* Xuất phát từ thực tế giảng dạy nội dung Sinh thái học và Sinh thái học nhân văn ở trường THPT Phần Sinh thái học thuộc chương trình Sinh học 12 bậc THPT chủ yếunghiên cứu về quần thể,
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ HƯƠNG GIANG
XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ SINH THÁI NHÂN VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ HƯƠNG GIANG
XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ SINH THÁI NHÂN VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Lý luận & Phương pháp dạy học bộ môn Sinh học
Mã số: 8140111
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Phúc Chỉnh
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin xam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sựhướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Phúc Chỉnh Các tài liệu trích dẫn trong luậnvăn đều có nguồn gốc rõ ràng Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn làtrung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2020
Tác giả luận văn
Trần Thị Hương Giang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của các thầy cô, sự động viên, ủng hộ của gia đình và bạn bè.
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Nguyễn Phúc Chỉnh đã tậntình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô trong Khoa Sinh học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trường THPT Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên đã hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ, ủng hộ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện đề tài.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2020
Tác giả luận văn
Trần Thị Hương Giang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Giả thuyết khoa học 5
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Tổng quan về vấn đề sinh thái nhân văn 6
1.1.1 Quá trình phát triển và quan điểm về sinh thái nhân văn 6
1.1.2 Đặc điểm của sinh thái học nhân văn 9
1.2 Khái niệm sinh thái nhân văn 11
1.3 Cơ sở đề xuất chuyên đề sinh thái nhân văn 14
1.4 Cơ sở thực tiễn của sinh chuyên đề sinh thái nhân văn 16
1.5 Tình hình nghiên cứu và biên soạn chuyên đề học tập ở trường phổ thông
18 1.6 Cơ sở lý luận về dạy học theo dự án 20
Kết luận chương 1 27
Chương 2 XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ SINH THÁI NHÂN VĂN Ở CÁC TRƯỜNG THPT TỈNH THÁI NGUYÊN 28
2.1 Xây dựng tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn tỉnh Thái Nguyên
28 2.1.1 Mục đích xây dựng chuyên đề 28
2.1.2 Nguyên tắc xây dựng tài liệu chuyên đề học tập 28
Trang 62.1.3 Các bước thực hiện xây dựng tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn tỉnh
Thái Nguyên 30
2.1.4 Nội dung chuyên sinh thái nhân văn tỉnh Thái Nguyên 32
2.2 Tổ chức dạy học dự án chuyên đề sinh thái học nhân văn 35
2.2.1 Quy trình tổ chức cho HS học theo dự án 35
2.2.2 Vận dụng dạy học dự án trong dạy học chuyên đề Sinh thái nhân văn tỉnh Thái Nguyên 36
2.2.3 Bản kế hoạch (giáo án) dạy học chuyên đề: Sinh thái nhân văn tỉnh Thái Nguyên 37
2.2.4 Đánh giá kết quả học tập của học sinh 49
2.2.5 Xây dựng công cụ đánh giá sản phẩm của học sinh 49
Kết luận chương 2 69
Chương 3 KIỂM NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ 70
3.1 Mục đích kiểm nghiệm 70
3.2 Phương pháp kiểm nghiệm 70
3.3 Kết quả kiểm nghiệm 72
3.3.1 Sản phẩm của dự án 72
3.3.2 Phiếu điều tra sau học tập 74
3.4 Đánh giá kiểm nghiệm 79
3.4.1 Đánh giá kết quả học tập của học sinh 79
3.4.2 Phân tích các sản phẩm 79
Kết luận chương 3 80
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81
1 Kết luận 81
2 Kiến nghị 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH Bảng:
Bảng 2.1 Phiếu điều tra nhận thức và hiểu biết của học sinh sau khi kết
thúc dự án 1 50
Bảng 2.2 Phiếu điều tra nhận thức và hiểu biết của học sinh sau khi kết thúc dự án 2 54
Bảng 2.3 Phiếu điều tra nhận thức và hiểu biết của học sinh sau khi kết thúc dự án 3 58
Bảng 2.4 Các nội dung đánh giá sản phẩm học sinh 64
Bảng 3.1 Kết quả thực hiện dự án của các nhóm 72
Bảng 3.2 Kết quả điều tra sau học tập chuyên đề sinh thái nhân văn 74
Hình: Hình 1.1 Nội hàm của sinh thái học nhân văn 7
Hình 1.2 Quan hệ giữa hệ sinh thái và hệ xã hội (Theo Terry Ramboo 1984) 8
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN h t t p : / / l r c t nu.edu v n
Trang 9Chủ trương của Đảng và nhà nước đã xác định “Giáo dục đào tạo là
quốc sách hàng đầu” Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4-11-2013 của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã
đề ra nhiệm vụ: “Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm
chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề”.
Nội dung Chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng trên cơ sở kếthừa và phát triển những ưu điểm của các chương trình giáo dục phổ thông đã
có của Việt Nam; đồng thời, tiếp thu thành tựu nghiên cứu về khoa học giáo dục
và kinh nghiệm xây dựng chương trình theo mô hình phát triển năng lực củanhững nền giáo dục tiên tiến trên thế giới gắn với nhu cầu phát triển của đấtnước, những tiến bộ của thời đại khoa học - công nghệ và xã hội [1] Nội dungchủ yếu của Chương trình giáo dục phổ thông mới được chia thành hai giaiđoạn: Giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9); giai đoạn giáo dục địnhhướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12) Nhằm thực hiện yêu cầu phân hóasâu, giúp học sinh tăng cường kiến thức và kỹ năng thực hành, vận dụng kiếnthức giải quyết những vấn đề của thực tiễn, đáp ứng yêu cầu định hướng nghềnghiệp nội dung ở cấp trung học phổ thông còn có một số chuyên đề đượcthiết kế theo cụm chuyên đề học tập của môn học Ngữ văn, Toán, Lịch sử, Địa
lý, Giáo dục kinh tế và pháp luật, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Công nghệ, Tinhọc, Nghệ thuật [2]
Trang 10* Xuất phát từ thực tế giảng dạy nội dung Sinh thái học và Sinh thái học
nhân văn ở trường THPT
Phần Sinh thái học thuộc chương trình Sinh học 12 bậc THPT chủ yếunghiên cứu về quần thể, quần xã trong mối tương tác với nhau và với môitrường xung quanh mà ít đề cập đến tác động của con người với các thànhphần của hệ sinh thái và ngược lại Thực tế giảng dạy nội dung phần Sinhthái học này ở các trường phổ thông trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên được bốtrí vào cuối chương trình học kì II lớp 12 là thời điểm áp lực thi cử của HSrất lớn nên HS thường không hứng thú với các hoạt động tìm hiểu nhữngkiến thức mới, chỉ tập trung ôn tập các môn thi THPT quốc gia Giáo viêngiảng dạy phần sinh thái chủ yếu tập trung khai thác nội dung theo SGK chưakhai thác nội dung về sinh thái học nhân văn Các tài liệu hướng dẫn giảngdạy chuyên đề STNV chưa có nên việc giảng dạy chuyên đề sinh thái họcnhân văn chưa được các trường phổ thông quan tâm, trong khi chuyên đề nàyrất có ý nghĩa trong xây dựng ý thức sinh thái cho người học
* Xuất phát từ yêu cầu cần đạt của môn Sinh học nói chung và đặc điểm, nội dung yêu cầu cần đạt của chuyên đề Sinh thái nhân văn nói riêng
Theo chương trình giáo dục phổ thông môn sinh học, ở cấp trung họcphổ thông ngoài phần kiến thức cơ bản có 09 chuyên đề với các nội dung yêucầu cần đạt đặc thù của bộ môn theo định hướng nghề nghiệp, trong đó cóchuyên đề sinh thái nhân văn Chuyên đề này chủ yếu vận dụng kiến thức từnhiều lĩnh vực như: phát triển kinh tế - xã hội, môi trường tự nhiên, môi trường
xã hội, bảo vệ môi trường,… giúp học sinh hiểu được khái niệm sinh thái nhânvăn và giá trị của sinh thái nhân văn trong sự phát triển kinh tế xã hội [2].Chuyên đề STNV có phần liên hệ với thực tiễn địa phương Thái Nguyên làmột tỉnh trung du miền núi điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị hạn chế Ởmột số trường phổ thông cấp huyện các HS đa số là con em dân tộc thiểu số
Trang 11nên việc tổ chức tiếp cận tìm hiều công nghệ sinh học sẽ gặp nhiều khó khăn
Để giúp học sinh địa phương có cơ hội được học tập, lĩnh hội một cách hiệuquả nhất theo nội dung chương trình giáo dục mới cần khơi gợi sự hứng thú vàham học hỏi của học sinh, cần tìm ra các phương pháp dạy học phù hợp và nộidung phù hợp với đối tượng người học Vì vậy, cần xây dựng chuyên đề và đềxuất cách dạy phù hợp với từng địa phương Mặc dù chưa có tài liệu hướng dẫn
cụ thể cho Chuyên đề: Sinh thái học nhân văn nhưng nếu được thiết kế và đưavào giảng dạy thì đây sẽ là một chuyên đề rất hấp dẫn Học xong chuyên đềnày, HS phân tích được khái niệm sinh thái nhân văn, giá trị sinh thái nhân vănđối với sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội, môi trường Từ những hiểu biết
đó, HS nhận thức được sinh thái nhân văn trong xã hội hiện đại là một lĩnh vựckhoa học, văn hoá, đạo đức xã hội; phát triển các phẩm chất như yêu thiênnhiên, trách nhiệm bảo vệ thiên nhiên, tôn trọng các quy định của pháp luật vàcác công ước quốc tế về bảo vệ môi trường Chuyên đề thể hiện cách tiếp cậntích hợp các lĩnh vực tri thức khác nhau trong giáo dục sinh học [2]
Vì vậy, tôi chọn đề tài “Xây dựng và tổ chức dạy học chuyên đề sinh thái học nhân văn ở trường trung học phổ thông tỉnh Thái Nguyên”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn tỉnh Thái Nguyên và vậndụng dạy học dự án để dạy chuyên đề sinh thái học nhân văn trong phần sinhthái học - Sinh học 12 góp phần thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề sinh thái học nhân văn
và sinh thái học nhân văn ở Thái Nguyên
- Xây dựng tài liệu chuyên đề sinh thái học nhân văn tỉnh Thái Nguyên
- Thiết kế và tổ chức dạy học chuyên đề Sinh thái học nhân văn theo dự án
Trang 12- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của việc sử dụng hìnhthức dạy học dự án để dạy chuyên đề Sinh thái học nhân văn thuộc phần Sinhthái học, Sinh học 12
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sinh thái học nhân văn tỉnh Thái Nguyên và tổ
chức dạy học dự án chuyên đề sinh thái học nhân văn trong phần sinh thái học Sinh học 12
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Sinh học 12 ở một số trường
THPT trong tỉnh Thái Nguyên
5 Phạm vi nghiên cứu
Thiết kế và tổ chức dạy học dự án chuyên đề Sinh thái học nhân Sinh học lớp 12 tại tỉnh Thái Nguyên
văn-6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các loại tài liệu về chủ trương, đường lối của Đảng, chínhsách của Nhà nước về đổi mới giáo dục Nghiên cứu tổng quan các tài liệu lýluận dạy học, các giáo trình về Sinh thái học, Sinh thái học nhân văn, các tàiliệu về sử dụng các hoạt động dạy học dự án làm cơ sở cho việc thiết kế và sửdụng dạy học dự án vào dạy học phần sinh thái học nhân văn - Sinh học 12THPT Nghiên cứu các luận án, luận văn có liên quan đến đề tài
- Phương pháp điều tra sư phạm
Điều tra thực trạng dạy học phần Sinh thái học qua trao đổi trực tiếp với
GV ở các trường THPT trong tỉnh Thái Nguyên để thu thập thông tin về tìnhhình dạy học các bài thuộc phần kiến thức sinh thái học nhân văn
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Trang 13Thực nghiệm ở một số trường phổ thông để đánh giá tính khả thi củaviệc sử dụng hình thức dạy học dự án vào khâu hình thành kiến thức mới trongnội dung Sinh thái học nhân văn
- Phương pháp chuyên gia
Khi thực hiện đề tài này chúng tôi đã trao đổi xin ý kiến với thầy hướngdẫn, các chuyên gia cùng các đồng nghiệp có kinh nghiệm
7 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được tài liệu chuyên đề sinh thái học nhân văn tỉnh TháiNguyên và vận dụng với dạy học dự án chuyên đề sinh thái nhân văn tronggiảng dạy phần Sinh thái học lớp 12 sẽ góp phần thực hiện dạy học chươngtrình Sinh học phổ thông mới và cung cấp tài liệu tham khảo về sinh thái họcnhân văn dành cho các giáo viên và học sinh phổ thông trên địa bàn tỉnh TháiNguyên
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan về vấn đề sinh thái nhân văn
1.1.1 Quá trình phát triển và quan điểm về sinh thái nhân văn
Sinh thái nhân văn học được ra đời từ những nghiên cứu đô thị của cácnhà xã hội học thuộc Đại học Tổng hợp Chicago và thuật ngữ này được hiệndiện lần đầu trong một ấn phẩm của Robert E Park và Ernest W Burgess năm
1921 (Park và Burgess, 1921) [21]
Sutton và Anderson (2010) định nghĩa “Sinh thái nhân văn là khoa họcnghiên cứu mối tương tác giữa con người với môi trường” Theo đó, sinh tháinhân văn được chia làm hai lĩnh vực bổ sung cho nhau: (i) sinh thái sinh học
người (human biologicalecology); và (ii) sinh thái học văn hóa (cultural
ecology) Khái niệm này hàm chứa tính liên ngành và đa ngành của sinh thái
nhân văn: các nghiên cứu sinh thái nhân văn có thể đến từ lĩnh vực khoa học tự
nhiên, như: sinh học (biology), sinh thái học (ecology), hoặc các lĩnh vực khoa
học xã hội khác như địa lý, khoa học môi trường, xã hội học, nhân học, tâm lýhọc, kinh tế học, khoa học chính trị, v.v Theo đó, sinh thái sinh học người tậptrung nghiên cứu về sự thích nghi sinh học của con người với môi trường ở tất
cả các cấp độ, từ phân tử tới cá thể và quần thể Trong khi đó, sinh thái học vănhóa tập trung nghiên cứu sự thích nghi văn hóa của con người với môi trường[4], [6], [21] Trước đây, trong các nghiên cứu sinh thái học con người thườngchỉ đứng ngoài như một siêu yếu tố để quan sát và nhận định các quá trình tựnhiên Ngày nay, có thể nói không có một hệ sinh thái nào trên bề mặt trái đấtlại không có sự tác động của con người
Trang 15SINH THÁI NHÂN VĂN
(Human ecology)
Trang 16Sinh thái sinh học người
Hình 1.1 Nội hàm của sinh thái học nhân văn (Nguồn: Theo Suton và Anderson, 2010).
Mô hình sinh thái nhân văn kinh điển được Rapparport và Vayda giới
thiệu hai công trình nổi tiếng như: “Pigs for the Ancestors: Ritual in the Ecology
of a New Guinea People (1968)” và “Ecology: Cultural and Non-cultural in Introduction to Cultural Anthropology (1968)” Vayda và Rappaport đề xuất
rằng, thay vì nghiên cứu xem văn hóa tiến hóa như thế nào, hãy tập trungnghiên cứu văn hóa thích nghi ra sao với môi trường [6], [7] Quan điểm nàydẫn tới sự tập trung nghiên cứu vào mối quan hệ của các quần thể người cụ thểvới các hệ sinh thái cụ thể Theo quan điểm của hai nhà nhân học sinh thái này,con người, cũng như các sinh vật khác, tạo ra các quần thể giữa muôn loài sinhvật, có sự tương tác với nhân tố sinh thái vô sinh và hữu sinh của hệ sinh tháiđịa phương nơi họ sinh sống Vì vậy, hệ sinh thái chứ không phải văn hóa sẽtạo nên các đơn vị cơ bản cho phân tích trong sinh thái nhân văn Theo từ điểnmôi trường, "Sinh thái nhân văn là hệ thống các nguyên tắc đạo đức, triết lýthống trị của con người đối với trái đất và sinh vật, nơi sự thống nhất của conngười và môi trường là cần thiết cho phúc lợi xã hội Sinh thái nhân văn dựatrên một sự tiến hóa tiếp cận trong môi trường và thích ứng văn hóa và tiến hóacủa con người Sinh thái nhân văn nghiên cứu sự mất cân bằng các mối quan
hệ giữa con người và môi trường, liên quan đến bệnh tật, cung cấp thựcphẩm, dân số
Trang 17sinh thái, ô nhiễm môi trường, phân phối không đồng đều và sử dụng cácnguồn lực vô lý " [26].
Theo tiến sĩ Ramboo - Viện Môi trường và Chính sách, Trung tâm ĐôngTây - Hawaii - Hoa kỳ (1984) thì Sinh thái Nhân văn sinh học gồm hệ sinh thái
và hệ xã hội tương tác, chọn lọc và thích nghi qua trao đổi giữa các dòng năng
lượng, vật chất và thông tin trong quá trình phát triển [28].
Hình 1.2 Quan hệ giữa hệ sinh thái và hệ xã hội (Theo Terry Ramboo 1984)
Xét về mặt dịch thuật, cụm từ tiếng Anh “Human Ecology” được Lê
Trọng Cúc và các chuyên gia dịch là “Sinh thái nhân văn”, nhưng cũng có một
số chuyên gia khác dịch là “Sinh thái học người” Cho đến nay, nhóm chuyên
gia của Lê Trọng Cúc vẫn trung thành theo quan điểm sinh thái nhân văn vừa làmột khoa học (nên có thể gọi là sinh thái nhân văn học) vừa là một tiếp cận hệthống liên ngành [6] [21] Sinh thái nhân văn học đã được nghiên cứu ở Việt
Nam trong giai đoạn thực hiện Chương trình cấp Nhà nước “Nghiên cứu sử
dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” từ năm 1981 đến 1990 Đây là
chương trình đã tập hợp được các chuyên gia hàng đầu, mở ra mối quan tâm tậptrung vào nghiên cứu đánh giá sử dụng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt
là ở các khu vực miền núi trung du, rừng ngập mặn cửa sông ven biển và các
Trang 18vấn đề môi trường mới nóng lên Chính trong quá trình đó, Trung tâm Nghiêncứu Tài nguyên và Môi trường đã được thành lập và sinh thái nhân văn học đãđược đưa vào Việt Nam [16].
1.1.2 Đặc điểm của sinh thái học nhân văn
Sinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu quan hệ tác động tương hỗgiữa con người với môi trường thiên ở mức độ hệ thống, bao gồm hệ xã hội và
hệ tự nhiên (hệ sinh thái) được tiến hành thông qua quá trình sản xuất xã hội.Bằng quá trình sản xuất xã hội, con người đã không ngừng khai thác và sửdụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường [5], [6], [23] Các nghiêncứu sinh thái học nhân văn sử dụng những kiến thúc cơ bản về sinh thái họclàm cơ sở cho sự phát triển, vì bản thân ngành khoa học này cũng mang ý nghĩasinh thái học
Hệ sinh thái là một phức hệ sống bao gồm các quá trình phối hợp chặtchẽ và đan cài vào nhau, được đặc trưng bởi nhiều mối quan hệ nhân quả [15].Mối quan hệ này cung cấp một cơ chế phản hồi tác động đến quá trình tăngtrưởng, phát triển của các quần thể sinh vật có liên quan, đảm bảo tính bềnvững cho toàn bộ hệ thống Về mặt cấu trúc, bất kì một hệ sinh thái nào cũnggồm 2 nhân tố cơ bản là nhân tố sinh vật và nhân tố vô sinh Các thành phầnsống (sinh học) và không sống (phi sinh học) có quan hệ khăng khít với nhau
và thường xuyên có tác động qua lại thông qua các c h u t r ì n h d in h
d ư ỡ n g v à dò n g n ă n g lư ợ n g Các yếu tố vô sinh gồm yếu tố vật lý (để tạo nguồnnăng lượng): ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, áp suất, dòng chảy… Yếu tố vô cơ:gồm những nguyên tố và hợp chất hóa học cần thiết cho tổng hợp chất sốngtham gia vào chu trình tuần hoàn vật chất và các chất hữu cơ (các chất mùn,acid amin, protein, lipid, glucid): đây là các chất có đóng vai trò làm cầu nốigiữa thành phần vô sinh và hữu sinh, chúng là sản phẩm của quá trình trao đổivật chất giữa 2 thành phần vô sinh và hữu sinh của môi trường Về mặt chức
Trang 19năng có thể chia các loại sinh vật trong hệ sinh thái thành 3 nhóm: sinh vật sảnxuất (hay tự dưỡng), sinh vật tiêu thụ (cấp 1, 2, 3), sinh vật phân hủy (các loại
vi sinh vật động vật nhỏ bé hoặc các sinh vật hoại sinh) Trong hệ sinh thái luôndiễn ra các quá trình chính, đó là quá trình trao đổi năng lượng, tuần hoàn cácchất và sự tương tác giữa các loài
Nguồn năng lượng trong hệ sinh thái có nguồn gốc chủ yếu từ ánh sángmặt trời (thông qua quang hợp) và năng lượng hóa học (thông qua chuỗi thứcăn) Thông qua chuỗi thức ăn, bậc dinh dưỡng trên sẽ nhận được khoảng 10%năng lượng từ bậc dinh dưỡng thấp Mọi sinh vật sống chính là nguồn thựcphẩm quan trọng cho các sinh vật khác [24] Như vậy, có thể hiểu chuỗi thức
ăn là một chuỗi sinh vật mà sinh vật sau ăn sinh vật trước, lưới thức ăn (foodweb) gồm nhiều chuỗi thức ăn Đặc trưng cơ bản của hệ sinh thái tự nhiên làkhả năng tự lập lại cân bằng, nghĩa là mỗi khi bị ảnh hưởng bởi một nguyênnhân nào đó thì lại có thể phục hồi để trở về trạng thái ban đầu Đặc trưng nàyđược coi là khả năng thích nghi của hệ sinh thái Khả năng tự thích nghi nàyphụ thuộc vào cơ chế cấu trúc - chức năng của hệ, thể chế này biểu hiện chứcnăng của hệ trong mỗi giai đoạn phát triển
Hệ xã hội là toàn bộ các thành phần xã hội, các sản phẩm khác nhau củavăn hoá con người ở mức độ quần thể Nhân tố con người là nhân tố quan trọngtrong mối quan hệ giữa hệ xã hội và hệ sinh thái Con người là yếu tố cấuthành, yếu tố xây dựng của hệ sinh thái nhân văn, con người có nhận thức trong
hệ sinh thái nhân văn [15] Con người hiện đại không thể sống thiếu kĩ thuật vàcông nghệ, nhưng đồng thời cũng không thể sống tách rời khỏi thiên nhiên Sựphát triển văn minh của xã hội loài người đã gây mâu thuẫn gay gắt giữa trithức sản xuất xã hội với môi trường tự nhiên Việc giải quyết mâu thuẫn này làmột trong những động lực để phát triển xã hội Trước đây trong việc giải quyếtmâu thuẫn này con người chỉ nhằm mục đích là thoả mãn nhu cầu sống ngàycàng cao của mình và sự phát triển của xã hội, vì thế đã dẫn đến những hậu quả
Trang 20tiêu cực không lường trước được trong lĩnh vực sinh thái môi trường [11], [12] Giải quyết mâu thuẫn này không chỉ vì lợi ích của con người và xã hội, màphải tính đến sự sống của tự nhiên, đến sự tồn tại trong mối quan hệ hài hoàthật sự giữa xã hội và tự nhiên với tư cách như là những yếu tố cấu thành củamột hệ thống toàn vẹn.
Bản chất của vấn đề sinh thái học nhân văn còn phụ thuộc rất nhiều vàocác vấn đề kinh tế - xã hội, chính trị, tư tưởng, văn hoá, nếp sống, truyền thống,tập tục v.v của một xã hội nhất định [9] [25] Hơn thế nữa, môi trường sốngcủa cộng đồng là môi trường tự nhiên và xã hội, hay tự nhiên và văn hoá Muốntổn tại, con người đã phải tác động vào tự nhiên, để sản xuất ra của cải vật chấtphục vụ trước hết cho sự tồn tại và cuộc sống của mình [10], [13] Vì thế, muốngiải quyết vấn đề môi trường sinh thái nhân văn hiện nay không thể chỉ dựa vàotrình độ phát triển cao của khoa học và công nghệ mà còn phải điều chỉnh nhậnthức của con người trong hệ sinh thái nhân văn
Giá trị của sinh thái nhân văn là giúp cho con người thấy được nhữngmối quan hệ không được thừa nhận trước kia giữa con người và môi trường;đồng thời cũng giúp cho con người nhận thức sâu sắc về vị trí của con ngườitrong thế giới và suy nghĩ của con người về môi trường [21]
1.2 Khái niệm sinh thái nhân văn
Khái niệm Sinh thái học nhân văn hay Sinh thái học người (Human
Ecology) được sử dụng lần đầu tiên ở Hoa Kì vào những năm 1920, trong lĩnh
vực nghiên cứu xã hội học Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu địa lí học đã dùngthuật ngữ này từ trước đó khá lâu Khởi đầu, nhà nghiên cứu R.D McKeiưie
(1925) đã viết một chương sách có tên là "Phương pháp tiếp cận Sinh thái học
trong nghiên cứu cộng đồng loài người" (The Ecological Approach to the Study
of the Human Commimity), trong cuốn sách "Đô thị" (The City, 1925), do
Robert E Park và Emest w Burgess chủ biên Theo định nghĩa của R.D
Trang 21McKenzie, thì Sinh thái học nhân văn là bộ môn khoa học nghiên cứu các mối
quan hệ theo bề sâu và bề rộng của loài người, dưới ảnh hưởng của các tác động được lựa chọn, được phân bố và tập hợp trong môi trường sống [25].
Hiểu một cách khái quát thì hệ sinh thái nhân văn là hệ sinh thái chịu ảnhhưởng trực tiếp hay gián tiếp của loài người Nó là một hệ sinh thái bao gồmcác hệ sinh thái nông nghiệp, công nghiệp; hệ sinh thái vùng núi, đại dương,thảo nguyên, vùng cực, vũ trụ v.v Như vậy, tính chất của hệ sinh thái nhânvăn là gắn liền với sự có mặt, với hoạt động của loài người, phụ thuộc vào đặcđiểm của mỗi vùng địa lí cụ thể Do những hoạt động vô ý thức hay có chủ ýcủa con người mà không tuân theo những quy luật sinh thái đã dẫn đến sự pháhoại cân bằng và cấu trúc của hệ sinh thái tự nhiên, đồng thời đe doạ xảy ra mộtcuộc khủng hoảng sinh thái mang tính toàn cầu Trên bình diện khoa học xã
hội học (Sociology), Sinh thái học nhân văn được các chuyên gia nhìn nhận như một phân ngành của khoa học Sinh thái học (Ecology) Nó nghiên cứu
về loài người trí tuệ (Homo sapiens sapiem) con người hiện đại ngày nay.
Sinh thái học nhân văn cũng được xếp như một phân ngành của bộ môn Xã
hội học môi trường (Environmental Sociology) Còn khi tách biệt hẳn với bộ
môn khoa học này, Sinh thái học nhân văn dược xem xét như bộ môn Sinh
thái học chính trị (Political Ecology) Những nghiên cứu hiện đại về khoa học Sinh thái học xã hội (Social Ecology) đã định nghĩa Sinh thái học nhân
văn một cách khái quát hơn [6] Theo định nghĩa này, thì Sinh thái học nhânvăn là một bộ môn khoa học liên ngành, nghiên cứu các phương thức màtheo đó, con người và môi trường cùng tương tác lẫn nhau, trên các lĩnh vực
vé môi trường tự nhiên, môi trường chính trị, luật pháp, tâm lí và văn hóa, vàcác lực lượng xã hội
Như vậy, Sinh thái học nhân văn là bộ môn khoa học liên ngành, nghiên cứu về mối quan hệ tương tác giữa con người và các hình thái xã hội
Trang 22của loài người, với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo khác do con người tạo ra Sinh thái học nhân văn khảo sát xem các
hệ thống xã hội của loài người cố liên quan và tác động tương hỗ như thế nào với hệ thống các hệ sinh thái mà chúng phụ thuộc vào [25].
Theo Lê Trọng Cúc: Sinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu về mối
quan hệ tương hỗ giữa con người và môi trường thiên nhiên ở mức độ hệ thống, trong đó hệ sinh thái nhân văn được cấu thành từ hệ xã hội và hệ sinh thái, có tác động tương hỗ trực tiếp với nhau Mục đích của nghiên cứu sinh
thái nhân văn là tìm hiểu và nhận biết các đặc điểm và các mối quan hệ qua lạigiữa các hệ thống này với nhau ở trong từng cấp độ hệ thống cũng như giữa cáccấp độ với nhau và sự hình thành những hình thái đặc trưng trong các cấp độ hệthống này Sinh thái nhân văn tập trung vào ba vấn đề sau [6]:
(i) Các dòng năng lượng, vật chất và thông tin chuyển từ hệ sinh thái đến
hệ xã hội và từ hệ xã hội đến hệ sinh thái là gì?
(ii) Hệ xã hội thích nghi và phản ứng trước những thay đổi trong hệ sinhthái như thế nào?
(iii) Hoạt động của con người đã gây nên những tác động gì đối với hệsinh thái?
Trong hệ sinh thái nhân văn, quần thể hay cộng đồng loài người (Human
communities) và quần xã loài người (Human populations) được khảo sát như
một thành phần sinh học và xã hội, tham gia trong cấu trúc của hệ sinh thái Trái
Đất (Ecosystem of Earth) [16].
Sinh thái nhân văn bao trùm đồng thời cả hai bình diện khác nhau, lànhững cách thức phản ứng và thích nghi của con người đối với những thay đổimôi trường, và những ảnh hưởng của con người lên môi trường Theo cách đó,
nó bao gồm cả hai bản chất cơ bản của con người, là bản năng tự nhiên và sinh
Trang 23học, và bản năng xã hội của con người như sản phẩm của văn hóa và xã hội.Nói cách khác, con người cần được xem xét như một lập thể sinh học và xã hộitrong hệ sinh thái nhân văn.
Như vậy, Sinh thái nhân văn có đối tượng nghiên cứu là loài người trítuệ, con người hiện đại trong xã hội của họ, xã hội nhân văn [27] Sinh thái họcnhân văn nghiên cứu bốn nội dung chính sau:
1 Nghiên cứu tổ chức và chức năng các hệ sinh thái
2 Nghiên cứu con người như một thực thể tự nhiên và xã hội
3 Nghiên cứu các mối liên quan tương hỗ giữa các hệ thống xã hội củaloài người với các hệ sinh thái
4 Nghiên cứu các thể chế và quá trình xã hội của loài người góp phầnxây dựng hay làm suy giảm tính bền vững của các hệ thống tự nhiên và xã hội
1.3 Cơ sở đề xuất chuyên đề sinh thái nhân văn
Giá trị của sinh thái nhân văn là giúp cho con người thấy được nhữngmối quan hệ không được thừa nhận trước kia giữa con người và môi trường;đồng thời cũng giúp cho con người nhận thức sâu sắc về vị trí của con ngườitrong thế giới và suy nghĩ của con người về môi trường
Nguồn gốc tự nhiên của Sinh thái học nhân văn chính là quá trình traođổi thường xuyên với môi trường xung quanh của xã hội loài người, thông quamọi hệ thông vật chất của nó Sự trao đổi chất đó được thực hiện thông qua cácquá trình sản xuất xã hội, hay nói rộng hơn, là qua quá trình hoạt động thực tiễn
và sáng tạo của con người [15] Do đó, nền sản xuất xã hội là phương thức traođổi chất đặc thù của xã hội loài người và tự nhiên Xã hội loài người đã đạtđược những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại Mối quan hệ giữa môitrường sống và xã hội loài người là mối quan hệ tương tác và hai chiểu Môi
Trang 24trường sống cung cấp cho xã hội những điểu kiện và những phương tiện sống
cơ bản nhất Ngược lại, về phía mình con người qua quá trình lao động sảnxuất, đã nhận các dòng vật chất, năng lượng và thông tin từ tự nhiên, cải biếnchúng cho phù hợp với những nhu cầu sống ngày càng tăng của mình, cho sựtồn tại và phát triển không ngừng của xã hội, đồng thời cũng trả lại cho tự nhiênnhững sản phẩm thải bỏ còn lại của quá trình sản xuất xã hội và quá trình traođổi chất của con người Con người đã sử dụng khoa học và công nghệ như mộtphương tiện để khai thác tự nhiên, vì lợi ích cục bộ và ngắn hạn của xã hội conngười, đi ngược với những quy luật chi phối sự tồn tại và phát triển của tựnhiên Và hậu quả tất yếu của quá trình tác động của xã hội lên môi trường tựnhiên trong thời gian qua không phải chỉ làm tuyệt chủng nhiều loài sinh vật,xoá sổ nhiều hệ sinh thái đặc hữu và địa phương, mà còn gây nên sự suy kiệtcác nguồn tài nguyên thiên nhiên, nạn ô nhiễm môi trường sống, sự biến mấtcủa một số nền văn minh và khủng hoảng sinh thái toàn cầu… [22]
Phát triển bền vững trở thành một nhu cầu cấp thiết, có tính sống còn của
xã hội trong quá trình phát triển của mọi quốc gia Mặc dù đã được hầu hết cácquốc gia trên thế giới đồng thuận, nhưng cho đến nay việc triển khai thực hiện
và kết quả đạt được về phát triển bền vững vẫn còn hạn chế rất lớn Trở ngạichính cho tiến trình thực hiện mục tiêu phát triển bền vững là do thái độ thiếuthiện chí của nhiều nước, nhất là các nước công nghiệp phát triển Nhận thứctầm quan trọng của sự phát triển bền vững, Đảng và Nhà nước Việt Nam đãsớm đề ra một số chiến lược cho phát triển bền vững nhằm đáp ứng nhu cầuhiện tại và tương lai cho thế hệ sau Việt Nam đã ban hành Chiến lược pháttriển bền vững giai đoạn 2011 - 2020 nhằm mục tiêu tăng trưởng bền vững, cóhiệu quả, đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường,giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thốngnhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia [9], [17], [18], [19]
Trang 25Do đó, xây dựng ý thức sinh thái là một cách tiếp cận mới giúp giảiquyết các vấn đề thuộc lĩnh vực quan hệ qua lại và sự tác động lần nhau giữa xãhội và tự nhiên Trong thời đại công nghệ phát triển như hiện nay con người đã
có được những tri thức cần thiết cùng những bài học kinh nghiệm thực tiễn để
có thể làm được điều đó
1.4 Cơ sở thực tiễn của sinh chuyên đề sinh thái nhân văn
Dựa trên yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo Thông tư
số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Về mục tiêu chương trình bộ môn Sinh học là cùng với các
môn học, hoạt động giáo dục khác hình thành, phát triển ở HS các phẩm chấtchủ yếu và năng lực chung, đặc biệt là tình yêu thiên nhiên, niềm tự hào vềthiên nhiên của quê hương, đất nước; thái độ tôn trọng các quy luật của thiênnhiên, trân trọng, giữ gìn và bảo vệ thiên nhiên, ứng xử với thiên nhiên phù hợpvới yêu cầu phát triển bền vững; rèn luyện cho học sinh thế giới quan khoa học,tính trung thực, tinh thần trách nhiệm, tình yêu lao động, các năng lực tự chủ và
tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sang tạo [2]
Mục tiêu của chuyên đề STNV là: sau khi học xong chuyên đề HS cần
nhân văn trong việc phát triển bền vững và một số lĩnh vực như nông nghiệp,phát triển đô thị, bảo tồn và phát triển du lịch địa phương, thích ứng với biếnđổi khí hậu Rèn luyện được một số kỹ năng như: thu thập và xử lý tài liệu, xử
lý các thông tin, viết và trình bày báo cáo về vấn đề có liên quan đến sinh tháinhân văn, triển kĩ năng phân tích, tổng hợp kiến thức từ các tài liệu học tập, các
số liệu thu được, kỹ năng sử dụng công nghệ nhằm hỗ trợ việc học tập Nângcao trách nhiệm với cộng đồng, ý thức bảo vệ và giữ gìn môi trường sống Trên
cơ sở đó giúp các em thay đổi các hành động, nhất là những hành động xây
Trang 26dựng quê hương, bảo vệ môi trường sống xung quanh đối với sự phát triển kinh
tế xã hội và bền vững của mỗi quốc gia Phát triên ở HS các năng lực tự học,giải quyết vấn đề, giao tiếp, hoạt động nhóm
Trong phân phối chương trình mới 2018 môn sinh học lớp 12 theochương trình tổng thể có 70 tiết/năm học, tương ứng với thời gian phân bố dạyhọc của chương trình là 35 tuần/năm học Ngoài ra, có 03 chuyên đề học tậpđược bố trí 10-15 tiết [2] trong đó chuyên đề STNV là chuyên đề thứ 3 và được
bố trí dạy trong 15 tiết
Thực tế giảng dạy nội dung Sinh thái học hiện nay chủ yếu dạy về hệsinh học là chính chưa chú trọng đến hệ xã hội và mối quan hệ tác động qua lạigiữa hai hệ thống này Các tài liệu hướng dẫn giảng dạy chuyên đề sinh tháihọc nhân văn chưa có nên việc giảng dạy chuyên đề sinh thái học nhân vănchưa được các trường phổ thông quan tâm Trong chương trình giáo giục phổ
thông tổng thể ban hành theo thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT, chuyên đề Sinh
thái học nhân văn được sắp xếp ở phần cuối của trương trình lớp 12; về cơ bản
bố cục tương tự như chương trình SGK Sinh học hiện hành Mặc dù chưa có tàiliệu hướng dẫn cụ thể nhưng nếu được thiết kế phù hợp thì đây sẽ là mộtchuyên đề rất hấp dẫn Trong chuyên đề Sinh thái nhân văn này ngoài các nộidung chính cần đạt được chuyên đề còn đặt ra yêu cầu “Điều tra tìm hiểu vềmột trong các lĩnh vực sinh thái nhân văn tại địa phương” Do đó mỗi địaphương cần xây dựng chương trình riêng cho chuyên đề sao cho phù hợp vớiđối tượng HS theo từng vùng miền để đạt thành công nhất Chương trình địaphương thử nghiệm đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu, khám phá của HS đối vớicác chủ đề thực tế thiết thực của phần sinh thái học Chương trình thử nghiệm
sẽ trở thành tư liệu đọc ngoại khóa cho GV đang dạy và HS đang theo họcchương trình Sinh học hiện hành của Bộ Giáo dục và đào tạo trong những nămtiếp theo Trong thời gian tới, khi có chủ trương thay sách giáo khoa, chương
Trang 27trình sẽ là một gợi ý nhỏ giúp các nhà biên soạn chương trình địa phương lựachọn cho phù hợp với thực tiễn khách quan.
1.5 Tình hình nghiên cứu và biên soạn chuyên đề học tập ở trường phổ thông
Việc có nhiều bộ SGK là điều không có gì mới với nhiều nước nhưngđây lại được coi là một đột phá có tính chất "cách mạng" tại Việt Nam Từnhiều năm qua hàng triệu học sinh thuộc nhiều tỉnh thành vùng miền của ViệtNam với những điều kiện Kinh tế - Xã hội khác nhau nhưng đều học chung chỉmột bộ SGK duy nhất Theo một quán tính lâu đời, SGK đã là một tài liệu cótính pháp lệnh Từ những thúc đẩy của xã hội, tháng 11/2014, Quốc hội ViệtNam đã phê chuẩn một nghị quyết (NQ88/2014/QH13) về việc đổi mới chươngtrình, SGK phổ thông Tại Nghị quyết này, Quốc hội Việt Nam đặt ra mục tiêuchuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triểntoàn diện cả về phẩm chất và năng lực Cũng tại Nghị quyết 88, Việt Nam lầnđầu tiên đã cho phép và khuyến khích việc xã hội hoá biên soạn SGK trên cơ sởchương trình giáo dục phổ thông Nghị quyết 88 cũng quy định việc có nhiều
bộ SGK khác nhau, quyền lựa chọn SGK của các trường học dựa trên ý kiếncủa giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT [1]
Việc thực hiện chương trình, SGK hiện hành của các môn học ở trườngphổ thông hiện nay đang được tiến hành theo từng bài/tiết Các nội dung đượcphân chia thành những đơn vị kiến thức cụ thể, theo từng bài học và được sắpxếp tuần tự, phù hợp với tiến trình lĩnh hội kiến thức cho HS Cách thiết kế nàythuận lợi cho việc tổ chức dạy học trên lớp cũng như quản lý việc dạy học vàphân phối chương trình Nhưng sự phân chia kiến thức cụ thể như vậy làm chocác đơn vị kiến thức trong các bài mang tính độc lập và đơn điệu, kiến thức HSthu nhận được cũng rời rạc, dẫn đến việc lưu giữ kiến thức chưa thật bền vững
và việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn nhiều khi gặp khó khăn Đến nay,
Trang 28Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và chương trình môn học đã xâydựng xong, được Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình tổng thể và Hộiđồng quốc gia thẩm định các chương trình môn học thẩm định và ban hành
(Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm
2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Nội dung Chương trình giáo dụcphổ thông mới được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển những ưu điểmcủa các chương trình giáo dục phổ thông đã có của Việt Nam; đồng thời, tiếpthu thành tựu nghiên cứu về khoa học giáo dục và kinh nghiệm xây dựngchương trình theo mô hình phát triển năng lực của những nền giáo dục tiên tiếntrên thế giới gắn với nhu cầu phát triển của đất nước, những tiến bộ của thời đạikhoa học - công nghệ và xã hội
Chương trình GDPT 2018 đã thiết kế nội dung giáo dục thành các chủ đề
và ở giai đoạn định hướng nghề nghiệp có các CĐHT để phát triển nội dungcủa các chủ đề Các CĐHT nhằm đáp ứng nguyện vọng, phát triển tiềm năng,
sở trường của mỗi HS, thực hiện yêu cầu phân hoá sâu, giúp HS tăng cườngkiến thức và kĩ năng thực hành, VDKT, kĩ năng đã học giải quyết những vấn đềcủa thực tiễn
Trong chương trình GDPT môn Sinh học, có 9 CĐHT được giới thiệu,mỗi khối lớp thực hiện 3 chuyên đề với tổng thời lượng là 35 tiết: 3 CĐHT ởlớp 10 là Công nghệ tế bào và một số thành tựu, Công nghệ enzyme và ứngdụng, Công nghệ vi sinh vật trong xử lí ô nhiễm môi trường; 3 CĐHT ở lớp 11
là Dinh dưỡng khoáng - tăng năng suất cây trồng và nông nghiệp sạch, Một sốbệnh dịch ở người và cách phòng ngừa, điều trị, Vệ sinh an toàn thực phẩm; 3chuyên đề ở lớp 12 là Sinh học phân tử, Kiểm soát sinh học và Sinh thái nhânvăn Thời lượng dành cho mỗi chuyên đề học tập là 10 tiết hoặc 15 tiết; tổngthời lượng dành cho cụm chuyên đề học tập của một môn học là 35 tiết/nămhọc Ở mỗi lớp 10, 11, 12, HS chọn 3 cụm chuyên đề học tập Hệ thống các
Trang 29chuyên đề học tập môn Sinh học chủ yếu được phát triển từ nội dung các chủ
đề sinh học ứng với chương trình mỗi lớp Các chuyên đề nhằm mở rộng, nângcao kiến thức, rèn luyện kỹ năng thực hành, tìm hiểu ngành nghề để trực tiếpđịnh hướng, làm cơ sở cho các quy trình kĩ thuật, công nghệ thuộc các ngànhnghề liên quan đến sinh học Tuy nhiên, việc biên soạn tài liệu chuyên đề ở cáctrường THPT chưa được chú trọng, đặc biệt là các các chuyên đề dạy học nângcao
Chuyên đề STNV chủ yếu vận dụng kiến thức từ nhiều lĩnh vực như:phát triển kinh tế - xã hội, môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, bảo vệmôi trường, … giúp HS hiểu được khái niệm STNV và giá trị của sinh tháinhân văn trong sự phát triển kinh tế xã hội Chuyên đề STNV có phần liên hệvới thực tiễn địa phương Vì vậy, việc xây dựng chương trình địa phương cụthể để áp dụng đối với từng đối tượng và từng địa phương hết sức cần thiết
Từ chương trình của từng địa phương cụ thể sẽ có những phương pháp dạyhọc phù hợp gắn với thực tiễn cho từng đối tượng, từng vùng miền giúp họcsinh hình thành, khắc sâu kiến thức một cách chủ động và vận dụng kiến thức
chuyên đề STNV chưa được thực hiện ở từng địa phương, tài liệu hướng dẫngiảng dạy chuyên đề này cũng chưa có nên việc giảng dạy chuyên đề sinhthái học nhân văn chưa được các trường phổ thông quan tâm, trong khichuyên đề này rất có ý nghĩa trong xây dựng ý thức sinh thái cho người học
1.6 Cơ sở lý luận về dạy học theo dự
án
Dạy học dự án là một trong những phương pháp dạy học hiện đại đangđược quan tâm nghiên cứu và triển khai vào quá trình dạy học ở trường THPTnước ta DHDA là quan điểm dạy học phát huy tính độc lập, tinh thần tráchnhiệm của mỗi cá nhân, giúp HS hình thành những năng lực cần thiết trongtương lai [13]
Trang 30Cơ sở của khái niệm tiếp cận dự án trong dạy học được các nhà sư phạm
Mỹ J Deway và S Charles Peirce đưa ra và khẳng định rằng tất cả mọi người
dù già hay trẻ đều học bằng hoạt động thông qua những mối quan hệ với môitrường Họ chỉ ra động cơ giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong học tập là việcđặt học sinh trong tình huống tự khám phá thế giới và chia se những kết quảcủa quá trình khai thác kiến thức, quá trình giải quyết vấn đề DHDA là mộttrong những cách thức tốt nhất để kích thích và duy trì động lực học tập của
HS Điều đó phù hợp với quá trình sư phạm là do sự học nảy sinh trong hànhđộng Các nhà nghiên cứu Lave (1998), Brown, Colin (1989) về khoa học nhậnthức cũng chỉ ra rằng trong quá trình dạy học, GV phải phát huy vai trò tích cựccủa HS, đề ra cho HS các tình huống học tập và đòi hỏi người học phải chịutrách nhiệm trong hoạt động hợp tác DHDA bằng cách tiếp cận giúp người họckiên trì theo đuổi một mục đích trong những mối quan hệ xã hội [3], [8]
Khái niệm dự án: Thuật ngữ dự án trong tiếng Anh là “Project”, có
nguồn gốc từ tiếng La tinh được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một
dự thảo hay một kế hoạch Dự án là một dự định, một kế hoạch cần được thựchiện trong điều kiện thời gian, phương tiện tài chính, nhân lực, vật lực xác địnhnhằm đạt được mục đích đã đề ra Dự án có tính phức hợp, tổng thể, được thựchiện trong hình thức tổ chức dự án chuyên biệt [8]
Khái niệm dạy học theo dự án: Theo K Frey, học giả hàng đầu về dạy
học dự án của Cộng hòa Liên bang Đức thì: Dạy học theo dự án (Project BasedLearning - PBL) là một hình thức của hoạt động học tập trong đó, nhóm ngườihọc xác định một chủ đề làm việc, thống nhất về một nội dung làm việc, tự lập
kế hoạch và tiến hành công việc để dẫn đến một sự kết thúc có ý nghĩa, thườngxuất hiện một sản phẩm có thể trình ra được Học theo dự án nhấn mạnh vai tròcủa người học Theo định nghĩa của Bộ Giáo dục Singapore “Học theo dự án(Project work) là hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho học sinh tổng hợp kiến
Trang 31thức từ nhiều lĩnh vực học tập, và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộcsống” Từ các khái niệm trên, có thể hiểu dạy học theo dự án (DHTDA) là mộtphương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm, hướng người học đến việclĩnh hội tri thức và kỹ năng thông qua các dự án có liên quan đến các vấn đề cóthực trong cuộc sống gắn liền với nội dung dạy học [3].
Trong DHDA, các hoạt động học tập được thiết kế mang tính thực tiễn,liên quan đến nhiều lĩnh vực kiến thức, gắn kiến thức nhà trường với những vấn
đề thực tiễn Xuất phát từ nội dung học, GV đưa ra một chủ đề với những gọi ýhấp dẫn, kích thích người học tham gia thực hiện Dự án là một bài tập tìnhhuống mà người học phải giải quyết bằng các kiến thức theo nội dung bài học.DHDA đặt người học vào tình huống có vấn đề nhưng việc giải quyết vấn đềđòi hỏi sự tự lực cao của người học Khi người học được lựa chọn tiểu chủ đề
và tự đặt ra vấn đề cần tìm hiểu, nghiên cứu người học sẽ hoàn toàn chủ độngtích cực trong việc lập kế hoạch nghiên cứu, tìm kiếm, tổng hợp, xử lý thôngtin để giải quyết các vấn đề đặt ra Có rất nhiều dự án được tiến hành trong quátrình học, một dự án được coi là thành công khi nó đạt được sự cân bằng giữakhả năng thực hiện của HS với ý tưởng của GV, chỉ rõ những công việc HS cầnlàm Các tiêu chuẩn của DHDA có hiệu quả gồm:
HS là trung tâm của quá trình dạy học: Nội dung bài học theo dự án
được thiết kế cẩn thận, lôi cuốn HS vào những nhiệm vụ có tính thực tiễn cao.Các nhiệm vụ của dự án kích thích cảm hứng say mê, khả năng quyết định của
HS trong quá trình tạo sản phẩm GV giữ vai trò là người hướng dẫn, hỗ trợ
HS thực hiện các nội dung công việc của dự án HS lĩnh hội kiến thức bài học,hợp tác làm việc nhóm phát huy tối đa năng lực cá nhân trong những vai tròkhác nhau
Dự án được chuẩn bị và lên kế hoạch chu đáo: Một giờ học tốt là một giờ
học phát huy tính tích cực, tự giác chủ động sang tạo của cả người học và ngườidạy
Trang 32nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, bồi dưỡng năng lực hợptác, năng lực vẫn dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tácđộng tích cực đến tư tưởng, tình cảm, tạo được hứng thú cho người học Để cónhững giờ dạy học tốt, người GV cần lên kế hoạch và chuẩn bị bài hiệu quả Mỗibài học đề có những phương pháp và kĩ thuật dạy học riêng Đối với DHDA, đểthành công GV phải phác họa các dự án cụ thể trong đầu, phải bám sát vào mụctiêu dạy học, nếu không mục tiêu cảu dự án sẽ mơ hồ và không đạt được kết quảmong đợi từ phía HS Khi thiết kế dự án điều quan trọng là việc lập kế hoạchhành động sẽ giúp HS nhận biết được mục tiêu học tập dự kiến.
Dự án tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gắn với các chuẩn: Những dự án học tập cần được phát triển dựa trên những nội dung cốt
lõi của chương trình đáp ứng các chuẩn quốc gia và địa phương Dự án có mụctiêu rõ ràng gắn với các chuẩn và tập trung vào HS trong quá trình học Từ việcđịnh hướng vào mục tiêu, GV lựa chọn hình thức dạy học phù hợp, lập kếhoạch tổ chức và đánh giá các hoạt động dạy và học Kết quả của dự án thểhiện trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và các sản phẩm cụ thể
Dự án được định hướng theo bộ câu hỏi khung chương trình: Câu hỏi
khung chương trình sẽ giúp các dự án tập trung vào những hoạt động dạy họctrọng tâm HS được giói thiệu về dự án thông qua các câu hỏi gợi mở có tínhliên môn Có ba dạng câu hỏi khung chương trình gồm: Câu hỏi khái quát, câuhỏi bài học và câu hỏi nội dung Câu hỏi khái quát là câu hỏi rộng có tính mở,
đề cập đến những ý tưởng lớn và các khái niệm xuyên suốt Câu hỏi bài họcđược gắn trực tiếp với dự án, hỗ trợ việc tìm kiếm lời giải cho câu hỏi kháiquát Câu hỏi bài học thường gắn với nội dung bài học cụ thể, chúng có đáp án
mở, lôi cuốn HS vào việc khám phá những ý tưởng cụ thể đối với từng bài học,chủ đề hoặc môn học, khuyến khích sự khám phá của HS Câu hỏi nội dung làcác câu hỏi đóng, có câu trả lời rõ ràng và cụ thể Câu hỏi nội dung thườngmang tính thực tế cao, bám sát các mục tiêu đề ra [13]
Trang 33Dự án đòi hỏi các hình thức đánh giá và kiểm tra thường xuyên: Ngay từ
khi triển khai dự án, cần dự kiến các kết qủa mong muốn và có kế hoạch kiểmchứng mức độ lĩnh hội bằng các phương pháp đánh giá khác nhau một cáchthường xuyên để phản hồi hay điều chỉnh kịp thời trong suốt quá trình thựchiện dự án
Dự án có liên hệ với thực tế: Các vấn đề thực tế đang diễn ra có nhiều
khả năng thu hút được sự quan tâm của HS Hãy để HS được học thực sựbằng cách khuyến khích HS sử dụng chính các công cụ và kỹ thuật mà cácchuyên gia sử dụng để tiến hành điều tra và giải quyết các vấn đề trong thực
tế đời sống
Mục tiêu của dạy học theo dự án:
- Hướng tới các vấn đề của thực tiễn, gắn kết nội dung học với cuộc sốngthực tế
- Phát triển cho người học kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề; kĩ năng
tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, đánh giá)
- Rèn luyện nhiều kĩ năng (tổ chức kiến thức, kĩ năng sống, kĩ năng làmviệc theo nhóm, giao tiếp…)
- Cho phép người học làm việc “một cách độc lập” để hình thành kiếnthức và cho ra những kết quả thực tế
- Nâng cao kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình học tập vàtạo ra sản phẩm
Đặc điểm của dạy học dự án:
- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huốngcủa thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm
vụ của dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năngnhận thức của người học
Trang 34- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc họctập trong nhà trường với thực tiễn đời sống xã hội việc thực hiện dự án có thểmang lại tác động xã hội tích cực.
- Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia chọn đề tài, nộidung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân Ngoài ra, hứng thúcủa người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án
- Mang tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiềulĩnh vực hoặc nhiều môn học khác nhau nhằm giải quyết một nhiệm vụ
- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợpgiữa nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn,thực hành Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũngnhư rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học
- Tính tự lực cao của người học: Trong dạy học theo dự án, người họccần tham gia tích cực, tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đócũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học GVchủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên, mức độ tự lực cầnphù hợp với kinh nghiệm, khả năng của người học và mức độ khó khăn củanhiệm vụ
- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theonhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa cácthành viên trong nhóm Dạy học theo dự án đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng
và kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GVcũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án
- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩmđược tạo ra không chỉ giới hạn trong những thu hoạch lí thuyết, mà trong đa sốtrường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt độngthực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu
Trang 35Cách tiếp cận theo dự án sẽ đem đến cơ hội phát triển năng lực và kiếnthức chuyên sâu cho người học DHDA mang các vấn đề thực tế vào môitrường lớp học, những vấn đề đó thường rất thú vị và kích thích sự tò mò của
HS Trong một dự án học tập, các hoạt động HS được thực hiện không chỉgiới hạn ở việc đọc, nghiên cứu, và viết mà các hoạt động được trải dài trongmột khoảng thời gian để hoàn thành quá trình cơ bản, áp dụng kiến thức vàothực tiễn HS rất giàu trí tưởng tượng và chúng được hình thành thông qualăng kính mà các em quan sát được trong thực tế hoạt động sống của chínhmình Đó là lý do vì sao học theo dự án là một cách học độc đáo, đa dạng vàmang lại kết quả cao
Từ việc tiếp cận đến dự án, có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau
về DHDA Nhiều tác giả coi DHDA là một quan điểm dạy học cũng có ngườicoi DHDA phương pháp dạy học hay là một hình thức dạy học vì khi thực hiệnmột dự án có nhiều phương pháp dạy học cụ thể được sử dụng Tuy nhiên,DHDA cũng có thể coi là một phương pháp dạy học phức hợp
Tóm lại, Dạy học theo dự án vừa là PPDH vừa là hình thức, mô hình dạy
học tích cực khác với các PPDH truyền thống, trong đó các nhiệm vụ học tập,các bài học được thể hiện dưới dạng các dự án, dưới sự hướng dẫn của ngườidạy, các dự án được thực hiện bởi sự cộng tác làm việc tích cực của các thànhviên trong nhóm được hoàn thành dưới dạng các sản phẩm Kiến thức tự lĩnhhội được bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau, làm phong phú tri thức của ngườihọc, đáp ứng các mục tiêu gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động,nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng lực tự học, nănglực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm vàkhả năng cộng tác làm việc của người học [3]
Trang 36kỹ năng thông qua hoạt động học để thích ứng trong một môi trường biến đổikhông ngừng đặc biệt thông qua các tiết học gắn liền với thực tế của chươngtrình địa phương Dựa trên các cơ sở lý luận và thực tiễn đó có thể đề xuất xâydựng tài liệu cho chuyên đề STNV tại địa phương và vận dụng dạy học dự ánmột cách hiệu quả để giảng dạy tốt chuyên đề STNV ở địa phương.
Trang 37Chương 2 XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ SINH THÁI NHÂN VĂN Ở CÁC TRƯỜNG THPT TỈNH THÁI NGUYÊN
2.1 Xây dựng tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn tỉnh Thái Nguyên
2.1.1 Mục đích xây dựng chuyên đề
Xây dựng tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn tỉnh Thái Nguyên đểphục vụ cho quá trình tổ chức dạy học chuyên đề sinh thái nhân văn góp phầnthực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018
2.1.2 Nguyên tắc xây dựng tài liệu chuyên đề học tập
Chương trình môn Sinh học chú trọng giúp HS phát triển khả năng thíchứng trong một thế giới biến đổi không ngừng; khả năng sống chung hài hòa vớithiên nhiên và bảo vệ môi trường để phát triển bền vững Chương trình mônSinh học quan tâm đến những nội dung gần gũi với cuộc sống hằng ngày, tạođiều kiện để học sinh tăng cường vận dụng kiến thức khoa học vào thực tiễn, từthực tiễn nhận thức rõ những vấn đề về môi trường và phát triển bền vững, xâydựng ý thức bảo vệ môi trường, rèn luyện khả năng thích ứng trong một thếgiới biến đổi không ngừng Vì vậy, chuyên đề sinh thái nhân văn chú ý tới việc
mở rộng, nâng cao kiến thức, rèn luyện kĩ năng, ý thức bảo vệ môi trường cho
HS Tài liệu chuyên đề được xây dựng theo các nguyên tắc sau:
* Nguyên tắc 1: Đáp ứng mục tiêu dạy học
Học xong chuyên đề này, học sinh phân tích được khái niệm sinh tháinhân văn, giá trị sinh thái nhân văn đối với sự phát triển bền vững kinh tế - xãhội, môi trường Từ những hiểu biết đó, học sinh nhận thức được sinh thái nhânvăn trong xã hội hiện đại là một lĩnh vực khoa học, văn hoá, đạo đức xã hội;phát triển các phẩm chất như yêu thiên nhiên, trách nhiệm bảo vệ thiên nhiên,tôn trọng các quy định của pháp luật và các công ước quốc tế về bảo vệ môi
Trang 38trường Chuyên đề thể hiện cách tiếp cận tích hợp các lĩnh vực tri thức khácnhau trong giáo dục sinh học.
* Nguyên tắc 2: Đảm bảo tính khoa học của nội dung kiến thức và đáp ứng yêu cầu của chương trình
Chương trình GDPT tổng thể và Chương trình các môn học đã được
ban hành (kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm
2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) nhưng nội dung dạy học chi
tiết, trong đó có nội dung các chuyên đề Sinh thái nhân văn chưa được xâydựng Vì thế, việc xây dựng nội dung chuyên đề này cần bám sát theo địnhhướng của chương trình tổng thể và chương trình môn học, đảm bảo tính khoahọc, hệ thống
* Nguyên tắc 3: Đáp ứng được thực tiễn dạy học của địa phương và phù hợp với đặc điểm học sinh THPT
Thái Nguyên thuộc vùng trung du miền núi với đặc trưng kinh tế đa dạngbao gồm: nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch Các hoạtđộng sản xuất này của con người tác động không nhỏ đến môi trường Vì vậyviệc giáo dục cho HS về giá trị và ý nghĩa của sinh thái nhân văn và phát triểnbền vững là hết sức quan trọng Trong quá trình giáo dục, HS là trung tâm, GV
là người hướng dẫn, cố vấn định hướng để đảm bảo mục tiêu đề ra Việc thiết
kế nội dung chuyên đề học tập phải chú trọng đến điều kiện thực tiễn tại địaphương để đảm bảo tính khoa học, làm tăng hứng thú và phát triển các kỹ nănghọc tập cần thiết cho HS
* Nguyên tắc 4: Sản phẩm học tập của chuyên đề được cụ thể hóa trong
kế hoạch dạy học
Nội dung chuyên đề Sinh thái nhân văn gắn liền với thực tiễn, cập nhậtcác vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống xung quanh, mang tính thời sự, tính xãhội Vì vậy, sản phẩm học tập của HS như các vấn đề thảo luận, các cách trình
Trang 39bày (bài trình chiếu power point, poster, ), các phương tiện vật chất (mô hình,tranh, ảnh, .), các hình thức thảo luận, cách thức trải nghiệm, Những sảnphẩm này phải được thể hiện rõ trong kế hoạch tổ chức hoạt động dạy họcchuyên đề.
2.1.3 Các bước thực hiện xây dựng tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn tỉnh Thái Nguyên
Để xây dựng tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn chúng tôi đã thực hiệntheo 6 bước:
Bước 1 Xác định lí do xây dựng chuyên đề Bước 2 Xác định mục tiêu chuyên đề Bước 3 Xác định nội dung chuyên đề
Bước 4 Sưu tầm tài liệu liên quan đến chuyên đề Sinh thái
Nguyên.
Bước 1 Xác định lí do xây dựng chuyên đề
Trong chương trình giáo dục phổ thông môn Sinh học, bên cạnh nhữngnội dung giáo dục cốt lõi, chương trình giới thiệu một số nội dung chuyên đềhọc tập tự chọn, HS có thiên hướng hoặc hứng thú sinh học và công nghệ sinhhọc được chọn học một trong số những chuyên đề học tập đó Vì vậy, mỗi
Trang 40chuyên đề học tập cần làm rõ được lí do xây dựng chuyên đề, chú ý tới việc mởrộng, nâng cao kiến thức, rèn luyện kĩ năng thực hành, tìm hiểu ngành nghề đểtrực tiếp định hướng, làm cơ sở cho các quy trình kĩ thuật, công nghệ thuộc cácngành nghề liên quan đến sinh học.
Bước 2 Xác định mục tiêu chuyên đề.
Nguyên tắc xây dựng mục tiêu chuyên đề cũng tuân theo nguyên tắcchung đó là mục tiêu cần cụ thể và lượng hóa được
Để xác định mục tiêu chuyên đề ta cần rà soát xem kiến thức cần dạy, kỹnăng cần rèn luyện thông qua chuyên đề là những kiến thức nào Việc xác địnhmục tiêu này đôi khi diễn ra đồng thời với việc xác định các nội dung củachuyên đề
Bước 3 Xác định nội dung chuyên đề.
Mỗi chuyên đề học tập bao gồm nhiều chủ đề Vì vậy, xác định nội dungchuyên đề có liên quan đến xác định các chủ đề dạy học Khi thực hiện bướcnày, cần chú ý:
- Đặt tên các chủ đề ngắn gọn nhưng thể hiện được nội dung cơ bản củachủ đề và có sức hấp dẫn, thu hút HS
- Lựa chọn nội dung chủ đề cần phải trả lời các câu hỏi: Kiến thức trongchủ đề là kiến thức đơn môn hay đa môn, có thể hiện tích hợp kiến thức không?Tại sao lại phải tích hợp? Tích hợp nội dung nào là hợp lí? Các nội dung cụ thể
đó là gì? Thuộc các môn học, bài học nào trong chương trình? Logic và mạchphát triển các nội dung đó như thế nào? Thời lượng cho bài học tích hợp dựkiến là bao nhiêu?
Bước 4: Sưu tầm tài liệu liên quan đến chuyên đề Sinh thái nhân
văn
Tiến hành tham khảo các bách khoa toàn thư, sách, báo, tài liệu liênquan đến chuyên đề STNV, PTBV Các sự kiện liên quan đến chủ đề ở trên