1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường THPT thành phố móng cái, tỉnh quảng ninh

134 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 2,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lí do chọn đề tài Trong suốt những năm vừa qua, Việt Nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu góp phần quan trọng trong việc hoàn thành các kế hoạch chiến lược về mọi mặt của đất nước, đặc biệt là mục tiêu “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” của ngành giáo dục. Bên cạnh những thành tựu phát triển, giáo dục Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, yếu kém. Hậu quả của hạn chế này là sự gia tăng phức tạp của hiện tượng xâm hại tình dục trong các trường học, đặc biệt là khối THPT. Đây là mối lo ngại không chỉ của ngành Giáo dục mà còn của toàn xã hội. Tại Việt Nam, xâm hại tình dục hiện nay đang là vấn đề rất nghiêm trọng. Theo thống kê của ngành công an, trong năm 2018 đã xảy ra 1296 vụ xâm hại tình dục trẻ em với 1.233 đối tượng, xâm hại 1.141 em. Những số liệu này cho thấy, xâm hại tình dục đang là vấn đề nhức nhối tại mọi cấp học, lớp học với mức độ gia tăng ngày càng cao và hậu quả ngày càng lớn. Nghiêm trọng hơn, đối tượng phạm tội ngày càng có xu hướng trẻ hóa, mức độ phạm tội ngày càng nghiêm trọng, hành vi bạo lực cũng ngày càng đa dạng hơn. Những hậu quả của việc bị xâm hại tình dục tác động tới cả thể chất, tinh thần, thái độ học tập của học sinh và cả việc giảng dạy của thầy cô giáo. Hậu quả về mặt tâm lý có thể kể đến như các em luôn cảm thấy lo lắng, không tin vào chính bản thân mình và mọi người, nghi ngờ mọi người xung quanh và có xu thế phòng vệ. Nhiều em lại có cảm giác chán nản, tồi tệ về bản thân rồi từ đó dẫn đến hành vi tự hủy hoại bản thân hoặc có thể tự lặp lại hành vi đó đối với người khác. Sự việc này còn gây không khí mất đoàn kết trong lớp học, ảnh hưởng không tốt đến việc học hành của các em; tác động xấu đến môi trường giáo dục của nhà trường; đồng thời gây bức xúc đối với xã hội. Do đó, cần tiến hành và tăng cường công tác giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục học sinh. Để hoạt động này có hiệu quả, công tác quản lý của lãnh đạo nhà trường có vai trò hết sức quan trọng. Ở Thành phố Móng Cái Quảng Ninh, để ngăn ngừa việc xâm hại tình dục xảy ra ở đơn vị mình, nhiều trường THPT trong Thành phố đã có các hình thức, giải pháp khác nhau. Có nhiều hoạt động tuy không mới về nội dung nhưng đã được cải tiến không ngừng về mặt hình thức để thu hút học sinh tham gia nhằm góp phần hạn chế tình trạng trên trong trường THPT. Tuy vậy, nhìn trên diện rộng thì thực trạng công tác quản lý phòng chống xâm hại tình dục trong các trường THPT ở Thành phố Móng

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Út Sáu

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2020

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Thị Bảo Ninh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới Lãnh đạo trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên, các Thầy giáo Cô giáo đã tham gia giảng dạy và cung cấp những kiến thức cơ bản, sâu sắc, tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại nhà trường

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Út Sáu, người

đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, mặc dù bản thân

em đã luôn cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết Kính mong được sự góp ý, chỉ dẫn của các Thầy, các Cô và các bạn đồng nghiệp

Em xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2020

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Thị Bảo Ninh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ x

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG TRÁNH XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài 5

1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 7

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 12

1.2.1 Quản lý 12

1.2.2 Quản lý giáo dục 13

1.2.3 Hoạt động phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh phổ thông 14

1.2.4 Quản lý hoạt động phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh phổ thông 16

1.3 Những vấn đề lý luận về hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục trong trường trung học phổ thông 16

1.3.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh trung học phổ thông 16

Trang 6

1.3.2 Mục đích, ý nghĩa của hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục

cho học sinh trung học phổ thông 18

1.3.3 Nội dung hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông 19

1.3.4 Phương pháp giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông 20

1.3.5 Con đường giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông 23

1.4 Lý luận về quản lý hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông 24

1.4.1 Lập kế hoạch hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông 24

1.4.2 Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông 25

1.4.3 Chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông 27

1.4.4 Đánh giá hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT 31

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông 33

1.5.1 Yếu tố khách quan 33

1.5.2 Các yếu tố chủ quan 34

Tiểu kết chương 1 36

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG TRÁNH XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH 37

2.1 Khái quát về khách thể điều tra và quá trình khảo sát 37

2.1.1 Thực trạng các trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 37

2.1.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 39

2.2 Thực trạng hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục trong trường trung học phổ thông Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 41

Trang 7

2.2.1 Thực trạng nhận thức, kĩ năng phòng tránh xâm hại tình dục của học sinh ở

các trường trung học phổ thông thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 41

2.2.2 Thực trạng thực hiện mục tiêu hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường trung học phổ thông Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 43

2.2.3 Thực trạng nội dung hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường trung học phổ thông Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 46

2.2.4 Thực trạng phương pháp giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường trung học phổ thông Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 50

2.2.5 Thực trạng con đường giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường trung học phổ thông Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 52

2.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường trung học phổ thông Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 56

2.3.1 Thực trạng lập kế hoạch hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 56

2.3.2 Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 59

2.3.3 Thực trạng chỉ đạo thực hiện giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 62

2.3.4 Thực trạng kiểm tra kết quả hoạt động hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 64

2.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 67

2.5 Đánh giá chung công tác quản lý hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 68

2.5.1 Ưu điểm 68

2.5.2 Hạn chế 69

2.5.3 Nguyên nhân 69

Kết luận chương 2 69

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG TRÁNH XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH 71

3.1 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp 71

Trang 8

3.1.1 Đảm bảo nguyên tắc mục tiêu 71

3.1.2 Đảm bảo tính khoa học, toàn diện, hệ thống 71

3.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả, tính khả thi và tính thực tiễn 72

3.1.4 Đảm bảo tính đồng bộ 72

3.2 Biện pháp quản lý hoạt động phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 72

3.2.1 Biện pháp 1: Chỉ đạo xây dựng các con đường giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục học học sinh các trường trung học phổ thông Thành phố Móng Cái - Quảng Ninh 72

3.2.2 Biện pháp 2: Tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên năng lực giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông Thành phố Móng Cái - Quảng Ninh 87

3.2.3 Biện pháp 3: Chỉ đạo phát triển chương trình nhà trường theo định hướng tăng cường giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông 89

3.2.4 Biện pháp 4: Huy động lực lượng giáo dục tham gia phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông Thành phố Móng Cái - Quảng Ninh 91

3.2.5 Biện pháp 5: Chỉ đạo xây dựng phòng tham vấn học đường đáp ứng nhu cầu của học sinh 95

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 97

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 98

3.4.1 Mục tiêu khảo nghiệm 98

3.4.2 Khách thể khảo nghiệm 98

3.4.3 Nội dung khảo nghiệm 98

3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 99

Kết luận chương 3 102

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

2 BGH Ban giám hiệu

3 CBQL, GV, NV Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên

4 CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

5 CMHS Cha mẹ học sinh

6 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

7 CSVC Cở sở vật chất

9 GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

10 GVBM Giáo viên bộ môn

11 GVCN Giáo viên chủ nhiệm

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Thống kê số lượng CBQL, giáo viên và học sinh THPTở các trường THPT

Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 37 Bảng 2.2: Kết quả đánh giá học lực của HS THPT 38 Bảng 2.3: Kết quả đánh giá hạnh kiểm của HS THPT 38 Bảng 2.4 Thực trạng kỹ năng phòng tránh xâm hại tình dục của học sinh ở các

trường trung học phổ thông thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 42

Bảng 2.5: Thực trạng thực hiện mục tiêu hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại

tình dục cho học sinh ở các trường THPT Thành phố Móng Cái,Tỉnh Quảng Ninh 44 Bảng 2.6 : Thực trạng nội dung hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho

học sinhở các trường THPT Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 47

Bảng 2.7: Thực trạng phương pháp giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh

ở các trường THPT Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 50 Bảng 2.8: Thực trạng con đường giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh

ở các trường THPTThành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 53 Bảng 2.9: Thực trạng lập kế hoạch hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục

cho học sinh THPT Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 57 Bảng 2.10: Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình

dục cho học sinh THPT Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 59 Bảng 2.11: Thực trạng chỉ đạo thực hiện giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học

sinh THPT Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 63 Bảng 2.12: Thực trạng kiểm tra kết quả hoạt động hoạt động giáo dục phòng

tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 65 Bảng 2.13: Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục phòng tránh xâm hại

tình dục cho học sinh trung học phổ thông Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 67 Báng 3.1: Một số bài học trong môn sinh học có thể lồng ghép hoạt động giáo dục PT

XHTD 77

Trang 11

Bảng 3.2: Các chủ đề sinh hoạt ngoại khóa gắn với hoạt động phòng tránh xâm

hại tình dục 82 Bảng 3.3: Một số đề tài nghiên cứu khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học phổ

thông theo chủ đề: Giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông 86 Bảng 3.4: Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết của các biện pháp 99 Bảng 3.5 Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp 100

Trang 12

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp 100 Biểu đồ 3.2: Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp 101

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong suốt những năm vừa qua, Việt Nam đã có những bước chuyển mình mạnh

mẽ, đạt được nhiều thành tựu góp phần quan trọng trong việc hoàn thành các kế hoạch chiến lược về mọi mặt của đất nước, đặc biệt là mục tiêu “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” của ngành giáo dục Bên cạnh những thành tựu phát triển, giáo dục Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, yếu kém Hậu quả của hạn chế này là sự gia tăng phức tạp của hiện tượng xâm hại tình dục trong các trường học, đặc biệt là khối THPT Đây là mối lo ngại không chỉ của ngành Giáo dục mà còn của toàn xã hội

Tại Việt Nam, xâm hại tình dục hiện nay đang là vấn đề rất nghiêm trọng Theo thống kê của ngành công an, trong năm 2018 đã xảy ra 1296 vụ xâm hại tình dục trẻ

em với 1.233 đối tượng, xâm hại 1.141 em Những số liệu này cho thấy, xâm hại tình dục đang là vấn đề nhức nhối tại mọi cấp học, lớp học với mức độ gia tăng ngày càng cao và hậu quả ngày càng lớn Nghiêm trọng hơn, đối tượng phạm tội ngày càng có

xu hướng trẻ hóa, mức độ phạm tội ngày càng nghiêm trọng, hành vi bạo lực cũng ngày càng đa dạng hơn

Những hậu quả của việc bị xâm hại tình dục tác động tới cả thể chất, tinh thần, thái độ học tập của học sinh và cả việc giảng dạy của thầy cô giáo Hậu quả về mặt tâm lý có thể kể đến như các em luôn cảm thấy lo lắng, không tin vào chính bản thân mình và mọi người, nghi ngờ mọi người xung quanh và có xu thế phòng vệ Nhiều

em lại có cảm giác chán nản, tồi tệ về bản thân rồi từ đó dẫn đến hành vi tự hủy hoại bản thân hoặc có thể tự lặp lại hành vi đó đối với người khác Sự việc này còn gây không khí mất đoàn kết trong lớp học, ảnh hưởng không tốt đến việc học hành của các em; tác động xấu đến môi trường giáo dục của nhà trường; đồng thời gây bức xúc đối với xã hội Do đó, cần tiến hành và tăng cường công tác giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục học sinh Để hoạt động này có hiệu quả, công tác quản lý của lãnh đạo nhà trường có vai trò hết sức quan trọng

Ở Thành phố Móng Cái - Quảng Ninh, để ngăn ngừa việc xâm hại tình dục xảy

ra ở đơn vị mình, nhiều trường THPT trong Thành phố đã có các hình thức, giải pháp khác nhau Có nhiều hoạt động tuy không mới về nội dung nhưng đã được cải tiến không ngừng về mặt hình thức để thu hút học sinh tham gia nhằm góp phần hạn chế tình trạng trên trong trường THPT Tuy vậy, nhìn trên diện rộng thì thực trạng công tác quản lý phòng chống xâm hại tình dục trong các trường THPT ở Thành phố Móng

Trang 14

Cái vẫn còn không ít mặt hạn chế, bất cập Chính vì vậy, hiện tượng trên vẫn xảy ra và có thể diễn biến phức tạp trong các nhà trường bất cứ lúc nào nếu như từng đơn vị, trường học lơ là, mất cảnh giác đối với vấn đề xâm hại tình dục và bạo lực học đường

Với những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường trung học phổ thông Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh” để nghiên cứu với mong muốn đề xuất một số

biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý giáo dục phòng chống và hạn chế nạn xâm hại tình dục

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh các trường trung học phổ thông Thành phố Móng Cái - Tỉnh Quảng Ninh, đề tài đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Thành phố Móng Cái, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh tại các trường THPT trên địa bàn nghiên cứu

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình quản lý hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh các trường THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh

4 Giả thuyết khoa học

Quản lý hoạt động phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh các trường THPT Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh hiện nay đã đạt được những thành tựu đáng kể, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế trong các hoạt động: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, đánh giá hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh Nếu đề xuất và thực hiện một cách đồng bộ các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường THPT thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh phù hợp với tình hình thực tiễn thì hiệu quả của hoạt động này sẽ được nâng cao

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh các trường THPT

Trang 15

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh

5.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh

và khảo nghiệm tính cần thiết, khả thi của các biện pháp đã đề xuất

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

Đề tài đi sâu nghiên cứu đề xuất các biện pháp của Hiệu trưởng quản lý giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh các trường THPT Thành phố Móng Cái - Tỉnh Quảng Ninh

6.2 Giới hạn về khách thể nghiên cứu

Trong phạm vi đề tài chỉ nghiên cứu trên 3 trường THPT trên địa bàn Thành phố Móng Cái: THPT Trần Phú, THPT Lí Thường Kiệt, THPT Chu Văn An

 Về cán bộ quản lý: nghiên cứu 23 cán bộ quản lý của 3 trường THPT trên địa bàn Thành phố Móng Cái (Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn)

 Về giáo viên: Nghiên cứu trên mẫu 91 giáo viên của 3 trường

6.3 Giới hạn về thời gian

Chúng tôi khảo sát thực trạng quản lý giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh các trường THPT Thành phố Móng Cái - Quảng Ninh trong năm học năm học 2019 - 2020

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

Chúng tôi đã sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, phân loại tài liệu, các văn bản liên quan để xây dựng cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường THPT

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Chúng tôi đã xây dựng bảng hỏi để khảo sát cán bộ quản lý, giáo viên về thực trạng hoạt động, quản lý hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT Thành phố Móng Cái - Tỉnh Quảng Ninh

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu: Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu một

số cán bộ quản lý, giáo viên để bổ sung thêm kết quả nghiên cứu thực trạng hoạt động, quản lý hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT Thành phố Móng Cái - Tỉnh Quảng Ninh

Trang 16

7.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu kế hoạch, chương trình phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường THPT Thành phố Móng Cái - Quảng Ninh để kiểm chứng, bổ sung kết quả nghiên cứu từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

7.2.4 Phương pháp quan sát: Chúng tôi tiến hành quan sát một số hoạt động ngoại khóa của các trường THPT để tìm hiểu thực trạng các con đường giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT

7.2.5 Phương pháp trưng cầu ý kiến chuyên gia: Chúng tôi trưng cầu ý kiến của cán bộ quản lý và các giáo viên có kinh nghiệm ở các trường THPT về tính cần thiết

và khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hai tình dục cho học sinh ở các trường THPT

7.3 Phương pháp thống kê toán học nhằm xử lý số liệu kết quả điều tra

Chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê trong toán học để xử lý các số liệu thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, phụ lục, tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại

tình dục cho học sinh ở trường trung học phổ thông

Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho

học sinh ở các trường Trung học phổ thông Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh

Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho

học sinh ở các trường Trung học phổ thông Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

PHÒNG TRÁNH XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HỌC SINH

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài

Phòng tránh xâm hại tình dục (PT XHTD) là vấn đề đang được toàn xã hội quan tâm, vấn đề chung của toàn cầu, không của riêng quốc gia nào Để tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và giải pháp PT XHTD đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề này Sau đây là một số công trình nghiên cứu về vấn đề PT XHTD nói chung và PT XHTD HS nói riêng

Hướng thứ nhất: Những nghiên cứu về thực trạng xâm hại tình dục trẻ em trên

bình diện chung

Từ năm 1999, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã thực hiện một báo cáo tham vấn

về phòng ngừa lạm dụng tình dục trẻ em và đưa ra định nghĩa xâm hại tình dục trẻ

em, được khá nhiều tài liệu và các nghiên cứu khác tham khảo, trích dẫn lại, đó là:

“xâm hại tình dục trẻ em là việc lôi kéo trẻ em tham gia vào hoạt động tình dục mà trẻ em đó không hiểu một cách đầy đủ, không có khả năng quyết định ưng thuận một cách có hiểu biết, hoặc hành động diễn ra giữa một trẻ em với một người trưởng thành hoặc với một trẻ em khác mà do độ tuổi và mức độ phát triển, người này có mối quan hệ trách nhiệm, tin tưởng hoặc quyền hành với trẻ, và hành động gây ra nhằm thỏa mãn như cầu của người đó” [39]

Cũng theo các tài liệu của các tổ chức quốc tế thì xâm hại tình dục có thể thể hiện dưới nhiều dạng và nhiều mức độ khác nhau, chẳng hạn: Xâm hại trẻ bằng cách đụng chạm (làm tình sử dụng miệng, hôn hít hoặc ôm trẻ theo kiểu tình dục, giao hợp hoặc làm tình qua đường hậu môn,sờ mó vào bộ phận sinh dục của trẻ hoặc bắt trẻ sờ

mó vào bộ phận sinh dục của người lớn hoặc của một đứa trẻ lớn hơn, ép trẻ thực hiện hành vi mại dâm); Xâm hại trẻ bằng cách không đụng chạm (dùng lời nói hoặc tranh ảnh khiêu dâm để làm cho trẻ sốc, làm cho trẻ hưng phấn tình dục hoặc làm cho trẻ quen với tình dục, cho trẻ nghe hoặc nhìn những người khác làm tình, bắt trẻ đứng ngồi theo tư thế gợi dục để chụp ảnh, cho trẻ xem sách báo khiêu dâm) [47]

Tác giả Mukami T Mutua, Ong’ang’a H.M Ouko (2017) trong công trình nghiên cứu (Child abuse influence on Lower Primary SchoolPupil’s Academic

Trang 18

achievement in arural setting in Kenya), đã chỉ ra rằng lạm dụng trẻ em là một hành động gây ra thương tích nghiêm trọng đến thân thể và tra tấn về mặt tinh thần tình cảm vào trẻ em, là cố ý hoặc vô ý và có thể gây nguy hiểm cho thân thể, sức khoẻ, tình cảm, đạo đức và quá trình giáo dục cho trẻ Nghiên cứu này báo động tình trạng trẻ em ở các trường tiểu học bị lạm dụng, nhóm nghiên cứu quan tâm đến việc điều tra lạm dụng trẻ em và những ảnh hưởng của nó đối với thành tích học tập của học sinh tiểu học ở Nyandarua, vùng nông thôn của Kenya Bảng hỏi là công cụ chính được sử dụng để thu thập dữ liệu Kết quả phân tích dữ liệu thu thập được cho thấy, lạm dụng trẻ em về thể chất và tình dục có ảnh hưởng đến thành tích học tập của học sinh Từ đó các khuyến nghị đã được đưa ra về yêu cầu quản lý trường lớp, giáo viên,

đề ra các giải pháp thích hợp có sự phối hợp giữa gia đình - nhà trường và chính quyền địa phương [43]

Trong nghiên cứu của tác giả Allan John Kemboi ((Relationship between child abuse and academic performance in five selected Primary School in Suguta Zone of Samburu County),2013) đã chỉ ra các hình thức lạm dụng trẻ em, nguyên nhân, nhận

thức của cộng đồng đối với lạm dụng trẻ em và ảnh hưởng của lạm dụng trẻ em đối với quá trình học tập của học sinh lứa tuổi tiểu học ở vùng Lorroki, vùng nông thôn nghèo khó của châu Phi Nghiên cứu được tiến hành thông qua khảo sát số liệu với các đối tượng bao gồm học sinh, giáo viên từ 5 trường tiểu học, phụ huynh và chính quyền địa phương Các kết quả nghiên cứu cho thấy lạm dụng trẻ em ở Loroki đã ảnh hưởng tiêu cực đến học tập của học sinh ở trường tiểu học Việc lạm dụng trẻ em đã dẫn đến sự suy giảm hứng thú học tập của học sinh, giảm mức độ biết đọc biết viết của dân số trong vùng, và gia tăng số học sinh bỏ học, gia tăng sự chênh lệch về giới trong tiếp cận giáo dục đối với học sinh nữ [42]

Hướng thứ hai: Những nghiên cứu về phòng tránh xâm hại tình dục ở trẻ em

và giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục ở trẻ em

Tại các quốc gia như Mỹ, Anh, Úc, New Zealand, Thụy Điển đều có những chương trình hướng dẫn học sinh phòng tránh bị xâm hại từ khi trẻ 3 tuổi, và đặc biệt với độ tuổi 5-8 tuổi thì chương trình giáo dục trong nhà trường sẽ có tích hợp nội dung này hoặc thậm chí có hẳn một môn học riêng về giới tính và các mối quan hệ (Sex and Relationship Education) như ở Anh chẳng hạn (Austrian Aids & World Vision, 2014a; b; Goldman, 2013; Sinart King & Lynne Benson, 2006; Tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển, 2014) [1] Các nghiên cứu chuyên sâu đã khẳng định rằng trường học đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giáo dục về giới tính, an toàn cho trẻ vì trong nhiều nền văn hóa, ở nhiều quốc gia thì cha mẹ rất ngần ngại trong

Trang 19

việc giáo dục các nội dung này cho trẻ hoặc bản thân họ cũng không đủ hiểu biết, không đủ kỹ năng để truyền đạt cho con Việc UNESCO (2009) biên soạn một chương trình hoà chỉnh về giáo dục giới tính, an toàn tình dục cho trẻ với sự cố vấn của các chuyên gia và tham khảo kinh nghiệm thực tiễn của trên 30 quốc gia là một thành tựu rất đáng ghi nhận trong công tác giáo dục phòng tránh bị xâm hại tình dục cho trẻ em [44]

Trong công trình nghiên cứu về Giao tiếp giữa mẹ và con về phòng ngừa xâm

hại tình dục trẻ em (Mother-child communication about sexual abuse prevention), tác

giả Walsh, K., Brandon và L., & Chirio, L (2012), cho biết có 212 bà mẹ Australia

đã hoàn thành một cuộc khảo sát trực tuyến về vai trò của giao tiếp giữa mẹ và con về phòng, tránh lạm dụng tình dục trẻ em Theo đó, có 2/3 (67,5%) số người được hỏi đã thảo luận về phòng, tránh lạm dụng tình dục trẻ em với con cái, với tỷ lệ khác nhau tùy theo độ tuổi (cao nhất cho các bà mẹ có con từ 5-12 tuổi) Số lượng các chủ đề được thảo luận với con cái khác nhau tùy theo giới tính của trẻ em (số lượng lớn các chủ đề được thảo luận bởi các bà mẹ với cả trẻ nam và trẻ nữ) và độ tuổi (số lượng lớn các chủ đề được thảo luận bởi các bà mẹ có con từ 5-12 tuổi) Những phát hiện này cung cấp những hiểu biết mới về giao tiếp giữa mẹ và con về phòng, tránh lạm

dụng [45]

1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

Nhìn chung, các nghiên cứu trong nước về vấn đề này cũng khá phong phú nhưng vẫn còn nhỏ lẻ Có thể chia các nghiên cứu trong nước thành các nhóm sau đây:

Nhóm thứ nhất: Những nghiên cứu về thực trạng xâm hại tình dục trẻ em trên

bình diện chung

Trong những năm gần đây, vấn đề xâm hại tình dục trẻ em thu hút sự chú ý của

xã hội Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã đi sâu vào làm rõ thực trạng xâm hại tình dục trẻ em Tác phẩm đầu tiên cần phải nhắc đến là cuốn “Tội phạm và vấn

đề tránh tội phạm (Lứa tuổi vị thành niên)” của nhóm tác giả Lê Văn Cương & cộng

sự (1999) [7] Ở cuốn sách này, các tác giả cho biết một thực tế là ở trường tiểu học, THCS, việc học sinh nam và học sinh nữ trêu ghẹo, cặp đôi nhau, tưởng như là chuyện trẻ con, nhưng đó chính là quấy rối tình dục, rồi đi đến xâm hại tình dục chỉ trong gang tấc Nhóm tác giả đã nêu hiện tượng một số học sinh vào quán karaoke, hẹn nhau “làm thử” Để rồi không ít vụ hiếp dâm trẻ em xảy ra và hiện tượng này không ngừng tăng lên trong những năm gần đây Nạn nhân của các vụ hãm hiếp trẻ

em hầu hết là các em gái trong độ 10 - 13 tuổi, có trường hợp nạn nhân là bé gái 4 - 5

Trang 20

tuổi Nhóm tác giả đã đưa ra minh chứng vào năm 1994 ở TP Hồ Chí Minh có 55 vụ hãm hiếp trẻ em trên tổng số 107 vụ xâm hại tình dục, trong đó có 43 vụ nạn nhân dưới 13 tuổi Phân tích các vụ án cho thấy, “kẻ phạm tội hiếp dâm trẻ em thuộc đủ các tầng lớp xã hội, với những nhóm tuổi khác nhau, hầu hết chưa xây dựng gia đình (66%), mù chữ hoặc học vấn thấp (70%)” Một điều đáng chú ý là trong số 107 vụ nêu trên có 82 vụ do thanh niên ở tuổi 18-30 gây ra, 10 vụ có thủ phạm ở tuổi vị thành niên Đối với các em gái là nạn nhân, sự đau đớn về thể chất và tinh thần sẽ còn

ám ảnh các em lâu dài trong cuộc sống Vì các tác giả tiếp cận dưới góc độ điều tra viên và tội phạm học nên chưa có cái nhìn tổng thể về tâm lý, giáo dục và xã hội học, nên cần tiếp tục có những nghiên cứu đa ngành hơn Hơn thế nữa, ngôn từ phân tích trong tư liệu cũng chưa phù hợp và đảm bảo tính chuyên môn cho những yêu cầu liên

ngành nhất là ngành giáo dục Trong nghiên cứu “Nhận thức, hành vi của trẻ em đường phố đối với những nguy cơ và hành vi xâm hại tình dục trẻ em (Qua khảo sát tại Huế và Hà Nội”), tác giả Lê Thị Linh Chi (2007) cho rằng nhóm đối tượng dễ bị

tấn công nhất với những hình thức xâm hại phổ biến, xu hướng khác biệt về giới trong nguy cơ xâm hại tình dục trẻ Bên cạnh đó, tác giả cũng cho thấy nhận thức của trẻ đường phố về vấn nạn xâm hại tình dục, phản ứng của các em trước thực trạng này và hành vi tìm kiếm sự trợ giúp của trẻ đối với những nguy cơ bị xâm hại tình dục Ngoài ra, tác giả khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của trẻ đường phố trước nguy cơ và hành vi xâm hại tình dục, quá trình tiếp nhận thông tin ngoài xã hội và hiệu quả của các chương trình hành động phòng tránh xâm hại tình dục trẻ em

đã và đang triển khai hiện nay Việc trẻ có nguy cơ bị xâm hại tình dục hay không cũng phụ thuộc vào gia đình [5]

Nhóm thứ hai: Những nghiên cứu về công tác phòng tránh xâm hại tình dục ở

trẻ em và giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục ở trẻ em

Liên quan gần gũi đến giáo dục phòng tránh bị xâm hại cho trẻ em là lĩnh vực giáo dục về giới tính Khảo sát cho thấy khá nhiều đề tài nghiên cứu, luận văn, luận

án về nhận thức, thái độ của giáo viên, phụ huynh về giáo dục giới tính cho học sinh

và thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh (Huỳnh Văn Sơn, 1999; Võ Thị Tường

Vy, 1999, Nguyễn Văn Phương, 2003; Nguyễn Thị Phương Nhung, 2009; Nguyễn Xuân Huệ, 2012 và một số tác giả khác) Kết quả các nghiên cứu này cho thấy, học sinh cuối THCS có ý thức tương đối đầy đủ về mục đích của giáo dục giới tính và cho rằng đây là hoạt động giáo dục cần thiết cho học sinh lứa tuổi này Học sinh cũng quan tâm đến nhiều nội dung giáo dục giới tính như khái niệm về giới tính, các đặc điểm phân biệt nam nữ, biến đổi cơ thể ở tuổi dậy thì, tình dục an toàn, các mối quan

Trang 21

hệ lành mạnh, các biện pháp phòng tránh thai, tình yêu, bình đẳng giới (Nguyễn Xuân Huệ, 2012) [13] Các phương pháp được xem là hiệu quả trong việc giáo dục giới tính cho học sinh THCS là đóng vai, thuyết trình, thảo luận nhóm, trò chơi, động não (Nguyễn Thị Phương Nhung, 2009) [21] Những kết quả nghiên cứu này là những gợi

ý cho giáo viên, các cấp quản lý ở các trường phổ thông từ cấp THCS trở lên thiết kế

và tổ chức các chương trình giáo dục giới tính cho học sinh trường học

Một lĩnh vực nghiên cứu khác có liên quan đến giáo dục phòng tránh bị xâm hại cho trẻ là giáo dục kỹ năng sống Các nghiên cứu bài bản về lĩnh vực này cũng được thực hiện và công bố, kèm theo là các tài liệu hướng dẫn cho giáo viên để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010; UNESCO, 2006a; 2006b) [4], [36], [37] Các kỹ năng thường được tổ chức giáo dục cho trẻ bao gồm kỹ năng tự nhận thức, xác định giá trị, kiểm soát cảm xúc, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ, thể hiện sự tự tin, giao tiếp, lắng nghe tích cực, thể hiện sự cảm thông, thương lượng, giải quyết mâu thuẫn, hợp tác, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, kiên định, đảm nhận trách nhiệm, đặt mục tiêu, quản lý thời gian và tìm kiếm và xử lý thông tin (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010; UNESCO, 2006a; 2006b) [4], [36], [37] Như vậy, kỹ năng bảo vệ bản thân, phòng tránh bị xâm hại chưa có mặt trong các chương trình này

Cũng có thể đề cập đến “Cẩm nang Giáo dục giới tính giúp trẻ tránh bị xâm hại

- “Luật bàn tay” và “Nguyên tắc đồ lót” (2016) của tác giả Nguyễn Lan Hải đã cô

đọng kiến thức về giới tính bằng công thức dễ nhớ nhất: “Luật bàn tay” và “Nguyên tắc đồ lót” dành cho mọi trẻ em Tác giả đề ra bốn tiêu chuẩn của hành vi tình dục có đạo đức mang tên 3D (được, đúng, đẹp) giúp các bạn trẻ có được cái nhìn trong sáng

về hành vi tình dục [8]

Ngoài ra phải kể đến Bộ tài liệu Phòng tránh xâm hại tình dục trẻ em - Tài liệu dành cho cha mẹ, người chăm sóc trẻ và Phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em - Dành

cho cán bộ cộng đồng Dự án Tuổi thơ - Chương trình phòng ngừa do AusAID tài trợ

và Tổ chức Tầm nhìn thế giới thực hiện Tài liệu cho thấy có 4 loại xâm hại trẻ em là: xao nhãng, xâm hại thể chất, xâm hại tinh thần và xâm hại tình dục, trong đó xâm hại tình dục để lại hậu quả nặng nề nhất đối với sự phát triển của trẻ Tài liệu đưa ra định nghĩa về xâm hại tình dục Đồng thời, tài liệu đưa ra những biện pháp nhằm bảo vệ trẻ trước xâm hại tình dục, trước những thủ đoạn phổ biến của đối tượng xâm hại tình dục trẻ em [1], [2]

Có thể đề cập đến Bộ sách trang bị kỹ năng thiết yếu cho học sinh gồm 3 quyển:

Kỹ năng phòng tránh xâm hại cho trẻ mầm non, Kỹ năng phòng tránh bạo lực học

Trang 22

đường, Kỹ năng phòng tránh xâm hại cho học sinh tiểu học (2017) do tác giả Huỳnh Văn Sơn (chủ biên) [27] Trong đó, hai cuốn Kỹ năng phòng tránh xâm hại cho trẻ mầm non và Kỹ năng phòng tránh xâm hại cho học sinh tiểu học tập hợp những câu

chuyện kể ngắn gọn, những tình huống trẻ em và học sinh gặp phải trong đời sống, cùng những chỉ dẫn, gợi ý ngắn gọn giúp trẻ dễ dàng thực hiện Đây là bộ tài liệu mang tính giáo dục có thể nói thích hợp với việc phổ biến vấn đề phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh theo các nguyên tắc giáo dục cơ bản, thích hợp Đây là cẩm nang cũng có thể sử dụng cho các nghiên cứu liên ngành nếu muốn triển khai công tác giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục ở trẻ em Việt Nam [28], [29]

Nhóm thứ ba: Những nghiên cứu về Luật và phối hợp liên ngành nhằm giáo

xử lý loại tội phạm này Gần đây nhất, năm 2015, loại tội phạm này đã được nêu chi tiết hơn về dấu hiệu phạm tội cũng như các mức hình phạt tương ứng với các mức độ phạm tội Trong chương XIV của Bộ luật hình sự 2015, có 07 điều luật (từ Điều 141 đến Điều 147), trong đó có 05 điều quy định Xâm hại tình dục trẻ em là vấn đề được quan tâm đặc biệt bởi các quốc gia và cộng đồng quốc tế Hậu quả của việc bị xâm hại tình dục luôn để lại chấn thương lâu dài về thân thể và về tình cảm, tâm lý cho trẻ

Tác giả Trần Thị Cẩm Nhung (2012) với nghiên cứu“Một số cách tiếp cận nghiên cứu xâm hại tình dục trẻ em qua các nghiên cứu nước ngoài” đã khái quát một số

Trang 23

cách tiếp cận trong nghiên cứu xâm hại tình dục trẻ em ở một số nước trên thế giới, từ

đó rút ra nhiều bài học kinh nghiệm trong việc phòng tránh xâm hại tình dục ở Việt Nam Đây là kinh nghiệm có thể áp dụng để triển khai vấn đề vốn dĩ nhiều người vẫn còn cho rằng tế nhị tại nước ta hiện nay [22]

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm “Điều tra

vụ án xâm hại tình dục trẻ em” (2016), tác giả Hà Minh Tân đã trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu và lý luận về điều tra vụ án xâm hại tình dục trẻ em Đồng thời, tác giả của chỉ ra tình hình, đặc điểm hình sự, dự báo và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác điều tra vụ án xâm hại tình dục trẻ em ở Việt Nam [30]

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tội phạm học và Điều tra tội phạm “Hoạt động của lực lượng Cảnh sát hình sự trong phòng ngừa tội phạm xâm hại tình dục trẻ em ở các tỉnh, Thành phố khu vực Tây Nam Bộ” (2018), tác giả Nguyễn Ngọc Trai đã nêu

rõ tổng quan tình hình nghiên cứu và lý luận về hoạt động của lực lượng Cảnh sát hình sự trong phòng ngừa tội phạm xâm hại tình dục trẻ em ở các tỉnh, Thành phố khu vực Tây Nam Bộ Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra tình hình, đặc điểm hình sự, dự báo và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trên [34]

Tác giả Đỗ Lan Phương trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em của Australia đã đưa ra một số kiến nghị đối với công tác phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em ở Việt Nam Tác giả nhấn mạnh việc cần khẩn trương tiến hành rà soát và giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ trẻ em và phòng, tránh xâm hại trẻ em để từ đó có cơ sở xác định những nguyên nhân và diễn biến tội phạm xâm hại tình dục trẻ em Đồng thời, cần ban hành văn bản quy định về tiêu chuẩn đạo đức và điều kiện lý lịch tư pháp đối với người làm việc trong các lĩnh vực chăm sóc và thường xuyên tiếp xúc với trẻ em; trên cơ sở đó, cần thiết lập hệ thống thường xuyên giám sát công tác bảo vệ trẻ em và cấp thẻ hoặc giấy chứng nhận cho người đủ điều kiện mới được làm những công việc liên quan tới chăm sóc và giáo dục trẻ em; cần bổ sung nội dung giáo dục giới tính vào chương trình giảng dạy tại các trường học và cung cấp kỹ năng phòng vệ trước các hành vi xâm hại cho trẻ em

từ 4 - 5 tuổi trở lên Ngoài ra, cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật liên quan tới phòng, tránh tội phạm xâm hại tình dục cho cha mẹ, thành viên gia đình và người giám hộ của trẻ em Tác giả còn chỉ ra sự cần thiết của việc tăng cường tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo vệ trẻ em và phòng, tránh các tội xâm hại trẻ em qua nhiều kênh thông tin đại chúng nhằm góp phần giáo dục cộng đồng, đảm bảo phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng [23]

Trang 24

Như vậy, XHTD và PT XHTD đã được nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của PT XHTD, cách thức tổ chức PT XHTD cho HS, đồng thời cũng đề ra một số biện pháp tổ chức, QL PT XHTD

Tuy nhiên các nghiên cứu về quản lý giáo dục PT XHTD ở các trường THPT còn chưa được quan tâm nhiều đặc biệt ở một Thành phố đang có đà phát triển kinh

tế, xã hội như Thành phố Móng Cái dẫn đến dân cư đông đúc, tỷ lệ dân nhập cư tăng nhanh, lại có đường biên giới với Trung Quốc, trong đó có nhiều trẻ em, nhiều đối tượng hình sự và thành phần dân cư phức tạp Bên cạnh đó, tác động tiêu cực của cơ chế thị trường cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến các trường hợp trẻ em bị xâm hại tình dục Vì vậy, việc thực hiện đề tài này sẽ không trùng lặp , đảm bảo tính độc lập

và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn đối với việc nâng cao hiệu quản lý giáo dục PT XHTD cho học sinh trung học phổ thông Thành phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh nói riêng và các trường THPT nói chung

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Quản lý

Khi nghiên cứu về quản lý, có rất nhiều các quan điểm khác nhau:

Theo lý luận của Mác về quản lý “Quản lý xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra” [17]

Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [15]

Thực chất của hoạt động quản lý là xử lý tốt mối quan hệ giữa chủ thể quản lý

và khách thể quản lý Bản chất của hoạt động quản lý là tạo ra sự ổn định và thúc đẩy

sự phát triển của tổ chức đến một trạng thái chất lượng cao hơn Mục tiêu cuối cùng của quản lý là chất lượng sản phẩm vì lợi ích phục vụ con người

Như vậy, Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích, có hệ thống và hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý thông qua cơ chế quản lý nhằm đạt được mục đích của quản lý

Trang 25

1.2.2 Quản lý giáo dục

Về khái niệm quản lý giáo dục, hiện nay cũng có nhiều định nghĩa khác nhau Quản lý giáo dục là thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục Ngày nay, lĩnh vực giáo dục mở rộng hơn nhiều so với trước, do mỗi chỗ mở rộng đối tượng giáo dục từ thế hệ trẻ sang người lớn và toàn xã hội Tuy nhiên, giáo dục thế hệ trẻ là bộ phận nòng cốt của lĩnh vực giáo dục cho toàn xã hội

- Theo Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo cho sự hình thành nhân cách thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những qui luật chung của xã hội cũng như các qui luật của quản lý giáo dục, của sự phát triển tâm lý và thể lực của trẻ em” [15]

- Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, phù hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [24]

Những khái niệm trên tuy có diễn đạt khác nhau nhưng tựu trung quản lý giáo

dục được hiểu là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với qui luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục ở từng

cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định

Trong quản lý giáo dục chủ thể quản lý chính là bộ máy quản lý các cấp Đối tượng quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và hoạt động thực hiện chức năng của giáo dục đào tạo

Nội dung của quản lý giáo dục bao gồm một số vấn đề cơ bản:

- Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chính sách, chiến lược, qui hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục

- Ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật về giáo dục, cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học

- Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục

- Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng CBQL, giảng viên

- Huy động, quản lý sử dụng các nguồn lực…

Trang 26

1.2.3 Hoạt động phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh phổ thông

Khái niệm về hoạt động

Có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động, tùy thuộc vào các góc độ xem xét

mà những cách hiểu về hoạt động khác nhau:

- Dưới góc độ triết học: Hoạt động là quan hệ biện chứng của chủ thể và khách thể Trong mối quan hệ đó, chủ thể là con người, khách thể là hiện thực khách quan

Ở góc độ này, hoạt động được xem là quá trình mà trong đó có sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai cực là chủ thể và khách thể [35]

- Dưới góc độ sinh lý: Hoạt động là toàn bộ sự tiêu hao năng lượng thần kinh và

cơ bắp khi tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của cá nhân và xã hội [35]

- Dưới góc độ cấu trúc hoạt động: Hoạt động là toàn bộ hành động được thống nhất theo mục đích chung nhằm thực hiện chức năng xã hội nào đó [35]

- Dưới góc độ tâm lý học: Xuất phát từ quan điểm cho rằng cuộc sống của con người là chuỗi những hoạt động, giao tiếp kế tiếp nhau, đan xen vào nhau, hoạt động

có thể được hiểu là phương thức tồn tại của con người trong thế giới [35]

Hoạt động là hình thức biểu hiện quan trọng nhất của mối quan hệ tích cực, chủ động của con người với tự nhiên, xã hội, với người khác, với chính mình Theo

Nguyễn Quang Uẩn: “Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía con người” [35] Thông

qua hoạt động con người nhận thức, cải tạo, sáng tạo thế giới đồng thời nhận thức, cải tạo và sáng tạo chính bản thân Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể, đối tượng, mục đích Hoạt động luôn xuất phát từ động cơ do sự thôi thúc của nhu cầu, hứng thú, tình cảm, ý thức trách nhiệm Để đạt mục đích hoạt động, con người phải sử dụng phương tiện, điều kiện

Chúng tôi xem khái niệm hoạt động của Nguyễn Quang Uẩn là cơ sở khoa học soi sáng cho việc nghiên cứu Tuy nhiên, khái niệm hoạt động dưới góc độ nghiên

cứu của luận văn chỉ theo nghĩa hẹp: “Đó là quá trình diễn ra một loạt những hành động có liên quan chặt chẽ tác động vào đối tượng nhằm đạt mục đích”

Xâm hại tình dục:

Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Xâm hại tình dục trẻ em là

sự tham gia của một đứa trẻ vào hoạt động tình dục mà đứa trẻ đó không có ý thức đầy đủ, không có khả năng đưa ra sự chấp thuận tham gia, hoặc hoạt động tình dục

mà đứa trẻ đó chưa đủ phát triển cả về mặt tâm sinh lý để tham gia và không thể

Trang 27

chấp thuận tham gia, hoặc hoạt động tình dục trái với các quy định của pháp luật hoặc các thuần phong mĩ tục của xã hội” [39]

Căn cứ pháp lý tại Điều 4 Luật Trẻ em 2016: “Xâm hại tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức” [26]

Tuy vẫn chưa có một khái niệm cụ thể nào nói về xâm hại tình dục, nhưng dựa vào các quy định của pháp luật hình sự của Việt Nam và định nghĩa của tổ chức WHO, ta có thể hiểu sơ lược khái niệm xâm hại tình dục trẻ em như sau:

Xâm hại tình dục trẻ em là hành vi có chủ ý để làm hài lòng, thỏa mãn nhu cầu tình dục của một người đối với trẻ em, đây là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức xã hội, hành vi xâm phạm tình dục trẻ em bao gồm các hành vi khác nhau: hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em

Hành vi xâm hại tình dục trẻ em là hành vi sử dụng quyền lực và sức mạnh có thể là tiền bạc, vật chất, lợi dụng sự ngây thơ, lòng tin và sự tôn trọng của trẻ để ép buộc các em tham gia vào hành vi tình dục, xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục và sự phát triển lành mạnh, bình thường về thể chất, về tâm lý và về tinh thần của trẻ em

Khai thác tình dục mang tính thương mại cũng được xếp là một hình thức lạm dụng tình dục, là sự tham gia của trẻ em vào các hoạt động mại dâm, khiêu dâm hoặc buôn bán trẻ em Hành vi tội phạm tình dục liên quan đến trẻ em thường do các tội phạm nam giới thực hiện và ngành công nghiệp tình dục có thể được kiểm soát một cách tinh vi bởi các nhóm tội phạm có tổ chức

Lạm dụng tình dục, bóc lột tình dục vì mục đích thương mại và buôn bán trẻ em

là những vấn đề rất được quan tâm ở Việt Nam hiện nay và chịu sự điều chỉnh của rất nhiều quy định pháp luật, chính sách và chương trình trong những năm gần đây

Phòng tránh xâm hại tình dục

Phòng tránh xâm hại tình dục là quá trình tác động đến nhận thức của người học, cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong cơ sở giáo dục, gia đình người học và cộng đồng về mối nguy hiểm và hậu quả của xâm hại tình dục; về trách nhiệm phát hiện, thông báo, tố giác hành vi xâm hại tình dục; ngăn ngừa trước, không để hành vi xâm hại tình dục xảy ra

Trang 28

Hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục:

Hoạt động giáo dục (trong nhà trường) là quá trình hình thành thế giới quan, nhân sinh quan và những phẩm chất đạo đức cần thiết cho học sinh Qúa trình này bao gồm các thành tố cơ bản như: mục đích giáo dục, nhiệm vụ giáo dục; nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức giáo dục; chủ thể giáo dục, đối tượng giáo dục…

Chúng tôi tiếp cận khái niệm hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục

trong nhà trường Theo đó, có thể hiểu: Hoạt động giáo dục PT XHTD cho HS THPT

là hoạt động chủ đạo của nhà giáo dục tác động đến nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh giúp học sinh có nhận thức đúng đắn, thái độ tích cực và thực hiện có hiệu quả các hành vi phòng tránh xâm hại tình dục Đây là hoạt động có ý nghĩa vô cùng

quan trọng giúp đảm bảo an toàn cho học sinh trong và ngoài nhà trường

1.2.4 Quản lý hoạt động phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh phổ thông

Có thể thấy, quản lý hoạt động phòng tránh XHTD học sinh THPT bao gồm các

công việc: lập kế hoạch chi tiết cho hoạt động, chuẩn bị cho hoạt động của giáo viên

và học sinh; tổ chức hoạt động theo kế hoạch đã vạch ra; tổ chức rút kinh nghiệm,

đánh giá quá trình và kết quả hoạt động

Quản lý hoạt động phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra nhằm tác động có định hướng của CBQL đến hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông

1.3 Những vấn đề lý luận về hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục trong trường trung học phổ thông

1.3.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh trung học phổ thông

Trong tâm lý học lứa tuổi người ta định nghĩa tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Theo định nghĩa này thì tuổi thanh niên là thời kì từ 14, 15 đến 25 tuổi Còn từ 14, 15 tuổi đến 17, 18 tuổi là giai đoạn đầu thanh niên (lứa tuổi học sinh THPT)

* Sự phát triển thể chất:

Tuổi đầu thanh niên là tuổi đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Sự khác biệt về cơ thể giữa thanh niên mới lớn với người lớn không đáng kể Nhưng sự phát triển thể lực của các em còn kém so với người lớn Từ 14, 15 - 17, 18 tuổi là giai đoạn phát triển thể chất của con người vào giai đoạn hoàn chỉnh được thể hiện ở chỗ

sự gia tăng chiều cao giảm dần, con gái khoảng 16, 17 tuổi, con trai khoảng 17, 18

Trang 29

tuổi (+ 13 tháng) Điều này giúp hình thành một cơ thể cân đối, đẹp khỏe của người thanh niên

Trọng lượng cơ thể phát triển nhanh, mạnh, cân nặng của thanh niên đạt gấp đôi tuổi 11, 12 tuổi Các tố chất về thể chất sự dẻo dai được tăng cường Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp

và các chức năng của não phát triển Số lượng dây thần kinh liên hợp, liên kết các phần khác nhau của vỏ não tăng lên Hệ tuần hoàn đi vào hoạt động bình thường Sự mất cân đối giữa tim và mạch đã chấm dứt Đây cũng chính là thời kỳ trưởng thành

về giới tính, là giai đoạn của nam thanh nữ tú Chấm dứt giai đoạn khủng hoảng của thời kỳ phát dục để chuyển sang thời kỳ ổn định hơn, cân bằng hơn xét về tất cả các mặt hoạt động hưng phấn, ức chế của hệ thần kinh cũng như các mặt phát triển khác

về thể chất Tóm lại, đây là lứa tuổi các em có cơ thể phát triển cân đối, hài hòa và đẹp nhất

* Sự phát triển về đời sống xúc cảm, tình cảm của học sinh đầu tuổi thanh niên: Đời sống tình cảm, xúc cảm của thanh niên rất phong phú và đa dạng Điều

đó được quy định bởi các mối quan hệ giao tiếp của thanh niên về phạm vi đặc biệt phát triển về mặt chất lượng Trong đó nổi bật nhất là mức độ càng ngày càng bình đẳng, độc lập trong sự giao tiếp với người lớn và bạn bè cùng tuổi Đó là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên bộ mặt nhân cách của thanh niên Tình bạn tuổi THPT có cơ sở, bền vững hơn tuổi thiếu niên Ở đây nổi bật là tình bạn trong bạn bè cùng độ tuổi, cùng giới phát triển mạnh Nhu cầu chọn được bạn thân là nhu cầu tất yếu của thanh niên Việc chọn bạn không còn cảm tính mà được xem xét ở mức độ hứng thú, cảm thông Tình bạn có thể kéo dài trong cuộc sống của thanh thiếu niên Ngoài ra, họ thường cho rằng người lớn không hiểu họ nên có xu hướng xa lánh, lạnh nhạt để tìm sự đồng cảm của bạn bè Việc duy trì được bầu không khí tình cảm, ấm

áp và hiểu biết lẫn nhau giữa cha mẹ và con cái phụ thuộc rất lớn đối với những con người trẻ tuổi, vào thái độ ân cần và ứng xử tế nhị của người lớn

Học sinh đầu tuổi thanh niên cũng bắt đầu bộc lộ những tình cảm đạo đức như khâm phục kính trọng những con người dũng cảm, kiên cường coi trọng những giá trị đạo đức cũng như lương tâm

Một loại tình cảm rất đặc trưng ở lứa tuổi này là tình yêu trai gái Dễ quan sát thấy những biểu hiện ở sự phải lòng, thậm chí có sự xuất hiện của những mối tình đầu đầy lãng mạn Những biểu hiện của loại tình cảm này rất phức tạp, không đồng đều Theo những nghiên cứu về giới tính người ta thấy rằng những em gái bộc lộ sớm hơn các em trai, ít lúng túng hơn và cũng ít xung đột hơn Sự không đều còn thể hiện ở

Trang 30

chỗ trong khi một số em bộc lộ mạnh mẽ với người khác giới thì nhiều em khác vẫn

tỏ ra thờ ơ, không quan tâm Điều này phụ thuộc vào yếu tố phát dục trưởng thành mà phụ thuộc vào kế hoạch đời người của cá nhân người trẻ tuổi, phụ thuộc vào điều kiện giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội

Một điều rất rõ mà khoa học là thực tiễn cuộc sống đã khẳng định là ở độ tuổi này sự chín muồi về sinh lý, tình dục đã đi trước một bước, còn sự trưởng thành về tâm lý xã hội, kinh nghiệm sống chậm hơn nhiều Bởi vậy những điều kiện cần và đủ cho cuộc sống tình yêu trai gái ở độ tuổi này chưa được hội tụ

Tóm lại, sự phát triển nhân cách của học sinh trung học phổ thông là một giai đoạn rất quan trọng, giai đoạn chuyển đổi từ trẻ em lên người lớn Đây là lứa tuổi đầu thanh niên với những đặc điểm tâm lý đặc thù khác với tuổi thiếu niên, các em

đã đạt tới sự trưởng thành về thể lực và sự phát triển nhân cách Đặc điểm tâm sinh

lý của học sinh trung học phổ thông là điều kiện thuận lợi cho việc giáo dục PT XHTD cho HS cho các em có hiệu quả Các lực lượng giáo dục phải biết phát huy các yếu tố tích cực, khắc phục những hạn chế trong sự phát triển tâm sinh lý lứa tuổi này để lựa chọn nội dung, hình thức tổ chức thích hợp, phát huy được tính tích cực chủ động của các em trong hoạt động giáo dục theo định hướng của mục tiêu giáo dục

- Góp phần vào sự phát triển toàn diện của học sinh

- Giảm thiểu hiện tượng quấy rối, XHTD, đảm bảo an toàn cho học sinh

- Nâng cao uy tín cho trường THPT

- Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường

- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh,

từ đó có sự thay đổi về hành vi, nhận thức để nhận thức đúng đắn về mức độ XHTD,

và các kĩ năng PT XHTD; chú trọng nội dung phòng tránh XHTD trong và ngoài trường học

- Nâng cao hiểu biết và trang bị các kiến thức, kỹ năng để hướng dẫn các em mình chủ động phòng tránh nạn xâm hại tình dục

Trang 31

- Giúp học sinh nhận ra biểu hiện của XHTD, nguy cơ và hậu quả và các kĩ năng, quy tắc PT XHTD

- Giảm hiểu những hoang mang, lo lắng của HS và hướng dẫn HS cách xử lý XHTD và các quy tắc ứng xử khi bị XHTD

- Xây dựng môi trường học tập lành mạnh, tôn trọng và yêu thương giữa CB,

GV, HS trong nhà trường Tạo ra mối liên hệ đoàn kết, hợp tác giữa gia đình - nhà trường- xã hội nhằm tạo dựng tin tưởng của HS trong hoạt động giáo dục PT XHTD

1.3.3 Nội dung hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông

Nội dung của hoạt động PT XHTD cho HS THPT bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau, cụ thể như sau:

Thực hiện tuyên truyền phổ biến tầm quan trọng, vai trò, vị trí của PT XHTD trong nhà trường Cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường cần nắm vững kiến thức và nội dung về PT XHTD để phổ biến tới học sinh

Cung cấp kiến thức cho HS về yếu tố, nguy cơ và cách PT XHTD

Giáo dục, trang bị kiến thức, rèn luyện kỹ năng về PT XHTD cho học sinh Cung cấp cho HS các mức độ xâm hại tình dục: Hành vi xâm hại tình dục có thể thay đổi từ việc sờ mó bộ phận sinh dục của trẻ, thủ dâm, tiếp xúc miệng với bộ phận sinh dục, giao hợp bằng ngón tay, giao hợp qua đường sinh dục hoặc hậu môn Xâm hại tình dục ở trẻ em không chỉ giới hạn vào các tiếp xúc cơ thể mà còn bao gồm cả những hành vi không tiếp xúc như khoe bộ phận sinh dục cho trẻ thấy, kể cho trẻ nghe về tình dục, cho xem phim, truyện khiêu dâm, tìm cách hướng dẫn, kích thích tình dục trẻ, rình xem trộm hoặc sử dụng hình ảnh khiêu dâm trẻ em

Giáo dục cho HS kĩ năng PT XHTD như quy tắc bàn tay, nâng cao nhận thức Hướng dẫn HS các quy tắc phòng tránh nguy cơ bị xâm hại:

+ Không đi một mình ở nơi tối tăm, vắng vẻ

+ Không ở trong phòng kín một mình với người lạ Nếu đó là người quen của gia đình thì cửa phòng phải luôn được mở

+ Không nhận tiền, quà hoặc nhận sự giúp đỡ đặc biệt của người khác mà không

rõ lý do

+ Không đi nhờ xe người lạ, hoặc sử dụng ăn uống của người lạ đưa

+ Không để cho người lạ đến gần đến mức họ có thể chạm tay vào người mình + Không để người lạ vào nhà, nhất là khi trong nhà chỉ có một mình

+ Không nói chuyện điện thọai với người lạ khi đang ở nhà một mình

Trang 32

+ Không cho ai có quyền tùy tiện động chạm, sờ mó vào chỗ kín của cơ thể hoặc bất kỳ hành động thô lỗ nào với các em

+ Không ăn mặc hở hang, không gần gũi quá mức với người lạ, kể cả những người thân họ hàng (trừ Bố mẹ, ông Bà, anh chị em ruột của mình)

+ Tin vào linh tính của bản thân khi thấy điều gì không bình thường cần cảnh giác và chủ động nghĩ cách phòng tránh để thoát ra khỏi tình huống đó

Hướng dẫn cho HS những chỉ dẫn giúp các em tránh nguy cơ bị động chạm không an toàn, bị xâm hại: Đứng ngay dậy; Nhìn thẳng vào kẻ định sàm sỡ; Lùi ra xa

đủ để không cho họ với tay được đến mình và nói to/hét to và kiên quyết : Không! Hãy dừng lại ! Tôi không cho phép! Tôi không muốn! Nếu không dừng lại, tôi sẽ mách với mọi người …

+ Bỏ chạy đến chỗ an toàn nếu họ tìm cách sờ nắn hoặc ôm ấp mình và kêu to cầu cứu sự giúp đỡ của mọi người xung quanh

+ Kể ngay với cha mẹ hoặc những người tin cậy

+ Nếu em bị sàm sỡ, xâm hại, hãy kể ngay với cha mẹ, người thân và cùng người lớn đến cơ sở y tế để khám

+ Các em không nên phớt lờ, chối bỏ, né tránh vấn đề

- Hướng dẫn HS cách xử lý khi bị xâm hại tình dục

+ Nói chuyện với bố, mẹ, người thân,… về việc đã xảy ra để có cách giải quyết + Không giấu diếm mọi chuyện mà phải tìm cách vạch trần “yêu râu xanh” để tránh gây hại cho những bạn khác

+ Không che giấu, thu mình vào một thế giới hoang mang của riêng mình

+ Nhờ bố mẹ, người thân đưa đi khám để xác định mức độ và điều trị tổn thương thực tế

- Hướng dẫn cho HS cách tự bảo vệ bản thân khỏi vấn nạn quấy rối xâm hại tình dục

- Động viên, khích lệ HS mạnh dạn tố giác tội phạm, có hành vi XHDT

1.3.4 Phương pháp giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông

Những phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục PT XHTD có nhiều phương pháp Trong phạm vi cho phép, luận văn đề cập đến một số phương pháp sau:

Phương pháp động não

Động não là phương pháp giúp HS trong một thời gian ngắn nhận thức được các mức độ và cách thức tự vệ trước hành vi XHTD

Trang 33

GV có thể tiến hành theo các bước sau: GV nêu câu hỏi hoặc vấn đề về XHTD cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm; Khích lệ HS phát biểu và đóng góp

ý kiến càng nhiều càng tốt; Liệt kê tất cả mọi ý kiến không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp; Phân loại các ý kiến; Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng; Tổng hợp ý kiến của HS, hỏi xem HS có thắc mắc hay bổ sung gì không

Cần chọn vấn đề các mức độ XHTD mà HS dễ nhầm lẫn, cho qua và chưa nhận thức đầy đủ; GV không nên phê phán, nhận định đúng, sai tất cả mọi ý kiến ngay; Cuối giờ thảo luận GV nên nhấn mạnh kết luận này là kết quả của sự tham gia chung của tất cả HS; Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên HS, đặc biệt là những HS nhút nhát, trở nên bạo dạn hơn; các em học được cách trình bày ý kiến của mình, biết lắng nghe có phê phán ý kiến của bạn; từ đó, giúp HS dễ dàng hiểu biết hơn về XHTD và những nguy cơ, hậu quả

Phương pháp thảo luận nhóm:

Là phương pháp giúp HS bàn bạc, trao đổi trong nhóm nhỏ về PT XHTD Thảo luận nhóm được sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho mọi HS tham gia một cách chủ động vào quá trình trải nghiệm, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề có liên quan Câu hỏi cho HS thảo luận có thể là kiểu câu hỏi đóng hoặc câu hỏi mở

GV có thể sử dụng phương pháp này ở giai đoạn 2 và giai đoạn 3 của quá trình trải nghiệm nhằm kích thích HS cùng nhau trao đổi, bàn bạc, thảo luận về những biểu hiện và đưa ra biện pháp khắc phục

Phương pháp trò chuyện: Việc GV tương tác, trò chuyện thường xuyên sẽ giúp

HS nhận biết được biểu hiện, hành vi XHTD, cách thức tự vệ tối ưu cho các trường hợp, hoàn cảnh GV và HS cùng trò chuyện, thảo luận về PT XHTD nhằm giúp HS hiểu được ý nghĩa của các hành vi nhân ái và cách thực hiện trong cuộc sống

GV sử dụng những tình huống PT XHTD vừa trải nghiệm, các mối quan hệ ứng

xử đúng sai của con người với con người, giữa con người và môi trường xung quanh

để cung cấp mẫu hành vi, mẫu xúc cảm phù hợp, khẳng định những hành vi đúng Phương pháp này, GV có thể trò chuyện với HS trong quá trình tổ chức các hoạt động, gợi mở bằng những câu hỏi đơn giản, dễ hiểu đối với HS và phù hợp với nội dung cần giáo dục Khuyến khích HS thể hiện thái độ tích cực đối với con người và môi trường xung quanh

Phương pháp đóng vai: Đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành

“Làm thử” một số cách ứng xử khi gặp hành vi XHTD trong một tình huống giả định Đối với giáo dục PT XHTD, đóng vai là hình thức tập luyện, thực hành thể hiện hành

Trang 34

vi, lời nói, thể hiện cách tự vệ, ứng xử của HS trong mỗi trường hợp GV có thể sử dụng phương pháp này khi GV muốn khẳng định, muốn nhấn mạnh những mẫu hành

vi, xúc cảm đúng, cần thực hiện

Phương pháp giải quyết vấn đề: Giúp học sinh có cách nhìn toàn diện hơn khi

gặp các hiện tượng sự việc nảy sinh trong PT XHTD Để phương pháp này thành công thì vấn đề đưa ra phải sát với mục tiêu của hoạt động, kích thích học sinh tích cực tìm tòi cách giải quyết, cách thức tự vệ Đối với tập thể lớp khi giải quyết vấn đề phải coi trọng nguyên tắc: tôn trọng, bình đẳng tránh gây ra căng thẳng không có lợi cho học sinh

Phương pháp nghiên cứu và xử lý tình huống

- Tình huống là những sự kiện, vụ việc, hoàn cảnh có mâu thuẫn, có vấn đề cần được giải quyết Nghiên cứu tình huống còn gọi là nghiên cứu trường hợp điển hình (case study) là một trong những phương pháp giáo dục chủ động, được sử dụng ngày càng phổ biến, nhằm khắc phục tình trạng thực tế là trong quá trình giáo dục, học sinh không được tự ra các quyết định; nên khi ra thực tiễn sẽ lúng túng, thiếu suy nghĩ, cân nhắc, không đề ra được quyết định hợp lý khi thực hiện nhiệm vụ theo chức trách đảm nhiệm

- Phương pháp nghiên cứu tình huống thường xuất phát từ một câu chuyện được viết ra nhằm tạo ra tình huống “thật” để minh chứng cho một hoặc một loạt vấn

đề Đôi khi có thể nghiên cứu tình huống trên một đoạn video, hay một băng cát xét, hoặc dưới dạng hình vẽ

- Cách tiến hành:

+ Chọn tình huống (có thể một hoặc nhiều tình huống)

+ Chia nhóm (mỗi nhóm một tình huống càng tốt)

+ Đọc (xem, nghe) tình huống

+ Suy nghĩ về tình huống đó (đưa ra một vài câu hỏi)

+ Cả nhóm thảo luận và thống nhất ý kiến

+ Trình bày ý kiến của nhóm

+ Ý kiến của các nhóm về những vấn đề đặt ra

+ Giáo viên kết luận

Bên cạnh đó, còn có một số phương pháp khác như phương pháp giảng giải, nêu vấn đề, thực hành

Trang 35

Khi tiến hành các phương pháp tổ chức hoạt động PT XHTD, GV cần đảm bảo

an toàn cho HS cả về thể chất và tâm lý Để HS có thể nhận biết và tự vệ được trước những hành vi XHTD, người hướng dẫn cần loại bỏ tư tưởng “vẽ đường cho hươu chạy” hay “ngại ngùng” mà cần cương quyết và dứt khoát

1.3.5 Con đường giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông

Về các con đường để giáo dục PT XHTD cho HS THPT, giáo viên có thể đưa nội dung hoạt động PT XHTD lồng ghép, tích hợp vào một số môn học có ưu thế như: Sinh học, Giáo dục công dân, Ngữ văn, GV cần chú ý mức độ tích hợp, lồng ghép kiến thức cho phù hợp, tránh làm thay đổi kiến thức cơ bản của bài dạy Cụ thể một số hình thức tổ chức hoạt động PT XHTD như: Lồng ghép, tích hợp nội dung, kiến thức về bảo đảm môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, tránh XHTD vào kế hoạch giáo dục của cơ sở giáo dục; Giáo dục PT XHTD có thể thông qua giảng dạy các chủ đề tích hợp kiến thức mới Chương trình giáo dục PT XHTD được cấu trúc thành các chủ đề Trong từng chủ đề đều có thể tích hợp các kiến thức mới cho học sinh Căn cứ vào chủ đề giáo dục của tháng, mỗi tháng có thể xây dựng chương trình giáo dục hướng đến tập trung giáo dục cho HS nhận biết và cách thức phòng tránh phù hợp

Giáo dục PT XHTD có thể thực hiện thông qua các hoạt động ngoại khóa, hoạt động xã hội như: các cuộc thi tìm hiểu về kĩ năng PT XHTD, tổ chức các chuyên đề rèn luyện kỹ năng PT XHTD cho học sinh THPT, các hoạt động văn nghệ, thể thao, tham gia các lễ hội truyền thống, giáo dục kĩ năng sống, kĩ năng tự vệ,

Tổ chức nghiên cứu khoa học kĩ thuật dành cho HS THPT theo chủ dề: Giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT

Tổ chức truyền thông nâng cao nhận thức, bồi dưỡng kỹ năng phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông; Tổ chức hội thảo cùng Phụ huynh học sinh về nguy cơ và cách PT XHTD cho học sinh; Phát thanh, tuyên truyền bằng video tại góc tuyên truyền của nhà trường hàng ngày về cách quy tắc PT XHTD, ứng xử cần thiết khi gặp hành vi XHTD

Ngoài ra còn một số con đường khác cũng được tổ chức để giáo dục PT XHTD cho học sinh các trường THPT như: tham vấn tâm lý học đường; các tấm gương đạo đức ở địa phương, ở nhà trường; hoạt động trải nghiệm; hoạt động của Hội cha mẹ HS, các tổ chức chính trị, xã hội ở địa phương giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS THPT…

Trang 36

1.4 Lý luận về quản lý hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông

1.4.1 Lập kế hoạch hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông

Để có thể quản lý tốt hoạt động giáo dục PT XHTD cho HS THPT công việc đầu tiên của Hiệu trưởng là lập kế hoạch dựa trên cơ sở yêu cầu của Chương trình

giáo dục và điều kiện cụ thể của nhà trường

Kế hoạch được xây dựng dựa trên cơ sở kết quả thực hiện bảo an toàn cho HS của năm học trước và những trọng tâm của năm học mới do Bộ, Sở, Thành phố, quận, huyện trực thuộc quản lý triển khai hướng dẫn (chung với kế hoạch thực hiện các mặt công tác của cả năm học của trường) có tham khảo bàn bạc với phó hiệu trưởng, cán

bộ y tế Kế hoạch phải nêu được những công việc cụ thể của từng nội dung phải quản

lý, các biện pháp tiến hành, các yêu cầu, mức độ phải đạt Tức là xác định trước mình phải làm gì? Khi nào làm? Đạt mức độ nào? Ai làm?

Công việc đầu tiên là xác định mục tiêu giáo dục hoạt động PT XHTD Xác định đúng, đủ các căn cứ để xây dựng kế hoạch giáo dục PT XHTD trong trường THPT, bao gồm: (i) Mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách học sinh được xác định tại Luật Giáo dục, trong chương trình giáo dục của cấp học; (ii) Những nhiệm vụ cấp thiết của

sự nghiệp giáo dục, của đất nước, của địa phương trong từng giai đoạn cụ thể Những nhiệm vụ đó được thể hiện trong các văn bản, chỉ thị của cơ quan quản lý giáo dục các cấp hướng dẫn nhà trường thực hiện Đặc biệt là nhiệm vụ năm học, chủ đề năm học do Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT hướng dẫn ngay từ đầu năm học; (iii) Tình hình kinh tế xã hội của cộng đồng địa phương nơi trường đóng; (iv)Tình hình cụ thể của nhà trường (Kết quả các hoạt động giáo dục của năm học trước, thực trạng đội ngũ cán bộ giáo viên, số lượng, chất lượng, đặc biệt là khả năng tổ chức các HĐGD cho HS), điều kiện CSVC, trang thiết bị, thư viện và tài chính, khả năng thực hiện công tác xã hội hóa của nhà trường

Đánh giá khảo sát thực trạng giáo dục PT XHTD cho học sinh Hiệu trưởng chỉ đạo các bộ phận liên quan xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục (kế hoạch năm, tháng, tuần) thống nhất với kế hoạch chung của nhà trường, với kế hoạch của các bộ phận (để tránh tổ chức các hoạt động chồng chéo trong cùng một thời điểm, đồng thời

có sự hỗ trợ và phối hợp tổ chức hoạt động của các bộ phận có liên quan) Hiệu

Trang 37

trưởng hướng dẫn GV xây dựng kế hoạch tổ chức giáo dục PT XHTD thông qua dạy học môn học và các hoạt động ngoài giờ học

Lập kế hoạch cụ thể cho giáo dục PT XHTD cho học sinh

Xác định các bước thực hiện kế hoạch giáo dục PT XHTD cho HS

Chuẩn bị các điều kiện cho giáo dục PT XHTD cho học sinh

Lập kế hoạch về cơ sở vật chất, thời gian để giáo dục PT XHTD

Kế hoạch nhân sự chủ chốt tham gia giáo dục PT XHTD và kế hoạch phối hợp, tuyên truyền với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường về giáo dục PT XHTD

Tổ chức tuyên truyền, giáo dục, can thiệp, khắc phục, giảm thiểu nguy cơ gây của XHTD đối với HS; huy động các thành viên trong nhà trường tham gia thực hiện các hoạt động để PT XHTD

1.4.2 Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông

Chương trình, kế hoạch là việc thống kê những công việc cụ thể cho một thời gian nhất định tuần, tháng, học kỳ, năm học, giai đoạn…Đó là những trình tự những nội dung hoạt động, các hình thức tổ chức hoạt động được bố trí theo thời gian của năm học Kế hoạch rất cần thiết cho mọi hoạt động, kế hoạch sẽ làm cho công tác quản lý của nhà quản lý hiệu quả và có mục đích không để nhà quản lý bị lôi cuốn vào các việc khác, làm cho họ chủ động hơn, tự tin hơn Lập kế hoạch tổ chức hoạt động trải nghiệm yêu cầu nắm chắc ba vấn đề quan trọng đó là: Làm cái gì?; Làm như thế nào?; Ai làm? Quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động tuần, tháng, năm của giáo viên bao gồm các hoạt động cụ thể và hình thức tổ chức cho phù hợp

Quản lý việc tổ chức giáo dục PT XHTD là nhiệm vụ quan trọng trong công tác quản lý của Hiệu trưởng, để quản lý tốt nội dung này đòi hỏi người quản lý cần kiểm tra, đánh giá, đồng thời phát hiện những khó khăn vướng mắc để đề ra biện pháp khắc phục Quản lý việc tổ chức tốt giáo dục PT XHTD giúp hiệu trưởng nắm được hiệu quả và chất lượng của từng cá nhân, bộ phận thấy rõ được những mặt mạnh những mặt hạn chế từ đó hoạch định chiến lược cho những giai đoạn tiếp theo Công tác kiểm tra đánh giá việc tổ chức giáo dục PT XHTD cần dựa vào các tiêu chí, nguyên tắc có tính chất pháp quy, có thể kiểm tra từng bộ phận hoặc kiểm tra đồng bộ Trong nhà trường hoạt động này thường được tiến hành theo hình thức: dự giờ, kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất, kiểm tra toàn diện… Cụ thể, việc tổ chức thực hiện kế hoạch phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh cần đảm bảo:

Trang 38

Xác định các bộ phận tham gia quản lý giáo dục PT XHTD (Sở Giáo dục và Đào tạo, Hiệu trưởng, Ban Giám hiệu, giáo viên, cán bộ Đoàn, gia đình )

Xác định các nội dung quản lý của từng bộ phận tham gia quản lý giáo dục PT XHTD cho HS

Tổ chức phối hợp các lực lượng tham gia giáo dục PT XHTD cho học sinh Tập huấn cho các lực lượng tham gia giáo dục PT XHTD cho học sinh

Thiết lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận trong nhà trường quản lý giáo dục

PT XHTD cho học sinh Tổ chức phân công nhiệm vụ thực hiện:

+ Phân công GV chủ nhiệm: GV chủ nhiệm giữ vai trò chính trong tổ chức giáo dục PT XHTD Do đó, hiệu trưởng căn cứ vào trình độ, năng lực của mỗi GV trong trường, để phân công chủ nhiệm hợp lý

+ Phân công các GV khác phối hợp tổ chức các hoạt động giáo dục PT XHTD (GV thể dục, GV sinh học, GV ngữ văn, GV tin học, GV GDCD, Bí thư đoàn trường )

Kiện toàn tổ, khối chuyên môn phù hợp với điều kiện từng trường; chọn cử tổ trưởng, tổ phó, giao nhiệm vụ, ủy nhiệm quyền hạn cho các tổ trưởng chuyên môn trong chỉ đạo hoạt động của GV trong tổ và cam kết trách nhiệm thực hiện

Thống nhất cơ chế phối hợp trong tổ chức các hoạt động giáo dục PT XHTD: Đảm bảo sự phối hợp giữa GV với GV, GV với CMHS, với các tổ chức đoàn, đội và các lực lượng khác trong tổ chức các HĐGD PT XHTD cho học sinh

Tổ chức phối hợp với các cơ quan hữu quan:

+ Phối hợp với cơ quan công an: Công an xã, phường bảo đảm môi trường an ninh quanh trường, nhà trường có điều kiện để tổ chức các hoạt động giáo dục an toàn, không bị sự quấy rối của những phần tử càn quấy ở địa phương

+ Phối hợp với Trung tâm y tế tổ chức kĩ năng và giáo dục lối sống lành mạnh; kiểm tra sức khỏe định kì cho HS, cách thức PT XHTD cho HS Phối hợp với Trung tâm y tế để tư vấn sức khỏe sinh sản cho HS, giáo dục sức khỏe sinh sản cho HS Căn cứ kế hoạch tổng thể triển khai kế hoạch hoạt động theo từng học kỳ, từng tháng, từng tuần qua họp hội đồng giáo dục, qua TCM, qua thông báo trên bảng tin

Tổ chức truyền thông giáo dục nâng cao nhận thức về giáo dục PT XHTD như thông qua các góc tuyên truyền ở lớp và trường, qua hệ thống đài truyền thanh của xã Muốn kế hoạch được vận hành tốt theo đúng kế hoạch đề ra, hiệu trưởng phải làm thế nào cho mọi người thông suốt được kế hoạch, phải có sự thống nhất về kế

Trang 39

hoạch giáo dục PT XHTD, không phải kế hoạch giáo dục PT XHTD cho HS chỉ có

các bộ phận trực tiếp biết đến mà các thành viên khác trong trường cũng phải thông

suốt Hiệu trưởng phải biết và làm thế nào để phối hợp được các lực lượng trong và ngoài nhà trường cùng quan tâm đến công tác giáo dục PT XHTD, muốn làm được điều này thì trong kế hoạch hiệu trưởng phải đề ra được các yêu cầu cần phối hợp giữa các lực lượng, nhất là huy động được sự hợp tác của hội cha mẹ học sinh

1.4.3 Chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông

1.4.3.1 Chỉ đạo xây dựng mục tiêu hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT

Việc xác định chính xác mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục PT XHTD cho HS trong nhà trường có ý nghĩa quan trọng vì mục tiêu giáo dục quy định các nhiệm vụ, chi phối việc lựa chọn nội dung, phương pháp, phương tiện, các con đường và hình thức tổ chức giáo dục PT XHTD cho HS

Lãnh đạo các trường cần huy động các nguồn lực để tổ chức, chỉ đạo, tổ chức các giáo dục PT XHTD cho HS được thực hiện nhằm mục tiêu đào tạo ra những con người được khỏe mạnh cả về tinh thần lẫn sức khỏe, thể chất, mạnh dạn, tự tin

Xác định mục tiêu giáo dục PT XHTD cho HS xác định rõ kết quả cần đạt đến của giáo dục PT XHTD cho HS Mục tiêu giáo dục PT XHTD cho HS là trang bị cho học sinh các khả năng nhận diện và phòng tránh xâm hại Phát triển ở học sinh các kỹ năng cần thiết, phù hợp để tự vệ chính mình Mỗi HS thêm yêu và tôn trọng cơ thể, không cho người khác được động, chạm, nhìn vào vùng an toàn cũng như những hành vi “khiếm nhã”

Do vậy, mục tiêu của giáo dục PT XHTD không chỉ góp phần rất lớn cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục nói chung và mục đích học tập của học sinh trong nhà trường nói riêng để hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất và năng lực chung, nhất là trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên; tính tự lập, tự tin, tự chủ; các năng lực sáng tạo, hợp tác, giao tiếp, tự quản lí bản thân Với mục tiêu giáo dục PT XHTD là cầu nối nhà trường với thực tiễn cuộc sống, chính vì thế cần phải xác định thực tiễn cuộc sống ở đây bao gồm những gì

Với mục tiêu cụ thể của giáo dục PT XHTD là nâng cao nhận thức, hình thành

và rèn luyện kĩ năng thì mục tiêu hướng tới của giáo dục PT XHTD nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc tổ chức giáo dục PT XHTD, góp phần thực hiện mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể của bậc học Người quản lý có nhiệm vụ chỉ đạo cho

Trang 40

giáo viên thể hiện được mục tiêu của giáo dục PT XHTD thông qua các khâu chuẩn

bị, tổ chức các hoạt động và kiểm tra đánh giá kết quả

1.4.3.2 Chỉ đạo xây dựng nội dung hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT

Giáo dục PT XHTD cho HS bao gồm nhiều nội dung khác nhau không chỉ đối với bản thân HS mà còn đối với các bộ phận khác liên quan Việc xây dựng nội dung hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT nhằm thực hiện:

- Chỉ đạo tổ khối chuyên môn hướng dẫn GV thực hiện tích hợp hoặc lồng ghép nội dung giáo dục PT XHTD qua một số môn học Hoạt động PT XHTD thống nhất nội dung tích hợp, lồng ghép, phương pháp và thời gian để đảm bảo cả hai mục tiêu dạy học và giáo dục Xây dựng các tiết dạy minh họa có hoạt động PT XHTD, tiến hành dự hoạt động để đánh giá, góp ý, điều chỉnh trong thực hiện

Chỉ đạo các TCM tham gia tổ chức hoạt động PT XHTD khuyến khích các TCM xây dựng các câu lạc bộ, các buổi ngoại khóa và đầu tư cho chất lượng hoạt động nhằm đẩy lùi, ngăn chặn, phát hiện nguy cơ XHTD trong nhà trường

Chỉ đạo GV thực hiện đúng chương trình qui định trong dạy học và tổ chức các hoạt động PT XHTD, chú ý đổi mới PPDH, phương pháp hoạt động đồng bộ với đổi mới kiểm tra đánh giá HS Trong quá trình tổ chức hoạt động PT XHTD yêu cầu GV phải chú ý quản lý HS về nền nếp, thái độ, tính tích cực tham gia và đảm bảo an toàn cho HS trong quá trình tham gia hoạt động

Thường xuyên động viên, khích lệ mọi người khi họ gặp khó khăn, có sự khen thưởng bằng vật chất nếu cần thiết

Theo dõi, giám sát, điều chỉnh và sửa chữa (nếu có)

Hỗ trợ kịp thời cho GV trong quá trình thực hiện kế hoạch

1.4.3.3 Chỉ đạo thực hiện phương pháp, con đường giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT

Giáo dục PT XHTD được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau Mỗi hình thức hoạt động trên đều mang ý nghĩa giáo dục nhất định Hiệu trưởng chỉ đạo GV có thể sử dụng ba nhóm phương pháp sau đây khi thực hiện giáo dục PT XHTD qua một

số môn học cho học sinh: nhóm phương pháp thuyết phục, nhóm phương pháp tổ chức hoạt động và nhóm các phương pháp kích thích tính tích cực hoạt động và điều chỉnh hành vi Tuy nhiên, mỗi nhóm phương pháp trên đều có ưu điểm, hạn chế nhất

Ngày đăng: 19/11/2020, 10:16

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w