Nhận thức được tác hại của túi nilon đối với môi trường và sức khoẻcộng đồng, nhiều quốc gia trên thế giới đã có những giải pháp mạnh để giảiquyết vấn đề này như: Ban hành lệnh cấm sản x
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-Lương Thị Bích Việt
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI HÀNH VI SỬ DỤNG TÚI NILON CỦA NGƯỜI DÂN NỘI THÀNH HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - Năm 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-Lương Thị Bích Việt
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI HÀNH VI SỬ DỤNG TÚI NILON CỦA NGƯỜI DÂN NỘI THÀNH HÀ NỘI
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60 85 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS Hoàng Ngọc Quang
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 4
1.1 Thực trạng và tác hại của việc sử dụng túi nylon 4
1.1.1 Thực trạng của việc sử dụng túi nylon 4
1.1.2 Tác hại của việc sử dụng túi nylon 7
1.2 Luật thuế bảo vệ môi trường và một số văn bản dưới luật 9
1.2.1 Mục tiêu, yêu cầu xây dựng Luật thuế bảo vệ môi trường 9
1.2.2 Bố cục của Luật thuế bảo vệ môi trường 9
1.2.3 Nội dung chính của Luật thuế bảo vệ môi trường 10
1.2.4 Một số văn bản dưới luật 14
1.2.4.1 Luật thuế bảo vệ môi trường 15
1.2.4.2 Nghị định 67/2011/NĐ-CP 16
1.2.4.3 Thông tư 152/2011/TT-BTC 16
1.2.4.4 Nghị định 69/2012/NĐ-CP 16
1.2.4.5 Thông tư 159/2012/TT-BTC 17
1.3 Tình hình thực hiện thuế bảo vệ môi trường áp dụng với túi nilon ở Việt Nam 23 1.4 Kinh nghiệm quốc tế về các khoản thu nhằm bảo vệ môi trường 29
CHƯƠNG 2 31
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31
2.1.1 Siêu thị BigC 31
2.1.2 Siêu thị Co.op Mart 32
2.1.3 Quận Cầu Giấy 32
2.2 Phương pháp nghiên cứu 33
CHƯƠNG 3: 37
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
Trang 43.1 Kết quả xử lý phiếu điều tra về hành vi sử dụng túi nilon của người dân nội
thành Hà Nội 37
3.1.1 Thành phần đối tượng khảo sát 37
3.1.2 Thói quen sử dụng túi nilon của người dân 39
3.1.3 Sự hiểu biết về vấn đề môi trường và tác hại của túi nilon của người dân 42 3.1.4 Mức sẵn lòng của người dân tham gia vào biện pháp, chính sách giảm thiểu việc sử dụng túi nylon 46
3.1.5 Ảnh hưởng của sự nhận thức và thu nhập (tài chính) đến sự sẵn lòng trả tiền cho việc sử dụng túi nylon của người dân 48
3.1.6 Hình thức của túi nylon và số tiền mà người dân chịu chi trả cho 1 túi nylon 50
3.1.7 Mức độ tán thành của người dân đối với việc áp dụng một chương trình chính sách pháp luật nào của nhà nước phát động nhằm giảm thiểu sử dụng túi nilon tại chợ/siêu thị 54
3.2 Tác động của Luật thuế bảo vệ môi trường đến việc hạn chế sử dụng túi nilon trong cộng đồng dân cư nội thành Hà Nội 55
3.2.1 Kết quả xử lý phiếu điều tra từ đối tượng doanh nghiệp siêu thị 55
3.2.2 Kết quả xử lý phiếu điều tra từ đối tượng người dân 58
3.2.3 Nhận xét 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
1 Kết luận 62
2 Kiến nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 66
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Biểu khung thuế bảo vệ môi trường 11
Bảng 3.1 Tổng quan về các đối tượng được khảo sát 37
Bảng 3.2 Kết quả khảo sát thói quen sử dụng túi nilon của người dân 39
Bảng 3.3 Kết quả khảo sát thói quen mang theo giỏ/túi xách khi đi chợ hoặc siêu thị của người dân 40
Bảng 3.4 Lý do không mang theo giỏ/túi xách khi đi chợ/siêu thị 41
Bảng 3.5 Thói quen sử dụng lại túi nilon 42
Bảng 3.6 Sự nhận thức về hiện trạng sử dụng túi nylon trong nội thành Hà Nội 43
Bảng 3.7 Sự nhận thức về tác hại của túi nilon 44
Bảng 3.8 Loại túi thích hợp thay thế cho túi nylon 45
Bảng 3.9 Phản ứng của người dân khi được yêu cầu trả tiền cho mỗi túi nylon 47 Bảng 3.10 Mối liên quan giữa thu nhập và mức sẵn lòng trả tiền của người dân 48
Bảng 3.11 Tác động của thu nhập đến mức sẵn lòng trả tiền của người dân 49 Bảng 3.12 Hình thức và mức giá của túi nylon 51
Bảng 3.13 Mức độ tán thành của người dân đối với áp dụng chính sách giảm thiểu việc sử dụng túi nylon 54
Bảng 3.14 Hình thức sử dụng túi nilon trước và sau khi có luật thuế bảo vệ môi trường của 2 siêu thị 55
Bảng 3.15 Lượng túi nilon sử dụng tại 2 siêu thị trung bình 1 tháng 56
Bảng 3.16 Số lượng túi nilon sử dụng trung bình trong 1 tháng tại 2 siêu thị 57 Bảng 3.17 Chi phí mua túi phát miễn phí cho khách hàng 57
Bảng 3.18 Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế sử dụng của 2 siêu thị 58
Bảng 3.19 Tỷ lệ người dân biết tới Luật thuế bảo vệ môi trường 58
Bảng 3.20 Mức độ sử dụng túi theo tỷ lệ người dân 59
Bảng 3.21 Liên hệ giữa những người hiểu biết luật thuế bảo vệ môi trường với việc sử dụng túi nilon trong đời sống hàng ngày của họ 59
Trang 6MỞ ĐẦU
Lý do lựa chọn đề tài
Túi nilon khi mới được phát minh, nhân loại coi đó là một phát kiến vĩđại vì nó là loại vật liệu không thấm nước, có tính dẻo, dai và được ứng dụnglớn trong đời sống của con người Sự tiện dụng của loại vật liệu này góp phầntiện ích cho con người nhưng vì nó vừa tiện lợi lại chi phí nhỏ nên con người
sử dụng và vứt bỏ tràn ngập nơi nơi
Tại Việt Nam, ngày nay túi nilon cũng được sử dụng rộng rãi khoảng
20 năm trở lại đây, thay thế hầu hết các loại lá gói truyền thống như lá sen, láchuối… bởi nó rất rẻ và tiện dụng trong nhu cầu sinh hoạt hằng ngày
Theo phân tích của các nhà khoa học Viện công nghệ hoá học ViệtNam, túi nilon được làm từ những chất khó phân huỷ, khi thải ra môi trườngphải mất hàng trăm năm đến hàng nghìn năm mới bị phân huỷ hoàn toàn Sựtồn tại của nó trong môi trường sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đất vànước bởi túi nilon lẫn vào đất sẽ ngăn cản ôxi đi qua đất, làm ngăn cản quátrình sinh hóa trong đất diễn ra chậm chạp, từ đó làm cho cây trồng chậm tăngtrưởng Túi nilon kẹt sâu trong cống rãnh, kênh rạch còn làm tắc nghẽn cống,rãnh, kênh, rạch gây ứ đọng nước thải và gây ngập úng; các điểm ứ đọngnước thải sẽ là nơi sản sinh ra nhiều vi khuẩn gây bệnh ảnh hưởng tới nguồnnước, đất gây mất mỹ quan
Không chỉ vậy, túi nilon gây tác hại ngay từ khâu sản xuất bởi vì việcsản xuất túi nilon phải sử dụng nguyên liệu đầu vào là dầu mỏ và khí đốt, cácchất phụ gia chủ yếu được sử dụng là chất hoá dẻo, kim loại nặng, phẩmmàu… là những chất cực kỳ nguy hiểm tới sức khoẻ và môi trường
Trang 7sống của con người, do đó trong quá trình sản xuất nó sẽ tạo ra khí CO 2 làmtăng hiệu ứng nhà kính, thúc đẩy biến đổi khí hậu toàn cầu.
Chính vì vậy, việc sử dụng túi nilon dường như là một bài toán khó giảibởi nếu chôn lấp túi nilon sẽ ảnh hưởng tới môi trường đất, nước; còn nếu đốtchúng sẽ tạo ra khí thải mang tính độc hại tới sức khỏe con người nghiêmtrọng như gây ung thư, giảm khả năng miễn dịch, rối loạn chức năng tiêu hoá
và các dị tật bẩm sinh ở trẻ nhỏ mặt khác xã hội hiện đại đã phát minh ranhững sản phẩm tiện dụng tiện lợi giúp ích cho loài người vậy mà ta lại đingược lại lịch sử “nói không với sản phẩm túi nilon” thì quả thật là cũngkhông phải là một phương án hợp lý tối ưu
Một yếu tố quan trọng nữa cần phải kể đến đó là tốc độ tăng trưởngGDP hàng năm của Việt Nam đạt trên 8,5%, nhưng nếu tính đến cả các tổnthất do môi trường thì tốc độ tăng GDP thực tế của Việt Nam sẽ chỉ là 3 - 4%.Trong số thiệt hại này, túi nhựa nylon “góp phần” không ít Đây là một thiệthại quá lớn cho nền kinh tế Việt Nam
Nhận thức được tác hại của túi nilon đối với môi trường và sức khoẻcộng đồng, nhiều quốc gia trên thế giới đã có những giải pháp mạnh để giảiquyết vấn đề này như: Ban hành lệnh cấm sản xuất túi nilon khó phân huỷ,đánh thuế nặng đối với sản xuất túi nilon đã được áp dụng tại Đài Loan, TrungQuốc, Vương quốc Anh và một số bang ở Hoa Kỳ, Thuỵ Sỹ, Nam Phi, ĐanMạch…; ngoài ra các nước này cũng yêu cầu người tiêu dùng phải trả tiềnmua túi nilon khi mua hàng để khuyến khích người dân tái sử dụng túi nilonhoặc sử dụng các loại túi thân thiện với môi trường Một số quốc gia ở châuPhi như: Uganda, Kenya, Tanzania… cũng có những động thái cấm nhậpkhẩu, sản xuất, tăng thuế đối với túi nhựa nhằm hạn chế tối đa những ảnhhưởng tiêu cực đối với môi trường
Trang 8Trước mối lo ngại sử dụng túi nilon tràn lan ảnh hưởng tới sức khỏecon người và học tập những chính sách của các nước có liên quan tới vấn đềnày, Việt Nam đã đưa luật thuế bảo vệ môi trường vào áp dụng cho các sảnphẩm có ảnh hưởng tới môi trường trong đó có sản phẩm túi nilon Luật mớiđưa ra áp dụng nhưng lại gây ra những vướng mắc, bối rối và những bất cậpkhi áp dụng luật thuế với sản phẩm túi nilon này Xuất phát từ thực tiễn đócùng với mục tiêu nghiên cứu tìm hướng giải quyết vấn đề, tôi đã tiến hành
thực hiện đề tài Luận văn “Đánh giá tác động của Luật thuế bảo vệ môi
trường đối với hành vi sử dụng túi nilon của người dân nội thành Hà Nội”.
Mục tiêu của đề tài bao gồm:
người dân nội thành Hà Nội;
hạn chế sử dụng túi nilon trong cộng đồng dân cư nội thành Hà Nội
Cấu trúc luận văn nhƣ sau:
Luận văn được chia thành ba phần, gồm: mở đầu, ba chương nội dung và kết luận - kiến nghị Ba chương nội dung gồm:
Chương I: Tổng quan
Chương II: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương III: Kết quả nghiên cứu và thảo
luận Kết luận và kiến nghị
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Thực trạng và tác hại của việc sử dụng túi nylon
1.1.1 Thực trạng của việc sử dụng túi nylon
Ngày nay, sản xuất và tiêu dùng đã trở nên phổ biến trong đời sốnghàng ngày của con người; các nhà cung cấp và sản xuất hàng hoá chú trọngđến việc làm thế nào để người tiêu dùng mua hàng được thuận tiện Và nó đãtrở nên tràn lan trong sự thiếu kiểm soát của chính phủ về tác hại của nhữngtúi nylon này Chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những túi nylon đủ màu sắc vàkích cỡ ở khắp mọi nơi Người ta có thể dùng túi nylon đựng tất cả những vậtdụng có thể như: quần áo, thức ăn, thức uống, đồ đạc… Cứ tính trung bìnhmỗi ngày một gia đình có một người đi chợ mua sắm thức ăn thì có ít nhất 3 -
4 túi nylon được mang về nhà
Người Việt Nam chúng ta đang tiêu dùng khoảng 30 – 40 kgnhựa/người/năm, với dân số 86 triệu dân thì số lượng túi nylon được tiêu thụmỗi năm ở nước ta là một con số khổng lồ Riêng Thành Phố Hồ Chí Minh cókhoảng 30 tấn nylon được sử dụng mỗi ngày trong các chợ, siêu thị, trung tâmthương mại ở TP.HCM và 34-60 tấn/ngày tương đương từ 5 – 9 triệu túinylon/ngày từ các hộ dân Và hầu như chúng đều được phát thải ra môitrường, trong đó khu vực phát sinh nhiều nhất là chợ chiếm 70%, kế đến làsiêu thị 25% và cuối cùng là trung tâm thương mại 3% Đây là những con sốrất đáng báo động
Kết quả khảo sát của Trung tâm Hỗ trợ Ứng phó Biến đổi Khí hậu (SCC) vàotháng 09/2008 trên 200 khách hàng tại Hà Nội cho thấy, bình quân mỗi giađình sử dụng (được siêu thị/cửa hàng/người bán hàng cấp miễn phí) 11.3 túinylon/ngày và đại bộ phận số túi này chỉ sau một lần sử dụng bị thải
Trang 10ra môi trường Điều này không những gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
mà còn lãng phí tiền của người dân và xã hội Theo tính toán nếu mỗi túinylon trị giá trung bình 200 đồng thì với khoảng 800.000 gia đình Hà Nội (cũ)
sẽ thải 9 triệu túi nylon/ngày, 270 triệu túi/tháng, 3240 triệu túi/năm tươngứng với số tiền bị lãng phí là 1,8 tỷ đồng/ngày, 54 tỷ đồng/tháng, 648 tỷđồng/năm Khảo sát việc sử dụng túi nylon cho thấy, 72% lượng túi nylonđược tiêu thụ ở 229 chợ, số còn lại tiêu thụ ở siêu thị và các trung tâm thươngmại trên địa bàn TPHCM có 93% người mua hàng cần dùng túi nylon Gầnđây, tình hình ô nhiễm môi trường nghiêm trọng từ rác thải là túi nylon vànhững cảnh báo về hiểm họa lâu dài cho môi trường đã khiến nhiều người bắtđầu chú ý đến việc làm sao giảm sử dụng túi nylon Ngày 26-8-2008, Quỹ Táichế chất thải TPHCM – Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM đã tổ chức hộithảo “Đề xuất các giải pháp giảm thiểu sử dụng túi nylon tại TPHCM hướngđến xã hội tiêu thụ bền vững” Quỹ Tái chế chất thải TPHCM đã đưa ra kếtquả khảo sát cho thấy người dân TPHCM đã quá phụ thuộc vào túi nylon khi93% người đi mua hàng hoàn toàn không đem theo túi vì cho rằng “được phátmiễn phí, tội gì không dùng” Ngoài ra, 1/4 số này cho rằng sẽ rất bất tiện nếuphải lỉnh kỉnh xách theo túi từ nhà mỗi khi đi mua sắm
“Giờ đây, túi nylon có mặt khắp mọi nơi vì nó chiếm được cảm tình củangười tiêu dùng Đó cũng chính là khó khăn lớn nhất cho việc đưa ra giảipháp giảm thiểu sử dụng túi nylon” - TS Nguyễn Văn Quán, Trưởng KhoaMôi trường – Bảo hộ lao động Trường Đại học Tôn Đức Thắng, nhận xét
Tình hình tiêu thụ túi nylon tại các siêu thị còn nhộn nhịp hơn Kháchhàng khi rời siêu thị bao giờ cũng “tay xách nách mang” đủ thứ túi nylon.Theo bà Nguyễn Ánh Hồng - giám đốc hệ thống Maximark, toàn hệ thốngsiêu thị này (gồm 3 siêu thị) tiêu thụ bình quân 10 tấn nylon/tháng Nếu tính
Trang 11trung bình 1kg nylon khoảng 100 túi (bao bì của siêu thị thường dày), mỗitháng hệ thống cho ra thị trường khoảng 1 triệu túi và một năm là 12 triệu túi.
Với bảy siêu thị, hệ thống Big C cũng tiêu tốn 20 tấn/tháng, tươngđương 3 triệu túi nylon (150 túi/kg) Bà Quỳnh Trang, phụ trách đối ngoại củaBig C, cho biết đó là siêu thị đã nỗ lực hạn chế sử dụng tràn lan túi nylon.Tình hình sử dụng túi nylon cũng tỉ lệ thuận với sức mua của khách hàng vàqui mô tại các hệ thống siêu thị Co.op Mart, Citimart, Fivimart
Người ta đã thống kê được rằng trên thế giới cứ một giây trôi qua thì cóhơn một triệu chiếc túi nylon được thải vào môi trường Hình ảnh ngườingười bước ra khỏi cửa hàng, siêu thị hay chợ… với những chiếc túi nylonlớn nhỏ chắc hẳn đã không còn xa lạ gì nữa Sử dụng túi nylon là một thóiquen và nhu cầu tất yếu và chúng thường được sử dụng một lần rồi thải ramôi trường Ngày càng có nhiều người sử dụng nó một cách vô tội vạ và vứtthải nó một cách cẩu thả
tiêu cực của loại túi này, nhưng dường như những lo lắng, bức xúc ấy chưa đủmạnh để có thể hạn chế và thậm chí không dùng nữa
Những số liệu trên cho thấy thực trạng về nhu cầu sử dụng túi nylon ởnước ta hiện nay là rất lớn Nó đã trở thành một thứ thói quen không thểthiếu, “ăn sâu” vào hoạt động mua bán của nhiều người Từ những mặt hàngbình dân nhất như quả cà, con cá, mớ rau, đến những vật dụng quần áo, giàydép đều được bọc gói bằng túi nylon Và thông thường sau một lần sử dụng,những chiếc túi chỉ đáng giá có vài xu ấy được người ta thuận tay vứt bữa bãikhắp mọi nơi, gây ô nhiễm môi trường và mất mỹ quan thành phố [10]
Trang 121.1.2 Tác hại của việc sử dụng túi nylon
Túi nylon là một loại bao bì tiện lợi và phổ biến nhưng song song với
ưu điểm này là những ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, xã hội, kinh
tế đất nước và cả con người
Xét từ góc độ cấu tạo khoa học, túi nylon được sản xuất từ nhựapolythylen (còn gọi là polyme tổng hợp) cấu thành nên PE Đây là một phần
tử lớn gồm một sợi xích dài các đơn vị nhỏ hơn nối kết với nhau về mặt hoáhọc Các polyme tạo thành nhựa PE để sản xuất ra các túi nylon hay bao bìnylon được lấy từ các sản phẩm hoá dầu Nhựa PE là hợp chất có độ thấmnước nhỏ, tính đàn hồi và độ bền hoá học cao Đặc điểm này dẫn tới đặc trưngrất khó phân huỷ của túi nylon Theo các nhà chuyên môn, tuỳ vào từng loạichất dẻo mà thời gian phân huỷ 1 chiếc túi nylon có thể dao động trongkhoảng từ 20 năm đến 5000 năm
Các loại rác thải này khi nằm trong lòng đất tạo thành những kẽ hở lenlỏi xuyên qua hệ thống lọc làm ô nhiễm mạch nước ngầm Thêm vào đó, khitúi nylon lẫn vào đất có thể làm chậm sự tăng trưởng của cây trồng, ngăn cảnôxy đi qua đất, gây xói mòn đất Túi nylon làm tắc nghẽn cống, rãnh, kênh,rạch, gây ngập úng, phá hủy đất nông nghiệp, gia tăng thể tích bãi rác tại cácbãi chôn lấp, gây cản trở việc phân hủy rác, tăng chi phí ngân sách trong việc
xử lý rác, làm tắc nghẽn các dòng chảy, làm chết nhiều loài thủy sinh, làm đấtngạt thở, là nơi phát tán và trú ngụ của côn trùng, dịch bệnh
Không những thế, túi nylon còn có thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe chongười sử dụng Khi xử lý loại rác thải này nếu đem đốt ở nhiệt độ bình thường
sẽ tạo ra khí thải có chất độc dioxin va Furan là những chất có khả năng gâyngộ độc, khó thở, nôn ra máu, gây ung thư, giảm khả năng miễn dịch, rối loạn
Trang 13Các loại túi nylon màu chứa thực phẩm có thể khiến thực phẩm nhiễmcác kim loại như chì, clohydric gây tác hại cho não và là nguyên nhân gây ungthư phổi Theo các nhà khoa học, trong một số loại túi nylon có lẫn lưu huỳnh,dầu hỏa nguyên chất, khi bị đốt cháy, gặp hơi nước sẽ tạo thành axit sunfuricdưới dạng các cơn mưa axit, rất có hại cho phổi Ngoài ra, nhiều người vẫn vô
tư dùng túi nylon để đựng cơm, canh và các thực phẩm nóng khác Theo cácnhà khoa học, khả năng đồ ăn đựng trong túi bị nhiễm độc là rất cao, đặc biệt
là nhiễm chất độc DOP (dioctin phatalat) “DOP là một chất hóa dẻo, có tácdụng giống như hormon nữ vì thế rất có hại cho nam giới và trẻ em khi cơquan sinh dục chưa hoàn chỉnh Nếu bị nhiễm chất này lâu dài, các bé trai cóthể bị nữ tính hóa, vô sinh nam, còn trẻ em nữ có nguy cơ dậy thì quá sớm.DOP tồn tại 5 – 10% trong các chất hóa dẻo được sử dụng”
Nguy hại hơn là hiểm họa từ các loại túi nylon tái chế Rất nhiều cácloại túi nylon được tái chế từ rác thải, công đoạn tái chế xử lý rất thủ công,trong quá trình sản xuất được trộn các loại hóa chất làm tăng độ dẻo và bềncủa sản phẩm đang bán rộng rãi trên thị trường tiềm ẩn nhiều hoá chất độchại Các loại túi nylon được sản xuất từ nhựa PP, PE, PS là những loại nhựakhông có tính độc Tuy nhiên, một số loại túi nylon được làm từ chất dẻopolyvinyl có các phân tử đơn lẻ polyvinyl có khả năng gây ung thư Còn lạiphần lớn các loại túi nylon được sản xuất từ những chất liệu nhựa rất độc hạivới sức khoẻ con người Trong đó, nhựa PVC là một loại nhựa có tính độc,không thể dùng sản xuất túi hay các loại khay, hộp đựng thực phẩm Như vậy,tình trạng người dân chưa có ý thức trong việc sử dụng loại rác thải này đã vàđang gây ra những nguy cơ, hiểm hoạ khó lường trước cho môi trường sống
và sức khoẻ của chính họ Nó đặc biệt nghiêm trọng khi hiện nay, một phầnlớn số rác nylon trong tổng số túi nylon thải ra hàng ngày ở nước ta chưa có
hệ thống công nghệ xử lý hiện đại, khép kín và triệt để [10]
Trang 141.2 Luật thuế bảo vệ môi trường và một số văn bản dưới luật
1.2.1 Mục tiêu, yêu cầu xây dựng Luật thuế bảo vệ môi trường
Việc ban hành Luật thuế bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo các mục tiêu, yêu cầu sau:
triển kinh tế đi liền giảm ô nhiễm môi trường, phù hợp với tình hình kinh tếhiện nay và những năm tới
thay đổi nhận thức, hành vi của tổ chức, cá nhân trong sản xuất và tiêu dùngnhằm giảm phát thải ô nhiễm tại nguồn
của Đảng và Nhà nước về tiếp tục cải cách, xây dựng hệ thống thuế đồng bộ,phù hợp với các qui định của Hiến pháp, tính thống nhất và đồng bộ với cácvăn bản pháp luật có liên quan khác; thực hiện cam kết của Chính phủ vớicộng đồng quốc tế
dễ thực hiện, dễ quản lý
quyết vấn đề môi trường, đồng thời phải đảm bảo tính cạnh tranh của nềnkinh tế, của các sản phẩm chủ yếu của Việt Nam [12]
1.2.2 Bố cục của Luật thuế bảo vệ môi trường
Luật thuế bảo vệ môi trường gồm 4 Chương, 14 Điều, cụ thể:
Chương 1: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 5) Chương này
xác định phạm vi điều chỉnh, đối tượng chịu thuế, đối tượng không thuộc diện
Trang 15Chương 2: Căn cứ tính thuế (từ Điều 6 đến Điều 8) Chương này quy
định các căn cứ tính thuế, xác định thuế, biểu khung thuế bảo vệ môi trường
Chương 3: Kê khai, tính, nộp và hoàn thuế bảo vệ môi trường (từ Điều
9 đến Điều 11).
Chương 4: Điều khoản thi hành (từ Điều 12 đến Điều 14) [5]
1.2.3 Nội dung chính của Luật thuế bảo vệ môi trường
Một số khái niệm chính
- Thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa (sau đây gọi chung là hàng hóa) khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường.
một đơn vị hàng hóa chịu thuế
sản xuất, nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 3của Luật này
được quy định như sau:
khẩu là người nộp thuế;
than
khai thác nhỏ, lẻ mà không xuất trình được chứng từ chứng minh hàng hóa đãđược nộp thuế bảo vệ môi trường thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân làm đầumối thu mua là người nộp thuế
Căn cứ và phương pháp tính thuế:
Trang 16- Căn cứ tính thuế bảo vệ môi trường là số lượng hàng hóa tính thuế và mức thuế tuyệt đối.
số lượng hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho;
hàng hóa nhập khẩu
- Mức thuế tuyệt đối để tính thuế được quy định tại Điều 8 của Luậtnày
chịu thuế nhân với mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vị hàng hóa
Mức thuế tuyệt đối được quy định theo Biểu khung thuế dưới đây:
Bảng 1.1 Biểu khung thuế bảo vệ môi trường
Trang 17Lương Thị Bích Việt 11 K18 - Quản lý môi trường
Trang 18Thuốc bảo quản lâm sản
dụng Thuốc khử trùng kho
dụng
Căn cứ vào Biểu khung thuế quy định tại khoản 1 Điều 8 Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định mức thuế cụ thể đối với từng loại hàng hóa chịu
thuế bảo đảm các nguyên tắc sau:
triển kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ;
tác động xấu đến môi trường của hàng hóa
Trang 202 Đối với hàng hóa sản xuất đưa vào tiêu dùng nội bộ, thời điểm tính thuế là thời điểm đưa hàng hóa vào sử dụng.
ký tờ khai hải quan
thuế là thời điểm đầu mối kinh doanh xăng, dầu bán ra
Khai thuế, tính thuế, nộp thuế
hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho được thực hiện theotháng và theo quy định của pháp luật về quản lý thuế
hóa nhập khẩu được thực hiện cùng thời điểm với khai thuế và nộp thuế nhậpkhẩu
hoặc nhập khẩu
Hoàn thuế
Người nộp thuế bảo vệ môi trường được hoàn thuế đã nộp trong các trường hợp sau:
sự giám sát của cơ quan Hải quan được tái xuất khẩu ra nước ngoài;
Việt Nam; xăng, dầu bán cho phương tiện vận tải của hãng nước ngoài trêntuyến đường qua cảng Việt Nam hoặc phương tiện vận tải của Việt Nam trêntuyến đường vận tải quốc tế theo quy định của pháp luật;
Trang 213 Hàng hóa tạm nhập khẩu để tái xuất khẩu theo phương thức kinh doanh hàng tạm nhập, tái xuất;
ngoài;
sản phẩm theo quy định của pháp luật khi tái xuất khẩu ra nước ngoài
Hiệu lực thi hành:
số
38/2001/PL-UBTVQH10 hết hiệu lực thi hành từ ngày Luật này có hiệu lực
Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành:
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoảnđược giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này
để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010.[5]
1.2.4 Một số văn bản dưới luật
Tính cho tới thời điểm này, những văn bản pháp luật quy định có liên
quan tới việc sử dụng “túi nilon” được ban hành theo thứ tự như sau:
dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường, được ban hànhngày 08 tháng 08 năm 2011 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01năm 2012;
Trang 223 Thông tư 152/2011/TT-BTC của Bộ tài chính về việc hướng dẫn thihành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 8 năm 2011 của Chính phủquy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Bảo vệ môitrường, được ban hành ngày 11 tháng 11 năm 2011 và có hiệu lực thi hành từngày 01 tháng 01 năm 2012;
3 Điều 2 Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 8 năm 2011 của Chínhphủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệmôi trường, được ban hành ngày 14 tháng 9 năm 2012 và có hiệu lực thi hành
kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2012
sung thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 hướng dẫn thi hành nghịđịnh số 67/2011/NĐ-CP ngày 08/08/2011 của Chính phủ quy định chi tiết vàhướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường, được banhành ngày 28 tháng 09 năm 2012 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng
11 năm 2012;
Sau đây tôi xin trình bày thứ tự và quy định chi tiết về đối tượng “túinilon” thuộc diện chịu thuế còn việc tính thuế, nộp thuế, khai thuế và hoànthuế trong các văn bản đã nêu rất chi tiết
1.2.4.1 Luật thuế bảo vệ môi trường
thuế là loại túi, bao bì được làm từ màng nhựa đơn polyetylen, tên kỹ thuật là
túi nhựa xốp”.[5]
Trang 231.2.4.2 Nghị định 67/2011/NĐ-CP
thuộc diện chịu thuế (túi nhựa) quy định tại Khoản 4 Điều 3 của Luật Thuế bảo vệ môi trường là loại túi, bao bì nhựa mỏng làm từ màng nhựa đơn
HDPE (high density polyethylene resin), LDPE (Low density polyethylen) hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin), trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hóa và túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường”.[6]
1.2.4.3 Thông tƣ 152/2011/TT-BTC
chịu thuế (túi nhựa xốp) là loại túi, bao bì nhựa mỏng làm từ màng nhựa đơn HDPE (high density polyethylene resin), LDPE (Low density polyethylen) hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin), trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hoá và túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường”.[8]
1.2.4.4 Nghị định 69/2012/NĐ-CP
Sửa đổi, bổ sung Khoản 3 Điều 2 Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày
08 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hànhmột số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường như sau:
“3 Đối với túi ni lông thuộc diện chịu thuế (túi nhựa) quy định tạiKhoản 4 Điều 3 của Luật thuế bảo vệ môi trường là loại túi, bao bì nhựamỏng có hình dạng túi (có miệng túi, có đáy túi, có thành túi và có thể đựngsản phẩm trong đó) được làm từ màng nhựa đơn HDPE (high density
Trang 24polyethylene resin), LDPE (Low density polyethylen) hoặc LLDPE (Linearlow density polyethylen resin), trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hóa và túi ni lôngđáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường theo quy định của Bộ Tài nguyên
và Môi trường
Bao bì đóng gói sẵn hàng hoá quy định tại Khoản này (kể cả có hìnhdạng túi và không có hình dạng túi), bao gồm:
để đóng gói sản phẩm do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó sản xuất, gia công
ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói;
xuất hoặc người nhập khẩu để đóng gói sản phẩm do tổ chức, hộ gia đình, cánhân đó sản xuất, gia công ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch
vụ đóng gói.”[7]
1.2.4.5 Thông tƣ 159/2012/TT-BTC
Là Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 152/2011/TT-BTC sau khi cóNghị định 69/2012/NĐ-CP Thông tư có nêu:
- Điều 1 Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 1 nhƣ sau:
“4 Túi ni lông thuộc diện chịu thuế (túi nhựa) là loại túi, bao bì nhựamỏng có hình dạng túi (có miệng túi, có đáy túi, có thành túi và có thể đựngsản phẩm trong đó) được làm từ màng nhựa đơn HDPE (high densitypolyethylene resin), LDPE (Low density polyethylen) hoặc LLDPE (Linearlow density polyethylen resin), trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hóa và túi ni lôngđáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường kể từ ngày được cơ quan có thẩm
Trang 25quyền cấp Giấy chứng nhận túi ni lông thân thiện với môi trường theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Bao bì đóng gói sẵn hàng hoá (kể cả có hình dạng túi và không có hình dạng túi) tại khoản này được quy định cụ thể như sau:
a1) Bao bì đóng gói sẵn hàng hoá nhập khẩu
a2) Bao bì mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự sản xuất hoặc nhập khẩu
để đóng gói sản phẩm do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó sản xuất, gia công
ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói
Ví dụ 1: Doanh nghiệp A tự sản xuất hoặc nhập khẩu 100 kg bao bì (túi
ni lông) để đóng gói sản phẩm giầy (sản phẩm giầy do doanh nghiệp A sảnxuất, gia công ra hoặc mua về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói) thì 100 kgbao bì nêu trên không thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường
Bao bì mà người sản xuất hoặc người nhập khẩu đã có cam kết hoặckhai báo tại khâu nhập khẩu để đóng gói sản phẩm, nhưng sau đó không sửdụng để đóng gói sản phẩm mà đã sử dụng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặngcho thì người sản xuất hoặc người nhập khẩu bao bì phải kê khai, nộp thuếbảo vệ môi trường và bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế
Ví dụ 2: Doanh nghiệp A tự sản xuất hoặc nhập khẩu 100 kg bao bì (túi
ni lông), doanh nghiệp A đã có cam kết hoặc khai báo tại khâu nhập khẩu đểđóng gói sản phẩm giầy (sản phẩm giầy do doanh nghiệp A sản xuất, gia công
ra hoặc mua về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói), nếu doanh nghiệp A chỉ
sử dụng 20 kg bao bì để đóng gói sản phẩm giầy và đã sử dụng 30kg bao bì
để trao đổi, 40kg bao bì để tiêu dùng nội bộ, 10kg bao bì để tặng cho thìdoanh nghiệp A phải kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường đối với 80 kg bao
Trang 26bì đã sử dụng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho và bị xử lý theo quy địnhcủa pháp luật về quản lý thuế.
a3) Bao bì mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mua trực tiếp của ngườisản xuất hoặc người nhập khẩu để đóng gói sản phẩm do tổ chức, hộ gia đình,
cá nhân đó sản xuất, gia công ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làmdịch vụ đóng gói
Ví dụ 3: Doanh nghiệp B mua trực tiếp của doanh nghiệp A (là ngườisản xuất hoặc người nhập khẩu bao bì) 200 kg bao bì để đóng gói sản phẩm
áo sơ mi (sản phẩm áo sơ mi do doanh nghiệp B sản xuất, gia công ra hoặcmua về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói) thì 200 kg bao bì nêu trên khôngthuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường
Bao bì mà người mua không sử dụng để đóng gói sản phẩm (đã có camkết về việc mua bao bì để đóng gói sản phẩm) mà đã sử dụng để trao đổi, tiêudùng nội bộ, tặng cho hoặc bán cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác thìngười mua bao bì phải kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường với cơ quan thuếquản lý trực tiếp và bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế
Ví dụ 4: Doanh nghiệp B mua trực tiếp của doanh nghiệp A (là ngườisản xuất hoặc người nhập khẩu bao bì) 200 kg bao bì sản xuất để đóng gói sảnphẩm (đã có cam kết về việc mua bao bì để đóng gói sản phẩm), sản phẩmgiầy do doanh nghiệp B, gia công ra hoặc mua về đóng gói hoặc làm dịch vụđóng gói thì nếu doanh nghiệp B chỉ sử dụng 50 kg bao bì để đóng gói sảnphẩm giầy và đã sử dụng 20kg bao bì để trao đổi, 30kg bao bì để tiêu dùngnội bộ, 40kg bao bì để tặng cho, 60kg bao bì bán cho doanh nghiệp C thìdoanh nghiệp B phải kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường với cơ quan thuếquản lý trực tiếp đối với 150 kg bao bì đã sử dụng để trao đổi, tiêu dùng nội
Trang 27bộ, tặng cho, bán cho Doanh nghiệp C và bị xử lý theo quy định của pháp luật
b) Bao bì sản xuất hoặc nhập khẩu được xác định là bao bì đóng gói sẵn hàng hoá quy định tại tiết a2 và a3 điểm a khoản này phải có các giấy tờ sau:
b1) Đối với bao bì do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự sản xuất (gọi tắt
là người sản xuất bao bì):
sản xuất hoặc gia công ra thì người sản xuất bao bì phải có Bản chính văn bảncam kết có chữ ký của đại diện theo pháp luật của người sản xuất bao bì vàđóng dấu (nếu người sản xuất bao bì là pháp nhân) về việc tự sản xuất bao bì
để đóng gói sản phẩm gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp khi sản xuất bao bì(trong văn bản cam kết nêu rõ số lượng bao bì sản xuất, số lượng sản phẩm dựkiến sản xuất hoặc gia công ra, số lượng sản phẩm cần đóng gói và số lượngbao bì sử dụng để đóng gói sản phẩm)
mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói thì ngoài Bản chínhvăn bản cam kết có chữ ký của đại diện theo pháp luật của người sản xuất bao
Trang 28bì và đóng dấu (nếu người sản xuất bao bì là pháp nhân) về việc tự sản xuấtbao bì để đóng gói sản phẩm gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp khi sản xuấtbao bì (trong văn bản cam kết nêu rõ số lượng bao bì sản xuất, số lượng sảnphẩm dự kiến mua về hoặc nhận đóng gói, số lượng sản phẩm cần đóng gói và
số lượng bao bì sử dụng để đóng gói sản phẩm); người sản xuất bao bì phải cóthêm: Bản chụp Hợp đồng mua bán sản phẩm (trường hợp mua sản phẩm về
để đóng gói) hoặc Bản chụp Hợp đồng đóng gói sản phẩm (trường hợp làmdịch vụ đóng gói) được ký trực tiếp giữa người sản xuất bao bì và tổ chức, hộgia đình, cá nhân bán sản phẩm hoặc có sản phẩm cần đóng gói
đình, cá nhân khác (gọi tắt là người mua bao bì) để đóng gói sản phẩm thìngười sản xuất bao bì phải có:
xuất bao bì và người mua bao bì
có chữ ký của đại diện theo pháp luật của người mua bao bì và đóng dấu (nếungười mua bao bì là pháp nhân) do người mua bao bì gửi cho người sản xuấtbao bì (trong văn bản cam kết nêu rõ số lượng sản phẩm dự kiến sản xuấthoặc gia công ra đối với trường hợp người mua bao bì để đóng gói sản phẩm
do mình sản xuất hoặc gia công ra; số lượng sản phẩm dự kiến mua về đểđóng gói đối với trường hợp người mua bao bì để đóng gói sản phẩm do mìnhmua về; số lượng sản phẩm dự kiến nhận đóng gói đối với trường hợp ngườimua bao bì làm dịch vụ đóng gói; số lượng sản phẩm cần đóng gói và sốlượng bao bì sử dụng để đóng gói sản phẩm)
Trang 29được quy định trên hoá đơn giá trị gia tăng (hoặc hoá đơn bán hàng dùng cho
cơ sở nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp), ngoài ra ghi thêmdòng bán theo Hợp đồng số ngày tháng không chịu thuế bảo vệ môitrường trên hoá đơn
b2) Đối với bao bì nhập khẩu thì người nhập khẩu bao bì phải cung cấpcho cơ quan hải quan khi nhập khẩu: Hồ sơ hải quan bao bì nhập khẩu theoquy định Người nhập khẩu tự khai báo, tự chịu trách nhiệm theo quy địnhcủa pháp luật về nội dung khai báo nhập khẩu bao bì để đóng gói sản phẩmhoặc để bán trực tiếp cho người mua bao bì để đóng gói sản phẩm
Khi bán trực tiếp bao bì nhập khẩu (đã khai báo để đóng gói sản phẩmkhi nhập khẩu) cho người mua bao bì để đóng gói sản phẩm thì người nhậpkhẩu bao bì phải có:
nhập khẩu bao bì và người mua bao bì
có chữ ký của đại diện theo pháp luật của người mua bao bì và đóng dấu (nếungười mua bao bì là pháp nhân) do người mua bao bì gửi cho người nhậpkhẩu bao bì (trong văn bản cam kết nêu rõ số lượng sản phẩm dự kiến sảnxuất hoặc gia công ra đối với trường hợp người mua bao bì để đóng gói sảnphẩm do mình sản xuất hoặc gia công ra; số lượng sản phẩm dự kiến mua về
để đóng gói đối với trường hợp người mua bao bì để đóng gói sản phẩm domình mua về; số lượng sản phẩm dự kiến nhận đóng gói đối với trường hợpngười mua bao bì làm dịch vụ đóng gói; số lượng sản phẩm cần đóng gói và
số lượng bao bì sử dụng để đóng gói sản phẩm)
theo Thông tư này Khi lập hoá đơn bán bao bì phải ghi đầy đủ các chỉ tiêu
Trang 30được quy định trên hoá đơn giá trị gia tăng (hoặc hoá đơn bán hàng dùng cho
cơ sở nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp), ngoài ra ghi thêmdòng bán theo Hợp đồng số ngày tháng không chịu thuế bảo vệ môitrường trên hoá đơn
Trường hợp bao bì nhập khẩu đã được thông quan theo quy định củapháp luật thì người nhập khẩu bao bì không được kê khai lại để được áp dụngđối tượng không chịu thuế bảo vệ môi trường.”
- Điều 3 Bổ sung thêm điểm 1.4 vào khoản 1 Điều 5 như sau:
“1.4 Đối với túi ni lông đa lớp được sản xuất hoặc gia công từ màngnhựa đơn HDPE, LDPE, LLDPE và các loại màng nhựa khác (PP, PA, ) hoặccác chất khác như nhôm, giấy… thì thuế bảo vệ môi trường được xác địnhtheo tỷ lệ % trọng lượng màng nhựa đơn HDPE, LDPE, LLDPE có trong túi
ni lông đa lớp Căn cứ định mức lượng màng nhựa đơn HDPE, LDPE,LLDPE sử dụng sản xuất hoặc gia công túi ni lông đa lớp, người sản xuấthoặc người nhập khẩu túi ni lông đa lớp tự kê khai, tự chịu trách nhiệm vềviệc kê khai của mình”.[9]
1.3 Tình hình thực hiện thuế bảo vệ môi trường áp dụng với túi nilon ở Việt Nam
Luật Thuế bảo vệ môi trường có hiệu lực từ ngày 1/1/2012 quy định,túi nilon là 1 trong 8 nhóm hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế với mức thu từ
30 – 50 nghìn đồng/kg Sau gần 3 tháng thực hiện, Luật đã bộc lộ nhiều bấtcập, gây lúng túng cho cả cơ quan thuế và người nộp thuế, đó là:
* Luật thuế bảo vệ môi trường đối với sản phẩm túi nilon vẫn còn quáchung chung, khiến cho nhiều doanh nghiệp và cán bộ thu thuế bối rối, lungtúng trong thu thuế bảo vệ môi trường đối với sản phẩm túi nilon Mặt khác,
Trang 31việc thực hiện thuế BVMT với túi nilon cũng ảnh hưởng tới quá trình sản xuấtcủa nhiều doanh nghiệp Cụ thể là:
Hầu hết các chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đều cho rằng, việc banhành và thực thi Luật Thuế bảo vệ môi trường (BVMT) là cần thiết, nhưngcác quy định trong Nghị định 67/2011/NĐ-CP ngày 8/8/2011 của Chính phủ
và Thông tư 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ Tài chính, đã gâynhiều khó khăn, ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của cácdoanh nghiệp (DN)
Ông Vũ Văn Thắng, Giám đốc Công ty Cổ phần đầu tư sản xuất, nhậpkhẩu Trường Giang (Thanh Trì, Hà Nội), cho biết, các quy định trong các vănbản dưới luật đối với các sản phẩm túi nilon quá chung chung, nên TrườngGiang không nắm rõ dòng sản phẩm nào của đơn vị phải chịu thuế, dòng nàokhông Trong khi mức áp thuế đối với tất cả các sản phẩm của DN phải chịuthuế suất 40.000 đồng/kg thành phẩm Ngày 20/2/2012, công ty đã gửi côngvăn đến Chi cục Thuế huyện Thanh Trì để hỏi lại cho rõ, nhưng đến nay vẫnchưa nhận được trả lời
Công ty Trường Giang chuyên sản xuất sản phẩm túi nilon và màngnhựa PE, PP, HDPE, BOPP cung cấp cho các DN ngành dệt may, da giày,thủy sản, bánh kẹo… Theo ông Thắng, thời điểm hiện tại, giá hạt nhựanguyên liệu chỉ giao động khoảng 38.000 - 40.000 đồng/kg, trong khi thuếmôi trường đối với sản phẩm thành phẩm là 40.000 đồng/kg, đã làm giá thànhsản phẩm tăng gấp đôi Khó khăn của năm 2011 cộng thêm mức thuế nhữngtháng đầu năm 2012, khiến Trường Giang đã phải cắt giảm hơn 50% số laođộng thường xuyên
Cùng cảnh, ông Nguyễn Duy Điền, Giám đốc Công ty Cổ phần sảnxuất và thương mại Thuận Phát (Văn Giang-Hưng Yên), cho hay, từ cuối năm
Trang 322011 đến nay, Thuận phát phải sản xuất cầm chừng và bán hàng tồn kho từnăm trước để đợi hướng dẫn của Sở Tài nguyên - Môi trường Hưng Yên vàChi cục Thuế huyện Văn Giang.
Ngày 20/12/2011, Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA) đã có công văn50/CV-HHNVN lên tiếng về việc bị áp thuế lên tất cả các bao bì nhựa khiếnnhiều DN khó khăn trong sản xuất, kinh doanh Theo VPA, nhiều khách hàng
sử dụng sản phẩm túi nilon đã lựa chọn sản phẩm khác, hoặc tìm nguồn khác
từ nhập khẩu và thậm chí cắt đơn hàng với DN sản xuất
Ba hiệp hội: Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP); Dệtmay Việt Nam (VITAS) và Da giày Việt Nam (LEFASO), đã khẩn cấp gửicông văn tới các cơ quan chức năng kiến nghị, xem xét lại việc áp dụng quyđịnh thu thuế BVMT đối với bao bì nilon
Theo tính toán của VITAS, LEFASO và VASEP, khoản chi phí cho bao
bì túi PE, PA trong giá thành sản phẩm của họ chiếm lần lượt 5%; 1.5 – 2% vàkhoảng 0.1 USD/kg sản phẩm thủy sản Từ khi Luật Thuế BVMT có hiệu lực
đã làm chi phí bao gói tăng từ 30% đến 50% Hiện các chi phí khác tiếp tục
xu hướng tăng giá, đã làm cho sản phẩm dệt may, da giày và thủy sản xuấtkhẩu của Việt Nam khó cạnh tranh
Các quy định trong Nghị định 67/2011/NĐ-CP và Thông tư152/2011/TT-BTC quá chung chung Việc định nghĩa túi nilon bao gồm hầuhết ngành bao bì nhựa Nhưng trong Luật Thuế BVMT lại giải thích rõ: “Túinilon thuộc diện chịu thuế là loại túi, bao bì được làm từ màng nhựa đơnpolyetylen, tên kỹ thuật là túi nhựa xốp”
VPA cho rằng, Luật Thuế BVMT hàm ý những túi dân gian gọi là túixốp (T-Shirt Shopping bags) mọi người xách hàng hóa về từ chợ, siêu thị
Trang 33dụng một lần Trong khi đó, hầu hết các loại túi thuần LLDPE/LDPE không
có quai xách (do bản chất mềm dẻo) và người ta không gọi túi LLDPE là túixốp Bản thân loại túi này có giá trị tái sinh cao hơn nhiều so với túi xốp
Nghị định 67/2011/NĐ-CP và Thông tư 152/2011/TT-BTC quy định,túi nilon thuộc diện chịu thuế (túi nhựa xốp) là loại túi, bao bì nhựa mỏng làm
từ màng nhựa đơn HDPE (high density polyethylene resin), LDPE (Lowdensity polyethylen) hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin), trừbao bì đóng gói sẵn hàng hóa và túi nilon đáp ứng tiêu chí thân thiện với môitrường theo quy định của pháp luật về BVMT và hướng dẫn của Bộ Tàinguyên và Môi trường
Theo VPA, Nghị định 67 và Thông tư 152 đã “đi quá xa so với tinhthần của Quốc hội và Luật Thuế BVMT khi “đưa thêm hai thành phần nhựaLLDPE/LDPE vào” VPA phân tích, 1kg túi LLDPE dùng xong, rửa qua vàtạo hạt có giá từ 23.000-26.000 đồng/kg, tương đương 85% giá nhựa LLDPEchính phẩm Trong khi túi LDPE sau công đoạn tương tự chỉ có giá từ 12.000-16.000 đồng/kg, chưa bằng 50% giá nhựa LDPE chính phẩm vì trong thànhphần nhựa này có màu và rất nhiều taical - phụ gia được trộn vào trong quátrình sản xuất túi nilon xốp PP, PE
Xuất phát từ những quy định thiếu rõ ràng này, nên “hầu hết các cán bộthực hiện thu thuế môi trường không biết rõ thế nào là túi nhựa PE, PP hayBOPP hoặc nhựa khác, túi màng đơn hay màng ghép phức hợp PE nhiều lớp,túi làm từ màng ghép 2 lớp PE/PA, màng ghép 3 lớp BOPP/PET/PE hoặc túilàm từ màng ghép 5 lớp BOPP/PET/nhôm/PET/PE… Như vậy dễ gây gianlận khi thực hiện thu thuế” VPA kiến nghị, cần “trả mọi thứ về với tinh thầncủa Quốc hội và tinh thần chung của cả thế giới Chỉ nên hạn chế túi xốpmỏng như quy định trong Luật Thuế BVMT”
Trang 34Liên quan đến nội dung này, ông Nguyễn Duy Điền Giám đốc Công ty
Cổ phần sản xuất và thương mại Thuận Phát (Văn Giang-Hưng Yên) phântích: “Nếu nói về khả năng tự phân hủy thì màng ghép hay phức hợp (từ 2 lớptrở lên) khó phân hủy và cũng khó tái chế hơn rất nhiều so với màng đơn Tuynhiên, Luật lại chỉ quy định đánh thuế đối với sản phẩm túi nhựa màng đơn làkhông thỏa đáng” Vì vậy, cần phải có quy định rõ ràng thế nào là túi nilon
“đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường”
* Luật thuế và các văn bản dưới luật cũng không nêu rõ việc áp dụng đối với những doanh nghiệp xuất nhập khẩu
Theo Điểm 2.4, Khoản 2, Điều 2 Thông tư 152 quy định về đối tượngkhông chịu thuế: Hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài do cơ sở sản xuất (baogồm cả gia công) trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác cho cơ sở kinh doanh xuấtkhẩu để xuất khẩu, trừ trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mua hàng hóathuộc đối tượng chịu thuế BVMT để xuất khẩu Theo ông Vũ Văn Thắng, quyđịnh như vậy, nếu các DN, cơ sở, cá nhân sản xuất túi nilon thuộc diện chịuthuế nhưng trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác xuất khẩu ra nước ngoài màkhông tiêu thụ trong nước thì không phải nộp thuế BVMT
Ngày 30/1/2012, Bộ Tài chính có công văn 1199/BTC-TCT hướng dẫnthực hiện Thông tư 152, khẳng định: Các trường hợp hàng hóa nhập khẩu đểgia công sau đó xuất khẩu ra nước ngoài thì thuộc đối tượng không phải nộpthuế BVMT Nhưng đối với nhiều ngành hàng xuất khẩu (thủy sản, dệt may,
da giày ) thì túi PE, PA là loại vật tư không thể thiếu Với quy định này, thìchỉ túi nilon nhập khẩu để bao gói hàng xuất khẩu mới được xếp vào đốitượng không chịu thuế BVMT, còn túi nilon mua trong nước để bao gói hàngxuất khẩu không tiêu thụ tại thị trường trong nước, không ảnh hưởng tới môi
Trang 35trường Việt Nam hoặc có thể xem như hàng hóa xuất khẩu vẫn phải chịu thuế
sẽ trở thành nghịch lý
Trước những vướng mắc khó thực thi Luật Thuế BVMT, các hiệp hội,ngành hàng và DN liên quan đã kiến nghị tạm ngừng áp dụng Luật ThuếBVMT đối với “túi nilon thuộc diện chịu thuế” từ thời điểm cuối tháng3/2012 cho đến khi có văn bản hướng dẫn điều chỉnh cụ thể
Các hiệp hội DN cũng đề nghị Bộ Tài Chính và Bộ Tài nguyên và Môitrường cần nghiên cứu, rà soát sớm ban hành các văn bản sửa đổi, bổ sung,hướng dẫn cụ thể những quy định để làm rõ về đối tượng túi nilon thuộc diệnchịu thuế, định nghĩa bao bì đóng gói sẵn hàng hóa, quy định tiêu chuẩn đốivới túi nilon chịu thuế, túi nilon đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường,giúp các DN có kế hoạch điều chỉnh hoạt động sản xuất, kinh doanh cho phùhợp với năng lực và đảm bảo được sự ổn định và cạnh tranh của DN
Từ tình hình trên ngày 18 tháng 3 năm 2013 Thứ trưởng Bộ Tài chính
Vũ Thị Mai đã ký ban hành Thông tư số 30/2013/TT-BTC hướng dẫn hoàn lạitiền thuế bảo vệ môi trường đối với túi ni lông làm bao bì đóng gói sẵn hànghóa theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 7-1-2013 của Chính phủ
Theo đó, phạm vi áp dụng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuấthoặc nhập khẩu được hoàn lại tiền thuế bảo vệ môi trường đã nộp và tiền phạtchậm nộp nếu có, không truy nộp thuế nếu đã kê khai nhưng chưa nộp và tiềnphạt chậm nộp nếu có từ ngày 1-1-2012 đến hết ngày 14-11-2012 đối với túi
ni lông làm bao bì đóng gói sẵn hàng hóa, bao gồm: người nhập khẩu bao bì
để đóng gói sản phẩm do người nhập khẩu đó sản xuất, gia công ra hoặc muasản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói; người sản xuất hoặc ngườinhập khẩu bao bì bán trực tiếp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác để đóng
Trang 36gói sản phẩm do người mua bao bì sản xuất, gia công ra hoặc mua sản phẩm
về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói
Hồ sơ hoàn lại tiền thuế bảo vệ môi trường bao gồm: giấy đề nghị hoàntrả khoản thu ngân sách nhà nước theo mẫu số 01/ĐNHT ban hành kèm theoThông tư số 28/2011/TT-BTC ngày 28-2-2011 của Bộ Tài chính; tờ khai bổsung hồ sơ khai thuế, tiền phạt chậm nộp theo mẫu số 01/KHBS ban hànhkèm theo thông tư này; chứng từ nộp thuế bảo vệ môi trường, tiền phạt chậmnộp… Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 2-5-2013
1.4 Kinh nghiệm quốc tế về các khoản thu nhằm bảo vệ môi trường
Kinh nghiệm thế giới cho thấy đóng góp chính của lĩnh vực tài nguyên
và môi trường cho ngân sách là thuế đất đai, các loại thuế, phí môi trường,thuế khai thác, sử dụng tài nguyên và một số hình thức thu khác
Thuế, phí liên quan đến môi trường được áp dụng trước tiên tại các nước Bắc Âu trong chiến lược “xanh hóa hệ thống thuế”, sau đó trở nên phổ biến trên toàn thế giới, đóng góp khá lớn vào nguồn thu ngân sách quốc gia Doanh thu từ nhóm thuế phí môi trường trung bình chiếm khoảng 5% tổng GDP (dao động từ 3% tới 13%) tại nhiều quốc gia Nếu chia theo đầu người thì một người dân phải đóng các loại thuế/phí môi trường dao động từ 100 USD tới 1700 USD tùy từng quốc gia (trung bình là 500 USD/1 người/1 năm) Xu hướng chung cho thấy, phần đóng góp của nhóm thuế, phí này trong tổng thu ngân sách cũng gia tăng trong những năm cuối thập kỷ 90 và đầu những năm 2000
Trong các nhóm thuế, phí môi trường thì nói chung, phần đóng góp từkhu vực giao thông chiếm phần lớn trong tổng doanh thu thuế mà chủ yếu là
từ thuế xăng, dầu diezen và phương tiện gắn máy (ô tô, xe máy khi mua mớiphải đóng thuế môi trường) Có hai xu hướng trong những năm gần đây là
Trang 37cho chất thải rắn cũng tăng do việc quản lý chất thải rắn ngày càng trở nênkhó khăn và tốn kém hơn.
Một số loại thuế, phí ô nhiễm môi trường phổ biến bao gồm: phí gây ô nhiễmkhông khí, thuế carbon, thuế lưu huỳnh, phí gây suy thoái tầng ôzôn, phí nướcthải, thuế bãi rác, thuế xăng dầu, thuế sử dụng khí gas, thuế môi trường khitiêu dùng điện, thuế môi trường khi sản xuất điện, thuế môi trường do dùngbếp và năng lượng sinh học, thuế đăng ký phương tiện ô tô, xe máy, máy bay.[12]
Trang 38CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đại diện đơn vị chịu thuế trực tiếp: siêu thị Big C, siêu thị Co.op Mart;+ Đại diện cộng đồng: quận Cầu Giấy
2.1.1 Siêu thị BigC
Hệ thống siêu thị Big C hoạt động kinh doanh theo mô hình “Trung tâmthương mại” hay “Đại siêu thị”, là hình thức kinh doanh bán lẻ hiện đại đangđược Tập đoàn Casino (Tập đoàn mẹ của siêu thị Big C) triển khai Casino làmột trong những tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới, với hơn 200.000 nhânviên làm việc tại hơn 11.000 chi nhánh, tại Việt Nam, Thái Lan, Argentina,Uruguay, Brazil, Columbia, Pháp, Madagascar và Mauritius Hiện tại, siêu thịBig C Việt Nam có tổng cộng 21 siêu thị Big C trên toàn quốc
Thương hiệu “Big C” thể hiện hai tiêu chí quan trọng nhất:
các siêu thị Big C và sự lựa chọn rông lớn về hàng hóa mà BigC cung cấp.Hiện tại, mỗi siêu thị BigC có khoảng hơn 40.000 mặt hàng để đáp ứng chonhu cầu của Khách hàng
Việt là “Khách hàng”, Chữ “C” đề cập đến những Khách hàng thân thiết củaBigC, họ là chìa khóa dẫn đến thành công trong chiến lược kinh doanh của
Trang 39Big C Thăng Long nằm tại số 222 Trần Duy Hưng, Trung Hòa, CầuGiấy, Hà Nội Với vị trí địa lý thuận lợi, với mô hình kinh doanh lớn và luônlàm hài lòng khách hàng, chính vì vậy Big C Thăng Long luôn thu hút đượchầu hết người dân sống trong khu vực thành phố Hà Nội đều về nơi đây đểmua sắm và thỏa mãn nhu cầu đời sống hàng ngày của người dân Chính vìvậy, việc lựa chọn siêu thị phục vụ mục đích phỏng vấn sẽ phản ánh được sựnhận thức, tài chính của người dân liên quan tới hành vi của con người trongquá trình sử dụng cũng như việc áp dụng các hình thức sử dụng túi nilonmang tính bảo vệ môi trường của siêu thị.
2.1.2 Siêu thị Co.op Mart
Với lòng tận tâm phục vụ và khát khao vươn lên, Co.opmart khẳng
định thương hiệu siêu thị dẫn đầu tại Việt Nam và phát triển ra khu vực,
nhằm đem lại lợi ích tốt nhất cho khách hàng và cộng đồng Co.op Mart HàNội nằm tại vị trí Km10 Nguyễn Trãi, Phường Mộ Lao, Quận Hà Đông,Thành phố Hà Nội cũng nằm tại khu vực giao lưu buôn bán và phát triển mới,nơi đây tập trung những người dân thu nhập trung bình và những người dânlàng vẫn còn sống trong khu vực mới phát triển này Chính vì thế, việc lựachọn siêu thị phục vụ mục đích phỏng vấn cũng phản ánh được sự nhận thức,tài chính của người dân liên quan tới hành vi của con người trong quá trình sửdụng và việc áp dụng các hình thức sử dụng túi nilon mang tính bảo vệ môitrường của siêu thị
2.1.3 Quận Cầu Giấy
Quận Cầu Giấy có:
Trang 40- Đơn vị hành chính (8 phường): Dịch Vọng, Dịch Vọng Hậu, Mai Dịch, Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Quan Hoa, Trung Hòa, Yên Hòa,
ngày
21/11/1996 của Chính Phủ Quận nằm ở phía tây của thủ đô Hà Nội, phía Bắcgiáp quận Tây Hồ, phía Đông giáp quận Đống Đa và quận Ba Đình, phía Namgiáp quận Thanh Xuân, phía Tây giáp quận Từ Liêm
mại và là nơi tập trung nhiều người dân có mức sống thu nhập cao và nhiềungười dân có trình độ tri thức ở mức độ trung bình tụ họp nơi đây để giao lưubuôn bán, làm thuê Chính vì thế, việc lựa chọn phỏng vấn người dân sống tạikhu vực quận phục vụ kết quả phiếu điều tra sẽ phản ánh được sự nhận thức,tài chính và sự hưởng ứng của người dân liên quan tới hành vi của con ngườitrong quá trình sử dụng
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu thứ cấp
Thông tin thứ cấp bao gồm các xuất bản phẩm, các kết quả điều tra, bản
đồ, niên giám thống kê, báo cáo tổng kết, các nghiên cứu về các vấn đề có liên quan tại khu vực nghiên cứu
Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp phỏng vấn: Thu thập thông tin qua phiếu phỏng vấn.
Người phỏng vấn đặt câu hỏi cho đối tượng cần được khảo sát sau đó ghi vàophiếu hoặc sẽ tái hiện nó vào phiếu khi kết thúc cuộc phỏng vấn Phỏng vấnđược tiến hành trên một phiếu điều tra được chuẩn bị trước Phỏng vấn đượcxác định như một phương pháp thu thập thông tin thông qua việc tác độngtâm lý - xã hội trực tiếp giữa người đi hỏi và người trả lời trên cơ sở mục tiêu