Câu 1. Chất lượng và đặc điểm của chất lượng.Khái niệm “Chất lượng”: Chất lượng là tập hợp các đặc điểm của một sản phẩm nhằm tạo cho sản phẩm đó có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn”.Theo tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, đưa ra định nghĩa sau:“Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”.Từ định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm sau đây của khái niệm chất lượng:1.Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu. Nếu một sản phẩm vì lý do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại. Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình.2.Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng.3.Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phi xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể. Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan, ví dụ như các nhu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội.4.Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng. Hoặc có khi chỉ có thể phát hiện được chúng trong quá trình sử dụng (nhu cầu tiềm ẩn).5.Chất lượng không chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà ta vẫn hiểu hàng ngày. Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình.Câu 2. Một số phương pháp quản lý chất lượng.Câu 3. Những tồn tại trong quản lý chất lượng trong xây dựng.Câu 4. Những tồn tại trong quản lý chất lượng xây trong trong các giai đoạn: khảo sát, thiết kế thi công.Câu 6. Trách nhiệm của chủ đầu tư, tư vấn thiết kế, doanh nghiệp xây dựng trong giai đoạn thực hiện đầu tư.Câu 5. Nội dung thiết kế cơ sở của dự án.Câu 7. Quản lý chất lượng trong giai đoạn hoàn thành bàn giao công trình.Câu 8. Cấu trúc của Quy chuẩn xây dựng Việt Nam.Câu 9. Tính pháp lý giữa tiêu chuẩn xây dựng và quy chuẩn xây dựng.Câu 10. Nêu các giai đoạn và các bước xây dựng ISO.Câu 11. Các loại tài liệu về chất lượng.Câu 12. Trách nhiệm của lãnh đạo trong quản lý chất lượng theo ISO.
Trang 1CÂU HỎI ÔN TẬP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TRONG XÂY DỰNG Câu 1 Chất lượng và đặc điểm của chất lượng.
Khái niệm “Chất lượng”: Chất lượng là tập hợp các đặc điểm của một sản phẩm nhằm tạo cho sản phẩm đó có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn”
Theo tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, đưa ra định nghĩa sau:
“Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”
Từ định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm sau đây của khái niệm chất lượng:
1 Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu Nếu một sản phẩm vì lý do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình
2 Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện
sử dụng
3 Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phi xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan, ví dụ như các nhu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội
4 Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng Hoặc có khi chỉ có thể phát hiện được chúng trong quá trình sử dụng (nhu cầu tiềm ẩn)
5 Chất lượng không chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà ta vẫn hiểu hàng ngày Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình
Câu 2 Một số phương pháp quản lý chất lượng.
Chất lượng không tự sinh ra; chất lượng không phải là một kết quả ngẫu nhiên,
nó là kết quả của sự tác động của hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau
Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này
“Quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng.”
Trang 21 Kiểm tra chất lượng
Một phương pháp phổ biến nhất để đảm bảo chất lượng sản phẩm phù hợp với quy định là bằng cách kiểm tra các sản phẩm và chi tiết bộ phận nhằm sàng lọc và loại
ra bất cứ một bộ phận nào không đảm bảo tiêu chuẩn hay quy cách kỹ thuật
Theo định nghĩa, kiểm tra chất lượng là hoạt động như đo, xem xét, thử nghiệm, định cỡ một hay nhiều đặc tính của đối tượng và so sánh kết quả với yêu cầu nhằm xác định sự phù hợp của mỗi đặc tính Như vậy kiểm tra chỉ là một sự phân loại sản phẩm đã được chế tạo, một cách xử lý “chuyện đã rồi” Nói theo ngôn ngữ hiện nay thì thì chất lượng không được tạo dựng nên qua kiểm tra
Vào những năm 1920, người ta đã bắt đầu chú trọng đến những quá trình trước
đó, hơn là đợi đến khâu cuối cùng mới tiến hành sàn lọc sản phẩm Khái niệm kiểm soát chất lượng (Quality Control – QC) ra đời
2 Kiểm soát chất lượng
Theo định nghĩa, Kiểm soát chất lượng là các hoạt động và kỹ thuật mang tính tác nghiệp được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng
Để kiểm soát chất lượng, kiểm soát được mọi yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng Việc kiểm soát này nhằm ngăn ngừa sản xuất ra sản phẩm khuyết tật
3 Kiểm soát Chất lượng Toàn diện
Thuật ngữ Kiểm soát chất lượng toàn diện (Total quality Control – TQC) được Feigenbaum định nghĩa như sau:
Kiểm soát chất lương toàn diện là một hệ thống có hiệu quả để nhất thể hóa các
nỗ lực phát triển, duy trì và cải tiến chất lượng của các nhóm khác nhau vào trong một
tổ chức sao cho các hoạt động marketing, kỹ thuật, sản xuất và dịch vụ có thể tiến hành một cách kinh tế nhất, cho phép thỏa mãn hoàn toàn khách hàng
4 Quản lý Chất lượng toàn diện
Total quality management – TQM được định là một phương pháp quản lý của một tổ chức, định hướng vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên và nhằm đem lại sự thành công dài hạn thông qua sự thỏa mãn khách hàng và lợi ích của mọi thành viên của công ty đó và của xã hội
Mục tiêu của TQM là cải tiến chất lượng sản phẩm và thỏa mãn khách hàng ở mức tốt nhất cho phép Đặc điểm nổi bật của TQM so với các phương pháp quản lý chất lượng trước đây là nó cung cấp một hệ thống toàn diện cho công tác quản lý và cải tiến mọi khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động sự tham gia của mọi
bộ phận và mọi cá nhân để đạt được mục tiêu chất lượng đã đạt ra
Câu 3 Những tồn tại trong quản lý chất lượng trong xây dựng.
Trang 3Quản lý chất lượng công trình xây dựng là tập hợp những hoạt động của cơ quan có chức năng quản lý thông qua Kiểm tra chất lượng và bảo đảm chất lượng trong tất cả các giai đoạn chuẩn bị đầu tư; thực hiện đầu tư; kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác và sử dụng
Những tồn tại hiện nay trong lĩnh vực quản lý hoạt động xây dựng:
Thứ nhất, Năng lực và ý thức trách nhiệm của chủ đầu tư, ban quản lý dự án, các tổ chức tư vấn, các doanh nghiệp thi công chưa đáp ứng yêu cầu quản lý
- Chủ đầu tư (BQL DA) còn thiếu năng lực chuyên môn và nghiệp vụ quản lý, công tác QLCL ở đây lỏng lẻo và nặng về hình thức
- Tư vấn xây dựng về khảo sát, thiết kế cũng hạn chế về kinh nghiệm và năng lực chuyên môn dẫn tới các khiếm khuyết gây sự cố công trình
- Các doanh nghiệp thi công xây dựng còn chưa chú trọng bảo đảm yếu tố chất lượng, chưa xem chất lượng là yếu tố cơ bản của cạnh tranh, giữ gìn thương hiệu trong cơ chế thị trường và sử dụng nhân lực lao động chưa qua đào tạo, tay nghề không phù hợp với công việc
Thứ hai, Hệ thống quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng ở các địa phương thực sự bất cập về năng lực và tổ chức
- Theo kết quả điều tra ở 81 cơ quan QLNN: Sở Xây dựng ở 40 địa phương (49,38%) được giao trách nhiệm giúp Chủ tịch Tỉnh thống nhất quản lý công tác QLNN về chất lượng công trình xây dựng; ở 41 địa phương (50,62%) địa phương là
do các sở Xây dựng chuyên ngành cùng quản lý
- Theo những số liệu thống kê 5 năm gần đây, các sự cố công trình hoặc sự xuống cấp sớm đều là các công trình thuộc dự án nhóm B và nhóm C (do địa phương quản lý)
- Như trong năm 2003, sự cố công trình xảy ra trong nhóm C (24 sự cố công trình với 0,2% tổng số công trình thuộc nhóm) gấp 10 lần so với nhóm A (2 sự cố với 0,02%) và gấp 3 lần ở nhóm B (7 sự cố với 0,07%) Con số này cho thấy, lực lượng quản lý nhà nước về chất lượng công trình ở các địa phương còn rất yếu và chống chéo
Thứ ba, Việc thực thi pháp luật trong thực tế còn thấp, các quy định được thực hiện ở các giai đoạn mang tính chiếu lệ, hình thức và không có người chịu trách nhiệm chính (Các chủ đầu tư các dự án nguồn vốn ngân sách Nhà nước)
- Có những dự án sử dụng vốn ngân sách, tổng mức đầu tư được lập và phê duyệt cao, khi triển khai cụ thể, chủ đầu tư thấy dư nguồn vốn thì cố gắng tận dụng
- Ngược lại, có dự án do không lường hết được các yếu tố khi lập báo cáo khả thi nên tổng mức đầu tư được duyệt thấp, lúc triển khai thiết kế, dự toán thì vượt tổng mức đầu tư
Trang 4- Nguy hiểm hơn, do tâm lý “đi xin” mà một số chủ đầu tư cố tình lập thấp tổng mức đầu tư nhằm hạ nhóm từ B xuống C (hoặc nguy hiểm hơn là từ A xuống B) để giảm nhẹ hàng rào pháp lý, thực hiện mục tiêu trước mắt là được chấp thuận đầu tư
Thứ tư, Các cán bộ giám sát chưa được đào tạo, rèn luyện những tố chất cần thiết cho nghề nghiệp, cũng như sự hiểu biết về pháp luật, kiến thức quản lý, trình độ chuyên môn
Thứ năm, Lãnh đạo của các chủ thể (OPC) thường ít cập nhật kiến thức và không hiểu thấu đáo các chế độ quản lý mới, thay vào đó chủ yếu hô hào và dùng quyền lực để phủ quyết
Mặc dù thời gian qua các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề quản lý chất lượng công trình xây dựng đã được ban hành khá đầy đủ, nhưng thực tế vẫn còn những trường hợp công trình kém chất lượng, để xảy ra sự cố
Câu 4 Những tồn tại trong quản lý chất lượng xây trong trong các giai đoạn: khảo sát, thiết kế thi công.
Quản lý chất lượng công trình xây dựng là tập hợp những hoạt động của cơ quan có chức năng quản lý thông qua Kiểm tra chất lượng và bảo đảm chất lượng trong tất cả các giai đoạn chuẩn bị đầu tư; thực hiện đầu tư; kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác và sử dụng
Mặc dù thời gian qua các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề quản lý chất lượng công trình xây dựng đã được ban hành khá đầy đủ, nhưng thực tế vẫn còn những trường hợp công trình kém chất lượng, để xảy ra sự cố
Vậy Quản lý chất lượng công trình xây dựng phải bắt đầu từ con người, nó quyết định trình độ, năng lực quản lý của các chủ thể trực tiếp tham gia xây dựng
1 Giai đoạn khảo sát
Không theo tiêu chuẩn kỹ thuật nên đánh giá sai các lớp đất dẫn tới giải pháp móng không phù hợp
Kỹ sư xây dựng và kỹ sư địa chất công trình không có sự hiểu biết lẫn nhau
- Kỹ sư xây dựng chỉ quan tâm tới giá trị cường độ tiêu chuẩn của đất nền (RTC)
- Kỹ sư địa chất lại không nhìn nền dưới tác dụng của công trình xây dựng Năng lực của cá nhân và tổ chức khảo sát không tương xứng
2 Giai đoạn thiết kế
- Thiết kế nền móng:
+ Không tính hoặc tính không đúng độ lún công trình
+ Chọn sai giải pháp nền móng
+ Biện pháp gia cố nền không thích hợp
Trang 5+ Bố trí nhiều dạng móng trong một công trình, móng đặt ở những độ sâu khác nhau
+ Móng đặt trên nền không đồng nhất
+ Móng đặt trên nền đất dốc có mặt trượt
- Thiết kế phần kết cấu:
+ Chọn sơ đồ sai hoặc quan niệm sai về sơ đồ làm việc kết cấu
+ Bố trí thép không hợp lý
+ Giảm tiết diện làm việc của cấu kiện bê tông cốt thép
+ Thiết kế cải tạo sửa chữa nhưng hiểu sai hoặc hiểu không đầy đủ về kết cấu sửa chữa
+ Thiết kế công trình nhưng không tính đến hoặc hiểu không đúng tác động
ăn mòn của môi trường
- Người thiết kế không chỉ rõ nội dung cần bảo trì
3 Giai đoạn thi công
- Thi công nền móng: Không có hiểu biết và kinh nghiệm thi công gia cố nền, thi công móng
- Thi công kết cấu trong môi trường ăn mòn, nhưng không có kiến thức đầy đủ
về tác động của ăn mòn
- Không có những phát hiện sai sót trong quá trình thi công
Câu 5 Nội dung thiết kế cơ sở của dự án.
Thiết kế cơ sở của dự án là một bước trong quản lý chất lượng giai đoạn chuẩn
bị đầu tư
Nội dung thiết kế cơ sở của dự án phải thể hiện được giải pháp thiết kế chủ yếu, đảm bảo đủ điều kiện để xác định tổng mức đầu tư và triển khai các bước thiết kế tiếp theo, bao gồm thuyết minh và các bản vẽ
- Thuyết minh công nghệ: Giới thiệu tóm tắt phương án công nghệ và sơ đồ công nghệ; danh mục thiết bị công nghệ với các thông số kỹ thuật chủ yếu liên quan đến thiết kế xây dựng
- Thuyết minh xây dựng: Khái quát về tổng mặt bằng, giới thiệu tóm tắt đặc điểm tổng mặt bằng, cao độ và tọa độ xây dựng; hệ thống hạ tầng kỹ thuật và các điểm đầu nối; diện tích sử dụng đất, diện tích xây dựng, diện tích cây xanh, mật độ xây dựng, hệ thống sử dụng đất, cao độ san nền và các nội dung cần thiết khác như: Đối với công trình xây dựng theo tuyến; Đối với công trình có yêu cầu kiến trúc
Trang 6- Phần kỹ thuật: giới thiệu tóm tắt đặc điểm địa chất công trình, phương án gia
cố nền, móng, các kết cấu chịu lực chính, hệ thống kỹ thuật và hạ tầng kỹ thuật của công trình, san nền, đào đắp đất; danh mục các phần mềm sử dụng trong thiết kế;
- Giới thiệu tóm tắt phương án phòng chống cháy, nổ và bảo vệ môi trường;
- Dự tính khối lượng các công tác xây dựng, thiết bị để lập tổng mức đầu tư và thời gian xây dựng công trình
Câu 6 Trách nhiệm của chủ đầu tư, tư vấn thiết kế, doanh nghiệp xây dựng trong giai đoạn thực hiện đầu tư.
Giai đoạn thực hiện đầu tư là giai đoạn thứ hai cần quản lý chất lượng của một
dự án xây dựng
Trong đó, trách nhiệm của chủ đầu tư, tư vấn thiết kế, doanh nghiệp xây dựng như sau:
1 Trách nhiệm của Chủ đầu tư:
- Giai đoạn chuẩn bị thi công:
+ Lập hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với yêu cầu của dự án
+ Kiểm tra các điều kiện khởi công công trình (Thông đường, điện, nước, giải phóng mặt bằng và chất lượng máy)
+ Kiểm tra điều kiện năng lực của các nhà thầu so với hồ sơ dự thầu
- Giai đoạn thực hiện thi công xây lắp:
+ Kiểm tra hệ thống quản lý chất lượng của nhà thầu có phù hợp với yêu cầu nêu trong hợp đồng
+ Kiểm tra sự phù hợp với thiết bị thi công và nhân lực của nhà thầu so với
hồ sơ dự thầu
+ Kiểm tra vật liệu, cấu kiện, sản phẩm xây dựng thông qua chứng chỉ chất lượng nơi sản xuất và kết quả phòng thí nghiệm hợp chuẩn
+ Kiểm tra thiết bị công trình và công nghệ trước khi lắp đặt thông qua chứng chỉ chất lượng nơi sản xuất và kết quả kiểm định chất lượng thiết bị
+ Kiểm tra biện pháp thi công, an toàn lao động cho công trình và cho các công trình lân cận
+ Kiểm tra về chất lượng, khối lượng, tiến độ của từng bộ phận, từng giai đoạn xây lắp, từng hạng mục công trình
2 Trách nhiệm của Tư vấn thiết kế:
- Thiết kế phải tuân thủ quy chuẩn, tiêu chuẩn, nhiệm vụ thiết kế và hợp đồng giao nhận thầu
Trang 7- Người chủ nhiệm thiế kế và các chủ trì thiết kế phải chịu trách nhiệm cá nhân
về chất lượng sản phẩm do mình làm ra
- Tổ chức tư vấn thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế kỹ thuật thi công chịu trách nhiệm giám sát tác giả trong quá trình thi công
- Tổ chức tư vấn thiết kế không được giao lại toàn bộ hợp đồng hoặc phần chính của nội dung hợp đồng cho một tổ chức tư vấn thiết kế khác
3 Trách nhiệm của Doanh nghiệp xây dựng:
- Lập hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với yêu cầu hợp đồng giao nhận thầu
- Báo cáo đầy đủ quy trình, phương án và kết quả kiểm tra chất lượng của vật liệu, cấu kiện, sản phẩm xây dựng với chủ đầu tư (bên A) để cùng phối hợp kiểm tra
và giám sát
- Nghiệm thu nội bộ và lập bản vẽ hoàn công các công tác thi công xây lắp, chạy thử thiết bị, hạng mục công trình hoàn thành và công trình hoàn thành
Câu 7 Quản lý chất lượng trong giai đoạn hoàn thành bàn giao công trình.
1 Bảo hành công trình:
- Trách nhiệm của chủ đầu tư: Kiểm tra tình trạng sử dụng công trình, phát hiện hư hỏng để yêu cầu sửa chữa trong thời gian bảo hành
- Trách nhiệm của doanh nghiệp xây dựng:
+ Doanh nghiệp xây dựng chỉ thực hiện sửa chữa những hư hỏng do mình gây ra trong thời gian bảo hành
+ Doanh nghiệp xây dựng không chịu trách nhiệm bảo hành khi: Các hư hỏng được xem không phải do lỗi của doanh nghiệp; Các bộ phận, hạng mục hoặc công trình bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc tháo dỡ do chủ đầu tư vi phạm pháp luật về xây dựng
- Thời gian bảo hành:
+ 24 tháng đối với công trình quan trọng và công trình nhóm A
+ 12 tháng đối với công trình khác
- Mức tiền đóng bảo hành: Tính theo tỷ lệ phần trăm (%) của giá trị khối lượng xây lắp hạng mục công trình trong thời gian bảo hành
+ Đối với công trình có thời hạn bảo hành tối thiểu 24 tháng là 3%
+ Đối với công trình có thời hạn bảo hành tối thiểu là 12 tháng là 5%
2 Bảo trì công trình:
- Trách nhiệm bảo trì:
Trang 8+ Nhà nước ủy quyền cho chủ quản lý sử dụng công trình theo dõi và tuân thủ các chỉ dẫn kỹ thuật trong quy trình bảo trì do tổ chức tư vấn lập Chủ quản lý sử dụng chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bảo trì theo quy định
+ Nếu là hợp đồng cho thuê thì người cho thuê sử dụng công trình phải chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bảo trì theo quy định
- Cấp bảo trì: Duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa nhỏ, sửa chữa vừa, sửa chữa lớn Cần thực hiện bảo hành cho những cấp bảo trì trên
- Thời hạn bảo trì: công trình được tính từ ngày nghiệm thu đưa công trình vào
sử dụng cho đến hết niên hạn sử dụng công trình
3 Sự cố công trình:
- Chủ đầu tư hoặc chủ quản lý sử dụng công trình lập báo cáo sự cố khi công trình đang thi công hoặc đang vận hành khai thác
- Báo cáo được lập trong thời hạn 24 giờ sau khi xảy ra sự cố và gửi cho cơ quan quản lý Nhà nước về xây dựng thuộc UBND tỉnh hoặc khi có thiệt hại về người cần báo cáo cho Bộ xây dựng
- Trước khi thu dọn hiện trường sự cố cần phải lập hồ sơ sự cố công trình, trường hợp khẩn cấp cứu người bị nạn hoặc ngăn ngừa sự cố xảy ra thảm họa tiếp theo cần phải quay phim, chụp ảnh, ghi âm để làm chứng cứ
Câu 8 Cấu trúc của Quy chuẩn xây dựng Việt Nam.
Quy chuẩn xây dựng là văn bản quy định các yêu cầu kỹ thuật tối thiểu, bắt buộc phải tuân thủ đối với mọi hoạt động xây dựng và các giải pháp, các tiêu chuẩn được sử dụng để đạt các yêu cầu đó
Quy chuẩn xây dựng Việt Nam có cấu trúc 3 cấp:
- Mục tiêu
- Các yêu cầu kỹ thuật
- Các giải pháp được chấp thuận
Nghiệm thu,
sử dụng
Hết bảo hành
Tuổi thọ công trình
t
Trang 91 Mục tiêu của Quy chuẩn xây dựng:
Mục tiêu của Quy chuẩn xây dựng là tạo hành lang pháp lý kỹ thuật nhằm đảm bảo quá trình phát triển xây dựng đạt hiệu quả về mọi mặt, hạn chế các tác động có hại và đảm bảo các yêu cầu tối thiểu sau:
- Bảo vệ được lợi ích của toàn xã hội, bao gồm: An toàn, bảo vệ sức khỏe, môi trường sống, cảnh quan, sử dụng hợp lý tài nguyên và đảm bảo an ninh quốc phòng
- Bảo đảm lợi ích cho bản thân người đầu tư, sử dụng công trình, bao gồm: an toàn, tiện nghi, bảo vệ sức khỏe
2 Các yêu cầu kỹ thuật của quy chuẩn xây dựng:
- Yêu cầu kỹ thuật tối thiểu: Do quy chuẩn xây dựng được áp dụng chung cho mọi nguồn vốn và mọi hình thức xây dựng nên chỉ kiểm soát các yêu cầu tối thiểu
- Yêu cầu phải có tính khả thi: Là một văn bản pháp quy nên khi quy chuẩn xây dựng được ban hành thì các quy định trong đó hoàn toàn có thể thực thi trên toàn quốc Phải kế thừa hệ thống kỹ thuật, tiêu chuẩn hiện hành và để phù hợp với những tiến bộ về kỹ thuật, kinh tế, xã hội thì sau 4 đến 5 năm phải xoát xét chỉnh sửa cho phù hợp (1997-2002-2007-…)
3 Các giải pháp kỹ thuật được chấp thuận:
- Các giải pháp được nêu trong quy chuẩn xây dựng:
+ Những giải pháp này dựa trên một số tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành
Mục tiêu
Các yêu cầu kỹ thuật
Các giải pháp được chấp thuận
Trang 10+ Khi một tiêu chuẩn nào trong số này được thay thế thì tiêu chuẩn thay thế
sẽ mặc nhiên được chấp thuận trong Quy chuẩn xây dựng (Ví dụ: TCVN-5060-90 và TCXDVN-285-2002)
+ Khi có khác biệt giữa quy chuẩn xây dựng và tiêu chuẩn thì phải tuân theo quy chuẩn xây dựng
- Hoặc những giải pháp không được nêu trong Quy chuẩn xây dựng nhưng được cấp có thẩm quyền thẩm định là đạt yêu cầu Quy chuẩn (các tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn nước ngoài)
- Các thiết kế điển hình của cấu kiện, chi tiết, bộ phận công trình do Bộ Xây dựng ban hành
Câu 9 Tính pháp lý giữa tiêu chuẩn xây dựng và quy chuẩn xây dựng.
Quy chuẩn xây dựng (Pháp chế - bắt buộc):
- Là cơ sở kỹ thuật cho việc lập dự án đầu tư; thiết kế; thẩm định và phê duyệt các dự án về quy hoạch, đồ án thiết kế kỹ thuật công trình xây dựng
- Là quy phạm để kiểm tra quá trình thực hiện xây dựng và nghiệm thu, cho phép sử dụng công trình theo đúng mục đích, tính năng, các quy định về an toàn
Tiêu chuẩn xây dựng (Khuyến khích – tự nguyện):
- Là cơ sở để lập, thẩm tra, phê duyệt thiết kế chi tiết công trình xây dựng
- Là cơ sở để kiểm tra, giám sát, nghiệm thu, cho phép công trình được tiếp tục xây dựng khi chuyển giai đoạn hay đưa vào sử dụng nhằm đảm bảo công trình về kết cấu, ổn định và an toàn trong sử dụng
1 Các tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng theo mục tiêu của quy chuẩn xây dựng Việt Nam.
Trong quy chuẩn xây dựng đã quy định các lĩnh vực và các nội dung sau phải
áp dụng theo tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam:
- Các số liệu khí hậu, tự nhiên đất đai của các vùng trên lãnh thổ, các quy định
về xác định tác động tải trọng, địa chất thủy văn, phân vùng động đất
- Tiêu chuẩn phòng chống cháy nổ, chống sét
- Về bảo vệ môi trường, xác định chất lượng nước sinh hoạt, nước thải, khí thải, tiếng ồn
- Về an toàn công trình dưới tác động của khí hậu địa phương
- Về an toàn lao động
2 Khuyến khích áp dụng các tiêu chuẩn nước ngoài và các giải pháp khoa học tiến bộ.