1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện đại từ tỉnh thái nguyên

80 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU CỦA LUẬN VĂN Tên đề tài: “Thực trạng và giải pháp sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” Ngành: Kinh tế nông nghiệp Mục tiêu của đề tài: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất RAT Đánh giá thực trạng sản xuất rau an toàn tại huyện Đại từ Phân tích các thuận lợi và khó khăn trong sản xuất rau an toàn tại huyện Đại từ và các nhân tố thúc đẩyrào cản trong sản xuất rau an toàn. Đề xuất các một số giải pháp nhằm thúc đẩy hiệu quả của sản xuất rau an toàn góp phần đẩy mạnh phát triển bền vững ngành trồng rau theo hướng thân thiện với môi trường. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp được tiến hành tại 3 xã có diện tích rau lớn tại huyện Đại Từ (Tiên Hội, Vạn Thọ và thị trấn Đại Từ) mỗi xã chọn ngẫu nhiên 30 hộ trồng rau, số liệu được xử lý trên phần mềm Exel. Ngoài phỏng vấn hộ trồng rau, tác giả còn tiến hành phỏng vấn các hộ kinh doanh RAT và người tiêu dùng để tìm hiểu thị trường RAT. Kết quả nghiên cứu: Thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn của huyện Đại Từ vẫn còn ở quy mô nhỏ lẻ và phân tán; hạ tầng phục vụ rau an toàn còn hạn chế; trình độ kỹ thuật công nghiệp còn yếu kém. Sản xuất rau an toàn, sản xuất rau theo tiêu chuẩn rau an toàn còn chậm phát triển mặc dù so sánh hiệu quả sản xuất rau an toàn với rau thông thường thì RAT có hiệu quả hơn rõ rệt, nguyên nhân do mạng lưới tiêu thụ rau an toàn chưa phát triển, chủ yếu là các HTX tiêu thụ 1 lượng nhỏ rau cho các trường học bán trú trên địa bàn, tiêu thụ rau an toàn còn gặp nhiều khó khăn. Đây nhân tố chính ảnh hưởng đến quá trình phát triển và tiêu thụ RAT. Trong đó nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc trợ giúp và khuyến khích ngành RAT phát triển thông qua các chủ trương và các chính sách. Đề xuất hệ thống các giải pháp chủ yếu phát triển sản xuất và tiêu thụ RAT: Tổ chức quy hoạch sản xuất RAT như tiến hành quy hoạch vùng trồng RAT tập trung theo địa bàn huyện để hình thành các vùng sản xuất rau hàng hoá, quy hoạch gắn với thị trường bao tiêu sản phẩm. Công tác quy hoạch cần được triển

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN ĐỨC QUÝ

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT RAU AN TOÀN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN ĐỨC QUÝ

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT RAU AN TOÀN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số ngành: 8.62.01.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS Kiều Thị Thu Hương

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và chưa được dùng để bảo vệ một học vị nào khác Các thông tin, trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi

rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 05 năm 2020

Tác giả luận văn

Trần Đức Quý

Trang 4

LỜI CẢMƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất

cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các khoa, văn phòng của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi

về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này Tôi xin trân trọng

cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giảng viên hướng dẫn TS Kiều Thị Thu Hương

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các

cô chú, anh chị em và bạn bè, tôi xin chân thành cảm ơn Thêm nữa, tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành nghiên cứu này

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó

Thái Nguyên, tháng 05 năm 2020

Tác giả luận văn

Trần Đức Quý

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢMƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

TRÍCH YẾU CỦA LUẬN VĂN vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

5.1 Ý nghĩa khoa học 3

5.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.1 Một số lý thuyết về sản xuất và sản xuất rau an toàn 4

Tiêu chuẩn rau an toàn 8

Các biện pháp kỹ thuật sản xuất rau an toàn: 14

1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ rau an toàn 18

1.2 Cơ sở thực tiễn 22

1.2.1 Tình hình nghiên cứu rau trên thế giới 22

1.2.2 Tình hình nghiên cứu rau an toàn ở Việt Nam 26

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 29

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý 29

2.1.2 Điều kiện, kinh tế xã hội, dân số và lao động 30

2.2 Nội dung nghiên cứu 32

Trang 6

2.3 Phương pháp nghiên cứu 32

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 32

2.3.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 33

2.3.3 Phương pháp phân tích thông tin 33

2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 33

2.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình kết quả sản xuất của hộ 33

2.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của rau an toàn 35

2.4.3 Các chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng sản xuất 35

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

3.1 Thực trạng sản xuất rau trên địa bàn huyện Huyện Đại từ, tỉnh Thái Nguyên 36

3.1.1 Diện tích trồng rau và tỷ lệ trồng rau an toàn trên địa bàn nghiên cứu 36

3.1.2 Cơ cấu mùa vụ trồng rau trên địa bàn nghiên cứu 36

3.2 Phân tích thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tại các điểm nghiên cứu 37

3.2.1 Đặc điểm nhóm hộ nghiên cứu 37

3.2.3 So sánh hiệu quả sản xuất RAT và rau truyền thống 39

3.2.4 Thị trường và phương thức tiêu thụ rau của hộ sản xuất 41

3.2.5 Nhu cầu của người tiêu dùng đối với rau thông thường và rau an toàn 42

3.3 Phân tích các thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển sản xuất rau an toàn tại huyện Đại Từ 45

3.4 Một số giải pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ rau tại Huyện Đại Từ 47

3.4.1 Phương hướng phát triển sản xuất và tiêu thụ RAT 47

3.4.2 Những giải pháp chủ yếu để phát triển sản xuất và tiêu thụ RAT 48

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58

1 Kết luận 58

2 Kiến nghị 59

2.1 Đối với Huyện Đại Từ 59

2.2 Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh RAT 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Diện tích gieo trồng rau an toàn của các xã nghiên cứu 36

Bảng 3.2: Cơ cấu mùa vụ tại các xã nghiên cứu 37

Bảng 3.3: Một số thông tin cơ bản về các hộ điều tra 37

Bảng 3.4: Hộ tham gia HTX và tổ hợp tác 38

Bảng 3.5: So sánh hiệu quả sản xuất của một số loại rau chính trên 1 ha 40

Bảng 3.6: Lựa chọn địa điểm mua rau của hộ gia đình 43

Bảng 3.7: Lý do người tiêu dùng không mua rau an toàn 44

Trang 8

PTNT : Phát triển nông thôn

RAT : Rau an toàn

RTT : Rau thông thường

UBND : Ủy ban nhân dân

VSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm

Trang 9

TRÍCH YẾU CỦA LUẬN VĂN

Tên đề tài: “Thực trạng và giải pháp sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Đại

Từ, tỉnh Thái Nguyên”

Ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mục tiêu của đề tài: - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất RAT

- Đánh giá thực trạng sản xuất rau an toàn tại huyện Đại từ

- Phân tích các thuận lợi và khó khăn trong sản xuất rau an toàn tại huyện Đại từ và các nhân tố thúc đẩy/rào cản trong sản xuất rau an toàn

- Đề xuất các một số giải pháp nhằm thúc đẩy hiệu quả của sản xuất rau an toàn góp phần đẩy mạnh phát triển bền vững ngành trồng rau theo hướng thân thiện với môi trường

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp được tiến hành tại

3 xã có diện tích rau lớn tại huyện Đại Từ (Tiên Hội, Vạn Thọ và thị trấn Đại Từ) mỗi xã chọn ngẫu nhiên 30 hộ trồng rau, số liệu được xử lý trên phần mềm Exel Ngoài phỏng vấn hộ trồng rau, tác giả còn tiến hành phỏng vấn các hộ kinh doanh RAT và người tiêu dùng để tìm hiểu thị trường RAT

Kết quả nghiên cứu: Thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn của huyện Đại Từ

vẫn còn ở quy mô nhỏ lẻ và phân tán; hạ tầng phục vụ rau an toàn còn hạn chế; trình độ kỹ thuật công nghiệp còn yếu kém Sản xuất rau an toàn, sản xuất rau theo tiêu chuẩn rau an toàn còn chậm phát triển mặc dù so sánh hiệu quả sản xuất rau an toàn với rau thông thường thì RAT có hiệu quả hơn rõ rệt, nguyên nhân do mạng lưới tiêu thụ rau an toàn chưa phát triển, chủ yếu là các HTX tiêu thụ 1 lượng nhỏ rau cho các trường học bán trú trên địa bàn, tiêu thụ rau an toàn còn gặp nhiều khó khăn Đây nhân tố chính ảnh hưởng đến quá trình phát triển và tiêu thụ RAT Trong

đó nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc trợ giúp và khuyến khích ngành RAT phát triển thông qua các chủ trương và các chính sách

Đề xuất hệ thống các giải pháp chủ yếu phát triển sản xuất và tiêu thụ RAT:

Tổ chức quy hoạch sản xuất RAT như tiến hành quy hoạch vùng trồng RAT tập trung theo địa bàn huyện để hình thành các vùng sản xuất rau hàng hoá, quy hoạch gắn với thị trường bao tiêu sản phẩm Công tác quy hoạch cần được triển

Trang 10

khai nhanh chóng các phương án quy hoạch cụ thể vùng sản xuất, trên nguyên tắc tập trung đồng bộ, với đầy đủ kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất RAT Ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng sản xuất RAT, tăng cường đầu tư

hạ tầng phục vụ các vùng sản xuất RAT tập trung chuyên canh Đẩy mạnh công tác

hỗ trợ về mặt kỹ thuật trong phát triển sản xuất và tiêu thụ RAT trng điều kiện hội nhập, đây là một nội dung rất quan trọng trong chiến lược phát triển ngành RAT Tăng cường công tác khuyến nông Tiếp tục xây dựng hoàn thiện tổ chức mối quan

hệ gắn kết chặt chẽ giữa các khâu sản xuất và tiêu thụ RAT nhằm tạo rau sức mạnh tổng hợp của ngành hàng RAT Phát triển sản xuất và tiêu thụ RAT thông qua thực hiện các chính sách biện pháp quản lý kinh tế vĩ mô có tính quyết định như chính sách đầu tư, khoa học công nghệ, tài chính - tín dụng, khuyến nông; tăng cường kiểm tra kiêm soát thị trường RAT, kiểm tra chất lương sản phẩm RAT… Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư xây dựng hạ tầng phục vụ ngành RAT, ngiên cứu khoa học và phát triển kỹ thuật công nghệ mới, thông tin thị trường RAT

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Rau là nguồn cung cấp dinh dưỡng quan trọng cho cơ thể như các loại vitamin, chất xơ, muối khoáng và axit hữu cơ Rau còn là loại thực phẩm không thể thiếu được trong bữa ăn hàng ngày của mỗi gia đình (Lê Thị Khánh, 2009 “Giáo

trình cây rau” - ĐHNL Huế], [12-Mike Nichols, Martin Hilmi, 2009 Trồng rau cho

gia đình và thị trường - FAO, (2009) “Growing vegetables for home and markets”] Nhu cầu tiêu thụ rau, quả trung bình của mỗi hộ tại Việt Nam khoảng 71 kg trong

đó rau chiếm ¾ tổng sản lượng tiêu thụ rau quả của hộ [Viện kinh tế nông nghiệp Việt Nam (2005), Báo cáo tổng quan các nghiên cứu về ngành rau quả của Việt Nam], [Trung tâm nghiên cứu và phát triển quốc tế về nông nghiệp và nông thôn

2004, Báo cáo năm] Tuy nhiên những năm gần đây, hiện tượng ngộ độc do ăn rau ngày càng nhiều cao Nguyên nhân chính là do hóa chất bảo vệ thực vật tồn dư trên sản phẩm rau quá mức cho phép và do thói quen của người dân hay ăn các thức ăn rau tươi sống [Dương Quang Huy (2016), Nghiên cứu giải pháp phát triển rau an

toàn tại thành phố Thái Nguyên] Ngoài những trường hợp gây ngộ độc cấp tính dẫn đến tử vong dễ nhận biết, còn các ảnh hưởng lâu dài đến ảnh hưởng sức khỏe cho mọi người vẫn chưa lường hết được Những thông tin và tình trạng ngộ độc do

dư lượng thuốc trừ sâu trong rau khiến người tiêu dùng hoang mạng khi phải lựa chọn thực phẩm trên thị trường Rau an toàn thật sự là một nhu cầu cấp thiết của người tiêu dùng Hiện nay các cơ sở sản xuất và tiêu thụ rau an toàn đã xuất hiện nhiều trên thị trường nhưng vẫn còn mang tính nhỏ lẻ và chưa thực sự mang lại niềm tin cho người tiêu dùng Vì vậy vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm với mặt hàng nông sản nhất là sản phẩm rau đang được xã hội đặc biệt quan tâm [Trung tâm

nghiên cứu và tiêu dùng (2014), Báo cáo thực trạng rau củ quả trên thị trường Việt

Nam] Để đáp ứng nhu cầu thực phẩm an toàn hiện nay trên thế giới và nhiều quốc gia đã ban hành các tiêu chuẩn sản xuất rau an toàn như JGAP, GlobalGAP Chính phủ Việt Nam cũng ban hành bộ tiêu chuẩn VietGAP quy định các tiêu chí sản xuất nông nghiệp an toàn trong đó có các quy định về sản xuất rau an toàn

Bộ tiêu chuẩn VietGAP đã được nhiều địa phương áp dụng để xây dựng

Trang 12

vùng sản xuất rau an toàn, trong đó có địa bàn huyện Đại từ Tuy nhiên tình hình sản xuất và tiêu thụ rau bị ảnh hưởng bởi nhiều nguyên nhân khác nhau Điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới tính an toàn trong sản phẩm tiêu dùng của họ và quá trình bán hàng của các cơ sở sản xuất rau an toàn

Trái ngược với sự gia tăng về nhu cầu sử dụng rau an toàn thì các sản phẩm rau an toàn lại phải bán trên thị trường như các sản phẩm rau thông thường Hiện nay có tới 74% lượng rau an toàn sản xuất theo quy trình an toàn phải bán trên thị trường tự do và các chợ nhỏ lẻ, chỉ 24% bán trong các của hàng siêu thị rau an toàn (Trung tâm nghiên cứu và tiêu dùng (2014), Báo cáo thực trạng rau củ quả

trên thị trường Việt Nam)

Thực trạng sản xuất và tiêu dùng rau an toàn tại địa bàn huyện Đại từ hiện tại

ra sao? Các sản phẩm rau an toàn của địa phương có đáp ứng đủ nhu cầu của người dân huyện Đại từ? Những yếu tố nào ảnh hưởng tới sự phát triển của sản xuất rau

an toàn trên địa bàn? Cần làm gì để phát triển bền vững rau an toàn và đảm bảo lợi ích của người sản xuất, kinh doanh và bảo đảm sức khỏe và quyền lợi của người

tiêu dùng? Chính vì vậy tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” Để tìm lời

giải đáp cho các câu hỏi trên và xây dựng các giải pháp thúc đẩy phát triển sản xuất rau an toàn đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng tại huyện Đại từ

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất rau an toàn

- Đánh giá thực trạng sản xuất rau an toàn tại huyện Đại từ

- Phân tích các thuận lợi và khó khăn trong sản xuất rau an toàn tại huyện Đại từ và các nhân tố thúc đẩy/rào cản trong sản xuất rau an toàn

- Đề xuất các một số giải pháp nhằm thúc đẩy hiệu quả của sản xuất rau an toàn góp phần đẩy mạnh phát triển bền vững ngành trồng rau theo hướng thân thiện với môi trường

3 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là 90 hộ dân sản xuất rau an toàn tại địa bàn thị trấn Hùng Sơn, xã Tiên Hội, và xã Vạn Thọ

- Các vấn đề liên quan đến sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Đại Từ

Trang 13

hộ được thu thập từ năm 2017 - 2019, số liệu sơ cấp thu thập trong năm 2019

5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn

5.1 Ý nghĩa khoa học

Hệ thống hóa các cơ sở lý luận và thực tiễn của sản xuất rau an toàn, tổng hợp các kết quả nghiên cứu trở thành tài liệu tham khảo cung cấp cho những người quan tâm đến việc nghiên cứu về sản xuất rau an toàn

5.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đánh giá khách quan thực trạng sản xuất rau an toàn tại địa phương và phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển sản xuất rau an toàn, phân tích lợi ích tài chính đối với các tác nhân

Giúp các nhà sản xuất, các doanh nghiệp, các cá nhân trong sản xuất rau an toàn tăng khả năng liên kết thực hiện mục tiêu cung cấp cho thị trường, cho người tiêu dùng các sản phẩm rau an toàn

Đề xuất giải pháp quản lý và phát triển ngành sản xuất rau an toàn của địa phương và đảm bảo lợi ích cho người sản xuất, người kinh doanh đáp ứng nhu cầu của thị trường và bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số lý thuyết về sản xuất và sản xuất rau an toàn

1.1.1.1 Khái niệm sản xuất và tiêu thụ

Sản xuất là kết hợp các yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm sản xuất là quá trình lao động tạo ra của cải không có sẵn trong tự nhiên nhưng lại cần thiết cho sự tồn tại phục vụ lợi ích của xã hội

Đầu vào là tất cả các yếu tố sử dụng trong sản xuất như vốn đầu tư Đầu ra là những kết quả của quá trình sản xuất gồm các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ không có sẵn trong tự nhiên nhưng nó rất cần trong sự sống của con người Đầu vào và đầu ra luôn đi cùng với nhau chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau, thể hiện qua hàm sản xuất:

Q = f (Xi) Trong đó:

- Q: là khối lượng sản phẩm sản xuất ra

- Xi: là các yếu tố đầu vào để tạo ra Q sản phẩm

Đối với sản xuất rau đầu vào được bao gồm: lân, đam, kali, giống, công chăm sóc và một số yếu tố khác Còn trong sản xuất rau đầu ra chính là các loại rau thông qua sản xuất mà có để phục vụ nhu cầu của xã hội và gia đình

Sản phẩm làm ra đều phải trải qua khâu tiêu thụ thì mới thực hiện được quá trình tái sản xuất sản phẩm đó Vì vậy, tiêu thụ là một khâu quan trọng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh là quá trình thực hiện giá trị sản phẩm Thông qua quá trình tiêu thụ mà sản phẩm sản xuất ra sẽ đưa sang lĩnh vực lưu thông và tới tay người tiêu dùng Tiêu thụ được sản phẩm cần dựa vào nhiều yếu tố như chất lượng,

số lượng của sản phẩm, thị trường, cơ sở hạ tầng, sự nhanh nhạy của người sản xuất, chính sách vĩ mô của chính phủ Đối với rau thì kết quả và hiệu quả kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào quá trình tiêu thụ Đây là loại sản phẩm cần được tiêu thụ nhanh sau khi thu hoạch thì mới đem lại số lượng và chất lượng sản phẩm được tốt Bảo quản sản phẩm khi thu hoạch cần được quan tâm

Trang 15

1.1.1.2 Khái niệm về phát triển và phát triển sản xuất

Theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học phát triển: Phát triển là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so với khái niệm tăng trưởng kinh tế Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ là sự gia tăng thuần tuý

về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: GNP, GNP/đầu người hay GDP, GDP/đầu người… thì phát triển kinh tế ngoài việc bao hàm quá trình gia tăng đó, còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về mặt chất của nền kinh tế – xã hội, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH,HĐH và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao mức sống toàn dân, trình độ phát triển văn minh xã hội thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như: thu nhập thực tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, trình độ dân trí, bảo vệ môi trường, và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật vào phát triển kinh tế – xã hội… Với nội hàm rộng lớn trên đây, về cơ bản khái niệm phát triển kinh tế đã đáp ứng được các nhu cầu đặt ra cho sự phát triển toàn diện nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội… Tuy nhiên như đã biết, trong khoảng hơn hai thập niên vừa qua, do xu hứớng hội nhập, khu vực hoá, toàn cầu hoá phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn nên đã nảy sinh nhiều vấn đề dù là ở phạm vi từng quốc gia, lãnh thổ riêng biệt, song lại có ảnh hưởng chung đến sự phát triển của cả khu vực và toàn thế giới, trong đó có những vấn đề cực kỳ phức tạp, nan giải đòi hỏi phải có sự chung sức của cả cộng đồng nhân loại, ví dụ như: môi trường sống, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, khủng bố… Từ đó đòi hỏi sự phát triển của mỗi quốc gia, lãnh thổ và cả thế giới phải được nâng lên tầm cao mới cả về chiều rộng và chiều sâu của

sự hợp tác, phát triển Thực tiễn đó đã thúc đẩy sự ra đời một khái niệm mới về phát triển mang nội hàm phản ánh tổng hợp hơn, toàn diện hơn tất cả các khái niệm về tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế…, đó là khái niệm phát triển bền vững mà sau đây ta sẽ xem xét kỹ hơn

Trang 16

(WCED) của Liên hợp quốc, "phát triển bền vững" được định nghĩa "là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau" Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường

và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm

2002 đã xác định "phát triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nền tảng là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (mục tiêu là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (mục tiêu là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên) Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống

1.1.1.3 Khái niệm về rau an toàn

Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về rau an toàn Theo Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn 1998 thì những sản phẩm rau tươi có chất lượng giống như đặc tính giống của nó, hàm lượng các hóa chất độc hại và mức độ nhiễm

vi sinh vật gây hại dưới mức tiêu chuẩn cho phép và bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường thì được gọi là rau đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm gọi tắt là rau an toàn

Theo thông tư 59 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Rau, quả an toàn là sản phẩm rau, quả tươi được sản xuất, sơ chế, chế biến phù hợp quy chuẩn

kỹ thuật quốc gia về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm hoặc phù hợp với quy trình kỹ thuật sản xuất, sơ chế rau, quả an toàn được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt hoặc phù hợp với các quy định liên quan đến đảm bảo an toàn thực phẩm có trong quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả tươi

an toàn VietGAP, các tiêu chuẩn GAP khác và mẫu điển hình đạt các chỉ tiêu an toàn thực phẩm theo quy định [Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2012),

Trang 17

Thông tư 59/2012/BNN - PTNT]

Rau an toàn là rau khi sản xuất vẫn sử dụng phân hoá học và các hoá chất BVTV, song có giới hạn Chất lượng rau sản xuất ra có các tiêu chuẩn về: dư lượng thuốc BVTV; gốc nitrat và các yếu tố độc hại gây bệnh khác trong rau nằm trong giới hạn tiêu chuẩn cho phép, đảm bảo vệ sinh và an toàn sức khoẻ cho người tiêu dùng

Căn cứ theo quyết định số 04/2007/QĐ - BNN, ngày 19/01/2007 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc ban hành “ Quy định về quản lý sản xuất và chứng

nhận rau an toàn” [Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2007, Quyết định số

04/007/QĐ - BNN, ngày 19/01/2007 “Quy định về quản lý sản xuất và chứng nhận

rau an toàn”] khái niệm RAT được hiểu như sau: “Là sản phẩm rau tươi đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng về hàm lượng kim loại nặng, hàm lượng Nitrat (NO3), vi sinh vật, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) theo quy định hiện hành của nhà nước (tại quyết định số 99/2008/QĐ - BNN ngày 15/10/2008 của Bộ NN&PTNT); được sản xuất, sơ chế theo quy trình sản xuất, sơ chế RAT; tiến tới sản xuất, sơ chế theo quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả tươi Việt Nam (VietGAP)”

* Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả tươi Việt Nam gọi tắt là

VietGAP (Vietnames Good Agricultural Practices): Là những nguyên tắc trình tự,

thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch, sơ chế đảm bảo an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và nguồn gốc sản phẩm

* Ngưỡng an toàn: Là mức giới hạn tối đa cho phép của dư lượng hóa chất

độc hại (kim loại nặng, nitrat, thuốc Bảo vệ thực vật, các chất điều hòa sinh trưởng), các vi sinh vật có hại được phép tồn tại trên rau mà không ảnh hưởng đến sức khỏe con người theo Quy định hiện hành của Bộ Y tế

Tóm lại: Rau an toàn phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Không chứa dư lượng thuốc sâu quá mức cho phép

Không chứa lượng nitrat quá mức cho phép

Không chứa các vi khuẩn và kí sinh trùng gây bệnh cho người và gia súc, gia cầm (kể cả ăn sống và nấu chín ngay khi ăn và cả một thời gian sau khi ăn)

Trang 18

Không tồn dư một số kim loại nặng như: Thuỷ ngân (Hg), chì (Pb) quá ngưỡng cho phép

Tiêu chuẩn rau an toàn

Theo Quyết định số 106/2007/QĐ - BNN ngày 28 tháng 12 năm 2007 của

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) [Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2007, Quyết định số 106/2007/QĐ - BNN ngày 28 tháng 12 năm 2007

“Tiêu chuẩn và điều kiện sản xuất rau an toàn”] sản phẩm rau được hiểu là an toàn khi đáp ứng được các yêu cầu sau:

a, Chỉ tiêu về hình thái

Chỉ tiêu hình thái tức là xét ở khía cạnh sạch, hấp dẫn về hình thức: sản phẩm rau phải tươi, sạch bụi bẩn, không lẫn các tạp chất, thu đúng độ chín - khi có chất lượng cao nhất, không có triệu chứng bệnh, có bao bì bảo quản vệ sinh hấp dẫn

b, Chỉ tiêu về nội chất

Chỉ tiêu nội chất tức là xét về khía cạnh sạch, an toàn về chất lượng: Khi sản phẩm rau không chứa các dư lượng vượt quá ngưỡng cho phép của tiêu chuẩn vệ sinh y tế của Việt Nam và các tổ chức quốc tế như tiêu chuẩn của tổ chức nông lương Liên Hợp Quốc (FAO), Tổ chức Y Tế Thế giới (WHO) hoặc của một số nước tiên tiến như: Nga, Mỹ Chỉ tiêu nội chất được quy định cho rau tươi bao gồm :

- Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật

- Dư lượng đạm Nitrat(NO3)

- Dư lượng kim loại nặng(chì, thủy ngân, asenic, kẽm, đồng…)

- Số lượng vi sinh vật và kí sinh trùng gây hại

Trong đó yêu cầu (2) hoàn toàn phụ thuộc vào môi trường canh tác và kỹ thuật trồng trọt, nó là yếu tố quyết định rau sạch hay rau bị ô nhiễm

Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật

Thuốc BVTV hay nông dược là những chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hoá chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật Khi phun thuốc BVTV, có một phần lượng thuốc bám lại trên bề mặt cây rau gọi là dư lượng thuốc Lượng thuốc tồn dư này ở một mức độ nhất định sẽ gây ngộ độc cho người ăn Người bị

Trang 19

ngộ độc có thể sẽ gánh chịu những hậu quả nặng nề trước mắt hoặc lâu dài tuỳ thuộc vào nồng độ và loại độc tố tích luỹ trong cơ thể

Theo Trần Khắc Thi, hiện nay, Việt Nam sử dụng khoảng 270 loại thuốc trừ sâu, 216 loại thuốc trừ bệnh, 160 loại thuốc trừ cỏ, 12 loại thuốc diệt chuột và 22 loại thuốc kích thích sinh trưởng với khối lượng ngày càng tăng Khi phun thuốc trừ sâu, trừ bệnh, trừ cỏ dại… thuốc sẽ tạo thành lớp mỏng trên bề mặt của lá, quả, thân cây, mặt đất, mặt nước (Trần Khắc Thi và cộng sự 2008) [Trần Khắc Thi (2008),

Một số kết quả nghiên cứu ứng dụng các giải pháp khoa học và công nghệ và thị trường để phục vụ chương trình xuất khẩu rau ở các kênh tiêu thụ tại Hà Nội]

Theo Bùi Bảo Hoàn, rau có nhiều chủng loại, do vậy sâu hại cũng đa dạng,

thông thường sâu bệnh làm giảm năng suất từ 10 - 40% đôi khi còn tới 100% nếu có dịch hại nên nông dân Việt Nam thường sử dụng quá nhiều (0,4 - 0,5 kg a.i - a.i là lượng hữu cơ hữu hiệu) trong khi đó liều lượng cho phép không quá 0.2 - 0.25 kg a.i để phun cho rau do Do thói quen sợ rủi ro, ít hiểu biết về mức độ độc hại của các

loại hoá chất BVTV

Một số nguyên nhân quan trọng khác nữa là khoảng cách thời gian cách ly giữa lần phun thuốc cuối cùng tới lúc thu hoạch không tuân thủ nghiêm ngặt, đặc biệt là các loại rau thu hoạch liên tục như cà chua, đậu cô ve, dưa chuột

Ngoài ra nông dân còn sử dụng nhiều loại thuốc trừ sâu có độc tố cao (nhóm

I, II) để bảo quản hạt giống các loại rau hay bị sâu mọt như hạt mùi, tía tô, rau dền, rau muống

Biện pháp hữu hiệu và đơn giản nhất để làm cho hàm lượng thuốc BVTV trong rau thấp hơn mức cho phép là áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp và sử dụng thuốc hoá học một cách hợp lý nhất

* Hàm lượng nitrat tồn dư trong rau (NO 3 - )

Đạm là thành phần hữu cơ quan trọng cho rau Khi đất trồng có quá nhiều đạm thì lượng đạm dư thừa sẽ tích luỹ trong rau dưới dạng Nitrat (NO3-) Khi đi vào

cơ thể con người NO3- sẽ bị khử thành NO2, NO2 làm chuyển hoá chất Oxyhemoglobin (chất vận chuyển oxy trong máu) thành một chất không hoạt động được gọi là methahemoglobin, làm cho máu thiếu oxy Trong cơ thể, lượng nitrat ở

Trang 20

mức cao sẽ gây phản ứng với anmin thành chất gây ung thư gọi là nitrosamin Có thể nói hàm lượng nitrat vượt ngưỡng là triệu chứng nguy hiểm cho sức khoẻ con người [Nguyễn Quang Thạch (1999), Nghiên cứu trồng rau thủy canh công nghệ

cao trong điều kiện có mái che sản xuất trong nước phục vụ phát triển kinh tế xã hội các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam ]

Tổ chức Y Tế Thế Giới WHO và cộng đồng Y tế châu Âu (EC) giới hạn lượng nitrat trong nước uống là 50mg/lít Trẻ em thường xuyên uống nước có hàm lượng nitrat cao hơn 45 mg/lít sẽ bị rối loạn trao đổi chất, giảm khả năng kháng bệnh Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo hàm lượng nitrat trong rau không vượt quá

300 mg/kg rau tươi

Hiện nay các loại rau bán trên thị trường hiện nay có thể chia ra làm 3 nhóm chính: Nhóm I: Có tồn dư NO3 rất cao ≤ 1200 mg/kg rau tươi gồm cải xanh, cải cúc, cải bẹ, rau dền, rau day, cải đắng; - Nhóm II: Có tồn dư NO3 từ 600 - 1200 mg/kg rau tươi gồm: cải bắp, cải củ, mồng tơi, xà lách, rau cải ngọt, su hào, mướp, bầu bí

và các loại rau gia vị; - Nhóm III: Là loại rau tồn dư N03 ≤ 600 mg/kg rau tươi gồm:

hành, rau muống, cải xoong, bí đỏ, dưa chuột, cà rốt (Trần Khắc Thi và Cộng sự,

2005) [ Trần Khắc Thi, Nguyễn Công Hoan (2005), Kỹ thuật trồng rau an toàn, Nxb

Nông nghiệp, Hà Nội]

* Hàm lượng một số kim loại nặng chủ yếu

Đặc tính của kim loại nặng là không thể tự phân huỷ được nên có sự tích luỹ trong dây truyền thức ăn của hệ sinh thái Các kim loại nặng như asen, chì, thuỷ ngân nếu vượt quá cho phép cũng là những chất có hại cho cơ thể, hạn chế sự phát triển của các tế bào và hoạt động của máu, gây thiếu máu, biến động thân nhiệt, rối loạn tiêu hoá

Nguyên nhân chính làm hàm lượng kim loại nặng trong rau tăng chủ yếu do trong thuốc BVTV và phân bón NPK có chứa một số kim loại nặng Trong quá trình tưới tiêu, các kim loại nặng này bị rửa trôi xuống ao hồ, sông rạch, thâm nhập vào mạch nước ngầm và gây ô nhiễm nguồn nước tưới rau Mặt khác, nguồn nước thải của các thành phố và các khu công nghiệp chứa nhiều kim loại nặng cũng được chuyển trực tiếp vào rau tươi

Trang 21

Biện pháp khắc phục hiệu quả nhất là khuyến cáo tuyệt đối không sản xuất rau ở khu vực có chất thải của các nhà máy, khu công nghiệp, các khu vực đất đã bị

ô nhiễm do quá trình sản xuất trước đó gây ra Tuyệt đối không sử dụng nước gần khu công nghiệp, các nhà máy để tưới

* Mức độ ô nhiễm do sử dụng nước tưới không sạch

Các sản phẩm rau đều chứa một lượng nước rất lớn song nếu sử dụng nguồn nước không sạch thì sẽ gây góp phần gây ô nhiễm Nước có thể gây ô nhiễm cho sản phẩm bằng hai cách:

* Các kim loại nặng có sẵn trong đất hay nguồn nước thải từ thành phố khu công nghiệp được cây hấp thụ và tích luỹ dần vào sản phẩm

* Ngoài ra việc bón lân nhiều cũng làm tăng hàm lượng kim loại nặng Những sản phẩm không chỉ gây hại lúc sản phẩm tươi mà còn ảnh hưởng lớn trong công nghiệp đồ hộp

* Các vùng trồng rau dùng phân tươi để tưới trực tiếp đó cũng là một hình thức truyền tải mầm bệnh trứng giun và các vi sinh vật gây bệnh khác Như vi

khuẩn E.coli gây bệnh đường ruột hay vi khuẩn samonella gây bệnh thương hàn

c, Chỉ tiêu về điều kiện sản xuất rau an toàn

Các tiêu chuẩn quy định về điều kiện sản xuất rau an toàn tại Việt Nam được quy định theo thông tư 59 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2012, điều kiện sản xuất rau an toàn phải đảm bảo:

Điều kiện sản xuất rau, quả: Thực hiện theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về

điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với rau, quả trong sản xuất do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành hoặc theo quy trình kỹ thuật sản xuất rau, quả an toàn được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt hoặc theo các quy định liên quan đến đảm bảo an toàn thực phẩm trong VietGAP hoặc các GAP khác [Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2012), Thông tư 59/2012/BNN - PTNT]

Điều kiện sơ chế rau: Thực hiện theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều

kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với rau, quả trong sản xuất, sơ chế do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành [Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2012), Thông tư 59/2012/BNN - PTNT]

Trang 22

Điều kiện chế biến rau, quả: Thực hiện theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-09:2009/BNNPTNT về cơ sở chế biến rau, quả - điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm

d, Nguyên tắc sản xuất rau an toàn

Các nguyên tắc sản xuất rau an toàn được quy định theo tiêu chuẩn GAP được quy định trong quyết định số 379/QĐ-BNN-KHCN năm 2008:

- Chọn đất:

Đất để trồng rau phải là đất cao, thoát nước tốt, thích hợp với quá trình sinh trưởng, phát triển của rau Tốt nhất là chọn đất cát pha, đất thịt nhẹ hoặc đất thịt trung bình có tầng canh tác dày 20-30cm Vùng trồng rau phải cách ly với khu vực

có chất thải công nghiệp nặng và bệnh viện ít nhất 2km, với chất thải sinh hoạt của thành phố ít nhất 200m Đất có thể chứa một lượng nhỏ kim loại nhưng không được tồn dư hoá chất độc hại [Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2008, Quyết định

số 379/QĐ-BNN-KHCN “Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau

quả an toàn tại Việt Nam (vietgap)]

Điều kiện kỹ thuật

Tối thiểu 90% số hộ trồng rau đồng thuận sản xuất RAT phải được tập huấn

kỹ thuật về sản xuất RAT do Chi cục BVTV, Trung tâm Khuyến nông tổ chức và cấp giấy chứng nhận, hộ hoặc các nhóm hộ phải cơ bản đồng thuận sản xuất theo quy trình kỹ thuật RAT [Bộ NN và PTNT 1998- quyết định số 67/1998/QĐ-BNN-

KHKT - Quy định về sản xuất rau an toàn”]

379/QĐ-BNN-KHCN “Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả

an toàn tại Việt Nam (vietgap)]

Trang 23

Giống:

Chỉ gieo những hạt giống tốt và trồng cây con khoẻ mạnh, không có mầm bệnh Phải biết rõ lý lịch nơi sản xuất hạt giống Hạt giống nhập nội phải qua kiểm dịch thực vật Trước khi gieo trồng hạt giống phải được xử lý hoá chất hoặc nhiệt Trước khi trồng cây con xuống ruộng cần xử lý Sherpa 0,1% để phòng và trừ sâu hại sau này [Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2008, Quyết định số 379/QĐ-

BNN-KHCN “Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả an toàn

tại Việt Nam ( VietGAP )]

Phân bón:

Mỗi loại cây có chế độ bón và lượng bón khác nhau Trung bình để bón lót dùng 15 tấn phân chuồng và 300kg lân hữu cơ vi sinh cho 1ha Tuyệt đối không dùng phân chuồng tươi để loại trừ các vi sinh vật gây bệnh, tránh nóng cho rễ cây và để tránh sự cạnh tranh đạm giữa cây trồng và các nhóm vi sinh vật Tuyệt đối không dùng phân tươi và nước phân chuồng pha loãng tưới cho rau Tuỳ từng loại rau mà

số lượng, chủng loại phân cân đối, hợp lý và có thời gian cách ly an toàn khi thu hoạch Việc sử dụng phân đạm và các loại phân khác đảm bảo không tạo ra dư lượng vượt quá ngưỡng cho phép theo quyết định số 67/1998/QĐ-BNN-KHKT ngày 28/4/1998 của Bộ NN & PTNN về "Quy định về sản xuất rau an toàn" [Bộ NN và

PTNT 1998- quyết định số 67/1998/QĐ-BNN-KHKT - Quy định về sản xuất rau an toàn”]

Bảo vệ thực vật:

Không sử dụng thuốc hoá học BVTV thuộc nhóm độc I và II Tuyệt đối không dùng các thuốc cấm và hạn chế sử dụng ở Việt Nam đã được Bộ NN & PTNN ban hành [Bộ NN và PTNT 1998- quyết định số 67/1998/QĐ-BNN-KHKT -

Quy định về sản xuất rau an toàn”] khi thật cần thiết có thể sử dụng nhóm III và

IV Nên chọn các loại thuốc có hoạt chất thấp, ít độc hại với ký sinh thiên địch Kết thúc phun thuốc hoá học trước khi thu hoạch ít nhất 5 đến 10 ngày Ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học như Bt, hạt củ đậu, các chế phẩm thảo mộc, các ký sinh thiên địch để phòng bệnh Áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt để phòng trừ tổng hợp IPM như: luân canh cây trồng hợp lý, sử dụng giống tốt không bệnh, chăm sóc cây theo yêu cầu sinh lý[Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2008, Quyết định số

Trang 24

379/QĐ-BNN-KHCN “Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả

an toàn tại Việt Nam (vietgap)]

Biện pháp canh tác

Biện pháp canh tác: Thực hiện theo quy định sản xuất rau an toàn của Bộ NN

& PTNN ban hành chú ý chế độ luân canh lúa - rau màu hoặc xen canh, luân canh giữa các loại rau khác nhau để giảm lây lan sâu bệnh (Bộ NN và PTNT 1998- quyết

định số 67/1998/QĐ-BNN-KHKT - Quy định về sản xuất rau an toàn”]

Thu hoạch, đóng gói:

Rau được thu hoạch đúng độ chín, loại bỏ các lá già, héo, quả bị sâu, dị dạng Rau được rửa kỹ bằng nước sạch, để ráo cho vào bao, túi sạch trước khi mang đi tiêu thụ tại các cửa hàng Trên bao bì phải có phiếu bảo hành ghi rõ địa chỉ nơi sản xuất nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng [Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn 2008, Quyết định số 379/QĐ-BNN-KHCN “Quy trình thực hành sản xuất

nông nghiệp tốt cho rau quả an toàn tại Việt Nam (vietgap)]

Các biện pháp kỹ thuật sản xuất rau an toàn:

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay, các biện pháp kỹ thuật canh tác

và sản xuất rau an toàn phổ biến được áp dụng là kỹ thuật thuỷ canh, kỹ thuật trồng rau trong điều kiện có che chắn và kỹ thuật trồng rau ngoài đồng ruộng

1 Kỹ thuật thuỷ canh (kỹ thuật trồng rau trong dung dịch - Hydroponics)

Thủy canh thường được định nghĩa như là “trồng cây trong nước” Tuy nhiên, việc cung cấp nước và dinh dưỡng cho cây có thể trực tiếp qua tiếp xúc giữa

rễ và dung dịch hoặc có thể gián tiếp qua các giá thể trơ Vì vậy chúng ta có thể hiểu rằng thủy canh là “ trồng cây không sử dụng đất”[Dương Tấn Nhựt (2008), Kỹ

thuật thủy canh, Phân Viện Sinh Học tại Đà Lạt]

Hệ thống thuỷ canh tĩnh:

Hệ thống này đã được áp dụng ở nhiều nơi trên cả nước với quy mô khác nhau Tại một số trường Đại học và viện nghiên cứu như: Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, Đại học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội), Viện nghiên cứu rau quả Vật chứa dung dịch là hộp xốp có kích thước khác nhau, có tác dụng cách nhiệt, tránh ánh sáng cho bộ rễ Giá thể để cây là một trấu hun Hộp trồng cây được để

Trang 25

trong nhà cách ly với côn trùng gây hại Hệ thống này có ưu điểm là không phải đầu

tư chi phí thiết bị làm chuyển động dung dịch nên giá thành thấp Nhược điểm chính thường thiếu ôxi trong dung dịch và giảm độ pH gây độc cho cây (Trần Khắc Thi và cs, 2005) [Trần Khắc Thi, Nguyễn Công Hoan (2005), Kỹ thuật trồng rau an

toàn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội ]

Hệ thống thuỷ canh động:

Là hệ thống mà quá trình cây trồng trong dung dịch dinh dưỡng có chuyển động, chi phí cao hơn nhưng dung dịch không thiếu ôxi Các mô hình trồng rau thuỷ canh được thực hiện các khu nông nghiệp cao của Hà Nội, Hải Phòng, Viện nghiên cứu rau quả tại Mộc Châu theo hướng thuỷ canh mở (Rtw) cho năng suất cà chua trên 100 tấn/ha/vụ, ớt ngọt, dưa chuột đạt 60 - 80 tấn/ha/vụ Mô hình thuỷ canh kín của hệ thống thuỷ canh động, trong đó có sự tuần hoàn trở lại nhờ một hệ thống bám hút dung dịch từ bể chứa, được thực hiện tại Viện nghiên cứu rau quả, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam năng suất 3 - 5 kg/m2/vụ mỗi vụ 15 - 30 ngày đặc biệt

có thể trồng rau trong điều kiện mùa Hè [Trần Khắc Thi, Nguyễn Công Hoan

(2005), Kỹ thuật trồng rau an toàn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội], [13-Nguyễn Quang Thạch (1999), Nghiên cứu trồng rau thủy canh công nghệ cao trong điều kiện có

mái che sản xuất trong nước phục vụ phát triển kinh tế xã hội các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam]

Sản xuất rau bằng kỹ thuật thuỷ canh là một dạng ứng dụng công nghệ cao, phù hợp với sản xuất nông nghiệp đô thị nơi đất canh tác giảm dần, môi trường canh tác ô nhiễm và thị trường yêu cầu sản phẩm chất lượng cao Đây là loại hình canh tác đang được nghiên cứu hoàn thiện trong điều kiện Việt Nam và rất có triển vọng trong tương lai

2 Kỹ thuật trồng rau trong điều kiện có che chắn (nhà lưới, nhà nilon, nhà màn, polyetylen phủ đất)

Cách trồng này sẽ hạn chế được sâu bệnh hại, cỏ dại, sương muối nên ít phải

sử dụng thuốc BVTV, đồng thời rút ngắn thời gian sinh trưởng, năng suất cũng được nâng cao Tuy nhiên các vật liệu xây dựng vật liệu che chắn và nilon phủ đất hiện nay giá thành cao người nông dân vẫn chưa đủ vốn đầu tư để sản xuất lớn

Trang 26

Phương pháp này trên thế giới sử dụng khá phổ biến Ở nước ta vùng rau Đà Lạt có diện tích 500 ha, Hà Nội 42,7 ha hầu hết các vùng rau của tỉnh, thành phố và khu công nghiệp lớn đều có dạng hình canh tác này

Ưu điểm của phương pháp trong nhà lưới là người trồng rau giảm được lượng nước tưới, lượng phân bón và thu hoạch quanh năm mà đất vẫn được tơi xốp Hơn nữa trồng rau sạch bằng cách phủ lưới còn chống được sâu rầy và đặc biệt là không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, mỗi năm cho năng suất từ 8 - 9 vụ Việc phủ lưới còn có đặc điểm là chống mưa, chống nắng và chống sương muối làm úng ngập rau [http://agriviet.com/threads/cac-mo-hinh-nha-luoi-trong-rau-hien nay.181100/]

3 Trồng rau an toàn ngoài đồng ruộng

Có nhiều phương pháp sản xuất rau, mỗi phương pháp đều có những nhược điểm riêng của nó Trong đó kỹ thuật sản xuất rau an toàn trong điều kiện ngoài đồng là phương pháp tương đối đơn giản, ít tốn tiền với biện pháp quản lý theo quy trình IPM Với hình thức canh tác này mới có thể đáp ứng đủ nguồn rau xanh cho người tiêu dùng Hơn nữa phương pháp này vừa đảm bảo được năng suất cao mà giá thành sản phẩm cũng không đổi so với sản xuất theo tập quán nông dân [http://www.longdinh.com/]

Đây là phương thức canh tác chủ yếu của ngành sản xuất rau nước ta Mục tiêu lớn nhất là hơn 600 ngàn ha trồng rau được canh tác theo quy trình an toàn Cho đến nay việc đầu tư cho nghiên cứu và phát triển RAT chủ yếu tập trung theo hướng này Ngoài quy trình chung do Bộ NN &PTNT ban hành, các địa phương đều có xây dựng quy trình cụ thể cho từng cây hàng vạn hộ nông dân được tập huấn

kỹ thuật được áp dụng tại khu vực này là:

Sử dụng các sản phẩm sinh học (bón phân, BVTV) trong canh tác hạn chế các sản phẩm hoá học Như thả thiên địch (bọ xít ăn mồi) phòng trừ rệp, bọ trĩ; Sử dụng màn phủ nông nghiệp trừ cỏ dại, phòng rệp và giữ ẩm cho đất

Tóm lại, dù áp dụng phương thức canh tác nào thì quy trình kỹ thuật phải đáp ứng được yêu cầu là đạt năng suất cao, phẩm chất rau tốt dư lượng hoá chất đảm bảo dưới ngưỡng cho phép và dễ áp dụng với người nông dân

Trang 27

1.1.1.4 Khái niệm hiệu quả kinh tế và phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn

Khái niệm về hiệu quả kinh tế:

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh tế, đây là một chỉ tiêu rất quan trọng có nhiều điểm về hiệu quả kinh tế

+ Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong trong một đơn vị và khối lượng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất, góp phần tăng thêm lợi ích của xã hội, của nền kinh tế quốc dân

+ Hiệu quả kinh tế là sự so sánh giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để thực hiện kết quả thu được

- Nội dung hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế các nhà kinh tế đều cho rằng phải phân biệt rõ 3 khái niệm

cơ bản về hiệu quả Đó là hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bố và hiệu quả kinh tế

+ Hiệu quả kỹ thuật: là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất những điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất Hiệu quả kỹ thuật được sử dụng phổ biến trong kinh tế học vi mô để xem xét tình hình sử dụng nguồn lực cụ thể

+ Hiệu quả phân bổ: hiệu quả phân bổ là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố giá sản phẩm giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm tính trên một đồng chi phí thêm vào đầu vào và giá của đầu ra

+ Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là hai yếu tố hiện vật và giá trị đều được tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong sản xuất

- Bản chất hiệu quả kinh tế

Bản chất hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích sản xuất và sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó là thỏa mãn ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội

Những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế:

+ Tổng giá trị sản xuất (G0): là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ được tạo

ra trong một chu kỳ sản xuất trên một đơn vị thời gian

Trang 28

+ Chi phí trung gian (IC) là toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên và chi phí dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất

+ Giá trị gia tăng (VA): giá trị gia tăng thêm của người sản xuất khi đầu tư vào sản xuất Nó là hiệu số giá trị sản xuất và chi phí trung gian

+ Chi phí lao động (LC): là giá trị của toàn bộ lao động đã sử dụng và sản xuất ra một số lượng sản phẩm nhất định

+ Thu nhập hỗn hợp (MI) là thu nhập của người sản xuất bao gồm của người lao động và lợi nhuận thu được của người sản xuất

+ Hiệu quả sản xuất trên một đồng chi phí trung gian

+ Hiệu quả của giá trị tăng thêm trên một đồng chi phí trung gian

+ Hiệu quả của giá trị sản xuất trên một công lao động

+ Hiệu quả của giá trị gia tăng thêm trên một nhân công lao động

+ Hiệu quả thu nhập hỗn hợp trên một nhân công lao động

1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ rau an toàn

1.1.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất rau an toàn

* Nhóm yếu tố về tự nhiên

+ Khí hậu thời tiết Khí hậu ở nước Việt Nam mang tính chất khí hậu nhiệt đới nóng ẩn tạo điều kiện sâu bênh phát triển, thời tiết thay đổi liên tục, do vậy ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau an toàn nói riêng Do đó trong quá trình sản xuất các hộ phải có biện pháp phòng chống các điều kiện bất lợi cho cây trồng cũng như xem xét lựa chọn các giống cây phù hợp với nhiệt độ - thời tiết từng vùng

+ Đất đai: Đối với cây rau bộ rễ ăn nông ở tầng mặt trong phạm vi từ 25 - 30

cm Do vậy tính chịu hạn rất kém dễ bị sâu bệnh, loại đất thích hợp với rau an toàn

là đất nhẹ, đất trung bình sau đó đến đất cát pha Để cây rau cho năng suất đòi hỏi phải có tầng đất canh tác tươi xốp, giữ ẩm, giữ nhiệt, dễ thoát nước khi ngập úng, giàu chất dinh dưỡng, dễ hấp thụ, bên cạnh đó có nhiều yếu tố khác nhưng yêu cầu của rau an toàn tương đối giống nhau

* Nhóm yếu tố kỹ thuật

Trang 29

+ Yếu tố giống: Giống đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, nếu đầu tư như nhau giống khác nhau cho năng suất khác nhau Giống tốt là giống cho năng suất cao, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, chất lượng sản phẩm cao… ở Việt Nam hiện nay vẫn còn sử dụng một số giống cũ ở một vài địa phương, trong những năm gần đây đã lai tạo và nhập nhiều giống mới nhưng việc đưa giống mới vào địa phương phải chú ý đến từng điều kiện của từng vùng từng địa phương

+ Yếu tố phân bón: Nếu phân bón đầy đủ và hợp lý thì sẽ làm tăng năng suất

và phẩm chất rau Phân bón có mối quan hệ chặt chẽ với khả năng chống chịu sâu bệnh của rau Mặc dù cây rau là cây có thời gian sinh trưởng tương đối ngắn và cho khối lượng sản phẩm tương đối cao nhưng đòi hỏi lượng phân bón lớn Song không lúc nào lượng phân bón cũng tỷ lệ thuận với năng suất

Đối với phân chuồng: Rau phản ứng khá tốt với các loại phân đã ủ ải Ngoài

ra phân chuồng còn có tác dụng cải tạo đất và duy trì cân đối giữa sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực

Đối với phân đạm: Rau khá thích hợp với đạm đặc biệt là rau an lá Nhưng trong quá trình bón phải chú ý là thời kỳ nào bón ít thời kỳ nào là bón nhiều

Đối với lân: Bón lân cho rau ăn quả, quả giúp bộ rễ phát triển đầy đủ, cây cứng cáp thời gian chống chịu sâu bệnh hại và những thay đổi bất lợi của ngoại cảnh…

Đối với kali: Đây là loại phân có tác dụng thúc đẩy mạnh các quá trình tích luỹ vật chất, kali rất cần thiết cho loại cây ăn củ, quả ăn rễ nhưng điều quan trọng là khi nào bón kali cho rau là hợp lý nhất để đạt hiệu quả kinh tế là điều quan trọng hơn cả

+ Yếu tố về kỹ thuật canh tác: Các khâu công việc như làm đất, làm cỏ, tưới nước… là những biện pháp đáp ứng nhu cầu về dinh dưỡng, độ thoáng khí, nồng độ CO2 trong đất để rau sinh trưởng và phát triển tốt Nếu có chế độ chăm sóc thường xuyên và hợp lý thì sẽ cho năng suất cao và ngược lại

+ Yếu tố bảo vệ thực vật: Đây là yếu tố quan trọng không kém gì khâu chọn giống, yếu tố này quyết định phần quan tâm đến sản lượng cây trồng và yêu cầu của RAT

Trang 30

+ Yếu tố thời vụ gieo trồng: Các loại cây trồng đều có đặc điểm sinh trưởng

và quy luật phát triển riêng Đối với rau an toàn, thời vụ gieo trồng được tính từ khi đặt giống, gieo hạt, qua quá trình sinh trưởng, phát triển và đến thời kỳ thu hoạch

Do vậy cũng giống như các loại cây trồng khác, rau an toàn gieo trồng không đúng thời vụ thì sẽ gặp khó khăn về thời tiết, sâu bệnh… làm cây sinh trưởng chậm, phát triển kém, năng suất thấp Như vậy, để nâng cao hiệu quả sản xuất rau an toàn, người nông dân không chỉ biết có chăm sóc đầy đủ, hợp lý mà còn phải biết bố trí

cơ cấu cây trồng mùa vụ thích hợp

* Nhóm yếu tố về kinh tế xã hội

+ Yếu tố vốn: Trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau nói riêng thì vốn được thể hiện bằng tiền của tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng vào sản xuất Trong ngành sản xuất nông nghiệp thì sự tác động của vốn vào quá trình sản xuất không phải bằng trực tiếp mà bằng cách gián tiếp thông qua đất, cây trồng vật nuôi… vốn trong nông nghiệp khá đa dạng tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: Máy móc, con giống cây trồng lâu năm, con bò…

+ Yếu tố lao động: Lao động là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sản xuất rau Trong sản xuất nông nghiệp, ngoài các trang trại và các hộ sản xuất với quy mô lớn thì mới sử dụng lao động đi thuê, còn các hộ sản xuất với quy mô nhỏ thì thường tận dụng triệt để lao động gia đình mà sản xuất theo hình thức lấy công làm lãi

+ Yếu tố thị trường: Tiêu thụ sản phẩm là một khâu của quá trình tái sản xuất, giá trị sản phẩm thông qua quá trình tiêu thụ, thực hiện tốt việc tiêu thụ sản phẩm là kết thúc quá trình sản xuất tức là giải quyết khâu “đầu ra” cho quá trình sản xuất Vì thế tiêu thụ là khâu cuối cùng quyết định đến kết quả và hiệu quả sản xuất Tiêu thụ sản phẩm kịp thời và nhanh chóng là tiền đề quan trọng để thực hiện tốt phân phối sản phẩm và kết thúc quá trình sản xuất của hộ nông dân

+ Chính sách đổi mới của Đảng và nhà nước: Cơ chế chính sách của nhà nước tác động trực tiếp đến tình hình của một số nông sản trên thị trường Đi đôi với việc kích thích sản xuất thì thông qua việc tác động thị trường là chính sách giá

cả, chính sách tiêu thụ sản phẩm, chính sách về nghiên cứu về một số giống mới…

Trang 31

Nhà nước cần chú ý đến việc đầu tư vốn, xây dựng các mạng lưới tiêu thụ cũng như xây dựng các nhà máy chế biến rau [25]

1.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ rau an toàn

Do rau là sản phẩm dễ hỏng, có hàm lượng nước cao, có khối lượng lớn và cồng kềnh Trong khi thu hoạch cũng như trong vận chuyển làm cho rau dập nát dẫn đến hao hụt về trọng lượng làm ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ

Phương tiện vận chuyển cũng là một yếu tố làm ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ rau nói chung, rau an toàn nói riêng Các hộ nông dân rất ít dùng xe máy vận chuyển mà chỉ sử dụng các phương tiện thông thường, theo thói quen như: xe đạp,

xe thồ để vận chuyển, do đó quá trình vận chuyển đi xa sẽ không đảm bảo chất lượng cũng như thời gian

Tâm lý của người tiêu dùng cũng làm ảnh hưởng khá lớn đến quá trình tiêu thụ rau an toàn Họ nói rằng không tin tưởng vào rau an toàn bởi rau an toàn không

có bao bì, không có dấu kiểm nghiệm, không có nơi sản xuất và thời hạn bảo quản nên rất dễ bị các sản phẩm khác trà trộn, làm cho người tiêu dùng sản phẩm không thật sự tin tưởng vào sản phẩm của mình đang sử dụng

Mặt khác rau an toàn chỉ mới xuất hiện trong thời gian gần đây, chỉ xuất hiện

ở khu đô thị, khu công nghiệp chưa nhân rộng ra các vùng Do đó thói quen sử dụng rau an toàn chưa cao làm ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ sản phẩm Do đầu

tư vật chất, lao động cho sản xuất rau an toàn thường cao hơn sản phẩm rau thường cho nên giá bán loại rau này cao hơn nhiều so với sản phẩm cùng loại sản xuất trong điều kiện bình thường, nhất là trong giai đoạn đầu Điều này hạn chế đến sức mua, sức cạnh tranh của nó trên thị trường

1.1.2.3 Các mối quan hệ trong sản xuất và tiêu thụ Rau an toàn

Các tác nhân tham gia phân phối

Tham gia trên kênh phân phối sản phẩm nói chung, rau an toàn nói riêng gồm có các tác nhân sau:

- Người sản xuất: Trực tiếp tạo ra sản phẩm, sau thu hoạch có thể bán sản phẩm trực tiếp cho các cửa hàng hoặc bán cho những người thu mua

Trang 32

- Người thu gom: Họ thu mua sản phẩm của người sản xuất và giao lại tại các cửa hàng, siêu thị Có thể họ cũng là những người tham gia sản xuất tạo ra các sản phẩm này, đồng thời họ tham gia thu mua sản phẩm của người tiêu trồng rau và họ giao sản phẩm mua được tại các cửa hàng hoặc siêu thị Do vậy trong trường hợp này họ cũng là những người cung cấp, cũng có thể người sản xuất có thêm chức năng thu gom

- Người bán buôn: Họ thu mua từ các vùng trong tỉnh hoặc từ các vùng lân cận mang về thành phố, sau đó họ bán lại cho những cửa hàng, siêu thị có nhu cầu

- Người bán lẻ: Là những người bán sản phẩm trực tiếp cho người tiêu dùng

Họ thường có vốn ít, kinh doanh với một lượng nhỏ và giá bán thường cao hơn giá bán buôn

- Người tiêu dùng: Là những người có nhu cầu về một sản phẩm nào đó nhưng không có điều kiện sản xuất, họ thường là người mua sản phẩm để tiêu dùng cá nhân và gia đình họ Các tác nhân này thường có mối liên kết hợp tác với nhau trong các kênh phân phối

Ở những nước phát triển, việc trao đổi thông tin giữa các đối tác khác nhau trong một quy trình là rất phổ biến, có sự kết hợp giữa sản xuất và phân phối, nghĩa

là tồn tại hợp đồng kí kết bởi nhà sản xuất và nhà phân phối mà đây là cửa hàng, siêu thị

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tình hình nghiên cứu rau trên thế giới

Rau là cây trồng có giá trị kinh tế cao và là một trong những cây trồng chủ lực có sự tăng trưởng vượt bậc trong thời gian qua Sản lượng rau trên thế giới đã tăng hơn gấp 2 lần trong khoảng 30 năm trở lại đây và đã vượt qua ngũ cốc về tổng giá trị thương mại toàn cầu Hiện nay, tại các nước đang phát triển tỷ lệ cây rau/cây lương thực là 2/1, còn ở các nước đang phát triển tỷ lệ này là 1/2 Quy trình thực hành nông nghiệp tốt GAP (Good Agriculture Practice) cũng đã được nghiên cứu,

tổ chức và nghiêm túc thực hiện trong từng khâu để nông sản luôn đảm bảo an toàn

vệ sinh, đáp ứng yêu cầu về chất lượng của nhà sản xuất và người tiêu thụ trong và ngoài nước của Australia Ứng dụng CNC trong sản xuất đã cho năng suất tới 500

Trang 33

tấn Cà chua/ha/năm hoặc 450 tấn Dưa chuột/ha/năm Nông hộ trồng rau, hoa ở Australia đã có một thu nhập khoảng hơn 500 ngàn USD/năm từ một nhà kính chỉ

có diện tích 5.000 m2 Điều này cho thấy phát triển hoạt động sản xuất rau an toàn

là một hướng đi đúng đắn, tích cực của thế giới Nhất là trong bối cảnh tình hình chính trị - kinh tế - xã hội ở nhiều khu vực trên thế giới còn nhiều biến động, đồng thời vấn đề an ninh lương thực luôn là vấn đề cấp thiết với các quốc gia, các nền kinh tế trên thế giới hiện nay Trong những năm qua, nhiều quốc gia trên thế giới đã

có nhiều biện pháp để thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp xanh và hữu cơ nói chung, và phát triển hoạt động sản xuất và chế biến các sản phẩm rau củ sạch nói riêng Trong đó cần phải kể đến một số quốc gia như:

Ấn Độ

Ấn Độ là một trong các quốc gia Nam Á đã có những biện pháp tập trung vào an ninh lương thực quốc gia để đảm bảo thu nhập an toàn cho người dân Nhằm cải thiện ngành nông nghiệp, nâng cao sản lượng và chất lượng các loại cây trồng trong đó chủ yếu là cây lương thực, các loại rau củ thì Ấn Độ đã tiến hành cuộc cách mạng xanh được đặc trưng bởi việc sử dụng nhiều loại hạt giống và phân bón

có năng suất cao, giúp tăng đáng kể năng suất đất đai Bên cạnh đó, Chính phủ Ấn

Độ đã thành lập Ban Hội thẩm để đề xuất các biện pháp giúp tăng gấp đôi thu nhập của người nông dân tham gia vào hoạt động trồng lương thực, rau củ sạch cho đến năm 2022 Tại Ấn Độ, khoảng 2,5 triệu hecta trang trại được cấp giấy chứng nhận sản xuất sạch theo phương pháp hữu cơ

Tuy nhiên trong quá trình phát triển, Ấn Độ cũng gặp phải một số khó khăn Rào cản đầu tiên cần vượt qua là sự suy giảm năng suất Dữ liệu từ năm 2013 cho thấy, sản lượng cây lương thực, cây ăn quả, các loại rau của Ấn Độ trên mỗi hecta thấp hơn nhiều so với nhiều quốc gia như Trung Quốc, Việt Nam, Bangladesh, Indonesia Để vượt qua tình trạng này, Ấn Độ đã tiến hành cuộc “Cách mạng Cầu vồng” bằng cách chuyển từ trồng lúa mì sang các loại ngũ cốc Bên cạnh đó, Ấn Độ cũng chuyển sang xây dựng các công trình thủy lợi nhỏ để sử dụng hiệu quả và hợp

lý các nguồn nước khan hiếm

Trang 34

Ngoài ra, một trong những rào cản lớn nhất để nâng cao năng suất nông nghiệp đó là việc thiếu các công nghệ mới mang tính đột phá Hệ thống Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc gia Ấn Độ vốn đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng xanh thì trong những năm gần đây chưa có tính đột phá lớn mà một trong những nguyên nhân là thiếu nguồn lực tài chính Trong khi Ấn Độ chi 31% GDP nông nghiệp cho lĩnh vực nghiên cứu và phát triển thì Trung Quốc đã chi gần gấp đôi Ngay cả người hàng xóm là Bangladesh cũng dành hơn 38% GDP nông nghiệp cho việc nghiên cứu và phát triển các công nghệ mới

Nhật Bản

Một quốc gia ở khu vực Đông Bắc Á đã có nền nông nghiệp trong đô thị nổi bật bởi áp dụng công nghệ hiện đại đảm bảo tính bền vững và thân thiện với sinh thái đó là Nhật Bản Có thể nói sản lượng nông nghiệp ở khu vực đô thị Nhật Bản chiếm một phần ba tổng sản lượng nông nghiệp của cả nước Nông dân đô thị chiếm 25% số hộ nông dân của quốc gia này Ngay cả ở Tokyo, một trong những thành phố lớn và luôn đông đúc nhất thế giới, nơi mạng lưới đường sắt, các tòa nhà, hệ thống điện phức tạp, nông nghiệp đô thị vẫn có thể cung cấp lương thực cho gần 700.000 cư dân ở thành phố này

Nông nghiệp trong đô thị Nhật Bản cung cấp nguồn sản phẩm tươi và an toàn bao gồm các loại cây hữu cơ, sử dụng ít hóa chất Hình thức nông nghiệp trong

đô thị đã mở ra cơ hội cho người dân đô thị tham gia vào các hoạt động nông nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua trao đổi giữa các nhà sản xuất và người tiêu dùng

Hình thức này còn mở rộng không gian cho việc quản lý thiên tai, bao gồm phòng chống cháy lan trên diện rộng, mở không gian sơ tán cho người dân khi động đất xảy ra Không những vậy, nông nghiệp trong đô thị còn mở ra không gian xanh cho các hoạt động giải trí cá nhân Quan trọng nhất là người dân sẽ nhận được sự giáo dục để nâng cao nhận thức và hiểu biết về vấn đề nông nghiệp bền vững

Ngoài các vấn đề trên, nông nghiệp trong đô thị còn đóng góp tích cực vào

sự bền vững và phúc lợi ở các thành phố của Nhật Bản Ví dụ, bằng cách tăng diện tích đất bề mặt có thể giúp tăng hiệu quả quản lý nước mưa, giảm hiệu ứng đảo

Trang 35

nhiệt Nông nghiệp trong đô thị cũng có thể đóng góp cho các dịch vụ hệ sinh thái

và đa dạng sinh học bằng cách cung cấp môi trường sống và quản lý các loài thực vật ở địa phương Hơn nữa, nó còn có thể cung cấp nguồn năng lượng sinh học từ việc quản lý rừng

Mặc dù nông nghiệp ở các thành phố Nhật Bản đem lại nhiều lợi ích thực tế

và tiềm năng nhưng nó cũng đang phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng Chỉ trong thập kỷ qua, việc sử dụng đất nông nghiệp đã giảm hơn 40% do các tác động liên quan đến đô thị Số người làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp ở khu vực thành thị cũng giảm đáng kể, chẳng hạn như ở Tokyo, số gia đình tham gia vào hoạt động nông nghiệp đã giảm 60% kể từ năm 1975

Những thách thức đối với nông nghiệp trong đô thị Nhật Bản xuất phát từ nhân khẩu học, các rào cản về thuế, thương mại hóa và chuyển đổi năng suất Mặc

dù có nhiều trở ngại nhưng nền nông nghiệp trong đô thị của Nhật Bản vẫn có nhiều

cơ hội để tăng trưởng bền vững và đảm bảo phúc lợi địa phương dựa trên các khía cạnh về quản trị, kinh tế, môi trường và xã hội Nhật Bản áp dụng những cách tiếp cận khái niệm mới trong đó đẩy mạnh việc quản lý các hệ sinh thái địa phương phục

vụ sản xuất nông nghiệp Phát triển các mạng lưới sản xuất bền vững là nền tảng để đạt được một nền kinh tế tăng trưởng xanh Người tiêu dùng Nhật Bản trồng cây nông nghiệp ở khu vực đô thị đặc biệt quan tâm đến các sản phẩm thân thiện với môi trường Việc thành lập các mạng lưới tiêu thụ sản phẩm ở các thành phố có thể đóng góp vào sự bền vững và tạo ra cơ hội phát triển kinh tế

Bên cạnh đó, Nhật Bản có xây dựng một cơ chế đổi mới tài chính, theo đó chi trả cho các dịch vụ hệ sinh thái đô thị và đa dạng sinh học, bồi thường kinh tế cho việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ môi trường là một sự sáng tạo tích cực để tạo ra một nền kinh tế xanh

Trang 36

đã được lựa chọn để phát triển thành các thành phố nông nghiệp xanh, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp thân thiện với môi trường, phù hợp với văn hóa địa phương

Dự án “Thành phố Nông nghiệp xanh” đã được Bộ Nông nghiệp và Hợp tác

xã Thái Lan đưa ra như một dự án hàng đầu trong năm tài chính 2014 để hỗ trợ phát triển tăng trưởng xanh

6 địa điểm được thí điểm bao gồm Chiang Mai ở phía Bắc, Nong Khai và Si

Sa Ket ở vùng Đông Bắc, Chanthaburi ở phía Đông, Phatthalung ở phía Nam và Ratchaburi ở miền Trung Dự án bao gồm việc phát triển tất cả các trang trại, cây trồng, vật nuôi và thủy sản Dự án nằm trong Kế hoạch Phát triển Kinh tế và Xã hội Quốc gia lần thứ 11, giai đoạn 2012-2017 Kế hoạch tập trung vào các nỗ lực hướng tới một thế giới xanh hơn bằng việc quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường hướng tới sự bền vững

Thái Lan nhận thấy nhu cầu được sống trong một môi trường an toàn và lành mạnh của người dân Bằng cách sử dụng các quy trình sản xuất thân thiện với môi trường, nguồn lương thực và năng lượng sạch sẽ được đảm bảo

Dự án có mục tiêu cải thiện sản xuất nông nghiệp cũng như chất lượng cuộc sống của người nông dân, phù hợp với các chiến lược phát triển ngành nông nghiệp hữu cơ của Thái Lan Chiến lược đã thúc đẩy sự quản lý về tri thức, đổi mới và phát triển chuỗi cung ứng, tăng cường marketing và nâng cao tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ của Thái Lan, tạo ra sự tin tưởng của người tiêu dùng đối với các sản phẩm hữu cơ thông qua quảng bá thương hiệu

Cục Khuyến nông Thái Lan đã nhận thức rõ tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp xanh để chuẩn bị cho tự do hóa thương mại trong tương lai Khi cạnh tranh trên thị trường nông sản toàn cầu ngày càng gay gắt, Thái Lan đã chú trọng phát triển tiềm năng và tăng sức cạnh tranh cho các sản phẩm của mình

Xu hướng gia tăng về nông nghiệp xanh cũng đảm bảo an toàn cho người nông dân và người tiêu dùng, giúp tăng cường hệ sinh thái nông nghiệp và thúc đẩy nâng cao sức khỏe của người dân

1.2.2 Tình hình nghiên cứu rau an toàn ở Việt Nam

* Ba tiêu chuẩn sản xuất rau an toàn ở Việt Nam

Trang 37

VietGAP là tiêu chuẩn quốc gia thực hành nông nghiệp tốt (Good

Agricultural Pratices) và là trọng tâm của chính sách ATTP của Việt Nam Nó ra

đời từ nền tảng của GlobalGAP là một tiêu chuẩn tư nhân quốc tế về vệ sinh an toàn nông sản GlobalGAP được tạo ra bởi nhóm EUREP (Liên minh các nhà phân phối bán lẻ châu Âu - Euro Retailers Produce Working Group)[Bùi Bảo Hoàn (2000),

Nghiên cứu mô hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn thành phố Thái Nguyên] với mục đích xác nhận an toàn cho các nông sản được nhập khẩu vào châu

Âu Nhờ chứng nhận, lưu thông các nông sản sẽ thuận tiện hơn khi đi qua biên giới quốc gia, giúp tiết kiệm chi phí kiểm định và kiểm duyệt cho các nhà phân phối Một cách tương tự, VietGAP là bộ tiêu chuẩn của Việt Nam nhằm định hướng sản xuất an toàn về rau, quả nhằm tạo ra sản phẩm tiêu dùng trong nước an toàn, và cũng nhằm để khuyến khích xuất khẩu nông sản ra thế giới, đặc biệt vào thị trường ASEAN (FAO, 2012)

Tiêu chuẩn thứ hai rau an toàn được hiểu là rau đáp ứng được các quy chuẩn

an toàn tối thiểu do WHO và FAO quy định Cụ thể, rau an toàn phải đáp ứng các yêu cầu về chất lượng đất, nước tưới, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và vi sinh vật Khác với VietGAP được cấp cho nhiều loại nông sản, rau an toàn chỉ liên quan đến sản phẩm rau Sản xuất rau an toàn là người sản xuất rau tuân thủ một quy chuẩn kỹ thuật, chứ không phải được trồng theo một quy trình sản xuất như VietGAP hay hữu cơ Chỉ cần rau thành phẩm đảm bảo các ngưỡng an toàn của quy chuẩn thì rau

sẽ được coi là rau an toàn rau an toàn đơn giản được hiểu theo nghĩa là rau được trồng bởi các cơ sở có giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất an toàn Các Sở NN&PTNT và cả FAO khi nói đến rau an toàn đều hiểu theo nghĩa là rau được trồng bởi các cơ sở được cấp giấy đủ điều kiện sản xuất an toàn rau an toàn khởi điểm là một quy chuẩn an toàn Bất cứ quy trình nào cho phép đạt các quy chuẩn an toàn đều có thể được công nhận

Tiêu chuẩn thứ 3, rau hữu cơ, là một tiêu chuẩn tư nhân được xây dựng bởi mạng lưới ADDA -VNFU ADDA -VNFU ra đời trên cơ sở dự án hợp tác giữa Trung tâm phát triển Nông nghiệp Đan Mạch - châu Á (ADDA) và Hội Nông dân Việt Nam (VNFU) vào năm 2004 (Rahmann et Aksoy, 2014) Nông nghiệp hữu cơ

là một hình thức sản xuất nông nghiệp tránh hoặc hạn chế sử dụng phần lớn các yếu

Trang 38

tố đầu vào có nguồn gốc hóa học (phân bón, các loại nông dược, các chất điều tiết

sự tăng trưởng của cây trồng, và các chất phụ gia trong thức ăn gia súc Nền tảng canh tác hữu cơ là vận dụng các nguyên lý sinh thái (chu trình vật chất, đa dạng sinh học ) để từ đó trong quá trình sản xuất cây trồng được cung cấp các loại dinh dưỡng phù hợp cũng như tạo ra cơ chế kiểm soát cỏ dại, sâu bệnh hại, các loài thiên địch và đất canh tác Canh tác hữu cơ hoàn toàn không sử dụng các giống cây trồng biến đổi gen, hay các kỹ thuật chưa nghiệm chứng

Trang 39

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý

a Vị trí địa lý

Đại Từ là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên 25 km, nằm trong toạ độ từ 21030′B đến 21050′B và từ

105032′Đ đến 105042′Đ, có vị trí địa lý:

- Phía bắc giáp huyện Định Hóa

- Phía đông nam giáp thị xã Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên

- Phía đông bắc giáp huyện Phú Lương

- Phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Vĩnh Phúc

- Phía nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc

b, Điều kiện tự nhiên khí hậu

Có 2 mùa rõ rệt; mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3, gió đông bắc chiếm ưu thế, lượng mưa ít, thời tiết hanh khô Lượng mưa phân bố không đều có chênh lệch lớn giữa mùa mưa

và mùa khô Về mùa mưa cường độ mưa lớn, chiếm tới gần 80% tổng lượng mưa trong năm

c Địa hình, đất đai

- Đặc điểm địa hình phần lớn là đồi núi, địa hình dốc dần theo hướng Đông Nam- Tây Bắc Trên địa bàn thị trấn Hùng Sơn có 01 con sông bắt nguồn từ xã Tiên Hội có tổng chiều dài khoảng 4Km

- Đất đai: Tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 57.890 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 26,87%; đất lâm nghiệp chiếm 45,13%; còn lại là đất phi nông nghiệp chiếm 28% Trong tổng diện tích hiện có thì diện tích đất chưa sử dụng chiếm 17,35%, chủ yếu là đất đồi núi và sông suối Trên địa bàn huyện đất được hình thành bởi 8 nhóm, trong đó có 4 nhóm đất chính là: - Đất xám mùn trên núi có: 16.400 ha chiếm tỷ lệ 28,37% - Đất Feralit phát triển trên đá biến chất: 15.107 ha chiếm 26,14%

Trang 40

- Đất Feralit phát triển trên phù sa cổ: 1.3036 ha chiếm 22,55% - Đất phù sa Gley phát triển trên phù sa cổ: 13.247 ha chiếm 22,94%d, Sông ngòi- thủy văn

- Sông ngòi: Hệ thống sông Công chảy từ Định Hoá xuống theo hướng Bắc Nam với chiều dài chạy qua huyện Đại Từ khoảng 2km Hệ thống các suối, khe như suối La Bằng, Quân Chu, Cát Nê v.v cũng là nguồn nước quan trong cho đời sống

và trong sản xuất của Huyện

- Thuỷ văn: Do ảnh hưởng của vị trí địa lý, đặc biệt là các dãy núi bao bọc Đại

Từ thường có lượng mưa lớn nhất Tỉnh, trung bình lượng mưa hàng năm từ 1.800mm

- 2.000mm rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp của Huyện

e,Tài nguyên rừng- khoáng sản

- Tài nguyên rừng: Tổng diện tích đất lâm nghiệp toàn thị trấn 318,09 ha (chiếm 23,39% diện tích đất tự nhiên), toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp là đất rừng sản xuất Diện tích rừng chủ yếu hiện nay là rừng trồng với cây trồng chính là keo

và một số các loại cây gỗ khác đã giao cho các hộ dân quản lý, sử dụng phát triển kinh tế hộ

- Tài nguyên khoáng sản: Hùng Sơn có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú nằm ở xóm Đồng Khuân và TDP Liên Giới, trong đó mỏ đá kim Núi Pháo nằm tập trung ở địa TDP Liên Giới và mỏ Kim Sơn

f, Du lịch

Về du lịch: Khu du lịch Hồ Núi Cốc với câu chuyện huyền thoại về Nàng công chàng Cốc đã thu hút khách du lịch trong nước và ngoài nước, nằm ở phía Tây nam của Huyện, đây cũng là điểm xuất phát đi thăm khu di tích trong Huyện như: Núi Văn, Núi Võ, khu rừng Quốc gia Tam Đảo, di tích lịch sử 27/7 v.v Hiện đã hoàn thành xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch sinh thái sườn đông dãy Tam Đảo, hoàn thành quy hoạch chi tiết khu du lịch chùa Tây Trúc xã Quân Chu, Cửa Tử xã Hoàng Nông, quy hoạch chi tiết khu di tích lịch sử Lưu Nhân Chú nhìn chung tiềm năng phát triển dịch vụ du lịch ở Đại Từ đã và đang được quan tâm phát triển, đây là tiềm năng lớn của Huyện cũng như của Tỉnh Thái Nguyên

2.1.2 Điều kiện, kinh tế xã hội, dân số và lao động

a, Điều kiện cơ sở hạ tầng - kinh tế xã hội

Ngày đăng: 19/11/2020, 09:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w