Tuy vậy, những vấn đề môitrường cùng với hậu quả từ việc khai thác, chế biến khoáng sản không tuân theoquy định, đặt lợi nhuận lên hàng đầu của các doanh nghiệp đã và đang là vấn nạncủa
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-Nguyễn Thị Việt Trà
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TẠI XÍ NGHIỆP THIẾC ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-Nguyễn Thị Việt Trà
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TẠI XÍ
NGHIỆP THIẾC ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Trang 3BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BOD: Nhu cầu oxy sinh hóa
COD: Nhu cầu oxy hóa học
HL: Hàm lƣợng
KT: Kỹ thuật
KT – XH: Kinh tế - Xã hội
QCVN: Quy chuẩn Việt Nam
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
TNHH MTV: Trách nhiệm hữu hạn Một thành viênTSS: Tổng chất rắn lơ lửng
UBND : Uỷ ban nhân dân
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ TÌM KIẾM, KHAI THÁC THIẾC 3
1.1.1 Khái quát về lịch sử tìm kiếm – khai thác thiếc trên thế giới 3
1.1.2 Khái quát về lịch sử tìm kiếm – khai thác thiếc ở Việt Nam 3
1.1.3 Đặc điểm khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 4
1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA HÓA, KHOÁNG VẬT THIẾC VÀ CÔNG NGHỆ TUYỂN QUẶNG THIẾC 6
1.2.1 Tính chất 6
1.2.2 Đặc điểm địa hóa 7
1.2.3 Thành phần khoáng vật 8
1.2.4 Kinh tế nguyên liệu khoáng 9
1.2.5 Công dụng 10
1.3 KHAI THÁC, CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN VÀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG 11 1.3.1 Các hình thức khai thác, chế biến khoáng sản 11
1.3.2 Công nghệ khai thác và tuyển khoáng 12
1.3.3 Tác động của hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản tới môi trường 13 1.3.3.1 Ô nhiễm không khí, đất, nước 13
1.3.3.2 Ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên khác 15
1.4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU16 1.4.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Đại Từ 16
Trang 51.4.1.1 Vị trí địa lý 16
1.4.1.2 Điều kiện khí tượng 17
1.4.1.3 Điều kiện thuỷ văn 19
1.4.1.4 Hiện trạng đa dạng sinh học 20
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội xã Hà Thượng 22
Chương 2- ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 24
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 25
2.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.3.1 Tổng hợp tài liệu 25
2.3.2 Khảo sát thực địa 26
2.3.3 Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm 26
2.3.3.1 Phương pháp lấy mẫu nước, mẫu đất 26
2.3.3.2 Phương pháp phân tích 27
2.3.4 Xử lý số liệu 27
Chương 3- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1 XÍ NGHIỆP THIẾC ĐẠI TỪ 29
3.1.1 Đặc điểm địa hình, địa mạo khu vực chế biến thiếc 29
3.1.2 Quy mô và công nghệ sản xuất 30
3.2 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG KHU VỰC CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN .39 3.2.1 Hiện trạng môi trường nước thải 39
3.2.2 Hiện trạng chất lượng môi trường đất 42
3.2.3 Hiện trạng môi trường nước dưới đất (nước ngầm) 45
3.3 ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN HOÀN THỔ, CẢI TẠO PHỤC HỒI MÔI TRƯỜNG KHU VỰC 46
3.3.1 Căn cứ lựa chọn phương án phục hồi môi trường 46
3.3.2 Lựa chọn phương án phục hồi môi trường và xử lý ô nhiễm 49
3.3.3 Phương án công nghệ xử lý đối với giải pháp lựa chọn 51
Trang 63.3.3.2 Công nghệ tuyển tận thu khoáng sản trên mặt bằng sân công nghiệp
55
3.3.4 Tổng hợp khối lượng thực hiện công tác hoàn phục môi trường Xí nghiệp thiếc Đại Từ 57
3.4 DỰ TOÁN KINH PHÍ THỰC HIỆN 59
3.5 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG ÁN ĐỀ XUẤT 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
1 KẾT LUẬN 60
2 KIẾN NGHỊ 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 62
TÀI LIỆU TIẾNG ANH 63
PHỤ LỤC 64
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Biểu đồ tiêu thụ thiếc trên thế giới năm 2006 (Nguồn
www.itri-innovation.com) 10
Hình 1.2 Vị trí huyện Đại Từ trong tỉnh Thái Nguyên 17
Hình 2.1 Vị trí khu vực nghiên cứu tiến hành công tác cải tạo, phục hồi môi trường 24 Hình 2.2 Sơ đồ vị trí giám sát môi trường Xí nghiệp thiếc Đại Từ giai đoạn cải tạo phục hồi môi trường 28
Hình 3.1 Toàn cảnh khu vực chế biến quặng thiếc của Xí nghiệp Thiếc Đại Từ 29
Hình 3.2 Sơ đồ công nghệ tuyển quặng thiếc 30
Hình 3.3 Sơ đồ công nghệ tuyển quặng gốc tại Xí nghiệp thiếc Đại Từ 31
Hình 3.4 Mặt bằng khu vực nghiên cứu 48
Hình 3.5 Mặt cắt điển hình sau cải tạo khu vực hồ chứa bùn thải 53
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Sản lượng khai thác thiếc qua các thời kỳ như sau (nghìn tấn SnO2) 4
Bảng 1.2 Tổng hợp mỏ và điểm quặng tỉnh Thái Nguyên 5
Bảng 1.3 Trữ lượng một số khoáng sản chính 6
Bảng 1.4 Bảng thống kê một số các khoáng vật chứa thiếc 8
Bảng 1.5 Nhiệt độ không khí trung bình- Tháng 18
Bảng 1.6 Ước lượng tổng sinh khối thực vật 20
Bảng 2.1 Ký hiệu và đặc điểm của các mẫu nghiên cứu 26
Bảng 3.1 Định mức hóa chất của hệ tuyển nghiền cho 1 tấn tinh quặng 70%Sn 31
Bảng 3.2 Bảng tính định lượng khối lượng sản xuất 32
Bảng 3.3 Bảng cân bằng kim loại toàn xưởng 34
Bảng 3.4 Bảng tính toán bùn nước 35
Bảng 3.5 Cân bằng nước toàn xưởng 37
Bảng 3.6 Danh mục máy móc thiết bị phục vụ tuyển quặng Xí nghiệp thiếc Đại Từ 38 Bảng 3.7 Kết quả phân tích các chỉ tiêu ô nhiễm trong nước thải của Xí nghiệp thiếc Đại Từ 2008-2009 39
Bảng 3.8 Kết quả phân tích các chỉ tiêu ô nhiễm trong nước thải tại xí nghiệp thiếc Đại Từ ngày 14/ 5 /2010 41
Bảng 3.9 Kết quả phân tích hàm lượng các chất ô nhiễm trong môi trường đất tại xí nghiệp thiếc Đại Từ từ năm 2008-2009 42
Bảng 3.10 Kết quả phân tích hàm lượng các chỉ tiêu trong môi trường đất tại Xí nghiệp thiếc Đại Từ ngày 14/ 5 /2010 44
Bảng 3.11 Kết quả phân tích hàm lượng các chất gây ô nhiễm trong môi trường nước ngầm tại khu vực xí nghiệp thiếc Đại Từ từ năm 2008-2009 45
Bảng 3.12 Tổng hợp khối lượng thực hiện hoàn phục môi trường 57
Trang 9MỞ ĐẦU
Công nghiệp khai thác khoáng sản ở nước ta hiện nay đã đóng góp một phầnquan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Không thể phủnhận những lợi ích thiết thực trong việc góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước mà ngành này mang lại Tuy vậy, những vấn đề môitrường cùng với hậu quả từ việc khai thác, chế biến khoáng sản không tuân theoquy định, đặt lợi nhuận lên hàng đầu của các doanh nghiệp đã và đang là vấn nạncủa nước ta hiện nay
Quá trình đào xới, vận chuyển đất đá và quặng làm địa hình khu khai trường
bị hạ thấp, ngược lại, quá trình đổ chất thải rắn làm địa hình bãi thải được tâng cao
Sự tích tụ chất thải rắn do tuyển rửa quặng trong các lòng hồ, kênh mương tưới tiêu
có thể làm thay đổi lưu lượng dòng chảy, dung tích chứa nước, biến đổi chất lượngnguồn nước và làm suy giảm công năng của các công trình thuỷ lợi nằm liền kề vớicác khu khai thác, chế biến quặng
Hoạt động chế biến khoáng sản tại xưởng tuyển thiếc Đại Từ thuộc xã HàThượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên là một trong những ví dụ điển hình củaviệc hoạt động sản xuất không đi đôi với các biện pháp bảo vệ môi trường Xínghiệp thiếc Đại Từ có chức năng tuyển quặng thiếc bằng nước qua máy nghiền,bàn đãi từ quặng thiếc tại mỏ thiếc Phục Linh, xã Phục Linh, huyện Đại Từ Xínghiệp bắt đầu đi vào hoạt động chính thức năm 1988, qua 21 năm hoạt động, cuốinăm 2009, do định hướng phát triển của Công ty TNHH MTV Kim loại màu TháiNguyên, Xí nghiệp kết thúc hoạt động khai thác, tuyển quặng và bắt đầu tiến hànhcông tác hoàn phục môi trường, khắc phục ô nhiễm từ sự quá tải của bãi thải – nơilưu trữ chất thải từ quá trình nghiền, tuyển quặng Xí nghiệp thiếc Đại Từ đang phảiđối mặt với vấn đề ô nhiễm nước mặt, môi trường đất từ chính hoạt động sản xuấtcủa mình mang lại
Đề tài "Đánh giá ảnh hưởng và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi
Trang 10giá những ảnh hưởng tới môi trường đất, nước do hoạt động sản xuất của xí nghiệpgây ra, qua đó, đề xuất biện pháp hoàn phục môi trường, khắc phục ô nhiễm nhằmđảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trường và phục vụ các mục đích có lợi cho conngười.
Các nội dung nghiên cứu chủ yếu của luận văn bao gồm:
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại xã Hà Thượng, huyện Đại
cư sống xung quanh
Trang 11Chương 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ TÌM KIẾM, KHAI THÁC THIẾC
1.1.1 Khái quát về lịch sử tìm kiếm – khai thác thiếc trên thế giới
Thiếc là một trong những kim loại đầu tiên mà loài người đã phát hiện được.Việc sử dụng nó làm hợp kim với đồng đã trải qua một thời kì lâu dài và quan trọngtrong thời đại đồ đồng Đồng đen cổ nhất đã được tìm thấy ở Ơfrat (Messopotania)vào 3500 – 3200 năm trước Công Nguyên Vào khoảng 1800 – 1500 năm trướcCông Nguyên, ở Trung Quốc đã sử dụng rộng rãi đồng đen Ngày xưa, ở Anh (mỏCoocmuon), nam Trung Quốc, Bolivia, Liên Xô đã khai thác thiếc với quy mô lớn[22]
Năm 1940, thế giới khai thác được 240.000 tấn (trừ Liên Xô) Năm 1957, thếgiới sản xuất được 200.000 tấn (không kể Liên Xô và Trung Quốc) Liên Xô đãphát hiện được nhiều vùng quặng thiếc rất lớn (Zabaical, tiểu Khingan, Xkhote –Albitin và đặc biệt là trên lãnh thổ rộng lớn miền Đông Bắc) [6]
Các vùng có nhiều thiếc nhất là vùng núi Đông Siberi và vùng Đông Nam Á.Thiếc ở Đông Nam Á tập trung trong một dải kéo dài từ cao nguyên Vân Quý quabán đảo Trung Ấn đến các đảo Bangka và Billiton thuộc Indonesia Thiếc ở đâychiếm tới 70% trữ lượng thế giới [3] Giờ đây, sản lượng khai thác thiếc của TrungQuốc, Indonesia và Malaysia đang đứng hàng hai, ba, tư thế giới sau Brasil
1.1.2 Khái quát về lịch sử tìm kiếm – khai thác thiếc ở Việt Nam
Vào khoảng trên 3000 năm trước công nguyên, người Việt Nam cũng đãbiết sử dụng thiếc Thiếc được khai thác ở Vụ Nông (nay là Tĩnh Túc) thuộc tỉnhCao Bằng để luyện đồng thau, cung cấp cho nhà nước từ thời Hồng Bàng [15]
Ở Việt Nam quặng thiếc có ở 3 khu vực chính là Cao Bằng, Sơn Dương vàQuỳ Hợp Theo kết quả tìm kiếm – thăm dò trong thời gian qua đã xác định tàinguyên thiếc 80 nghìn tấn, trữ lượng công nghiệp 50 nghìn tấn, trong đó trữ lượng
ở các vùng quặng như sau:
Trang 12+ Sơn Dương (Tuyên Quang): 11 nghìn tấn thiếc;
+ Quỳ Hợp (Nghệ An): 23 nghìn tấn thiếc
Tổng TN – TL thiếc Việt Nam được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.1 Sản lượng khai thác thiếc qua các thời kỳ như sau (nghìn tấn SnO 2 )
Năm
Sản lượng tinh quặng
[Nguồn: Các loại hình khoáng sản và các phương pháp tìm kiếm và chuẩn đoán khoáng
sản thiếc]
Từ 1910 đến 1914 thực dân Pháp đã khai thác ở Pia Oac (Cao Bằng) được32.473 tấn Sn kèm theo 137 kg Au Từ năm 1950 đến năm 1956 khai thác thủ côngđược 440 tấn SnO2; 1957 – 1980 sản lượng khai thác ở vùng Pia Oac đạt 9.901 tấnSnO2 với hàm lượng trung bình 1305 g/m3 Ở Tam Đảo đạt 3.500 tấn SnO2 với hàmlượng 1348 g/m3 Trước năm 1988, sản lượng hàng năm chỉ đạt 600 tấn, năm caonhất 1000 tấn Ở Sơn Dương khai thác từ 1965 đến 1984 được 4 nghìn tấn, trungbình 210 tấn/năm Hàm lượng thiếc trung bình 2400 g/m3 [3]
1.1.3 Đặc điểm khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, thuộc vànhđai sinh khoáng Thái Bình Dương [21] Qua các kết quả điều tra, tìm kiếm, thăm dòcủa các đoàn địa chất đã phát hiện được nhiều mỏ và điểm quặng trên địa bàn tỉnhThái Nguyên Hiện có khoảng 34 loại hình khoáng sản phân bố tập trung ở các vùnglớn như:
- Đại Từ;
- Võ Nhai, Đồng Hỷ;
- Phú Lương, Định Hóa
Khoáng sản Thái Nguyên có thể chia thành 4 nhóm:
Nguyên liệu cháy: Bao gồm than mỡ, than đá được phân bố ở vùng Đại Từ,
Phú Lương
Trang 13Nhóm khoáng sản kim loại: Thái Nguyên là một tỉnh có nhiều kim loại bao
gồm cả kim loại đen như sắt, mangan, titan, nhôm, thiếc, volfram, đồng, niken,vàng Đây là một trong nhiều ưu thế của tỉnh Thái Nguyên Ưu thế này không chỉ
so với các tỉnh trong vùng mà còn có ý nghĩa đối với cả nước
Nhóm khoáng sản phi kim loại: Có pyrit, barit, photphorit, graphit Trong
đó đáng chú ý nhất là photphorit với hai mỏ nhỏ và một số điểm quặng ở núi Văn, Làng Mới, La Hiên Tổng trữ lượng đạt khoảng 60.000 tấn
Nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng: Thái Nguyên có nhiều khoáng sản vật
liệu xây dựng như đá xây dựng, đá vụn, cát, sỏi Trong đó, sét ximăng có trữlượng khoảng 84,6 triệu tấn nằm ở khu vực Cúc Đường, Khe Mo Đáng chú ý nhấttrong nhóm khoáng sản này là đá cacbonat bao gồm đá vôi xây dựng có trữ lượngxấp xỉ 100 tỷ mét khối trong đó ba mỏ Núi Voi, La Giang, La Hiên có trữ lượng
222 triệu tấn, trữ lượng còn lại nằm rải rác ở một số nơi [21]
Bảng 1.2 Tổng hợp mỏ và điểm quặng tỉnh Thái Nguyên
Trang 14[Nguồn: Địa chí Thái Nguyên]
Kiểu khoáng hóa thiếc, wolfram vùng Tam Đảo theo các tài liệu mô tả có thểliệt vào kiểu mỏ cassiterit – sulfur, thuộc thành hệ cassiterit – tourmalin – sulfur Tổhợp cộng sinh các khoáng vật trong mạch đƣợc chia thành 3 loại:
- Thạch anh – cassiterit – wolframit
- Thạch anh – cassiterit – sulfur
- Thạch anh – tourmalin – cassiterit – sulfur
Tại vùng Đá Liền phát hiện nhiều thể skarn trong khối granit, trong đó cácnguyên tố chủ yếu là wonfram, bismut và beril Trữ lƣợng quặng gốc vùng Tam Đảo
Trang 156
Trang 161.2.2 Đặc điểm địa hóa
Thiếc có tên Latinh là Stannum, ký hiệu Sn, là nguyên tố hóa học nhóm IV trong hệ thống tuần hoàn Mendeleev
Thiếc kim loaịcómàu trắng bacc̣ , kết tinh ởdangc̣ tưứ diêṇ Khối lươngc̣ nguyên tưử 118,69 Trọng lượng riêng 7,3 g/cm³ Nhiêṭđô c̣chảy 231,9ºC Nhiêṭđô c̣sôi 2270ºC.Thiếc thuôcc̣ kim loaịkhan hiếm [22]
Thiếc có 10 đồng vị đó là 112Sn (chiếm 0,96%); 114Sn(0,66%); 115Sn(0,5%);
116Sn(14,3%); 117Sn(7,6%); 118Sn(24,4%); 119Sn(8,59%); 120Sn(32,8%); 12Sn(4,72%) và 124Sn(5,94%)
Thiếc có hai dạng thù hình là αSn và βSn Ở nhiệt độ thường, thiếc tồn tại ởdạng βSn, đó là một loại thiếc trắng mà mọi người đều biết Ở nhiệt dộ dưới +13,2
ºC, αSn bền hơn, là một loại bột dạng tinh thể rất mịn có màu xám Thiếc trắng (βSn)biến thành thiếc xám (αSn) xảy ra rất nhanh ở nhiệt độ -33 ºC Quá trình biến hóa đómang một cái tên hình tượng là “bệnh dịch hạch thiếc” [2]
Thiếc có tính bền hóa học cao, trong đá magma axit cao hơn đá mafic Ở nhiệt
độ dưới 100 ºC thiếc không bị oxy hóa, ở bề mặt bị phủ một lớp mỏng SnO2 Thiếcđẩy hydro rất chậm từ dung dịch pha loãng H2SO4 và HCl, tan nhanh trong H2SO4nóng đậm đặc và kiềm đậm đặc, tan trong HNO3 ngay cả trong dung dịch nóng vànguội Trong các hợp chất, thiếc có hóa trị Sn4+ và Sn2+ [15]
Thiếc là nguyên tố lưỡng tính, vừa có tính ưa đá vừa có tính ưa đồng Kíchthước bán kính ion Sn4+ (0,074m) gần với kích thước bán kính ion Nb5+, Ta5+, và
Ti4+ nên thường tạo thành những hỗn hợp đồng hình trong các titanat và tatalo –niobat cũng như dưới dạng hỗn hợp đồng hình của thiếc trong quặng xám (đến1,5%) [3]
Tính ưa đá của thiếc thể hiện ở sự thường xuyên có mặt trong các khoáng vậttạo đá như biotit, muscovit, felspat, sphen, hiếm hơn còn gặp trong amphibol,pyroxen, granat [3]
Trong môi trường axit tính ưa đồng thể hiện ở sự tham gia của Sn4+ trong cácphức anion thành tạo stanat và sulfostanat Ngoài ra, thiếc còn có mặt trong các hợpphần của bor (gunsit, nordensendin…) và các khoáng vật skarn khác
Trang 17%Sn, franckeite ((Pb,Sn)6FeSn2Sb2S14) chứa từ 9,5 – 13,68 % Sn Tuy nhiên, chỉ cócassiterit và stannite là tạo thành tụ khoáng Cassiterit là khoáng vật bền vững trongđiều kiện phong hóa, do vậy có thể tạo nên những mỏ sa khoáng lớn, ngƣợc lại stannin rất dễ bị phá hủy, cho nên chỉ tồn tại trong quặng gốc [2].
Bảng 1.4 Bảng thống kê một số các khoáng vật chứa thiếc
Trang 191.2.4 Kinh tế nguyên liệu khoáng
Các mỏ rất lớn có trữ lƣợng >100 ngàn tấn, lớn 25 - 100 ngàn tấn, trung bình
5 - 25 ngàn tấn, nhỏ <5 ngàn tấn Quặng Sn giàu có ở các mỏ nguyên sinh chứa
>1% Sn, trung bình 1 - 0,4%, nghèo 0,1- 0,04% Các mỏ sa khoáng đƣợc khai tháckhi hàm lƣợng Sn 100 - 200g/m3 Trữ lƣợng Sn cơ sở của thế giới: 10 triệu tấn Sản
Trang 20Nước sản xuất chủ yếu (%): Trung Quốc (24), Brazin (10), Indonexia (14,3),Bolivia (8,6), Thái Lan (8), Malaysia (8).
Theo báo cáo của Macquarie, tiêu thụ thiếc năm 2010 đạt 345.500 tấn, tăng15% so với năm 2009, trong khi sản lượng chỉ tăng 2% lên 328.500 tấn
1.2.5 Công dụng
Do những đặc tính của thiếc như mềm, dễ dát mỏng, dễ chảy, dẫn nhiệt điệntốt, hợp kim với một số kim loại khác có khả năng chống ăn mòn cao, các muối củathiếc không độc, cho nên thiếc được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực côngnghiệp thực phẩm, chế tạo các que hàn, mạ các vật liệu bằng sắt, đồng nhằm chốngrỉ…
Từ năm 1820 do biết được cách chế tạo sắt tây nên Sn đã trở thành một trongnhững nguyên liệu quan trọng bậc nhất Khoảng 40% tổng lươngc̣ thiếc dùng vào mục đích này Các ôxit của thiếc dùng để sản xuất men, các hợp kim của thiếc thì dùng để chế tạo bi và ổ bi chống mòn [22]
Những hợp kim quan trọng của thiếc là: Hợp kim Sn + Cu rất có giá trị: trongngành chế tạo máy móc, hợp kim Sn + Zn có tính dẻo và ít bị oxy hoá (dùng để baogói), hợp kim Sn + Pb + Sb dùng trong ngành dán chì, đúc ổ trục, hợp kim Sn + Zndùng để sản xuất bình đựng urani, hợp kim Sn + Ti dùng trong ngành chế tạo máysiêu âm tàu vũ trụ
Hình 1.1 Biểu đồ tiêu thụ thiếc trên thế giới năm 2006 [Nguồn
www.itri- innovation.com]
Trang 211.3 KHAI THÁC, CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN VÀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
1.3.1 Các hình thức khai thác, chế biến khoáng sản
- Khai thác, chế biến khoáng sản quy mô công nghiệp
Khai thác, chế biến khoáng sản quy mô công nghiệp đang từng bước đượcnâng cao về năng lực công nghệ, thiết bị, quản lý Hoạt động sản xuất, kinh doanh
đã có sự gắn kết chặt chẽ giữa mục tiêu lợi nhuận, kinh tế với trách nhiệm bảo vệmôi trường, bảo vệ tài nguyên khoáng sản Do khả năng đầu tư còn hạn chế nên các
mỏ khai thác quy mô công nghiệp ở nước ta hiện chưa đồng đều về hiệu quả kinh
tế, về việc chấp hành các quy định của pháp luật về khoáng sản, và vấn đề bảo vệmôi trường
- Khai thác, chế biến khoáng sản quy mô nhỏ, tận thu
Hình thức khai thác này đang diễn ra phổ biến ở hầu hết các địa phươngtrong cả nước và tập trung chủ yếu vào các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng.Ngoài ra, nhiều tỉnh còn khai thác than, quặng sắt, antimon, thiếc, chì, kẽm, bôxit,quặng ilmenite dọc theo bờ biển để xuất khẩu Do vốn đầu tư ít, khai thác bằngphương pháp thủ công hoặc bán cơ giới là chính, nên trong quá trình khai thác, chếbiến đã làm ảnh hưởng đến môi trường, cảnh quan
- Khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản
Việc khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản, kéo theo các hậu quả nghiêmtrọng như tàn phá môi trường, làm thất thoát, lãng phí tài nguyên Việc khai tháctrái phép tài nguyên khoáng sản gây hậu quả lớn đến môi trường, chủ yếu là nạnkhai thác vàng, sử dụng cyanua, hoá chất độc hại để thu hồi vàng đã diễn ra ởQuảng Nam, Lâm Đồng, Đà Nẵng; khai thác chì, kẽm, thiếc, than ở các tỉnh miềnnúi phía Bắc; khai thác quặng ilmenite dọc bờ biển, đã phá hoại các rừng cây chắnsóng, chắn gió, chắn cát ven biển; khai thác cát, sỏi lòng sông gây xói lở bờ, đê, kè,ảnh hưởng các công trình giao thông, gây ô nhiễm nguồn nước; khai thác đá vậtliệu xây dựng phá hoại cảnh quan, môi trường, gây ô nhiễm không khí
Trang 221.3.2 Công nghệ khai thác và tuyển khoáng
Hầu hết ở các mỏ kim loại, về kỹ thuật chưa được chú ý, đa số áp dụng hệthống khai thác lộ thiên với công nghệ ôtô - máy xúc Đây là loại hình công nghệ cổđiển, giá thành cao Các thông số kỹ thuật của hệ thống khai thác và vận tải khôngđảm bảo
Từ khi có chủ trương khai thác mỏ nhỏ, khai thác tận thu, hàng loạt các côngtrường khai thác thủ công mọc lên như khai thác vàng, đá quý, thiếc, mangan, sắt…Phương pháp khai thác thủ công hầu như không có cơ sở khoa học về công nghệ.Một số xí nghiệp khai thác cơ giới cũng chuyển sang khai thác thủ công như mỏthiếc Tĩnh Túc, Sơn Dương, Bắc Lũng, Crômit Cổ Định, do cạn kiệt tài nguyênhoặc do quy mô khai thác giảm, chi phí của khai thác cơ giới quá cao Phương phápkhai thác thủ công và bán cơ giới đã tác động xấu đến môi trường sinh thái và gâylãng phí tài nguyên [5]
Về tuyển khoáng cũng được thay thế công nghệ tuyển cơ giới tập trung bằngnhững xưởng tuyển nhỏ thủ công hoặc bán cơ giới Hình thức này phổ biến ở hầuhết các ngành khai thác khoáng sản kim loại như thiếc, vàng, crômit, mangan…
Một số cơ sở áp dụng phương pháp tuyển nổi như đồng Sinh Quyền, tuyểnquặng sunphua kẽm chì làng Hích, apatít, graphít… với thiết bị tuyển đơn giản, hệ
số thu hồi thấp, giá thành cao và chưa thu hồi được khoáng sản có ích đi kèm
Công nghệ tuyển quặng thiếc sa khoáng ở nước ta hiện đang áp dụng một sốcông nghệ như sau [5]:
- Công nghệ tuyển bán cơ khí:
Đất quặng được đánh tơi bằng sức nước áp lực trên bun ke, loại đá +16mmbằng sàng tĩnh, sản phẩm dưới sàng tuyển trên máng cạn, tinh quặng máng cạn choqua sàng có a = 8mm, loại bỏ đá trên sàng còn cấp +8mm vào bàn đãi Tinh quặngthu được có hàm lượng 35%Sn, thực thu tuyển đạt 70%
- Công nghệ tuyển thủ công di động:
Trang 23Đất quặng được đánh tơi bằng sức nước áp lực trên bun ke, loại đá +16mmbằng sàng tĩnh, sản phẩm dưới sàng tuyển trên máng cạn Tinh quặng thu được cóhàm lượng khoảng 35%Sn, thực thu tuyển đạt 65%.
- Công nghệ tuyển thiếc sa khoáng của Thái Lan:
Đất quặng được đánh tơi và loại đá to ngay tại công trường bằng súng bắnnước Vữa quặng bơm lên đổ vào sàng quay để loại đá một lần nữa Sản phẩm dướisàng tuyển qua hai cấp máy lắng để thu được quặng có hàm lượng khoảng ~15%Sn.Tinh quặng 15% tiếp tục được tuyển trên thùng phân loại kiểu “Wlought” và máng thuhẹp để lấy tinh quặng có hàm lượng 35-45%Sn Thực thu tuyển đạt trên 70%
Nhìn chung, công nghệ luyện kim và chế biến sâu chưa phát triển, thiết bịlạc hậu, năng suất và hệ số thu hồi thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao Phần lớnsản phẩm chỉ đạt tiêu chuẩn xuất khẩu ở mức trung bình, trừ thiếc điện phân đạt loại
I thế giới (99,95%Sn)
Ngành khai thác và chế biến khoáng sản kim loại trong nhiều thập kỷ quachưa phát triển đúng với tiềm năng, đúng với vị trí, vai trò trong quá trình phát triểnKT-XH của đất nước
1.3.3 Tác động của hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản tới môi trường
đề cung cấp nước Phần lớn các mỏ và nhà máy tuyển quặng quy mô lớn đã thu hồinước thải, chứa vào các hồ để tuần hoàn tái sử dụng
Việc ô nhiễm nước tự nhiên là khá phổ biến ở hầu hết các khu vực khai thác
mỏ Những ô nhiễm này có thể chia thành các nhóm như sau:
Trang 24- Ô nhiễm nước do các chất rắn lơ lửng từ quá trình khai thác khoáng sản tạo
ra Những chất ô nhiễm này tuy không gây độc hại trực tiếp nhưng sẽ làm cho nướckhông phù hợp cho sinh hoạt và ảnh hưởng xấu tới các loại thủy sinh ở sông suối
- Ô nhiễm nước do kim loại hòa tan trong nước của các nhà máy tuyểnkhoáng Hiện tượng này phụ thuộc vào thành phần của loại quặng đem tuyển, cònmức độ hòa tan thì bị tác động bởi sự có mặt của các khoáng vật sunfua và các dungdịch axit liên đới Nước có nồng độ các kim loại khác nhau tương đối cao là kháphổ biến ở phần lớn các mỏ than, nhưng ít xảy ra đối với các mỏ kim loại Trênthực tế, ngoài các khai trường khai thác than, không có các trường hợp về "dòngaxit mỏ" thực sự trên diện rộng Nguyên nhân chính là trong nhiều loại quặng không
có các khoáng vật sunfua Hơn nữa, tần xuất xuất hiện của đá cacbonat (đá vôi vàđolomit) trong đá nền sẽ có tác dụng trung hòa có hiệu quả đối với bất kỳ một loạiaxit nào được hình thành Chỉ ở mỏ pyrit Giáp Lai và ở mỏ đồng Sin Quyền có cácdòng nước chứa axit giàu kim loại đang được hình thành [7]
- Ô nhiễm không khí và bụi liên quan đến các hoạt động khai thác mỏ chủyếu do vận chuyển trên các con đường đất bẩn Sự phát tán của khí thải, bụi gâyảnh hưởng xấu đến hệ thực vật, ảnh hưởng đến đời sống của người dân sống haibên tuyến đường
- Ô nhiễm đất liên quan tới các hoạt động khai thác mỏ là một vấn đề chỉgiới hạn trong phạm vi địa lý hẹp Nhưng nồng độ asen cao trong đất đá thải củamột số nhà máy tuyển sẽ là một lời cảnh báo Một vấn đề khác có quan hệ mật thiếthơn, đó là việc lan tỏa của thủy ngân vào môi trường ở các khu vực khai thác vàngthủ công Ở các khu vực này, phần lớn thủy ngân được thải vào trực tiếp vào nguồntiếp nhận
Trong các mỏ thiếc sa khoáng, biểu hiện chính của ô nhiễm hoá học là làmđục nước bởi bùn - sét lơ lửng, tăng hàm lượng các ion sắt và một số khoáng vậtnặng [9]
Việc khai thác và tuyển quặng vàng phải dùng đến thuốc tuyển chứa thủyngân Ngoài ra, các nguyên tố kim loại nặng như asen, antimoan, các loại quặng
Trang 25sunfua, có thể rửa lũa hoà tan vào nước Vì vậy, ô nhiễm hoá học do khai thác vàtuyển quặng vàng là nguy cơ đáng lo ngại đối với nguồn nước sinh hoạt và nướcphục vụ nông nghiệp Tại những khu vực này, nước thường bị nhiễm bẩn bởi bùnsét, một số kim loại nặng và hợp chất độc như Hg, As, Pb mà nguyên nhân chính
là do nước thải, chất thải rắn không được xử lý đổ bừa bãi ra khai trường và khuvực tuyển quặng
Việc khai thác vật liệu xây dựng, nguyên liệu cho sản xuất phân bón và hoá chấtnhư đá vôi cho nguyên liệu xi măng, đá xây dựng các loại, sét, cát sỏi, apatit đã gâynhững tác động xấu đến môi trường như làm ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước
1.3.3.2 Ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên khác
Công nghệ khai thác hiện nay chưa hợp lý, đặc biệt các mỏ kim loại và cáckhu mỏ đang khai thác hầu hết nằm ở vùng núi và trung du Vì vậy, việc khai tháckhoáng sản trước hết tác động đến rừng và đất rừng xung quanh vùng mỏ
Hoạt động khai thác khoáng sản là một trong những nguyên nhân làm giảm
độ che phủ do rừng cây bị chặt hạ, lớp phủ thực vật bị suy giảm Hoạt động khaithác khoáng sản cũng làm cho thực vật, động vật bị giảm số lượng hoặc tuyệt chủng
do các điều kiện sinh sống ở rừng cây, đồng cỏ và thủy vực xấu đi Một số loài thựcvật bị giảm số lượng, động vật phải di cư sang nơi khác
Bãi thải, thải các chất thải rắn như cát, đá, sỏi, bùn ra đất nông nghiệp, thảinước từ các hệ tuyển làm ô nhiễm đất nông nghiệp và giảm sút năng suất cây trồng
Do đặc thù của khai thác mỏ là một hoạt động công nghiệp không giống cáchoạt động công nghiệp khác về nhiều mặt, như phải di dời một khối lượng lớn đất
đá ra khỏi lòng đất tạo nên một khoảng trống rất lớn và rất sâu Một khối lượng lớnchất thải rắn được hình thành do những vật liệu có ích thường chỉ chiếm một phầnnhỏ của khối lượng quặng được khai thác, dẫn đến khối lượng đất đá thải vượtkhối lượng quặng nằm trong lòng đất
Chất thải rắn, không sử dụng được cho các mục đích khác, đã tạo nên trên bềmặt đất địa hình mấp mô, xen kẽ giữa các hố sâu và các đống đất, đá, đặc biệt ở
Trang 26quặng có thể bị bồi lấp do sạt lở, xói mòn của đất đá từ bãi thải, gây thoái hoá lớpđất mặt Việc đổ bỏ đất đá thải tạo tiền đề cho mưa lũ bồi lấp các sông suối, cácthung lũng và đồng ruộng phía chân bãi thải và các khu vực lân cận Khi có mưalớn thường gây ra các dòng bùn di chuyển xuống vùng thấp, vùng đất canh tác, gâytác hại tới hoa màu, ruộng vườn, nhà cửa, vào mùa mưa lũ thường gây ra lũ bùn
đá, gây thiệt hại tới môi trường kinh tế và môi trường xã hội
Quá trình đào xới, vận chuyển đất đá và quặng làm địa hình khu khai trường
bị hạ thấp, ngược lại, quá trình đổ chất thải rắn làm địa hình bãi thải tâng cao.Những thay đổi này sẽ dẫn đến những biến đổi về điều kiện thuỷ văn, các yếu tố củadòng chảy trong khu mỏ như: thay đổi khả năng thu, thoát nước, hướng và vận tốcdòng chảy mặt, chế độ thuỷ văn của các dòng chảy như mực nước, lưu lượng
Sự tích tụ chất thải rắn do tuyển rửa quặng trong các lòng hồ, kênh mương tướitiêu có thể làm thay đổi lưu lượng dòng chảy, biến đổi chất lượng nguồn nước
Các đống cuội, đá thải trong quá trình khai thác vàng, khai thác cát từ lòngsông đã ngăn cản, làm thay đổi dòng chảy, gây sự xói lở đất bờ sông, đê điều, gâyngập úng cục bộ
1.4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.4.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Đại Từ
1.4.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Đại Từ nằm ở vùng tây - tây bắc tỉnh Thái Nguyên, trong tọa độ địa lý
từ 21o31' đến 21o50' độ vĩ Bắc; 105o32' đến 105o42' kinh độ đông [19] Huyện cócác bên tiếp giáp như sau:
Phía Bắc giáp huyện Định Hóa
Phía Nam giáp huyện Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên
Phía Đông giáp huyện Phú Lương
Phía Tây giáp hai tỉnh Tuyên Quang và Vĩnh Phúc
Về đất đai thổ nhưỡng: Huyện Đại Từ có tổng diện tích tự nhiên 57.848 ha.Trong đó: đất nông nghiệp chiếm 28,3%, đất Lâm nghiệp chiếm 48,43%; Đất
Trang 27chuyên dùng 10,7%; Đất thổ cư 3,4% Tổng diện tích hiện đang sử dụng vào cácmục đích là 93,8%, còn lại 6,2% diện tích tự nhiên chưa sử dụng [16].
Hình 1.2 Vị trí huyện Đại Từ trong tỉnh Thái
Nguyên 1.4.1.2 Điều kiện khí tượng
Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đớigió mùa, nóng ẩm và có lượng mưa khá phong phú, mang tính chất chung của khíhậu miền Bắc Việt Nam Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, hướnggió chủ đạo Đông - Bắc, Bắc, mùa này thường khô hanh lạnh giá, nhiệt độ trung
Trang 28gió chủ đạo Nam và Đông – Nam, mùa này nóng ẩm mưa nhiều, nhiệt độ thay đổi
từ 170C đến 360C
* Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ không khí có ảnh hưởng đến sự lan truyền và chuyển hóa các chất ô nhiễm trong không khí; đồng thời nó có liên quan đến quá trình bay hơi của các chấthữu cơ Tại khu vực nghiên cứu nhiệt độ không khí trung bình hàng năm là:
Trạm khí tượng Thái Nguyên
* Lượng mưa
Mưa có tác dụng làm sạch môi trường không khí và pha loãng chất thải lỏng,
nó kéo theo các hạt bụi và hòa tan một số chất độc hại trong không khí rồi rơi xuốngđất, có khả năng gây ô nhiễm đất và ô nhiễm nước
Lượng mưa trên toàn khu vực được phân bổ theo 2 mùa: mùa mưa kéo dài từtháng 5 đến tháng 10, lượng mưa tăng dần từ đầu mùa tới giữa mùa đạt tới cực đại
Trang 2918
Trang 30Gió là yếu tố khí tượng cơ bản có ảnh hưởng đến sự lan truyền các chất ônhiễm trong khí quyển và làm xáo trộn các chất ô nhiễm trong nước Tốc độ giócàng cao thì chất ô nhiễm trong không khí càng lan tỏa xa nguồn ô nhiễm và nồng
độ chất ô nhiễm càng được pha loãng bởi không khí sạch Ngược lại khi tốc độ giócàng nhỏ hoặc không có gió thì chất ô nhiễm sẽ bao chùm xuống mặt đất tại châncác nguồn thải làm cho nồng độ chất gây ô nhiễm trong không khí xung quanhnguồn thải sẽ đạt giá trị lớn nhất
Tại khu vực nghiên cứu, trong năm có 2 mùa chính, mùa đông gió có hướngBắc và Đông Bắc, mùa hè gió có hướng Nam và Đông Nam
- Tốc độ gió trung bình trong năm: 1,1 m/s;
- Tốc độ gió lớn nhất: 29 m/s
1.4.1.3 Điều kiện thuỷ văn
Chế độ thuỷ văn khu vực nghiên cứu chịu sự chi phối của hệ thống suối sau:Khe nước Suối Bát thực chất là kênh thủy lợi nhỏ có kích thước khoảng 30 –
40 cm do người dân làm nông nghiệp tự đào, dẫn ra suối Cát Suối Cát có chiềurộng trung bình 5 - 7m, lòng suối có độ dốc vừa phải, mực nước vào mùa khô từ 30– 50cm, về mùa mưa lũ đạt tới 1 – 1,5m Tốc độ dòng chảy trung bình 8,5m/phút[9]
Suối Đá Liền là khe suối nhỏ có mực nước sâu trung bình khoảng 30 – 50 cm,khẩu độ ngắn, lưu lượng dòng chảy biến đổi theo mùa Vào mùa mưa (từ tháng 5đến tháng 10), nước chảy từ các sườn đồi, sườn núi xuống các khe suối với lưulượng khá lớn rồi cũng rút đi nhanh trong thời gian ngắn Vào mùa khô, suối cạn,mực nước suối thấp
Suối Cát và suối Đá Liền hợp lưu với suối Phục Linh tại điểm nằm trên xómSoi, xã Phục Linh, huyện Đại Từ rồi đổ ra sông Đu
Suối Đông Khuôn là phụ lưu của con sông Công Sông Công có độ dài là96km được bắt nguồn từ núi Ba Lá huyện Định Hoá chảy theo hướng Tây BắcĐông Nam Lưu vực Sông Công có diện tích là 951km2, độ dốc là 27,3%, tổnglượng nước sông trung bình năm khoảng 794.000m3, lưu lượng trung bình năm là
Trang 3125m3/s và modul dòng chảy năm vào khoảng 26l/s.km2 Sông Công nằm trên vùng
có mưa nhiều, nước dâng đột ngột và rút nhanh trong mùa mưa lũ và là nhánh cungcấp nước chủ yếu cho sông Cầu
Các con suối trên chủ yếu là nguồn cung cấp nước cho tưới tiêu phục vụ sảnxuất nông nghiệp của nhân dân trong vùng Trong những năm gần đây, tại khu vựcnghiên cứu chưa xảy ra các hiện tượng về lũ quét, lũ ống, trượt lở
1.4.1.4 Hiện trạng đa dạng sinh học
a Tài nguyên thực vật
Thực vật khu vực xã Hà Thượng đã bị tàn phá nghiêm trọng trong những thập
kỷ gần đây do đào mỏ thủ công, hoạt động sinh sống của con người, cháy rừng vàcác hoạt động khai thác mỏ trước đây Hầu hết các loài thực vật nguyên sinh đã bịtàn phá cùng với các hoạt động tàn phá của con người Việc phát quang đã đượctiến hành để mở rộng các mỏ khai thác cũng như cho việc khai thác than và các vậtliệu xây dựng Lớp phủ quan trọng của rừng lá rộng ẩm nhiệt đới và cận nhiệt đớigần như đã bị thay đổi hoàn toàn do sự tàn phá hay các loại thực vật trồng phụthuộc vào địa hình
Các quần thể thực vật hiện diện đã được phân nhóm như sau:
+ Rừng tái sinh thứ cấp trên các đỉnh đồi;
+ Rừng trồng trên các sườn đồi;
+ Cây nông nghiệp dưới chân đồi và thung lũng
Bảng 1.6 Ước lượng tổng sinh khối thực vật
Loại thảm
Rừng, cây công nghiệp
b Tài nguyên động vật
b1 Động vật trong vùng
Trang 32Ở miền bắc Việt Nam, trong khu vực sinh thái rừng cận nhiệt đới bắc ĐôngDương, phát hiện được hơn 183 loài thú trong đó 4 loài là đặc hữu Một số loàiđang bị đe doạ bao bồm khỉ mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) và hổ (Pantheratigris) Đông Dương [19].
b2 Động vật khu vực nghiên cứu
Sự phong phú và đa dạng của các động vật hoang dã đã bị xuống cấp nghiêmtrọng trong những thập kỷ qua đã được dân địa phương khẳng định Ban đầu là do
sự phá huỷ môi trường sống và săn bắn nên những loài thú lớn yêu cầu rừng
nguyên sinh như hổ, nai (Cervus unicolor), báo xám (Neofelis nebulosa), vượn (Hylobates sp), và khỉ (Semnopithecus sp) thực sự đã biến mất khỏi khu vực và chỉ còn những loài động vật nhỏ là có thể thích nghi tồn tại dưới những ảnh hưởng của
con người đến nay
Các loài chim vẫn còn đương đối đang dạng tuy nhiên cũng không còn phong phú như trước
loài được ghi nhận trong đó chiếm ưu thế là các loài thuộc họ Timaliidae tiếp theo
là Pycnonotidae, Colunbidae, Cuculidae, Sylvidae, Dicruridae, và Corvidae.
Một số loài được biết là có lịch sử sinh sống ở khu vực nhưng không phát
hiện được trong cuộc điều tra như gà tre (Bambusicola futchii), gà lôi sao (Lophura nycthemera), chim mỏ sừng Ấn (Anthracoceros malabaricus), và chim mỏ sừng Ấn lớn (Buceros bicomis).
Các loài bò sát và lưỡng cư:
Trang 33Khu vực mỏ Núi Pháo qua điều tra thấy rất nghèo về đa dạng và phong phúcủa các loài bò sát và lưỡng cư Trong tổng số 27 loài được phát hiện, các loài phổ
biến bao gồm: Hemydactylus frenatus, Xenochrophis piscator, Bufo melanostictus, Rana limnocharis, Rana guentheri, và Rhacophurs leucomystax.
b3 Các loài bị đe dọa
Để có căn cứ đánh giá, các tác giả đã tham khảo đầy đủ các danh mục các loài
bị đe doạ và có nguy cơ tuyệt chủng trong các văn bản pháp luật và công ước sau:+ Nghị định số 48/2002/NĐ-CP thay đổi danh mục các loài động thực vật quýhiếm theo Nghị định số 18/HĐBT của hội đồng bộ trưởng quy định về danh mụccác loài động thực vật quý hiếm và quy định về quản lý và bảo tồn các loài này;
+ Hiệp hội quốc tế về bảo tồn tự nhiên (IUCN): Danh mục đỏ về các loài bị đe
doạ;
+ Sách đỏ Việt Nam
Theo nghiên cứu, có 23 loài động vật được phát hiện có thể sinh sống trongkhu vực nghiên cứu trong đó gồm 3 loài thú, 11 loài chim và 9 loài bò sát Mặc dùhiểu biết về các loài này bao phủ với khu vực nghiên cứu, các điều kiện sinh sốngcủa chúng trong khu vực này gần như không phù hợp cho chúng Nguyễn XuânĐặng và công sự (2002) cho rằng khu vực Núi Pháo không đóng vai trò như khubảo tồn hay sinh thái cho những loài này
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội xã Hà Thượng [17]
a Điều kiện kinh tế
Kinh tế khu vực chủ yếu làm nghề nông nghiệp, ngoài ra còn kết hợp với một
số ngành nghề thủ công: lâm nghiệp, chăn nuôi
*/ Về kinh tế
Tổng diện tích đất toàn xã là 1.534,35 ha, trong đó đất nông nghiệp: 1083,27
ha, đất khác là 560 ha
Mức thu nhập bình quân của xã khoảng 800.000 đồng/người/tháng Với 70%
hộ sản xuất nông nghiệp, 30% hộ phi nông nghiệp
*/ Về cơ sở hạ tầng
Trang 34- Về giao thông: Hiện nay trên địa bàn toàn xã 70% là đường đã được bê tông; 20% là đường cấp phối còn lại là 10% đường đất.
-Về cấp điện: 100% số hộ trên địa bàn xã đều có điện lưới quốc gia
*/ Về văn hoá - xã hội
Các hoạt động văn hoá xã hội tại khu vực này tương đối phát triển Trên địabàn xã có 14 nhà văn hóa, đây là nơi tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng
và chính sách pháp luật của Nhà nước cũng như tổ chức các hoạt động văn hoá xãhội theo nếp sống mới Các tổ chức, đoàn thể như hội Phụ nữ, hội Người cao tuổi,hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên, hội Chữ thập đỏ, y tế, Mặt trận tổ quốc vẫnhoạt động thường xuyên
*/ Về y tế - giáo dục
- Về y tế: Hiện xã có 01 Trạm y tế với đội ngũ cán bộ gồm: 01 bác sỹ, 04 y sĩ
và 01 y tá Cùng với các trang thiết bị như: Nhà trạm, giường tủ, bình ôxy xách tay,
tủ sấy, ống nghe hai tai, các tủ thuốc… đã phần nào đáp ứng được nhu cầu khámchữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân
Hàng năm có khoảng 5554 lượt người tới Trạm y tế khám chữa bệnh Trong
đó số người mắc các bệnh: truyền nhiễm là 05, số người mắc bệnh khác là 12.Trong đó loại bệnh chính thường gặp là bệnh cúm, tiêu chảy, lao
- Về giáo dục: Sự nghiệp giáo dục đào tạo luôn chưa quan tâm và phát triển,một vài năm trở lại đây xã đã hoàn thành chương trình phổ cập tiểu học, 95% cáccháu trong độ tuổi được đến lớp, tỷ lệ học sinh thi tốt nghiệp và học sinh giỏi cáccấp đều tăng so với khoá học trước Trên địa bàn xã có 01 trường THCS, 01 trườngtiểu học và 01 trường mẫu giáo
Trang 35Chương 2- ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Xí nghiệp thiếc Đại Từ có tọa độ địa lý tại 21038'52'' vĩ độ Bắc - 105041'37''kinh độ Đông, nằm trên địa bàn xã Hà Thượng, huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên,cách trung tâm huyện Đại Từ 6 km về phía Đông, cách thành phố Thái Nguyên20km về phía Tây Bắc Toàn bộ khu vực chế biến khoáng sản của Xí nghiệp có diệntích khoảng 3,3 ha bao gồm mặt bằng sân công nghiệp 2,4ha và khu vực hồ chứabùn thải sau tuyển khoảng 0,9 ha
Khu vựcnghiên cứu
Hình 2.1 Vị trí khu vực nghiên cứu tiến hành công tác cải tạo, phục hồi
môi trường
Xí nghiệp thiếc Đại Từ là đơn vị thành viên trực thuộc Công ty TNHH MTVKim loại màu Thái Nguyên, được thành lập từ năm 1987, thực hiện hoạt động khaithác và tuyển quặng thiếc Xí nghiệp thực hiện khai thác quặng thiếc tại mỏ thiếc sakhoáng aluvi Phục Linh và đưa về phân xưởng tuyển tại xóm 6, xã Hà Thượng,huyện Đại Từ Sản phẩm sau tuyển được đưa về Công ty để tiến hành chế biến sâu
Trang 362.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng môi trường khu vực chếbiến quặng thiếc của Xí nghiệp thiếc Đại Từ bao gồm: khu vực bãi thải, phân xưởngtuyển thiếc, các công trình phụ trợ (nhà văn phòng, nhà ăn ca, nhà vệ sinh) nhằm xácđịnh mức độ ô nhiễm, quy mô ô nhiễm Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nhằm hoànphục môi trường vừa đạt hiệu quả xử lý, khắc phục ô nhiễm, vừa đảm bảo kinh tế, phùhợp hiện trạng hoạt động của Công ty Đề tài thực hiện các nội dung cụ thể sau:
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại xã Hà Thượng, huyện Đại
Từ Chính nhờ có sự phân loại này đã giúp tác giả định hướng, vạch ra được cáchành trình cần khảo sát bổ sung mang tính đại diện và đạt hiệu quả cao
Việc thu thập, kế thừa có chọn lọc một số tài liệu có liên quan tới vấn đềnghiên cứu, cụ thể là:
- Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Thái Nguyên
- Quy hoạch KT -XH đến 2020
- Niên giám thống kê huyện Đại Từ năm 2009, 2010
Ngoài ra còn thu thập các thông tin trên trang web của tỉnh Thái Nguyên, cáctạp chí liên quan tới vấn đề nghiên cứu và một số trang web khác
Trang 372.3.2 Khảo sát thực địa
Khảo sát trên toàn bộ khu vực nhà máy, nơi trực tiếp sản xuất, bãi thải theocác hành trình đã được chọn lựa, để từ đó có các giải pháp khắc phục tình trạngtrên, dần dần có thể canh tác trên diện tích đất đã bị ô nhiễm
- Trao đổi trực tiếp, lấy thông tin của công nhân và người dân khu vực xungquanh xí nghiệp Khảo sát và chụp ảnh hiện trạng môi trường trong và xung quanhkhu vực
- Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, sức khỏe cộng đồng của xã Hà Thượng tại UBND và Trạm y tế xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
2.3.3 Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm
2.3.3.1 Phương pháp lấy mẫu nước, mẫu đất
- Mẫu nước thải được lấy theo quy định của Tiêu chuẩn Việt Nam Cụ thể:+ Nước thải được lấy theo TCVN 5999:1995 và bảo quản TCVN 5993:1995; + Nước ngầm được lấy theo TCVN 6000:1995 và bảo quản theo TCVN
5293:1995
+ Mẫu đất được lấy và bảo quản theo TCVN 5297:1995
- Thời gian lấy mẫu vào các tháng 7, 11 năm 2008,
tháng 2 năm 2009 Bảng 2.1 Ký hiệu và đặc điểm của các
mẫu nghiên cứu
TT
I
Trang 3826
Trang 392.3.3.2 Phương pháp phân tích
a Phương pháp phân tích các mẫu nước
- Các kim loại nặng được phân tích theo phương pháp của Mỹ SMEWW 3111B: 2005 và SMEWW 3113:2005 [26]
b Phương pháp phân tích mẫu đất
+ Các kim loại tổng số được xử lý và phân tích theo TCVN
6496:1999
+ Các chỉ tiêu phân tích lý hóa học được phân tích bằng các phương phápthông thường, được dùng phổ biến hiện nay trong các phòng thí nghiệm phân tích
Trang 40Visual Foxpro trích xuất thống kê trên phần mềm Microsoft Excel.
27
Chú thích:
NN10 : Vị trí lấy mẫu nước thải
: Vị trí lấy mẫu nước ngầm
: Vị trí lấy mẫu đất Đường vào
xóm
Đườn
g lê
n bà
n tuyển
Dân cư
Bàn tuyển liên doanh
M D 3 NT-1’