1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giáo trình kế toán thuế trong doanh nghiệp xuất bản 2016

348 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 348
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc thù của môn học Kế toán thuế trong doanh nghiệp là thực hiện việc thu thập, xử lí và cung cấp thông tin về thuế cho việc lập Báo cáo tài chính doanh nghiệp dựa trên cơ sở tuân thủ cá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI Chủ biên: PGS TS Đoàn Vân Anh

GIÁO TRÌNH

KẾ TOÁN THUẾ TRONG DOANH NGHIỆP

NHÀ XUẤT BẢN THỐNG KÊ

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Kế toán thuế trong doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ thống kế toán doanh nghiệp, có chức năng cung cấp thông tin cho việc xác định các nghĩa vụ thuế phải nộp và cung cấp thông tin về thuế phục vụ cho việc lập Báo cáo tài chính doanh nghiệp

Đặc thù của môn học Kế toán thuế trong doanh nghiệp là thực hiện việc thu thập, xử lí và cung cấp thông tin về thuế cho việc lập Báo cáo tài chính doanh nghiệp dựa trên cơ sở tuân thủ các quy định của Luật Kế toán, chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành và các chính sách kế toán mà doanh nghiệp lựa chọn, nhưng việc xác định các nghĩa vụ thuế phải nộp, kê khai thuế, miễn, giảm thuế, hoàn thuế và quyết toán các loại thuế dựa trên những quy định của các luật thuế hiện hành, tất cả đã tạo nên tính phức tạp của môn học

Với mục tiêu đáp ứng nhu cầu về tài liệu giảng dạy, học tập của Trường Đại học Thương mại, phù hợp với nội dung chương trình và số tín chỉ của học phần, Bộ môn Kế toán Tài chính đã tổ chức biên soạn

cuốn “Giáo trình Kế toán thuế trong doanh nghiệp” Giáo trình này là

sự tiếp nối của các học phần kế toán tài chính, được viết theo chương trình môn học ngành Kế toán, chuyên ngành Kế toán doanh nghiệp đã được Hiệu trưởng Trường Đại học Thương mại phê duyệt Trong quá trình biên soạn giáo trình, tập thể tác giả đã nghiên cứu Luật Kế toán,

hệ thống các chuẩn mực kế toán, cập nhật các thông tư hướng dẫn kế toán và chế độ kế toán doanh nghiệp; nghiên cứu các quy định của Luật Thuế theo từng sắc thuế, các nghị định, thông tư hướng dẫn Luật Thuế có hiệu lực cùng các văn bản pháp lý khác trong quản lý kinh tế - tài chính - kế toán, nhằm đảm bảo nội dung của giáo trình đáp ứng được yêu cầu cả về lí luận và thực tiễn, đảm bảo tính bền vững và lâu dài của giáo trình

Giáo trình là một công trình khoa học của tập thể giảng viên Bộ môn Kế toán Tài chính, Khoa Kế toán Kiểm toán, Trường Đại học Thương mại Tham gia biên soạn cuốn sách gồm:

Trang 4

- PGS TS Đoàn Vân Anh - Chủ biên, biên soạn Chương 3;

- PGS TS Lê Thị Thanh Hải - Biên soạn Chương 1;

- TS Nguyễn Thị Thanh Phương - Biên soạn Chương 2;

- TS Hà Thị Thúy Vân - Biên soạn Chương 4;

- TS Trần Hải Long và ThS Phạm Thanh Hương - Đồng biên soạn

Chương 5

Trong quá trình biên soạn, tập thể tác giả đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp xây dựng của PGS.TS Đỗ Minh Thành - Phó Hiệu trưởng, PGS.TS Phạm Thị Thu Thủy - Trưởng phòng Kế hoạch Tài chính và

TS Nguyễn Tuấn Duy - Trưởng Bộ môn Kế toán Tài chính, tập thể giáo viên trong Bộ môn Kế toán Tài chính cùng Hội đồng khoa học Khoa Kế toán Kiểm toán - Trường Đại học Thương mại

Tập thể tác giả cũng hy vọng giáo trình không chỉ sử dụng cho

đào tạo ngành kế toán của Trường Đại học Thương mại, mà còn là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho các giảng viên, sinh viên của các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp có đào tạo kế toán Đây là tài liệu thiết thực cho các nhà quản lý, các cán bộ kế toán ở các doanh nghiệp, đặc biệt trong điều kiện hiện nay khi áp dụng cơ chế tự kê khai, quyết toán thuế đã nâng cao trách nhiệm của những người làm

TẬP THỂ TÁC GIẢ

Trang 5

MỤC LỤC

1.2 YÊU CẦU QUẢN LÝ VÀ NHIỆM VỤ KẾ TOÁN THUẾ

2.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ QUY ĐỊNH CHUNG

2.3.1 Khai thuế và quyết toán thuế GTGT trong doanh nghiệp tính thuế

2.3.2 Khai thuế và quyết toán thuế GTGT trường hợp cơ sở kinh doanh

Trang 6

Chương 3: KẾ TOÁN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 95

3.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP

3.2 NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN THUẾ THU NHẬP

3.3 NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN THUẾ THU NHẬP

4.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP

4.2 NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 176

Trang 7

5.2 KẾ TOÁN THUẾ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU 227

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN THUẾ TRONG DOANH NGHIỆP

Mục tiêu:

Chương này giúp người học nắm bắt được những nội dung như sau:

- Khái niệm, bản chất và vai trò của thuế

- Các loại thuế theo các tiêu thức phân loại khác nhau

- Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán thuế

- Đặc điểm và nội dung kế toán thuế trong doanh nghiệp

1.1 KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT, VAI TRÒ CỦA THUẾ

1.1.1 Khái niệm về thuế

Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một sự cần thiết khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước

Nhà nước là một tổ chức chính trị, đại diện quyền lợi cho giai cấp thống trị, thi hành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội Để có nguồn lực vật chất bảo đảm cho sự tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có để huy động một bộ phận của cải của xã hội Việc huy động tập trung nguồn của cải xã hội vào trong tay Nhà nước có thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau: đóng góp bắt buộc, vận động dân đóng góp tự nguyện hoặc vay, trong đó, biện pháp huy động, tập trung của cải có tính

bắt buộc đối với mọi thành viên trong xã hội được gọi là thuế

Ra đời và tồn tại cùng với Nhà nước, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và khái niệm về thuế cũng không ngừng được hoàn thiện

Trang 10

Theo quan điểm của Lê-nin “Thuế là cái mà Nhà nước thu của

dân ” và “thuế cấu thành nên nguồn thu của Chính phủ, nó được lấy ra

từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế” [4] Theo nhà

kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đã đưa ra một khái

niệm cổ điển nhất và cũng nổi tiếng nhất về thuế: “Thuế là một khoản

trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước” [3] Theo thời gian, khái

niệm cổ điển này đến nay đã được bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện, theo

đó: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không

hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước”

Trên góc độ phân phối thu nhập, thuế được hiểu là hình thức phân

phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quĩ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước (quỹ Ngân sách Nhà nước) để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Trên góc độ người nộp thuế thì Thuế là khoản đóng góp bắt buộc

mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại

Trên góc độ kinh tế học: Thuế là biện pháp đặc biệt, theo đó,

Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước

Có thể nhận thấy rằng, đứng trên các góc độ khác nhau để nghiên cứu sẽ có những nhận định về thuế là khác nhau Tuy nhiên, từ các quan điểm trên ta có thể rút ra được một số đặc trưng chung của thuế là:

Trang 11

(1) Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh giữa nhà nước và các pháp nhân, các thể nhân trong

xã hội

(2) Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này phát sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt Việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước

(3) Xét theo khía cạnh pháp luật, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định

(4) Nguồn thu từ thuế được Nhà nước sử dụng cho mục đích thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội

Từ các đặc trưng của thuế, có thể đưa ra khái niệm tổng quát về

thuế, đó là “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và

pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước”

1.1.2 Bản chất của thuế

Như vậy, đã có nhiều khái niệm khác nhau về thuế, tuy nhiên các khái niệm trên đều thể hiện rõ bản chất của thuế ở bốn điểm sau:

Thứ nhất, thuế là khoản nộp bằng tiền

Về nguyên tắc, thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, điều này trái ngược với các hình thức thanh toán bằng hiện vật đã tồn tại trước đây Sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được thực hiện bằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của

Trang 12

hệ thống pháp luật thuế) Do đó, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tự mình ấn định hay thoả thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp thuận Những đối tượng nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế Đây là điểm khác biệt giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính chất tự nguyện

Thứ ba, thuế là khoản thu có tính chất xác định

Thuế là khoản thu xác định của các tổ chức thụ hưởng, đó là Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương

Thứ tư, thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể, không hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng quản lý xã hội, chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước

Thuế được thu nhằm đáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, thuế không có đối khoản cụ thể Điều này thể hiện rõ ở chỗ nguồn thu từ mỗi loại thuế không được quy định gắn với mục đích chi tiêu cụ thể nào

mà đều được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu chung của Nhà nước

trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Thuế không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế, mà được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các khoản phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở cả trước và sau khi thu thuế Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ nào cho người nộp thuế Sau khi thu thuế, Nhà nước cũng không

có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế Cũng như vậy, người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ sử dụng

ít các dịch vụ công cộng; họ cũng không có quyền đòi hỏi được hưởng nhiều dịch vụ công cộng hơn so với số thuế họ phải trả vì lý do này hay lý

do khác; và họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do họ đã phải thanh toán cho các khoản chi trái với nguyên tắc này

Trang 13

1.1.3 Vai trò của thuế

Để quản lý, điều hành vĩ mô nền kinh tế xã hội, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ như: Kế hoạch hoá, pháp luật, các chính sách tài chính tiền

tệ v.v Trong các công cụ trên thì chính sách tài chính tiền tệ đóng vai trò quan trọng nhất và thuế là một công cụ quan trọng trong chính sách tài chính tiền tệ, thuế được nhà nước sử dụng để thực hiện vai trò quản lý

vĩ mô kinh tế xã hội

Có thể thấy rõ vai trò của thuế nổi bật ở các mặt sau:

Thứ nhất, thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước

Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân Tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều được đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế, phí và các hình thức thu khác như: vay nợ, viện trợ nước ngoài, bán tài nguyên quốc gia, thu khác v.v Song thực tế các hình thức thu ngoài thuế đó có rất nhiều hạn chế, bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện, trong khi đó, khoản thu về thuế luôn mang tính chất ổn định và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng Do vậy, số thu thuế và phí luôn chiếm phần chủ yếu trong tổng thu Ngân sách Nhà nước và tăng nhanh qua các năm, đã bảo đảm về cơ bản yêu cầu chi thường xuyên ngày càng tăng của Ngân sách Nhà nước, giảm bội chi ngân sách, giảm lạm phát, từng bước góp phần

ổn định trật tự xã hội, giành một phần để tăng chi cho tích luỹ Như vậy, chứng tỏ thuế là nguồn thu quan trọng nhất của Ngân sách Nhà nước

Thứ hai, thuế là công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế

vĩ mô của Nhà nước

Chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho Ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu thuế sẽ góp phần thực hiện chức năng việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kế hoạch Nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh

Trang 14

tế quốc dân, góp phần hiện thực hóa bốn mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ

mô, đó là: Đảm bảo thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý; Tạo được công ăn việc làm đầy đủ cho người lao động; Ổn định giá cả, tiền

tệ, chống lạm phát; Thực hiện sự cân bằng cán cân thanh toán quốc tế

Thứ ba, Thuế thực hiện vai trò phân phối và tái phân phối các nguồn tài chính, góp phần đảm bảo công bằng xã hội

Kinh tế thị trường làm gia tăng sự phân hoá giàu nghèo, sự phân hoá này đôi khi bất hợp lý và làm giảm tính hiệu quả kinh tế - xã hội Do vậy, cần phải có những biện pháp phân phối lại của cải xã hội nhằm hạn chế sự phân hoá này

Nhà nước dùng thuế để điều tiết phần chênh lệch giữa người giàu

và người nghèo, thông qua việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá công cộng Thông qua thuế thu nhập, Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ

mô trong lĩnh vực tiền lương và thu nhập, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và tiến tới công bằng xã hội Một khía cạnh khác của chính sách thuế nhằm điều chỉnh thu nhập là các khoản thuế đánh vào tiêu dùng: Thuế Tiêu thụ đặc biệt, thuế Giá trị gia tăng Theo đó, với những hàng hóa dịch vụ thiết yếu việc giảm thuế sẽ có lợi cho người nghèo hơn và sự chênh lệch về thu nhập cũng được giảm bớt Trái lại những mặt hàng xa

xỉ, cao cấp việc tăng thuế sẽ góp phần phân phối lại một bộ phận thu nhập của người giàu trong xã hội Tuy nhiên, khi sử dụng công cụ thuế

để điều chỉnh thu nhập, cần xây dựng mức thu hợp lý sao cho không làm giảm khát vọng làm giàu của nhà kinh doanh cũng như không làm giảm khả năng tăng trưởng kinh tế của đất nước

Thứ tư, thuế là công cụ kiềm chế lạm phát

Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu làm cho giá cả hàng hoá tăng lên hoặc do chi phí đầu vào tăng Thuế được sử dụng để điều chỉnh lạm phát, ổn định giá cả thị trường Nếu cung nhỏ hơn cầu thì Nhà nước dùng thuế để điều chỉnh bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản xuất, giảm thuế thu nhập để kích thích đầu tư sản xuất ra nhiều khối lượng sản phẩm nhiều hơn Đồng thời tăng thuế đối với hàng hoá tiêu

Trang 15

dùng để giảm bớt cầu Nếu lạm phát do chi phí tăng, gia tăng thất nghiệp,

sự trì trệ của tốc độ phát triển kinh tế, giá cả đầu vào tăng, Nhà nước dùng thuế hạn chế tăng chi phí bằng cách cắt giảm thuế đánh vào chi phí, kích thích tăng năng suất lao động

Thứ năm, thuế góp phần bảo hộ sản xuất trong nước và tạo điều kiện hội nhập nền kinh tế thế giới

Bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nước tránh khỏi sự cạnh tranh khốc liệt từ bên ngoài được coi là vấn đề hết sức cần thiết đối với mỗi quốc gia Điều này được thể hiện rõ nét thông qua thuế xuất nhập khẩu

Để kích thích sản xuất trong nước phát triển, kích thích sản xuất hàng hoá xuất khẩu, nhà nước đánh thuế rất thấp hoặc không đánh thuế vào hàng xuất khẩu Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá đã qua chế biến, hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô Đánh thuế nhập khẩu thấp đối với hàng hoá, máy móc thiết bị trong nước chưa sản xuất được và đánh thuế nhập khẩu cao đối với hàng hoá, máy móc thiết bị trong nước đã sản xuất được hoặc hàng hoá tiêu dùng xa xỉ

Hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế đang phát triển mạnh mẽ trong khu vực và trên thế giới Sự ưu đãi, các hiệp định về thuế, tính thông lệ quốc tế của chính sách thuế có thể làm gia tăng sự hội nhập kinh

tế giữa một số quốc gia với khu vực và cộng đồng quốc tế

1.1.4 Phân loại thuế

Để phát huy vai trò tích cực của từng công cụ thuế trong quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế, cần thiết phải phân loại thuế theo các tiêu thức khác nhau, cụ thể:

1.1.4.1 Phân loại thuế theo yếu tố kinh tế bị đánh thuế

Theo tiêu thức này, thuế được chia thành thuế đánh vào thu nhập (thuế thu nhập), thuế đánh vào tiêu dùng (sử dụng thu nhập - thuế tiêu dùng) và thuế đánh vào tài sản (thu nhập được tích luỹ - thuế tài sản)

Trang 16

- Thuế thu nhập: Bao gồm các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là thu

nhập thu được Thu nhập kiếm được từ nhiều nguồn: Từ lao động dưới dạng tiền lương, tiền công; thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh dưới dạng lợi nhuận, thu nhập do đó thuế thu nhập cũng có nhiều dạng: Thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài,

- Thuế tiêu dùng: Là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là phần thu

nhập của tổ chức, cá nhân được mang ra tiêu dùng trong hiện tại Trong thực tế loại thuế tiêu dùng được thể hiện dưới nhiều dạng như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu,

- Thuế tài sản: Là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản

Tài sản có nhiều hình thức biểu hiện: Tài sản tài chính gồm có tiền mặt, tiền gửi, chứng khoán, thương phiếu ; Tài sản cố định gồm nhà cửa, máy móc, nhà máy, xe cộ ; Tài sản vô hình như thương hiệu, bí quyết

kỹ thuật, đất đai, Thuộc loại thuế tài sản là các sắc thuế như thuế nhà đất, thuế trước bạ, thuế sử dụng đất nông nghiệp

1.1.4.2 Phân loại thuế theo khả năng chuyển giao thuế

Theo tiêu thức phân loại này, thuế được chia thành 2 loại: Thuế trực thu và thuế gian thu

- Thuế trực thu: Là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần

thu nhập của các pháp nhân hoặc thể nhân - thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế Thuế trực thu có đặc điểm là đối tượng nộp thuế đồng nhất với đối tượng chịu thuế Về nguyên tắc loại thuế này mang tính chất thuế luỹ tiến vì nó tính đến khả năng của người nộp thuế, người có thu nhập cao hơn phải nộp thuế nhiều hơn, còn người

có thu nhập thấp thì nộp thuế ít hơn Thuế trực thu thường bao gồm các sắc thuế đánh trên thu nhập của tổ chức và cá nhân Ở nước ta các sắc thuế trực thu bao gồm: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà, đất

Trang 17

Do thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập, tài sản của tổ chức

và cá nhân, có xem xét đến hoàn cảnh, điều kiện và khả năng đóng góp của người nộp thuế nên nó rất có tác dụng trong việc điều hoà thu nhập, góp phần giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập và tài sản giữa các tầng lớp dân cư Đây cũng là ưu điểm nổi bật của thuế trực thu so với thuế gián thu Tuy nhiên, thuế trực thu lại có hạn chế lớn là dễ gây phản ứng từ phía người nộp thuế hoặc dễ xảy ra tình trạng trốn, lậu thuế nếu quy định mức thuế suất cao Hơn nữa, việc theo dõi, tính toán và thu thuế phức tạp, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân với diện thu thuế rộng và phân tán

Vì vậy, nếu không có biện pháp quản lý thu thuế hiệu quả thì dễ dẫn đến hạn chế tác dụng của loại thuế này trong việc tập trung số thu đầy đủ, kịp thời

- Thuế gián thu: Là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập hay

tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hoá, dịch vụ Người tiêu dùng những hàng hoá, dịch vụ đó là người chịu loại thuế này Vì vậy, thuế gián thu được đánh khi có hành vi giao dịch hoặc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ

Thuế gián thu có đặc điểm là đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế không đồng nhất với nhau Người nộp thuế là người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, còn người chịu thuế là người tiêu dùng các hàng hoá đó Thuế gián thu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua cơ chế giá cả thị trường Hay nói cách khác, thuế gián thu chịu ảnh hưởng của quan hệ cung cầu trên thị trường Về nguyên tắc thuế gián thu mang tính chất luỹ thoái vì nó không tính đến khả năng thu nhập của người chịu thuế, người có thu nhập cao hay thấp đều phải chịu thuế như nhau nếu cùng mua một loại hàng hoá, dịch vụ Loại thuế này thường là các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là các khoản thu nhập dùng để tiêu dùng Ở nước ta các sắc thuế gián thu bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Do điều tiết một cách gián tiếp vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ thông qua cơ chế giá nên với thuế gián thu, người chịu

Trang 18

thuế (người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ) ít có cảm giác bị Nhà nước đánh thuế Vì vậy, loại thuế này cũng ít gây ra những phản ứng từ phía người chịu thuế mỗi khi Chính phủ có chủ trương tăng thuế Ưu điểm nổi bật của thuế gián thu là nó có khả năng đáp ứng nguồn thu kịp thời, ổn định cho Ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, thuế gián thu cũng có những hạn chế nhất định, đó là: Do thuế gián thu được tính trên giá cả hàng hoá, dịch vụ, không tính tới điều kiện, hoàn cảnh của đối tượng chịu thuế, vì vậy, không đảm bảo được sự công bằng xã hội, thậm chí còn mang tính luỹ thoái Có nghĩa là, bất kể người tiêu dùng là người giàu hay người nghèo, thu nhập cao hay thấp, nếu cùng tiêu dùng một lượng hàng hoá, dịch vụ như nhau thì cùng phải chịu một mức điều tiết thuế như nhau

Số thuế này nếu so với thu nhập của người giàu và người nghèo thì rõ ràng chúng mang tính luỹ thoái, người có thu nhập càng cao thì tỷ lệ giữa thuế gián thu so với tổng thu nhập càng thấp

1.2 YÊU CẦU QUẢN LÝ VÀ NHIỆM VỤ KẾ TOÁN THUẾ TRONG DOANH NGHIỆP

1.2.1 Yêu cầu quản lý thuế

Đứng trên góc độ người nộp thuế, thuế là khoản đóng góp bắt buộc theo luật định Việc thực hiện đầy đủ, kịp thời nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp với Nhà nước có ảnh hưởng lớn đến thông tin tài chính của doanh nghiệp, đồng thời cũng là cơ sở đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng như việc chấp hành các chính sách, pháp luật Nhà nước của doanh nghiệp Để thực hiện tốt nghĩa vụ thuế phải nộp, đảm bảo các thông tin về thuế được báo cáo trung thực, việc quản lý thuế trong doanh nghiệp phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Thứ nhất, quản lý việc xác định đúng, đủ nghĩa vụ thuế doanh nghiệp phải thực hiện theo từng sắc thuế

Có rất nhiều sắc thuế khác nhau, song không phải doanh nghiệp nào cũng phải thực hiện đầy đủ tất cả các nghĩa vụ thuế theo các sắc thuế

đó mà tùy thuộc lĩnh vực hoạt động; đặc điểm hàng hóa, dịch vụ doanh

Trang 19

nghiệp sản xuất kinh doanh; đặc điểm và kết quả hoạt động của doanh nghiệp; mà mỗi doanh nghiệp sẽ phát sinh các nghĩa vụ thuế khác nhau Do vậy, quản lý thuế trong doanh nghiệp cần thiết phải quản lý việc xác định đúng và đủ các nghĩa vụ thuế mà doanh nghiệp phải thực hiện

Thứ hai, quản lý việc xác định đúng, đủ, kịp thời, trung thực số thuế phải nộp theo từng nghĩa vụ thuế mà doanh nghiệp phải thực hiện

Việc xác định số thuế phải nộp theo từng nghĩa vụ thuế phải tuân thủ quy định của pháp luật về thuế hiện hành Để xác định đúng, đủ, kịp thời, trung thực số thuế phải nộp theo từng nghĩa vụ thuế mà doanh nghiệp phải thực hiện đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định đúng đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế Mặt khác, không phải mọi số liệu

kế toán được ghi nhận theo quy định của pháp luật về kế toán đều là căn

cứ để xác định nghĩa vụ thuế Do vậy, doanh nghiệp cần căn cứ vào hồ

sơ, chứng từ, tài liệu làm căn cứ tính thuế theo quy định của pháp luật về thuế để xác định đúng, đủ, kịp thời, trung thực số thuế phải nộp theo từng nghĩa vụ thuế mà doanh nghiệp phải thực hiện

Thứ ba, quản lý việc khai và quyết toán thuế và nộp thuế theo từng nghĩa vụ thuế mà doanh nghiệp phải thực hiện

Mỗi sắc thuế khác nhau có quy định khác nhau về hồ sơ khai thuế,

kỳ khai thuế, quyết toán thuế và nộp thuế Do vậy, doanh nghiệp cần quản lý tình hình thực hiện việc khai và quyết toán đầy đủ, kịp thời, trung thực số thuế phải nộp và nộp thuế theo từng nghĩa vụ thuế mà doanh nghiệp phải thực hiện

Thứ tư, quản lý việc trình bày thông tin về thuế trên Báo cáo tài chính

Thông tin về thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp cho Nhà nước

là một trong những thông tin quan trọng của đơn vị kế toán cần được trình bày trên các Báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật về kế toán Thông tin này giúp cho các đối tượng bên ngoài đơn vị đưa ra các quyết định về quản lý, về đầu tư, về các mối quan hệ kinh tế đối với đơn vị

Trang 20

1.2.2 Nhiệm vụ kế toán thuế

Kế toán thuế trong doanh nghiệp có những nhiệm vụ chủ yếu sau:

(1) Thu nhận, xử lý thông tin số liệu về thuế theo từng sắc thuế doanh nghiệp phải thực hiện

Mỗi đơn vị kế toán trong quá trình hoạt động đều phải thực hiện một hay một số nghĩa vụ thuế (sắc thuế) nhất định Mỗi sắc thuế khác nhau sẽ khác nhau về đối tượng chịu thuế, căn cứ và phương pháp tính thuế, Mặt khác, không phải mọi số liệu kế toán được ghi nhận theo quy định của pháp luật về kế toán đều là căn cứ để xác định số thuế phải nộp theo từng nghĩa vụ thuế Với vai trò quan trọng trong quản lý kinh tế, kế toán thuế cần phải thực hiện nhiệm vụ thu thập, xử lý, ghi chép, phản ánh thông tin số liệu kế toán, từ đó tính toán, xác định đúng, đủ kịp thời, trung thực số thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp cho Nhà nước theo quy định pháp luật về thuế

Nộp đúng, đủ, kịp thời các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp cho Nhà nước là quy định mang tính pháp lệnh Các đơn vị kế toán phải nghiêm chỉnh chấp hành quy định này Trường hợp có thông báo số thuế phải nộp, nếu có thắc mắc và khiếu nại về mức thuế, về số thuế phải nộp theo thông báo cần được giải quyết kịp thời theo quy định Không được vì bất cứ lý do gì để trì hoãn việc nộp thuế Do vậy, kế toán thuế cần phải thực hiện nhiệm vụ thu thập thông tin phản ánh việc nộp đầy đủ, kịp thời các khoản thuế, phí và lệ phí cho Nhà nước theo quy định

(2) Kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp; phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về thuế và

kế toán

Với chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị kế toán, kế toán có nhiệm vụ phải thường xuyên kiểm tra, giám sát việc chấp hành các chế độ chính sách quản lý kinh tế tài chính của Nhà nước tại đơn vị

Trang 21

Chính sách pháp luật về thuế và kế toán là một trong những chính sách quan trọng của Nhà nước nhằm đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động thống nhất, ổn định, đúng định hướng Do đó, yêu cầu các đơn vị kinh tế

cơ sở hoạt động trong nền kinh tế quốc dân phải thực hiện nghiêm chỉnh các chính sách này

Kế toán thuế thông qua việc tính toán, xác định số thuế, phí, lệ phí phải nộp; ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ kinh tế liên quan đến việc nộp thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế, Đồng thời thực hiện việc kiểm tra nội dung kinh tế đó có đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước và chế

độ kế toán hiện hành không Từ đó, kịp thời phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về thuế, thúc đẩy đơn vị thực hiện đầy đủ, triệt

để các quy định hiện hành, không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị

(3) Cung cấp thông tin, số liệu về thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp cho Nhà nước theo quy định của pháp luật

Thông tin, số liệu do kế toán thuế thu thập xử lý, ngoài việc cung cấp cho các nhà quản trị trong nội bộ đơn vị để điều hành và kiểm soát các hoạt động của đơn vị còn phải cung cấp cho các đối tượng bên ngoài đơn vị theo quy định của pháp luật, bao gồm:

- Cung cấp đầy đủ thông tin về thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp cho Nhà nước trên các Báo cáo tài chính có liên quan theo quy định của pháp luật về kế toán Thông tin về thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp cho Nhà nước trên hệ thống Báo cáo tài chính là một trong những thông tin quan trọng của đơn vị kế toán sẽ là căn cứ quan trọng để các đối tượng bên ngoài đơn vị đưa ra các quyết định về quản lý, về đầu tư,

về các mối quan hệ kinh tế đối với đơn vị;

- Cung cấp đầy đủ thông tin về thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp cho Nhà nước trên các Báo cáo thuế theo quy định của pháp luật về thuế Thông tin về thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp cho Nhà nước trên các Báo cáo thuế giúp các cơ quan quản lý chức năng kiểm tra, kiểm soát tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế của đơn vị kế toán

Trang 22

1.3 KẾ TOÁN THUẾ TRONG DOANH NGHIỆP

1.3.1 Đặc điểm kế toán thuế

Hệ thống kế toán tài chính doanh nghiệp bao gồm nhiều phần hành

kế toán khác nhau như kế toán tài sản cố định, kế toán hàng tồn kho, kế toán chi phí, kế toán doanh thu, kế toán thanh toán với người lao động,

kế toán thuế, kế toán tiền mặt, kế toán ngân hàng, Có thể nhận thấy, kế toán thuế là một phần hành kế toán trong hệ thống kế toán tài chính

doanh nghiệp Do vậy, kế toán thuế mang đầy đủ đặc điểm của một phần

hành kế toán trong hệ thống kế toán tài chính doanh nghiệp, cụ thể như sau:

Thứ nhất, kế toán thuế và kế toán các phần hành khác đều phản ánh

thông tin quá khứ về các giao dịch kinh tế giữa doanh nghiệp với bên ngoài liên quan đến tài sản, công nợ, vốn chủ sở hữu, thu nhập, chi phí,

kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;

Thứ hai, kế toán thuế và kế toán các phần hành khác đều tuân thủ

theo quy định chung của nhà nước về chế độ ghi chép ban đầu, hệ thống tài khoản kế toán, sổ kế toán và chế độ báo cáo kế toán;

Thứ ba, kế toán thuế và kế toán các phần hành khác đều phản ánh

đối tượng kế toán chủ yếu dưới hình thái giá trị;

Thứ tư, các thông tin của kế toán thuế và kế toán các phần hành

khác đều được trình bày dưới hình thức Báo cáo có tính bắt buộc và được công bố công khai, cung cấp chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp

Tuy nhiên kế toán thuế lại có sự độc lập tương đối với các phần hành kế toán khác trong hệ thống kế toán tài chính doanh nghiệp

Thứ nhất, ngoài mục tiêu cung cấp thông tin cho việc lập các Báo cáo tài chính doanh nghiệp phục vụ chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, kế toán thuế còn thực hiện mục tiêu cung cấp thông tin cho việc xác định các nghĩa vụ thuế phải nộp của doanh nghiệp, kê khai thuế,

Trang 23

miễn, giảm thuế, hoàn thuế và quyết toán các loại thuế đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp với

tư cách là một chủ thể kinh tế thường có mối quan hệ với các đối tượng khác nhau ngoài doanh nghiệp Các đối tượng này luôn quan tâm đến tình hình tài chính, tình hình và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: Tổng tài sản, khả năng tự tài trợ, khả năng thanh toán và mức độ sinh lợi của doanh nghiệp để quyết định các mối quan hệ kinh

tế với doanh nghiệp Đồng thời, các cơ quan quản lý Nhà nước cũng quan tâm đến tình hình chấp hành các chính sách của Nhà nước Như vậy, kế toán các phần hành kế toán tài chính nói chung đều hướng tới thực hiện mục tiêu cung cấp thông tin cho việc lập các Báo cáo tài chính doanh nghiệp phục vụ chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp

Tuy nhiên, thuế là nguồn thu chủ yếu của Nhà nước, thuế vừa là công cụ huy động nguồn thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, vừa là công cụ giúp Nhà nước thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội hay công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế Do vậy, Nhà nước luôn quan tâm đến việc xác định và thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp thông qua các thông tin về thuế

Theo đó, ngoài mục tiêu chung của một phần hành kế toán tài chính doanh nghiệp, kế toán thuế còn thực hiện mục tiêu cung cấp thông tin cho việc xác định các nghĩa vụ thuế phải nộp của doanh nghiệp, kê khai thuế, miễn, giảm thuế, hoàn thuế và quyết toán các loại thuế đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước

Thứ hai, ngoài việc tuân thủ các quy định của luật kế toán, chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành và chính sách kế toán mà doanh nghiệp đã lựa chọn, kế toán thuế còn phải tuân thủ quy định của các luật thuế hiện hành

Việc ghi nhận nghĩa vụ thuế phải nộp và trình bày thông tin về thuế trong Báo cáo tài chính phải tuân thủ quy định của Luật Kế toán, Chuẩn

Trang 24

mực kế toán, Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành và Chính sách kế toán mà doanh nghiệp đã lựa chọn

Tuy nhiên, việc xác định nghĩa vụ thuế phải nộp, kỳ hạn nộp thuế, trình bày thông tin về thuế trên các Báo cáo thuế phải được thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế

Do vậy, kế toán thuế không chỉ phải tuân thủ quy định của pháp luật về kế toán mà còn phải tuân thủ quy định pháp luật về Thuế hiện hành

Thứ ba, thông tin về thuế không chỉ được phản ánh trong các Báo cáo tài chính doanh nghiệp theo các chỉ tiêu nhất định mà còn được phản ánh trên các báo cáo riêng mang tính pháp lệnh theo quy định của pháp luật về thuế bao gồm: Loại báo cáo, phạm vi thông tin phản ánh trên báo cáo và kỳ hạn nộp báo cáo

Thông tin về thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp cho Nhà nước trên hệ thống Báo cáo tài chính là một trong những thông tin quan trọng của đơn vị kế toán sẽ là căn cứ quan trọng để các đối tượng bên ngoài đơn vị đưa ra các quyết định về quản lý, về đầu tư, về các mối quan hệ kinh tế đối với đơn vị

Tuy nhiên, để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về thuế, Nhà nước buộc các doanh nghiệp phải lập các Báo cáo thuế định kỳ, phù hợp với từng sắc thuế Hệ thống Báo cáo thuế bao gồm các Tờ khai thuế, Tờ khai quyết toán thuế, đây là các báo cáo mang tính pháp lệnh

Do vậy, cùng với việc trình bày thông tin về thuế trên các Báo cáo tài chính, kế toán thuế còn phải lập hệ thống báo cáo riêng theo quy định của pháp luật về thuế

1.3.2 Nội dung kế toán thuế

1.3.2.1 Xét theo các sắc thuế của doanh nghiệp

Trong quá trình hoạt động, tùy thuộc vào tính chất hoạt động, loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ kinh doanh mà doanh nghiệp phải thực hiện

Trang 25

các nghĩa vụ thuế khác nhau Để đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước đối với mọi loại hình doanh nghiệp thì nội dung kế toán thuế phải bao quát được toàn bộ nghĩa vụ thuế phát sinh trong doanh nghiệp Do đó, nội dung kế toán thuế trong doanh nghiệp bao gồm:

- Kế toán thuế giá trị gia tăng

Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là loại thuế gián thu đánh vào người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa dịch

vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam trừ các đối tượng không phải chịu thuế theo quy định của luật thuế GTGT Đối tượng chịu thuế GTGT đa dạng, với nhiều mức thuế suất khác nhau được

áp dụng nhằm kích thích sản xuất trong nước phát triển, kích thích sản xuất hàng hoá xuất khẩu, Mặt khác, phương pháp xác định thuế GTGT phải nộp phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh, kết quả hoạt động và yêu cầu của doanh nghiệp Kế toán phải xác định đúng đối tượng nộp thuế; thuế suất được áp dụng, từ đó tính toán, xác định, ghi nhận và trình bày thông tin về thuế GTGT trên Báo cáo tài chính và Báo cáo thuế

có liên quan nhằm báo cáo đầy đủ tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT của doanh nghiệp với Nhà nước

- Kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp

Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập của các doanh nghiệp và các cơ sở kinh doanh có thu nhập Thông qua thuế TNDN, Nhà nước thực hiện điều tiết một phần lợi nhuận thu được từ sản xuất, kinh doanh của các cơ sở kinh doanh, góp phần đảm bảo sự đóng góp công bằng, hợp lý giữa các thành phần kinh tế, kết hợp hài hòa giữa lợi ích kinh tế của nhà nước, lợi ích của tập thể và của người lao động, qua đó, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển Thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm thuế TNDN hiện hành và thuế TNDN hoãn lại Đối với thuế TNDN hiện hành, kế toán phải xác định đúng, đủ doanh thu chịu thuế, chi phí được trừ, các khoản miễn

Trang 26

giảm thuế TNDN theo quy định, từ đó tính toán, xác định, ghi nhận và trình bày thông tin về thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành và lập Báo cáo thuế nhằm báo cáo đầy đủ tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế TNDN của doanh nghiệp với Nhà nước Đối với thuế TNDN hoãn lại, kế toán phải nhận diện được các chênh lệch tạm thời phát sinh do có sự khác biệt trong quy định của kế toán và quy định của luật thuế, các chênh lệch tạm thời đó thuộc loại được khấu trừ hay chịu thuế, thuộc kì phát sinh hay kì hoàn nhập, làm căn cứ để xác định tài sản thuế hoãn lại, nợ thuế thu nhập hoãn lại, từ đó xác định được chi phí thuế (hoặc thu nhập thuế) thu nhập doanh nghiệp hoãn lại trên Báo cáo tài chính

- Kế toán thuế thu nhập cá nhân

Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập của người lao động có thu nhập cao Cũng như thuế TNDN, thuế TNCN cũng trực tiếp điều tiết thu nhập, có xem xét đến hoàn cảnh, điều kiện và khả năng đóng góp của người nộp thuế nên nó rất có tác dụng trong việc điều hoà thu nhập, góp phần giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư Trách nhiệm khai và quyết toán thuế thu nhập cá nhân thuộc về người lao động có thu nhập cao phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước Trên góc độ doanh nghiệp, khi chi trả thu nhập cho người lao động, doanh nghiệp phải xác định được số thuế thu nhập cá nhân cần được khấu trừ trước khi chi trả thu nhập cho người lao động Tuy nhiên, thuế thu nhập cá nhân với diện thu thuế rộng và phân tán, do vậy kế toán thuế thu nhập cá nhân cần xác định đúng, đủ đối tượng nộp thuế, nguồn thu nhập chịu thuế, thu nhập không chịu thuế, miễn giảm thuế làm căn cứ xác định số thuế TNCN phải khấu trừ từ thu nhập chi trả cho người lao động để nộp cho Nhà nước thay người lao động trong kỳ tính thuế

- Kế toán Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB)

Thuế TTĐB là thuế gián thu đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ đặc biệt nằm trong danh mục quy định của Nhà nước cần điều tiết sản xuất và tiêu dùng Thuế TTĐB được cấu thành trong giá bán hàng hoá, dịch vụ

Trang 27

do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hoá, dịch vụ Thuế TTĐB là một sắc thuế có hiệu suất cao, là công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước Thông qua việc điều tiết cao đối với một số hàng hoá, dịch vụ đặc biệt, thuế TTĐB góp phần động viên một phần thu nhập của các đối tượng có thu nhập cao vào NSNN, góp phần đảm bảo công bằng xã hội Thuế TTĐB còn là một công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước trong việc hướng dẫn sản xuất, hướng dẫn tiêu dùng Thuế TTĐB chỉ thu ở khâu sản xuất và nhập khẩu đối với hàng hóa và thu ở khâu kinh doanh đối với dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế Do vậy, kế toán thuế TTĐB phải xác định đúng đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế,

số thuế TTĐB phải nộp, khai và quyết toán thuế đúng quy định

- Kế toán thuế xuất, nhập khẩu (XNK)

Thuế XNK là loại thuế gián thu điều chỉnh vào hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới của mỗi quốc gia Số thuế xuất khẩu phải nộp sẽ được tính vào giá bán của hàng hoá xuất khẩu, do đó sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu trên thị trường quốc tế Ngược lại, số thuế nhập khẩu phải nộp sẽ được nhà nhập khẩu cộng vào giá vốn hàng nhập khẩu, và như vậy, xét về mặt lý thuyết hàng hoá thuộc diện nhập khẩu sẽ có giá cao hơn so với hàng hoá cùng loại được sản xuất ở trong nước Đối tượng chịu thuế XNK đa dạng nhưng mang tính xác định rõ ràng, thuế suất được áp dụng riêng cho từng nhóm đối tượng chịu thuế cụ thể Mặt khác, thanh toán trong giao dịch xuất nhập khẩu được thực hiện bằng nhiều đơn vị tiền tệ khác nhau (thường là ngoại tệ), việc xác định đồng tiền nộp thuế, tỷ giá quy đổi khi xác định thuế XNK phải nộp luôn được các doanh nghiệp quan tâm Kế toán thuế XNK trong doanh nghiệp phải xác định đúng đối tượng chịu thuế, thuế suất áp dụng, tỷ giá quy đổi, làm căn cứ xác định đúng, đủ số thuế XNK phải nộp; thực hiện kê khai và nộp thuế đúng quy định

- Kế toán các khoản thuế, phí, lệ phí khác

Ngoài kế toán các khoản thuế trên, trong doanh nghiệp còn phát sinh nghĩa vụ thuế đối với việc sử dụng đất (thuế nhà đất, tiền thuê đất);

Trang 28

đối với việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên quốc gia (thuế tài nguyên); đối với việc chuyển nhượng tài sản (thuế chuyển quyền sử dụng đất); đối với hoạt động kinh doanh (thuế môn bài); gắn với trách nhiệm bảo vệ môi trường (thuế bảo vệ môi trường); gắn với việc sử dụng tài sản (lệ phí trước bạ),

Kế toán thuế, với mục đích cung cấp thông tin cho việc xác định các nghĩa vụ thuế phải nộp của doanh nghiệp, kê khai thuế, miễn, giảm thuế, hoàn thuế và quyết toán các loại thuế đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước thì cần phải xác định và ghi nhận đầy đủ các khoản thuế này, thực hiện việc kê khai, quyết toán đầy đủ, đúng quy định của Nhà nước

1.3.2.2 Xét theo phần hành công việc kế toán

Với chức năng thu thập, xử lý, cung cấp và phân tích thông tin cho các đối tượng sử dụng thông tin tài chính của doanh nghiệp, đặc biệt là Nhà nước để kiểm tra, kiểm soát tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp với Nhà nước, nội dung kế toán thuế xét theo phần hành công việc bao gồm:

(1) Thu thập, xử lý và cung cấp thông tin cho việc lập Báo cáo tài chính doanh nghiệp, bao gồm:

- Thu thập thông tin ban đầu làm căn cứ để tính thuế, kê khai thuế, miễn giảm thuế, hoàn thuế và quyết toán các loại thuế doanh nghiệp phải nộp;

Trên cơ sở các chứng từ kế toán phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, kế toán thuế xác định chứng từ kế toán hợp pháp và hợp lệ có liên quan đối với từng loại thuế làm căn cứ để tính thuế, kê khai thuế, miễn giảm thuế, hoàn thuế và quyết toán các loại thuế doanh nghiệp phải nộp

- Tính toán, xác định các khoản thuế phải nộp theo quy định của Luật thuế;

- Xử lý, ghi nhận thông tin về thuế theo quy định của Luật kế toán, Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành;

- Trình bày thông tin về thuế trên Báo cáo tài chính doanh nghiệp;

Trang 29

(2) Thực hiện khai và quyết toán thuế, lập các Báo cáo thuế theo quy định của Luật thuế và Luật quản lý thuế hiện hành

(3) Thực hiện xử lý các phát sinh sau kiểm tra, thanh tra thuế của

cơ quan thuế tại trụ sở người nộp thuế theo quy định của chế độ kế toán; luật thuế và luật quản lý thuế hiện hành

Kết luận:

Chương này đã đề cập những vấn đề cụ thể sau:

- Nêu các khái niệm về thuế theo nhiều góc độ khác nhau, phân tích bản chất của thuế làm rõ được vai trò của thuế, thực hiện phân loại thuế theo các tiêu thức khác nhau để đáp ứng yêu cầu quản lý;

- Phân tích yêu cầu quản lý thuế và nhiệm vụ kế toán thuế trong doanh nghiệp;

- Phân tích, làm rõ những điểm giống nhau và khác nhau giữa kế toán thuế và các phần hành kế toán khác trong hệ thống kế toán tài chính doanh nghiệp;

- Làm rõ nội dung kế toán thuế theo từng sắc thuế, định hướng cho toàn bộ nội dung kế toán thuế ở các chương sau của giáo trình

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Làm rõ bản chất của thuế?

2 Phân tích vai trò của thuế trong nền kinh tế?

3 Phân tích các yêu cầu và nhiệm vụ kế toán thuế?

4 Phân tích các đặc điểm của kế toán thuế?

5 Làm rõ sự khác biệt giữa thuế trực thu và thuế gián thu?

6 Phân tích các nội dung kế toán thuế theo phần hành công việc?

Trang 30

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ang-ghen, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà

nước, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1962

2 Đỗ Minh Thành, Giáo trình Nguyên lý kế toán, NXB Thống kê,

2009

3 Gaston Jeze, “Finances Publiques”, 1934

4 Lê-nin toàn tập, tập 15, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1961

5 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Thuế

thu nhập doanh nghiệp QH số 14/2008/QH12 ngày 03/6/2008

6 Quốc Hội (2014), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các

Luật về Thuế số 71/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014

Trang 31

Chương 2

KẾ TOÁN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

Mục tiêu:

Chương này giúp người học nắm bắt được những nội dung như sau:

- Khái niệm, đặc điểm và quy định chung về thuế giá trị gia tăng

- Nguyên tắc và phương pháp kế toán thuế giá trị tăng theo phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp

- Kê khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp

2.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

2.1.1 Khái niệm, đặc điểm thuế giá trị gia tăng

Thuế giá trị gia tăng (GTGT) có nguồn gốc từ thuế doanh thu, được

áp dụng đầu tiên trên thế giới tại Pháp vào năm 1954, với ưu điểm nổi bật của thuế GTGT là đảm bảo nguồn thu kịp thời cho Ngân sách Nhà nước và khắc phục được tình trạng trùng lắp của thuế doanh thu Cho đến nay, thuế GTGT đã được áp dụng phổ biến trên thế giới, ở Việt Nam thuế GTGT được áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 1999

Thuế GTGT là loại thuế tính trên giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch

vụ phát sinh từ các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Người nộp thuế chỉ tính số thuế phải nộp trên cơ sở khoản chênh lệch giữa số thuế tính trên sản phẩm bán ra và số thuế tính trên sản phẩm mua vào, người tiêu dùng là người gánh chịu toàn bộ số thuế này vì họ là người thực hiện mua hàng nhưng không thực hiện việc bán hàng

Như vậy, thuế GTGT tính trên phần giá trị mới được tạo ra (giá trị gia tăng) của hàng hóa dịch vụ trên mỗi công đoạn của quá trình sản

Trang 32

xuất, lưu thông, tiêu dùng Không tính vào phần giá trị đã chịu thuế GTGT ở các khâu trước, khắc phục được tình trạng “thuế chồng lên thuế“, từ đó khuyến khích sản xuất kinh doanh, xuất khẩu, tăng cường đầu tư, tăng thu Ngân sách Nhà nước

Đặc điểm thuế giá trị gia tăng [13]

Thứ nhất, thuế GTGT là thuế gián thu

Đối tượng nộp thuế GTGT là người cung ứng hàng hóa, dịch vụ Người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng Người bán hàng khi bán hàng sẽ cộng số thuế GTGT vào giá bán hàng hóa, dịch vụ mà người mua phải trả khi mua hàng hóa, dịch vụ Tiền thuế GTGT được tính trong giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ được các cơ sở sản xuất kinh doanh nộp vào Ngân sách Nhà nước thay cho người tiêu dùng

Như vậy, tính gián thu của thuế GTGT biểu hiện là người mua (người tiêu dùng cuối cùng) là người chịu khoản thuế này nhưng không trực tiếp đứng ra nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước, mà họ phải trả khoản thuế cho người bán hàng hóa dịch vụ khi thực hiện việc mua của hàng hóa dịch vụ đó, người bán thực hiện nộp khoản thuế GTGT phải nộp vào Ngân sách Nhà nước theo phương pháp khấu trừ thuế hoặc phương pháp trực tiếp

Thứ hai, thuế GTGT là thuế đánh nhiều giai đoạn không trùng lắp

Thuế GTGT là thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn Tổng số thuế thu được của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng

Như vậy, về nguyên tắc chỉ cần thu thuế ở khâu bán cuối cùng Tuy nhiên, trên thực tế khó xác định được đâu là khâu bán cuối cùng, đâu là khâu trung gian Do vậy, cứ khi thực hiện mua hàng hóa, dịch vụ là phải tính thuế, người tiêu dùng sẽ là người chịu toàn bộ số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ đó Tổng số thuế người tiêu dùng trả cuối cùng bằng

Trang 33

tổng số thuế phát sinh đã được người bán (cơ sở sản xuất kinh doanh) kê khai và nộp qua từng giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ

Thứ ba, tính trung lập cao

Thuế GTGT không bị ảnh hưởng trực tiếp của kết quả kinh doanh của người nộp thuế, do người nộp thuế chỉ là người thay mặt người tiêu dùng nộp hộ các khoản thuế vào Ngân sách Nhà nước Do vậy, thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là một khoản thuế được cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hóa dịch vụ đó

Thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, vì quá trình tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế, sản phẩm được luân chuyển qua nhiều hay ít giai đoạn thì tổng số thuế phải nộp của tất cả các giai đoạn vẫn đúng bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng

Thứ tư, thuế GTGT là thuế lũy thoái so với thu nhập

Thuế GTGT tính vào hàng hóa dịch vụ và người tiêu dùng là người phải trả khoản thuế đó, không phân biệt thu nhập cao hay thấp, số thuế phải nộp là như nhau nếu mua cùng một loại hàng hóa, dịch vụ Như vậy khi so sánh tỷ suất thuế GTGT trên tổng thu nhập thì người có thu nhập cao có tỷ suất thấp hơn người có thu nhập thấp

Thứ năm, thuế GTGT có tính lãnh thổ

Thuế GTGT tính trong phạm vi lãnh thổ 1 quốc gia, đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó

2.1.2 Quy định chung về thuế giá trị gia tăng

2.1.2.1 Đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng

a Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng

Như đã phân tích ở trên, đặc điểm của thuế GTGT có tính trung lập cao và là loại thuế gián thu, thuế GTGT không phải là một yếu tố chi phí,

Trang 34

số thu từ thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, nên mục tiêu chính sách thuế GTGT chủ yếu là nhằm động viên một phần thu nhập của đại bộ phận người tiêu dùng trong xã hội vào Ngân sách Nhà nước Do đó, có thể coi thuế GTGT có mục tiêu chủ yếu là tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước Để đạt được mục tiêu ấy, đối tượng chịu thuế GTGT phải bao quát hầu hết các hàng hóa dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trong nước, điều này có nghĩa là việc quy định đối tượng không chịu thuế chỉ nên giới hạn trong một số hàng hóa dịch vụ nhất định, có thể là những hàng hóa dịch vụ này được nhà nước khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, hàng hóa dịch vụ phục vụ phúc lợi công cộng, sản phẩm của ngành khó khăn, việc tổ chức quản lý thu nộp không

dễ dàng Trên nguyên tắc đó, đối tượng chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT có thể được thay đổi theo từng thời kỳ để đảm bảo phát triển kinh tế xã hội theo định hướng của Nhà nước

Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế được quy định theo pháp luật thuế hiện hành [7]

b Đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng

Bản chất của thuế GTGT là thuế gián thu đánh vào tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế, nhưng người tiêu dùng không phải đứng ra kê khai và nộp thuế, mà trả trực tiếp cho người bán với tư cách là những người tổ chức quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa đó, người bán có trách nhiệm đứng ra tổ chức kê khai và nộp các khoản thuế Vì vậy, người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh (gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT (gọi là người nhập khẩu)

Trang 35

Đối tượng nộp thuế bao gồm:

- Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước (nay là Luật Doanh nghiệp), Luật Hợp tác xã và pháp luật kinh doanh chuyên ngành khác

- Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác

- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (nay là Luật Đầu tư); các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam

- Cá nhân, hộ gia đình, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu

- Tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ (kể cả trường hợp mua dịch vụ gắn với hàng hóa) của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam thì tổ chức, cá nhân mua dịch vụ là người nộp thuế, trừ trường hợp không phải kê khai theo quy định của pháp luật thuế hiện hành

- Chi nhánh của doanh nghiệp chế xuất được thành lập để hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế [7]

2.1.2.2 Xác định thuế giá trị gia tăng

Cơ sở sản xuất kinh doanh thực hiện xác định thuế GTGT phải nộp theo một trong hai phương pháp: Phương pháp khấu trừ và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT Việc xác định thuế phải nộp theo từng phương pháp như sau:

Trang 36

a Phương pháp khấu trừ thuế

Phương pháp khấu trừ được áp dụng đối với cơ sở sản xuất kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ, điều kiện khác theo quy định của pháp luật thuế hiện hành và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ [10]

Theo phương pháp này, số thuế GTGT phải nộp được xác định

như sau:

Số thuế GTGT

phải nộp = Thuế GTGT đầu ra - vào được khấu trừ Thuế GTGT đầu

Trong đó:

a1 Thuế GTGT đầu ra

Thuế GTGT đầu ra được xác định theo công thức sau:

Thuế GTGT

đầu ra = Giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ bán ra x của hàng hóa dịch vụ đó Thuế suất thuế GTGT

- Giá tính thuế GTGT: Giá tính thuế GTGT là một căn cứ quan

trọng để xác định số thuế GTGT phải nộp Nguyên tắc xác định giá tính thuế GTGT là giá bán chưa có thuế GTGT được ghi trên hóa đơn GTGT của người bán hàng, người cung cấp dịch vụ hoặc giá chưa có thuế GTGT được ghi trên chứng từ của hàng hóa nhập khẩu Tuy nhiên, trong từng trường hợp cụ thể, việc xác định giá tính thuế GTGT có sự khác nhau để đáp ứng phù hợp với bản chất của thuế GTGT

Theo quy định của pháp luật thuế hiện hành, giá tính thuế GTGT cho một số trường hợp cụ thể được quy định như sau:

+ Giá tính thuế của hàng hóa dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế GTGT Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt giá tính thuế là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế GTGT Đối với hàng hóa chịu thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng; đối với hàng hóa vừa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, vừa chịu

Trang 37

thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo

vệ môi trường nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng

+ Giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu

cộng (+) với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng (+) với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có), cộng (+) với thuế bảo vệ môi trường (nếu có) Giá nhập tại cửa

khẩu được xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu

Trường hợp hàng hóa nhập khẩu được miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế GTGT là giá nhập khẩu cộng (+) với thuế nhập khẩu xác

định theo mức thuế phải nộp sau khi đã được miễn, giảm

+ Giá tính thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng nội bộ: Đối với hàng hóa, dịch vụ cơ sở sản xuất kinh doanh xuất dùng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh (tiêu dùng nội bộ), giá tính thuế được xác định theo giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ tương đương tại thời điểm phát sinh việc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ

Đối với trường hợp hàng hóa luân chuyển nội bộ như xuất dùng hàng hóa để chuyển kho nội bộ, bán thành phẩm để tiếp tục quá trình sản xuất trong một cơ sở sản xuất kinh doanh không phải tính, nộp thuế GTGT

+ Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại theo

quy định của pháp luật về thương mại, giá tính thuế được xác định bằng không (0); trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại nhưng không thực hiện theo quy định của pháp luật về thương mại thì phải kê khai, tính nộp thuế như hàng hóa, dịch vụ dùng để tiêu dùng nội bộ Đối với các hình thức khuyến mại bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ thì không phải kê khai, tính thuế GTGT đối với phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ tặng kèm

+ Đối với hoạt động cho thuê tài sản như cho thuê nhà, văn phòng,

xưởng, kho tàng, bến, bãi, phương tiện vận chuyển, máy móc, thiết bị là

số tiền cho thuê chưa có thuế GTGT

Trang 38

Trường hợp cho thuê theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả

trước tiền thuê cho một thời hạn thuê thì giá tính thuế là tiền cho thuê trả

từng kỳ hoặc trả trước cho thời hạn thuê chưa có thuế GTGT Giá cho

thuê tài sản do các bên thỏa thuận được xác định theo hợp đồng Trường hợp pháp luật có quy định về khung giá thuê thì giá thuê được xác định

trong phạm vi khung giá quy định

+ Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp giá tính thuế là giá bán trả một lần chưa có thuế GTGT của hàng hóa đó (không bao gồm lãi trả góp), không tính theo số tiền trả góp từng kỳ

+ Đối với gia công hàng hóa giá tính thuế là giá gia công chưa có

thuế GTGT (bao gồm: Tiền công, tiền nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ

và các chi phí khác để gia công)

+ Đối với xây dựng, lắp đặt, là giá trị công trình, hạng mục công

trình hay phần công việc thực hiện bàn giao chưa có thuế GTGT

+ Đối với các cơ sở kinh doanh được Nhà nước giao đất xây nhà,

cơ sở hạ tầng kỹ thuật để bán, để chuyển nhượng gắn với chuyển quyền

sử dụng đất, giá tính thuế GTGT là giá bán, giá chuyển nhượng chưa có

thuế, trừ tiền sử dụng đất theo giá đất quy định khi giao đất

+ Đối với hàng hóa, dịch vụ có tính đặc thù dùng các chứng từ như

tem bưu chính, vé cước vận tải, vé xổ số kiến thiết ghi giá thanh toán

là giá đã có thuế GTGT thì giá chưa có thuế GTGT được xác định như sau:

Giá chưa có thuế

Giá thanh toán (tiền bán vé, bán tem )

1 + (%) Thuế suất của hàng hóa, dịch vụ đó

- Thuế suất thuế GTGT: Thuế suất là một căn cứ quan trọng để xác

định thuế GTGT phải nộp, thuế suất do Nhà nước quy định cho từng loại hàng hóa, dịch vụ và được điều chỉnh trong từng thời kỳ Mức thuế suất phải đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập nhưng vẫn phải giảm thiểu được chi phí hành chính và chi phí chấp hành luật, không làm bóp méo hành vi và quyết định tiêu dùng

Trang 39

Có hai cách xây dựng mức thuế suất đó là: Cơ chế một thuế suất duy nhất và cơ chế đa thuế suất Việc áp dụng cơ chế một thuế suất có ưu điểm là kỹ thuật tính thuế đơn giản, hạn chế được những gian lận trốn thuế, giảm thiểu công việc cho người nộp thuế và thu thuế Tuy nhiên, không đảm bảo tính công bằng đối với thu nhập người tiêu dùng Đối với việc áp dụng cơ chế đa thuế suất khắc phục được đặc điểm lũy thoái so với thu nhập của thuế GTGT, tùy theo mức độ thiết yếu, thông dụng hay

xa xỉ của hàng hóa dịch vụ để áp dụng mức thuế cho phù hợp Việc áp dụng cơ chế đa thuế suất đảm bảo tính công bằng đối với thu nhập của người tiêu dùng nhưng đòi hỏi người nộp thuế và thu thuế phải có trình

độ và ý thức tự giác cao

Theo pháp luật về thuế hiện hành, ở Việt Nam có ba mức thuế suất thuế GTGT đó là: 0%, 5% và 10%

+ Thuế suất 0%: Áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu

Hàng hóa xuất khẩu bao gồm xuất khẩu ra nước ngoài, bán cho doanh nghiệp khu chế xuất và các trường hợp được coi là xuất khẩu như hàng hóa gia công xuất khẩu chuyển tiếp, hàng hóa ủy thác gia công xuất khẩu, hàng hóa xuất khẩu tại chỗ, hàng hóa xuất khẩu để bán tại hội chợ, triển lãm ở nước ngoài

Dịch vụ xuất khẩu là dịch vụ được cung cấp trực tiếp cho tổ chức,

cá nhân ở nước ngoài và được tiêu dùng ngoài lãnh thổ Việt Nam

+ Thuế suất 5%: Áp dụng đối với các hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng

có tính thiết yếu hoặc là đầu vào của nhiều ngành sản xuất như: Than các loại, sản phẩm cơ khí (trừ sản phẩm cơ khí tiêu dùng), sản phẩm luyện cán, kéo kim loại đen, kim loại màu, kim loại quý, trừ vàng nhập khẩu; khuôn đúc các loại; hóa chất cơ bản; máy vi tính, cụm linh kiện; vật liệu nổ; ; thiết bị máy móc và dụng cụ chuyên dùng cho y tế; thuốc chữa bệnh, phòng bệnh cho người và vật nuôi; giáo cụ dùng để giảng dạy và học tập; đồ chơi cho trẻ em; sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản chưa qua chế biến; lâm sản (trừ gỗ, măng) chưa qua chế biến; thực phẩm tươi sống và lương thực;

Trang 40

+ Thuế suất 10%: Áp dụng đối với các hàng hóa dịch vụ chịu thuế

không thuộc nhóm áp dụng thuế suất 0%, 5% như: Dầu mỏ, khí đốt, quặng và sản phẩm khai khoáng khác; điện thương phẩm do các cơ sở sản xuất, kinh doanh điện bán ra; sản phẩm cơ khí tiêu dùng, sản phẩm điện tử; xây dựng, lắp đặt; hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB

Nguyên tắc khi xác định thuế GTGT đầu ra:

Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hóa, dịch vụ phải tính và nộp thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra Khi lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải ghi rõ giá bán chưa có thuế, thuế GTGT và tổng số tiền người mua phải thanh toán Trường hợp hóa đơn chỉ ghi giá thanh toán (trừ trường hợp được phép dùng chứng từ đặc thù), không ghi giá chưa có thuế và thuế GTGT thì thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra phải tính trên giá thanh toán ghi trên hóa đơn

Trường hợp hóa đơn ghi sai mức thuế suất thuế giá trị gia tăng mà

cơ sở kinh doanh chưa tự điều chỉnh, cơ quan thuế kiểm tra, phát hiện thì

xử lý như sau:

Nếu thuế suất thuế GTGT ghi trên hóa đơn cao hơn thuế suất đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT thì phải kê khai, nộp thuế GTGT theo thuế suất đã ghi trên hóa đơn

Nếu thuế suất thuế GTGT ghi trên hóa đơn thấp hơn thuế suất đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT thì phải kê khai, nộp thuế GTGT theo thuế suất thuế GTGT quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT

a2 Thuế GTGT đầu vào: Là tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn

GTGT mua hàng hóa, dịch vụ, chứng từ nộp thuế của hàng hóa nhập khẩu dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế hoặc số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế thay cho phía nước ngoài

Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào là loại được dùng chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì cơ sở được căn cứ

Ngày đăng: 19/11/2020, 21:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
40. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt số 27/2008/QH12 của Quốc hội ngày 14 tháng 11 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt số 27/2008/QH12
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2008
42. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 01/01/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2005
43. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Luật Thuế tài nguyên số 45/2009/QH12 ngày 01/07/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thuế tài nguyên số 45/2009/QH12
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2010
45. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp số 48/2010/QH12 ngày 01/01/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp số 48/2010/QH12
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2010
46. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), Nghị định số 26/2009/NĐ-CP ngày 16 tháng 03 năm 2009 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 26/2009/NĐ-CP ngày 16 tháng 03 năm 2009
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2009
47. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2011), Nghị định số 113/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2011 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2009/NĐ-CP ngày 16 tháng 03 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 113/2011/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2011
48. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Nghị định số 108/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 108/2015/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2015
49. Bộ Tài chính, Thông tư số 126/2014/TT-BTC ngày 28 tháng 8 năm 2014 quy định thủ tục về kê khai, thu nộp thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 126/2014/TT-BTC
50. Bộ Tài chính, Thông tư số 126/2014/TT-BTC ngày 28 tháng 8 năm 2014 quy định thủ tục về kê khai, thu nộp thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 126/2014/TT-BTC
51. Bộ Tài chính, Thông tư số 195/2015/TT-BTC ngày 24 tháng 11 năm 2015 hướng dẫn Nghị định số 108/2015/NĐ - CP hướng dẫn Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 195/2015/TT-BTC
52. Bộ Tài chính (2014), Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 01/10/2014 hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 103/2014/TT-BTC
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2014
53. Bộ Tài chính (2010), Thông tư số 105/2010/TT-BTC ngày 23/07/2010 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên và hướng dẫn thi hành Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14/05/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Thuế tài nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 105/2010/TT-BTC
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2010
54. Bộ Tài chính (2014), Thông tư số 126/2014/TT-BTC ngày 28/08/2014 của Bộ Tài chính quy định một số thủ tục về kê khai, thu nộp thuế, chậm nộp, tiền phạt và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 126/2014/TT-BTC
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2014
55. Bộ Tài chính (2011), Thông tư số 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 153/2011/TT-BTC
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2011
56. Bộ Tài chính (2014), Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 200/2014/TT-BTC
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2014
57. PGS.TS Nguyễn Thị Liên, PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu (2014), Giáo trình Thuế, Nhà xuất bản Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thuế
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Thị Liên, PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2014
58. PGS.TS Nguyễn Thị Liên (2010), Giáo trình Thuế thu nhập, Nhà xuất bản Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thuế thu nhập
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Thị Liên
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2010
41. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt số Khác
44. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Luật Thuế bảo vệ môi trường số 57/2010/QH12 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w