1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng học liệu môn quy trình và phương pháp quy hoạch đô thị

136 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 6,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm của công tác Quy hoạch đô thị Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan đô thị, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập m

Trang 1

NỘI DUNG GIẢNG DẠY MÔN QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP QH

2.1. Đặc điểm của công tác Quy hoạch

2.1.1 Đặc điểm của công tác Quy hoạch đô thị

Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan đô thị, hệ thống

hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường thích hợpcho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị.(Luật quy hoạch đô thị, 2009)

Với vai trò, nhiệm vụ của mình, công tác quy hoạch đô thị có những đặc điểmcần lưu ý như sau:

- Quy hoạch có tính chính sách (tính pháp lý, tính thể chế, tính chính trị):

Quy hoạch đô thị chịu sự chi phối bởi các yếu tố luật pháp, thể chế của quốc giatrong quá trình lập và thực hịên quy hoạch Các định hướng phát triển kinh tế, xã hội,chính trị của một quốc gia, một khu vực, các Luật, Nghị định, Thông tư của các cơquan Nhà nước là cơ sở của việc lập quy hoạch Mỗi một sự thay đổi về chính sách,thể chế đều tác động đến các nội dung quy hoạch

Phê duyệt quy hoạch là người đứng đầu cơ quan quản lý của trung ương hoặc địaphương (Thủ tướng, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố, huyện…) Các nội dung quyhoạch đã được phê duyệt có tính pháp lý

- Quy hoạch có tính tổng hợp, liên ngành:

Quy hoạch tạo nên môi trường sống của cả cộng đồng nên là công tác cần có sựtham gia của nhiều ngành, nhiều cơ quan: Kiến trúc, xây dựng, hạ tầng kỹ thuật, côngnghịêp, nông nghịêp, thuỷ lợi, văn hoá xã hội, du lịch, kinh tế, chính trị, an ninh quốcphòng …Người lập quy hoạch có vai trò là người tổng hợp các yêu cầu phát triển củacác ngành, xác định các yếu tố tác động đến đô thị, đưa ra các giải pháp quy hoạch cótính thống nhất, đáp ứng với mọi yêu cầu đa dạng của các ngành kinh tế xã hội khác vìchất lượng chung của cuộc sống cộng đồng

Mỗi một loại hình quy hoạch, sự tham gia của các ngành ở mức độ khác nhau Ví

dụ với quy hoạch các đô thị cổ như Huế, Hội An, sự tham gia của ngành du lịch, bảotồn di sản đặc biệt quan trọng Với các đô thị công nghịêp, sự tham gia của các ngànhkinh tế, môi trường có vai trò chủ chốt

Trang 2

- Quy hoạch có tính dự báo: Quy hoạch đô thị thể hịên quá trình dự kiến phát

triển ngắn hạn (5- 10 năm) hoặc dài hạn (15-20 năm), hoặc xa hơn (30 năm) Vì vậy cónhiều yếu tố mang tính dự báo để làm cơ sở cho các giải pháp Ví dụ:

+ Dự báo về sự tăng trưởng kinh tế, các hướng phát triển kinh tế: Tốc độ tăngGDP, sự tăng trưởng của từng ngành kinh tế (công nghịêp, dịch vụ, du lịch …) quyếtđịnh đến tính chất đô thị

+ Dự báo về tăng dân cư: Tăng tự nhiên, tăng cơ học, các dòng dịch cư

+ Dự báo về sự phát triển của công nghệ, khoa học kỹ thuật: Sự gia tăng sốlượng xe cơ giới, sự phát triển của công nghệ thông tin làm thay đổi các dạng liên kết

xã hội…

+ Dự báo về nhu cầu xã hội, các biến đổi trong đời sống văn hoá

Các dự báo này có tính chất và phạm vi thuộc khu vực, vùng, miền quốc gia hoặcmang tính quốc tế Chịu sự tác động không chỉ nằm trong phạm vi quy hoạch Ví dụ sựtăng lượng xe cơ giới do nhu cầu và do chính sách nhập khẩu Dự báo sự phát triểnkinh tế trong nước, của đầu tư nước ngoài chịu sự tác động của kinh tế toàn cầu

- Quy hoạch có tính biến động và điều chỉnh: Do có tính chất dự báo nên quy

hoạch có thể phát triển không như dự kiến Thông thường với quy hoạch chung đô thịsau 5 năm phải tiến hành lập quy hoạch điều chỉnh Việc điều chỉnh cũng có thể đượctiến hành sớm hơn khi có những tác động làm thay đổi lớn đến cấu trúc dự kiến pháttriển của thành phố

Các nhân tố tạo thị thay đổi (phát triển công nghiệp, du lịch, giao thông đốingoại, tốc độ tăng trưởng GDP, đầu tư nước ngoài …) khác với dự kiến ban đầu cũng

là lý do chính phải lập điều chỉnh quy hoạch

Trong điều kiện phát triển của nước ta hịên nay, các nhân tố tạo thị có nhiều biếnđộng nên việc điều chỉnh quy hoạch xảy ra thường xuyên với tần xuất ngắn

- Quy hoạch có tính kế thừa: Quy hoạch là công tác có tính kế thừa, dựa trên

các yếu tố hiện trạng hoặc các định hướng phát triển trước đó Hết sức tránh việc phủnhận hoàn toàn hoặc thay đổi toàn bộ quy hoạch trước đó bởi những yếu tố hịên trạngcủa một đô thị có tính chất lịch sử, việc thay đổi hoàn toàn cấu trúc đô thị kéo theonhững tốn kém về kinh tế, làm đảo lộn cuộc sống xã hội của cư dân

Trang 3

Ví dụ sự thay đổi các hướng phát triển không gian của một thành phố (từ pháttriển phía Bắc chuyển sang phía Đông), sự thay đổi định hướng phát triển kinh tế, nhân

tố tạo thị của thành phố (từ công nghiệp chuyển sang du lịch…) đều phải được cânnhắc, kế thừa các định hướng phát triển giai đoạn trước

- Quy hoạch có tính địa phương: Mỗi một vùng đất, một đô thị đều có những

đặc điểm riêng về điều kiện tự nhiên, điều kịên kinh tế, dân cư, văn hoá xã hội nênkhông có mô hình quy hoạch mẫu áp dụng chung cho các đô thị Quy hoạch luônmang tính địa phương rõ nét Việc tạo lập bản sắc đô thị thông qua tổ chức không gian,các hoạt động văn hoá luôn được khuyến khích trong công tác quy hoạch

- Quy hoạch là một quá trình, gắn với phương thức phát triển đô thị: Quy

hoạch là một khâu quan trọng trong công tác phát triển đô thị Có thể chia ra các bướccủa quá trình phát triển đô thị:

- Bước xác định các mục tiêu phát triển

- Bước lập quy hoạch

- Bước thực hịên quy hoạch

Trong mỗi bước thực hịên đều là những hoạt động cần được tiến hành có khoahọc, sự thành công của bước này tạo tiền đề cho bước kia

Vì vậy đồ án quy hoạch không phải là một sản phẩm cuối cùng, nó thể hịên cảmột quá trình phát triển và gắn với phương thức phát triển Những phương thức pháttriển, kế hoạch phát triển càng cụ thể được bao nhiêu, tính khả thi của đồ án quy hoạchcàng rõ bấy nhiêu

Tính quá trình có thể được thể hịên qua việc phân đoạn đầu tư, xác định các dự

án ưu tiên trong đồ án Các phương thức phát triển được cụ thể hoá bằng các chínhsách đi kèm như các quy định trình tự thực hiện trong việc lập quy hoạch các khu đôthị mới, khu kinh tế mở, khu công nghiệp tập trung (nguồn: Quy hoạch đô thị - PGSPhạm Hùng Cường)

2.1.2 Đặc điểm Đồ án Quy hoạch đô thị

Các loại hình đồ án Quy hoạch đô thị gồm có

- Quy hoạch chung được lập cho thành phố trực thuộc trung ương, thành phố trựcthuộc tỉnh, thị xã, thị trấn và đô thị mới

Trang 4

- Quy hoạch phân khu được lập cho các khu vực trong thành phố, thị xã và đô thịmới

- Quy hoạch chi tiết được lập cho khu vực theo yêu cầu phát triển, quản lý đô thịhoặc nhu cầu đầu tư xây dựng (Luật quy hoạch đô thị 2009)

Hình 2 1 Hệ thống phân cấp đồ án Quy hoạch đô thị ở Việt Nam

a Đồ án Quy hoạch chung

- Nhiệm vụ: xác định tính chất, vai trò của đô thị, yêu cầu cơ bản cho việc nghiêncứu để khai thác tiềm năng, động lực phát triển, hướng phát triển, mở rộng đô thị, bốtrí hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật đô thị trong nội thị và khu vực ngoại thị;yêu cầu đánh giá môi trường chiến lược (Luật quy hoạch đô thị 2009)

- Đặc điểm:

Yêu cầu của đồ án quy hoạch chung bao gồm:

+ Phân tích, đánh giá các điều kiện tự nhiên và hiện trạng

+ Xác định được viễn cảnh phát triển đô thị (tầm nhìn);

+ Xác định được các chiến lược phát triển đô thị chính;

+ Đề xuất được cấu trúc tổng thể phát triển không gian đô thị (bao gồm nội thị

và ngoại thị) và các cấu trúc đặc trưng phù hợp với các chiến lược phát triển đô thị;

Trang 5

+ Dự báo quy mô dân số, nhu cầu lao động và nhu cầu đất đai xây dựng đô thị;+ Đề xuất được các chỉ tiêu về sử dụng đất, chỉ tiêu cung cấp hạ tầng phù hợpvới mục tiêu phát triển cho các giai đoạn phát triển đô thị;

+ Đề xuất được các giải pháp quy hoạch sử dụng đất với khả năng sử dụng đấthỗn hợp ở mức độ tối đa, đảm bảo tính linh hoạt và năng động để thực hiện các chiếnlược phát triển đô thị;

Với quy mô của đồ án quy hoạch chung, người thực hiện phải có khả năng phốikết hợp giữa các bộ môn tham gia, cũng như cần dựa vào khung chính sách pháp lý,quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội của địa phương Điều này yêu cầu người làm cầnquan tâm đến tính kinh tế trong phát triển đô thị Đồng thời phải quan tâm đến yếu tố

tự nhiên của khu vực để hình thành tính địa phương của đồ án Bên cạnh đó nhà quyhoạch phải có khả năng thiết lập cấu trúc đô thị để từ đó đưa ra viễn cảnh phát triểnkhu vực

Đây cũng là loại hình đồ án yêu cầu kỹ năng phân tích và tổng hợp vấn đề cũngnhư khả năng dự báo tình hình phát triển dân số cũng như bối cảnh kinh tế xã hội củađịa phương

b Đồ án quy hoạch phân khu

- Nhiệm vụ: xác định phạm vi ranh giới, diện tích, tính chất khu vực lập quyhoạch, chỉ tiêu dự kiến về dân số, sử dụng đất, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật; yêucầu, nguyên tắc cơ bản về phân khu chức năng để bảo đảm phù hợp về không giankiến trúc, đấu nối hạ tầng kỹ thuật với quy hoạch chung đã được phê duyệt và các khuvực xung quanh; yêu cầu đánh giá môi trường chiến lược (Luật quy hoạch đô thị2009)

- Đặc điểm:

Đồ án Quy hoạch phân khu bắt đầu được đưa vào luật quy hoạch đô thị 2009,thay thế cho đồ án quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 Với các nội dung quy định trongluật, đồ án quy hoạch phân khu có thiên hướng quy hoạch cấu trúc, tuy nhiên vẫn cócác chỉ tiêu quy hoạch cụ thể như trong luật xây dựng 2003 (Các chỉ tiêu kinh tế kỹthuật lô đất)

Các đặc điểm chính của quy hoạch phân khu:

Trang 6

+ Phân khu để kiểm soát, khuyến khích và quản lý phát triển và cải tạo đô thị không đơn thuần là phân khu chức năng.

-+ Quy hoạch phân khu vẫn cần mang tính cấu trúc và nguyên tắc

+ Luật yêu cầu: “xác định nguyên tắc tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan”

= quan điểm giảm sự cứng nhắc, quan tâm đến mối quan hệ trong không gian = quyhoạch cấu trúc

Trong đó có các điểm cần lưu ý:

+ Yêu cầu xác định “Chỉ tiêu về dân số, sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật đối vớitừng ô phố” - Có thể là chỉ tiêu:

o Cứng - cụ thể;

o Mang tính ngưỡng;

o Quy định được phát triển tự do;

o Nhiều ô phố có cùng tính chất à quy định theo khu vực

+ Quy mô, vị trí các công trình hạ tầng xã hội thiết yếu có thể được thay đổilinh hoạt cho phù hợp nhu cầu thực tế + các nguyên tắc bắt buộc tuân thủ (ví dụ: quy

mô tối thiểu của các công trình phúc lợi công cộng)

+ Yêu cầu “bố trí mạng lưới công trình hạ tầng kỹ thuật đến các trục đường phốphù hợp với các giai đoạn phát triển của toàn đô thị”:

o Trục đường phố là ranh giới của khu đất > ô phố à quy định kiểm soát vàcung cấp hạ tầng đến từng khu vực không hẳn là ô phố à linh hoạt hơn;

o Phù hợp với các giai đoạn phát triển = lộ trình thực hiện + dự án chiếnlược

Với đặc điểm của đồ án Quy hoạch phân khu yêu cầu người thực hiện phải cóPhương pháp tiếp cận tích hợp, phối kết hợp giữa các bộ môn liên quan cũng như quantâm đến sự tham gia của cộng đồng

Đây cũng là loại hình đồ án có thiên hướng cấu trúc chiến lược, có tính quản lýđối với sự phát triển của đô thị

c Đồ án quy hoạch chi tiết

- Nhiệm vụ: xác định giới hạn về chỉ tiêu sử dụng đất, dân số; yêu cầu, nguyêntắc về tổ chức không gian kiến trúc, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật trong khu vực lậpquy hoạch, bảo đảm phù hợp với quy hoạch chung, quy hoạch phân khu đã được phêduyệt và khu vực xung quanh; yêu cầu đánh giá môi trường chiến lược

Trang 7

- Đặc điểm:

Ở đồ án quy hoạch chi tiết yêu cầu sản phẩm phải xác định được cụ thể các chỉtiêu kinh tế kỹ thuật kiểm soát lô đất như: mật độ xây dựng, diện tích đất, hệ số sửdụng đất, chỉ tiêu dân số và các yêu cầu về tổ chức không gian kiến trúc cho toàn khuvực quy hoạch Để thực hiện tốt đồ án này người làm quy hoạch phải quan tâm đếncộng đồng dân cư để thỏa mãn nhu cầu về sử dụng không gian chức năng của họ.Đặc biệt với đồ án quy hoạch chi tiết các không gian ở - là loại hình đồ án quyhoạch chi tiết phổ biến – nhà quy hoạch phải quan tâm đến mối quan hệ giữa conngười và môi trường ở, các nhu cầu xã hội của con người như nhu cầu sân chơi cho trẻ

em, chỗ nghỉ ngơi, đi dạo, …

Để đạt được đồ án tốt cần tạo dựng tính địa phương của khu vực Điều này liênquan trực tiếp đến các không gian công cộng: chức năng, tổ chức không gian kiến trúc.Đây là cái còn thiếu và yếu của các đồ án hiện nay, do chưa quan tâm cũng như chưa

đề ra hết được nhu cầu của con người đối với không gian công cộng: nhu cầu sinh lý,nhu cầu về sự an toàn, nhu cầu được giao tiếp xã hội, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầuđược khẳng định bản thân (Tháp nhu cầu của Maslow)

Ngoài ra với các đồ án quy hoạch cải tạo chỉnh trang đô thị; phát triển đô thị mới

và trục đường mới trong đô thị cần phải quan tâm đến tính kinh tế trong đô thị (hiệuquả sử dụng đất đai, các vấn đề về đền bù đất,…), tác động của yếu tố công nghệ đếnkhông gian đô thị (sự biến đổi của các không gian thương mại, hạ tầng kỹ thuật đô thị,

…), tính hài hòa giữa các khu vực cũ và mới, tính bản sắc của khu vực,…

2.1.3 Quy trình Lập, Thẩm định và Phê duyệt đồ án Quy hoạch đô thị

Quy trình lập đồ án quy hoạch được quy định trong luật, hay còn gọi là quy trìnhpháp lý bao gồm:

- Bước 1 Lập nhiệm vụ Quy hoạch

- Bước 2 Thẩm định nhiệm vụ Quy hoạch

- Bước 3 Phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch

- Bước 4 Lập đồ án Quy hoạch

- Bước 5 Thẩm định đồ án Quy hoạch

- Bước 6 Phê duyệt đồ án Quy hoạch

- Bước 7 Công bố quy hoạch và Quy định quản lý theo đồ án

Trang 8

Căn cứ vào việc thực hiện đồ án quy hoạch, kết quả của đồ án phản án quá trìnhPhương pháp tiếp cận logic theo bốn bước cơ bản:

- Phân tích đô thị

- Xây dựng tầm nhìn và định hướng phát triển

- Giải pháp quy hoạch tổng thể, chi tiết

- Triển khai thực hiện

Việc xác định các bước thực hiện giúp cho người lập quy hoạch định hình rõnhiệm vụ cần thực hiện, thời gian thực hiện và mục tiêu đạt được của đồ án

2.2. Các Phương pháp tiếp cận trong Quy trình Quy hoạch đô thị

Để thực hiện tốt một Quy trình Quy hoạch đô thị, công việc đầu tiên phải xác định được đúng Phương pháp tiếp cận, vì chủ thể đô thị là một tượng phức tạp nên cách thức tiếp cận thực hiện cũng rất đa dạng, tùy vào đặc thù, đặc điểm của đồ án

mà lựa chọn Phương pháp tiếp cận hợp lý, từ đó là nền tảng tư duy trong suốt quá trình Quy hoạch về sau Một đồ án Quy hoạch có thể dùng nhiều Phương pháp tiếp cận khác nhau từ khi bắt đầu, cho tới lúc lập, nghiên cứu và thực thi Quy hoạch Những Phương pháp tiếp cận dưới đây là những Phương pháp cơ bản của công tác Quy hoạch được đề xuất dạy kỹ trong nội dung đào tạo môn Quy trình và Phương pháp Quy hoạch qua đó sinh viên được trang bị những kỹ năng cần thiết Dựa vào đặc điểm của công tác Quy hoạch và các loại hình đồ án có thể đưa ra các phương pháp tiếp cận chính trong quy trình quy hoạch đô thị như sau:

- Phương pháp tiếp cận tích hợp

- Phương pháp tiếp cận sự tham gia

- Phương pháp tiếp cận phối hợp với cộng đồng

- Phương pháp tiếp cận ứng xử với biến động và điều chỉnh

- Phương pháp tiếp cận yếu tố kinh tế trong Phát triển đô thị

- Phương pháp tiếp cận về Không gian đô thị với vấn đề công nghệ

- Phương pháp tiếp cận khả năng phục hổi trong những hoàn cảnh tiêu cực

- Phương pháp tiếp cận về tính địa phương và địa điểm

- Phương pháp tiếp cận về con người và môi trường ở

- Phương pháp tiếp cận thiết lập cấu trúc

- Phương pháp tiếp cận ứng xử với điều kiện tự nhiên

Trang 9

- Phương pháp tiếp cận về nhu cầu con người với không gian công cộng

2.2.1 Phương pháp tiếp cận Tích hợp – Phối kết hợp

Trong một vài thập kỷ gần đây, sự tích hợp đa ngành trong Quy hoạch đô thịngày một trở thành yêu cầu bắt buộc với mỗi một hệ thống Quy hoạch ở hầu khắp cácQuốc gia, theo thời gian hệ thống Quy hoạch tích hợp, phối kết hợp đang dần đượcphát triển và nâng cấp nhằm định hướng phát triển cho đô thị một cách toàn diện vàđược xem xét ở nhiều khía cạnh, lĩnh vực (chuyên môn) khác nhau

Qua đó, sự tích hợp trong Quy hoạch giúp xem xét các yếu tố sử dụng nguồn lực

đô thị về cơ sở hạ tầng, kinh tế và xã hội từ đó hỗ trợ cho việc ra các Quyết định pháttriển đô thị Bên cạnh đó, cần đảm bảo khớp nối các chương trình đầu tư phát triển trên

bộ khung không gian đô thị Việc tích hợp giúp người lập Quy hoạch phản ánh đúngđắn, đa chiều và cập nhật các yếu tố, đặc điểm, tham số của các Bên liên quan trongQuy hoạch (Quy hoạch ngành) gắn vào một vấn đề chung Sự tích hợp của các ngànhkinh tế - xã hội, kỹ thuật và phát triển không gian trong một Quy trình chung, phươngpháp làm việc (chia sẻ) chung

2.2.2 Phương pháp tiếp cận sự tham gia

Phương pháp tiếp cận sự tham gia hay có thể hiểu Quy hoạch có sự tham gia(Participatory Approach) bao gồm: Nhà nước – Tư nhân – Cộng đồng cùng tham gia(PPCP) và Chiến lược Phát triển đô thị (CDS)

Chính quyền thành phố khó có khả năng đáp ứng đầy đủ đối với sự đòi hỏi vànhu cầu tăng cao của cộng dồng trong xã hội vì khả năng quản lý và tài chính hạn chế

Do vậy chính quyền cần khả năng của cộng đồng, của khu vực tư nhân, của tổ chứcPhi chính phủ để đóng góp vào công tác Quy hoạch và Quản lý đô thị

Sự hợp tác nói trên tập trung vào các khâu Quy hoạch xây dựng phát triển vàthực hiện chương trình dự án nhằm thiết lập sự ưu tiên gắn liền với quan điểm tạo hỗtrợ cho ưu tiên phát triển thành phố, cam kết rõ ràng về cung cấp nguồn lực, yêu cầucủa sự hợp tác

- Nhà nước cần có thái độ rõ ràng về sự tham gia của tư nhân, các đơn vị ngoài quốcdoanh và cộng đồng

- Cần có một Phương pháp quản lý, định chế tài chính hỗ trợ

- Cơ cấu năng lực, khả năng kỹ thuật và tổ chức các bên phải hướng tới sự hợp tác

- Hiện nước ta chưa có các định chế về Pháp lý hướng dẫn cho sự hợp tác nêu trên

Trang 10

2.2.3 Phương pháp tiếp cận Phối hợp với cộng đồng

Phương pháp Quy hoạch truyền thống, trong đó tiêu biểu là Quy hoạch tổng thể,hiện nay thường bị phê phán là mang tính cứng nhắc, áp đặt, không dân chủ và thiếu

sự tham gia của cộng đồng Nó dựa trên giả định về một nhóm các chuyên gian Quyhoạch, thu thập và phân tích các dữ liệu có liên quan đến các vấn đề, đề ra các mụctiêu, nhiệm vụ, xác định các phương án và giải pháp khác nhau để giải quyết vấn đềđó

Từ quan điểm thực tiễn có thể có sự nhất trí rằng, bản quy hoạch tốt nhất phải thểhiện được sự mong muốn của người dân – một bản Quy hoạch đáp ứng được nhữngnhu cầu mà người dân cho là cần thiết đối với họ Cách tốt nhất để có được một bảnquy hoạch như vậy là đảm bảo sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng vàthực hiện quy hoạch Nếu chỉ có những nhà quy hoạch chuyên nghiệp tiến hành cáckhảo sát nghiên cứu và sử dụng kết quả nghiên cứu này để lập quy hoạch thì chưa đủ.Trong nhiều trường hợp, để đảm bảo những gì mà người dân mong muốn được tíchhợp vào trong quy hoạch, chỉ có một cách duy nhất là đảm bảo cho họ được tham giatrực tiếp vào Quá trình quy hoạch

Cộng đồng dân cư là chủ thể đa dạng (về lối sống, phong cách, địa vị, điều kiệnkinh tế - thu nhập, trình độ văn hóa…) – cộng đồng là những đối tượng có thể xuấtthân từ nhiều khu vực, lĩnh vực, tâng lớp xã hội khác nhau với lối tư duy và phươngthức sinh hoạt khác nhau Do đó, việc tương tác với cộng đồng đòi hỏi tư duy linhhoạt, tùy hoàn cảnh mà người lập Quy hoạch có những cách thức làm việc khác nhau

Do đó việc hiểu bản chất của cộng đồng khu vực chịu tác động là những ai, có nhữngđặc điểm gì, là thực sự cần thiết

2.2.4 Phương pháp tiếp cận Ứng xử với biến động và điều chỉnh

Đô thị luôn biến động theo hoàn cảnh, bối cảnh kinh tế xã hội, môi trường Do đóQuy hoạch cần được hiểu là một “quá trình sống”, luôn biến động và không bị đóngkhung trên lý thuyết theo các giai đoạn hay theo ý chí của tầm nhìn dài hạn

Tư duy về Sự biến động và điều chỉnh đòi hỏi, người lập Quy hoạch tư duykhông đóng khung một đồ án – Quy hoạch không kết thúc sau khi được phê duyệt màcần tạo ra sản phẩm Quy hoạch phù hợp với thời điểm và dễ dàng điều chỉnh đáp ứngvới những thay đổi trong tương lai Tuy nhiên không vì tính chất biến động này mà

Trang 11

những quy hoạch không khả thi có thẻ đổ lỗi cho đô thị, một quy hoạch có tính dự báogần với thực tế phát triển là yêu cầu cần thiết Do đó, tư duy về biến động và điềuchỉnh đòi hỏi người lập Quy hoạch hình dung được những yếu tố Khung (không hoặckhó thay đổi) và những yếu tố dễ thay đổi trong tương lai Từ đó định hình các dự ánchiến lược, các dự án ưu tiên, tối đa hóa các nguồn lực để Quy hoạch thực sự đóngmột vai trò quan trọng tạo ra các động lực phát triển cho đô thị.

2.2.5 Phương pháp tiếp cận Yếu tố Kinh tế trong Phát triển đô thị

Yếu tố kinh tế đặc biệt quan trọng trọng vấn đề Phát triển đô thị, liên quan mậtthiết với tỷ lệ (tốc độ) Đô thị hóa

Đô thị hóa với tăng trưởng kinh tế, một trong những điều kiện đảm bảo nội dungtăng trưởng kinh tế là quá trình chuyển dịch cơ cấu vùng, ngành để từng bước xác lập

cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm mục tiêu tốc độ tăng trưởng cao, liên tục và bền vững.Trong cơ cấu cần có các ngành, vùng, khu vực phát triển, giữ được vai trò đầu tàu, tạođộng lực cho sự phát triển vùng, ngành và khu vực Quá trình ĐTH thúc đẩy phát triểnkinh tế đô thị, sẽ hình thành những trung tâm về khoa học công nghệ, vốn, nguồn nhânlực cho các địa phương, vùng và khu vực Do cơ cấu ngành kinh tế đô thị chủ yếu làcác ngành phi nông nghiệp (công nghiệp, thương mại và dịch vụ) và sự phát triển cácngành này sẽ là nhân tố quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế Điều này có ý nghĩa hếtsức quan trọng trong tổ chức quá trình tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế thịtrường, một nền kinh tế mà sự phát triển không đều theo mô hình dàn hàng ngang phảiđược coi là hiện tượng, xu hướng tất yếu Theo Francois Perrous, mức tăng trưởngkhông thể diễn ra đồng đều ở mọi nơi Chỉ ở các trung tâm đô thị của một vùng, ở đó

có sự phát triển các ngành công nghiệp có sức bành trướng mạnh, có ảnh hưởng quyếtđịnh đến cả một vùng, một khu vực mới có khả năng tăng trưởng lớn nhất Nhữngtrung tâm đô thị ấy là những cực tăng trưởng Như vậy, vấn đề ĐTH phải được nhìnnhận là một nhân tố tác động đến nội dung phát triển bền vững về mặt kinh tế - hìnhthành một cơ cấu vùng, cơ cấu khu vực để tiến đến cơ cấu kinh tế hợp lý, có sức lantỏa từ các ngành công nghiệp then chốt tới các ngành, các đơn vị kinh tế trong vùng.2.2.6 Phương pháp tiếp cận Không gian với vấn đề phát triển công nghệ

Ngày nay sự phát triển của khoa học công nghệ đang dần biến đổi tập quán sinhhoạt trong đô thị, từ đó không gian đô thị không chỉ đáp ứng các nhu cầu cơ bản mang

Trang 12

tính thể chất như trước nữa mà cần tính đến cả những vấn đề của khoa học công nghệ.

Ví dụ như với sự phát triển mạnh mẽ của Internet trong vài thập kỷ gần đây cho thấy

sự đa dạng trong kinh doanh bán lẻ Việc tổ chức các không gian buôn bán không chỉđơn thuần tập trung thành một khu vực hay một tuyến phố thương mại Quan điểmtrước đây là “buôn có bạn, bán có phường” – nên các ngôi nhà mặt phố thường có lợithế trong kinh doanh, từ đó tạo ra Phố thương mại nhộn nhip, thì nay các loại hìnhkinh doanh qua mạng Internet cho phép người dân đô thị có nhiều cơ hội lựa chọn cácmặt hàng giá thành thấp hơn nhiều so với ở cửa hiệu Theo đó hoạt động dịch vụthương mại cũng trở nên phức tạp hơn rất nhiều bởi các hoạt động này có khả năng lansâu vào các khu vực bên trong các ngõ phố

2.2.7 Phương pháp tiếp cận Khả năng phục hồi của đô thị trong các hoàn cảnh tiêu cực

Khái niệm về phát triển bền vững đô thị đã được phổ cập rộng rãi gần đây, hướngtới việc xây dựng đô thị tồn tại lâu dài, bền vững cho các thế hệ tiếp theo, với việc cânbằng ba yếu tố chính: xã hội, kinh tế và môi trường Tuy nhiên, khái niệm về bền vững

là chưa đủ phổ quát các vấn đề lớn của đô thị khi ngày nay chúng phải đứng trước vàchống chịu với những ảnh hưởng to lớn từ bên trong và bên ngoài như biến đổi khíhậu Liên quan mật thiết với vấn đề này, hiện các quốc gia phát triển trên thế giới đangtheo đuổi một khái niệm mới, đó là để đạt được Sự phát triển bền vững thì đô thị cần

có Khả năng phục hồi (hay Khả năng chống chịu) – City resilience, Resilient ability,Resilient planning – trong những hoàn cảnh tiêu cực Vậy khả năng chống chịu là gì?

Có nhiều khái niệm khác nhau về Khả năng phục hồi, nhưng một trong nhữngkhái niệm rộng rãi nhất là: “Khẳ năng phục hồi là Khả năng của cá nhân, cộng đồng, tổchức, doanh nghiệp và của các hệ thống trong một thành phố có khả năng tồn tại, thíchnghi và phát triển (tăng trưởng) bất kể việc phải đối mặt với những sức ép (thâm căn

cố đế) và những tổn thương bất ngờ”

Hay “Khả năng phục hồi là năng lực của một hệ thống có khả năng hấp thụnhững xáo trộn và tổ chức lại khi phải trải qua những biến động, mà vẫn giữ đượcnhững cấu trúc nội tại, những chức năng cần thiết và tính bản địa”

2.2.8 Phương pháp tiếp cận Tính địa phương và địa điểm

Trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập, các đô thị Việt Namđứng trước nhiều cơ hội phát triển trở thành mắt xích trong “mạng lưới đô thị toàn

Trang 13

cầu” Tuy nhiên đó cũng là thách thức cho vấn đề gìn giữ bản sắc và các giá trị truyềnthống Vấn đề tăng trưởng giúp các đô thị khoác lên mình tấm áo mới biểu hiện quanhà cao tầng, đại lộ xuyên trung tâm, nhưng cũng phá hủy nhiều giá trị cũ đã đượcnuỗi dưỡng qua bao thế hệ không chỉ khu vực trung tâm mà còn ở ngoại vi đô thị

Tư duy về tính địa phương nhằm tạo lập bản sắc cho đô thị, thông qua việc tổchức không gian Tính địa phương có thể được tìm thấy và tinh lọc qua những thôngtin lịch sử, điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội, con người,… Việc tư duy vềtính địa phương giúp cho người làm Quy hoạch không chỉ định hình các giải pháp gìngiữ và bảo tồn mà còn khơi gợi ý tưởng thiết kế mới trong việc tạo lập các không gian

có tính bản địa

2.2.9 Phương pháp tiếp cận con người và môi trường ở

Tư duy về yếu tố con người với môi trường ở nhằm tiếp cận các giải pháp Quyhoạch và thiết kế các không gian đáp ứng hoạt động và nhu cầu cơ bản của người dân

đô thị Môi trường ở của con người rất đa dạng, tuy nhiên có thể chia ra làm bao loại:Môi trường trung tâm, môi trường biệt lập và môi trường

Cho dù con người lựa chọn môi trường sống của họ như thế nào thì việc Quyhoạch tạo lập môi trường ở phải đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của con người nhưlàm việc, học tập, mua bán hàng ngày, nghỉ ngơi giải trí, đi lại,… Đã có rất nhiềunhững nghiên cứu về Quy hoạch và thiết kế môi trường ở cho con người với nhữngtiêu chí khác nhau

2.2.10. Phương pháp tiếp cận thiết lập cấu trúc

Cấu trúc không gian đô thị là nội dung đã được giảng dạy và giới thiệu cho sinhviên ngành Quy hoạch năm thứ 3, ngay trước môn học Quy trình và Phương pháp Quyhoạch đô thị Sinh viên cơ bản nắm được các loại hình cũng như các yếu tố cơ bản cảucấu trúc đô thị Do đó, trong môn học này, sẽ chỉ giới thiệu lại các vấn đề cơ bản củacấu trúc đô thị và tập trung vào các nguyên tắc tư duy và thiết lập cấu trúc đô thị

Trong phương pháp Quy hoạch đô thị, tư duy về cấu trúc là điều kiện tiên quyết,giúp cho việc đọc và hiểu cấu trúc không gian đô thị hiện hữu cũng như lựa chon (xácđịnh) cấu trúc phát triển cho tương lai Việc xác định cấu trúc phát triển cho đô thị -định hình “khung” không gian và cũng là cơ sở để hình thành các dự án chiến lược.Việc hiểu được về cấu trúc đô thị cũng giúp cho ta có một cái nhìn tổng thể về đô

Trang 14

thị, hiểu được vị trí của các khu vực mình tham gia thiết kế, xây dựng nằm ở đâu trongtổng thể đó, có thể phát hiện ra những sai lệch lớn, sự phát triển không đúng hướng.Cũng giống như tìm hiểu về cấu trúc của cơ thể con người, dù không chuyên sâu tacũng thấy ngay nếu cơ thể ai có bộ phận bị cấu tạo sai vị trí, đó là dị dạng.

2.2.11. Phương pháp tiếp cận ứng xử với điều kiện tự nhiên

Tư duy ứng xử với điều kiện tự nhiên rất quan trọng trong Quy hoạch, có thểđược xem xét ưu tiên ở nhiều cấp độ Quy hoạch khác nhau và ngay từ Tư duy thiết lậpcấu trúc đô thị, qua xác định cấu trúc Xanh, hành lang xanh, kết nối bằng giao thông đi

bộ Xây dựng tầm nhìn và kịch bản phát triển cho từng loại không gian xanh đô thị.Tiếp cận ứng xử với điều kiện tự nhiên cho phép nhà quy hoạch hiểu rõ cấu trúc

tự nhiên ở nhiều khía cạnh: cây xanh, mặt nước, địa hình,…Từ đó định hình giải phápQuy hoạch với mục tiêu tôn trọng giá trị của tự nhiên, tôn tạo và bảo vệ những vùngcảnh quan đặc trưng, đóng góp vào cảnh quan chung của đô thị, cũng như tạo ra nhữngkhông gian sinh hoạt cộng đồng hấp dẫn

2.2.12. Phương pháp tiếp cận nhu cầu con người với không gian công cộng

Nhu cầu của con người với Không gian công cộng thể hiện trong mối quan hệ và

sự tương tác Là mối quan hệ liên tục và hai chiều: con người tạo ra và biến đổi khônggian, đồng thời không gian chi phối và tác động lại con người Từ mối quan hệ này,thiết kế không gian đô thị không đơn thuần là tạo hình mà là tạo ra một môi trường xãhội – “là nơi tạo điều kiện và nuôi dưỡng các tương tác xã hội” Phương pháp tiếp cậncon người với không gian công cộng đòi hỏi người làm Quy hoạch phải hiểu rõ bảnchất của Không gian công cộng (Không gian công cộng là gì? Có bao nhiêu loại khônggian công cộng?) và Nhu cầu của con người bao gồm những gì? Từ đó, người làmQuy hoạch sẽ có cách tiếp cận khác nhau với từng thể loại không gian

2.3. Các Phương pháp Phân tích và đánh giá

2.3.1 Phương pháp bản đồ/Mapping

Phương pháp bản đồ là Phương pháp rất phổ biến và cơ bản khi lập quy hoạch đôthị Phương pháp bản đồ được dùng ở mọi giai đoạn quy hoạch nhằm giúp cho ngườixem hình dung được hình ảnh đô thị trong tương lai hay quá trình nghiên cứu, phântích để đưa ra các giải pháp phát triển đô thị Bản đồ cho phép người triển khai và

Trang 15

người xem có một cái nhìn trực quan về đô thị khi các vấn đề được hiển thị trên bản đồtheo các lớp thông tin.

Ngày nay có rất nhiều công cụ phần mềm hỗ trợ phương pháp mapping Tuynhiên để vận dụng hiệu quả các phần mềm hỗ trợ này đòi hỏi người làm quy hoạchkhông chỉ có kỹ năng sử dụng phần mềm mà còn có tư duy truyền đạt các thông tin lênbản đồ

Có thể hiểu phương pháp bản đồ là phương pháp ghi nhận, mô tả, phân tích tổnghợp và nhận thức các hiện tượng (thực tại) cũng như dự báo sự phát triển của chúngthông qua việc thành lập và sử dụng bản đồ Phương pháp lập bản đồ được thể hiện ở

ba hình thái:

- Thành lập bản đồ cơ sở như những mô hình không gian của thế giới vật chất

- Thành lập bản đồ dẫn xuất từ các bản đồ cơ sở với quá trình biến đổi hình biểu thị củabản đồ và tổng quát hóa bản đồ

- Sử dụng bản đồ để mô tả, phân tích tổng hợp và nhận thức thực tại

2.3.2 Phương pháp phân tích SWOT

SWOT là tập hợp viết tắt những chữ cái đầu tiên của các từ tiếng Anh: Strengths(Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và Threats (Nguy cơ).Đây là công cụ cực kỳ hữu ích giúp chúng ta tìm hiểu vấn đề hoặc ra quyết định trongQuy hoạch đô thị

Nói một cách hình ảnh, SWOT là khung lý thuyết mà dựa vào đó, chúng ta có thểxét duyệt lại các chiến lược, xác định vị thế, tiềm năng cũng như hướng phát triển củamột đô thị, phân tích các đề xuất, giải pháp quy hoạch, các dự án chiến lược hay bất cứ

ý tưởng nào liên quan đến quyền lợi của cộng đồng dân cư đô thị Nó cung cấp mộtcông cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng của một đô thị haycủa một đề án phát triển SWOT phù hợp với làm việc và phân tích theo nhóm, được

sử dụng trong việc lập kế hoạch phát triển, xây dựng chiến lược, đánh giá sản phảmquy hoạch hay các dự án phát triển

2.3.3 Phương pháp ứng dụng GIS (Geographical Information System)

Lĩnh vực quy hoạch luôn liên quan tới bản đồ như bản đồ sử dụng đất, bản đồchuyên đề, bản đồ hạ tầng và các loại bản đồ khác Với hai loại bản đồ bản đồ hiệntrạng và quy hoạch tương lai, sử dụng GIS để phân tích tiến trình phát triển của quyhoạch Việc sử dụng GIS trong quy hoạch làm cho công việc tiến hành sẽ nhanh hơn,

Trang 16

và dễ dàng trong phân tích lịch sử hình thành và phát triển của đô thị và định hướngphát triển trong tương lai.

“GIS là hệ thống các công cụ nền máy tính dùng thu thập, lưu trữ, truy cập và biến đổi, phân tích và thể hiện dữ liệu liên quan đến vị trí trên bề mặt Trái đất và tích hợp các thông tin này vào quá trình lập quyết định”

2.3.4 Phương pháp ma trận mục tiêu (Goal Matrix)

Phương pháp ma trận mục tiêu là Phương pháp liệt kê các tiêu chí của các khuvực phát triển đô thị (xây mới hoặc cải tạo) Vì vậy ta có thể coi Phương pháp Ma trậnmục tiêu là sự phát triển ứng dụng của bảng kiểm tra Một bảng ma trận mục tiêu cũng

là sự đối chiếu từng hoạt động của dự án với từng thông số hoặc thành phần để đánhgiá mối quan hệ nguyên nhân và hậu quả

2.3.5 Phương pháp điều tra xã hội

Đối tượng chính thụ hưởng Quy hoạch chính là xã hội hay các cộng đồng dân cư,trong phương pháp tiếp cận thì tiếp cận cộng đồng là yếu tố quan trọng trong các giaiđoạn quy hoạch Điều tra xã hội nhằm tìm hiểu các vấn đề của công đồng dân cư đểgiải đáp một số câu hỏi cơ bản của việc điều tra ví dụ như: Cộng đồng dân cư là nhữngai? Họ làm nghề gì? Thu nhập ra sao? Từ việc điều tra, khảo sát, phân tích thống kêtạo thành một cơ sở dữ liệu xã hội cho đồ án Quy hoạch, từ đó la cơ sở đề xuất cácKịch bản phát triển hướng đến đáp ứng các nhu cầu cộng đồng

Dư luận xã hội là nguồn thông tin phản hồi có vai trò rất quan trọng đối với quátrình ra quyết định của các cơ quan lãnh đạo, quản lý xã hội Để có được những quyếtđịnh đúng đắn, các cơ quan lãnh đạo, quản lý cần nắm chắc được tâm trạng, suy nghĩ,nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, đối tượng mà các quyết định nhằmvào (tác động vào)

2.3.6 Phương pháp chuyên gia

Phương pháp chuyên gia là phương pháp điều tra qua đánh giá của các chuyên gia về vấn đề, một sự kiện khoa học nào đó Đây là phương pháp sử dụng trí tuệ, khai

thác ý kiến đánh giá của các chuyên gia có trình độ cao để xem xét, nhận định một vấn

đề, một sự kiện khoa học để tìm ra giải pháp tối ưu cho vấn đề, sự kiện đó

Phương pháp chuyên gia rất cần thiết cho người thực hiện lập đồ án Quy hoạch

đô thị không chỉ trong quá trình nghiên cứu mà còn cả trong quá trình nghiệm thu,

Trang 17

đánh giá kết quả, hoặc thậm chí cả trong quá trình đề xuất giả thuyết nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu, củng cố các luận cứ.

2.3.7 Phương pháp sơ đồ hóa

Phương pháp sơ đồ hóa (graph) là phương pháp khoa học sử dụng sơ đồ để mô tả

sự vật, hoạt động, cho phép hình dung một cách trực quan các mối liên hệ giữa các yếu

tố trong cấu trúc của sự vật, cấu trúc logic của quy trình triển khai hoạt động (tức làcon đường từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc hoạt động) giúp con người quy hoạch tối ưu,điều khiển tối ưu các hoạt động

2.3.8 Phương pháp phân tích ưu nhược điểm

Phương pháp phân tích ưu, nhược điểm được dùng phổ biến trong Quy hoạch đôthị Nhất là trong giai đoạn xác định các Kịch bản phát triển Tuy nhiên phương phápphân tích ưu nhược điểm nên được thực hiện ngay trong các giai đoạn đầu tiên củaQuy hoạch đô thị

Giai đoạn đánh giá và phân tích đô thị - Phân tích ưu nhược điểm nhằm đánh giá

các lợi thế, tiềm năng sẵn có, cũng như những bất lợi của Khu vực lập Quy hoạch.Phương pháp phân tích ưu nhược điểm cho thấy những yếu tố quan trọng nhất, từ đólàm định hướng cho các Kịch bản phát triển sau này của đô thị

2.3.9 Phương pháp mô phỏng và kịch bản dự báo

Mô phỏng là việc nghiên cứu trạng thái của mô hình để qua đó hiểu được hệthống thực, mô phỏng là tiến hành thử nghiệm trên mô hình Đó là quá trình tiến hànhnghiên cứu trên vật thật nhân tạo, tái tạo hiện tượng mà người nghiên cứu cần để quansát và làm thực nghiệp, từ đó rút ra kết luận tương tự vật thật

Cùng với sự phát triển công nghệ thông tin, việc đưa máy tính vào các trườnghọc đã tạo ra bước ngoặc lớn trong việc dạy học Sử dụng mô phỏng trên máy tính làphương pháp dạy học tích cực phát huy cao độ tính độc lập, khả năng làm việc trí tuệcủa sinh viên, tạo ra một nhịp độ phong cách trạng thái tâm lí mới làm thay đổiphương pháp và hình thức dạy học

Trang 18

BÀI 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.1. Khái niệm Kế hoạch và Quy hoạch

1.1.1 Kế hoạch

Câu hỏi:Tại sao phải lập kế hoạch?

Việc thực hiện quy hoạch (kế hoạch) được diễn ra ở khắp mọi nơi, tất cả mọingười đều lâp kế hoạch (quy hoạch): kế hoạch tài chính, kế hoạch du lịch hay kế hoạch

Trang 19

làm việc đều được thực hiện nhằm mục đích đi đến được kết quả đã định Kế hoạchgiúp chúng ta tổ chức thời gian và thực hiện từng bước để đạt được thành quả

1.1.2.Khái niệm Quy hoạch

Câu hỏi: Quy hoạch là gì?Tại sao phải làm quy hoạch?

Cũng giống như việc lập kế hoạch, quy hoạch đô thị không ngoài mục tiêu chophép chúng ta nhìn thấy trước khi chúng ta thực hiện và giúp ta tránh được các rủi rotiềm tàng Trong suốt quá trình quy hoạch giúp đánh thức cho chúng ta những hiểu biết

về nới ta đang sống và chúng ta phải làm gì cà trong hiện tại và tương lai để đạt đượcnhững thành quả mong muốn Sau đó ta có thể chuyển thể quy hoạch thành hành độngthực hiện với các nhiệm vụ và thời gian cụ thể Quy hoạch sẽ tiết kiệm cho xã hội thờigian, nguồn lực và tiền bạc Nó thật sự có ý nghĩa với ngân sách hộ gia đình cũng nhưvới ngân sách đô thị

Một bản Quy hoạch đô thị sẽ thể hiện cả những khái cạnh tích cực và tiêu cựccủa cộng đồng hiện tại Và nó sẽ đưa ra những hướng dẫn để sử dụng “tiền công” đểcải thiện đời sống cộng đồng, trở thành một nới tốt hơn

Theo APA - Hội Quy hoạch Mỹ Chúng ta có thể hiểu:

“Quy hoạch hay quy hoạch đô thị (thành phố) là một lĩnh vực chuyên sâu có tính

“linh hoạt” , hướng tới những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng sống (phúc lợi) của cộng đồng bằng cách kiến tạo nhiều hơn những nơi thuận tiện, công, bằng, lành mạnh, hiệu quả, hấp dẫn cho các thế hệ hiện tại và cả tương lai”

“Việc Quy hoạch tốt sẽ giúp thiết lập nên các cộng đồng mà ở đó con người có nhiều sự lựa chọn tốt hơn cho nơi họ sống và cách họ sống (better choices for where and how people live) Quy hoạch giúp cho cộng đồng hình dung ra tương lai của họ.

Nó giúp cho họ tìm thấy sự cân bằng giữa việc phát triển mới với các dịch vụ thiết yếu (essential services), bảo vệ môi trường và những thay đổi “sáng tạo”

“Quy hoạch…được nhìn nhận là một sự nỗ lực trong việc ra quyết định, mà thông qua các tổ chức dân chủ việc đưa ra các quyết định mang tính tập thể, để thực hiện những dự báo một cách chuyên sâu, toàn diện và lâu dài của những xu hướng trong tương lai…xây dựng và thực hiện hệ thống khung các chính sách phối hợp các tác dụng “uốn nắn” những xu hướng dự báo theo những ý tưởng đã đặt ra, được hiểu như mục tiêu cụ thể cần đạt được”.

Quy hoạch theo Luật Quy hoạch Việt Nam:

Trang 20

QH đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống côngtrình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sốngthích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án Quy hoạch

đô thị

Có thể hiểu Quy hoạch: là bộ môn khoa học kỹ thuật, xã hội, nhân văn, là nghệ

thuật tổ chức không gian sống cho các đô thị và các khu vực đô thị Nó là nghệ thuật tổchức các không gian chức năng, khống chế hình thái kiến trúc trong đô thị trên cơ sởcác điều tra, dự báo, tính toán sự phát triển, đặc điểm, vai trò, nhu câu và nguòn lựccủa đô thị, nhằm cụ thể hóa chính sách phát triển, giảm thiểu các tác động có hại phátsinh trong quá trình đô thị hóa, tận dụng tối đa mọi nguồn lực, và hướng tới Phát triểnbền vững

1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ của công tác Quy hoạch đô thị

1 Cụ thể hoá và đáp ứng được yêu cầu của Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế

- xã hội, định hướng phát triển hệ thống đô thị quốc gia và các quy hoạch vùng liênquan

2 Thể hiện mục tiêu, chính sách của chính quyền địa phương về sử dụng đất, bốtrí hệ thống hạ tầng đô thị, các vấn đề về bảo vệ môi trường và phát triển khu dân cưcủa đô thị trong từng giai đoạn nhất định

3 Dự báo một cách khoa học, đáp ứng được yêu cầu thực tế và phù hợp với xuthế phát triển lâu dài trên cơ sở các tài liệu, số liệu thống kê và điều tra, khảo sát

4 Bảo đảm tính thống nhất với quy hoạch phát triển các ngành khác trong phạm

vi đô thị Bảo đảm hài hoà giữa lợi ích quốc gia, cộng đồng và cá nhân

5 Bảo đảm khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đất đai đô thị, cácnguồn lực phát triển phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc điểm văn hoá, lịch sử, kinh tế

- xã hội của đô thị nhằm tạo thuận lợi cho việc phát triển và tăng trưởng kinh tế; bảođảm quốc phòng an ninh; nâng cao điều kiện sống và tiện nghi cho mọi hoạt động của

cư dân đô thị; tạo ra nguồn lực để phát triển đô thị

6 Bảo đảm tính đồng bộ, phát triển bền vững trong việc khai thác sử dụng tàinguyên, đất đai, không gian kiến trúc, hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật đô thị

và không gian ngầm; phát triển hài hoà giữa khu vực nội thị và ngoại thị Bảo tồn các

di tích văn hoá, cảnh quan truyền thống và nét đặc trưng địa phương

7 Bảo đảm đáp ứng nhu cầu sử dụng về hạ tầng xã hội đô thị gồm nhà ở, côngtrình y tế, giáo dục, văn hoá, thể dục thể thao, thương mại và các công trình dịch vụkhác

Trang 21

8 Bảo đảm đáp ứng nhu cầu sử dụng về hạ tầng kỹ thuật gồm các công trình giaothông, cấp năng lượng, chiếu sáng, cấp nước, thoát nước, xử lý chất thải, thông tin liênlạc; đảm bảo sự kết nối, liên thông, thống nhất giữa các hệ thống hạ tầng kỹ thuậttrong đô thị và với các công trình hạ tầng kỹ thuật cấp vùng, quốc gia và quốc tế.

9 Bảo vệ môi trường, ngăn ngừa ô nhiễm và hiểm hoạ ảnh hưởng đến cộngđồng, cải thiện cảnh quan

1.3. Kiến trúc sư Quy hoạch

1.3.1.Công việc của kiến trúc sư Quy hoạch

Những người làm quy hoạch chuyên nghiệp giúp ích trong việc tạo ra tầm nhìnbao quát (rộng) cho cộng đồng Họ nghiên cứu, thiết kế, phát triển các chương trình,quản lý các quy trình chung, tác động tới sự thay đổi của xã hội, thực hiện các phântích kỹ thuật, quản lý và giáo dục

Quy hoạch gia phát triển một đồ án QH thông qua việc phân tích các dữ liệu vàxác định mục tiêu cho cộng đồng hay dự án Quy hoạch gia giúp cho cộng đồng và các

“nhóm đối tượng khác nhau” xác định được mục tiêu phát triển của họ và tạo ra mộttầm nhìn cụ thể

Quy hoạch gia xác định các chiến lược để cộng đồng có thể đạt được mục tiêu vàtầm nhìn đã có Các nhà QH cũng có trách nhiệm thực thi các chiến lược này, vàthường xuyên phối hợp với nhiều nhóm tham gia

Điều quan trọng là phải hiểu rằng Quy hoạch có thể thực hiện dưới nhiều hìnhthức như: tư vấn chính sách, các kế hoạch hành động cộng đồng, quy hoạch tổng thể,chiến lược quản lý, thực thi hay bảo tồn giá trị lịch sử

1.3.2.Quy hoạch gia làm việc ở đâu?

Quy hoạch gia làm việc ở khắp nơi trên thế giới Họ làm việc ở những khu vựcnông thôn, ngoại thành và các đô thị lớn Họ hoạt động ở những khu vực Công trongliên bang, tiểu bang và chính quyền địa phương Họ cũng làm việc ở những tổ chứcphi lợi nhuận (NGO), ở những công ty tư nhân hay những công ty phát triển BĐS hoặccác công ty tư vấn đa ngành

1.3.3.Những chuyên ngành liên quan tới Quy hoạch đô thị

Hầu hết các Quy hoạch gia thường theo đuổi một hoặc nhiều lĩnh vực chuyên sâutrong chuyên ngành Quy hoạch rộng lớn Có những người dành phần lớn sự nghiệptrong các chuyên ngành hẹp, nhưng hầu hết các quy hoạch gia tìm kiếm các cơ hộicông việc trong sự phối hợp đa ngành

Dưới đây là một số chuyên ngành phổ biến:

- Phát triển cộng đồng (Community Development)

- Sử dụng đất và các chỉ tiêu khống chế (Land use & Code Enforcement)

Trang 22

- Quy hoạch giao thông (Transportation Planning)

- Quy hoạch môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên (Environmental

/ Natural Resources Planning)

- Phát triển kinh tế (Economic Development)

- Thiết kế đô thị (Urban Design)

- Quản lý quy hoạch (Planning management/finance)

- Nhà ở (Housing)

- QH Công viên và các khu vực giải trí (Parks & Recreation)

- QH bảo tồn (Historic preservation)

- Hoạt động cộng đồng (Community Activism/Empowerment)

1.3.4.Quy hoạch gia cần những kỹ năng gì

- Kiến thức về cấu trúc không gian đô thị (thiết kế cấu trúc vật thể) và cách thức

- Khả năng làm việc với công chúng và cộng đồng đa dạng

- Khả năng hoạt động như một người trung gian hòa giải khi xung đột lợi íchcộng đồng

- Hiểu biết về mối quan hệ giữa quy định sử dụng đất đai với dịch vụ

- Thuần thục các công cụ GIS và các công cụ tin học khác

- Kiến thức luật pháp về … mọi mặt liên quan

- … v.v

BÀI 2 KHÁI NIỆM VỀ QUY TRÌNH QUY HOẠCH VÀ CÁC LOẠI HÌNH

QUY HOẠCH ĐÔ THỊ VIỆT NAM

2.1. Tổng quan về quy trình Quy hoạch

2.1.1.Khái niệm Quy trình quy hoạch đô thị

Câu hỏi: Quy trình quy hoạch là gì?

Trang 23

Có nhiều vấn đề kỹ thuật, chính trị, luật pháp và quản lý biến đổi từ quyền hạnnày tới quyền hạn khác Điều quan trọng cần phải nhớ rằng một quy hoạch hiệu quảphải thực sự là một quy trình liên tục (tuần hoàn), chứ không chỉ là một dự án để viếtnên một kế hoạch.

Ba câu hỏi hướng dẫn Quy trình quy hoạch (three questions guide the planning process

- What do you have? (Bạn có gì?)

- What do you want? (Bạn muốn gì?)

- How do you get it? (Làm thế nào để đạt được?)

Tuy nhiên, trước khi bắt tay vào thực hiện Quy trình QH, có một bước cơ bản vàquan trọng đó là “lập kế hoạch cho quy hoạch” - Before you plan, you should “plan toplan”

Lập kế hoạch cho Quy hoạch

(Before you start, plan to plan)

Một số nhân tố chính trong bước này bao gồm: việc phân bổ thời gian (tiến độthực hiện), nguồn nhân sự, tiền bạc, và năng lực thực hiện Có một số câu hỏi chúng tanên đặt ra trước khi thực hiện quá trình lập quy hoạch:

1 Ai sẽ chuẩn bị cho việc lập quy hoạch?

2 Quy trình quy hoạch sẽ kéo dài trong bao lâu?

3 Những vấn đề gì sẽ xảy đến với đồ án QH?

4 Bao nhiều tiền dành cho quá trình thực hiện QH?

5 Tiếp cận với cộng đồng như thế nào?

….

Khi chúng ta đã có “Kế hoạch cho Quy hoạch”, hay chính là những công việc cần làm thì đã sẵn sàng tiến hành QUY TRÌNH QUY HOẠCH, để trả lời ba câu hỏi:

- WHAT DO YOU HAVE? (Bạn có những gì?)

Điều vô cùng quan trọng là chúng ta cần những thông tin cần thiết và chính xác ởthời điểm lập QH Chúng ta sẽ không thể quy hoạch để duy trì hay thay đổi tình trạnghiện tại (hiện trạng) nếu như chúng ta không hiểu về hiện trạng Những thông tin nàyđược xem là những “thông tin nền”, hay những dữ liệu phân tích, là bước đầu tiênnhưng mang tính quyết định

Việc quy hoạch cho tương lai đòi hỏi sự hiểu biết thấu đáo về quá khứ và hiện tại

Trang 24

Thu thập dữ liệu và phân tích các xu hướng cung cấp một nền tảng quan trọngcho những kết luận về khu vực quy hoạch

- WHAT DO YOU WANT? (Bạn muốn làm gì?)

Nội dung của một ĐA Quy hoạch phải phán ánh được ước muốn (tầm nhìn) củacộng đồng, với một loạt các CHIẾN LƯỢC đặt ra để đạt được tầm nhìn, và nhữngchính sách cho tới những việc ra quyết định đều phải hướng tới mục tiêu của tầm nhìn

- WHO DECIDES WHAT YOU WANT? (Ai là người quyết định thứ bạn muốn?) – Tất

cả mọi người?

Những điều mà cộng đồng mong muốn có thể được diễn đạt như một Tầm nhìn, Viễn cảnh, hay môt Kịch bản, và nó nên được thể hiện bằng lời và những mô tả một

ước muốn của tương lai

Vấn đề ở đây là mang lại cho cộng đồng những cơ hội để chia sẻ, bày tỏ nhữngmong muốn, hy vọng và những ước mơ Việc này có thể được thực hiện thông qua cáccông cụ như: tổ chức hội thảo, lấy ý kiến, workshop,…

- HOW WILL YOU GET IT? (Thực hiện như thế nào)

Một đồ án Quy hoạch sẽ rất ít giá trị nếu như nó không được thực hiện Vậy nónên thực hiện như thế nào? Câu trả lời là phải bắt đầu từ TẦM NHÌN (Vision) Tầmnhìn chứa đựng những mô tả về tương lai mong muốn đạt được của cộng đồng

Vậy, sẽ có những loại bản vẽ mô tả tầm nhìn ở nhiều khía cạnh khác nhau như:

sử dụng đất đai, hệ thống giao thông và sự lưu thông, hay những vùng cần bảo tồn

Một bản Quy hoạch tổng thể cũng giống như lập kế hoạch xây một ngôi nhà

mới Bạn cần: các bản vẽ thi công, tiền (ngân quỹ), kế hoạch xây dựng, giấy phép XD,nhà thầu chính, thầu phụ, tư vấn cảnh quan, nội thất và vật liệu xây dựng

Cũng như vậy, việc thực hiện quy hoạch cũng cần nhiều những quy hoạch chi tiếtnhư: hệ thống đường GT, đường đi bộ, cấp nước, thoát nước, và những loại hình dịch

vụ cơ bản khác Một lượng vốn cần được vạch ra để thực hiện việc xây dựng hệ thốngnày

2.2 Quy trình quy hoạch đô thị ở Việt Nam

Bước 1 Lập nhiệm vụ Quy hoạchBước 2 Thẩm định nhiệm vụ Quy hoạchBước 3 Phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch

Trang 25

Bước 4 Lập đồ án Quy hoạchBước 5 Thẩm định đồ án Quy hoạchBước 6 Phê duyệt đồ án Quy hoạchBước 7 Công bố quy hoạch và Quy định quản lý theo đồ án 2.3 Quy trình lập đồ án Quy hoạch đô thị

Kết quả cuối cùng của một đồ án Quy hoạch phản ánh một quá trình tư duy logicvới bốn bước cơ bản:

▪ Phân tích đô thị ▪ Xây dựng tầm nhìn và định hướng phát triển ▪ Giải pháp quy hoạch tổng thể, chi tiết

▪ Triển khai thực hiệnViệc xác định các bước thực hiện giúp cho người lập quy hoạch định hình rõnhiệm vụ cần thực hiện, thời gian thực hiện và mục tiêu đạt được của đồ án

2.3.1. Phân tích đô thị - Công cụ kỹ thuật cho nghiên cứu thiết kế

Được xem là giai đoạn quan trọng trong quy trình quy hoạch, mục đích nhằm đọc

và hiểu về đô thị (hay khu vực lập quy hoạch)

Trước nhiệm vụ cụ thể là phải phân tích được đặc điểm của một khu đất, sao cho

lộ rõ được tiềm năng phát triển của nó để thuyết phục những đối tượng khác nhau.Việc phân tích đô thị tạo nên sự hiểu biết trên góc độ thiết kế về khu vực - nhữnglôgic không gian hiện hữu, tiềm năng của đô thị và cảnh quan của nó, bao gồm cảnhững lớp lịch sử và những biểu hiện thường nhật Điều này là tuyệt đối cần thiết để

có thể tạo ra những biến đổi hay phát triển những dự án có lôgíc, liên quan tới điềukiện cụ thể của địa điểm đó và có thể xử lý một cách nhạy cảm đối với những giá trịlịch sử của đô thị Bởi lẽ, những thực tế và bối cảnh đô thị luôn phức tạp và bao gồmnhiều lớp thông qua những giai đoạn lịch sử, phân tích đô thị cần phải sử dụng nhiềugóc nhìn và nhiều phương pháp khác nhau Ngoài ra, những hoạt động sinh sống hàngngày cũng tích tụ trong cấu trúc đô thị Phân tích đô thị sẽ trở thành một câuchuyện nhiều lớp về khu vực, trong mối quan hệ với toàn đô thị Một phân tích đôthị có ý nghĩa cần kết hợp sự nhạy cảm với hiểu biết và nhận thức về những đặcđiểm của khu vực, với sự thẩm định và đánh giá về nhu cầu đương đại và tươnglai Phân tích đô thị là vô nghĩa nếu ta theo trường phái xóa sạch xây mới

Tuy nhiên, phân tích đô thị không có nghĩa là thần tượng hóa hiện tại Từ đây trở

đi, người đọc cần rõ là: một mặt, phân tích đô thị tạo cơ sở cho một cách tiếp cận phát

Trang 26

triển đô thị thích hợp với bối cảnh, một cách tiếp cận coi thực tế hiện hữu là xuất phátđiểm cho mọi can thiệp; Mặt khác, những dự án đô thị được coi là bổ sung cho phầnhiện hữu (thay vì thay thế), chúng được cấy vào cấu trúc đô thị hiện hữu.

Với mỗi loại hình đồ án hay tính chất khu vực nghiên cứn mà việc phân tích đôthị nhấn mạnh vào những khía cạnh khác nhau Ví dụ như lập quy hoạch ở vùng đồngbằng, vùng núi hay quy hoạch khu dân cư mới, quy hoạch cải tạo, quy hoạch khu dulịch,… Việc phân tích cũng nhằm đánh giá các nguồn lực, thế mạnh của khu vựcthông qua phân tích các yếu tố: tự nhiên, môi trường xây dựng, kến trúc, kinh tế, xãhội và hệ thống hạ tầng kỹ thuật

Phân tích đô thị nhìn từ trên bao gồm nhiều lớp bản đồ về khu vực đô thị Nókết hợp những bản đồ lịch sử và hiện trạng Sự tiến hóa lịch sử của một khu vực

có thể bộc lộ những logic nội tại, nếu được thể hiện chuyên nghiệp và vượt quamức mô tả đơn thuần Tầm nhìn từ trên bao gồm những cách đọc hệ sinh thái, lưuvực, cấu trúc địa hình địa mạo v.v., những thứ rất quan trọng trong phân tích tổngthể của những vùng đất rộng Nó sử dụng tất cả những thông tin có được bằng mọi

kỹ thuật cho phép (từ những bản đồ thô sơ tới GIS) Đây là nguồn thông tin thứcấp, chính thống, có thể lấy được từ các nhóm chuyên gia khác Nhiệm vụ quantrọng nhất của người phân tích là phải xử lý những thông tin, bản đồ thứ cấp này

để có thể đọc và hiểu cùng một lúc nhiều thể loại thông tin và quá trình tinh lọc đểlàm nổi bật logic nội tại của khu vực Nếu mỗi lớp bản đồ chỉ là một lớp thông tinrời rạc, khi kết hợp với nhau không tạo ra được nhận thức mới về tổng thể thì chỉ

là thu thập thông tin chứ chưa phải phân tích đô thị

Đối với những đồ án quy hoạch cải tạo đô thị thì công tác phân tích đô thị là đặcbiệt quan trọng và chiếm nhiều thời gian hơn cả

Câu hỏi thường được đạt ra ở giai đoạn này:

- Những đặc trưng của cộng đồng và khu vực xung quanh là gì?

- Người dân là ai, làm gì, nghề nghiệp, thu nhập?

- Người dân sử dụng đất của họ như thế nào?

- Mức độ phục vụ của các công trình công cộng như thế nào?

Trang 27

Với mỗi nội dung trong giai đoạn phân tích đô thị, người lập quy hoạch cần đưa

ra kết quả thống kê, kết luận cho giai đoạn này và báo cáo cho các bên liên quan.2.3.2.Xây dựng tầm nhìn

Tầm nhìn hay viễn cảnh của đô thị được hiểu là những mong muốn, ước vọngcủa chúng ta về một đô thị phát triển trong một giai đoạn ở tương lai (10, 20, 50 năm)Xây dựng tầm nhìn có vai trò định hình hướng phát triển cho khu vực, tầm nhìn

lệ thuộc rất nhiều vào kết quả của giai đoạn phân tích đô thị do đó cơ sở cho việc xâydựng tầm nhìn chính là kết quả của quá trình phân tích đô thị, trong đó cần xác địnhđược tiềm năng phát triển về nhiều mặt: kinh tế, xã hội, môi trường,…

Câu hỏi thường được đặt ra là:

- Tính chất hay chức năng chính của đô thị là gì?

- Đô thị sẽ phát triển theo những hướng nào?

- Tiềm năng chính cho việc phát triển kinh tế là gì?

- Những đặc trưng về văn hóa là gì (con người, phong tục, tập quán)?

2.3.3.Giải pháp quy hoạch tổng thể, chi tiết

Giải pháp quy hoạch tổng thể nhằm hiện thực hóa các mục tiêu đã đặt ra trongcông tác xây dựng tầm nhìn và phân tích đô thị, xác định cấu trúc phát triển về khônggian, thiết lập kế hoạch sử dụng đất và hạ tầng kỹ thuật đô thị

Các giải pháp cho quy hoạch phát triển đô thị rất đa dạng, tùy thuộc và yêu cầuphát triển và những đặc trưng tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội mà việc tiếp cận và ápdụng các giải pháp đô thị là rất khác nhau Tuy nhiên thông thường các giải pháp quyhoạch nhằm đạt được một số mục tiêu cơ bản như:

- Thiết lập môi trường sống bền vững

- Phát triển kinh tế hay tăng trưởng phải cân bằng với việc bảo vệ môi trường tựnhiên, sinh thái

- Gìn giữ và phát huy các giá trị hiện có

- Giải quyết các vấn đề đô thị (sự thiều hụt nhà ở, hạ tầng xã hội, chất lượngsống, vấn đề giao thông hay hạ tầng kỹ thuật…)

Giải pháp quy hoạch chi tiết hay các dự án ưu tiên (dự án chiến lược) cũng đượcxác định ngay trong giai đoạn này Qua đó, các dự án chiến lược có vai trò thúc đẩyngay quá trình thực thi đồ án ở những khu vực có thể phá triển trước, hoặc những dự

án cải tạo đô thị khi đã xác định được các vấn đề trầm trọng

Trang 28

Hình 3 1 Quy trình lập Quy hoạch chung đô thị - Nguồn: Dự án CUP CUP

2.4. Các loại hình Quy hoạch đô thị Việt Nam

2.4.1.Quy hoạch chung đô thị

Quy hoạch chung được lập cho thành phố trực thuộc trung ương, thành phố thuộctỉnh, thị xã , thị trấn và đô thị mới

Nội dung của QH Chung đô thị: “bao gồm việc xác định mục tiêu, động lực phát

triển, quy mô dân số, đất đai, chỉ tiêu về hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật; mô hình phát triển, định hướng phát triển không gian nội thị và khu vực ngoại thị, trung tâm

Trang 29

chính trị - hành chính, dịch vụ, thương mại, văn hoá, giáo dục, đào tạo, y tế, công viên cây xanh, thể dục, thể thao cấp đô thị; quy hoạch hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật khung trên mặt đất, trên cao và ngầm dưới đất; đánh giá môi trường chiến lược; kế hoạch ưu tiên đầu tư và nguồn lực thực hiện” - Luật Quy hoạch 2009

- Yêu cầu “Xác định mục tiêu”, trong đa số các trường hợp nên được hiểu là

xác định viễn cảnh mong muốn - “tầm nhìn” cho tương lai phát triển đô thị đếnmột mốc thời gian quy hoạch nào đó Đây là thuật ngữ được dùng phổ biến trongquy hoạch đô thị trên thế giới và gần đây cũng đã thường xuất hiện trong lĩnh vựcquy hoạch đô thị tại Việt Nam Tầm nhìn/viễn cảnh mong muốn có thể xác địnhcho các giai đoạn quy hoạch dài hạn khác nhau và thường là cho 20 năm Nhiềuchuyên gia cho rằng giai đoạn 20 năm là phù hợp để có thể đánh giá lại việc thựchiện quy hoạch và đưa ra những điều chỉnh cần thiết về tầm nhìn (đặc biệt khi sosánh với tuổi thọ và đời hoạt động của mỗi con người, cũng như tuổi thọ và đờihoạt động của các dự án phát triển đô thị)

- Yêu cầu “Xác định động lực phát triển đô thị” cần được hiểu là xác định tiềm

năng và các chiến lược phát triển về kinh tế - xã hội – môi trường để đạt tới tầm nhìn,nghĩa là xác định các tiềm năng của đô thị và chiến lược (cách để đi từ “vị trí” này đến

“vị trí” khác) khai thác, phát huy tiềm năng hoặc tạo tiềm năng mới để hướng tới viến

cảnh/tầmnhìn mong muốn của đô thị Cách hiểu này khác với cách coi các ý định về phát triển kinh tế - xã hội là những động lực có sẵn, hay chắc chắn có, sẽ thúc đẩy phát triển đô thị (ví dụ, chính quyền dự kiến sẽ quy hoạch khu công nghiệp hoặc đại

học (không khẳng định là nhà nước sẽ đầu tư mà chỉ là mong muốn, có thể do các khuvực kinh tế khác thực hiện, do đó không chắc chắn là sẽ được thực hiện) và quyhoạch đô thị coi đó là động lực sẽ có để phát triển đô thị)

- Yêu cầu “Xác định quy mô dân số, đất đai”: là những nội dung hết sức

quan trọng, ảnh hưởng đến các giải pháp quy hoạch và tác động lớn đến đô thị.Khi thực hiện các nội dung này cần cảnh giác rằng các nội dung dự báo thường lạcquan hơn so với thực tế (điều này có thể nói là phổ biến, khi lợi ích từ sự phát triển

đô thị (về bất động sản, tác động đối với cộng đồng…) chịu ảnh hưởng từ quy mô

dự báo) Những nội dung dự báo quá lạc quan hoặc quá thấp trong thực tế sẽ có tácđộng mạnh đến sự phát triển theo những mục đích đã sắp đặt trước của các khu vực

Trang 30

đô thị mới Rõ ràng là cần phải tránh hình thức phát triển bị chi phối bởi các hoạt độngđầu cơ, trong đó tạo điều kiện cho những người có quyền lực có thể hưởng lợi từ việcđầu tư cơ sở hạ tầng vào các khu vực phát triển đô thị Các nội dung dự báo cũngkhông thể chỉ đơn thuần đáp ứng cho những mong muốn về quy mô của các cấpchính quyền Yêu cầu “Xác định quy mô dân số, đất đai” là những nội dung mangtính dự báo, có khả năng biến động, do đó, cần có một nội dung quan trọng khác làxây dựng lộ trình thực hiện quy hoạch với trình tự ưu tiên rõ ràng và các nguyên tắcthực hiện quy hoạch, đáp ứng lần lượt những quy mô khác nhau, với những kịch bảnkhác nhau, phù hợp với thực tế phát triển đô thị, thay vì cách phân đợt xây dựng đơngiản thành 2 giai đoạn 5-7 năm và 20 năm với những chỉ tiêu cụ thể, cứng nhắc, nhưcách làm của thời kinh tế kế hoạch hóa tập trung Một mặt khác, vô cùng quan trọng,

là cần có các chính sách đảm bảo quyền lợi của người dân trong khu vực bị ảnh hưởngcủa quy hoạch trong suốt quá trình “chờ” thực hiện quy hoạch Đây là vấn đề xã hộirất lớn, có thể khẳng định hoặc phủ nhận ý nghĩa và hiệu quả về mặt xã hội của pháttriển đô thị

- Yêu cầu “Xác định mô hình phát triển, cấu trúc phát triển không gian nội và ngoại thị”: Đây cũng chính là những nội dung thiết kế đô thị tổng thể Trong đó, các

nội dung của đồ án quy hoạch đô thị cần ít mang tính chỉ định hơn, được thể hiệnthông qua các mối quan hệ trong cấu trúc không gian của toàn đô thị, cùng với thuyếtminh hướng dẫn, có vai trò định dạng cho quá trình phát triển đô thị Tương tự nhưvậy, đối với mỗi khu vực (diện) trong đô thị, xác định, thể hiện và quy định về cácmối quan hệ giữa các thành phần trong đó theo các yếu tố như: khối tích công trình,hình thái kiến trúc, không gian xây dựng và không gian trống, các khu vực xây mới vàcác khu vực cũ cải tạo… (một số khu vực nào đó có thể được phát triển tự do, một sốkhu vực khác lại phải quản lý chặt hơn tùy thuộc vào mục tiêu và chiến lược quyhoạch, tránh quan điểm cho rằng phải quy định và kiểm soát mọi yếu tố thì mới đảmbảo khả năng quản lý đô thị)

- Riêng đối với yêu cầu xác định hệ thống trung tâm của các đô thị, không nên

hiểu là toàn bộ các chức năng phải được chỉ định riêng rẽ, cứng nhắc và cụ thể nhưtrong cách làm còn khá phổ biến hiện nay Khu trung tâm đô thị, trước hết, cần đượchiểu là khu vực tập trung nhiều hoạt động đô thị với mật độ cao hơn các nơi khác

Trang 31

Cũng có thể có các khu trung tâm chuyên ngành, nhưng để đảm bảo quy hoạch pháttriển bền vững, cần nỗ lực sử dụng hỗn hợp các chức năng một cách hợp lý và tối đa ởmọi cấp độ (đô thị, khu vực/quận, phường/đơn vị ở, nhóm công trình, trong một côngtrình…) Chỉ nên khẳng định quy mô và vị trí cụ thể cho các công trình thật đặc biệt.2.4.2 Quy hoạch phân khu đô thị

Quy hoạch phân khu được lập cho các khu vực trong TP, thị xã và đô thị mới;

Nội dung của QH phân khu đô thị: bao gồm việc xác định chức năng sử dụng cho

từng khu đất; nguyên tắc tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan cho toàn khu vực lập quy hoạch; chỉ tiêu về dân số, sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật đối với từng ô phố; bố trí công trình hạ tầng xã hội phù hợp với nhu cầu sử dụng; bố trí mạng lưới các công trình hạ tầng kỹ thuật đến các trục đường phố phù hợp với các giai đoạn phát triển của toàn đô thị; đánh giá môi trường chiến lược.

Trước hết cần khẳng định “phân khu” là để kiểm soát, khuyến khích và quản lýphát triển và cải tạo đô thị , không chỉ đơn thuần là phân khu chức năng như đượchiểu phổ biến hiện nay

Các nội dung của đồ án quy hoạch phân khu, tuy cụ thể hơn đồ án quy hoạchchung, nhưng cũng là đồ án phục vụ cho mục tiêu quản lý, cũng cần mang tính cấutrúc và nguyên tắc

Yêu cầu về tổ chức không gian trong Luật đã nêu là “xác định nguyên tắc tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan” Đây là quy định cho thấy rõ quan điểm về

việc giảm sự cứng nhắc của đồ án quy hoạch phân khu và tiến đến phương pháp quy

hoạch cấu trúc Nhưng yêu cầu xác định “Chỉ tiêu về dân số, sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật đối với từng ô phố”, nếu được hiểu là các chỉ tiêu cứng nhắc như hiện nay, sẽ

mâu thuẫn với nội dung trên Các chỉ tiêu này, tùy theo nhu cầu kiểm soát phát triển,

có thể là chỉ tiêu cứng - cụ thể, cũng có thể là chỉ tiêu mang tính ngưỡng hoặc thậm chí

có những chỉ tiêu không quy định (hay nói cách khác quy định là được phát triển tựdo) Kể cả quy mô, vị trí các công trình hạ tầng xã hội thiết yếu có thể được thay đổilinh hoạt cho phù hợp nhu cầu thực tế Điều quan trọng hơn là cần khẳng định cácnguyên tắc bắt buộc tuân thủ, ví dụ như: quy mô tối thiểu của các công trình phúc lợicông cộng do nhà nước đầu tư để đảm bảo phục vụ cho các thành phần khác nhautrong xã hội, tránh tình trạng như thực tế hiện nay, các khu đô thị mới gần như

Trang 32

không bố trí chợ truyền thống và chỉ quy hoạch trường học với quy mô tối thiểu,nhưng đều là trường tư thục hoặc trường quốc tế, đòi hỏi học phí ở mức chỉ mộtnhóm nhỏ người dân đô thị có thể chi trả Mặt khác, yêu cầu quy định chỉ tiêu

“đến từng ô phố”, trong trường hợp có nhiều ô phố có cùng tính chất thì có thểquy định theo khu vực, tùy theo nội dung và mục tiêu quy hoạch của đồ án

2.4.3 Quy hoạch chi tiết đô thị

Quy hoạch chi tiết được lập cho khu vực theo yêu cầu phát triển, quản lý đô thịhoặc nhu cầu đầu tư xây dựng

Nội dung của đồ án QH chi tiết: bao gồm việc xác định chỉ tiêu về dân số, hạ tầng

xã hội, hạ tầng kỹ thuật và yêu cầu tổ chức không gian, kiến trúc cho toàn khu vực quy hoạch; bố trí công trình hạ tầng xã hội phù hợp với nhu cầu sử dụng; chỉ tiêu sử dụng đất và yêu cầu về kiến trúc công trình đối với từng lô đất; bố trí mạng lưới các công trình hạ tầng kỹ thuật đến ranh giới lô đất; đánh giá môi trường chiến lược.

Các yêu cầu về nội dung đối với loại hình quy hoạch này khá hợp lý, tuy nhiên

yêu cầu “quy định về kiến trúc công trình đối với từng lô đất” vẫn cần được hiểu là

chỉ quy định những gì cần kiểm soát để phù hợp với mục tiêu quy hoạch, không phảilúc nào cũng cần quy định tất cả mọi nội dung Tránh quan niệm phổ biến hiện nayrằng phải quy hoạch xây dựng những công trình giống hệt nhau đứng cạnh nhau thìmới đảm bảo cảnh quan đô thị Đồng thời cần tránh lạm dụng thuật ngữ “manh mún”,tránh xu hướng đơn điệu hóa, cần đảm bảo sự đa dạng phong phú và cần thiết trong

tổ chức không gian cũng như xã hội đô thị

2.4.4 Thiết kế đô thị

- Nội dung thiết kế đô thị trong đồ án quy hoạch chung bao gồm việc xác địnhcác vùng kiến trúc, cảnh quan trong đô thị; đề xuất tổ chức không gian trong các khutrung tâm, khu vực cửa ngõ đô thị, trục không gian chính, quảng trường lớn, khônggian cây xanh, mặt nước và điểm nhấn trong đô thị

- Nội dung thiết kế đô thị trong đồ án quy hoạch phân khu bao gồm việc xác địnhchỉ tiêu khống chế về khoảng lùi, cảnh quan đô thị dọc các trục đường chính, khutrung tâm; các khu vực không gian mở, các công trình điểm nhấn và từng ô phố chokhu vực thiết kế

Trang 33

Định hướng quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị quốc gia

Quy hoạch xây dựng Vùng

Thời hạn quy hoạch: 20 năm hoặc dài hơn; Tỷ lệ:1/25.000- 1/250.000

Thành phố thuộc Trung ương

(Thời hạn quy hoạch: 20-25 năm- tầm nhìn 50 năm; Tỷ lệ:1/25.000-1/50.000)

Thị trấn

(Thời hạn quy hoạch: 10-15 năm;

Tỷ lệ:1/5.000-1/10.000)Đô thị mới(Thời hạn quy hoạch: 20-25 năm;

Tỷ lệ:1/10.000-1/25.000)

(Luật QHĐT- NĐ 37- TT 10)

- Nội dung thiết kế đô thị trong đồ án quy hoạch chi tiết bao gồm việc xác địnhcác công trình điểm nhấn trong khu vực quy hoạch theo các hướng tầm nhìn, tầng caoxây dựng công trình cho từng lô đất và cho toàn khu vực; khoảng lùi của công trìnhtrên từng đường phố và ngã phố; xác định hình khối, màu sắc, hình thức kiến trúc chủđạo của các công trình kiến trúc; hệ thống cây xanh, mặt nước, quảng trường

- Nội dung thiết kế đô thị của đồ án thiết kế đô thị riêng bao gồm việc xác địnhtầng cao xây dựng cho từng công trình; khoảng lùi của công trình trên từng đường phố

và ngã phố; xác định màu sắc, vật liệu, hình thức, chi tiết kiến trúc của các công trình

và các vật thể kiến trúc khác; tổ chức cây xanh công cộng, sân vườn, cây xanh đườngphố và mặt nước

2.5 Một số vấn đề chung trong công tác lập Quy hoạch đô thị

2.5.1 Căn cứ lập Quy hoạch

a Các căn cứ chung về Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội

Các chiến lược định hướng phát triển kinh tế-xã hội là tiền đề, cơ sở quan trọng

để đề xuất các định hướng phát triển không gian tương ứng trong đồ án Quy hoạch đôthị Bao gồm:

Trang 34

- Các chiến lược, định hướng phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh,…của vùng, của tỉnh đã được phê duyệt (Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội;Nghị quyết Đảng bộ, HĐND;…)

- Các quy hoạch chuyên ngành đã được phê duyệt;

- Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt;

- Các báo cáo tổng kết phát triển kinh tế-xã hội, an ninh, quốc phòng, sử dụng đấtđai,… hàng năm;

Các tài liệu này cần được thu thập đầy đủ từ các cơ quan quản lý và chuyênngành

b Các căn cứ chung về Quy hoạch xây dựng

- Luật Xây dựng; Luật QHĐT; Luật Đất đai; Luật Bảo vệ môi trường; Luật Nhàở; và các Luật liên quan khác và văn bản hướng dẫn thi hành Luật;

- Quy chuẩn về Quy hoạch XD đô thị, HTKT đô thị và các Quy chuẩn, Tiêuchuẩn ngành liên quan;

- Các Nghị định; Quyết định; Thông tư và các văn bản hướng dẫn liên quan tớiQHXD và QHCĐT;

- Các tài liệu này được đăng tải và cập nhật đầy đủ trên Công báo, Cổng thông tin

Trang 35

05 về

QHXD

Nghị định 42/20

09 về

Phân loại ĐT

Luật Quy hoạch Đô thị 2009

Nghị định 37/2010

về Lập, thẩm định, phê duyệt &

QLQHĐ T

Nghị định 38/20

10 về

QL Không gian, kiến trúc, cảnh quan ĐT

Nghị định 39/20

10 về

QL Không gian xây dựng ngầm ĐT

20

08

về Hư

ớn

g dẫ

n lập

, thẩ

m địn

h, ph

ê du

yệt

&

QL

Q HX

u lực

ph

ần

Q H ĐT

Th ôn

g

tư 21/

20

09

về Qu

y địn

h lập , thẩ

m địn

h, ph

ê du yệt

&

QL

Q HX

D Nô

ng thô n

Th ôn

g

tư 09/

20

10

về Qu

y địn

h việ

c lập nhi

ệm

vụ,

đồ

án Q

H

&

QL

Q HX

D

xã nô

ng thô

n m ới

Th ôn

g

tư 19/

20

08

về Hư ớn

g dẫ

n việ

c lập , thẩ

m địn

h, ph

ê du yệt

&

QL

Q HX

D Kh

u C

N, Kh

u KT

Th ôn

g

tư 10/

20 10

về Qu

y địn

h

Hồ

sơ củ

a từ

ng loạ i Qu

y ho ạc

h

đô thị

Th ôn

g

tư 19/

20

10

về Hư ớn

g dẫ

n lập

Qu

y ch

ế qu

ản

lý qu

y ho ạc

h, kiế

n trú

c

đô thị

Th ôn

g

tư 11/

20

10

về Hư ớn

g dẫ

u cô

ng trì

nh ng

ầm

đô thị

Trang 36

Hình 3 2 Hệ thống văn bản pháp luật liên quan tới Quy hoạch đô thị

c Các căn cứ riêng cho đồ án Quy hoạch xây dựng

- Định hướng quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị quốc gia, QHV, … đã được phêduyệt: Do các cơ quan chức năng về quản lý quy hoạch cung cấp (Bộ Xây dựng, SởXây dựng, Sở Quy hoạch kiến trúc)

- Nhiệm vụ Quy hoạch đô thị đã được phê duyệt: Do đơn vị tổ chức lập quyhoạch hay cơ quan phê duyệt nhiệm vụ cung cấp

d Các tài liệu phục vụ lập đồ án Quy hoạch đô thị

- Tài liệu, số liệu và báo cáo tổng kết về kinh tế - xã hội của địa phương và ngành

có liên quan do các cơ quan chức năng địa phương cung cấp (Phòng thống kê, PhòngKinh tế, hạ tầng các cấp) Các tài liệu này cần được thu thập đầy đủ và tiến hành đánhgiá, thống kê một cách khoa học

- Các Nghị quyết Đảng bộ, Nghị quyết Hội đồng nhân dân các cấp,…

e Bản đồ địa hình phục vụ lập đồ án Quy hoạch đô thị

- Bản đồ địa hình phục vụ lập đồ án QHĐT do cơ quan quản lý nhà nước về bản

đồ cấp hoặc do cơ quan chuyên môn khảo sát, đo đạc lập, bảo đảm yêu cầu về chấtlượng và kỹ thuật theo quy định về hoạt động đo đạc và bản đồ

- Các thông tin, dữ liệu của bản đồ địa hình phải đáp ứng yêu cầu phục vụ việclập QHĐT phù hợp với từng loại đồ án QHĐT Trường hợp bản đồ địa hình không phùhợp với hiện trạng tại thời điểm lập quy hoạch thì thực hiện khảo sát đo đạc bổ sung 2.5.2.Đối tượng, thời hạn và thời gian lập Quy hoạch

Bảng 3 1 Đối tượng, thời hạn và thời gian lập đồ án QHCĐT

Đối tượng lập đồ án Thời hạn của đồ án Thời gian lập Nhiệm

vụ

Thời gian lập Đồ án Tỷ lệ bản đồ

1 Quy hoạch Chung đô thị

Thành phố trực thuộc

trung ương (Đô thị loại

đặc biệt, loại 1), các quận

của thành phố trực thuộc

trung ương

20-25 năm,tầm nhìnđến 50 năm

≤ 03 tháng ≤ 15 tháng 1/25.000

hoặc1/50.000

Trang 37

Đối tượng lập đồ án Thời hạn của đồ án Thời gian lập Nhiệm

vụ

Thời gian lập Đồ án Tỷ lệ bản đồ

Thị trấn, đô thị mới có

quy mô dân số tương

đương với đô thị loại 5 trở

lên

10-15 năm ≤ 01 tháng ≤ 09 tháng 1/5.000

hoặc1/10.000

Khu công nghệ cao, Khu

kinh tế, Khu du lịch và

Khu đô thị có chức năng

đặc biệt

20-25 năm(tham khảo)

≤ 03 tháng(tham khảo)

≤ 15 tháng(tham khảo)

1/5.000hoặc1/10.000 (thamkhảo)

2 Quy hoạch Phân khu đô thị

≤ 09 tháng(tham khảo)

1/5.000hoặc1/2.000

3 Quy hoạch Chi tiết đô thị

≤ 01 tháng(tham khảo)

≤ 09 tháng(tham khảo)

1/500

2.5.3 Tên và tỷ lệ của Đồ án Quy hoạch đô thị

Bảng 3 2 Tên và tỷ lệ đồ án Quy hoạch chung đô thị

Thành phố trực thuộc

trung ương, Thành phố

thuộc tỉnh, thị xã

QHC + cấp đơn vị hành chính (thành phố / thị xã) + tênđịa danh, tên đơn vị hành chính quản lý đô thị đó + đếnnăm (theo thời hạn của đồ án QHCĐT), tầm nhìn đến năm(theo thời hạn của đồ án QHCĐT), tỷ lệ 1/25.000 (hoặc1/10.000)

Ví dụ: QHC thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa đến năm

2030, tầm nhìn đến năm 2050, tỷ lệ 1/10.000Các quận của thành phố

trực thuộc trung ương

QHC quận + tên địa danh, tên thành phố + đến năm (theothời hạn của đồ án QHCĐT), tầm nhìn đến năm (theo thờihạn của đồ án QHCĐT), tỷ lệ 1/5.000 (hoặc 1/2.000)

Ví dụ: QHC quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng đến năm 2030,tầm nhìn đến năm 2050, tỷ lệ 1/5.000

Thị trấn QHC thị trấn + tên địa danh (hoặc tên dự án), tên đơn vị

hành chính quản lý + đến năm (theo thời hạn của đồ ánQHC), tỷ lệ 1/5.000 (hoặc 1/2.000)

Ví dụ: QHC thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc

Trang 38

Đối tượng lập đồ án Tên của đồ án

Giang đến năm 2030, tỷ lệ 1/5.000

Đô thị loại 5 chưa công

nhận là thị trấn, đô thị

mới có quy mô dân số

tương đương với đô thị

loại 5 trở lên

QHC khu đô thị (hoặc khu đô thị mới) + tên địa danh(hoặc tên dự án), tên đơn vị hành chính quản lý + đến năm(theo thời hạn của đồ án QHCĐT), tỷ lệ 1/5.000 (hoặc1/2.000)

Ví dụ: QHC khu đô thị mới Văn Giang, huyện Văn Lâm,tỉnh Hưng Yên đến năm 2030, tỷ lệ 1/5.000

Ví dụ: QHC thị trấn Kép II, huyện Lục Ngạn, tỉnh BắcGiang đến năm 2030, tỷ lệ 1/5.000

(Theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyệnLục Ngạn giai đoạn 2007 - 2020 được phê duyệt tại Quyếtđịnh số 02/QĐ-UBND ngày 11/01/2008 của UBND tỉnhBắc Giang)

Khu công nghệ cao, Khu

* Ghi chú: Trong nhiều trường hợp, phần ”tỷ lệ đồ án” có thể không cần đưa vào tên đồ án.

2.5.4 Mức độ nghiên cứu của đồ án Quy hoạch đô thị

Mức độ nghiên cứu trong đồ án Quy hoạch đô thị ĐT theo tỷ lệ đồ án được quyđịnh như sau:

Bảng 3 3 Mức độ nghiên cứu trong đồ án Quy hoạch đô thị

Tỷ lệ nghiên cứu đồ án QHĐT Mức độ nghiên cứu (theo cấp đường giao thông)

Trang 39

Tỷ lệ nghiên cứu đồ án QHĐT Mức độ nghiên cứu (theo cấp đường giao thông)

Nguồn: Mục 4.3.2 Chương IV Quy chuẩn QHXD Việt Nam QCVN: 01/2008/BXD

Bảng 3 4 Quy định về các loại đường trong đô thị

Cấp

đường Loại đường

Tốc độ thiết kế (km/h)

Bề rộng 1 làn xe (m)

Bề rộng của đường (m)

Khoảng cách hai đường (m)

Mật độ đường km/km 2

≥3,0 ≥1,5

-CHÚ THÍCH:

(*) Phụ thuộc quy mô, hình thái đô thị và nhu cầu giao thông;

(**) Áp dụng với đường sử dụng công cộng.

2.6. Giới thiệu một số phương pháp Quy hoạch

2.6.1 Quy hoạch theo kiểu tập trung (thời kỳ bao cấp)

Phương thức kế hoạch hóa tập trung bao cấp (1976 – 1986)

Trang 40

Thời bao cấp là tên gọi được sử dụng tại Việt Nam để chỉ một giai đoạn mà hầuhết sinh hoạt kinh tế diễn ra dưới nền kinh tế kế hoạch hóa, một đặc điểm của nền kinh

tế theo chủ nghĩa cộng sản Theo đó thì kinh tế tư nhân dần bị xóa bỏ, nhường chỗ chokinh tế do nhà nước chỉ huy Mặc dù chế độ bao cấp đã tồn tại ở miền Bắc dưới chế

dùng để chỉ sinh hoạt kinh tế cả nước Việt Nam ở giai đoạn từ đầu năm 1976 đến cuốinăm 1986 trên toàn quốc, tức là trước thời kỳ Đổi mới (Wikipedia)

Đặc điểm của Quy hoạch đô thị thời kỳ này mang tính áp đặt, quy hoạch là công

cụ quản lý của nhà nước mà đại diện là Quy hoạch tổng thể (Master Plan) – Nhằm xâydựng viễn cảnh lý tưởng cho đô thị và nhiệm vụ của những hoạt động tiếp theo là hiệnthực hóa bằng các đồ án/hay kế hoạch được đóng khung vào mục tiêu đã xác định ởtổng thể Cho đến nay, Luật Quy hoạch Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng nhất định củacách làm tổng thể này và dường như hệ thống các đồ án Quy hoạch cấp nhỏ hơn vẫn là

bộ phận của Tổng thể đã xác định, có nhiệm vụ cụ thể hóa đồ án cấp lớn hơn đã cótrước

Quy hoạch theo ý tưởng nền kinh tế kế hoạch tập trung: Một bộ phận quan

trọng của hệ thống quy hoạch tập trung ở nhiều nước là ý tưởng về nền kinh tế kếhoạch Mô hình này thường không tính đến giá trị và sức mạnh của các lực thị trường,

mà vận hành dựa trên giả định rằng nhà nước có thể hoạch định và đem đến sự pháttriển Quả thực can thiệp của nhà nước thông qua quy hoạch đô thị và luật định, chínhsách đất đai, nhà ở và đầu tư vào cơ sở hạ tầng có thể đem lại tác động lớn đến quátrình phát triển Nhưng nếu những can thiệp này không dựa trên và đáp ứng với thực

tế thị trường thì sẽ rất có nguy cơ dẫn đến những hậu quả sau:

- Nhà nước có thể sẽ đầu tư vào những công trình cơ sở hạ tầng tốn kém nhưng

ít nhu cầu sử dụng

- Thị trường (tức doanh nghiệp, người dân) sẽ chịu nhiều thiệt hại do nhà nướcthiếu hoặc không quan tâm đến những đòi hỏi thực tế, chính yếu của thị trường tạinhững địa điểm, quy mô cụ thể và về những vấn đề cụ thể

Việt Nam đang trong giai đoạn quá độ hướng tới một nền kinh tế thị trường và ởcác đô thị của Việt Nam đang diễn ra sự tăng trưởng kinh tế đô thị năng động Phần

Ngày đăng: 19/11/2020, 21:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w