2.2.1 Hiện trạng sử dụng đất2.2.2 Biến động sử dụng đất phục vụ quá trình đô thị hóa 2.2.3 Tình hình chung về công tác bồi thường, GPMB trên địa bàn quận trong những năm qua2.3 Khái quát
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TrƯêng §¹i häc Khoa häc Tù nhiªn
****************************
Nguyễn Thị Thuận An
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TỚI SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TẠI DỰ ÁN XÂY DỰNG KHU ĐÔ THỊ MỚI QUẬN
HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CAO HỌC
Hà Nội - 2012
1
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ HÀ THÀNH
Hà Nội - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực
và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã đƣợc cám ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thuận An
3
Trang 4LỜI CÁM ƠNTrong quá trình thực hiện công trình luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, nhiều ý kiến đóng góp quý báu và sự tạo điều kiện thuận lợi của nhiều cá nhân và tập thể Để hoàn thành luận văn tôi đã tốn không ít thời gian vàtâm huyến của bản thân Qua quá trình thực hiện luận văn đã cho tôi nhiều kinh nghiệm quý báu nhiều bài học thực tiễn cần thiết cho quá trình công tác của cá nhân tôi sau này.
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Hà Thành,giảng viên khoa địa lý trường Khoa học tự nhiên đại học Quốc gia Hà Nội người đãtrực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi nghiên cứu thực hiện đề tài
Tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy PGS.TS Trần Văn Tuấn cùng cácthầy cô giáo trong khoa địa lý đã có những góp ý quý báu để tôi hoàn thành tốt luận văn của mình
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn đến các cán bộ Phòng Thống kê, phòng Kinh tế, phòng Tài nguyên và môi trường, Trung tâm phát triển quỹ đất quận Hải
An và lãnh đạo UBN phường Đằng Hải đã giúp đỡ tôi thu thập những số liệu cần thiết, cũng như góp ý cho tôi nhiều ý kiến quan trọng để làm định hướng cho đề tài Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến các đồng chí tổ trưởng tổ dân phố số 8, 9, 10 phường Đằng Hải đã bỏ thời gian công sức để cùng tôi đi điều tra phỏng vấn từng
hộ có đất thu hồi tại dự án
Tôi xin cám ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp những người luôn động viên giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thuận An
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ THU HỒI ĐẤT, GPMB VÀ TÁC ĐỘNG TỚI SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG CÔNG CUỘC ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM
1.1 Vài nét về quá trình đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay
1.1.2 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến phát triển kinh tế - xã hội
1.1.3 Thực trạng quá trình đô thị hóa ở Việt Nam trong những năm gần đây
1.2 Cơ sở pháp lý của công tác thu hồi đất, GPMB ở Việt Nam
1.2.1 Một số khái niệm có liên quan đến thu hồi đất, bồi thường khi thu hồi đất
1.2.2 Các chính sách thu hồi đất, GPMB từ trước khi có Luật Đất đai năm 20031.2.3 Các chính sách thu hồi đất, GPMB từ khi có Luật Đất đai năm 2003
1.2.4 Thực trạng công tác thu hồi đất, GPMB ở Việt Nam
1.3 Vấn đề sinh kế và những tác động của việc thu hồi đất tới sinh kế của người dân
1.3.2 Các nguồn lực để đảm bảo sinh kế
1.3.3 Thực trạng sinh kế của người nông dân sau khi bị thu hồi đất do công nghiệp
hóa và đô thị hóa ở Việt Nam
CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI, SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI VÀ
DỰ ÁN XÂY DỰNG KHU ĐÔ THỊ MỚI QUẬN HẢI AN
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội quận Hải An
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng đô thị hóa giai đoạn
2005-20102.2 Tình hình sử dụng và biến động đất đai của quận Hải An giai đoạn 2005-2010
5
Trang 62.2.1 Hiện trạng sử dụng đất
2.2.2 Biến động sử dụng đất phục vụ quá trình đô thị hóa
2.2.3 Tình hình chung về công tác bồi thường, GPMB trên địa bàn quận trong những
năm qua2.3 Khái quát về dự án xây dựng khu đô thị mới quận Hải An
2.3.1 Giới thiệu về dự án xây dựng khu đô thị mới
2.3.2 Diện tích thu hồi giải phóng mặt bằng
2.3.3 Các văn bản và căn cứ pháp luật nghiên cứu liên quan đến nghiên cứu việc thực
hiện dự án2.3.4 Công tác bồi thường, hỗ trợ, GPMB của dự án khi thu hồi đất
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP CHO DỰ ÁN XÂY DỰNG KHU ĐÔ THỊ MỚI QUẬN HẢI AN ĐẾN SINH KẾ NGƯỜI DÂN VÀ ĐỀ XUẤT GIAỈ PHÁP
3.1 Thực trạng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi, số tiền bồi thường và hỗ trợ cho
người dân bị thu hồi đất3.2 Tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp tới chuyển đổi nghề nghiệp của
người dân3.2.1 Tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp tới chuyển đổi nghề nghiệp của
người dân3.2.2 Tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp đến thu nhập của người dân
3.2.3 Biến đổi tài sản của các hộ dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp
3.2.4 Đánh giá nguồn lực đảm bảo sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất
3.2.5 Ý kiến của người dân về quá trình triển khai, GPMB dự án và giá bồi thường3.3 Một số giải pháp trong công tác bồi thường, GPMB khi thu hồi đất nông nghiệp
của người dân
3.3.2 Công tác chỉ đạo và thực hiện
3.3.3 Đối với việc hỗ trợ đào tạo nghề cho người bị thu hồi đất
KẾT LUẬN
Trang 7DANH MỤC BẢNG
1.1 Số dân đô thị từ năm 1975 đến năm 20101.2 Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ở một số địa phương trên cả nước1.3 Các nguồn vốn đảm bảo sinh kế
1.4 Tỷ lệ lao động nông nghiệp bị mất việc làm tại một số vùng2.1 Tình hình lao động có việc làm của quận Hải An theo ngành kinh tế2.2 Tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế quận Hải An qua các năm 2005,
2008, 20102.3 Hiện trạng sử dụng đất của quận Hải An giai đoạn 2005-20102.4 Các khoản bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất
3.1 Số hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp ở các mức quy mô diện tích khác
nhau3.2 Bình quân số tiền bồi thường, hỗ trợ việc làm của mỗi hộ dân3.3 Mức tiền bồi thường đất của các hộ dân
3.4 Đặc điểm người lao động ở các hộ bị thu hồi đất3.5 Tình hình lao động và việc làm của các hộ dân trước và sau khi thu hồi đất
tại dự án3.6 Tình hình thu nhập của các hộ sau khi thu hồi đất3.7 Bình quân thu nhập/tháng/lao động của các hộ có đất thu hồi3.8 Thu nhập bình quân theo đầu người/năm phân theo nguồn thu3.9 Phương thức sử dụng tiền bồi thường của các hộ dân sau khi bị thu hồi đất3.10 Tài sản sở hữu của các hộ trước và sau khi thu hồi đất
3.11 Nguồn lực đảm bảo sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đẩt
7
Trang 8DANH MỤC HÌNH
1.1 Biểu đồ so sánh quy mô dân cư đô thị của Việt Nam giai đoạn
1975-20102.1 Sơ đồ địa chính quận Hải An
2.2 Biểu đồ so sánh cơ cấu kinh tế quận Hải An quan các năm 2005,
2008, 20103.1 Biểu đồ so sánh số hộ dân bị thu hồi ở các mức quy mô diện tích
đất nông nghiệp khác nhau3.2 Biểu đồ thể hiện bình quan số tiền bồi thường, hỗ trợ cho mỗi hộ
dân theo các mục3.3 Biểu đồ thể hiện số hộ dân được bồi thường đất với các mức tiền
khác nhau3.4 Biểu đồ thể hiện cơ cấu lao động phân theo trình độ lao động3.5 Biểu đồ thể hiện cơ cấu lao động theo việc làm của các hộ dân
trước và sau khi thu hồi đất tại dự an3.6 Biểu đồ thể hiện số hộ điều tra đạt các mức thu nhập bình quân
lao động khác nhau3.7 Biểu đồ thể hiện số hộ sử dụng tiền đền bù vào các mực đích
khác nhau
Trang 10MỞ ĐẦU
Cùng với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH), đô thị hoá(ĐTH) là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Thực tiễn cho thấyĐTH là hệ quả trực tiếp của quá trình CNH-HĐH, chuyển nền kinh tế từ sản xuấtnông nghiệp truyền thống sang phương thức sản xuất công nghiệp, dịch vụ Trongquá trình ĐTH, tiến trình phát triển xã hội có sự thay đổi cơ bản, đó là phát triển ĐTkèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn, là sự hình thành các khu đô thị khu côngnghiệp (KCN) thay thế cho đất canh tác nông nghiệp Để tạo quỹ đất phục vụ quátrình đô thị hóa, việc thực hiện thu hồi đất, giải phóng mặt bằng cho xây dựng cácKCN, KĐT, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợiích quốc gia là việc làm tất yếu
Chính sách thu hồi đất theo Luật Đất đai năm 2003 có nhiều đổi mới về cơchế, giá bồi thường, chính sách tái định cư,…được cụ thể hóa ở một số văn bản quyphạm pháp luật được ban hành: Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 vềbồi thường hỗ trợ và tái định cư khu nhà nước thu hồi đất; nghị định 84/2007/NĐ-
CP ngày 25/5/2007 sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định số 197/2004/NĐ-CP;Quyết định số 51/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của Chính phủ về chính sách dạynghề ngắn hạn cho lao động nông thôn trong đó có đối tượng ưu tiên là lao động bịthu hồi đất nông nghiệp; Chỉ thị số 11/2006/CT-TTg ngày 27/3/2006 của Thủ tướngchính phủ về giải pháp hỗ trợ dạy nghề và việc làm cho lao động vùng chuyển đổimục đích sử dụng đất nông nghiệp và thực hiện các quy hoạch phát triển kinh tế - xãhội gắn với quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp; Thông tư số 116/2004/TT-BTCngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số197/2004/NĐ-Cp; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính Phủ vềquy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư; Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tàinguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình
tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất…
Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và đã được các địa phương nỗ lựcvận dụng để giải quyết vấn đề bồi thường, tái định cư, bảo đảm việc làm, thu nhập vàđời sống của người dân có đất bị thu hồi Song tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp,
Trang 11không chuyển đổi được nghề nghiệp, khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt nơi ở mới,đặc biệt đối với người nông dân bị thu hồi đất đã và đang diễn ra tại nhiều địaphương Nguyên nhân này một phần do nhiều nơi thực hiện đền bù, tái định cư, đàotạo, giải quyết việc làm cho người dân có đất bị thu hồi còn chưa hợp lý dẫn đếntình trạng khiếu kiện gây mất trật tự an ninh, xã hội Bên cạnh đó, bản thân ngườidân bị thu hồi đất còn thụ động trông chờ vào nhà nước, chưa tích cực tự đào tạo đểđáp ứng với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Sự thay đổi điều kiện sống của người dân có đất bị thu hồi là một vấn đề lớn,mang tính thời sự cấp bách và trở thành vấn đề mang tính xã hội trên cả nước Thiếuviệc làm và tỷ lệ thất nghiệp cao, cùng với sự di chuyển tự do của lao động nôngthôn lên thành phố tìm việc làm là bài toán khó đang đặt ra cho các nhà quy hoạch,quản lý kinh tế-xã hội
Không nằm ngoài những vấn đề chung đó, quận Hải An, Thành phố HảiPhòng cũng gặp những vấn đề khó khăn trong công tác giải quyết việc làm và ổnđịnh đời sống cho người dân sau khi bị thu hồi đất Quận Hải An là một quận mớiđược thành lập năm 2003, trên cơ sở tách một phần địa giới hành chính của huyệnHải An cũ (nay là huyện An Dương) và phường Cát Bi của quận Ngô Quyền, gồm 8đơn vị hành chính cấp phường; Đằng Lâm, Đằng Hải, Đông Hải 1, Đông Hải 2,Tràng Cát, Nam Hải, Thành Tô và Cát Bi
Do là một quận mới thành lập nên Hải An có quỹ đất nông nghiệp còn tương đốilớn, nhiều dự án xây dựng KĐT, KCN được tập trung triển khai trên địa bàn để phục vụcho nhu cầu phát triển thành phố Hải Phòng nói chung và quận Hải An nói riêng Dự ánxây dựng KĐT mới tại quận Hải An do Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và Phát triểnnhà làm chủ đầu tư là một dự án quan trọng của thành phố Hải Phòng năm 2007, là mộttrong những dự án trọng điểm nhằm phát triển cơ sở hạ tầng đô thị của quận Hải An.Theo qui hoạch chi tiết, dự án có diện tích 119.187,46m2 trên địa bàn 2 phường: ĐằngHải và Đông Hải 2 quận Hải An Trong tổng số 119.187,46m2 đất thu hồi có80.476,1m2 đất nông nghiệp được giao theo Nghị định 03/CP, diện tích đất nông nghiệp
tư nhân tự quản lý là 15.290,5m2, đất ở đã được cấp GCN là 4.242,4m2 Đây là mộttrong những dự án trọng điểm phát triển cơ sở hạ tầng của quận Hải An KĐT mới baogồm các khu đất xây dựng nhà biệt thự kiểu dáng hiện đại cùng với 4 toà nhà cao tầng
để phục vụ cho nhu cầu về nhà ở
11
Trang 12cho người dân có thu nhập thấp, hệ thống giao thông tĩnh là các bãi đỗ xe được bốtrí trên diện tích mương An Kim Hải nằm trong dự án sau khi đã được xây dựngcống hộp kiên cố đảm bảo an toàn và vệ sinh môi trường trong khu đô thị Như vậy,sau khi dự án được thực hiện và hoàn thành, các hạng mục sẽ tạo ra quỹ nhà ở đểphục vụ công tác an sinh xã hội cho những hộ gia đình có thu nhập thấp và tạo ramột KĐT hoàn chỉnh, đồng bộ với kiểu dáng hiện đại và khép kín với đầy đủ cácdịch vụ công cộng Việc thực hiện dự án sẽ là một trong những điểm nhấn về cảnhquan đô thị hiện đại trên địa bàn quận Hải An.
Tuy nhiên, do diện tích đất nông nghiệp thu hồi cho dự án tương đối lớn nênvấn đề giải quyết việc làm cho người dân sau khi mất đất đã và đang gây ảnh hưởngkhông nhỏ đối với sinh kế của người nông dân, và là một bài toán khó mà chínhquyền địa phương chưa có hướng giải quyết thỏa đáng
Nhằm kịp thời có những đánh giá đúng đắn về ảnh hưởng của dự án, và đưa
ra một số giải pháp hiệu quả cho công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng đối với
dự án này, tôi đã chọn thực hiện đề tài nghiên cứu:“Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận Hải An, thành phố Hải Phòng”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng cho dự án xâydựng khu đô thị mới tới việc làm và thu nhập của người dân bị thu hồi đất nôngnghiệp tại quận Hải An
- Đề xuất một số giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới nhằm góp phần cải thiện đời sống, việc làm cho người có đất bị thu hồi trên địa bàn nghiên cứu
1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan các chính sách, quy định pháp lý về bồi thường, hỗ trợ,tái định cư của Nhà nước ta từ khi có Luật đất đai 2003 đến nay
- Thu thập tài liệu, số liệu về công tác bồi thường, GPMB dự án xây dựng khu đô thị mới tại quận Hải An
- Đánh giá, phân tích thực trạng công tác thu hồi đất, GPMB, và những ảnh hưởng của nó đến người dân bị thu hồi đất
- Rút ra bài học kinh nghiệm, đề xuất một số giải pháp cho công tác thu hồi đất, GPMB ở thành phố Hải Phòng hiện nay
Trang 13- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, điều tra nhanh
Đề tài thực hiện điều tra thực tế đối với 106 hộ gia đình bị thu hồi đất nôngnghiệp để phục vụ cho dự án xây dựng đô thị quận Hải An bằng phương pháp sửdụng phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp người dân, từ đó tổng hợp nguồn dữ liệu
về trình độ của lao động, việc thay đổi nghề nghiệp, thu nhập, cũng như khả năngthích ứng với việc chuyển đổi sử dụng đất của người dân Đề tài còn thu thập thêmthông tin và ý kiến từ các cán bộ và chuyên gia trong Ban giải phóng mặt bằng để cónhững số liệu và thông tin chi tiết về chuyển đổi sử dụng đất, số tiền đền bù, hỗ trợ
cụ thể, cũng như quá trình thực hiện giải phóng mặt bằng cho dự án
- Phương pháp so sánh, phân tích
Được thực hiện trên cơ sở nguồn số liệu thu thập được từ phiếu điều tra,phỏng vấn, sử dụng các thuật toánvà sự hỗ trợ của phần mềm excel để thống kê, tínhtoán số lượng lao động phân theo độ tuổi, phân theo nghề nghiệp, và trình độ vănhóa trước và sau khi bị thu hồi đất; bình quân mức thu nhập của từng hộ, của các laođộng trong hộ đối với các loại hình sinh kế khác nhau; số tiền đền bù trung bình màtừng hộ gia đình được nhận; số tiền mà các hộ gia đình sử dụng tiền đền bù và hỗtrợ để chi cho các mục tiêu khác nhau,… Những số liệu thống kê, tính toán được sau
đó sử dụng để phân tích, minh chứng vấn đề, hoặc để so sánh giữa thời điểm trướckhi thực hiện thu hồi đất và sau khi thực hiện thu hồi đất cho dự án
13
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ THU HỒI ĐẤT, GPMB VÀ TÁC ĐỘNG TỚI SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG CÔNG CUỘC ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT
NAM 1.1 Vài nét về quá trình đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay
1.1.1 Định nghĩa đô thị hóa
Đô thị hóa là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Trong thờiđại khoa học – công nghệ phát triển nhanh thì đô thị hóa là con đường giúp cho cácnước chậm phát triển rút ngắn thời gian so với các nước đi trước
Brian Berry (1976) cho rằng “ Đô thị hóa được coi như sự tập trung có tínhchất không gian của con người và các hoạt động kinh tế Quá trình đô thị hóa nảysinh từ nhiều nguyên nhân khác nhau”[36] Quá trình đô thị hóa có thể khác nhau vềthời gian và tốc độ ở các quốc gia, các vùng miền khác nhau, nhưng ở đâu thì quátrình này cũng có thể xảy ra, nó thể hiện sự tăng trưởng và phát triển của loài người.Thậm chí, với nhiều học giả, đô thị hóa là quá trình diễn ra từ rất sớm: “Quá trìnhnày bắt đầu diễn ra ngay từ thời kỳ sơ khai, khi con người bắt đầu chuyển từ giaiđoạn săn bắt – hái lượm sang hoạt động trồng trọt, chăn nuôi” (Brian Robert, 2006)[38] Tác giả Brian Berry có cho rằng “sẽ chẳng thật là khôn ngoan cho lắm khi cốgắng tóm lược một cách chung nhất quá trình đô thị hóa bằng cách này hay cáchkhác” [36] Tuy nhiên, cũng đã có rất nhiều khái niệm về đô thị hóa được các nhànghiên cứu diễn giải ra trên quan điểm riêng của mình
Với Brian Berry, “Đô thị hóa có 2 mặt ý nghĩa, ý nghĩa thứ nhất liên quan đếnquá trình tập trung dân cư - khi dân số chuyển cư từ vùng thưa dân đến vùng đôngdân hơn; ý nghĩa thứ 2 liên quan đến văn hóa và lối sống của người dân – lối sốngthành thị, văn hóa hiện đại và dấu hiệu của sự văn minh, bắt nguồn từ các thành phốlớn rồi lan tỏa ra các đô thị nhỏ hơn hay thậm chí là vùng nông thôn” [37]
Theo Berd Hamm, khái niệm đô thị hóa được dùng theo ba nghĩa khác nhau: “1
Sự tăng trưởng vượt quá mức trung bình số những người dân ở đô thị so với toàn bộdân cư ở một nước hay một lục địa; 2 Sự tăng trưởng về dân cư và/ hoặc diện tích củatừng thành phố riêng; và 3 Sự mở rộng văn hóa và lối sống thành thị Đô
15
Trang 16thị hóa theo Bernd Hamm gắn liền với sự thay đổi văn hóa, lối sống, và phát triểnmật độ dân cư hơn là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong khi đô thị hóa và chuyểndịch cơ cấu kinh tế lại là “hai quá trình diễn ra song song, không tách biệtnhau”[20].
“Đô thị hóa là một quá trình diễn thế kinh tế - xã hội – văn hóa – không giangắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, trong đó diễn ra sự phát triển các nghềnghiệp mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hóa, sựchuyển đổi lối sống và sự mở rộng không gian thành hệ thống đô thị, song song vớiviệc tổ chức bộ máy hành chính và quân sự” Theo quan điểm trên của Đàm TrungPhường, thì quá trình ĐTH cũng bao gồm sự thay đổi toàn diện về các mặt: khoahọc công nghệ, lối sống, mở rộng không gian đô thị, cơ cấu lao động…Tuy nhiênĐàm Trung Phường đã không nói rõ sự chuyển đổi ấy diễn ra theo chiều hướngnhư thế nào một cách cụ thể, có thể gây ra những nhầm lẫn cho người đọc
Tác giả Trần Cao Sơn có đưa ra một định nghĩa đầy đủ hơn về đô thị hóanhư sau: "Đô thị hóa thực chất là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu xãhội, với các đặc trưng sau:
Một là, hình thành và mở rộng quy mô đô thị với hạ tầng kỹ thuật hiện đại,dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp là chủ yếu sang sản xuất côngnghiệp và dịch vụ
Hai là, tăng nhanh dân số đô thị trong tổng số dân cư, dẫn đến thay đổi cơcấu giai cấp, phân tầng xã hội
Ba là, chuyển từ lối sống phân tán (mật độ dân cư thưa) sang sống tập trung(mật độ dân cư rất cao)
Bốn là, chuyển từ lối sống nông thôn sang lối sống đô thị, từ văn hóa làng xãsang văn hóa đô thị, từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp"[24]
Trong các định nghĩa đã đề cập đến thì có thể nói định nghĩa trên đưa ra mộtcái nhìn tổng quát nhất và khá đầy đủ về các mặt của quá trình đô thị hóa ở ViệtNam, bao gồm phát triển dân số, mở rộng không gian đô thị, nâng cao lối sống vănminh, hiện đại "Đô thị hóa đã làm thay đổi mọi mặt đời sống của con người, từ lốisống, thu nhập, nghề nghiệp cấu trúc xã hội, đến mối quan hệ giữa con người vớicon người, giữa các hộ gia đình, các tổ chức, và các cơ quan chính quyền"[38]
Trang 171.1.2 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến phát triển kinh tế-xã hội
Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia trong những năm gần đây cho thấy,
đô thị hóa là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, chuyểnnền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống, tiểu nông sang phương thức sảnxuất mới, hiện đại, do đó cũng làm thay đổi nội dung kinh tế - xã hội nông thôn.Trong nền kinh tế hiện đại, CNH-HĐH và đô thị hóacó sự gắn bó chặt chẽ với nhau,tạo thành một tiến trình thống nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.[28]
Trong quá trình CNH-HĐH, tiến trình phát triển xã hội đã có sự thay đổi cơbản, đó là: Phát triển đô thị kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn, làm thay đổi cănbản xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp Hiện tượng đô thị hóa được xemnhư là một trong những nét đặc trưng nhất của sự biến đổi xã hội trong thời đại hiệnnay Cùng với quá trình đô thị hóa , CNH được xem như một khía cạnh quan trọngcủa sự vận động đi lên của xã hội Đô thị hóa là một quá trình lịch sử trong đó nổilên một vấn đề kinh tế - xã hội là nâng vao vai trò của trong sự phát triển mọi mặtcủa xã hội Quá trình này bao gồm sự thay đổi trong phân bố lực lượng sản xuất,trước hết là trong sự phân bố dân cư, trong kết cấu nghề nghiệp – xã hội, kết cấudân số, trong lối sống, văn hóa
Cụ thể hơn, quá trình đô thị hóa tạo điều kiện thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấukinh tế nhanh hơn; tạo tiền đề và trở thành thị trường lớn cho khu vực công nghiệp,đặc biệt là dịch vụ Nó kích thích cầu và mở đường cho cung ứng;
- Sự giao lưu kinh tế - văn hóa giữa các vùng, miền, ngành kinh tế được thể hiện nhờ quá trình đô thị hóa cũng là quá trình thị trường hóa;
- Đô thị hóacũng kích thích và tạo cơ hội để con người năng động, sáng tạohơn trong tìm kiếm và lựa chọn các phương thức, hình thức tổ chức sản xuất, kinhdoanh, vươn lên làm giàu chính đáng Kinh tế phát triển, đời sống của người laođộng được cải thiện – đó là xu hướng chủ đạo và là mặt tích cực của đô thị hóa;
- Về mặt văn hóa, làn sóng đô thị hóa cùng với sự phát triển hạ tầng văn hóa
xã hội, mở rộng mạng lưới thông tin đại chúng, tăng cường quan hệ làm ăn, buônbán giữa các vùng miền…đã làm cho diện mạo nông thôn và đời sống tinh thần của
cư dân nông thôn ngày càng phong phú, đa dạng hơn Ở nông thôn đã xuất hiệnnhững yếu tố văn hóa đô thị mới mẻ, hiện đại, sự truyền bá các sản phẩm văn hóa,các loại hình văn học, nghệ thuật có giá trị, sự du nhập lối sống, phong cách giao
17
Trang 18tiếp, ứng xử văn minh, tiến bộ…làm cho văn hóa làng quê có những sắc thái mới.Mức sống văn hóa, trình độ hưởng thụ và tham gia sáng tạo văn hóa của nông dâncác vùng đô thị hóa, nhìn trên tổng thể, được nâng lên.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đối với sản xuất và đời sống con người,
sự phát triển nhanh chóng của các đô thị cũng là nguyên nhân chính gây ảnh hưởngđến sự gia tăng nhu cầu khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên tự nhiên, trong đó cónguồn tài nguyên nước sạch; gia tăng mức độ ô nhiễm các chất thải công nghiệp vàsinh hoạt ngày càng một lớn; sự gia tăng dòng người di dân từ nông thôn ra đô thịcũng gây nên những áp lực đáng kể về nhà ở và vệ sinh môi trường Đặc biệt, tiếntrình ĐTH được đẩy mạnh đồng nghĩa với việc này sinh mâu thuẫn gay gắt giữa vấn
đề bảo vệ diện tích đất phục vụ cho công tác xây dựng đô thịvà vấn đề bảo vệ diệntích đất phục vụ sản xuất nông nghiệp Công nghiệp hóa, đô thị phát triển mạnhcũng đồng nghĩa với quá trình mất đất nông nghiệp gia tăng và một bộ phận ngườidân bị thu hồi đất bị rơi vào tình trạng dễ bị tổn thương
1.1.3 Thực trạng quá trình đô thị hóa ở Việt Nam trong những năm gần đây
Quá trình đô thị hóa nông thôn ở Việt Nam trong những năm gần đây diễn ravới tốc độ khá nhanh, làm biến đổi bộ mặt kinh tế, văn hóa, xã hội trên cả nước
ĐTH ở Việt Nam phát triển từ năm 1990, lúc đó cả nước có khoảng 520 đôthị (tỷ lệ đô thị hóa vào khoảng 17-18%); đến ngày 01/1/1999 (theo cuộc tổng điềutra dân số cả nước) đã có 624 đô thị với số dân 17,92 triệu người, chiếm 23,5% tổng
số dân Đến năm 2000 số đô thị là 649, và năm 2003 đã tăng lên 656 đô thị Kết quảtổng điều tra dân số lao động của Tổng cục thống kê ngày 01/4/2009 cho thấy, cảnước đã có trên 800 đô thị với dân số 25.374,262 người, chiếm 29,5% tổng số dân.Theo dự báo của Bộ Xây dựng, tỷ lệ đô thị hóa của Việt Nam vào năm 2020 sẽ đạtkhoảng 40%, tương đương với số dân cư sinh sống tại đô thị khoảng trên 45 triệudân.[2]
Hiện nay, cả nước có 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 44 thành phố trựcthuộc tỉnh, 45 thị xã và trên 500 thị trấn Bên cạnh những đô thị có bề dày lịch sửtiếp tục được mở mang, nâng cấp, còn xuất hiện ngày càng nhiều các khu đô thị mớitập trung, trong đó hệ thống các thị trấn, thị tứ ngày càng tỏa rộng, tác động mạnh
mẽ tới khu vực nông thôn
Trang 19Dưới đây là số liệu phản ánh tình hình đô thị hóa của nước ta trong giai đoạn vừa qua:
Bảng 1.1 Số dân đô thị của Việt Nam qua các từ năm 1975 đến năm 2010 Năm
Trang 2019
Trang 21Có thể thấy rằng, từ năm 1974 cho đến nay, tỷ lệ dân cư đô thị của Việt Namđang có xu hướng gia tăng đều đặn qua các thời kỳ, và tăng nhanh nhất từ năm 2000đến nay Nếu như từ năm 1975 đến năm 1985, quy mô dân số đô thị không nhữngtăng mà thậm chí còn giảm từ 21,5% xuống còn 19,2% Từ năm 1985 đến năm
2000, tỷ lệ này tăng nhẹ từ 19,2% lên 24,2% Nhưng chỉ trong vòng 10 năm từ năm
2000 đến 2010, quy mô dân số đô thị đã tăng mạnh từ 24,2% lên 30,5% Vào năm
2011, theo báo cáo của UN thì tỷ lệ dân số đô thị của Việt Nam mới chỉ đạt 31%.Mặc dù số lượng các khu vực đô thị tăng nhanh trong thời gian vừa qua, nhưngmức độ đô thị hóa của Việt Nam vẫn còn ở mức tương đối thấp so với nhiều đô thịkhác trong khu vực (Cho đến năm 2011, mức độ đô thị hóa của Philippines đã là48,8%, của Indonesia là 50,7%, của Malaysia là 72,8%, của Brunei là 76% và củaSingapore là 100% - UN, 2012)
Sự tăng trưởng mức độ đô thị hóa ở Việt Nam chủ yếu diễn ra ở các khu vực đôthị lớn, với 200.000 dân trở lên.Các điểm đô thị có mặt trên khắp lãnh thổ đất nước.Tuy nhiên quá trình ĐTH diễn ra không đồng đều Các vùng phía Bắc có tỷ lệ dân số
đô thịthấp hơn hẳn so với vùng phía Nam Mức độ ĐTH tăng lên ở Việt Nam trongthập niên đầu của thế kỷ 21 không hẳn là kết quả của quá trình công nghiệp hóa –hiện đại hóa thành công, mà còn do sự hình thành các trung tâm hành chính, sự mởrộng địa giới hành chính của các đô thị trong thời kỳ này
Chính vì thế,sự phát triển của các thành phố ở Việt Nam đang gặp khó khăn do sựquá tải về lao động, dân cư, còn thiếu thốn về hệ thống hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ
xã hội - nhà ở, điện, nước sạch, giao thông, bệnh viện và trường học chưa đượcxây dựng tương xứng để đáp ứng được nhu cầu của cư dân Bên cạnh đó, quá trình
đô thị hóa nhanh đã gây ra làn sóng di chuyển vào các đô thị để tìm việc làm của sốlao động nông thôn bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp, làm cho các đô thị,bản thân
đã chưa đủ đáp ứng nhu cầu việc làm, cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội, lại ngày càngtrở nên chật chội, đông đúc Bên cạnh đó số nông dân còn lại ở các vùng thôn quêkhông còn đất sản xuất, chuyển đổi nghề không được, đời sống của họ lâm vào cảnhkhó khăn, thất nghiệp
1.2 Cơ sở pháp lý của công tác thu hồi đất, GPMB ở Việt Nam
20
Trang 221.2.1 Một số khái niệm có liên quan đến thu hồi đất, bồi thường khi thu hồi đất
Theo luật đất đai sửa đổi năm 2003 các khái niệm có liên quan đến thu hồiđất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất được định nghĩa như sau:
Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử
dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý
Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra, trả lại tương xứng với giá trị
hoặc công lao Như vậy, bồi thường là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công laocho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì hành vi của chủ thể khác
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử
dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất
Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi
đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địađiểm mới
Giá quyền sử dụng đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà
nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất
Giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với
một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định
1.2.2 Các chính sách thu hồi đất, GPMB từ trước khi có Luật Đất đai năm 2003
Từ năm 1965, Việt Nam lại tập trung sức toàn dân vào cuộc kháng chiếnchống lại sự chiếm đóng của Mỹ ở phía Nam, để thống nhất đất nước Vào năm
1975, chiến tranh kết thúc và nước Việt Nam được thống nhất Năm 1980, Quốc hộiViệt nam đã thông qua Hiến pháp lần thứ ba (gọi là Hiến pháp 1980), trong đó Nhànước công nhận chỉ một hình thức sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước thốngnhất quản lý Như vậy, người đang sử dụng đất chỉ có quyền được sử dụng, ai cónhu cầu sử dụng đất thì Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, ai không có nhucầu sử dụng đất thì Nhà nước thu hồi.Luật Đất đai năm 1988 ra đời dựa trên quyđịnh đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Tại khoản 4Điều 48 quy định: “Đền bù thiệt hại thực tế cho người đang sử dụng đất bị thu hồi
để giao cho mình, bồi hoàn thành quản lao động và kết quả đầu tư đã làm tăng giátrị của đất đó theo quy định của pháp luật.”
Trang 23Hiến pháp năm 1992 ra đời là bước ngoặt quan trọng trong việc xây dựngchính sách pháp luật đất đai nói chung và chính sách bồi thường GPMB nói riêng
Tại Điều 23 quy định “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốchữu hóa Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi íchcủa quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cánhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường Thể thức trưng mua, trưng dụng do luậtđịnh”
Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội thông qua
và có hiệu lực từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 Với quy định “đất có giá” và người
sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ, đây là sự đổi mới có ý nghĩa rất quan trọng đốivới công tác bồi thường GPMB của Luật Đất đai năm 1993
Để cụ thể hóa các quy định của Luật Đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi bổsung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, nhiều văn bản quy định về chính sáchbồi thường GPMB đã được ban hành, bao gồm:
- Nghị định số 90/CP ngày 17 tháng 9 năm 1994 của Chính phủ quy định vềviệc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích anninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Xét về tính chất và nội dung,Nghị định 90/CP đã đáp ứng được một số yêu cầu nhất định, so với các văn bảntrước, Nghị định này là văn bản pháp lý mang tính toàn diện cao và cụ thể hóa việcthực hiện chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, việc đền bù bằng đấtcùng mục đích sử dụng, cùng hạng đất.v.v
- Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất;
- Thông tư Liên bộ số 94/TTLB ngày 14/11/1994 của Liên Bộ Tài Xây dựng-Tổng cục địa chính-Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị định87/CP;
chính-22
Trang 24- Thông tư 145/1998/TT-BTC ngày 04/11/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998 của Chính phủ.
- Theo Nghị định 22/1998/NĐ-CP giá đất do Nhà nước quy định để bồithường thiệt hại về đất khác xa so với giá thực tế Với giá trị được bồi thườngngười có đất bị thu hồi không có khả năng tự lập nơi ở mới cũng như không có khảnăng đầu tư để chuyển sang ngành nghề khác, để duy trì cuộc sống tối thiểu Nhưvậy, dưới tác động của cơ chế thị trường cùng với số lượng dự án gia tăng công tácbồi thường thiệt hại giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất ngày càng trởnên khó khăn, phức tạp, thực tiễn đồi hỏi phải có sự thay đổi về mặt chính sách, cơchế, năng lực thể chế trong công tác này
1.2.3 Các chính sách thu hồi đất, GPMB từ khi có Luật Đất đai năm 2003
Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực ngày 1 tháng
7 năm 2004 Luật đất đai năm 2003 đề ra một số điểm mới so với những chính sáchthu hồi đất, GPMB có từ trước như:
- Luật quy định về thu hồi đất, việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế;
- Bổ sung trường hợp thu hồi đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện
dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liền hoặc tiến độ sửdụng đất chậm hơn 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án;
- Quy định thêm về việc thu hồi đất đối với các trường hợp đất bị lấn chiếm;
- Đổi mới về nguyên tắc định giá đất phải đảm bảo sát với chuyển nhượngquyền sử dụng đất thực tế trên thị trường, khi có chênh lệch lớn so với giá chuyểnnhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường thì phải điều chỉnh cho phù hợp
- Về thẩm quyền xác định giá đất: Chính phủ quy định phương pháp xác địnhgiá đất cho từng vùng, theo từng thời gian; trường hợp phải điều chỉnh giá đất vàviệc xử lý chênh lệch giá đất liền kề giữa các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương.Giá đất do UBND thành phố trực thuộc Trung ương công bố vào ngày 01 tháng 1hàng năm để người sử dụng đất thực hiện các nghĩa vụ đất đai trong năm đó;
- Về vấn đề bồi thường, tái định cư cho người có đất thu hồi được quy địnhtại Điều 42: Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đấtmới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì bồi thường giá
Trang 25trị quyền sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì bồi thường bằng giá trị quyền
sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi
Ngoài ra, để hướng dẫn việc bồi thường GPMB theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, một số văn bản sau đã được ban hành:
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ
về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất;
- Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tàichính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm
2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
- Thông tư số 69/2006/TT-BTC ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Bộ Tài chínhsửa đổi, bổ sung Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của BộTài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Tuy nhiên để tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong công tác bồi thườngGPMB ngày 25 tháng 5 năm 2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định 84/2007/NĐ-
CP quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụngđất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giảiquyết khiếu nại về đất đai
Thông tư 06 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định
84/2007/NĐ-CP, Thông tư 1445/2007/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định số
188/204/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất; Thông tư liêntịch số 14/2008/TTLT/BTC-BTNMT ngày 31 tháng 01 năm 2008 hướng dẫn thựchiện một số điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 củaChính phủ quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền
sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
và giải quyết khiếu nại về đất đai; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8năm 2009 của Chính phủ về quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thuhồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày
01 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồithường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất…
- Về Nghị định 69/2009/NĐ-CP tập trung vào việc làm rõ, bãi bỏ một số điềuNghị định 181/2004/NĐ-CP và Nghị định số 84/2007/NĐ-CP… về một số những vấn
24
Trang 26đề cơ bản về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
1.2.4 Thực trạng công tác thu hồi đất, GPMB ở Việt Nam
* Thực trạng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại Việt Nam
- Về diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi để phát triển các khu công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng
Theo số liệu điều tra của BNNPTNT năm 2010 tại 16 tỉnh trọng điểm về thuhồi đất, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89% và diện tích đất thổ
cư chiếm 11% Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích đất bị thu hồi lớn nhất,chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước, tỷ lệ này ở Đông Nam Bộ
là 2,1%, ở nhiều vùng khác là dưới 0,5% Những địa phương có diện tích đất thuhồi lớn là Tiền Giang (20.308ha), Đồng Nai (19.752ha), Bình Dương (16.627ha),Quảng Nam (11.812ha), Cà Mau (13.242ha), Hà Nội (7.776ha), Hà Tĩnh (6.391ha),Vĩnh Phúc (5.573ha).[28]
Tính đến tháng 6/2009, nhiều tỉnh thành tiếp tục bị thu hồi một diện tích lớnđất nông nghiệp
Trang 27Bảng 1.2 Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ở một số địa phương trên cả nước
Trang 28Trước tình hình đất nông nghiệp bị thu hẹp đáng báo động, vào năm 2009,
Bộ NNPTNT đã “mạnh tay” đề nghị đưa ra một dự thảo nghị định về quản lý đất lúanước và phát triển lúa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Theo đó, điều khoản
về quy định đền bù trồng đất lúa với mục đích phi nông nghiệp nêu rõ: Đối với vùngđất trồng lúa thích hợp, có hạ tầng thuận lợi, tiền bồi thường khi thu hồi phải caogấp đôi giá đất thổ cư ở cùng thời điểm Còn ở vùng đất trồng lúa hạ tầng kém thìtiền thu hồi đất phải cao gấp 3-4 lần giá đền bù của đất nông nghiệp khác Đặc biệt,nhà đầu tư khi thu hồi đất lúa phải bồi thường toàn bộ số tiền đầu tư hạ tầng trênđất đó như các công trình về thủy lợi, điện lưới…
* Thực trạng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ở thành phố Hải Phòng
Từ năm 2003 đến nay, toàn thành phố đã kiểm kê, lập phương án bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư cho 625 dự án với tổng diện tích 4.675 ha; tổng số hộ 64.037
hộ, số nhân khẩu 253.012 nhân khẩu, tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là 3.738 tỷđồng, trong đó hỗ trợ ổn định cuộc sống và chuyển nghề lao động trị giá hàng trăm
tỷ đồng
Trang 29Trong đó số 625 dự án, có nhiều dự án trọng điểm quốc gia và thành phố cóquy mô lớn, sử dụng quỹ đất lớn đã bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư như: dự ánsân Golf Quốc tế và khu đô thị du lịch Đồ Sơn; Dự án Nhà máy nhiệt điện 1 HảiPhòng, các khu công nghiệp Tràng Duệ (Giai đoạn 1), Tân Liên (giai đoạn 1, ShinecVinaShin (giai đoạn 1); khu công nghiệp Đồ Sơn, khu công nghiệp Đình Vũ; CảngHải Phòng giai đoạn II…
Việc giải phóng mặt bằng để triển khai các dự án, công trình trọng điểm trêngóp phần quan trọng tạo ra tăng trưởng GDP của thành phố hàng năm trên 10%(2003; 10.71%, 2004: 11.52%, 2005: 12.25%, 2006: 12.51% và 2009: 12.82%) Thungân sách nội địa tăng nhanh từ 1.700 tỷ đồng năm 2003 lên 3.243 tỷ đồng năm
2009 Cơ cấu kinh tế tiếp tục dịch chuyển theo hướng công nghiệp – dịch vụ: Côngnghiệp và xây dựng: 37,5%; Dịch vụ: 51,5%; Nông lâm thuỷ sản: 11,0% nhómngành dịch vụ tăng trưởng nhanh nhất và chiếm trên 50% GDP, công nghiệp duy trìđược tốc độ tăng trưởng khá, tạo ra nhiều ngành có khả năng cạnh tranh trong quátrình hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút đâu tư, đặc biệt là việc thu hút FDI và ODA.Nhiều khu công nghiệp được đầu tư, xây dựng và từng bước lấp đầy.[34]
Bộ mặt đô thị có nhiều thay đổi, cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội được quan tâmđầu tư theo hướng đạt tiêu chuẩn đô thị loại I Bước đầu, việc phát triển đã tạo việclàm hàng năm cho trên 4 vạn lao động Tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố giảm còn6,12%.[34]
Nhìn chung công tác bồi thường,GPMB của thành phố Hải Phòng trong thờigian qua đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất cho các dự án đầu tư, gópphần tích cực thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, đẩynhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần tăng trưởng nền kinh tế -
xã hội của thành phố; tạo ra một diện mạo mới cho quá trình đô thị hóa của thànhphố với việc phát triển số lượng quận nội thành lên 08 quận, đặc biệt tạo ra một sốkhu đô thị mới có cảnh quan đẹp như Khu đô thị Ngã 5 – Sân bay Cát Bi và tươnglai gần là Khu đô thị Olympia và một số khu đô thị khác
Bên cạnh những mặt đạt được thì hạn chế và yếu kém lớn nhất trong công tácbồi thường, giải phóng mặt bằng trong thời gian qua là nhiều dự án chậm tiến độ bàngiao mặt bằng, nhất là các dự án có quy mô sử dụng đất lớn, các công trình trọng điểm.Đáng lưu ý một số dự án đã được bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư nhưng
28
Trang 30việc bồi thường, GPMB thiếu dứt điểm gây khó khăn cho việc triển khai dự án, đâycũng là nguyên nhân để một số nhà đầu tư lấy đó làm lý do để trốn tránh thực hiệnnghĩa vụ tài chính với Nhà nước.
Phần lớn số dự án khi thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ đều phát sinh đơnthư kiến nghị, khiếu kiện ở mức độ khác nhau về chính sách bồi thường, hỗ trợ dovậy cơ quan nhà nước phải mất rất nhiều thời gian và công sức giải quyết Một sốphương án cán bộ làm thiếu trách nhiệm phải bổ sung nhiều lần, việc giải quyếtkhiếu nại chưa thấu tình đạt lý, không kịp thời, còn có tư tưởng đùn đẩy nên kéodài không dứt điểm của tổ chức làm công tác bồi thường,GPMB và của chính quyềnđịa phương làm tăng thêm nghi ngờ, bức xúc cho người bị thu hồi đất có khiếu nại.Mặt khác, việc thiếu hiểu biết về chính sách pháp luật của một số hộ dân, do bị lôikéo, kích động của đối tượng xấu là nguyên nhân dẫn đến khiếu kiện đông người
1.3 Vấn đề sinh kế và những tác động của việc thu hồi đất tới sinh kế của
người dân
1.3.1 Khái niệm về sinh kế
Sinh kế của một hộ gia đình, hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhaihay phương kế kiếm sống của hộ gia đình hay cộng đồng đó
Khái niệm về sinh kế có thể miêu tả như là một tập hợp của các nguồn lực vàkhả năng của con người có thể kết hợp được với những quyết định và những hoạtđộng mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu vàước nguyện
Để nghiên cứu những vấn đề phát triển cộng đồng và sinh kế nông thôn, hiệnnay người ta sử dụng khái niệm Sinh kế và Khung phân tích sinh kế bền vững của
Bộ Hợp tác phát triển Quốc tế Anh (DIFD): “Sinh kế của một hộ gia đình, hay một
cộng đồng còn gọi là kế sinh nhai hay phương cách kiếm sống của hộ gia đình hay cộng đồng đó Khái niệm về sinh kế có thể miêu tả như là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người có thể kết hợp được với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu và ước nguyện (tham vọng) của họ” [2]
Trang 31Xuất phát từ những khái niệm trên ta có thể thấy sinh kế là dùng để chỉ kếsinh nhai hay phương cách kiếm sống của một hộ dân hay một cộng đồng, mà ở đâyđối tượng sẽ là cộng đồng nông dân bị thu hồi đất do phát triển công nghiệp và đôthị ở các vùng nông thôn.
Một kế sinh nhai được gọi là bền vững khi con người với khả năng của mình
có thể đối phó, phục hồi lại được sinh kế của mình sau các áp lực và những tổnthương (từ các cú sốc, từ các khuynh hướng và từ thay đổi của kỳ vụ) và đồng thời
có thể duy trì hoặc thậm chí nâng cao khả năng nguồn lực con người và thiên nhiên
1.3.2 Các nguồn lực để đảm bảo sinh kế
DFID cũng đưa ra một khung lý thuyết sinh kế bền vững trong đó chỉ ra rằngcon người muốn đảm bảo sinh kế cho mình thì phải dựa vào 5 loại hình tài sản vốnsau:
-Vốn con người (Human capital)
-Vốn tài chính (financial capital)
- Vốn vật chất (physical capital)
- Vốn xã hội (social capital)
-Vốn tự nhiên (natural capital)
Sinh kế muốn bền vững thì sẽ phải đảm bảo 5 nguồn lực được cụ thể hóa như sau:
Bảng 1.3 Các nguồn vốn đảm bảo sinh kế
(Nguồn: UNDP, UNISDR, IRP, 2010)
1.3.3 Thực trạng sinh kế của người nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam
Nông dân nước ta chiếm 69,5% tổng dân số cả nước Lao động nông nghiệpchiếm 55,7% tổng lao động xã hội và đóng góp tới gần 21% GDP của cả nước
30
Trang 32Chính vì thế, người nông dân có vị trí quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế đấtnước và sinh kế nông thôn, là bộ phận chính cấu thành của nền kinh tế cả nước.Nếu vấn đề sinh kế nông thôn không tốt thì đời sống một bộ phận lớn dân cư trong
xã hội (chủ yếu là người nông dân) sẽ không được đảm bảo, tức là khả năng sảnxuất ra của cải vật chất cho xã hội sẽ bị hạn chế Thế nhưng, dưới tác động của quátrình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở nước ta trong những năm gần đây, sinh kế củamột bộ phận nông dân đang gặp rất nhiều khó khăn và thiếu bền vững
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, việc thu hồi đất
đã tác động tới đời sống của 627.495 hộ dân với khoảng 950.000 lao động và 2,5triệu người bị ảnh hưởng, trung bình cứ mỗi ha đất thu hồi, sẽ có 10 lao động mấtviệc Đồng bằng sông Hồng vẫn là nơi có nhiều hộ bị ảnh hưởng nhất với trên300.000 hộ, kế đến là Đông Nam Bộ 108.000 hộ, trong đó Hà Nội có số hộ bị thuhồi lớn nhất với 138.291 hộ, tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh 52.094 hộ, BắcNinh 40.944 hộ, Hưng Yên 31.033 hộ, Đà Nẵng 29.147 hộ, Vĩnh Phúc 18.000 hộ.[2]
Bảng 1.4 Tỷ lệ lao động nông nghiệp bị mất việc làm tại một số vùng
Khu vực
Đồng bằng sông Hồng
Trung du miền núi phía Bắc
Bắc Trung Bộ và duyên hải
miền Trung
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
Đồng bằng sông Cửu Long
(Nguồn: Tổng cục thống kê, năm 2011)
Điều đáng lo là chỉ có khoảng trên 27% lao động bị thu hồi đất đã tốt nghiệpphổ thông, 14% được đào tạo nghề ngắn hạn Đặc biệt, số lượng lao động quá tuổituyển dụng (trên 35 tuổi) chiếm rất đông và hầu như ít có hy vọng tìm được việclàm tốt trong ngành công nghiệp – dịch vụ
Trang 33Theo kết quả khảo sát của đề tài "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đảm bảosinh kế bền vững cho người nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệphóa, đô thị hóa", 60% số hộ bị thu hồi đất vẫn sống dựa vào nông nghiệp, đời sốnggặp khó khăn, chỉ 29% số hộ có điều kiện sống cao hơn trước, trong khi có tới34,5% số hộ có mức sống thấp hơn trước và 36,5% thì vẫn như cũ, có tỉnh 25-30%lao động sau thu hồi đất không có việc làm hoặc việc làm không ổn định Số laođộng không có việc làm sau khi bị thu hồi đất tăng nhanh ở tất cả các tỉnh có khảosát Tại Hà Nội, tỷ lệ lao động không có việc làm trước khi thu hồi đất là 4,7% đãtăng lên 12,4% sau khi bị thu hồi đất Hai tỷ lệ tương ứng của các tỉnh khác, nhưHải Phòng là 5,1% và 10,8%; Bắc Ninh 5,3% và 7,9% Số người không có việc làmtăng lên, cơ cấu nghề nghiệp cũng thay đổi: số người chuyển sang buôn bán tăng2,72% chuyển sang làm thuê, xe ôm tăng 3,64%, số người làm công việc khác tăng4,1% số người gắn với các khu công nghiệp chỉ tăng 2,79%.
Trong khi đó, tỷ lệ lao động mất đất được doanh nghiệp (nhận đất) đào tạo ởcác tỉnh thành là quá thấp: ở Hà Nội là 0,01%, Hà Tây: 0,02%; Hải Phòng: 0%; BắcNinh: 0% Bộ phận nông dân mất đất được Nhà nước đào tạo nghề cũng rất khókhăn trong việc tìm kiếm việc làm cho mình và cũng chỉ đạt tỷ lệ tìm được việc làmrất thấp: Hà Nội: 0,01%; Hải Phòng: 0%; Bắc Ninh: 1,2%; Hà Tây: 0% Tỷ lệ laođộng do gia đình tự đào tạo có cao hơn những cũng xa so với yêu cầu tạo việc làmmới phi nông nghiệp: Hà Nội: 0,9%; Hải Phòng: 0,01%; Bắc Ninh: 0,3% và Hà Tây:0,09% [2]
Người nông dân có duy nhất đất nông nghiệp là công cụ sản xuất, khi bị thuhồi đất rồi thì người ta không còn công cụ sản xuất nữa Chính vì vậy mà nhu cầuchuyển đổi việc làm là rất cần thiết Những người đang trong độ tuổi lao động phải
đi tìm lấy một nghề để học và đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp.Người nông dân phải tự vay kinh phí từ các chương trình và tự học nghề sau đó họ
tự tạo việc làm Các huyện ngoại thành, các ngành nghề chưa phát triển lắm, phầnlớn là thuần nông cho nên có sự chênh lệch về trình độ đào tạo, giáo dục phổ thông
so với người dân trong nội thành Ngoài ra, các cơ sở dạy nghề tại khu vực nôngthôn còn ít [28]
Tại Hà Nội, số lao động mất đất được đào tạo bằng nguồn vốn của Nhà nước,sau đào tạo được nhận vào làm việc là 33%, bằng vốn của gia đình là 45,6% Cụ thể
32
Trang 34là lao động đào tạo bằng nguồn vốn của gia đình là 0,19 người/hộ nhưng chỉ có0,09 người được tuyển dụng nhận vào làm việc tại các doanh nghiệp nhận đất.
Như vậy, cứ 1.000 hộ mất đất nông nghiệp có 190 người tự bỏ tiền ra họcnghề nhưng cuối cùng chỉ có 90 người được tuyển dụng, còn 100 người thấtnghiệp Tình hình tương tự cũng diễn ra đối với các địa phương khác trong vùngĐồng bằng sông Hồng như Hà Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên…Lao động do các khucông nghiệp đào tại tỷ lệ nhận được việc làm cao hơn: Hà Nội 100%, Hải Phòng100%, nhưng số lượng lao động quá ít Tuy nhiên, ngay cả các lao động được cáckhu công nghiệp đào tạo việc làm cũng không ổn định Do trình độ hạn chế, thờigian đào tạo ngắn, năng lực lao động không cao nên một bộ phận lao động sau mộtthời gian được nhận vào khu công nghiệp, doanh nghiệp lại xin thôi việc, rơi vàotình trạng thất nghiệp toàn phần hoặc từng phần [2]
Tỷ lệ thời gian lao động trong độ tuổi ở khu vực nông thôn vùng Đồng bằngsông Hồng giảm nhanh trong những năm gần đây từ 80,21% năm 2004 xuống78,85% năm 2005 và 78% năm 2006, thu nhập và đời sống nông dân mất đất tăngchậm, thậm chí giảm ở một số vùng tái định cư Cùng với xu hướng di cư ra thànhthị, làm thuê tại khu công nghiệp, một bộ phận không nhỏ ở lại làng quê tiếp tục làmruộng với quỹ đất giảm dần nên “nhàn cư vi bất thiện” Đó là môi trường để các tệnạn xã hội phát triển
Trước khi bị thu hồi đất, phần lớn người dân đều có cuộc sống ổn định vì họ
có đất sản xuất, có tư liệu sản xuất mà đất sản xuất, tư liệu sản xuất đó được đểthừa kế từ thế hệ này sang thế hệ sau Sau khi bị thu hồi đất, đặc biệt là những hộnông dân bị thu hồi hết đất sản xuất, điều kiện sống và sản xuất của họ bị thay đổihoàn toàn Mặc dù nông dân được giải quyết bồi thường bằng tiền, song họ vẫnchưa định hướng ngay những ngành nghề hợp lý để có thể ổn định được cuộc sống.Sau khi bị thu hồi đất, chỉ có 32,3% số hộ đánh giá là đời sống có tốt hơn trước,42,3% số hộ cho rằng đời sống không có gì là cải thiện và số hộ còn lại khẳng địnhđời sống của họ kém đi so với trước khi bị thu hồi đất Như vậy, có đến 67,7% số
hộ dân được điều tra khẳng định đời sống của họ kém đi hoặc không có gì cải thiệnhơn sau khi Nhà nước thu hồi đất để chuyển sang xây dựng các KCN, KĐT mới vàcác dự án khác về phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương.[28]
Trang 35Chương 2 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI, SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI VÀ DỰÁN XÂY DỰNG KHU ĐÔ THỊ MỚI QUẬN HẢI AN
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội quận Hải An
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Quận Hải An được thành lập theo Nghị định số 106/NĐ-CP ngày 20/12/2002của Chính Phủ trên cơ sở sát nhập 05 xã của huyện An Hải và 01 phường của quậnNgô Quyền (đến nay tách ra làm 08 đơn vị hành chính cấp phường: Đằng Lâm,Đằng Hải, Tràng Cát, Nam Hải, Cát Bi, Thành Tô, Đông Hải 1 và Đông Hải 2) Vìvậy kinh tế xã hội, cơ sở vật chất của quận mang dáng dấp của một huyện nhiều hơn
là của quận nội thành Tổng diện tích đất tự nhiên của quận Hải An là 10.484,29ha,với tổng số dân là 104.070 người Quận Hải An nằm ở phía Đông Nam thành phốHải Phòng, có vị trí địa lý như sau (hình 2.1.):
- Phía Tây Bắc giáp quận Ngô Quyền
- Phía Bắc giáp huyện Thủy Nguyên dọc theo sông Cấm
- Phía Nam giáp huyện Kiến Thụy dọc theo ranh giới sông Lạch Tray
- Phía Đông giáp huyện đảo Cát Hải theo ranh giới là cửa biển Nam Triệu Với vị trí đó, quận Hải An là đầu mối giao thông của thành phố Hải Phòngvới đầy đủ các tuyến đường bộ, đường sông, đường biển, đường sắt và đườnghàng không Chạy qua địa bàn quận Hải An có trục đường giao thông liên tỉnh quantrọng nhất là quốc lộ 5 nối liền Hà Nội - Hải Phòng, có sân bay Cát Bi Bên cạnh đóquận Hải An là khu vực mở rộng của Thành phố Hải Phòng về phía đông nam, thuậnlợi cho việc giao lưu với các tỉnh thành khu vực phía bắc, là cửa ngõ có thể đónnhận các luồng hàng giao lưu với các tỉnh đồng bằng châu thổ sông Hồng và mởrộng thị trường
Với vị trí như vậy, quận Hải An có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, pháttriển các đô thị mới hiện đại, đồng bộ, tiếp nhận trực tiếp tiến bộ khoa học, kỹ thuật,chuyển giao công nghệ và thông tin, góp phần xây dựng một thành phố cảng hiệnđại
34
Trang 362.1.1.2.Địa hình, địa mạo
Hải An là vùng có địa hình tương đối bằng phẳng: đất thổ cư có cao độ bìnhquân từ +3,5 đến +4,5m; đất canh tác nông nghiệp có độ cao bình quân từ + 2,5 đến+3m
Tuy nhiên, đất ở quận Hải An được hình thành so sự bồi đắp của phù sa sông
có địa hình bằng phẳng hơi nghiêng ra biển với các lớp đất sét, á sét, á cát, cát vàbùn, bị nhiễm mặn chịu sự tác động của gió biển và thủy triều biến động từ 1-5m.Theo khảo sát địa chất, từ 1-2m đất sét dẻo mềm, dưới đó là các lớp á sét bão hòamềm dẻo, dẻo chảy và thậm chí là bùn, do đó nền đất yếu, cường độ chịu nén:R=0,1-0,25kg/cm2 Quận nằm trong vùng địa chất công trình xấu, cấu tạo địa chấtđiển hình là lớp trầm tích trên lớp đá già Vì vậy việc xây dựng cơ bản hạ tầng cũngnhư xây dựng các công trình khác ở Hải An không được thuận lợi, mà phải đầu tưgia cố nền móng công trình
2.1.1.3 Khí hậu
Hải An nằm ở vành đai nhiệt đới gió mùa châu Á, giáp với biển Đông nên khíhậu chịu sự chi phối trực tiếp của biển, khí hậu vừa mang những đặc điểm chungcủa khí hậu miền Bắc vừa mang những đặc điểm khí hậu riêng của vùng ven biển
Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm ở quận Hải An là 23,60C; thời điểmnóng nhất từ tháng 6 đến tháng 8 (nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là 29,40C),lạnh nhất từ tháng 11 đến tháng 2 (nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất là 16,80C)
Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.747mm, trong mùa hèlượng mưa chiếm 85% so với cả năm Lượng mưa cực đại trong một ngày đêm ởmùa hè cũng lớn hơn nhiều so với mùa đông, cá biệt có ngày mưa tới 500mm
Trang 372.1.1.4.Thủy văn
Là một quận nằm ven biển cho nên Hải An có mạng lưới sông ngòi và kênhmương khá dày đặc: sông Lạch Tray, sông Cấm với cửa Nam Triệu và hệ thốngmương An Kim Hải:
- Sông Cấm: là hợp lưu sông Kinh Môn và Kinh Thầy dài 37km, rộng 500m, sâu 6-8m lưu lượng dòng chảy Qmax=2.240m3/s, hàng năm đổ ra biển từ 10-
400-15 triệu km3 nước và trên dưới 2 triệu tấn phù sa, đặc biệt là ở vùng cửa Nam Triệu– Đình Vũ
- Sông Lạch Tray: dài 43km, rộng 100-150m, sâu 3-8m, lưu lượng dòng chảy
Qmax=525 m3/s
Hệ thống sông ngòi vừa cung cấp nước vụ cho sản xuất và đời sống sinh hoạtcho người dân trong quận, nó còn là đường giao thông thủy phục vụ cho việc giaolưu, đi lại của người dân trong vùng
2.1.1.5.Tài nguyên đất đai
Là vùng đất được hình thành bởi phù sa cho nên thành phần đất của Hải Antương đối phong phú, theo tính chất thổ nhưỡng thì quận gồm những loại đất sau:
- Nhóm đất phù sa:
Đất phù sa glây của sông Cấm, Lạch Tray (Pg): Phân bố tập trung ở cácphường ven quốc lộ 5 (phường Tràng Cát, Cát Bi, Đằng Lâm,Đằng Hải) Loại đấtnày nằm sâu trong nội đồng, không bị ảnh hưởng của nước mặn Thành phần cơgiới nặng ở các tầng trên, còn tầng đáy là lớp đất cát biển có lẫn phù sa sông Đây làmột trong những loại đất tốt của quận có khả năng thâm canh, tăng vụ và trồng cácloại rau mùa vụ đông
Đất phù sa bị glây của sông Cấm, Lạch Tray (Pg/c) phủ trên nền cát biển.Phân bố ở một số phường như Đông Hải 1, Nam Hải, Thành Tô
- Nhóm đất phèn
Đất phèn ít (Si): Đất hình thành do phù sa sông biển lắng đọng lại, khôngcòn chịu tác động ảnh hưởng của thủy triều và của nước mặn Đất có phản ứng từchua đến rất chua và chứa nhiều muối tan mà chủ yếu là F2(SO4)3, Al2(SO4)3 Đất
có thành phần cơ giới nặng trong toàn phẫu diện Trên loại đất này thường trồng 2
vụ lúa trong năm với các giống mới là chính
36
Trang 38Đất phèn ít và trung bình mặn ít (Msi): Đất có phản ứng rất chua ở tầng mặt,thành phần cơ giới nặng trong toàn phẫu diện, có thể trồng 2 vụ lúa trong năm Phân
bố hầu hết ở các phường ven biển như Đông Hải 2, Nam Hải, Tràng Cát, Thành Tô
- Nhóm đất mặn
Đất mặn ít: Đất có phản ứng chua, mùn vào loại giàu, đạm tổng số khá, lântổng số trung bình, lân dễ tiêu nghèo, kali tổng số rất giàu, thành phần cơ giới rấtnặng Loại đất này phân bố ở ven sông Cấm, Lạch Tray Tập trung chủ yếu ở cácphường Đông Hải 1, Đông Hải 2, Nam Hải
- Nhóm đất cát biển
Đất do phù sa biển mà chủ yếu là đất cát biển Hàm lượng mùn vào loạinghèo trong khi đạm tổng số vào loại khá, chất hữu cơ bị phân giải kiệt, lân và kalitổng số đều nghèo, lân dễ tiêu trung bình Đây là loại đất tốt, có thể thâm canh tăng
vụ, thích hợp với nhiều loại cây, rau màu có giá trị xuất khẩu Loại đất này phân bổ
ở các phường Đông Hải 1, Đông Hải 2, Nam Hải
2.1.1.6.Cảnh quan môi trường
Trong những năm qua, vấn đề môi trường đã được các cấp, các ngành củaThành phố quan tâm thông qua việc xây dựng và triển khai các chương trình dự ánbảo vệ môi trường, tăng cường công tác quản lý và xây dựng nếp sống văn minh đôthị, quản lý tốt vỉa hè, hành lang an toàn giao thông, trật tự an toàn giao thông, quyhoạch và trật tự xây dựng đô thị qua đó đã góp phần cải thiện chất lượng môitrường của thành phố Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan và chủ quanmôi trường của thành phố vẫn đang bị ô nhiễm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏecủa người dân
Ở một số nơi có khu công nghiệp, các nguồn nước có chứa các nguyên tố độchại ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân trong khu vực Nguyên nhângây ô nhiễm môi trường chủ yếu của Thành phố là do công nghiệp, khu tiểu thủcông nghiệp, phương tiện giao thông phát sinh khí thải, bụi và tiếng ồn
Trong thời gian tới Thành phố và quận có quy hoạch cụ thể đối với các khu công nghiệp, các xí nghiệp thải ra chất thải độc hại gây ô nhiễm môi trường
Trang 392.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng đô thị hóa giai đoạn 2010
2005-2.1.2.1.Biến động tình hình dân số và lao động
- Dân số: Dân số quận 2010 là 104.070 người (so với năm 2005 tăng 26.628
người, tức tăng 9,93%); tốc độ tăng dân số tự nhiên 0,85% và tốc độ tăng dân số cơ
học 1,74%; mật độ dân số trung bình đạt 775 người/km2, vào loại thấp nhất về mật
độ dân số trong các quận nội thành Tuy nhiên tốc độ tăng cơ học trong những năm
tới sẽ lớn hơn, có thể đạt tới 95.000-100.000 người Đây cũng là một áp lực rất lớn
đối với các quận trong việc giải quyết việc làm và chỗ ở cho lao động (nguồn phòng
thống kê quận Hải An, năm 2010) Số nhân khẩu nông nghiệp có 21.312 khẩu,
chiếm 25,1% tổng dân số toàn quận
- Lao động: Tính đến năm 2010 quận Hải An có 70.037 người trong độ tuổi
lao độngchiếm 82,39% dân số của quận So với năm 2005,số người trong độ tuổi
lao động của quận tăng 8.758 người tương đương với 18,91% Trong đó 4.572 lao
động không có việc làm chiếm 6,53%, lao động có khả năng tham gia các hoạt động
kinh tế là 64.108 lao động
Tình hình lao động của quận Hải An trong có sự chuyển biến mạnh trong
những năm gần đây Tình hình phân bổ lao động theo ngành trong giai đoạn
2005-2010 được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.1 Tình hình lao động có việc làm của quận Hải An theo ngành kinh tế
côngxây dựng
nôngthủy sản
38
Trang 40St Ngành
t
thươngdịch vụ
(Nguồn: phòng thống kê quận Hải An, năm 2010) Trong bảng trên ta thấy sốlao
động có việc làmnăm 2010 tăng so với năm 2005 là 25.460 người Số lao động
trong ngành công nghiệp và xây dựng tăng đềuqua các năm, tăng từ 23,94% năm 2005 lên 38,09% số lao động năm 2010 Số laođộng trong ngành nông lâm, thủy sản có chiều hướng giảm mạnh kể từ năm 2007.Năm 2005 ngành này có 15.551 lao động chiếm 40,23% tổng số lao động có việclàm của quận nhưng năm 2010 số lao động trong ngành này chỉ còn7.548 lao độngchiếm 11,77% Số lao động trong ngành thương mại và dịch vụ cũng tăng nhanh từ35,81% năm 2005 đến năm 2010 đã chiếm 50,13% tổng số lao động có việc làm củaquận
Sở dĩ có sự chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành một cách mạnh mẽ nhưvậy là do trong những năm gần đây quá trình thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh
tế xã hội của quận Hải An diễn ra một cách mạnh mẽ Trong vòng 5 năm từ 2005-2010
đã có 538,15ha đất nông nghiệp bị chuyển mục đích sử dụng sang các loại đất khác.Một
bộ phận lao động trong ngành nông lâm, thủy sản đã không còn đất để canh tác nên phảichuyển đổi sang ngành nghề khác Bên cạnh đó quá trình đô thị hóa nhanh nên hệ thống
cơ sở hạ tầng kỹ thuật của quận ngày càng hoàn thiện, nhiều công trình trọng điểm củathành phố được triển khai như đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, khu đô thị Ngã
5 sân bay Cát Bi, khu công nghiệp Tràng Cát, Khu Kinh tế Đình Vũ – Cát Hải là điềukiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước và quốc tế đầu tư sản xuất Điều nàytạo ra nhiều cơ hội việc làm cho lao động của quận
2.1.2.2.Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của quận
Kể từ khi thành lập quận đến nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tăngkhá nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp và xây dựng