Nghiên cứu tác phẩm Thí thực cô hồn văn có thể thấy, qua đó, chúng ta thấy một nhu cầu tín ngưỡng tâm linh được phổ biến trong cộng đồng người Việt Nam từxưa đến nay. Hơn nữa, trên thực tế, sau khi thực hiện khoa cúng này đã làm cho con người được bình tâm, củng cố niềm tin và hướng con người vào những giá trị “chân, thiện, mĩ” trong cuộc sống. Đó chính là lý do tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu văn bản tác phẩm Thí thực cô hồn văn” lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Nôm, Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học
g ửi lời cám ơn chân thành đến tất cả mọi người đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình h ọc tập
(Pháp danh Thích Thanh Đạt)
Trang 4L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết
tin, tài li ệu trích dẫn trong luận văn đều đƣợc ghi rõ nguồn gốc
Tác gi ả
(Pháp danh Thích Thanh Đạt)
Trang 6M ỤC LỤC
PH ẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lý do ch ọn đề tài 6
2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 11
3.1 Đối tượng nghiên cứu 11
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu 12
4 Phương pháp nghiên cứu 12
5 Đóng góp của đề tài 12
6 C ấu trúc của đề tài 13
PH ẦN NỘI DUNG 15
Chương 1: 15
KHẢO SÁT VĂN BẢN THÍ THỰC CÔ HỒN VĂN 15
1.1 Mô tả văn bản Thí thực cô hồn văn 15
1.1.1 B ản Cúng văn tạp lục 供文雜錄 15
1.1.2 B ản Hành đồng yếu lược 行童要略 17
1.1.3 Bản Thủy lục toàn tập 水陸全集 20
1.1.4 B ản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 22
1.2 Giám định văn bản Thí thực cô hồn văn 25
1.2.1 S ự giống nhau và khác nhau giữa các bản 25
1.2.2 Vấn đề tên tác phẩm 29
1.2.3 Xác định bản công bố 35
Ti ểu kết chương 1 25
Chương 2: 27
VẤN ĐỀ TÁC GIẢ VÀ KẾT CẤU TÁC PHẨM THÍ THỰC CÔ HỒN VĂN 27
2.1 Vấn đề tác giả Thí thực cô hồn văn 27
2 1.1 Thi ền sư Thanh Phát 27
2.1.2 Hòa thượng Phúc Điền (1784 - 1863) 27
2.1.3 Thi ền sư Chính Đại 42
2.1.4 V ấn đề tác giả bài văn tế tương truyền của Nguyễn Du 30
2.2 Kết cấu chung của tác phẩm Thí thực cô hồn văn 31
2.2.1 Th ỉnh về 32
2.2.2 Th ụ hưởng 45
2.2.3 Chuy ển hóa 47
2.2.4.Hồi hướng 55
Ti ểu kết chương 2 58
Trang 7C hương 3: 59
ĐỐI TƯỢNG THỈNH VÀ Ý NGHĨA NHÂN VĂN CỦA TÁC PHẨM THÍ THỰC CÔ H ỒN VĂN 59
3.1 Gi ới thiệu các đối tượng thỉnh 59
3.1.1 Th ỉnh lục đạo pháp giới 59
3.1.2 Th ỉnh chúng sinh 78
3.2 Ý nghĩa nhân văn của tác phẩm Thí thực cô hồn văn 66
3.2.1 Tinh th ần nhân đạo 66
3.2.2 Giáo d ục hướng thiện 67
Ti ểu kết chương 3 69
PH ẦN KẾT LUẬN 90
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 73
PH Ụ LỤC 77
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Thí th ực cô hồn văn 施食孤魂文 là một bài văn cúng cô hồn được
sử dụng trong các khóa lễ của nhà chùa và trong nhân dân, dùng vào các buổi chiều tối hàng ngày và đặc biệt là được chư Tăng các chùa làm lễ hàng năm vào ngày rằm tháng bảy, mục đích nhân văn là để cho các cô
hồn, ngạ quỷ nhờ phép Phật mà được thoát khỏi nơi tam ác đạo1, được ăn uống tránh đói khổ và các cực hình nơi âm ty, thảnh thơi về cõi Tây phương cực lạc, siêu hóa lên cõi trời thanh tịnh, lạc đạo Thờ cúng cô hồn
là một một nét đẹp văn hóa, truyền thống tín ngưỡng Phật giáo và tín ngưỡng dân gian phổ biến trong cộng đồng người Việt, đây là một tập tục
thể hiện tính nhân văn trong văn hóa Việt Nam, được người Việt gìn giữ
và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Về tác giả của Thí thực cô hồn văn 施食孤魂文, hiện có nhiều ý
kiến khác nhau: phần nhiều ý kiến cho là của Nguyễn Du (1766 - 1820),
có sách ghi là của Hòa Thượng Phúc Điền (1784 - 1862) soạn, có sách ghi
là Thiền sư Thanh Phát biên tập và cũng có sách ghi là do Thiền sư Chính Đại trụ trì chùa Hưng Phúc biên tập Về tiêu đề tác phẩm, hiện cũng có nhiều cách gọi khác nhau Qua luận văn này, chúng tôi sẽ làm sáng tỏ hơn
về tác giả, tên gọi và độ tin cậy của các bản Thí thực cô hồn văn 施食孤魂
文
1 Tam Ác đạo: Địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh
Trang 9Hiện kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VNCHN) có 4 tác
phẩm chép Thí thực cô hồn văn 施食孤魂文, có cả in và chép tay, cụ thể
như sau: 1/ Cúng văn tạp lục 供文雜錄, A.1948/1-2; 2/ Hành đồng yếu
lược 行童要略, AB 608; 3/ Thủy lục toàn tập 水陸全集, 3 bản,
, 2 bản, AB.568 và AB.21 Vấn đề đặt ra là, bản nào là bản hay bản
thường phổ biến nhất trong sinh hoạt nghi lễ hiện nay, rất cần được xử lý
về văn bản học, từ đó chọn bản để biên dịch và công bố
Từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu Thí
th ực cô hồn văn 施食孤魂文, nhằm xác định tính tin cậy khoa học về tác
giả tác phẩm và văn bản tác phẩm là có ý nghĩa khoa học và giá trị thục
tiễn đối với ngành Hán Nôm Thí thực cô hồn văn là một trong những tác
phẩm có giá trị nhân văn và tính ứng dụng cao, tuy đã được biên dịch, nhưng còn nhiều vấn đề cần được trao đổi và xem xét lại Nghiên cứu tác
phẩm Thí thực cô hồn văn có thể thấy, qua đó, chúng ta thấy một nhu cầu
tín ngưỡng tâm linh được phổ biến trong cộng đồng người Việt Nam từ xưa đến nay Hơn nữa, trên thực tế, sau khi thực hiện khoa cúng này đã làm cho con người được bình tâm, củng cố niềm tin và hướng con người vào những giá trị “chân, thiện, mĩ” trong cuộc sống
Đó chính là lý do chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu văn bản tác
phẩm Thí thực cô hồn văn” lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm làm đề
tài luận văn thạc sĩ của mình
2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
Thí th ực cô hồn văn, trước nay được nhiều các nhà học giả, nhà
nghiên cứu đã nghiên cứu trên nhiều phương diện, thể loại văn tế, giá trị
Trang 10nội dung tác phẩm, phiên dịch công bố tác phẩm và đặc biệt là bàn luận
về tác giả của tác phẩm này Chúng tôi mô tả tổng quan như sau:
- Trước hết, phải kể đến tác phẩm Truyện cụ Nguyễn Du của Lê
Thước Nhà in Mạc Đĩnh Chi, Hà Nội, 1924 Trong tác phẩm, Lê Thước
đề cập đến Thí Thực cô hồn văn với tiêu đề Văn chiêu hồn và viết: Văn
bản tác phẩm đầu tiên phát hiện ở chùa Diệc, điều đó cũng nói lên rằng, sáng tác Văn chiêu hồn, trước hết Nguyễn Du nhằm vào mục đích cúng tế Truy ện cụ Nguyễn Du có đăng toàn văn bài Văn chiêu hồn [41]
- Năm 1965, Đàm Quang Thiện đã hiệu chú và xuất bản tác phẩm này với tiêu đề Chiêu hồn thập loại chúng sinh, Sài Gòn, Nam Chi tùng thư xuất bản Tác phẩm có bài đề Tựa của Thượng tọa Thích Tâm Châu, bài gi ới thiệu tác phẩm về giá trị nội dung và nghệ thuật, đăng toàn văn Chiêu h ồn thập loại chúng sinh của Nguyễn Du [12]
- Năm 1965, Xuân Diệu có bài “Đọc Văn chiêu hồn của Nguyễn Du”,
T ạp chí Văn học, (số 11); đã bình luận và giảng giải về giá trị tác phẩm Văn chiêu h ồn của Nguyễn Du [11]
- Hoàng Xuân Hãn (1977) có bài “Lễ vu lan với văn tế cô hồn”, Tạp chí Văn học, (số 2) Tác giả cho biết: “Ngày xưa ở các làng, trên khu đất
làm bãi tha ma để chôn cất những người quá cố, thường có lập một chiếc
am nhỏ để thờ chung những người chết vô thừa nhận Hàng năm vào ba tháng hè, cứ ngày mồng 1 và ngày rằm, người ta nấu cháo đổ vào chiếc lá
đa cuộn tròn, cắm dọc đường để cúng, gọi là cúng bách tính Nhiều nơi vào ngày rằm tháng 7 âm lịch, cũng có tục cúng cô hồn Bài Văn chiêu
h ồn của Nguyễn Du sáng tác để cúng vào dịp này”.[18]
- Năm 1978, Vũ Văn Kính có bài “Mấy ý kiến về việc hiệu đính Văn
t ế thập loại chúng sinh”, Tạp chí Văn học, số 4 Bài viết của tác giả Vũ
Trang 11Văn Kính chủ yếu góp ý về công tác hiệu đính bài Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du [25]
- Năm 1978, Văn tế thập loại chúng sinh, in trong Hợp tuyển thơ văn
Vi ệt Nam - Nửa đầu thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX, Nxb Văn học, Hà
Nội Văn tế thập loại chúng sinh được in trong phần tác phẩm Nguyễn Du
[22]
- Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII - Hết thế kỷ XIX), do
Nguyễn Lộc biên soạn, Nxb Giáo dục, 2001 (tái bản lần thứ 4), tại
Chương tám Nguyễn Du (1766 - 1820), Mục IV có tiêu đề Văn chiêu
h ồn, một bản tổng kết (tr.467), đã nghiên cứu một cách toàn diện Văn chiêu h ồn Trước hết tác giả cho Văn chiêu hồn là của Đại thi hào
Nguyễn Du và viết: “Nhà thơ viết bài văn – thực tế là một bài thơ trữ tình - nhằm mục đích gọi hồn cho những người đã khuất, nhờ phép Phật “siêu linh tịnh độ”, giúp họ thoát khỏi kiếp bơ vơ lạc lõng của các
cô hồn để lên cõi thiên đường 2 Như vậy, Văn chiêu hồn của Nguyễn
Du là một tác phẩm văn tế Trong văn học phong kiến ở nước ta, văn tế
thường viết bằng thể phú Văn chiêu hồn của Nguyễn Du không viết
theo thể phú, cũng không viết theo thể tài của Lê Thánh Tông (Thập
gi ới cô hồn quốc ngữ văn) mà viết bằng thể thơ song thất lục bát” Về
nội dung của tác phẩm, tác giả Nguyễn Lộc phân tích theo hai nội dung: phần nội dung có tính chất phi tôn giáo là phần nói về những con người lúc đang sống và phần nội dung có tính chất tôn giáo là nói về
những con người sau khi chết, nói về những cô hồn [28, tr.467-474]
- Từ điển văn học (bộ mới), Nxb Thế giới, 2004; tại Mục Văn tế
th ập loại chúng sinh viết: “Tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Du Hình thức
mang tính chất tôn giáo trong văn học Việt Nam, đề cập đến xã hội hồn
2 Ch ỉ những câu lược bỏ, không trích dẫn.
Trang 12ma một cách thông cảm nhất Đó là hình ảnh lộn trái của xã hội trần thế, song có khác biệt căn bản ở chỗ không có đối lập giàu nghèo, sang hèn Tác phẩm không sử dụng hình thức văn tế biền ngẫu thường thấy, cũng không viết bằng văn xuôi như Thập giới cô hồn quốc ngữ văn của Lê
Thánh Tông, mà chọn thể loại song thất lục bát vần điệu linh hoạt, truyền
cảm, có tác dụng khơi dậy lòng trắc ẩn từ phía người đọc người nghe”.[45, tr.1972-1973]
- Phạm Tuấn trong bài “Nguyễn Du và Văn tế thập loại chúng sinh trong tương quan văn hóa Phật giáo”, Tạp chí Hán Nôm, (số 2), 2006; đã
đi sâu nghiên cứu lịch sử cúng cô hồn ở Việt Nam, tác giả viết: “Chúng tôi chưa có điều kiện khảo cứu kĩ về khoa cúng thí thực ở Việt Nam,
nhưng theo Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang thì từ thời Trần
đã có nghi thức cúng cô hồn, cho biết Huyền Quang đã từng đăng đàn chẩn tế Đồng thời trong các chùa Việt lưu truyền sách Bảo Đỉnh hành
trì tập hợp khoa nghi bí mật nội truyền do Huyền Quang tổ sư soạn thảo cũng phần nào nói lên việc thịnh hành nghi thức Phật giáo Hơn thế, các
bộ sách sử như Việt sử lược, Đại Việt sử kí toàn thư đều ghi chép đời
Trần nước ta đã xin vua Tống Đại tạng kinh Điều này phần nào nói lên Nghi quỹ thí thực tồn tại ở nước ta từ rất sớm” [44] Tác giả Phạm
Tuấn đã dẫn ý kiến của Lê Thước và Hoàng Xuân Hán cho rằng Văn tế
th ập loại chúng sinh là của Nguyễn Du, nhưng sau khi đối chiếu, nghiên
cứu, tác giả viết: “ không loại trừ khả năng tác giả bài Văn tế thập loại chúng sinh không phải là Nguyễn Du Tuy nhiên có đồng cảm hơn với các học giả đi trước ” [44]
- Nguyễn Du toàn tập (Tập 1) do Mai Quốc Liên và Nguyễn Minh
Hoàng biên khảo, Nxb Văn học, 2015, tác phẩm văn cúng cô hồn của Nguyễn Du có tiêu đề là Chiêu hồn thập loại chúng sinh Viết về quá
trình truyền bản của tác phẩm, nhóm biên khảo viết: “Nguyên tác, thủ
Trang 13bút của Nguyễn Du nay không còn Bản Chính Đại hay Chùa Diệc3 dù sao cũng chỉ là bản sao, đã qua tay san nhuận sửa chữa Từ Nguyễn Du đến bản sao đầu tiên, nay gần một thế kỷ; từ các bản sao này đến nay non một thế kỷ, bài văn đã được nhiều người tham gia hiệu đính Việc khôi phục đúng cái “bản lai diện mục” của Nguyên tác là việc khó Chữ là
chữ của Nguyễn Du, “nhất tự thiên kim” – chữ của người đã viết Truyện
Ki ều, “Khúc Nam âm tuyệt xướng”, và nói như Xuân Diệu có thể làm
“gãy lưng” các nhà khảo cứ, bình luận Về nhan đề bài thơ, chúng tôi
ghi Chiêu hồn thập loại chúng sinh theo như bản Đàm Quang Thiện,
lấy từ các nhan đề Văn chiêu hồn và Văn tế thập loại chúng sinh” [13,
tr.246-253] Sau đó là giới thiệu toàn văn Quốc ngữ Chiêu hồn thập
lo ại chúng sinh [13, tr.254-271]
Năm 2017, Tỳ Kheo Minh Như có cuốn Trung khoa thí thực cô hồn,
Nxb Tôn giáo, Hà Nội Đây là quyển sách chuyên dùng cho việc bố thí pháp giới lục đạo thập loại cô hồn ở những đàn tổ chức chẩn tế long trọng,
nội dung bao quát ý nghĩa sâu rộng từ "Hiển giao" đến "Mật giáo", từ "Sự tướng" đến "Lý tánh" dùng những lời khai thị sâu sắc, nhắc nhở đại chúng tham dự pháp hội cũng như chúng cô hồn thức tỉnh, cuốn sách có giá trị giúp cho âm - dương lưỡng lợi vậy.[34]
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các văn bản tác phẩm Thí thực cô
h ồn văn 施食孤魂文 ghi chép trong tư liệu Hán Nôm hiện lưu giữ tại
VNCHN
3 Hi ện ở số 49, phố Quang Trung, TP Vinh, tỉnh Nghệ An Chùa Di ệc còn gọi là
Trang 143.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là đi sâu nghiên cứu văn bản học và giá trị tác phẩm Thí thực cô hồn văn Việc nghiên cứu văn bản học sẽ đưa đến kết quả chọn ra bản để phiên dịch, công bố và xác định tác giả tác phẩm Thông qua nghiên cứu giá trị nội dung tác phẩm để thấy được tín ngưỡng văn hóa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian cũng như ý nghĩa xã hội của tác phẩm đối với xã hội hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
Ph ương pháp văn bản học, thực hiện các thao tác mô tả văn bản, so
sánh, đối chiếu, phân tích dị văn giữa các văn bản, đưa ra nhận xét về bản
và chọn bản để phiên dịch, công bố và nghiên cứu
Phương pháp phiên dịch học: được áp dụng trong phiên dịch tác
phẩm, nhằm đảm bảo những yếu tố khoa học trong dịch thuật, như “tín, đạt, nhã”
Ph ương pháp phân tích tác phẩm: thông qua phương pháp này chúng
tôi tiến hành tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật văn chương của tác
phẩm
Ngoài ra chúng tôi cũng áp dụng nghiên cứu liên ngành, như tôn giáo học, xã hội học, v.v để đáp ứng được yêu cầu đề tài đặt ra
5 Đóng góp của đề tài
hiện lưu giữ tại VNCHN,
- Nghiên cứu quá trình truyền bản, đối chiếu so sánh, xác định bản đáng tin cậy để biên dịch và xác định tác giả tác phẩm, góp phần vào việc ứng dụng văn bản học Hán Nôm nói chung
Trang 15- Nghiên cứu giá trị nội dung Thí thực cô hồn văn 施食孤魂文, góp
phần nghiên cứu tín ngưỡng tâm linh của cộng đồng người Việt Nam
- Giới thiệu ý nghĩa xã hội, tính nhân văn của tác phẩm trong đời
sống văn hóa tâm linh con người Việt Nam, góp phần tìm hiểu tín ngưỡng văn hóa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian trong việc thờ cúng cô hồn trong xã hội Việt Nam
- Phiên dịch nội dung 3 dị bản tác phẩm Thí thực cô hồn văn 施食孤
魂文
6 C ấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục luận văn kết cấu 3 chương:
Chương 1: Khảo sát văn bản Thí thục cô hồn văn
Thí th ực cô hồn văn hiện lưu giữ tại VNCHN có 4 văn bản (3 bản in và
1 bản chép tay) Chương này, thực hiện nhiệm vụ khảo cứu, phân tích, so sánh văn bản; từ đó xác định hệ bản, văn bản mang tính đại diện để nghiên cứu và công bố
Chương 2: Vấn đề tác giả và kết cấu tác phẩm Thí thực cô hồn văn
Chương này, xác định tác giả tác phẩm Thí thực cô hồn văn hiện lưu
giữ tại VNCHN, với các tiêu đề khác nhau trong các văn bản khác nhau, từ
đó giới thiệu một kết cấu chung đối với tác phẩm Thí thực cô hồn văn
Chương 3: Đối tượng thỉnh và ý nghĩa nhân văn của tác phẩm Thí th ực cô hồn văn
Chương này chúng tôi giới thiệu 13 đối tượng thỉnh (cô hồn), bao gồm các hạng người: từ các bậc đế vương hùng bá, đến khanh tướng vong thân, cung khuê mỹ nữ trẻ sơ sinh chết yểu rồi đến chư vị đói khát cơ nhỡ xin
Trang 16ăn, v.v Từ đó phân tích ý nghĩa nhân văn của tác phẩm Thí thực cô hồn văn trong đời sống văn hóa Việt Nam
Trang 17PHẦN NỘI DUNG Chương 1
KHẢO SÁT VĂN BẢN THÍ THỰC CÔ HỒN VĂN
Chương này, chúng tôi khảo sát các văn bản Thí thực cô hồn văn hiện
lưu giữ tại VNCHN, tiến hành khảo cứu, phân tích, so sánh văn bản; từ đó xác định hệ bản và văn bản mang tính đại diện để nghiên cứu và công bố
1.1 Mô tả văn bản Thí thực cô hồn văn
1.1.1 Bản Cúng văn tạp lục 供文雜錄
Tại VNCHN bản này có 4 bản viết: ký hiệu A 1948/1-2, gồm 438 tr.;
ký hiệu A 3066/1-8: 534 tr; ký hiệu A 3087: 206 tr và ký hiệu A 3124:1 tập 92 tr
Sau khi khảo sát các bản, chúng tôi thấy chỉ có bản A 1948/1-2 chép tác phẩm Thí thực cô hồn văn, sách gồm 2 tập, nhưng nội dung chép tác
phẩm Thí thực cô hồn văn ở tập 1 (tức A.1948/1) Chúng tôi xin giới thiệu
cụ thể nội dung của cả 2 tập A.1948/1-2, để có cái nhìn toàn cảnh
Sách chép tay bút lông mực Tàu, chia 6 hàng, hàng dài nhất 12 chữ Ở tâm sách phần nội dung thứ hai có ghi một người tự là Pháp Trung san bản
Nội dung gồm các khoa cúng:
- B ản A.1948/1 (tập 1)
1/ Thiên địa khoa 天地科 (tr.1a –tr.15a)
2/ Nhương tinh khoa 禳星科 (tr.1a-tr.21b) (Pháp Trung san bản)
3/ Nhương tiễn ôn bộ khoa 禳踐瘟部科 (tr.1a-tr.12b)
4/ Thí thực khoa 施食科 (tr.1a-tr.24b)
Trang 185/ Chiêu hồn văn 招魂文 (chữ viết bút sắt sau) từ tr.1a-tr.16b, nội dung bài văn về cơ bản chép giống Thỉnh âm hồn văn dụng quốc âm 請陰
3/ Trần triều Hưng Đạo khoa 陳朝興道科 (tr.6a- tr.27a)
4/ Vương mẫu văn 王母文 (tr.27b- tr.29b)
5/ Trần triều nhị nữ văn 陳朝二女文 (tr.30a- tr.35b)
6/ Tr ần triều văn 陳朝文 (tr.36a- tr.39a)
7/ Hựu thể 又體 (tr.39b- tr.46a)
8/ Phạm thị nữ tử văn 范氏女子文 (tr.46b- tr.49a)
9/ H ựu thể 又体 (tr.49b-52b)
10/ Lễ tổ cô nghi văn 禮祖姑儀文 (tr.53a- tr.57b)
(tr.57a- tr.60b)
12/ Đức thánh Ủng văn 德聖擁文 (tr.63a- tr.66a)
Trang 1913/ Tổng hỏa bộ khoa 送火部科 (tr.1a- tr.11a)
14/ Gi ải quái khoa 解怪科 (tr.1a- tr.10a)
15/ Khâm thiên giải ách chân kinh 欽天解厄真經 (tr.1a- tr.27b)
16/ L ễ vô thường khoa 禮無常科 (tr.1a- tr.12b)
17/ Nhương Táo quân khoa 禳竈君科 (tr.1a-8a)
có 1 tựa và 1 mục lục Nội dung sách trích yếu những đoạn, những câu ở
Kinh Nh ật tụng để dạy người mới học kinh Phật Có các bài chú, niệm, tán,
kệ, châm Các nghi lễ xuất hành, rửa tay, súc miệng, vào chùa, xem Phật,
đốt đèn, đốt hương, tắm Phật, thí thực Nội dung sách có ghi Thí thực khoa nghi 施食科儀 Sau đây chúng tôi xin mô tả chi tiết nội dung tác phẩm như sau:
- B ản AB.608:
1/ Hành đồng yếu lược mục lục phàm tứ thập mục 行童要略目錄 凡
四十目(tr.1b)
Trang 202/ Hạ đơn chú 下單咒(tr.3a)
3/ Xu ất hành chú 出行咒 (tr.3a) 4/ Tiểu tiện chú 小便咒 (tr.3a) 5/ T ẩy thủ chú 洗手咒 (tr.3b)
6/ Tẩy diện chú 洗面咒 (tr.3b) 7/ Sấu khẩu chú 漱口咒 (tr.3b) 8/ Nh ập tự chú 入寺咒 (tr.4a) 9/ Quán Phật chú 觀佛咒 (tr.4b)
10/ Nhiên đăng chú 然燈咒 (tr.4b)
11/ Nhiên hương chú 然香咒 (tr.4b)
12/ Thủ thủy chú 取水咒 (tr.4b) 13/ L ự thủy chú 濾水咒 (tr.5a) 14/ Dục Phật chú 浴身咒 (tr.5a)
15/ Ẩm thủy chú 飲水咒 (tr.5b)
16/ D ục thân chú 浴身咒 (tr.5b) 17/ Thế phát chú 剃髮咒 (tr.6a) 18/ Xu ất sinh chú 出生咒 (tr.6a) 19/ Tẩy bát chú 洗鉢咒 (tr.6a)
Trang 2126/ Minh chung chú鳴鐘咒 (tr.7b- tr.10a)
27/ Minh mộc bản kệ 銘木板偈 (tr.10a- tr.12a)
28/ Ngũ thể triêu mộ cảnh sách niệm phật 五體朝暮警策念佛 (tr.12a-
33/ Nhị thời niệm thực nhị thể 二時念食二體 (tr.28a- tr.37b)
34/ Thí thực khoa nghi 施食科儀 (tr.38a-tr.47b)
35/ Lâm th ụy niệm phật 臨睡念佛 (tr.48a- tr.51b)
36/ Phương danh 芳名 (tr.51b- tr.53b)
Trang 221.1.3 B ản Thủy lục toàn tập 水陸全集
Tại VNCHN bản này có 3 bản in Bản ký hiệu AC/691/1-6, sách dày
696 tr., có hai niên đại, Mục Thỉnh giám kiều khoa 請鋻橋科 (tr.1a- tr.20b),
ghi năm in Cảnh Thịnh thứ 5 (1797), Mục Tiểu du già thí thực pháp 小瑜伽
施食法, (tr.1a-25b), ghi năm Đinh Mùi niên hiệu Thiệu Trị thứ 7 (1847)
Bản ký hiệu AC.529/1-2 và ký hiệu AC.270/1-2, hai sách đều 840 tr., ghi in
tại năm Đồng Khánh thứ 2 (1887) Sau khi khảo sát, chúng tôi thấy chỉ có bản ký hiệu AC/691/1-6 chép Thí thực cô hồn văn; còn hai bản ký hiệu
AC.529/1-2 và ký hi ệu AC.270/1-2, không ghi Thí thực cô hồn văn, nên
chúng tôi không mô tả và tập trung mô tả bản AC/691/1-6
- B ản AC.691/1, nội dung nhƣ sau:
1/ Tân san minh dương thủy lục tự 新刊冥陽水陸序 (tr.2a - tr.7b) 2/ Phương danh 芳名(tr.8a- tr.8b)
3/ Nghinh sư duyệt định khoa 迎師閱定科(tr.9a- tr.19b)
4/ D ự tiếp linh khoa 預攝靈科 (tr.20a- tr.29b)
5/ Cấp thủy khoa 汲水科 (tr.30a- tr.36b)
6/ T ịnh trù khoa 淨廚科(tr.37a- tr.43b)
7/ Kiến đàn giải uế nghi 建壇解穢儀 (tr.44a- tr.52b)
8/ Cúng tài khoa 供財科 (tr.53a- tr.62b)
- B ản AC.691/2, nội dung nhƣ sau:
Thí th ực cô hồn văn có tiêu đề Tiểu du già thí thực pháp, in trong tập 2
(AC.691/2) Nội dung sách gồm có 2 khoa cúng:
Trang 231/ Thỉnh giám kiều khoa 請鋻橋科 (tr.1a-tr.20b), khoa cúng này đề in
năm Cảnh Thịnh thứ 5 (1797)4,
2/ Tiểu du già thí thực pháp 小瑜伽施食法 (tr.1a-tr.25b), ghi: “Thiệu
Trị thất niên tuế thứ Đinh Mùi nhất dương nguyệt ký vọng Liên Trì giám tự cung tả Bản lưu Thọ Xương huyện Cựu Lâu thôn Liên Trì Hải Hội tự dĩ
Thiệu Trị thứ 7 (1847) Giám tự chùa Liên Trì viết chữ Ván lưu tại chùa Liên Trì Hải Hội thôn Cựu Lâu, huyện Thọ Xương để sau in ấn”
- B ản AC.691/3, nội dung như sau:
1/ Thỉnh xá khoa 請赦科(tr.1a- tr.10b)
2/ Phóng xá khoa 放赦科(tr.1a- tr.10b)
3/ Khai phương khoa 開方科(tr.1a- tr.16b)
4/ Phóng sinh khoa 放生科 (tr.1a- tr.17b)
5/ Phóng đăng khoa 放燈科 (tr.1a- tr.11b)
6/ Giải kết khoa 解結科 (tr.1a- tr.17b)
- B ản AC.691/4, nội dung như sau:
Trang 244/ Phóng sinh khoa 放生科(tr.1a- tr.17b)
5/ Phóng đăng khoa 放燈科(tr.1a- tr.11b)
- B ản AC.691/5, nội dung nhƣ sau:
1/ Mông sơn khoa 蒙山科(tr.1a- tr.52b)
2/ Thăng bảo đài nghi 昇寶臺儀(tr.1 a- tr.4b)
- B ản AC.691/6, nội dung nhƣ sau:
- B ản AB.568, nội dung nhƣ sau:
“Thành Thái thất niên nhuận nguyệt đính san 成泰七年閏月訂刊/
Tháng nhuận năm Thành Thái thứ 7 (1895)” (tr.đầu a)
1/ T ổng tập 總集 (tr đầu b)
Bắc Ninh, Vũ Giàng huyện, Bất Phí tổng, Xuân Lôi xã, Hƣng Phúc tự
Phúc xã Xuân Lôi, tổng Bất Phí, huyện Võ Giàng, Bắc Ninh” (tr.đầu b)
Ứng phó dư biên tiểu dẫn 應赴餘編小引(tr.đầu b)
Trang 25“Phù Ứng phó nhất sự, như Bảo Đường, Ban xá, Điệu thuyền, Triệu linh, Phụ phan, Thỉnh cô hồn đẳng, Quốc âm văn, hướng lai chư phương kiến trai tiếu giả, đa vi hỗ dụng Văn chi cú độc bất minh, từ chương bỉ tục,
ý giả tiền nhân trứ thuật hữu niên, vị phó chi tân, tam sao thất bản, trí thất
kỳ chân hỹ Thành Thái Ất Mùi nhuận, Đại lực gia đính chính, đằng tả thành thiên dụng san vu bản dĩ thọ kỳ lai vân Hưng Phúc tự trụ trì Chính Đại cẩn chí/夫應赴一事。如保塘, 頒赦, 掉船,召靈,附幡,請孤魂等,國音文,向來諸方建齋醮者,多為互用。聞之句讀不明,詞章鄙俗,意者前人著述有年未付之梓,三抄失本,致失其真矣.成泰乙未閏大力加訂正,謄寫成
việc như Bảo đường, Ban xá, chèo thuyền, triệu linh, phụ phan, thỉnh cô
hồn bằng quốc âm từ trước tới nay mọi nơi lập trai tiếu phần nhiều dùng đến, nhưng nghe cú đậu không rõ, văn chương thì thô bỉ Ý là do người viết
ra đã lâu chưa cho khắc in, lại bị tam sao thất bản đến nỗi mất đi chân thực Vào tháng nhuận năm Ất Mùi niên hiệu Thành Thái (1895) Chính Đại tôi gia sức đính chính viết lại đằng tả biên thành thiên lại cho khắc thành ván
để truyền lại về sau lâu dài Chính Đại Trụ trì chùa Hưng Phúc kính cẩn viết
dẫn”
2/ Bảo Đường ca 保塘歌 (tr.1a-tr.5b)
3/ Ban xá bản 頒赦本 (tr.6a-tr.10b)
4/ Tr ạo thuyền bản 掉船本 (tr.11a-tr.14b)
5/ Triệu linh than 召靈嘆 (tr.15a-15b)
6/ Ph ụ linh phan luyện văn 附靈幡練文 (tr.16a-tr.17a)
Trang 267/ Khai quang thức 開光式 (tr.17a-tr.21b)
9/ Hựu quốc âm văn 又國音文 (tr.23a-27b)
10/ Trai đàn ban sắc xá cách 齋壇頒敕赦格 (tr.1a-tr.7a)
11/ Trạo thuyền ca cách 掉船歌格 (tr.7b-tr.10b)
12/ Thiên tiên thánh mẫu công đồng văn 天仙聖母公同文 (tr.1a-tr.3b)
13/ Đệ nhị văn 第二文 (tr.3b-tr.5a)
14/ Cửu trùng văn 九重文 (tr.5a-tr.6a)
15/ Th ủy tinh văn 水晶文 (tr.6a-tr.7a)
16/ Liễu tiên văn 柳仙文 (tr.8b-tr.9b)
17/ Long thần văn 龍神文 (tr.9b-tr.11b)
18/ Tiên dược văn 仙藥文 (tr.11b-tr.14a)
19/ Bách hoa văn 百花文 (tr.14a-tr.16a)
20/ Bồng lai văn 蓬萊文 (tr 16a-tr.16b)
(tr.1a-tr.8b)
22/ Phi Lai t ự phú 飛來寺賦 (8b-10b)
Cuối sách ghi “Đại Nam Thành Thái Bính Thân niên trung thu tiết
Xuân Lôi Hưng Phúc tự chủ nhân Phổ Trai đính san Bản lưu bản tự dĩ
hi ểu hậu ấn (có hai dấu: 1 khắc âm 2 chữ Phổ Trai, 1 dấu Chính Đại)
Trang 27Đạo thuộc Hà Liễu xã Nguyễn Hy Quang phủ phụng thư/大南成泰丙申
nhân chùa Hưng Phúc xã Xuân Lôi, tiết trung thu năm Bính Thân niên
thư”
1.2 Giám định văn bản Thí thực cô hồn văn
Sau khi mô tả các văn bản nội dung có ghi Thí thực cô hồn văn, chúng
tôi tiến hành giám định các văn bản, bước đầu đưa ra một số kết luận sau:
1.2.1 Sự giống nhau và khác nhau giữa các bản
- Bản Cúng văn tạp lục 供文雜錄, ký hiệu A.1948/1-2, bản chép tay,
trong tập 1 (A.1948/1) có chép Thí thực cô hồn văn với tiêu đề Thí thực khoa 施食科 (tr.1a-tr.24b) và Chiêu h ồn văn 招魂文 (chữ viết bút sắt) từ
tr.1a-tr.16b Sau khi khảo cứu, chúng tôi thấy Thí thực khoa 施食科 (A.1948/1) có những phần giống với Thí thực khoa nghi 施食科儀 (tr.38a-
47b) trong bản Hành đồng yếu lược 行童要略 (AB.608), bản in Cụ thể như sau: 1/ Đường thỉnh Lục đạo (chữ Hán), tr.1a của Thí thực khoa 施食科
(A.1948/1) giống nhau hoàn toàn với các trang (tr.37b-38a) của Thí thực
khoa nghi 施食科儀 (AB.608) 2/ Lời phổ khuyến và thần chú, như Phá địa
ng ục chân ngôn, Phả triệu thỉnh chân ngôn, Giải oan kết chân ngôn, Địa
t ạng diệt định chân ngôn, Quán âm diệt tội chướng chân ngôn, Khai yết
h ầu chân ngôn, Tam muội da giới chân ngôn, Biến thực chân ngôn, Cam lộ
th ủy chân ngôn, Nhất tự thủy luân chân ngôn Thần chú gia trì tịnh pháp
Trang 28th ực (tr.8b-13a) của Thí thực khoa 施食科(A.1948/1) giống nhau hoàn toàn
với các trang (tr.38-tr.41a) của Thí thực khoa nghi 施食科儀 (AB.608)
- Bản Cúng văn tạp lục 供文雜錄, ký hiệu A.1948/1-2, bản chép tay,
trong tập 1 (A.1948/1) có chép Thí thực cô hồn văn với tiêu đề Chiêu hồn văn 招魂文 (tr.1a-tr.16b), nội dung bài văn chép về cơ bản giống Hựu quốc
âm văn 又國音文 (tác giả ghi Hựu quốc văn vì trước đó có mục Thỉnh âm
h ồn văn dụng quốc âm 請陰魂用文國音 (tr.21a-22b), trong bản Ứng phó
dư biên tổng tập (ký hiệu AB AB.568 và ký hiệu AB.21); nhưng Chiêu hồn văn 招魂文 (tr.1a-tr.16b) của bản Cúng văn tạp lục (A.1948/1), tiêu đề chữ
Nôm viết bằng bút sắt và là sách chép tay Theo chúng tôi, Chiêu hồn văn
招魂文 (tr.1a-tr.16b), chép trong bản ký hiệu A.1948/1 chỉ dùng để tham
khảo
- Bản Thủy lục toàn tập 水陸全集 (AC.691/1-6), bản in, tại tập 2 (AC.691/2) có chép Thí th ực cô hồn văn với tiêu đề Tiểu du già thí thực pháp 小瑜伽施食法 (tr.1a-tr.25b), có niên đại in năm Đinh Mùi niên hiệu Thiệu Trị thứ 7 (1847), do Giám tự chùa Liên Trì viết chữ, ván khắc lưu tại chùa Liên Trì Hải Hội thôn Cựu Lâu, huyện Thọ Xương (nay thuộc quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) Bản này không trùng với bản nào và không ghi tác
giả biên soạn, nhưng theo tư liệu Hán Nôm mà chúng tôi khảo được thì Tiểu
du già thí th ực pháp 小瑜伽施食法 rất có thể do Phúc Điền Hòa thượng
sáng tác Lý do là: Theo Đại Nam Thiền uyển kế đăng lược lục tự Trần chư
Trang 29vốn có nhan đề trong TMĐY là Thiền uyển truyền đăng lục 禪宛傳燈錄, ký
hiệu VHv.9, quyển Hạ Sách là một bản in gồm 146 trang Đầu sách có đề
“Liên tôn tự Lâm tế phái Sắc tứ Đao điệp Phúc Điền Hoà thượng phần hương biên tập/蓮尊寺臨濟派敕賜刀牒福田和尚焚香編輯/Sắc tứ Đao điệp Phúc Điền Hoà thượng phái Lâm Tế chùa Liên Tôn đốt hương biên tập” Nội dung liên quan đến thân thế, hành trạng của Hoà thượng Phúc Điền, trong sách này có một bản liệt kê các sách vở do Hoà thượng Phúc
Điền từng thực hiện tính đến thời điểm sách Đại Nam Thiền uyển kế đăng lược lục này được in Bản liệt kê có sách Tân tập tiểu du già 新輯小瑜伽, 1
quyển (tr.40a-40b) Còn Phạm Tuấn trong bài nghiên cứu của mình có viết:
Tr ị 4 (1844) đầy đủ nghi tiết cúng thí thực cho cô hồn”5
[44]
- Bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集, tại VNCHN có 2 bản
in (AB.568 AB.21), hai bản cùng in từ một bộ ván in, nhưng bản AB.21 in thiếu phần cuối, nên chúng tôi chọn bản ký hiệu AB.568 để giám định Thí
th ực cô hồn văn in trong Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘 編總集 (AB.568), có tiêu đề Hựu quốc âm văn 又國音文 (tr.23a-27b) (tác giả ghi
H ựu quốc văn vì trước đó có mục Thỉnh âm hồn văn dụng quốc âm 請陰魂
文用國音 (tr.21a-22b), nội dung giống với Chiêu hồn văn 招魂文
(tr.1a-tr.16b), chép bằng bút sắt trong Cúng văn tạp lục 供 文 雜 錄 , tập 1
5 Ở đây, Phạm Tuấn có đôi chút nhầm lẫm, 1844 là năm Hòa thượng Phúc Điền biên soạn xong Tiểu du già thí thực pháp, sau năm 1847 mói đưa khắc in tác phẩm này
Trang 30(A.1948/1) Như chúng tôi đã nêu ở trên, Chiêu hồn văn 招魂文
(tr.1a-tr.16b), chép trong bản ký hiệu A.1948/1 chỉ dùng để tham khảo Do vậy, ở
đây chúng tôi chọn bản Hựu quốc âm văn 又國音文 (tr.23a-27b) in trong Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 (AB.568), là bản tin cậy để
nghiên cứu Ghi là Hựu quốc âm văn 又國音文, vì trước đó là bài Thỉnh âm
h ồn văn dụng quốc âm 請陰魂文用國音 (tr.21a-22b) Theo khảo sát của chúng tôi, H ựu quốc âm văn 又國音文 (tr.23a-27b) in trong Ứng phó dư biên t ổng tập 應赴餘編總集 (AB.568), về cơ bản giống Văn tế thập loại
Ứng phó dư biên tổng tập với tiêu đề Ứng phó dư biên tiểu dẫn 應赴餘編
小引 có ghi thì đây là tác phẩm của Thiền sư Chính Đại, trụ trì tại chùa Hưng Phúc xã Xuân Lôi, tổng Bất Phí, huyện Võ Giàng, Bắc Ninh và cho
khắc in vào Tháng nhuận năm Thành Thái thứ 7 (1895) Tiểu dẫn viết như
sau: “夫應赴一事。如保塘, 頒赦, 掉船,召靈,附幡,請孤魂等,國音文,向來諸方建齋醮者,多為互用。聞之句讀不明,詞章鄙俗,意者前人著述有年未付之梓,三抄失本,致失其真矣.成泰乙未閏大力加訂正,謄寫成篇,用刊
Bảo đường, Ban xá, chèo thuyền, triệu linh, phụ phan, thỉnh cô hồn bằng
quốc âm từ trước tới nay mọi nơi lập trai tiếu phần nhiều dùng đến, nhưng nghe cú đậu không rõ, văn chương thì thô bỉ Ý là do người viết ra đã lâu chưa cho khắc in, lại bị tam sao thất bản đến nỗi mất đi chân thực Vào tháng nhuận
Trang 31năm Ất Mùi niên hiệu Thành Thái (1895) Chính Đại tôi gia sức đính chính viết
lại đằng tả biên thành thiên lại cho khắc thành ván để truyền lại về sau lâu dài Chính Đại trụ trì chùa Hưng Phúc kính cẩn viết dẫn” Như vậy là, “ bài thỉnh
cô hồn bằng quốc âm” chính là Hựu quốc âm văn 又國音文, do Thiền sư Chính Đại đã đính chính viết lại đằng tả biên thành thiên lại cho khắc thành
ván để truyền lại về sau lâu dài Còn bài Văn tế thập loại chúng sinh tương
truyền là của Nguyễn Du, hiện chúng tôi chưa tra cứu được sách Hán Nôm nào
có chép bài này Chúng tôi đoán rằng, Thí thực cô hồn văn là của Thiền sư Chính Đại, việc cho là tương truyền của Nguyễn Du cần xem xét lại
a/ Những công trình nghiên cứu gọi là Văn chiêu hồn, chúng ta phải kể đến, như Lê Thước (1924), trong Truyện cụ Nguyễn Du; Hoàng Xuân Hãn (1977), trong “Lễ vu lan với văn tế cô hồn”, Tạp chí Văn học, (số 2); Xuân
Diệu (1965) “Đọc Văn chiêu hồn của Nguyễn Du”, Tạp chí Văn học, (số
11); Nguyễn Lộc (2001), Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII - Hết
thế kỷ XIX), Nxb Giáo dục, Hà Nội
b/ Những công trình nghiên cứu gọi là Văn tế thập loại chúng sinh, có các nghiên cứu ghi: Vũ Văn Kính (1978), trong bài “Mấy ý kiến về việc hiệu
đính Văn tế thập loại chúng sinh”, Tạp chí Văn học, (số 4); Hợp tuyển thơ văn Việt Nam - Nửa đầu thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX (1978), Nxb Văn
học, Hà Nội; Từ điển văn học (bộ mới), Nxb Thế giới, 2004; Phạm Tuấn
Trang 32(2006), bài “Nguyễn Du và Văn tế thập loại chúng sinh trong tương quan văn
hóa Phật giáo”, Tạp chí Hán Nôm, (số 2)
c/ Cách gọi Chiêu hồn thập loại chúng sinh, Đàm Quang Thiện (1965) Nam Chi Tùng thư xuất bản, Sài gòn
Như vậy, hiện nay chúng tôi mới thống kê được 3 cách gọi là Văn chiêu h ồn, Văn tế thập loại chúng sinh và Chiêu hồn thập loại chúng sinh
của các nhà nghiên đầu thế kỷ XX viết bằng chữ Quốc ngữ
1.2.2.2 Cách gọi tên tác phẩm trong các văn bản Hán Nôm, văn tế cô hồn cũng có nhiều cách gọi khác nhau, cụ thể như sau:
a/ Gọi là Thí thực khoa 施食科 (tr.1a-tr.24b), bản in, trong Cúng văn
t ạp lục 供文雜錄 bản ký hiệu A 1948/1-2, trong A.1948/1, sách lưu trữ tại
tr.25b), bản in trong Thủy lục toàn tập 水陸全集, ký hiệu AC/691/1-6, tại
bản ký hiệu AC.691/2, sách lưu trữ tại VNCHN Mục Tiểu du già thí thực pháp 小瑜伽施食法, 1a-25b, ghi: “Thiệu Trị thất niên tuế thứ Đinh Mùi nhất dương nguyệt ký vọng Liên Trì giám tự cung tả Bản lưu Thọ Xương
Trang 33一陽月既望蓮池監寺恭寫 板留壽昌縣舊樓村蓮池海會寺以曉後印/ Ngày rằm tháng 11 năm Đinh Mùi niên hiệu Thiệu Trị thứ 7 (1847) Giám
tự chùa Liên Trì viết chữ Ván lưu tại chùa Liên Trì Hải Hội thôn Cựu Lâu, huyện Thọ Xương để sau in ấn” Đây là niên đại ấn bản, còn Hòa thượng Phúc Điền soạn tác phẩm này vào năm Thiệu Trị thứ 4 (1844)
d/ Gọi là Chiêu hồn văn 招魂文(tr.1a-tr.16b), bản chép tay, trong Cúng văn tạp lục 供文雜錄 bản ký hiệu A 1948/1-2, trong A.1948/1, sách
lưu trữ tại VNCHN; nhưng dòng tiêu đề này chữ viết bút sắt, do người đời sau ghi thêm vào
đ/ Gọi Tế cô hồn văn 祭孤魂文 (tr.22a), trong Tiểu du già thí thực pháp 小瑜伽施食法 (tr.1a-tr.25b), b ản in, của Thủy lục toàn tập 水陸全集,
ký hiệu AC.691/2
e/ Cách gọi là “Hựu quốc âm văn 又國音文” (tr.23a-27b), tác giả ghi
H ựu quốc âm văn vì trước đó có mục Thỉnh âm hồn văn dụng quốc âm 請
ký hiệu AB.568, sách lưu trữ tại VNCHN Sách có ghi niên đại như sau:
“Thành Thái thất niên nhuận nguyệt đính san 成泰七年閏月訂刊/ Tháng
nhuận năm Thành Thái thứ 7 (1895)” và xuất xứ “Bắc Ninh, Vũ Giàng
Phí, huyện Võ Giàng, Bắc Ninh” do Thiền sư Chính Đại biên tập, hiệu chỉnh Trong bài Ứng phó dư biên tiểu dẫn 應赴餘編小引 (tr.đầu b) viết về
Trang 34tác giả soạn bài văn như sau: “Phù Ứng phó nhất sự, như Bảo Đường, Ban
xá, Điệu thuyền, Triệu linh, Phụ phan, Thỉnh cô hồn đẳng, Quốc âm văn, hướng lai chư phương kiến trai tiếu giả, đa vi hỗ dụng Văn chi cú độc bất minh, từ chương bỉ tục, ý giả tiền nhân trứ thuật hữu niên, vị phó chi tân, tam sao thất bản, trí thất kỳ chân hỹ Thành Thái Ất Mùi nhuận, Đại lực gia đính chính, đằng tả thành thiên dụng san vu bản dĩ thọ kỳ lai vân Hưng Phúc tự trụ trì Chính Đại cẩn chí/夫應赴一事。如保塘, 頒赦, 掉船,召靈,附幡,請孤魂等,國音文,向來諸方建齋醮者,多為互用。聞之句讀不明,詞章鄙俗,意者前人著述有年未付之梓,三抄失本,致失其真矣.成泰乙未閏大力加訂正,謄寫成篇,用刊于板以壽其來云。興福寺住持正大謹識/Ôi! Việc ứng phó các việc như Bảo đường, Ban xá, Chèo thuyền, Triệu linh,
Phụ phan, thỉnh cô hồn bằng quốc âm từ trước tới nay mọi nơi lập trai tiếu
phần nhiều dùng đến, nhưng nghe cú đậu không rõ, văn chương thì thô bỉ
Ý là do người viết ra đã lâu chưa cho khắc in, lại bị tam sao thất bản đến nỗi
mất đi chân thực Vào tháng nhuận năm Ất Mùi niên hiệu Thành Thái (1895) Chính Đại tôi gia sức đính chính viết lại đằng tả biên thành thiên lại cho
khắc thành ván để truyền lại về sau lâu dài Chính Đại trụ trì chùa Hưng Phúc kính cẩn viết dẫn”
Như vậy, hiện nay chúng tôi mới thống kê được 6 cách ghi trong
các văn bản Hán Nôm là Thí thực khoa 施食科 (tr.1a-tr.24b), bản in,
trong Cúng văn tạp lục 供文雜錄, bản ký hiệu A.1948/1; Thí thực khoa nghi 施食科儀 (tr.38a-tr.47b), b ản in, trong Hành đồng yếu lược 行童要略,
ký hiệu AB.608, do Thiền sư Thanh Phát 青發 biên tập; Tiểu du già thí thực
Trang 35pháp 小瑜伽施食法 (tr.1a-tr.25b), bản in trong Thủy lục toàn tập 水陸全集,
bản ký hiệu AC.691/2, do Hòa thƣợng Phúc Điền soạn; Chiêu hồn văn 招魂
文(tr.1a-tr.16b), bản chép tay, trong Cúng văn tạp lục 供文雜錄 bản ký
hiệu A.1948/1; Tế cô hồn văn 祭孤魂文 (tr.22a), trong Tiểu du già thí thực pháp 小瑜伽施食法 (tr.1a-tr.25b), b ản in, của Thủy lục toàn tập 水陸全集,
ký hiệu AC.691/2; và Quốc âm văn dịch từ “Hựu quốc âm văn 又國音文” (tr.23a-27b), trong Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集, ký hiệu
AB.568, do Thiền sƣ Chính Đại biên tập
1.2.2.3 Cách gọi của chúng tôi là Thí thực cô hồn văn 施食孤魂文, trên cơ sở sau đây:
Th ứ nhất, chúng tôi căn cứ vào tiêu đề Thí thực khoa 施食科
(tr.1a-tr.24b), bản chép tay, trong Cúng văn tạp lục 供文雜錄, bản ký hiệu A.1948/1; Thí thực khoa nghi 施食科儀 (tr.38a-tr.47b), bản in, trong Hành đồng yếu lược行童要略, ký hiệu AB.608, do Thiền sƣ Thanh Phát 青發
biên tập; và Tiểu du già thí thực pháp小瑜伽施食法 (tr.1a-tr.25b), in trong
tập 2 (AC.691/2) của Thủy lục toàn tập 水陸全集(AC/691/1-6), do Hòa
thƣợng Phúc Điền soạn Chúng ta thấy, ở ba tiêu đề này đều có thí thực 施
食 Hơn nữa, nội dung bài văn cúng này là cúng vong hồn, ở Quốc âm văn
Trang 36t ổng tập應赴餘編總集, ký hiệu AB.568, do Thiền sư Chính Đại biên tập,
trong câu 126 ghi “Thác lại nhờ hớp cháo lá đa” Trong khi đó theo Hoàng
Xuân Hãn trong bài “Lễ vu lan với văn tế cô hồn”, Tạp chí Văn học, (số 2),
1977 (trang); tác giả cho biết: “Hàng năm vào ba tháng hè, cứ ngày mồng 1
và ngày rằm, người ta nấu cháo đổ vào chiếc lá đa cuộn tròn, cắm dọc
đường để cúng”.[18] Như vậy lấy tên Thí thực 施食, là cái lý thứ nhất
Th ứ hai, Nội dung bài văn là cúng các cô hồn và bài văn tế của Hòa thượng Phúc Điền gọi là Tế cô hồn văn 祭孤魂文 (tr.22a), trong Tiểu du già thí th ực pháp 小瑜伽施食法 (tr.1a-tr.25b), bản in, của Thủy lục toàn tập 水
陸全集, ký hiệu AC.691/2 Về vấn đề này, Hoàng Xuân Hãn trong bài “Lễ
vu lan với văn tế cô hồn”, Tạp chí Văn học, số 2, 1977; tác giả cho biết:
“Ngày xưa ở các làng, trên khu đất làm bãi tha ma để chôn cất những người quá cố, thường có lập một chiếc am nhỏ để thờ chung những người
chết vô thừa nhận” [18] Trong Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII
- Hết thế kỷ XIX), Nguyễn Lộc (2001), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001;
phần Văn chiêu hồn của Nguyễn Du, tác giả Nguyễn Lộc có hẳn một mục
là T ục cúng cô hồn và sự ra đời của bài Văn chiêu hồn [28, tr.467] Hơn
giả ghi Hựu quốc văn vì trước đó có mục Thỉnh âm hồn văn dụng quốc âm
總集, ký hiệu AB.568 Như vậy bài văn này là để cúng các cô hồn, nên
chúng tôi đưa hai chữ cô hồn 孤魂, là cái lý thứ hai
Trang 37Th ứ ba, các tiêu đề những người đi trước đưa ra bằng chữ Quốc ngữ là Văn chiêu hồn, Văn tế thập loại chúng sinh và Chiêu hồn thập loại chúng sinh, thì không có sách Hán Nôm nào ghi Tỳ Kheo Minh Như đã lấy tiêu
đề cuốn sách in gần đây là Trung khoa thí thực cô hồn, Nxb Tôn giáo, Hà
小瑜伽施食法(tr.1a-水陸全集, ký hiệu AC.691/2; cũng như tiêu đề sách Trung khoa thí thực cô
h ồn của Tỳ Kheo Minh Như
1.2.3 Xác định bản công bố
1.2.3.1 Tiêu chí ch ọn
Qua khảo sát các văn bản ghi chép Thí thực cô hồn văn 施食孤魂文,
chúng tôi nhận thấy việc xác định 1 bản công bố gặp rất nhiều khó khăn,
bản hiện đang được lưu hành với những chức năng tâm linh khác nhau
công bố
Tiêu chí tuyển chọn là:
1/Trước hết đó phải là những bản khắc in, có ghi đầy đủ các yếu tố
về soạn giả hoặc người biên tập, năm in và nơi tàng trữ ván in
Trang 382/ Đối với những trùng bản, như Thí thực khoa 施食科, bản chép tay,
(tr.1a-tr.24b), trong Cúng văn tạp lục 供文雜錄, ký hiệu A.1948/1, có
những phần giống với Thí thực khoa nghi 施食科儀, bản in (tr.38a-tr.47b)
Thí th ực khoa nghi trong bản Hành đồng yếu lược, để công bố; hay Chiêu
h ồn văn 招魂文 (chữ viết bút sắt) từ tr.1a-tr.16b, trong Cúng văn tạp lục
文(tr.23a-27b), bản in trong bản Ứng phó dư biên tổng tập, ký hiệu AB AB.568, nhưng Chiêu hồn văn tiêu đề chữ Nôm viết bằng bút sắt và là
sách chép tay, nên chúng tôi chọn Hựu quốc âm văn 又國音文, bản in
trong bản Ứng phó dư biên tổng tập, để công bố
Như vậy, có 3 bản chúng tôi chọn làm những bản để công bố:
1/ Hành đồng yếu lược 行童要略, 1 bản in, ký hiệu AB.608, do Thiền
sư Thanh Phát 青發 biên tập, thợ khắc Nguyễn Văn Diệm xã Quần Phương Trung (nay thuộc huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định) khắc ván Ván tàng bản ở chùa Quế Phương tỉnh Nam Định in năm Bảo Đại thứ 5 (1930) Sách gồm
106 tr, có 1 tựa và 1 mục lục Bài Thí thực cô hồn văn có tiêu đề Thí thực khoa nghi 施食科儀, được chép ở mục 34, tr.38a-tr.47b) Theo chúng tôi được biết, đây là sách dành cho những hành giả tu tập vào các chiều tối hàng ngày, để học thuộc những vấn đề cốt yếu của các khoa nghi
2/ Thủy lục toàn tập 水陸全集, 3 bản in (AC/691/1-6, AC.529/1-2
và AC.270/1- 2), nhưng có bản AC/691/1-6, trong AC.691/2, in Thí thực cô
Trang 39h ồn văn có tiêu đề Tiểu du già thí thực pháp小瑜伽施食法 (tr.1a-tr.25b), in
trong tập 2 (AC.691/2) do Hòa thượng Phúc Điền soạn Được ghi cụ thể như sau: “Thiệu Trị thất niên tuế thứ Đinh Mùi nhất dương nguyệt ký vọng Liên Trì giám tự cung tả Bản lưu Thọ Xương huyện Cựu Lâu thôn Liên Trì
Mùi niên hiệu Thiệu Trị thứ 7 (1847) Giám tự chùa Liên Trì viết chữ Ván lưu tại chùa Liên Trì Hải Hội thôn Cựu Lâu, huyện Thọ Xương để sau in ấn” Theo chúng tôi được biết, đây là bản được các nhà chùa sử dụng trong các trai đàn chẩn tế bạt độ cho cô hồn có tính như Phật giáo gọi là tiểu duyên
3/ Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集, 2 bản in ( AB.568
AB.21), cùng in từ một bộ ván, nhưng ký hiệu AB.21 thiếu phần cuối Do
đó, chúng tôi chọn bản AB.568 làm công bố, Thí thực cô hồn văn có tiêu đề
Qu ốc âm văn tức Hựu quốc âm văn 又國音文 (tr.23a-tr.27b), do Thiền sư Chính Đại biên tập Trang đầu sách ghi: “Thành Thái thất niên nhuận nguy ệt đính san 成泰七年閏月訂刊/ Tháng nhuận năm Thành Thái thứ 7
phó nhất sự, như Bảo Đường, Ban xá, Điệu thuyền, Triệu linh, Phụ phan,
Thỉnh cô hồn đẳng, Quốc âm văn, hướng lai chư phương kiến trai tiếu giả,
đa vi hỗ dụng Văn chi cú độc bất minh, từ chương bỉ tục, ý giả tiền nhân
trứ thuật hữu niên, vị phó chi tân, tam sao thất bản, trí thất kỳ chân hỹ Thành Thái Ất Mùi nhuận, Đại lực gia đính chính, đằng tả thành thiên dụng san vu bản dĩ thọ kỳ lai vân Hưng Phúc tự trụ trì Chính Đại cẩn chí/夫應赴
Trang 40一事。如保塘, 頒赦, 掉船,召靈,附幡,請孤魂等,國音文,向來諸方建齋醮者,多為互用。聞之句讀不明,詞章鄙俗,意者前人著述有年未付之梓,三抄失本,致失其真矣.成泰乙未閏大力加訂正,謄寫成篇,用刊于板以壽其
Ban xá, chèo thuyền, triệu linh, phụ phan, thỉnh cô hồn bằng quốc âm từ trước tới nay mọi nơi lập trai tiếu phần nhiều dùng đến, nhưng nghe cú đậu không rõ, văn chương thì thô bỉ Ý là do người viết ra đã lâu chưa cho khắc
in, lại bị tam sao thất bản đến nỗi mất đi chân thực Vào tháng nhuận năm
Ất Mùi niên hiệu Thành Thái (1895) Chính Đại tôi gia sức đính chính viết
lại đằng tả biên thành thiên lại cho khắc thành ván để truyền lại về sau lâu dài Chính Đại Trụ trì chùa Hưng Phúc kính cẩn viết dẫn” (tr.đầu b) Theo chúng tôi được biết, đây là bản dùng cúng cô hồn vào tháng bảy hàng năm
Công tác văn bản học đối với Thí thực cô hồn văn có ngoại lệ, đó là
chọn 3 bản để công bố cùng bạn đọc tham khảo
Tiểu kết chương 1
Trong luận văn này, tiêu đề tác phẩm ghi là Thí thực cô hồn văn 施食
孤魂文 Đây là lấy ý của Hòa thượng Phúc Điền, từ Tiểu du già thí thực
pháp 小瑜伽施食法(tr.1a-tr.25b) và T ế cô hồn văn 祭孤魂文 (tr.22a), bản
in, trong Thủy lục toàn tập 水陸全集, ký hiệu AC.691/2; cũng như tiêu đề sách Trung khoa thí thực cô hồn của Tỳ Kheo Minh Như
Thí th ực cô hồn văn 施食孤魂文, có 4 tác phẩm (1 chép tay và 3 in),
hiện lưu trữ VNCHN, cụ thể như sau: 1 Cúng văn tạp lục 供文雜錄, chép