ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN ---Đinh Văn Nhân ĐẶC ĐIỂM THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA ĐỘNG VẬT NGUYÊN SINH BỘ TINTINNIDA Ở VỊNH HẠ LONG – BÁI TỬ LONG, QUẢNG N
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-ĐINH VĂN NHÂN
ĐẶC ĐIỂM THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA ĐỘNG VẬT NGUYÊN SINH BỘ TINTINNIDA Ở VỊNH HẠ LONG – BÁI TỬ
LONG, QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2014
1
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-Đinh Văn Nhân
ĐẶC ĐIỂM THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA ĐỘNG VẬT NGUYÊN SINH BỘ TINTINNIDA Ở VỊNH HẠ LONG – BÁI TỬ
LONG, QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 60420103
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Nguyễn Xuân Quýnh TS.NCVC Chu Văn Thuộc
Hà Nội – Năm 2014
Trang 3Tác giả cũng xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban chủ nhiệm đề tài hợp tác Quốc
tế theo nghị định thư Việt – Pháp “Nghiên cứu sự ảnh hưởng của muội than tới hệ
vi sinh vật và môi trường biển Vịnh Hạ Long nhằm đề xuất các giải pháp bảo vệ tài nguyên và môi trường biển” và phòng Sinh vật Phù du và Vi sinh vật biển, Viện Tài
Nguyên và Môi trường biển, đã tạo điều kiện và giúp đỡ tác giả rất nhiều trong quátrình thực hiện luận văn này
Trong thời gian làm luận văn, tác giả đã nhận được nhiều sự giúp đỡ nhiệt tìnhcủa các cô, chú, anh, chị và các bạn đồng nghiệp trong Viện Tài nguyên và Môitrường Biển Tác giả xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Tác giả xin gửi lời cám ơn đến tất cả người thân, bạn bè, đã luôn động viên vàgiúp đỡ tác giả trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, tháng 9 năm 2014
Học viên
Đinh Văn Nhân
iii
Trang 4Chương 1 Tổng quan tài liệu
1.1 Tình hình nghiên cứu bộ Tintinnida trên thế giới
1.2 Tình hình nghiên cứu bộ Tintinnida ở Việt Nam
1.3.1 Vị trí địa lý và đặc trưng vùng nghiên cứu
1.3.2 Đặc điểm môi trường nước vùng nghiên cứu
1.3.2.1 Đặc điểm thủy lý –thủy hóa1.3.2.2 Nồng độ Oxy hòa tan (DO) và các chất dinh dưỡng trong nước1.3.2.3 Đặc điểm của vi tảo ở khu vực nghiên cứu
1.4.1 Vị trí phân loại của bộ Tintinnida
1.4.2 Một số đặc điểm của bộ Tintinnida
Chương 2 Tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Trang 52.2.1 Địa điểm nghiên cứu
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa
2.3.1.1 Phân vùng và chọn điểm thu mẫu
2.3.1.2 Phương pháp thu mẫu và cố định mẫu
2.3.2 Phương pháp xử lý và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm2.3.2.1 Xử lý mẫu
2.3.2.2 Phân tích mẫu định tính
2.3.2.3 Phân tích mẫu định lượng
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1 Đặc điểm thành phần loài của bộ Tintinnida ở vùng nghiên cứu3.1.1 Thành phần loài của bộ Tintinnida
3.1.2 Dẫn liệu về một số loài thường gặp
3.1.2.1 Loài Leprotintinnus nordqvisti Kofoid & Campbell, 1929 3.1.2.2 Loài Leprotintinnus elongatus Skryabin and Al-Yamani, 2007 3.1.2.3 Loài Tintinnopsis tocantinensis Kofoid & Campbell, 1929 3.1.2.4 Loài Tintinnopsis karajacensis Brandt, 1906
3.1.2.5 Loài Tintinnopsis radix Brandt, 1907
3.1.2.6 Loài Tintinnopsis nucula (Fol) Brandt, 1906
3.1.2.7 Loài Tintinnopsis beroidea Hada, 1938
3.1.2.8 Loài Tintinnopsis mortensenii Schmidt, 1901
v
Trang 63.1.2.9 Loài Tintinnopsis bermudensis Brandt, 1906
3.1.2.10 Loài Tintinnopsis fimbriata Meunier, 1919
3.1.2.11 Loài Tintinnopsis rotundata Kofoid & Campbell, 1929 3.1.2.12 Loài Tintinnopsis schotti Brandt, 1906
3.1.2.13 Loài Stennosemella ventricosa Jörgensen, 1924
3.1.2.14 Loài Wangiella dicollaria Nei,1934
3.1.2.15 Loài Codonellopsis sp
3.1.2.16 Loài Metacylis pithos Skryabin and Al-Yamani, 2006 3.1.2 17 Loài Metacylis tropica Duran, 1957
3.1.2.18 Loài Favella ehrenbergii Jörgensen, 1924
3.1.2.19 Loài Amphorellopsis acuta Kofoid & Campbell, 1929 3.1.2.20 Loài Eutintinnus lususundae Kofoid & Campbell, 1929
3.2 Đặc điểm phân bố của bộ Tintinnida theo không gian ở vùng nghiêncứu
3.2.1 Đặc điểm phân bố theo không gian (mặt rộng)
3.2.1.1 Phân bố thành phần loài
3.2.1.2 Phân bố mật độ cá thể
3.2.2 Đặc điểm phân bố theo tầng nước
3.2.2.1 Phân bố số lượng loài
Trang 73.3.3 Biến động theo ngày đêm
3.4 Một số nhận xét về mối tương quan giữa mật độ cá thể của Tintinnidvới một số yếu tố môi trường và vi tảo ở vung nghiên cứu
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Một số thông số thủy lý, thủy hóa ở vùng nghiên cứu
Bảng 1.2 Nồng độ Oxy và các chất dinh dưỡng trong nước ở khu vực
nghiên cứu
Bảng 1.3 Mật độ vi tảo ở khu vực nghiên cứu
Bảng 2.1 Tọa độ của các trạm khảo sát trong khu vực nghiên cứu
Bảng 2.2 Ý nghĩa thống kê của hệ số R ở các độ tin cậy
Bảng 3.1 Thành phần loài động vật lông bơi Tintinnid ở Vịnh Hạ Long –
Bái Tử Long
Bảng 3.2 Đa dạng giống, loài thuộc các họ của bộ Tintinnida ở vùng
nghiên cứu
Bảng 3.3 Biến động số loài theo thời gian tại khu vực nghiên cứu
Bảng 3.4 Bảng ma trận hệ số tương quan R giữa mật độ Tintinnid với các
yếu tố môi trường và vi tảo ở vùng nghiên cứu
Bảng 3.5 Bảng ma trận trị số p giữa mật độ Tintinnid với các yếu tố môi
trường và vi tảo ở vùng nghiên cứu
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Các số đo cơ bản của vỏ giáp (Họ Metacylididae)
Hình 1.2 Hình thái ngoài của họ Xystonellidae
Hình 1.3 Hình thái ngoài của họ Codonellidae (Giống Tintinnopsis) Hình 1.4 Hình thái ngoài của họ Tintinnidiidae (Giống Leprotintinnus) Hình 1.5 Hình thái ngoài của họ Tintinnidae (Giống Eutintinnus) Hình 1.6 Hình thái ngoài của họ Dictyocystidae (Giống Wangiella)
Hình 1.7 Hình thái ngoài của họ Codonellopsidae
Hình 2.1 Vị trí các trạm khảo sát trong khu vực nghiên cứu
Hình 2.2 Dụng cụ thu mẫu và thao tác thu mẫu ngoài thực địa
Hình 2.3 Các dụng cụ phân tích mẫu
Hình 3.1 Leprotintinnus nordqvisti Kofoid & Campbell, 1929
Hình 3.2 Leprotintinnus elongatus Skryabin and Al-Yamani, 2007 Hình 3.3 Tintinnopsis tocantinensis Kofoid & Campbell, 1929
Hình 3.4 Tintinnopsis karajacensis Brandt, 1906
Hình 3.5 Tintinnopsis radix Brandt, 1907
Hình 3.6 Tintinnopsis nucula Brandt, 1906
Hình 3.7 Tintinnopsis beroidea Hada, 1938
Hình 3.8 Tintinnopsis mortensenii Schmidt, 1901
Hình 3.9 Tintinnopsis bermudensis Brandt, 1906
Hình 3.10 Tintinnopsis fimbriata Meunier, 1919
Hình 3.11 Tintinnopsis rotundata Kofoid & Campbell, 1929
ix
Trang 10Hình 3.12 Tintinnopsis schotti Brandt, 1906
Hình 3.13 Stennosemella ventricosa Jörgensen, 1924
Hình 3.14 Wangiella dicollariaNei,1934
Hình 3.15 Codonellopsis sp
Hình 3.16 Metacylis pithos Skryabin and Al-Yamani, 2006
Hình 3.17 Metacylis tropica Duran, 1957
Hình 3.18 Favella ehrenbergii Jörgensen, 1924
Hình 3.19 Amphorellopsis acuta Kofoid & Campbell, 1929
Hình 3.20 Eutintinnus lususundae Kofoid & Campbell, 1929
Hình 3.21 Phân bố số lượng loài Tintinnid theo không gian ở khu vực vịnh
Hạ Long – Bái Tử Long
Hình 3.22 Phân bố mật độ cá thể Tintinnid theo không gian ở khu vực vịnh
Hạ Long – Bái Tử Long (cá thể/lít)
Hình 3.23 Phân bố số lượng loài Tintinnid theo tầng nước tại các trạm trong
khu vực nghiên cứu
Hình 3.24 Phân bố số lượng loài Tintinnid theo tầng nước trong các tháng ở
khu vực nghiên cứu
Hình 3.25 Phân bố mật độ cá thể Tintinnid theo tầng nước tại các trạm trong
khu vực nghiên cứu
Hình 3.26 Phân bố mật độ cá thể Tintinnid theo tầng nước trong các tháng ở
khu vực nghiên cứu
Hình 3.27 Biến động số lượng loài Tintinnid theo mùa tại các trạm ở khu
vực nghiên cứu
Hình 3.28 Biến động mật độ Tintinnid theo mùa ở khu vực nghiên cứu
Trang 11Hình 3.29 Biến động số loài và mật độ cá thể theo tháng ở khu vực nghiên
cứu
Hình 3.30 Biến động số loài và mật độ Tintinnid theo tháng tại trạm HL02Hình 3.31 Biến động số loài và mật độ Tintinnid theo tháng tại trạm HL04Hình 3.32 Biến động số loài và mật độ Tintinnid theo tháng tại trạm HL08Hình 3.33 Biến động số loài và mật độ Tintinnid theo tháng tại trạm HL13Hình 3.34 Biến động số lượng loài và mật độ Tintinnid theo ngày đêm
xi
Trang 13N Ni tơ
NTU Đơn vị đo độ đục (1 NTU= 1mg SiO2/ L)
OE (Oral end of lorica): Miệng vỏ giáp
Pri (Primary oral rim): Miệng sơ cấp
Trang 14MỞ ĐẦU
Động vật nguyên sinh là một hợp phần rất quan trọng trong quần xã động vậtnổi nói riêng và trong các hệ sinh thái ven bờ nói chung Chúng là một mắt xíchquan trọng trong chuỗi thức ăn của thủy vực, chúng tiêu thụ các chất dinh dưỡnghòa tan, mùn bã hữu cơ, vi khuẩn, tảo,… và tiếp đó chúng sẽ là nguồn thức ăn quantrọng cho Động vật phù du có kích thước lớn hơn, mà đặc biệt là ấu trùng của tôm,cua, cá,… Kể cả giai đoạn trưởng thành của một số loài cá ăn nổi, động vật ănlọc,v.v
Trên thế giới việc nghiên cứu thành phần loài của trùng Lông bơi (bộTintinnida) đã được tiến hành từ rất sớm Từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, đã
có nhiều công trình công bố về thành phần loài của bộ Tintinnida, điển hình là cáccông trình của Fol (1881, 1883 và 1884) [7, 8, 40]; Daday (1886, 1887) [35, 36],Brandt (1896, 1906) [32, 33], Jorgensen (1924) [9], Kofoid và Campbell (1929)[15], Hada (1932, 1935, 1937, 1938, 1964) [10, 11, 12, 13, 14], Chia Chi Wang(1936) [27], … và gần đây nhất phải kể đến các công trình công bố của Yamaji(1973) [30], Chihara và Murano (1997) [5] và Al-Yamani và công sự (2011) [2]
Ở Việt Nam, nghiên cứu về trùng Lông bơi chỉ được thực hiện sau khi ViệnHải dương học Nha Trang được thành lập (1923) bởi các chuyên gia người nướcngoài Đó là các công trình công bố của Rose (1926) [44], Dawydoff (1936) [43] vàShirota (1966) [25] Cho đến nay ở nước ta chưa có một công trình nào được công
bố do các tác giả người Việt Nam thực hiện
Ở miền Bắc Việt Nam nói chung và vịnh Hạ Long nói riêng đã có rất nhiềunhững công trình công bố về tài nguyên sinh vật, môi trường, địa chất, địa mạo,…được thực hiện bởi rất nhiều các đề tài, dự án do các viện nghiên cứu trong và ngoàinước thực hiện Nhưng cho đến nay, nghiên cứu về trùng Lông bơi ở khu vực nàyvẫn chưa được thực hiện và cũng chưa có bất kỳ một công bố nào về chúng
Trang 15Từ những lý do trên, đề tài luận văn: “Đặc điểm thành phần loài và phân bố của Động vật nguyên sinh bộ Tintinnida ở vịnh Hạ Long – Bái Tử Long, Quảng Ninh” đã được đặt ra với mục đích:
- Có được bộ số liệu về thành phần loài của bộ Tintinnida ở khu vực nghiêncứu, bổ xung thành phần loài cho khu hệ động vật phù du ở khu vực vịnh Hạ Long– Bái Tử Long nói riêng và khu hệ động vật phù du biển Việt Nam nói chung
- Tìm hiểu về đặc điểm phân bố cơ bản của bộ Tintinnida ở vịnh Hạ Long – Bái Tử Long
Luận văn này là một trong những nội dung chính của đề tài hợp tác quốc tế
theo nghị định thư giữa Việt Nam và Cộng hòa Pháp: “Nghiên cứu sự ảnh hưởng của muội than tới hệ vi sinh vật và môi trường biển vịnh Hạ Long nhằm đề xuất các giải pháp bảo vệ tài nguyên và môi trường biển” do TS NCVC Chu Văn Thuộc
làm chủ nhiệm Chủ nhiệm đề tài đã đồng ý cho phép sử dụng các kết quả nghiêncứu của đề tài để xây dựng nên bản luận văn này Mặc dù đã có nhiều cố gắngnhưng kết quả thu được chắc chắn vẫn còn có những khiếm khuyết, tác giả rất mongnhận được sự ủng hộ và góp ý chân thành của các thầy cô giáo, các anh chị và cácbạn
2
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỘ TINTINNIDA TRÊN THẾ GIỚI
Trên thế giới việc nghiên cứu ngành trùng Lông bơi Ciliophora nói chung và
bộ Tintinnida nói riêng đã được tiến hành từ rất sớm Rất nhiều các công trìnhnghiên cứu về phân loại và mô tả các loài thuộc bộ Tintinnida đã được công bố
Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thập niên 50 của thế kỷ XX, các công bố chủyếu tập trung vào nghiên cứu thành phần loài và mô tả chi tiết các loài thuộc họTintinnidae trong đó điển hình là các tác giả: Hermann Fol (1881, 1883 và 1884) đã
mô tả tổng cộng 15 loài ở Vịnh Villefranche, Pháp [7, 8, 40]; Eugen v, Daday (1886,1887) mô tả 69 loài ở Vịnh Neapel thuộc Địa Trung Hải [35, 36]; Karl Brandt(1896, 1906, 1907) mô tả kèm hình vẽ rất tỉ mỉ của hơn 100 loài thuộc bộ Tintinnida
ở biển Atlantic [32, 33, 34]; Jorgensen (1924) cũng đã mô tả 91 loài thuộc họTintinnidae ở biển Địa Trung Hải [9],v.v Từ mẫu vật thu được trong chuyến khảosát Agassiz tới vùng nhiệt đới phía Đông Thái Bình Dương (1904 – 1905), hai tácgiả Kofoid và Campbell (1929) đã công bố tổng số 697 loài, 51 giống và 11 họthuộc phân bộ Tintinnoinea ở cả môi trường nước ngọt và biển [15]
Trong đợt khảo sát ở rạn san hô Great Barrier Reef (Úc), với các trạm quantrắc hàng tuần, 1 trạm nằm ở mũi Bedford, 1 trạm nằm ở đảo Lizard và 3 trạm nằmngoài rạn trong khoảng thời gian từ tháng 7/1928 đến tháng 7/1929, Marshall(1934) đã đưa ra danh mục và mô tả 56 loài Tintinnid thuộc 24 giống và 12 họ ởkhu vực biển san hô này [16]
Từ chuyến thám hiểm Carnegie được thực hiện trên tàu Carnegie kéo dài 376ngày từ ngày 11/5/1928 đến ngày 28/10/1929 với tổng quãng đàng di chuyển44.877 dặm, đi vòng quanh Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, thu mẫu ở cáctâng nước khác nhau trên tổng số 162 trạm thu mẫu Đến năm 1942, Campbell đãcông bố danh mục và mô tả chi tiết 128 loài, 26 giống và 13 họ thuộc bộ Tintinnida
ở hai vùng biển này [4]
Trang 17Ở Châu Á, nghiên cứu về đối tượng này muộn hơn so với các khu vực kháctrên thế giới Đầu tiên có thể kể đến là cụm công trình công bố của Yoshine Hada từnăm 1932 đến năm 1938 cụ thể như sau: Năm 1932 ông đã phát hiện 23 loài thuộc 8
họ trong đó có 7 loài mới ở khu vực biển Okhotsk và vùng lân cận [10]; năm 1935phát hiện 39 loài trong đó có 2 loài mới gặp ở các khu vực biển Đông (South chinasea), Java, Celebes và Sulu theo hải trình từ Nhật Bản đến phía Đông Ấn Độ Dương[11]; năm 1937 mô tả 50 loài ở vịnh Akkeshi, Nhật Bản, đã bổ xung 11 loài mới chokhoa học và 15 loài chưa từng nhận diện ở Nhật Bản [12]; năm 1938 mô tả 101 loài
ở khu vực nhiệt đới phía tây Thái Bình Dương (có 7 loài mới) [13] Tiếp đến là côngtrình của Nie (1934) mô tả 17 loài thuộc 7 họ 5 giống ở vịnh Amoy, Trung
Quốc trong chuyến khảo sát từ 8/7 đến 20/8/1933 ở vịnh này [19] Chia Chi Wang(1936) đã phát hiện 15 loài (có 5 loài mới) thuộc phân bộ Tintinnoinea ở vịnh Pê-Hai, Trung Quốc [27] Đến năm 1947, Nie và Cheng đã mô tả 45 loài ở quanh đảo
Hải Nam trong đó ghi nhận được 1 giống mới (Marshallia) và 10 loài mới cho khoa
học trong đợt khảo sát kéo dài 2 năm 1933-1934 ở nhiều địa điểm khác nhau quanhđảo Hải Nam, Trung Quốc [20]
Từ thập niên 50 của thế kỷ XX đến cuối thế kỷ XX, các công trình công bố
về mô tả loài thuộc bộ Tintinnida có phần ít hơn giai đoạn trước Một số công bố cóthể kể đến là công trình nghiên cứu của Chiang Sieh Chih (1956) mô tả 21 loàiTintinnid ở nước ngọt thuộc 2 tỉnh Kiangsu và Anhui, Trung Quốc, trong đó có 15loài mới [24] Duran (1957) mô tả được 22 loài thuộc 12 giống 10 họ vùng biểnPuerto Rico [37] Hada (1964) mô tả được thêm 3 loài mới trong tổng số 25 loàiđược nhận diện ở khu vực biển nội địa thuộc vịnh Hiroshima, Nhật Bản [14].Cosper (1972) mô tả 21 loài trong hệ thống vịnh St Andrew, Florida Mỹ, trong đó
có 8 loài trước đó chưa được công bố ở khu vực này và 2 loài chưa được xác định
tên thuộc giống Metacylis đã được mô tả [6] Isamu Yamaji (1973) đã mô tả 135 loài
trong 11 họ thuộc bộ Tintinnida ở biển Nhật Bản [30] Mitsuo Chihara và MasaakiMurano (1997) mô tả 132 loài ở Nhật Bản [5]
4
Trang 18Những năm đầu thế kỷ XXI đến nay, công trình đầu tiên có thể kể đến là củaBalkis (2009) trong đợt điều tra khảo sát theo mùa tại 3 trạm ở vịnh Edremit ThổNhĩ Kỳ, ông đã công bố được 16 loài thuộc 10 giống 7 họ [3] Gần đây nhất là công
bố của Al-Yamani và công sự (2011), mô tả 73 loài, 24 giống và 11 họ ở khu vựcven biển Kuwait [2] và Zaid và Hellal (2012) đã công bố 92 loài thuộc 30 giống, 13
họ ở ven bờ biển đỏ Hurghada, Ai Cập [31]
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỘ TINTINNIDA Ở VIỆT NAM
Ở Việt Nam, nghiên cứu về trùng Lông bơi chỉ được thực hiện sau khi ViệnHải dương học Nha Trang được thành lập (1923) bởi các chuyên gia người nướcngoài Đó là các công trình công bố của Rose (1926) với 6 loài ở vịnh Nha Trang[44]; Dawydoff (1936) công bố 12 giống cũng ở khu vực này [43] Công trình đángchú ý nhất ở Việt Nam cho đến nay là của Shirota (1966), dựa vào quá trình thu thậpmẫu ở các vực nước ven bờ từ Huế vào tới mũi Hà Tiên (Kiên Giang) ông đã phântích và công bố 72 loài Tintinnid kèm theo các hình vẽ minh họa của chúng
[25]
Nhìn chung, cho đến nay ở Việt Nam nói chung và miền Bắc Việt Nam nóiriêng chưa có bất kỳ một công bố nào về mô tả thành phần loài cũng như phân bốcủa bộ Tintinnida do các tác giả Việt Nam thực hiện Chính vì vậy, đây sẽ là nghiêncứu đầu tiên về thành phần loài và phân bố của bộ Tintinnida ở miền Bắc Việt Nam
1.3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA VÙNG NGHIÊN CỨU
1.3.1 Vị trí địa lý và đặc trƣng vùng nghiên cứu
Vịnh Hạ Long nằm ở Đông Bắc Việt Nam, từ 20°43' đến 21°09' độ vĩ Bắc và
từ 106°56' đến 107°37' độ kinh Đông Cách thủ đô Hà Nội khoảng 150km về phíaĐông – Đông Bắc Toàn khu vực có diện tích khoảng 1.553 km2, bao gồm gần2.000 hòn đảo lớn nhỏ khác nhau, phần lớn là đảo đá vôi Vùng lõi của vịnh có diệntích 334 km2 với 775 hòn đảo (hình 2.1) Đây là thuỷ vực tương đối kín, ít có sựtrao đổi nước với bên ngoài mặc dù biên độ dao động của thuỷ triều là tương đốilớn Địa hình của khu vực vịnh Hạ Long – Bái Tử Long khá phức tạp với rất nhiềucác đảo lớn nhỏ phân bố rải rác Vì vậy, mặc dù là vũng nước mở thông ba mặt với
Trang 19Vịnh Bắc Bộ nhưng có nhiều đảo đá vôi che chắn phía ngoài nên đây là vực nướckhá yên tĩnh, sự trao đổi nước với bên ngoài cũng bị hạn chế phần nào [1].
Nền đáy ở vịnh Hạ Long – Bái Tử Long tương đối bằng phẳng và nông, độsâu phổ biến trong khoảng từ 2-7m, một số khu vực có độ sâu lớn hơn là các lạchhẹp và luồng tàu [1]
1.3.2 Đặc điểm môi trường nước vùng nghiên cứu
Để đánh giá đặc điểm môi trường nước khu vực nghiên cứu, chúng tôi đã thamkhảo các kết quả nghiên cứu của đề tài hợp tác quốc tế theo nghị định thư giữa Việt
Nam và Cộng hòa Pháp “Nghiên cứu sự ảnh hưởng của muội than tới hệ vi sinh vật
và môi trường biển vịnh Hạ Long nhằm đề xuất các giải pháp bảo vệ tài nguyên và môi trường biển” (năm 2012 - 2013) Dưới đây là một số kết quả đánh giá sơ lược
chất lượng nước được thu thập từ đề tài này
1.3.2.1 Đặc điểm thủy lý –thủy hóa
- Nhiệt độ nước: Nhiệt độ nước biển tại khu vực vịnh Hạ Long – Bái Tử Long
có giá trị trung bình năm là 24,920C (bảng 1.1) Nhiệt độ nước biển thấp thường gặp
ở các tháng mùa đông và thấp nhất vào tháng 12/2012 với nhiệt độ dao động trongkhoảng 16,48 – 19,030C và cao nhất gặp ở các tháng mùa hè từ tháng 6 - 9/2013 vớikhoảng nhiệt độ dao động từ 27,63 – 30,690C Đặc biệt vào tháng 7/2013 nhiệt độ luôn
ở mức trên 300C, vượt giới hạn cho phép với nước biển ven bờ theo QCVN 10:
2008/BTNMT (300C)
- Độ đục: Độ đục ở khu vực nghiên cứu dao động rất lớn từ 1,06 – 113,61NTU, trung bình năm là 10,32 NTU (bảng 1.1) Độ đục cao nhất quan sát được ởtrạm cửa Lục (HL02) vào tháng 8/2013 với 113,61 NTU Trạm HL02 là trạm nằm ở
vị trí giữa cửa Lục, nơi đón nhận lượng vật chất lơ lửng cũng như lượng phù sa lớn
từ lục địa bởi hệ thống sông của huyện Hoành Bồ và các địa phương khác ở lân cận
đổ ra Mặt khác, tháng 8 là tháng có lượng mưa trung bình cao nhất trong năm,thường đạt trên 500mm [39], chính vì vậy lượng phù sa và vật chất lơ lửng trongtháng này đổ ra càng nhiều qua cửa Lục Điều này chính là nguyên nhân chính dẫnđến độ đục vào tháng này ở trạm HL02 là cao nhất trong năm Ngoài tháng 8/2013,
6
Trang 20tháng 3/2013 cũng là tháng có độ đục tương đối cao, dao động trong khoảng 5,92 –92,69 NTU Nguyên nhân có thể là do thời điểm tiến hành khảo sát nghiên cứu ngaytrong đợt mưa của tháng này.
Bảng 1.1 Một số thông số thủy lý, thủy hóa ở vùng nghiên cứu
Trang 21sông nên đây cũng là trạm có độ muối trung bình năm thấp nhất trong 4 trạm nghiêncứu hàng tháng Trong tất cả các tháng quan trắc, tháng 1/2013 là tháng có độ muốicao nhất dao động trong khoảng 29,81 – 31,79‰.
- pH: Nước biển khu vực nghiên cứu có giá trị pH trung bình 7,7 vào tháng10/2012 (dao động từ 7,17 – 8,1) và 7,42 (dao động từ 6,81 – 8,11) vào tháng5/2013 Theo ngày đêm giá trị pH dao động trong khoảng 8,02 – 8,34 vào tháng10/2012 và 6,78 – 7,75 vào tháng 5/2013
1.3.2.2 Nồng độ Oxy hòa tan (DO) và các chất dinh dưỡng trong nước
* DO: Nồng độ oxy hoà tan trong nước ở khu vực nghiên cứu dao động trongkhoảng lớn, từ 4,0 đến 8,86 mg/l, trung bình năm là 6,24 mg/l (bảng 1.2) Nồng độoxy hòa tan có giá trị lớn nhất ở khu vực giữa vịnh với giá trị lớn nhất đo được tạitrạm HL04 (8,56 mg/l) và HL08 (8,86 mg/l) vào tháng 8/2013
Bảng 1.2 Nồng độ Oxy và dinh dưỡng trong nước ở khu vực nghiên cứu
Trang 22* NO3- + NO22-: Hàm lượng NO3- + NO22- trong nước biển khu vực dao độngtrong khoảng từ 0,17 đến 52,8 µM/l, trung bình là 5,05 µM/l (bảng 1.2) Hàm lượng
NO3- + NO22- cao nhất ở cửa Lục với hàm lượng 52,8 µM/l Trong cả năm, tháng8/2013 có hàm lượng NO3- + NO22- cao nhất với hàm lượng dao động 6,83 – 52,8µM/l Hàm lượng này có giá trị trung bình năm cao nhất ở cửa Lục (10,15 µM/l) vàcàng ra xa bờ thì giá trị này càng giảm
* NH4+: Hàm lượng NH4+ trong nước biển khu vực nghiên cứu dao động trongkhoảng 0,17 – 24,77 µM/l, trung bình là 3,12 µM/l (bảng 1.2).Cũng giống như hàmlượng NO3- + NO22- , hàm lượng NH4+ có giá trị trung bình năm cao nhất ở cửa Lục(6,7 µM/l) và giảm dần ra ngoài xa bờ
* PO43-: Hàm lượng PO43- trong nước ở khu vực dao động trong khoảng 0 –0,33 µM/l, trung bình năm là 0,09 µM/l (bảng 1.2) Hàm lượng PO43- đạt giá trị caonhất trong năm tại cửa Lục vào tháng 9/2013, với hàm lượng 0,33 µM/l Trong năm,hàm lượng PO43- thấp nhất vào tháng 7 và 8/2013, với hàm lượng dao động từ 0 –0,05 µM/l
* N vô cơ: Hàm lượng N vô cơ trong nước ở khu vực dao động lớn trong năm
từ 4,93 – 38,08 µM/l, trung bình là 10,26 µM/l Trong năm, hàm lương N vô cơ cógiá trị trung bình cao nhất tại cửa Lục và giảm dần khi ra ngoài xa bờ
* P vô cơ: Hàm lượng P vô cơ cũng có sự dao động lớn trong năm ở khu vựcnghiên cứu, với hàm lượng dao động từ 0,04 – 2,25 µM/l, trung bình là 0,42 µM/l.Cũng giống như N vô cơ, ham lượng P vô cơ cũng có giá trị trung bình năm cao nhất ở cửa Lục (0,47 µM/l) và giảm dần khi ra ngoài xa bờ
* SiHO43-: Hàm lượng muối SiHO43- ở khu vực nghiên cứu cũng có khoảngdao động lớn trong năm từ 1,21 – 68,41 µM/l, trung bình là 20,39 µM/l Hàm lượngcủa muối này cũng có giá trị trung bình cao nhất tại cửa Lục (28,04 µM/l) và cũnggiảm dần khi ra ngoài xa bờ
Trang 23Sở dĩ các dạng chất dinh dưỡng này ở khu vực xa bờ có giá trị thấp hơn khuvực giữa vịnh và gần bờ là do ở những khu vực gần bờ và giữa vịnh thường xuyênđón nhận lượng vật chất lơ lửng hữu cơ từ lục địa đổ ra.
1.3.2.3 Đặc điểm của vi tảo ở khu vực nghiên cứu
* Tảo Picophytoplankton: Mật độ tảo Picophytoplankton trung bình năm ởvịnh Hạ Long – Bái Tử Long là 6013 tb/ml, dao động trong khoảng 61 – 16790tb/ml (bảng 1.3) Mật độ trung bình năm cao nhất ở cửa Lục (6439 tb/ml) và giảm dần khi ra ngoài xa bờ
Bảng 1.3 Mật độ vi tảo ở khu vực nghiên cứu
* Tảo Nanophytoplankton: Mật độ của tảo Nanophytoplankton trong năm ởvùng nghiên cứu dao động trong khoảng từ 43 – 15243 tb/ml, trung bình là 2340tb/ml (bảng 1.3) Mật độ trung bình của tảo Nanophytoplankton ở khu vực giữavịnh và cửa Lục cao hơn khu vực phía ngoài
10
Trang 24Cả tảo Picophytoplankton và tảo Nanophytoplankton đều có mật độ thấp nhất vào tháng 6/2013 gặp ở trạm HL02
* Tảo Microphytoplankton: Mật độ trung bình của tảo Microphytoplankton ởkhu vực nghiên cứu có giá trị là 24369 tb/l, dao động trong khoảng từ 780 – 197120tb/l (bảng 1.3) Cũng giống như tảo Picophytoplankton, tảo Microphytoplankton cómật độ trung bình cao nhất ở cửa Lục và giảm dần ở những khu vực xa bờ hơn Mật
độ của tảo Microphytoplankton có giá trị thấp nhất vào tháng 8/2013, với 780 tb/l
và gặp ở cửa Lục
* Chlorophyll a: Hàm lượng Chlorophyll a ở vịnh Hạ Long – Bái Tử Longtrong năm có khoảng dao động lớn từ 1,05 – 1312,78 µg/l, trung bình là 44,55 µg/l.Cũng giống như tảo Nanophytoplankton, hàm lượng chlorophyll a trung bình năm ởgiữa vịnh và cửa Lục cao hơn khu vực phía ngoài biển
Tóm lại, những đặc điểm môi trường nước và sinh vật kể trên có thể trực tiếphoặc gián tiếp ảnh hưởng đến phân bố thành phần loài và mật độ cá thể Tintinnid ởkhu vực nghiên cứu Điều này sẽ được đề cập ở những phần tiếp theo
1.4 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI NGOÀI CỦA BỘ TINTINNIDA
1.4.1 Vị trí phân loại của bộ Tintinnida
Ngành Ciliophora (Doflein, 1901) Copeland, 1956
Phân ngành Intramacronucleata Lynn, 1996
Lớp Spirotrichea Bütschli, 1889 Phân lớp Choreotrichia Small & Lynn, 1985
Bộ Tintinnida Kofoid & Campbell, 1929 1.4.2 Một số đặc điểm của bộ Tintinnida
Trùng Lông bơi bộ Tintinnida có khả năng tạo ra vỏ giáp có dạng cứng hoặcmềm để bảo vệ cơ thể Vỏ giáp có thể trong suốt hoặc không trong suốt che phủ các
bộ phận trong cơ thể Cơ thể Tintinnid được gắn chặt vào vỏ giáp với một nhánhcủa tế bào được gọi là cuống gắn Trùng Lông bơi (Tintinnid) sử dụng màng bơi để
di chuyển trong nước, mỗi một màng bơi được hình thành bởi các lông mao (lông
Trang 25bơi) liên kết với nhau, Tintinnid có thể rời bỏ vỏ giáp của chúng để làm một vở giápmới ngay sau đó, nó thường khác với vỏ giáp ban đầu [1] Đặc điểm hình thái ngoàicủa một số họ trùng Lông bơiđược trình bày trong các hình sau:
Hình 1.1 Các số đo cơ bản của vỏ giáp (Họ Metacylididae)
OD - Đường kính miệng; MT - Đường kính lớn nhất của bầu cơ thể; CL - Chiều
dài của cổ; BL - Chiều dài bầu cơ thể; TL - Tổng chiều dài vỏ
giáp (cơ thể) (Nguồn: Al-Yamani và công sự, 2011 [1] )
e
Hình 1.2 Hình thái ngoài của họ Xystonellidae
L - Vỏ giáp trong suốt; OE – Miệng vỏ giáp; AE – Đuôi vỏ giáp; M – Màng bơi;
Ma – Nhân lớn; Mi – Nhân nhỏ; Pe – Cuống gắn; AH – Sừng
đuôi, gai đuôi (Nguồn: Al-Yamani và công sự, 2011 [1] )
12
Trang 26Hình 1.3 Hình thái ngoài của họ Codonellidae (Giống Tintinnopsis)
OR – Rìa miệng (mép miệng); C – Cổ; B – Bầu cơ thể; Pri – Miệng sơ cấp;
S – Miệng thứ cấp; OF – Vành miệng (Nguồn: Al-Yamani và công sự, 2011 [1] )
Hình 1.4 Hình thái ngoài của họ Tintinnidiidae (Giống Leprotintinnus)
AF – Vành đuôi (đế) (Nguồn: Al-Yamani và công sự, 2011 [1] )
Hình 1.5 Hình thái ngoài của họ Tintinnidae (Giống Eutintinnus)
OE – Miệng của vỏ giáp; AE – Đuôi của vỏ giáp.
(Nguồn: Al-Yamani và công sự, 2011 [1] )
Trang 27Hình 1.6 Hình thái ngoài của họ Dictyocystidae (Giống Wangiella)
C – Cổ với các ô hình vuông hoặc hình bán nguyệt trong suốt gắn lại với nhau
(Nguồn: Al-Yamani và công sự, 2011 [1] )
Hình 1.7 Hình thái ngoài của họ Codonellopsidae
(Cổ trong suốt, thường có cấu trúc xoắn ốc)
C – Cổ; B – Bầu cơ thể; F – Lỗ thoáng.(Nguồn: Al-Yamani và công sự, 2011 [1] )
14
Trang 28CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các loài trùng Lông bơi (Tintinnid) thuộc bộ Tintinnida ở Vịnh Hạ Long – Bái
Tử Long, Quảng Ninh
2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện tại 16 trạm thuộc vịnh Hạ Long – Bái Tử Long.Trong đó có 16 trạm khảo sát mặt rộng trong hai mùa (HL01, HL02, HL03, HL04,HL05, HL06, HL07, HL08, HL09, HL10, HL11, HL12, HL13, HL14, HL15,HL16), 3 trạm liên tục trong hai mùa (HL02, HL13, HL14) và 4 trạm khảo sát hàngtháng (HL02, HL04, HL08, HL13) Vị trí của các trạm được trình bày trong hình2.1 và bảng 2.1
Hình 2.1 Vị trí các trạm khảo sát trong khu vực nghiên cứu
Trang 29Bảng 2.1 Tọa độ của các trạm khảo sát trong khu vực nghiên cứu
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trong hai năm từ tháng 10/2012 đến tháng 10/2013,thực hiện 14 đợt điều tra khảo sát theo kế hoạch điều tra nghiên cứu của đề tài hợp
tác quốc tế theo nghị định thư giữa Việt Nam và Cộng hòa Pháp “Nghiên cứu sự ảnh hưởng của muội than tới hệ vi sinh vật và môi trường biển vịnh Hạ Long nhằm
đề xuất các giải pháp bảo vệ tài nguyên và môi trường biển”:
Trang 30- Khảo sát, thu mẫu theo mùa:
+ Mùa mưa (tháng 10/2012): Thu mẫu tại 16 trạm mặt rộng và 3 trạm liên tục ngày đêm (4 giờ thu mẫu một lần)
+ Mùa khô (tháng 5/2013): Thu mẫu tại 16 trạm mặt rộng và 3 trạm liên tục ngày đêm (4 giờ thu mẫu một lần)
16
Trang 31- Khảo sát thu mẫu hàng tháng: từ tháng 11/2012 đến tháng 10/2013, mỗi tháng tiến hành thu mẫu một lần tại 4 trạm nghiên cứu.
Tại mỗi trạm và mỗi thời điểm, thu 1 mẫu định tính và 2 mẫu định lượng ở tầng mặt và tầng 1,5m
Tổng cộng 348 mẫu (bao gồm 116 mẫu định tính và 232 mẫu định lượng) đã được thu trong thời gian nghiên cứu
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa
2.3.1.1 Phân vùng và chọn điểm thu mẫu
Dựa vào nội dung và các mục tiêu của đề tài nghị định thư Việt – Pháp chúngtôi thực hiện thu mẫu tại các khu vực sau:
* Khu vực vịnh Hạ Long: gồm 2 mặt cắt và 4 trạm khống chế bên ngoài:
- MCI: gồm các trạm HL02, HL04, HL05 Nằm ở trung tâm vịnh Hạ Long,trong đó HL02 nằm ở cửa Lục, HL04 nằm ở giữa vịnh và HL05 nằm gần hòn TrốngMái (hòn Gà Chọi)
- MCII: gồm các trạm HL06, HL07, HL08 Nằm gần trung tâm vịnh, trong
đó HL06 nằm ở ven bờ gần cảng than Hồng Gai, HL08 nằm giáp Hòn Pháo vàHL07 nằm giữa
- 4 trạm khống chế gồm: 1 trạm nằm sâu trong sông tiếp giáp với huyệnHoành Bồ (HL01), 1 trạm nằm phía tây nam vịnh Hạ Long, gần hang Đầu Gỗ và 2trạm nằm ngoài tiếp giáp với biển, gần cụm đảo Đầu Bê, nằm hai bên lạch tàu(HL09 và HL13)
* Khu vực giáp danh giữa vịnh Hạ Long và Bái Tử Long: Mặt cắt III
- MCIII: gồm các trạm HL10, HL11, HL12 Đây là Mặt cắt nằm ở ranh giớigiữa vịnh Hạ Long và Bái Tử Long Trong đó HL10 nằm ven bờ gần hòn Đầu Mối,trạm HL11 gần Cống Đỏ và trạm HL12 nằm phía ngoài gần khu vực chung chuyểnthan
17
Trang 32* Khu vực vịnh Bái Tử Long: Mặt cắt IV
- MCIV: gồm các trạm HL14, HL15, HL16 Trong đó HL14 nằm ven bờ gầnbăng chuyền vận chuyển xi măng của nhà máy xi măng Cẩm Phả, HL15 nằm sáthòn Nét giữa và HL16 nằm ở hòn Nét ngoài
* Các trạm liên tục ngày đêm gồm có HL02 nằm ở cửa sông nơi trao đổinước giữa vịnh Hạ Long và phía trong sông, HL13 nằm ngoài sát biển nơi trao đổinước giữa biển và trong Vịnh và Hl14 nằm ven bờ vịnh Bái Tử Long
* Các trạm khảo sát hàng tháng kéo dài từ cửa Lục ra ngoài khu vực tiếp giáp với biển gồm có các trạm: HL02, HL04, HL08 và HL13
Tại mỗi trạm và mỗi thời điểm, thu mẫu định tính và định lượng tại tầng mặt
và tầng 1,5m
2.3.1.2 Phương pháp thu mẫu và cố định mẫu
* Dụng cụ thu mẫu gồm: Lưới thu định tính, lưới lọc định lượng, xô, gáo, dụng
cụ lấy nước theo tầng Niskin (thể tích 5 lít), chai đựng mẫu, hóa chất cố định mẫu(Lugol),…
3 Hình 2.2 Dụng cụ thu mẫu và thao tác thu mẫu ngoài thực địa
1. Thu mẫu nước theo tầng bằng chai Niskin
2. Lọc mẫu tại hiện trường bằng lưới lọc
3. Lưới thu mẫu định tính
Trang 33* Thu mẫu định tính: Sử dụng lưới có đướng kính miệng lưới 25cm, chiều dàithân lưới 75cm với kích thước mắt lưới là 20µm Thu mẫu định tính bằng cách kéolưới thẳng đứng (từ tầng đáy lên tầng mặt) hoặc kéo trên tầng mặt nhiều lần Mẫusau khi thu xong được chuyển vào chai đựng mẫu (chai nhựa 500ml) và được cốđịnh bằng dung dịch Lugol với nồng độ 2-5%.
* Thu mẫu định lượng: Tại mỗi tầng và mỗi trạm thu 2 lít nước và lọc qua lướilọc có kích thước mắt lưới là 20µm, mẫu sau khi lọc xong được chuyển vào lọ đựngmẫu có dung tích là 30ml và cũng được cố định bằng dung dịch Lugol với nồng độnhư trên
2.3.2 Phương pháp xử lý và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm
2.3.2.1 Xử lý mẫu
Mẫu sau khi được thu ngoài thực địa sẽ được chuyển về phòng thí nghiệm đểtiến hành xử lý phục vụ quá trình phân tích mẫu Mẫu định tính được lọc trongphòng thí nghiệm và được chuyển vào lọ đựng mẫu có dung tích 30ml và được cốđịnh lại bằng dung dịch formaline 2% Cả mẫu định tính và mẫu định lượng để lắng
và rút bớt nước để lại 10 – 20ml tùy theo độ phong phú của mẫu Mẫu sau khi xử lýxong sẽ được tiến hành phân tích
Đo các thông số nhiệt độ, độ muối, độ đục, chlorophyll a (Chl a) trong nướcbằng máy CTD Sea-Bird 19+ (Sea-Bird Electronics Inc., USA) ngay tại hiệntrường Đo các thông số DO và pH bằng máy đo nhanh DO – YSI55
Các mẫu phân tích dinh dưỡng, tảo Picophytoplankton và Nanophytoplanktonđược thu theo tầng, cố định và bảo quản lạnh sau đó chuyển về phòng thí nghiệmcủa Viện Nghiên cứu vì sự phát triển (IRD), Cộng hòa Pháp để phân tích
Trang 34Kofoid and Campbell (1929) [15], Hada (1932, 1937, 1938) [10, 12, 13], Marshall(1934, 1969) [16, 17], Al-Yamani et al (2011) [2],…và sử dụng kính hiển viOlympus BH2 (ở các độ phóng đại X100 và X200) để phân tích mẫu, máy ảnh đểchụp mẫu và trắc vi thị kính để đo kích thước của Tintinnid.
2.3.2.3 Phân tích mẫu định lượng
Việc phân tích mẫu định lượng nhằm xác định mật độ cá thể của Tintinnidtrong khu vực nghiên cứu
Sử dụng kính hiển vi Olympus BH2 và buồng đếm Sedgwick – Rafer có thểtích 1ml chứa 100 ô (20 ô x 50 ô x 1mm) để định loại và đếm số lượng cá thểTintinnid (hình 2.3)
3
Hình 2.3 Các dụng cụ phân tích mẫu
1. Kính hiển vi Olympus BH2 và tài liệu định loại
2. Buồng đếm Sedgewick – Rafer (20 ô x 50 ô x 1mm)
3. Mẫu phân tíchMẫu định lượng (2 lít) được cô lại còn 10ml nước mẫu Trước khi phân tích,mẫu sẽ được lắc đều và rút ra 1ml cho đều vào buồng đếm, sau đó để khoảng 10 –
15 phút cho Tintinnid lắng xuống đáy buồng đếm rồi cho buồng đếm lên kính hiển
vi để tiến hành định loại và đếm số lượng cá thể trong mẫu Cũng giống như phân
Trang 35tích mẫu định tính, định loại Tintinnid trên cơ sở so sánh hình thái ngoài của vỏ
giáp và dựa vào các tài liệu [2, 4, 5, 9, 10, 12, 13, 15, 19, 20, 33, 34,…]
- Sử dụng phần mềm MS Excel để xử lý số liệu và vẽ các biểu đồ, đồ thị
- Đánh giá mối tương quan giữa mật độ cá thể Tintinnid với các thông số môi
trường và thực vật phù du bằng hệ số tương quan Pearson dựa vào hệ số R và trị số
p của phần mềm thống kê XLSTAT 2011 Hệ số R chỉ có ý nghĩa thống kê khi lớn
hơn hoặc bằng các giá trị trong bảng 2.2 ở các độ tin cậy (α) khác nhau Trị số p
cũng chỉ có ý nghĩa thống kê khi nhỏ hơn hoặc bằng 0,05
Bảng 2.2 Ý nghĩa thông kê của hệ số R ở các độ tin cậy (n là số lượng mẫu)
Trang 36Nguồn: Shockloff A L and Edney J N., 1972 Some extension of student’s t and Pearson’s r central distributions Technical report Measurement and Research central Temple University, Philadelphia.
Trong đó các số liệu về môi trường nước bao gồm: t0C, S‰, pH, DO, NO3- +
NO22-, NH4+, PO43-, SiHO43-, Nitơ vô cơ và Phốt pho vô cơ và các số liệu về sinhvật gồm: tảo Microphytoplankton (gọi tắt là tảo Micro), tảo Nanophytoplankton (gọitắt là tảo Nano) và tảo Picophytoplankton (gọi tắt là tảo Pico) được tham khảo từcác kết quả nghiên cứu của đề tài hợp tác quốc tế theo nghị định thư Việt – Pháp(2012-2013)
Trang 37CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 ĐẶC ĐIỂM THÀNH PHẦN LOÀI CỦA BỘ TINTINNIDA Ở VÙNG
NGHIÊN CỨU
3.1.1 Số lượng loài của bộ Tintinnida
Kết quả phân tích 348 mẫu thu được từ 14 đợt khảo sát trong hai năm 2012 và
2013 cho thấy, đã xác định được tổng cộng 40 loài trùng Lông bơi (Tintinnid) thuộc
13 giống, 7 họ tại vùng biển vịnh Hạ Long – Bái Tử Long (bảng 3.1)
Bảng 3.1 Thành phần loài trùng Lông bơi Tintinnid
ở vịnh Hạ Long – Bái Tử Long
Họ Tintinnidiidae Kofoid & Campbell, 1929
Họ Codonellidae Kent, 1881
Trang 388 Tintinnopsis cylindrica Daday, 1887
Họ Codonellopsidae Kofoid & Campbell, 1929
Trang 39Họ Metacylididae Kofoid & Campbell, 1929
28 Metacylis pithos Skryabin and Al-Yamani, 2006
29 Metacylis tropica Duran, 1957
30 Rhizodomus tagatzi Strelkow & Wirketis 1950
31 Climacocylis scalaroides Kofoid & Campbell 1929
Họ Xystonellidae Kofoid & Campbell, 1929
32 Favella azorica Jörgensen, 1924
33 Favella ehrenbergii Jörgensen, 1924
Họ Tintinnidae Claparède & Lachmann 1860
34 Amphorellopsis acuta Kofoid & Campbell, 1929
35 Amphorides quadrillineata Jörgensen, 1924
36 Eutintinnus angustatus Daday, 1887
37 Eutintinnus apertus Kofoid & Campbell, 1929
38 Eutintinnus lususundae Kofoid & Campbell, 1929
39 Eutintinnus stramentus Kofoid & Campbell, 1929
40 Eutintinnus sp
Tổng
Ghi chú: + Loài có mặt; 1 Vùng biển vịnh Hạ Long – Bái Tử Long; 2 Vùng biển
ven bờ miền Nam Việt Nam (Shirota, 1966); 3 Ghi nhận mới cho Việt Nam.
Từ kết quả trong bảng 3.1 cho thấy, trong tổng số 40 loài được xác định ở vùng
nghiên cứu, có 13 loài phân bố ở vịnh Hạ Long – Bái Tử Long đã được ghi nhận ở
vùng biển ven bờ phía Nam Việt Nam [25]
Trang 40Trong số 13 giống và 40 loài đã xác định, có 5 giống (Wangiella, Leprotintinnus, Rhizodomus, Climacocylis, Amphorides ) và 27 loài (trong đó có 2 loài Codonellopsis sp.
và Eutintinnus sp chưa định danh được loài) được ghi nhận mới cho khu vực biển vịnh
Hạ Long – Bái Tử Long nói riêng và cho thành phần loài động vật nổi biển Việt Namnói chung (bảng 3.1)
Trong khu vực nghiên cứu, các loài Leprotintinnus nordqvisti, Tintinnopsis toncantinensis, T karajacensis, T radix, T nucula, T beroidea, T mortensenii, Amphorellopsis acuta và Eutintinnus lususundae là những loài tương đối phổ biến,
xuất hiện thường xuyên ở các trạm cũng như các tháng trong năm Trong khi đó,
các loài như Climacocylis scalaroides, Tintinnopsis dadayi, T spiralis, T campanula, T parva, Rhizodomus tagatzi, Tintinnidium mucicola, Amphorides quadrillineata lại ít xuất hiện trong các mẫu đã thu và số lượng cũng không nhiều
Trong số 7 họ thuộc bộ Tintinnida ở khu vực nghiên cứu, hai họ Metacylididae
và Tintinnidae có số giống nhiều nhất (đều với 3 giống) trong tổng số 13 giống đãxác định (đều chiếm hơn 23%) Hai họ Tintinnidiidae và Codonellopsidae, mỗi họ
có 2 giống, cùng chiếm hơn 15% Ba họ còn lại Dictyocystidae, Codonellidae vàXystonellidae có số giống thấp nhất, với mỗi họ chỉ gặp 1 giống, chiếm gần 8%(bảng 3.2)
Bảng 3.2 Đa dạng giống, loài thuộc các họ của bộ Tintinnida