1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự hình thành các trường phái triết học từ cổ đại đến hiện đại đông và tây kể tên 1 số nhà triết học tiêu biểu

19 120 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 10,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu hỏi thảo luận nhóm:1.Sự hình thành các trường phái triết học từ cổ đại đến hiện đại Đông và Tây?. Sự hình thành các trường phái triết học từ cổ đại đến hiện đại 1.. “Một điều mà tôi

Trang 1

Triết học Mác-Lenin

Nhóm thực hiện: 6

GVHD: Trần Thị Thảo

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM

Trang 2

Câu hỏi thảo luận nhóm:

1.Sự hình thành các trường phái triết học từ cổ đại đến hiện đại Đông và Tây? Kể tên 1 số nhà triết học tiêu

biểu.

2 Triết học có mấy vấn đề? Vấn đề nào? Tại sao vấn đề

đó cơ bản?

Nào cùng tớ Mèo ú- Doraemon quay ngược thời gian nào!

HEHHEEEE!

Trang 3

Truyền thống triết học phương Tây bắt đầu từ những người

Hy Lạp, các nhà triết học phương Tây chính yếu gồm có

Socrates, Plato, Aristotle, Epicurus, Sextus Empiricus,

Augustine xứ Hippo Triết học phương Tây đôi khi được phân

chia thành nhiều nhánh khác nhau, dựa theo các loại câu hỏi

được quan tâm Các thể loại thường thấy nhất là: siêu hình học, nhận thức luận, luận lý học, và mỹ học Một số phân nhánh

khác gồm logic, triết học tinh thần, triết học ngôn ngữ, triết

học chính trị

I Sự hình thành các trường phái triết học từ cổ đại đến hiện đại

1 Triết học phương Tây

Trang 4

Có thể phân chia triết học Hy Lạp cổ đại thành thời kỳ tiền Socrates, thời

kỳ Socrates và thời kỳ hậu Aristotle

a Triết học Hy Lạp - La Mã ( cổ đại):

Trường học thiên đường

Trang 5

- Thời kỳ tiền Socrates có đặc trưng là các suy đoán siêu hình học, thường dưới hình thức của các mệnh đề tổng quát có ý

nghĩa bao hàm lớn, chẳng hạn

"Tất cả đều là lửa", hay "Tất cả đều biến đổi".

“Một điều mà tôi biết rất rõ là tôi không biết gì”

-Socrates (470-399

BC) Thời kỳ Socrates được đặt tên để vinh

danh nhân vật nổi bật nhất của triết học phương Tây, Socrates, người đã cùng với Plato, học trò của mình, cách mạng hóa triết học qua việc sử dụng phương pháp Socrates, nhờ đó đã phát triển những phương pháp rất tổng quát cho việc định nghĩa, phân tích và tổng hợp

Trang 7

- Thời kỳ trung cổ của triết học bắt đầu từ sự sụp đổ của văn minh La Mã và bình minh của Ki-tô giáo, Hồi giáo và Do Thái giáo Thời kỳ Trung cổ mang đến triết học kinh viện Ki-tô giáo

b Triết học thời Trung cổ:

- Nhiều người trong số các triết gia này đã lấy xuất phát điểm của mình là các lý thuyết của Plato hay Aristotle Tuy nhiên, những người khác, chẳng hạn Tertullian, lại phủ nhận triết học Hy Lạp vì cho rằng nó không đội trời chung với mặc khải và đức tin

Triết học đứng giữa bảy môn học khai phóng; hình ảnh từ

Hortus deliciarum của Herrad von Landsberg (thế kỷ 12).

Trang 8

- Triết học hiện đại thường được xem là được khởi đầu từ nghiên cứu của René Descartes

Nghiên cứu của ông đã chịu ảnh hưởng lớn từ các trao đổi của ông với các nhà triết học khác

- Triết học thời Trung cổ đã quan tâm chủ yếu tới các luận cứ từ giai cấp thống trị, và việc phân tích các kinh sách cổ bằng lôgic của Aristotle Thời Phục hưng đã thấy một dòng chảy các quan niệm mới, các quan niệm này đòi hỏi xem xét lại quyền lực

c Triết học phương Tây hiện đại:

Trang 9

Triết học phương Đông kế thừa các truyền thống lớn bắt nguồn từ hoặc đã phổ biến tại Ấn Độ và Trung Quốc cổ Triết học Ấn Độ có lẽ

có thể so sánh được với triết học phương Tây hơn cả Ví dụ, trường phái Nyaya của triết học Hindu đã khám phá logic như một số nhà triết học phân tích hiện đại; tương tự, trường phái Carvaka mang đặc điểm vô thần và kinh nghiệm chủ nghĩa Tuy nhiên, có những

sự khác biệt quan trọng, chẳng hạn triết học Ấn Độ cổ nhấn mạnh vào các học thuyết của trường phái hay các kinh sách cổ, thay vì nhấn mạnh vào cá nhân các triết gia, đa số họ khuyết danh hoặc tên tuổi không được lưu truyền lại

2 Triết học phương Đông:

Trang 10

a Triết học Ba Tư: Chịu ảnh hưởng của tư tưởng Hồi Giáo do Muhammad

sáng lập

Muhammad (khoảng 570  –  632 )

Trang 11

- Trong lịch sử của tiểu lục địa Ấn Độ, theo sau sự thiết lập của nền văn hóa Aryan/Vedic, sự phát triển của các tư tưởng triết học và tôn giáo đã phát triển trong một giai đoạn trên 2 thiên niên kỉ đã đưa đến sự phát triển của 6 trường phái của triết học Hindu aastika (chính thống) Những trường phái này được xem là đồng nghĩa với Ấn Độ giáo, là một phát triển của Tôn giáo Veda lịch sử

- Triết học Hindu đã làm nên một phần của văn hóa của Nam Á, ảnh hưởng đến tận miền Đông Nam Á

Văn hóa Veda (1600 – 600 TCN)

Trang 12

c Triết học Trung Quốc:

Triết học có ảnh hưởng rất sâu rộng đến nền văn minh Trung Hoa, và cả Đông Á Nhiều trường phái triết học đã được hình thành trong thời kỳ Xuân Thu và Chiến Quốc, và được biết với tên gọi Bách gia chư tử Bốn trào lưu có ảnh hưởng nhất là Nho gia, Đạo gia, Mặc gia và Pháp gia Sau này, vào thời nhà Đường, Phật giáo từ Ấn Độ cũng trở thành một trào lưu tôn giáo và triết học

Trang 13

+ Platon là thầy giáo của Aristotle và là một triết gia vĩ đại Không chỉ xuất chúng trong lĩnh vực triết học, Platon còn là thiên tài ở nhiều lĩnh vực như văn hóa, giáo dục.

*Một số nhà triết học tiêu biểu

+ Khổng Tử là một triết gia lỗi lạc ở Trung Quốc Ông còn là một nhà tư tưởng, nhà giáo dục, nhà chính trị nổi tiếng, đặc biệt là người sáng lập ra Nho giáo.

+ Lão Tử là một nhân vật quan trọng trong Triết học

Trung Quốc Ông được cho là sống vào thế kỷ 6 TCN và

là người viết Đạo Đức Kinh – cuốn sách của Đạo giáo có ảnh hưởng lớn đến Trung Quốc và nhiều nước khác

+ Niccolo Machiavelli sống vào thời Phục hưng ở Italy Ông là một nhà ngoại giao, nhà triết học chính trị, nhạc gia, nhà thơ, nhà soạn kịch nổi tiếng thế giới.

Trang 14

II Vấn đề cơ bản của triết học Gồm 2 mặt

MẶT THỨ NHẤT TRẢ LỜI CÂU HỎI :  Giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?

Giữa vật chất và ý thức cái nào là tính thứ nhất, cái nào là tính thứ hai Có hai cách trả lời khác nhau dẫn đến hình thành hai khuynh hướng triết học đối lập nhau:

  Những quan điểm triết học cho vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai hợp thành chủ nghĩa duy vật Trong lịch sử tư tưởng triết học có

ba hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật: Chủ nghĩa duy vật chất phác, ngây thơ cổ đại; Chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình thế kỷ XVII – XVIII; Chủ nghĩa duy vật biện chứng.

  Ngược lại, những quan điểm triết học cho ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai, hợp thành chủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩa duy tâm lại được thể hiện qua hai trào lưu chính: Chủ nghĩa duy tâm khách quan (Platon, Hêghen…) và chủ nghĩa duy tâm chủ quan (Beccli, Hium…)

Trang 15

Mặt thứ hai trả lời cho câu hỏi:  Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? (Ý

thức có thể phản ánh được vật chất hay không, tư duy có thể phản ánh được tồn tại hay không?)

Để tớ trả lời cho

- Mặt này còn được gọi là mặt nhận thức.

  Các nhà triết học duy vật cho rằng, con người có khả năng nhận thức thế giới Song, do mặt thứ nhất quy định, nên sự nhận thức đó là sự phản ánh thế giới vật chất vào óc con người.

  Một số nhà triết học duy tâm cũng thừa nhận con người có khả năng nhận thức thế giới, nhưng sự nhận thức đó là sự tự nhận thức của tinh thần, tư duy.

  Một số nhà triết học duy tâm khác như Hium, Can-tơ lại phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con người Đây là những người theo “Bất khả tri luận” (Thuyết không thể biết) Khuynh hướng này không thừa nhận vai trò của nhận thức khoa học trong đời sống xã hội.

- Đối với các hệ thống triết học, vấn đề cơ bản của triết học không chủ được thể hiện trong các quan niệm có tính chất bản thể luận, mà còn được thể hiện trong các quan niệm chính trị – xã hội, đạo đức và tôn giáo, tất nhiên có thể là nhất quán hoặc là không nhất quán.

- Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm xuyên suốt lịch sử phát triển của tư tưởng triết học và thể hiện tính đảng trong triết học.

- Hai mặt vấn đề cơ bản của triết học này tác động qua lại lẫn nhau.

Trang 16

Tại sao nó là vấn đề cơ bản của triết học nhỉ?????

Trang 17

Để tui

Lịch sử đấu tranh triết học là lịch sử đấu tranh giữa chủ

nghĩa duy vật và chủ nghĩ duy tâm Vấn đề cơ bản của triết học chính là chuẩn mực để phân biệt chủ nghĩ duy vật và chủ nghĩa duy tâm

Có thể chia các hiện tượng của thế giới làm 2 loại: các hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần Vật chất và ý thức là hai phạm trù triết học dùng để chỉ hai loại hiện tượng đó.

Trang 18

Thiếu rồi con

trai Để ông này

bổ sung cho

Vật chất (tồn tại) và ý thức (tinh thần, tư duy) có quan hệ với nhau như thế

nào, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quy định cái nào? Các học

thuyết triết học rất đa dạng, song đều cũng phải trả lời câu hỏi đó, xem đó

là điểm xuất phát lý luận Câu trả lới này có ảnh hưởng trực tiếp tới những

vấn đề khác của triết học Do đó vấn đề quan hệ giữa ý thức và vật chất

hay giữa tư tuy với tồn tại (tinh thần với giới tự nhiên được coi là vấn đề

cơ bản của triết học)

+ Kết quả và thái độ của việc giải quyết vấn đề đó quyết định sự hình

thành thế giới quan và phương pháp luận của nhà nghiên cứu, xác định bản

chất của các trường phái triết học đó, cụ thể:

- Căn cứ vào cách trả lời câu hỏi thứ nhất để chúng ta biết được hệ thống triết học này, nhà triết học này là duy vật hay là duy tâm, họ là triết học nhất nguyên hay nhị nguyên

- Căn cứ vào cách trả lời câu hỏi thứ hai để chúng ta biết được nhà triết học đó theo thuyết khả tri hay bất khả tri

+ Đây là vấn đề chung, nó mãi mãi tồn tại cùng con người và xã hội loài người

Trang 19

Cảm ơn cô và các bạn cùng

nhóm 6 “quay ngược thời

gian” để tìm hiểu và đã lắng

nghe!!!

Nếu thấy hay cho em xin MỘT NÚT LIKE và VỖ TAY HOÀNH TRÁNG nhé! HiHihihihihihihihihihi Cảm ơn mọi người rất nhiều

Ngày đăng: 19/11/2020, 23:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w