạm tội quả tang và biện pháp
bắt người đang bị truy nã trong BLTTHS năm
2015 đã cĩ nhiều sửa đổi, bổ sung theo hướng
chặt chẽ, phù hợp hơn với thực tiễn Tuy nhiên,
qua nghiên cứu, tác giả cho rằng cần phải tiếp
tục hồn thiện, cụ thể hĩa một số quy định về
biện pháp bắt người phạm tội quả tang và biện
pháp bắt người đang bị truy nã, cụ thể như sau:
Một là, theo quy định tại Điều 111
BLTTHS năm 2015, cơ quan bắt người phạm
tội quả tang hoặc tiếp nhận người bị bắt phải
giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ
quan điều tra cĩ thẩm quyền, nhưng Điều 164
BLTTHS năm 2015 quy định:
“1 Khi phát hiện hành vi cĩ dấu hiệu tội
phạm trong lĩnh vực và địa bàn quản lý của
mình thì các cơ quan của Bộ đội biên phịng,
Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển,
Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành mợt
sớ hoạt đợng điều tra cĩ nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong
trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý
lịch người phạm tội rõ ràng thì quyết định khởi
tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, tiến hành điều
tra và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cĩ
thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày
ra quyết định khởi tố vụ án hình sự;
b) Đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm
rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng
phức tạp thì quyết định khởi tố vụ án hình sự,
tiến hành hoạt động điều tra ban đầu và
chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra cĩ
thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày
ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.
2 Trong Cơng an nhân dân, Quân đội nhân
dân, ngồi các Cơ quan điều tra quy định tại Điều
163 của Bộ luật này, các cơ quan khác được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
trong khi làm nhiệm vụ của mình, nếu phát hiện sự
việc cĩ dấu hiệu tội phạm thì cĩ quyền khởi tố vụ
án hình sự, tiến hành hoạt động điều tra ban đầu
và chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra cĩ
thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra
quyết định khởi tố vụ án hình sự”.
Từ quy định này cho thấy, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra, căn cứ theo quyền hạn và tính chất của vụ
án cĩ thể khởi tố vụ án, tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho
Cơ quan điều tra cĩ thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố
vụ án hình sự hoặc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cĩ thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày ra quyết định khởi
tố vụ án hình sự Như vậy, đối với những vụ
án thuộc thẩm quyền mà các cơ quan này phát hiện bắt giữ người phạm tội quả tang thì khơng phải giải ngay hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra cĩ thẩm quyền Rõ ràng quy định này và quy định tại Điều 111 chưa đảm bảo tính thống nhất
Từ sự phân tích trên cho thấy, để đảm bảo
sự thống nhất, chặt chẽ trong các quy định hiện hành thì cần bổ sung thêm khoản 4 vào Điều
111 BLTTHS năm 2015 với nội dung cụ thể như sau:
“4 Trường hợp cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật cĩ liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, bảo
vệ hiện trường theo quy định của pháp luật; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra cĩ thẩm quyền trừ trường hợp quy định tại Điều 164 của Bộ luật này”
Hai là, đối với bắt người phạm tội quả
tang, BLTTHS năm 2015 chỉ quy định việc giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra cĩ thẩm quyền nhưng khơng quy định thời hạn để Cơ quan điều tra cĩ thẩm quyền đến tiếp nhận người bị bắt là bao lâu (kể từ khi nhận được thơng báo) Theo tác giả, việc quy định thời hạn này là cần thiết bởi vì nĩ liên quan đến việc quản lý người bị bắt trong thời gian chờ chuyển giao người bị bắt, đến việc kịp thời thực hiện các quyền của người bị bắt như quyền gặp thân nhân, quyền lựa chọn người bào chữa của người thân thích… Hơn nữa nếu quy định thời hạn này sẽ thúc đẩy và buộc trách nhiệm của Cơ quan điều tra phải nhanh chĩng tiếp nhận người bị bắt để kịp thời tiến hành các biện pháp theo quy định của pháp
Trang 4Số tháng 1/2017 - Năm thứ Mười Hai
luật Thiết nghĩ, trong thời gian tới khi mà
BLTTHS năm 2015 cĩ hiệu lực thi hành, cơ
quan cĩ thẩm quyền cần ban hành văn bản
hướng dẫn cụ thể về thời hạn này
Ba là, theo khoản 2 Điều 111 và khoản 2
Điều 112 BLTTHS năm 2015, khi bắt người
phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy
nã thì “người nào cũng cĩ quyền tước vũ khí,
hung khí của người bị bắt” Quy định này đã kế
thừa nội dung khoản 2 Điều 82 BLTTHS năm
2003 Hiện nay, các đối tượng phạm tội quả tang
và các đối tượng đang bị truy nã thường mang
theo vũ khí, hung khí, do đĩ việc pháp luật cho
phép người bắt giữ được quyền tước vũ khí,
hung khí của người bị bắt là cần thiết nhằm ngăn
chặn việc người bị bắt sử dụng vũ khí, hung khí
để chống trả người đuổi bắt Tuy nhiên hiểu như
thế nào là tước vũ khí, hung khí của người bị
bắt Về vấn đề này, kể từ khi BLTTHS năm
2003 cĩ hiệu lực cho đến nay cũng chưa cĩ văn
bản nào hướng dẫn cụ thể
Trước hết, cần nhận thức khi tước vũ khí,
hung khí của người bị bắt thì khơng được phép
lục sốt trên cơ thể người bị bắt để tìm kiếm Vì
việc lục sốt này chỉ được tiến hành khi áp
dụng biện pháp khám xét người theo tố tụng
hình sự Theo quan điểm của tác giả, tước vũ
khí, hung khí của người bị bắt chỉ được tiến
hành khi vũ khí, hung khí đĩ lộ ra bên ngồi,
cĩ thể vũ khí, hung khí đĩ đang được đối tượng
sử dụng hoặc chưa được sử dụng Cịn nếu vũ
khí, hung khí đĩ được giấu kín trong người mà
khơng biết vị trí thì khơng được lục sốt, tìm
kiếm để tước bỏ Hiểu như vậy sẽ tránh được
việc người khác lợi dụng việc bắt người phạm
tội quả tang, bắt người đang bị truy nã để xâm
phạm đến danh dự, nhân phẩm của người bị
bắt, đặc biệt là trong trường hợp người bắt và
người bị bắt khác giới tính với nhau Do đĩ,
trong thời gian tới, các cơ quan cĩ thẩm quyền
cũng cần phải cĩ văn bản hướng dẫn cụ thể về
phạm vi những trường hợp được tước vũ khí,
hung khí của người bị bắt
Bốn là, khoản 2, 3 Điều 114 BLTTHS năm
2015 quy định:
“2 Sau khi lấy lời khai người bị bắt theo quyết
định truy nã thì Cơ quan điều tra nhận người bị
bắt phải thơng báo ngay cho Cơ quan đã ra quyết
định truy nã đến nhận người bị bắt Sau khi nhận người bị bắt, cơ quan đã ra quyết định truy nã phải ra ngay quyết định đình nã
Trường hợp cơ quan đã ra quyết định truy
nã khơng thể đến nhận ngay người bị bắt thì sau khi lấy lời khai, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải ra ngay quyết định tạm giữ
và thơng báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã biết; nếu đã hết thời hạn tạm giữ
mà cơ quan ra quyết định truy nã vẫn chưa đến nhận thì Cơ quan điều tra nhận người bị bắt gia hạn tạm giữ và gửi ngay quyết định gia hạn tạm giữ kèm theo tài liệu liên quan cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn
Trường hợp khơng thể đến nhận ngay người bị bắt thì cơ quan đã ra quyết định truy
nã cĩ thẩm quyền bắt để tạm giam phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi lệnh tạm giam đã được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn cho Cơ quan điều tra nhận người bị bắt Sau khi nhận được lệnh tạm giam, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải giải ngay người đĩ đến Trại tạm giam nơi gần nhất.
3 Trường hợp người bị bắt cĩ nhiều quyết định truy nã thì Cơ quan điều tra nhận người
bị bắt chuyển giao người bị bắt cho cơ quan
đã ra quyết định truy nã nơi gần nhất”.
Rõ ràng khoản 2, 3 Điều 114 chỉ quy định
về các thủ tục đối với Cơ quan điều tra nhận người bị bắt mà khơng quy định các thủ tục đối với Cơ quan điều tra trực tiếp bắt người đang
bị truy nã Đây là sự thiếu sĩt trong quy định hiện hành
Vì vậy, theo tác giả cần thay thế cụm từ
“Cơ quan điều tra nhận người bị bắt” trong khoản 2, 3 Điều 114 bằng cụm từ “Cơ quan điều tra bắt giữ hoặc nhận người bị bắt”./.
Tài liệu tham khảo:
GS.TS Nguyễn Ngọc Anh, ThS Ngơ Đức Thắng, ThS Đào Anh Tới, Cn Lê Hà Thắng,
CN Phan Dương Điệp, Tài liệu Tập huấn chuyên sâu Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Nxb Thanh niên, Hà Nội, tr.106
GS.TS Nguyễn Ngọc Anh, ThS Ngơ Đức Thắng, ThS Đào Anh Tới, Cn Lê Hà Thắng,
CN Phan Dương Điệp, Tài liệu Tập huấn chuyên sâu Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Nxb Thanh niên, Hà Nội, tr.107