Cùng với việc khảo sát phương pháp giảng dạy tình huống đã được ra đời và áp dụng như thế nào trong lịch sử, đặc biệt gắn với tên tuổi của Langdell - người phụ trách trường luật đầu tiên của Đại học Harvard. Bài viết sau đây đề cập nội dung, đặc điểm của phương pháp tình huống và đề xuất phương pháp chuẩn bị cho một bài giảng áp dụng phương pháp tình huống.
Trang 1Đổi mới công tác giảng dạy đại học và sau
đại học là một trong những vấn đề trọng tâm
trong nền giáo dục của nước ta, trong đó đổi
mới phương pháp giảng dạy luôn đi đôi với đổi
mới nội dung giảng dạy S.B.Robinsohl cho
rằng:“Giáo dục là quá trình chuẩn bị cho người
học bước vào giải quyết các tình huống của
cuộc sống”(S.B.Robinsohl 1967)2
1 Giảng dạy bằng phương pháp tình
huống trong lịch sử
Dạy học bằng phương pháp tình huống là
một trong những phương pháp dạy học tích
cực, lấy người học làm trung tâm, góp phần
thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, được
xem như khâu đột phá căn bản trong xu hướng
đầu tư chiều sâu cho yêu cầu đổi mới phương
pháp dạy học hiện nay Đây là phương pháp
dạy học giúp người học tìm tòi chiếm lĩnh tri
thức; phát triển tư duy; năng lực phát hiện và
giải quyết vấn đề, từ đó hình thành ở người học
sự tự chủ, sáng tạo, biết tư duy, phân tích và
giải quyết tốt các tình huống
Phương pháp giảng dạy bằng tình huống đã được sử dụng từ lâu trong lịch sử giáo dục thế giới Ở Phương Đông phương pháp tình huống được đề cập đến trong nhiều kinh sách, văn học
cổ Điển hình là trong các sách của Khổng Tử (551-487 TCN), với nhiều tình huống theo hướng nêu vấn đề đặc sắc, cá thể hóa
Ở Phương Tây các trường học rất chú trọng và áp dụng rộng rãi phương pháp tình huống Ở Pháp, ngay từ đầu thế kỷ 20, phương pháp tình huống đã được áp dụng rộng rãi nhưng tình huống đưa ra phần nhiều
là giả định nên sức thuyết phục chưa cao Từ những năm 1960, Gaston de Vilard đã xây dựng một giáo trình luân lý mà nội dung là những tình huống có thật, trong đó giảng viên xác định một số vấn đề lý thuyết ngắn gọn, sau đó học viên tranh luận và giảng viên là người đưa ra kết luận cuối cùng Phương pháp này đã gây được tiếng vang trong toàn nước Pháp và sau đó được nghiên cứu, áp dụng trong nhiều ngành học khác nhau3
ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP TÌNH HUỐNG TRONG GIẢNG DẠY LUẬT, NGHỀ LUẬT
Ngô Hoàng Oanh 1
1 Tiến sỹ, Nghiên cứu viên, Trung tâm Kinh tế học, Viện Khoa học Xã hội vùng Nam bộ, Nguyên Trưởng bộ môn
Tư vấn Pháp luật và Hợp đồng , Học viện Tư pháp
2 S.B.Robinson là một nhà sư phạm, nhà văn nổi tiếng của Mỹ, được nhiều giải thưởng cho các tác phẩm của mình trong lĩnh vực sư phạm và văn học
3 Trích theo Phạm Vũ Nhật Uyên, Tạp chí Khoa học ĐHSP TP HCM, số 42 năm 2013
Tóm tắt: Cùng với việc khảo sát phương pháp giảng dạy tình huống đã được ra đời và áp
dụng như thế nào trong lịch sử, đặc biệt gắn với tên tuổi của Langdell - người phụ trách trường luật đầu tiên của Đại học Harvard Bài viết sau đây đề cập nội dung, đặc điểm của phương pháp tình huống và đề xuất phương pháp chuẩn bị cho một bài giảng áp dụng phương pháp tình huống.
Từ khóa: Phương pháp giảng dạy tình huống, Tòa án, Thẩm phán, Luật sư
Nhận bài: 02/10/2016; Hoàn thành biên tập:25/11/2016; Duyệt đăng: 20/12/2016
Applying the case method in teaching law, legal profession
Abstract: How the case method was born and applied along with the survey methods in
teaching over the history, especially in association with the names of Langdell – first curator’s
in law school at Harvard University The article mentions the contents and characteristics of the case method and the proposed method of preparing for a case methoded lecture.
Keywords: The Survey Methods in Teaching, Courts, Judges, Lawyers
Received: Oct 02 th , 2016; Editingcompleted: Nov 25 th , 2016; Accepted for publication: Dec 20 th , 2016.
Trang 2Tương tự như vậy ở Liên Xô cũ và Ba Lan,
phương pháp dạy học sử dụng tình huống
cũng rất được các nhà khoa học quan tâm4
Nhìn chung, dạy học bằng phương pháp tình
huống được các tác giả đề cập đến là phương
pháp “dạy học dựa trên vấn đề và dạy cách
giải quyết vấn đề”, theo đó “việc học là sự
chuẩn hóa kiến thức mà người học tự đưa ra,
giảng viên là người gợi ra sự chuẩn hóa các
kiến thức bằng cách lựa chọn giá trị của các
biến tình huống”5 Các nhà sư phạm Pháp còn
đưa ra ý kiến phải “Lý thuyết hóa hoạt động
dạy học theo phương pháp tình huống”, theo
đó tình huống giảng dạy được đặt trong một
hệ thống những tác động qua lại giữa người
học- giảng viên-môi trường kiến thức Trong
đó giảng viên có vai trò là được ủy thác và
thể chế hóa, người học được coi là chủ thể
duy lý, người học phải được đặt trong mối
quan hệ tác động qua lại với môi trường
Nhiệm vụ của giảng viên là phải tìm cho ra
những tình huống có thể đem lại cho người
học ý nghĩa của kiến thức được đem ra giảng
dạy6
Ở Việt Nam dạy học bằng phương pháp
tình huống được giới sư phạm quan tâm,
nghiên cứu và ứng dụng trong những năm gần
đây do nhận thức được sự ưu việt của phương
pháp này, các nhà nghiên cứu và ứng dụng đã
đưa ra được định nghĩa bản chất của phương
pháp này, đó là: “Dạy học tình huống là một
phương pháp dạy học được tổ chức theo những
tình huống có thực của cuộc sống, trong đó
người học được kiến tạo tri thức qua việc giải
quyết các vấn đề có tính xã hội của việc học
tập”7 Bản chất của phương pháp dạy học bằng tình huống là thông qua việc giải quyết các tình huống có thực người học có được khả năng thích ứng tốt nhất với môi trường xã hội biến động8
2 Phương pháp tình huống trong giảng dạy luật - Di sản của Langdell
Nói đến phương pháp tình huống trong giảng dạy luật phải nhắc tới Christopher Columbus Langdell (1826-1906) Hiệu trưởng trường Luật Harvard từ năm 1870 đến
18959 Tên tuổi của ông được gắn với phương pháp đào tạo luật nổi tiếng của Mỹ
“phương pháp tình huống” (“case method”), phương pháp mà cho đến nay, trải qua gần
150 năm, không chỉ các trường luật của Mỹ
mà rất nhiều các trường luật khác trên thế giới đã áp dụng phương pháp này vào làm phương pháp chủ yếu để dạy luật
Trước nhiệm kỳ của Langdell việc dạy luật tại các trường luật ở Mỹ được thực hiện chủ yếu thông qua phương pháp thuyết trình truyền thống, học viên được học các nguyên tắc và khái niệm luật thông qua sách giáo khoa và các bài giảng của giảng viên Langdell là người đầu tiên
áp dụng chủ nghĩa Thực nghiệm (“Experimentalism”) vào giảng dạy luật và chính phương pháp này đã trang bị cho học viên luật khả năng phân tích, lập luận để hiểu được luật được áp dụng như thế nào trong cuộc sống
Sự hứng thú của Langdell đối với phương pháp tình huống “case method” bắt nguồn từ quan điểm của ông về pháp luật Vào những năm 1800 nghề luật được hiểu như một kiểu
4 Xem T.V.Cudriaxep (1967); A.M.Machiuskin (1972); N.V Cudơmina; T.N Bondarepckaia; (Nga) và V.Okôn (Ba Lan)
5 Trích theo Phạm Nhật Vũ Uyên, Tạp chí Khoa học ĐHSP TP HCM, số 42 năm 2013
6 Claude Comiti (1991), “Hai thể hiện của vai trò thày giáo ủy thác và thể chế hóa” Báo cáo hội nghị chuyên đề Didatic Toán tại DHSP Huế, trích theo Phạm Vũ Nhật Uyên, nt
7 Xem Trinh Văn Biều (2010), Các phương pháp dạy học tích cực, ĐHSP TPHCM
8 Phan Trọng Ngọ, Dạy học và phương pháp dạy học, 2005, Nhà xuất bản ĐHSP TP HCM
9 Trước khi được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng trường luật, Langdell đã hành nghề luật sư gần 10 năm tại NewYork
và New Hampshire, chủ yếu là chuẩn bị cho các luật sư tham gia phiên tòa
Trang 3nghề thủ công, và việc đào tạo luật giống như
luyện tay nghề10, rất nhiều người đã có nhận
thức như vậy và vì vậy họ cho rằng đào tạo
luật sư không thích hợp trong môi trường đào
tạo của các trường đại học mà nên đào tạo
theo kiểu học việc
Langdell cho rằng đối với những nước
thuộc dòng án lệ như Mỹ, “luật” của các Tòa
án đưa ra trong các phán quyết liên tục phát
triển và lớn lên không ngừng Nghiên cứu kỹ
các vụ việc và các phán quyết của Tòa án
trong các vụ việc các luật sư có thể rút ra
được các nguyên tắc và khái niệm chung
nhất của pháp luật Nhiêm vụ của các nhà
nghiên cứu khoa học pháp luật, giảng viên
như ông là nhìn ra được các nguyên tắc đó,
nghĩa vụ của học viên là phải nghiên cứu kỹ
các vụ việc dưới sự giúp đỡ của giảng viên
để tự phát hiện ra cho mình các nguyên tắc
pháp luật này11
Cũng xuất phát từ quan điểm luật là khoa
học ông cho rằng khoa học cần phải được dạy
trong môi trường đại học và để phản đối lại
những người đã phê phán ông là thuê các giảng
viên có ít kinh nghiệm hành nghề luật sư vào
dạy trong trường luật, ông lý luận rằng nếu đã
là “khoa học” và không phải là nghề “thủ công” (“craft”) thì không nhất thiết phải được dạy bởi những người đang hành nghề luật12
Có lẽ những quan điểm này được ông rút ra từ chính kinh nghiệm của bản thân ông từ những ngày ông còn theo học luật tại trường luật Harvard và trong suốt thời kỳ ông làm tại thư viện của trường này
Một vấn đề đặt ra là làm thế nào để các học viên tiếp cận được các vụ việc? Yêu cầu
họ đến thư viện như ông đã làm là một việc không thực tế vì rất ít ai có khả năng làm việc ngày đêm ở thư viện như ông Thời kỳ còn học và làm việc tại thư viện của Harvard ông gần như sống trong thư viện của trường với việc sưu tầm các bản án của Tòa án để phục
vụ cho việc học luật của mình Thực tế có rất nhiều vụ việc không “nổi trội”, khó đưa ra để phân tích, mổ xẻ, tìm ra chân lý Langdell đã
đi đến một giải pháp là tự ông biên tập lại một cuốn sách bao gồm các tình huống mà ông đã chọn lọc Sản phẩm của thời kỳ này là cuốn sách Luật Hợp đồng được soạn thảo bởi một
hệ thống các vụ việc do ông biên tập và cuốn sách đã được coi là kiệt tác, được trường luật Harvard dùng làm sách giáo khoa cho môn luật hợp đồng và cũng chính là khởi nguồn
10 Xem T.Veblen, the Higher Learning in America 211 (1918) (“Trường Luật được xem như trường luyện kiếm hoặc dạy múa”): Schlegal Langdell’s Legacy, or the Case of the Empty Enveloper, 36 Stan.L.Rev.1517 (1984) Vì quan niệm như vậy nên nhiều người đã học luật như một học nghề chứ không phải học một môn khoa học ở trường luật Thậm chí nhiều người còn hiểu để học được luật thì học nghề là cách học tốt nhất Quan niệm này đã được nghi ngờ bởi chính các nhà học thuật Vào thời của Langdell nhiều trường luật đã tồn tại một cách rất vất vả bởi quan niệm này Trường luật Harvard vào thời điểm đó chỉ có 9 sinh viên luật và họ học cầm chừng, thường xuyên không đến lớp Blackstone đã thất bại khi cố gắng thành lập và duy trì trường luật ở Oxford Dẫn theo Weaver 1991.
“Langdell’s Legacy: Living with the Case Method.” Villanova Law Review 36
11 Xem Address by Dean Langdell, Harvard Law School Association (Số 5, 1886), được in lại ở tjp chí C.Warren, supra note 8, at 361; Batchelder, supra note 8, at 262; 2C.Warren, supra note 8, at 19; Frank, A Plea for LawyerSchool, 56 Yale L.J.1303,1304 (1947) Grey, Langdell’s Orthodoxy , 47 U.Pitt.L.Rev 1,5 (1983) Dẫn theo
Weaver 1991 “Langdell’s Legacy: Living with the Case Method.” Villanova Law Review 36
12 Xem J.Hurst, supra note 8, at 263-64 (trích dẫn Langdell); xem Batchelder, supra note 8, at 439; Fessenden, supra note 8, at 512 Langdell cho rằng giảng viên luật là người cùng đồng hành và mở ra cho học trò của mình một con đường mới mẻ đối với những người học trò nhưng người thày phải là người nắm được rất rõ con đường này Giảng viên luật không nhất thiết phải là những người hành nghề luật giỏi, không nhất thiết phải là những người có kinh nghiệm trong các phiên tòa… nhưng phải là người biết cách học luật Trên thực tế ông cho rằng mình là giảng viên dạy các nguyên tắc và khái niệm luật Xem Eliot, supra note 8, at 520-521
13 Xem Young Christopher Langdell
http://heinonline.org/HOL/LandingPage?handle=hein.journals/jled52&div=22&id=&page=
Trang 4cho việc hình thành cơ sở dữ liệu luật
Westlaw nổi tiếng sau này13
3 Nội dung của phương pháp tình huống
Một trong những điều ảnh hưởng lớn tới
việc hình thành phương pháp tình huống đối
với Langdell là học thuyết của John Locke’s14
về đào tạo: đó là động viên các học viên phát
triển tư duy môt cách chủ động, thử thách họ
bằng kiến thức vượt trội, làm việc theo phương
pháp từ cụ thể đến khái quát… Nhưng trên tất
cả Langdell làm theo nguyên tắc cơ bản của
Locke là đưa ra các vấn đề một cách thật cụ thể
với gốc nguyên thủy của nó chứ không phải là
các nguyên tắc trừu tượng15
Phương pháp tình huống của Langdell
được sử dụng trong đào tạo luật được cấu
thành bởi 3 yếu tố quan trọng không thể thiếu
được:
Các vụ việc có thật được xét xử tại Tòa án
Học viên phân tích vụ việc và tự đưa ra
quan điểm của mình đối với vụ việc dưới sự
hướng dẫn của giảng viên
Quá trình hướng dẫn học viên tự rút ra kết
luận được thực hiện bởi phương pháp Socrates
với một hệ thống các câu hỏi được sắp xếp theo
chủ ý của giảng viên
Dưới đây sẽ phân tích từng yếu tố trong nội
dung của phương pháp tình huống của
Langdell
3.1 Lựa chọn vụ việc/tình huống
Như đã phân tích trên đây, việc đào tạo
bằng phương pháp tình huống được thực hiện
bởi việc sử dụng các vụ việc có thật đã được
xét xử tại Tòa án Nội dung một vụ việc đưa ra
để học tập thông thường bao gồm các thành
phần sau:
a Nội dung sự việc:
i) Tường thuật lại toàn bộ nội dung vụ việc
và các bên;
ii) Yêu cầu của bên nguyên đơn
b Vấn đề tranh luận
iii) Toàn bộ nội dung Phán quyết của Tòa án iv) Phân tích từng yêu cầu của nguyên đơn
và đánh giá, nhận định của Tòa án
c Kết luận
3.2 Sử dụng tình huống để phân tích các khái niệm, điều luật cụ thể và phát triển các
kỹ năng của học viên
Sau khi được đọc toàn bộ nội dung sự việc trên, các học viên sẽ được giảng viên hướng dẫn cách phân tích vụ việc trên lớp Phương pháp tình huống phát triển khả năng đọc và
phân tích vụ việc, một trong những kỹ năng rất
cơ bản của luật sư Tuy nhiên, trước khi phân
tích vụ việc trên lớp cùng với giảng viên, học viên thường phải nắm được thật tốt nội dung
vụ việc bằng cách chuẩn bị và trả lời bốn câu hỏi cơ bản trong vụ việc như sau:
(1) Các dữ kiện, tình tiết pháp lý của tình huống vụ việc;
(2) Các vấn đề pháp lý mà Tòa án đưa ra giải quyết;
(3) Lập luận Tòa án đã sử dụng là cơ sở để ban hành quyết định;
(4) Phán quyết của Tòa án đối với các vấn
đề pháp lý
Học viên năm thứ nhất thường được yêu cầu chuẩn bị bài với việc viết lại tóm tắt vụ việc theo bốn phần nêu trên Những nội dung này sẽ được cùng nhau xem xét, phân tích, tranh luận trên lớp và kể cả khi ôn tập chuẩn bị thi
3.3 Sử dụng phương pháp Socrates
Phương pháp Socrates được xem là phương pháp bổ trợ để giảng dạy phương pháp tình
14 John Locke (1632–1704) là nhà triết học, nhà hoạt động chính trị người Anh Ông là nhà triết học theo trường phái chủ nghĩa kinh nghiệm Anh trong lĩnh vực nhận thức luận ông trở thành một nhà tư tưởng lớn của phong trào Khai sáng và ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc Cách mạng Mỹ và bản Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa
Kỳ Ông nhấn mạnh vai trò và quyền năng của giáo dục chính là tạo ra sự trải nghiệm trong tâm trí của trẻ em trong quá trình trưởng thành Mục tiêu rộng lớn của giáo dục chính là để có những con người phù hợp với cuộc sống, với thế giới chứ không phải là để vào đại học.
15 Xem Young Christopher Langdell
http://heinonline.org/HOL/LandingPage?handle=hein.journals/jled52&div=22&id=&page=
Trang 5huống Đây là phương pháp dạy học nổi tiếng
được nhà triết học Socrates sáng tạo ra để dạy
triết cho các học viên của mình vào thời của
ông Phương pháp Socrates là phương pháp
dạy học bằng cách liên tục đặt ra một chuỗi các
câu hỏi cho các học viên, hướng họ tới kết
luận, chân lý mà giảng viên muốn đưa ra,
nhưng giảng viên dẫn dắt các học viên tự đi
đến các chân lý đó bằng chính việc trả lời các
câu hỏi do giảng viên dẫn dắt Tương tự như
vậy trong dạy luật phương pháp Socrates được
sử dụng để phân tích sự việc từ đó học viên tự
rút ra được các nguyên tắc, khái niệm về luật
pháp cùng với phương pháp tình huống Thông
thường phương pháp Socrates được sử dụng
cùng với phương pháp tinh huống như được
miêu tả dưới đây
Bắt đầu bằng việc giảng viên cung cấp nội
dung vụ việc tình huống cho học viên trước
buổi học để học viên có thời gian nghiên cứu
và chuẩn bị tốt cho buổi học Trên lớp giảng
viên sẽ bắt đầu bằng việc yêu cầu một học viên
A nêu tóm tắt nội dung sự việc, giảng viên có
thể gọi bất kỳ học viên nào với câu hỏi:
“A, Anh/chị có thể cho biết nội dung vụ
Brown chống lại Jones như thế nào không?”
Bất kỳ học viên nào cũng phải trả lời được
câu hỏi này vì họ đã phải đọc kỹ vụ việc trước
khi lên lớp Sau khi học viên A tóm tắt nội
dung sự việc, giảng viên có thể hỏi tiếp:
“Anh/chị có đồng ý với quan điểm của
HĐXX trong vụ việc này không và giải thích
tại sao lại có quan điểm như vậy”
Học viên A sẽ nêu quan điểm của mình đối
với vụ việc đang học Sau đó giảng viên sẽ tiếp
tục hỏi:
“Dựa trên các cơ sở và tình tiết nào mà
anh/chị có nhận định như vậy, hãy nêu các tình
tiết này?”
Giảng viên sẽ tiếp tục dẫn dắt bằng các câu
hỏi bắt buộc học viên phải tư duy như một luật
sư như:
“Các tình tiết pháp lý của sự việc là gì?”
Mối quan hệ pháp luật ở vụ việc này là gì”
Vậy việc áp dụng luật ở vụ việc này đã
đúng chưa?”
………
Đặc điểm của phương pháp này là giảng viên phải đự đoán được câu trả lời của học viên
để đưa ra các câu hỏi theo hướng mình muốn
và học viên phải tự đưa ra được kết luận Giảng viên có thể hỏi nhóm học viên có ý kiến không cùng quan điểm với học viên A Thông thường lớp học sẽ chia thành các nhóm có quan điểm khác nhau, sau đó các nhóm này phải cùng nhau tranh luận và đưa ra các cơ sở thuyết phục các nhóm khác Sau mỗi buổi học như vậy, học viên biết cách phân tích sự việc, nắm bắt các tình tiết pháp lý có ý nghĩa của sự việc, nắm được cách
áp dụng luật vào các tình huống trong cuộc sống… Các quan điểm, khái niệm luật cũng sẽ được các học viên ghi nhớ Việc ghi nhớ không phải là học thuộc các khái niệm trong giáo trình
mà là bằng cách vận dụng, tranh luận và tự đưa
ra chân lý Phương pháp này được xem là phương pháp giảng dạy ở mức độ cao nhất trong các phương pháp sư phạm
4 Các ưu điểm của phương pháp tình huống
Qua phân tích về phương pháp tình huống trên chúng ta có thể thấy câu trả lời cho việc tại sao phương pháp giảng dạy luật tình huống trải qua gần 150 năm được hình thành tại trường luật Harvard, cho đến nay phương pháp này đã vượt qua không gian và thời gian vẫn tiếp tục được phát triển tại trường luật ở các nước khác trên thế giới
Bản chất của phương pháp tình huống mà
Langdell đã sáng tác và sử dụng là “phương
pháp giảng dạy luật dựa trên các vụ việc có thật đã được xét xử tại Tòa án, sau khi đọc và nghiên cứu các vụ việc này theo 4 hướng câu hỏi để làm rõ nội dung vụ việc, giảng viên sẽ là người dẫn dắt học viên tự rút ra các nguyên tắc pháp luật và cách áp dụng các nguyên tắc luật vào các trường hợp thực tiễn phong phú trong cuộc sống”
Với nội dung này phương pháp tình huống
có những ưu điểm vượt trội sau đây:
Phương pháp tình huống lấy từ các vụ việc có thật nên bài học rất phong phú và thực tiễn Các bên trong vụ việc là các bên có thật và các sự việc
có thật, vì vậy gây sự hứng thú học tập từ các học viên, khác với các tình huống tẻ nhạt được xác lập theo phương pháp giả định trong giáo trình
Trang 6Thông qua việc sử dụng nghiên cứu các vụ
án, học viên được rèn luyện các kỹ năng rất
quan trọng của luật sư nói riêng và của các
chức danh tư pháp khác nói chung, bao gồm:
Một là, kỹ năng đọc vụ án/hồ sơ: với việc
định hướng cho học viên đọc vụ án và trả lời
các câu hỏi mà giảng viên đã đưa ra, học viên
luyện được kỹ năng đọc vụ án một cách chính
xác cùng với việc trả lời các câu hỏi này Các
câu hỏi đưa ra nhằm giúp học viên nắm được
vụ việc bằng các thông tin, tình tiết mà người
làm luật cần phải biết, đó là:
+ Tìm ra các dữ kiện, tình tiết pháp lý của
tình huống vụ việc
+ Tìm ra các vấn đề pháp lý mấu chốt của
vụ việc và các qui định mà Tòa án đã áp dụng
để xử lý các quan hệ pháp luật này
+ Nhận biết chính xác phán quyết của Tòa
án đối với các vấn đề pháp lý trong vụ việc (đối
với các nước theo truyền thống án lệ thì đây
chính là rút ra các Qui định pháp luật mà các
Tòa án sau này áp dụng để xét xử) và
+ Biết cách phân tích, lập luận về việc Tòa
án đã sử dụng các qui định pháp luật như thế
nào để giải thích phán quyết mình đã đưa ra
Như vậy, rõ ràng sau khi đọc một vụ việc
và trả lời các câu hỏi trên, học viên đã nắm rất
chắc bản chất các vấn đề pháp lý của vụ việc,
và xác định được căn cứ Tòa án đi đến quyết
định như vậy Việc học dưới góc độ tiếp cận
các vụ việc như vậy giúp học viên luyện được
thêm kỹ năng “đọc” của luật sư
Hai là, kỹ năng phân biệt và nhận biết các
tình tiết pháp lý của vụ việc: Việc nhận biết các
dữ kiện, các tình tiết pháp lý là cơ sở để giải
quyết vụ việc là một trong các kỹ năng rất quan
trọng của luật sư Phương pháp tình huống đưa
ra cho học viên toàn bộ nội dung của vụ việc
với bức tranh có thật của cuộc sống Học viên
phải nhận biết được các tình tiết nào là tình tiết
pháp lý, tình tiết pháp lý nào là cơ sở và có ý
nghĩa trong giải quyết vụ việc Phương pháp
tình huống đã giúp học viên được chạm vào
cuộc sống thật với sự phức tạp và đa dạng của
nó chứ không phải chỉ là học trên lớp với các
lý thuyết chung và trìu tượng, qua đó học viên được rèn luyện kỹ năng nhận biết và phân biệt các dữ kiện pháp lý trong toàn bộ bức tranh cuộc sống sinh động
Ba là, kỹ năng phân tích, tư duy để đưa ra cách giải quyết hợp lý, đúng đắn nhất cho một
vụ việc (legal reasoning): Đây là một kỹ năng
mà giới sư phạm trong các trường luật Mỹ cho
là quan trọng nhất đối với luật sư và là một môn học bắt buộc mà các học viên phải học năm đầu tiên Người học phải biết tư duy, suy luận, đánh giá chứng cứ để tái hiện lại sự thật khách quan của vụ việc, từ đó áp dụng được các qui định pháp luật vào và đưa ra phán quyết hợp lý nhất cho vụ việc cụ thể Có thể hiểu đây là cách mà các luật sư và thẩm phán giải thích cho công chúng hiểu về pháp luật Với việc tư duy, đặt ra các câu hỏi và trả lời, lý giải tại sao Thẩm phán lại đưa ra phán quyết này dựa trên các tình tiết pháp lý của vụ việc, cách giảng dạy bằng phương pháp tình huống
sẽ giúp người học hình thành kỹ năng tư duy của luật sư
Bốn là, kỹ năng tìm và áp dụng đúng các điều luật, các qui định pháp luật vào tình huống thực tế của cuộc sống: Đây cũng là một
kỹ năng quan trọng của luật sư Với việc phân tích vụ việc, luật sư phải tìm được đúng các qui định pháp luật áp vào xử lý vụ việc cụ thể Bằng việc đọc các tình huống này, học viên được biết các thẩm phán đã sử dụng các nguyên tắc và áp dụng các điều luật như thế nào
Người học được nghiên cứu và phân tích các vụ việc đã xét xử một cách có hệ thống Đặc biệt là đối với các nước có truyền thống luật án lệ, học viên được học cách các Thẩm phán đã thận trọng đưa ra các nguyên tắc pháp luật như thế nào thông qua việc giải thích các điều khoản được qui định trong luật hoặc Hiến pháp và áp dụng các nguyên tắc này vào giải quyết các vụ việc trong cuộc sống, từ đó hệ thống hóa các qui định này cho bản thân mình
để áp dụng trong các vụ việc cần xử lý sau này
Trang 7Một trong các giá trị lớn nhất của phương
pháp tình huống là người học được tự trải
nghiệm và tự rút ra chân lý Việc nghiên cứu,
phân tích kỹ các vụ việc bằng con mắt khách
quan, trả lời các câu hỏi của giảng viên đưa ra
một cách có chủ ý và hệ thống, phương pháp
tình huống giúp cho người học tự đưa ra các
kết luận và đưa ra cách giải quyết của mình
theo những nhận định của chính họ cả về kiến
thức luật nội dung và kiến thức kỹ năng Đặc
điểm của phương pháp giảng dạy tình huống
áp dụng câu hỏi Socrates là không áp đặt quan
điểm của giảng viên cho học viên Tất cả các
kết luận đều dựa trên các nhận định và quan
điểm của học viên tự đưa ra, giảng viên là
người dẫn dắt họ đi trên con đường tìm tòi
chân lý này Điều này sẽ làm cho người học ghi
nhớ tốt hơn những điều được học, có sự tự tin
và khả năng giải quyết các vụ việc tốt hơn sau
này trong công việc của mình
5 Hạn chế của phương pháp tình huống
Như trên đã phân tích, đặc điểm của phương
án tình huống của Langdell là tìm ra các qui tắc,
khái niệm và hệ thống các qui phạm pháp luật
thông qua việc phân tích các tình huống cụ thể
Có thể nói đối với hệ thống các nước theo luật án
lệ, đây là một phương pháp rất thành công bởi
đặc trưng của hệ thống pháp luật, các quyết định
của Tòa án được áp dụng như nguồn luật Tuy
nhiên đối với các nước theo hệ thống luật thành
văn như Việt Nam các bản án không được áp
dụng như nguồn luật trong quá trình xét xử Vì
vậy đối với việc giảng dạy luật bằng phương
pháp tình huống ở Việt Nam, các nguyên tắc pháp
luật, qui định pháp luật được rút ra qua các tình
huống mang tính củng cố các nguyên tắc, qui
định của pháp luật đã được hình thành ở học viên
thông qua chương trình đào tạo cử nhân, nơi chủ
yếu đào tạo luật thực định mang tính hàn lâm cao
Mặt khác, ngay cả đối với hệ thống luật án
lệ, phương pháp đào tạo bằng các tình huống
cũng chỉ ra các hạn chế nhất định Một số nhà
lý luận đã chỉ ra rằng số lượng các vụ việc ngày càng tăng và rất đa dạng, do đó phải lựa chọn các tình huống có tính sử dụng cao và không sử dụng các vụ việc vô dụng (“useless”) Tuy nhiên nếu luật là một môn khoa học thì việc lựa chọn các tình huống của Langdell dựa trên
cơ sở khoa học nào? Thế nào là vụ việc
“useless” nếu tất cả các vụ việc để thể hiện một nguyên tắc pháp luật nào đó? Câu trả lời là không có Bên cạnh đó hạn chế lớn nhất của Langdell là “đi từ cái cụ thể đến cái chung”, trong khi đó luật sư không chỉ đi từ cái cụ thể đến cái chung mà còn phải đi “từ cái chung đến cái cụ thể”, và chính vì đi từ cái “cụ thể” đến cái chung nên phương pháp này đã hạn chế khả năng áp dụng pháp luật một cách chính xác vào thực tế các mối quan hệ xã hội phức tạp16 Nếu người học không có khả năng phân tích sâu, máy móc áp dụng một kết luận cụ thể của Tòa
án vào một vụ việc cụ thể khác mà không có cái nhìn tổng quát và không nắm được sự khác biệt các tình tiết của vụ việc khác thì việc áp dụng này được coi là không thành công Nói cách khác mỗi vụ việc đều có những đặc điểm khác biệt riêng của nó, người luật sư phải nắm được nguyên tắc và tinh thần chung của luật để
áp dụng vào các tình huống cụ thể, tức là đi từ
“cái chung” đến “cái riêng” chứ không phải nắm được phán quyết của Tòa án đối với một
vụ việc cụ thể để áp vào các vụ việc khác, tức
là đi từ “cái riêng” đến “cái chung” Đây cũng chính là quan điểm của Lý luận Nhà nước và Pháp luật của các nước theo truyền thống luật
xã hội chủ nghĩa đối với nguyên tắc án lệ của các nước theo truyền thống Common Law Cần ghi nhận các quan điểm này vào việc giảng dạy
và áp dụng luật trong thực tế
6 Sử dụng phương pháp tình huống trong giảng dạy tại Học viện Tư pháp
Với các ưu điểm được phân tích nêu trên,
có thể nói phương pháp tình huống là một trong các phương pháp giảng dạy tốt nhất nên
16 Xem ToddD.Rakoff và Martha Minow, nt.
Trang 8được áp dụng đối với việc giảng dạy tại Học
viện Tư pháp, nơi trang bị cho các chức danh
Tư pháp không chỉ các kỹ năng hành nghề cần
thiết cho công việc của mình sau này mà còn
đồng thời củng cố kiến thức, xây dựng thành
hệ thống cho học viên các kiến thức về luật nội
dung Có thể thấy rõ sự khác biệt của người
học được đào tạo bằng phương pháp tình
huống so với việc đào tạo bằng phương pháp
thuyết trình hay các phương pháp khác
Người học được phát huy tính chủ động, được
khích lệ tư duy, được tự do đưa ra quan điểm
của mình, tự thực hiện các kỹ năng này, tự trải
nghiệm và tự đưa ra các kết luận cho mình
Bên cạnh đó phương pháp tình huống còn có
một loạt các yếu tố ưu việt khác như tạo cho
người học sự tự tin hơn sau này khi bước vào
thực tế công việc vì đã được tiếp xúc với thực
tế rất nhiều qua các vụ việc có thật; được thực
hiện các kỹ năng này trong một môi trường
an toàn là môi trường sư phạm… Đặc biệt
phương pháp giảng dạy bằng tình huống có
thể áp dụng với đào tạo tất cả các chức danh
tư pháp, bao gồm Thẩm phán, Luật sư, Kiểm
sát viên, Công chứng, Chấp hành viên và có
thể áp dụng để giảng dạy tất cả các kỹ năng
của các chức danh này
Tuy nhiên giảng dạy bằng phương pháp
tình huống yêu cầu người giảng viên thực hiện
nhiều công đoạn để chuẩn bị bài, nắm chắc vấn
đề giảng dạy, có khả năng tư duy, lập luận và
nắm được các yếu tố tâm lý của học viên để
dẫn dắt họ đi đến chân lý Nói cách khác,
phương pháp tình huống yêu cầu cao hơn đối
với giảng viên so với phương pháp thuyết
trình Người giảng viên phải thật vững về lý
thuyết, tư duy rõ ràng, rành mạch và có kinh
nghiệm nhuần nhuyễn trong việc áp dụng các
điều luật cũng như kỹ năng để có thể giải thích
và giúp cho học viên đi đúng đường khi họ đưa
ra các tư duy phản biện Việc chuẩn bị cho bài giảng cũng yêu cầu người giảng viên phải thực hiện nhiều công đoạn công phu hơn và thông thường là cả một quá trình Dưới đây là công tác chuẩn bị của người giảng viên cho các bài giảng áp dụng phương pháp tình huống
6.1 Công tác chuẩn bị cho bài giảng áp dụng phương pháp tình huống
Bước 1: Xác định mục tiêu bài học: Trước
hết giảng viên phải xác định được mục tiêu của bài học cần truyền đạt kiến thức gì cho hoc viên, xác định các kiến thức và các kỹ năng học viên cần nắm được/thực hiện được sau bài học
Bước 2: Sau khi xác định bài học giảng
viên sẽ phải lựa chọn tình huống Trên thực tế
có nhiều tranh luận thế nào là tình huống/vụ việc Tác giả muốn dừng lại ở đây để thống nhất quan điểm về tình huống
Theo quan điểm triết học17, tình huống được nghiên cứu như một tổ hợp các mối quan
hệ xã hội cụ thể, mà đến một thời điểm nhất định liên kết con người với môi trường, biến con người thành một chủ thể của một hoạt động có đối tượng nhằm đạt được một mục đích nhất định Trong Từ điển tiếng Việt, tình huống là toàn thể những sự việc xảy ra tại một nơi, trong một thời gian hoặc một thời điểm Trong giảng dạy, các nhà sư phạm cho rằng một tình huống thông thường chưa phải là một tình huống dạy học, một đơn vị cấu trúc của bài lên lớp, chưa chứa đựng mối liên hệ mục đích - nội dung - phương pháp theo chiều ngang tại một thời điểm nào đó với nội dung là một đơn vị kiến thức18 Tình huống thông thường chỉ trở thành tình huống dạy học khi người giảng viên đưa những nội dung cần truyền thụ vào trong các sự kiện tình huống và cấu trúc các sự kiện sao cho phù hợp với lô zic
17 Xem Chủ nghĩa Mác bàn về giáo dục, Nhà xuất bản Sự thật, Hà nội, 1959
18M.A.Danilop, M.N.Xkatkin (1980), Lý luận dạy và học, NXB Giáo dục Trích theo Phạm Vũ Nhật Uyên, Tạp
chí Khoa học ĐHSP TP HCM, số 42 năm 2013
19 Xem Phạm Vũ Nhật Uyên Tạp chí Khoa học ĐHSP TP HCM, số 42 năm 2013
Trang 9sư phạm, để khi người học giải quyết nó sẽ đạt
được mục tiêu dạy học19
Trên thực tế, khi giảng luật, Langdell đã
biên soạn các tình huống để đưa vào cuốn Luật
Hợp đồng theo một hệ thống nhất định Tuy
nhiên khi biên soạn Langdell đã giữ nguyên
các tình tiết của từng vụ việc
Theo tác giả vai trò của người giảng viên
rất quan trọng trong việc chọn lựa các tình
huống để giảng những nội dung theo một ý đồ
có sẵn của mình Tùy vào từng bài học, kiến
thức mà giảng viên mong muốn các học viên
nắm được mà lựa chọn và đưa ra các tình
huống phù hợp với mục tiêu của mình Giảng
viên có thể giữ nguyên các tình huống, vụ việc
có thật để giảng dạy nhưng trong một số trường
hợp cũng có thể biên soạn lại, thêm bớt các tình
tiết cho phù hợp với mục tiêu giảng dạy của
mình Điều quan trọng hơn là để có thể thực
hiện tốt phương pháp giảng dạy này giảng viên
nên xây dựng cho mình một kho dữ liệu các
tình huống Các tình huống này phải có tính
liên hoàn, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp
đến cao và các tình huống chứa đựng đầy đủ
các nội dung cần giảng dạy
Cách biên soạn và trình bày tình huống để
chuyển tải đến học viên cũng là một kỹ năng
Có những bài tập kỹ năng áp dụng những tình
huống mà giảng viên đã biên tập lại ngắn gọn,
đầy đủ nhưng vẫn phải chứa đựng đầy đủ các
thông tin cần thiết cho học viên học và thực
hiện rèn luyện các kiến thức, các kỹ năng theo
mục đích của bài Những tình huống này chỉ
ngắn ngọn trong vài trang Ví dụ đối với bài
Kỹ năng soạn thảo di chúc, giảng viên chỉ cần
soạn nội dung vụ việc và các yêu cầu của
khách hàng trong 2 trang Trên cơ sở đó học
viên đã có thể thực hiện được bài tập rèn luyện
kỹ năng viết mà không cần phải đưa toàn bộ
bộ hồ sơ khách hàng bao gồm: Chứng minh
thư nhân dân của người bố và mẹ để lại tài sản,
Giấy khai sinh của các con, hồ sơ chứng minh
quyền sở hữu tài sản, biên bản nội dung làm
việc với khách hàng trong đó có yêu cầu của
khách hàng… Tất cả các thông tin này có thể được giảng viên tóm tắt lại trong bài tập tình huống một cách ngắn gọn chứ không cần photo copy toàn bộ các tài liệu này Cách sọan thảo tình huống này giúp tiết kiệm chi phí cho việc chuẩn bị và in ấn
Tuy nhiên cũng có những bài học giảng viên cần phô tô lại toàn bộ bộ hồ sơ vụ việc có thật đã được thay đổi các thông tin để đảm bảo
bí mật của khách hàng, ví dụ bài Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, Kỹ năng xác định tình tiết
và vấn đề pháp lý mấu chốt của vụ việc …
Bước 3: Chuẩn bị các câu hỏi để học viên
nghiên cứu tình huống Yêu cầu của bài học của Học viện là các học viên phải chuẩn bị thật kỹ bài ở nhà, nghiên cứu các tình huống
Vì vậy, cuối mỗi tình huống giảng viên đặt khoảng 3 đến 5 câu hỏi giúp học viên chuẩn bị bài ở nhà tốt hơn trước khi lên lớp Các câu hỏi phải được ghi rõ dưới các tình huống Có thể tham khảo 4 yếu tố yêu cầu học viên chuẩn bị tình huống của Langdell như đã nêu
ở phần trên
Bước 4: Chuẩn bị giáo án giảng Như trên
đã nói, việc kết hợp phương pháp Socrates đưa
ra các câu hỏi có tính hệ thống, dẫn dắt để học viên tự mình rút ra cách giải quyết, đưa ra kết luận về chân lý là ưu điểm nổi trội của phương pháp tình huống và yêu cầu một sự chuẩn bị rất công phu của giảng viên Giảng viên cần xây dựng kịch bản các câu hỏi của mình, sắp xếp mang tính chất hệ thống, từ thấp đến cao, gợi mở để học viên trả lời theo hướng của mình Như vậy, giảng viên cũng phải hình dung trước câu trả lời của học viên sẽ là như thế nào để đưa ra các câu hỏi kế tiếp Có thể nói đây là công việc công phu nhất của việc chuẩn bị bài giảng sau việc soạn thảo và lựa chọn tình huống
Bước 5: Xây dựng câu hỏi thảo luận, ngoài
bộ câu hỏi nêu trên giảng viên còn có thể chuẩn
bị sẵn các câu hỏi cho học viên thảo luận về tình huống trên lớp Các câu hỏi cần mang tính
Trang 10gợi mở, khẳng định lại các vấn đề học viên đã
đúc kết và mở rộng kiến thức bài học
Bước 6: Chuẩn bị kịch bản: Sauk hi chuẩn bị
các bước trên giảng viên cần chuẩn bị kịch bản
cho toàn bộ buổi giảng, phân chia thời lượng cho
các phần: Phân tích tình huống, đối thoại với học
viên theo phương pháp Socrates, chia học viên
thành các nhóm để thảo luận và đưa ra các quan
điểm của nhóm…
Bước 7: Chuẩn bị tiêu chí đánh giá: Bài
học được kết thúc bằng công tác đánh giá
Giảng viên cần chuẩn bị trước các tiêu chí
đánh giá để có thể đánh giá ngay trên lớp
trong quá trình học của thày và trò Có thể
đánh giá theo nhóm nhưng cũng có thể đánh
giá từng cá nhân học viên
6.2 Sử dụng phương pháp tình huống
Như trên đã phân tích, phương pháp tình
huống có thể áp dụng để dạy nhiều kiến thức,
trong đó có cả kiến thức luật thực định và kiến
thức kỹ năng
Để dạy kiến thức luật thực định, chúng
nên đi theo qui trình giải thích các qui phạm
pháp luật trước, sau đó dùng tình huống để
minh họa và củng cố các kiến thức này
Phương pháp tình huống có thể áp dụng để
học viên củng cố kiến thức luật định cơ bản,
cung cấp kiến thức chuyên sâu trong các lĩnh
vực, xử lý các tình huống chưa có có qui định
pháp luật cụ thể để điều chỉnh các mối quan
hệ xã hội nhất định…
Đặc biệt đối với các kiến thức kỹ năng,
việc áp dụng các phương pháp tình huống để
rèn luyện kỹ năng là một phương pháp hữu
hiệu Như trên đã nêu, tất cả các kỹ năng đều
có thể dùng phương pháp tình huống để rèn
luyện Tuy nhiên các kỹ năng cơ bản chủ yếu
bao gồm:
Kỹ năng đọc, tóm tắt tình huống, phân tích
các cơ sở, dữ kiện pháp lý
Kỹ năng xác định các tình tiết pháp lý của
vụ việc
Kỹ năng áp dụng pháp luật, Kỹ năng phân
tích, lập luận tại sao lại áp dụng văn bản này
Các kỹ năng khác trong quá trình tố tụng Qui trình tổ chức dạy 1 tình huống vụ việc không nhất thiết phải đi theo trình tự của Langdell Tùy vào từng bài học chúng ta có thể đổi các qui trình hoặc kịch bản của buổi học, chúng ta có thể cho lớp phân tích tình huống, trả lời câu hỏi theo phương pháp Socrates rồi mới thảo luận nhóm hoăc ngược lại, chúng ta có thể yêu cầu học viên tóm tắt bài học rồi chuyển sang thảo luận nhóm trước rồi mới hỏi và trả lời theo phương pháp Socrates
`Tóm lại, phương pháp tình huống là một
phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm, chú trọng đến vấn đề phát huy tính sáng tạo, tính chủ động và trang bị cho người học khả năng áp dụng ngay các kiến thức này vào cuộc sống Việc áp dụng phương pháp tình huống cũng đồng thời phát huy tính tự chủ, sáng kiến của người dạy./
Danh mục tài liệu tham khảo
1 Phạm Vũ Nhật Uyên, Tạp chí Khoa học ĐHSP TP HCM, số 42 năm 2013
2 Trinh Văn Biều (2010), Các phương
pháp dạy học tích cực, ĐHSP TPHCM
3 Phan Trọng Ngọ, Dạy học và phương pháp
dạy học, 2005, Nhà xuất bản ĐHSP TP HCM
4 Address by Dean Langdell, Harvard Law School Association (Số 5, 1886), được
in lại ở tjp chí C.Warren, supra note 8, at 361; Batchelder, supra note 8, at 262; 2C.Warren, supra note 8, at 19; Frank, A Plea for LawyerSchool, 56 Yale L.J.1303,1304 (1947) Grey, Langdell’s Orthodoxy , 47 U.Pitt.L.Rev 1,5 (1983) Dẫn theo Weaver 1991 “Langdell’s Legacy: Living with the Case Method.”
Villanova Law Review 36
5 Chủ nghĩa Mác bàn về giáo dục, Nhà xuất bản Sự thật, Hà nội, 1959
6 M.A.Danilop, M.N.Xkatkin (1980), Lý
luận dạy và học, NXB Giáo dục Trích theo
Phạm Vũ Nhật Uyên, Tạp chí Khoa học ĐHSP TP HCM, số 42 năm 2013