Về lịch sử hình thành: các bộ lịch sử Việt đã có những chương, những mục, những đoạn viết về vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai như: Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn 1776, Gia Định thành thông
Trang 11
Mục lục Trang
1 Đặt vấn đề 2
2 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu 3
2.1 Cách tiếp cận 3
2.2 Phương pháp nghiên cứu 3
3 Nội dung nghiên cứu 4
3.1 Lịch sử hình thành 4
3.1.1 Vùng đất 4
3.1.2 Con người 9
3.1.3 Sinh hoạt văn hóa cộng đồng 16
3.2 Thực trạng và tình hình nghiên cứu di văn Hán Nôm trong các đình, chùa, miếu ở Biên Hòa-Đồng Nai 22
3.2.1 Thực trạng di văn Hán Nôm ở đình, chùa, miếu Biên Hòa- Đồng Nai 22
3.2 2 Tình hình nghiên cứu 25
4 Kết luận 29
Tài liệu tham khảo 30
Trang 22
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CŨNG NHƯ THỰC TRẠNG VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU DI VĂN HÁN NÔM Ở ĐÌNH, CHÙA, MIẾU, ĐỀN THÀNH PHỐ
BIÊN HÒA - ĐỒNG NAI
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Đã có nhiều công trình viết về lịch sử hình thành cũng như thực trạng và tình hình nghiên cứu di văn Hán Nôm ở đình, chùa, miếu đền thuộc Biên Hòa- Đồng Nai
Về lịch sử hình thành: các bộ lịch sử Việt đã có những chương, những mục, những đoạn viết về vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai như: Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1776, Gia Định thành thông chí (1820), Trịnh Hoài Đức … viết về lịch sử Biên
Hòa - Đồng Nai Ở địa phương (Đồng Nai) cũng đã có nhiều công trình, bài viết viết về
Biên Hòa - Đồng Nai Điển hình, có Biên Hòa Sử Lược Toàn Biên- Tập I, Trấn Biên Cổ Kính của Lương Văn Lựu (1972), Biên Hòa Sử Lược Toàn Biên- Tập II, Trấn Biên Cổ Kính của Lương Văn Lựu (1973) Sau này, có công trình Lâm Hiếu Trung (Chủ biên) (1998), Biên Hòa-Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển, Nxb Đồng Nai, Sơn Nam (2014), Lịch sử khai khẩn miền Nam, Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh Hay như công trình Lê Tùng Hiếu, Nguyễn Văn Phúc (Biên dịch) (2014), Địa chí tỉnh Biên Hòa, Nxb Đồng Nai Cùng một số bài viết đăng trên các tạp chí như: Đức Thái, Toàn cảnh Đồng Nai, Tạp chí Di sản văn hóa số 12 năm 2008 Hương Xuân, Đình Bình Quan, xã Hiệp Hòa, Tp Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Về thực trạng: chưa thấy có công trình bài viết nào giới thiệu chi tiết, cụ thể về
thực trạng di văn Hán Nôm có trong các đình, chùa, miều ở Biên Hòa - Đồng Nai Duy
nhất, thấy có bài viết Di sản Hán Nôm ở Đồng Nai của đồng tác giả Trịnh Văn Lý, Lê
Xuân Hậu in trong Thông tin khoa học, kỷ niệm 40 năm thành lập Bảo tàng Đồng Nai (1976-2016) Bài viết chỉ giới thiệu chung chung, chưa thể hiện rõ các thể loại di văn Hán Nôm có trong các đình, chùa, miếu, đền, với số lượng bao nhiêu Và hiện được lưu giữ như thế nào ?
- Về tình hình nghiên cứu: đã có một số công trình, bài viết tìm hiểu về di văn
Hán Nôm ở trong các đình chùa, miếu, đền thuộc Biên Hòa - Đồng Nai Điển hình như
Trang 33
công trình: “Nghi và văn cúng chữ Hán ở thành phố Biên Hòa” Bảo tàng Đồng Nai xuất bản năm 2013, Tập tư liệu sơ thảo“Di sản chữ Hán trong các đình, chùa, miếu mạo, từ đường ở Biên Hòa, Đồng Nai” của tác giả Huỳnh Minh Đức thực hiện năm
1996 Cùng một số bài viết của các tác giả Huỳnh Văn Tới, Phan Đình Dũng, Lương Thuý Nga, Nguyễn Tuyết Hồng, Hương Xuân đề cập đến di văn Hán Nôm ở một số ngôi đình, chùa tiêu biểu Bởi đã có những công trình nghiên cứu về lịch sử hình thành Biên Hòa - Đồng Nai, vì vậy nhóm nghiên cứu chỉ lược sử về đất và người Đồng Nai với mục đích làm đề dẫn để nghiên cứu vấn đề trọng tâm của đề tài Về thực trạng và tình hình nghiên cứu di văn Hán Nôm ở trong các đình, chùa, miếu, đền thuộc Bên Hòa
- Đồng Nai cũng đã có một số công trình, bài viết tìm hiểu, nghiên cứu, song chỉ mới dừng lại ở một số thể loại di văn và một số điểm di tích có di văn Hán Nôm trên địa bàn Biên Hòa, Đồng Nai Lại chưa có chú thích hay rút ra giá trị Đây chính là lý do để
nhóm nghiên cứu quyết định thực hiện hiện chuyên đề “Lịch sử hình thành cũng như
thực trạng và tình hình nghiên cứu di văn Hán Nôm ở đình, chùa, miếu, đền thành phố Biên Hòa -Đồng Nai” Thực hiện chuyên đề nhằm mục đích khái lược về lịch sử
hình thành đất và người Đồng Nai, về thực trạng cũng như tình hình nghiên cứu di văn Hán Nôm trong các đình, chùa, miếu, đền thuộc Biên Hòa-Đồng Nai Cũng là chuyên đề làm đề dẫn để thực hiện các chuyên đề tiếp theo của phần nội dung chính
đề tài cần đạt
2 CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Cách tiếp cận:
Tiếp cận theo hướng nghiên cứu liên ngành
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nội dung, nhóm nghiên cứu chủ yếu áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp điền dã: phỏng vấn sâu, sưu tầm tư liệu; phương pháp thống kê, phân loại; phương pháp phân tích; phương pháp văn bản học Hán Nôm
Trang 4bản địa từ xa xưa từng gọi địa điểm Biên Hòa ngày nay với cái tên là Bù Blih, song
người ta cũng không biết địa danh này có từ bao giờ mà chỉ cho rằng nó có từ khi Biên Hòa chỉ một làng nhỏ như bất kì xóm làng nào của đồng bào các dân tộc ít người Trong
Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1776), ghi “ Đất Đồng Nai từ các cửa biển cần Giờ, soi Rạp, cửa Đại, cửa Tiểu toàn là rừng rậm hàng mấy ngàn dặm…đất ấy nhiều ngòi rạch, đường nước như mắc cửi, không tiện đi bộ Người buôn có thuyền lớn thì tất đèo thêm xuồng nhỏ để thông đi các kênh Từ cửa biển đến đầu nguồn đi sáu, bảy ngày hết thảy là đồng ruộng, nhìn bát ngát, nhìn phẳng như thế đấy, rất hợp trồng lúa nếp, lúa
tẻ, gạo đều trắng dẻo” Trong Gia Định thành thông chí (1820), Trịnh Hoài Đức ghi:
“Bà Rịa ở đầu trấn Biên Hòa là đất có danh tiếng, nên các phủ phía Bắc có câu ngạn rằng: cơm Nai Rịa, cá Rí Rang, ấy là xứ Đồng Nai và Bà Rịa đứng đầu mà bao gồm cả Bến Nghé, Sài Gòn, Mỹ Tho, Long Hồ vậy” Ở Đại Nam nhất thống chí của quốc sử quán triều Nguyễn; Mục thị điểm (chợ quán viết: “Chợ Lộc Dã ở phía nam hạ lưu Phước Long (sông Đồng Nai, Nv cú) huyện Phước Chánh, nguyên xưa là cánh đồng hươu nai ở, nên đặt tên ấy, hoặc gọi Lộc động, tục danh chợ Đồng Nai cũng là chỗ này Xét sáu tỉnh Gia Định mà thông xưng là Đồng Nai, vì khi đầu khai thác từ chỗ Đồng Nai trước hết, nên cứ chỗ gốc cũng gồm đủ chỗ ngọn” Trong dịp kỉ niệm Biên Hòa-
Trang 55
Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển, địa danh Đồng Nai cũng được đề cập, với nhiều ý kiến thuyết phục bạn đọc, trong đó nổi lên ý kiến của tác gia tham luận “Nguồn gốc, ý nghĩa và phát triển của địa danh Đồng Nai”, Tác giả Lê Trung Hoa cho rằng địa
danh Đồng Nai xuất hiện bằng chữ quốc ngữ lần đầu tiên trong một báo cáo của Giáo hội Thiên Chúa về tình hình giáo dân ở Nam bộ năm 1747 Sau đó địa danh Đồng Nai xuất hiện vừa bằng chữ Nôm, vừa bằng chữ quốc ngữ vào năm 1772 trong cuốn từ điển
An Nam –La Tinh của Pigneau de Béhaine
Có thể nói rằng: có nhiều ý kiến nói về địa danh Đồng Nai, song chưa có ý kiến nào khẳng định chính xác về thời gian xuất hiện địa danh Đồng Nai Chỉ biết rằng địa danh Đồng Nai đã có từ xa xưa và đã đi vào sử sách, đi vào ca dao cách nay hàng trăm năm:
Làm trai cho đáng nên trai
Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai đã từng
và
Nhà Bè nước chảy chia hai,
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về
và
Đồng Nai gạo trắng như cò
Trốn cha, trốn mẹ, xuống đò theo anh
Thật vậy, tên gọi Đồng Nai không biết từ bao giờ đã đi vào lịch sử, ca dao đất Việt mà ngày nay khi nhắc đến Đồng Nai có lẽ ai cũng thuộc những câu ca dao này Đã
có nhiều công trình, nhiều bài viết của nhiều tác giả nổi tiếng trong và ngoài nước nói
về địa danh Đồng Nai, vì vậy, ở đề tài nhóm nghiên cứu chỉ mạo muội khái lược sơ bộ nhằm làm để dẫn để tìm hiều các phần tiếp theo của đề tài
Địa phận Đồng Nai, kể từ khi Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý vùng đất phương Nam (1698), lịch sử vùng đất Đồng Nai ngày nay đã nhiều lần thay đổi địa giới hành
chánh Theo sách Biên Hòa- Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển, trang 13, khi
vào kinh lý đất phương Nam, Nguyễn Hữu Cảnh đặt vùng đất Nam Bộ thành phủ Gia
Trang 66
Định gồm hai huyện: là huyện Tân Bình và huyện Phước Long, Đồng Nai thuộc huyện Phước Long Đến giữa thế kỷ XVIII, đất Gia Định được chia làm ba dinh: trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ Đến 1808, nhà Nguyễn đổi phủ Gia Định thành Gia Định thành, các Dinh đổi thành Trấn và vì vậy dinh Trấn Biên được đổi thành trấn Biên Hòa
Năm 1832, trấn được đổi thành tỉnh và vì vậy trấn Biên Hòa được đổi thành tỉnh Biên Hòa, gồm một phủ Phước Long và bốn huyện Đến năm 1837, tỉnh Biên Hòa đặt thêm phủ Phước Tuy Như vậy đến năm 1837, tỉnh Biên Hòa gồm hai phủ là Phước Long và Phước Tuy cùng các huyện Phước Chánh, Phước An, Bình An, Ngãi An, Long Khánh và Long Thành
Trong thời kì thuộc Pháp rồi đến chống Pháp và chống Mỹ đơn vị hành chánh Đồng Nai đã được chia tách sáp nhập nhiều lần Ngay cả khi hòa bình thống nhất đất nước 30/4/1975, đơn vị hành chánh Đồng Nai cũng được chia tách sáp nhập nhiều lần
Hiện nay, Đồng Nai là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, phía đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía đông bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía tây bắc giáp tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước, phía nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phía tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh Đồng Nai có diện tích tự nhiên là 5.903.940 km2
ha, chiếm 1, 76% diện tích
tự nhiên cả nước và 25, 5% diện tích tự nhiên vùng Đông Nam Bộ Theo số liệu thống
kê năm 2010, toàn tỉnh có trên 2.281.705 người; mật độ dân số 386.511 người/km2
, được phân thành 11 đơn vị hành chánh, với 1 Thành phố, 1 Thị xã và 9 Huyện là: Thành phố Biên Hòa, Thị xã Long Khánh, 9 huyện (Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Thống Nhất, Định Quán, Vĩnh Cửu, Tân Phú, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ)
Đất đai Đồng Nai tương đối bằng phẳng, chuyển từ cao nguyên Nam Trung Bộ đến đồng bằng Nam Bộ với 82% đất có độ dốc dưới 80; 10% đất có độ dốc 15 0 ; 8% đất
Trang 7ở Đồng Nai Trong tổng số diện tích lâm nghiệp, ở Đồng Nai có hai loại rừng chủ yếu,
là rừng nguyên sinh và rừng trồng, tiêu biểu nhất là rừng Quốc Gia Nam Cát Tiên Đất đai ở Đồng Nai cũng tàng tích nhiều loại khóang sản như kim loại quý (vàng), kim loại màu (bôxit), đá quý, nguyên liệu gốm sứ (cao lanh, sét bột màu), vật liệu xây dựng, phụ gia xi măng, than bùn,… là những lợi thế để Đồng Nai khai thác phát triển kinh tế, xã hội địa phương và khu vực
Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới vùng Nam Bộ, Đồng Nai có đặc điểm chung là nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm cao Một năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa
và mùa khô Mùa khô, nắng nóng kéo dài từ cuối tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong năm, nắng trung bình 2400-2500 giờ, thời gian nắng nhiều nhất là vào các tháng 2, 3, 4 Mùa mưa, bắt đầu từ tháng 5 đến cuối tháng 10, lượng mưa trung bình khá cao, khoảng 1.700 đến 1.800mm/năm, mưa nhiều nhất là các tháng 7, 8, 9 Nhiệt độ trung bình ở Đồng Nai dao động từ 20 đến 300c Tùy mùa, nhiệt độ ở Đồng Nai có sự thay đổi từ
190c (tháng 12) đến 370
c (tháng 4, 5) thậm chí lên tới 400c, nhưng sự thay đổi qua các tháng không lớn, nhất là vào các tháng mùa khô, khi có gió mùa Tây Nam thổi mạnh ở các vùng phía Bắc thì nhiệt độ có lúc giảm xuống dưới 200C Sương mù vào đêm nhưng ban ngày nắng khô đến 37, 380
C Song, trong những năm gần đây, do sự biến đổi về khí hậu mà lượng mưa của các tháng trong năm có xu hướng giảm, ngược lại các tháng
Trang 88
nắng nóng, khô hạn trong năm có chiều hướng gia tăng hoặc có nhiều khi bất thường, không theo mùa Tuy nhiên, đây cũng là tình hình chung của cả nước và thế giới Nói chung, khí hậu ở Đồng Nai tương đối ôn hòa, ít thiên tai, bão lụt
Mạng lưới sông suối ở Đồng Nai tương đối thuận lợi, với nhiều sông suối chảy qua tiêu biểu như là sông Đồng Nai, sông La Ngà, sông Ray, sông Xoài, sông Thị Vải
và nhiều nhánh sống, hồ chứa, suối rạch nhỏ khác rất thuận lợi cho việc lấy nước phục
vụ sản xuất nông, công nghiệp và sinh hoạt của bà con trong tỉnh cũng như giao thông đường thủy Song mật độ sông suối ở Đông Nai phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở phía bắc và dọc theo sông Đồng Nai về hướng tây Nam
Mạng lưới giao thông đường bộ ở Đồng Nai rất thuận lợi với nhiều tuyến đường huyết mạch Quốc gia chạy qua như: Quốc lộ 1A, Quốc lộ 20, Quốc lộ 51, tuyến đường sắt Bắc – Nam và gồm nhiều tuyến đường liên tỉnh, các cảng Long Bình Tân, Gò Dầu, Phú Mỹ… lại gần với cảng Sài Gòn, sân bay Tân Sân Nhất rất thuận lợi cho việc đi lại của người dân và hoạt động giao thương phát triển kinh tế của tỉnh, khu vực phía Nam
và cả nước Hơn nữa vùng đất Đồng Nai có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời, lại có nhiều tuyến điểm du lịch đã và đang được hình thành như: tuyến du lịch sông Đồng Nai, -Cù Lao phố-Bửu Long; tuyến du lịch sông Mây –Trị An, tuyến thác Mai-Suối Mơ…
Với đặc điểm là địa phương có lịch sử - văn hóa truyền thống lâu đời, địa hình đất đai phù hợp phát triển nông, công nghiệp, lại giàu tài nguyên khoáng sản, được thiên nhiên ban tặng nhiều thắng cảnh đẹp, thuận lợi giao thông đường thủy, bộ tạo cho Đồng Nai một diện mạo hết sức hấp dẫn hội đủ thiên thời, địa lợi để phát triển kinh tế,
xã hội Và trên thực tế, Đồng Nai đã tận dụng được những lợi thế này để phát triển về công nghiệp hình thành nên những cụm, khu công nghiệp ở Biên Hòa, Nhơn Trạch, Long Thành và nhiều địa phương khác trong tỉnh Phát triển nông nghiệp với nhiều loại cây ăn trái, cây hoa màu, cây lúa và cây công nghiệp dài ngày cùng kết hợp chăn nuôi gia súc gia cầm… phát triển kinh tế du lịch, dịch vụ với các tuyến du lịch trong tỉnh ngoài tỉnh và cả nuớc đã được nối kết, phát triển đem lại hiệu quả cao Nhìn chung, với
Trang 99
lợi thế về địa hình đất đai và với bề dày truyền thống về lịch sử -văn hóa Đồng Nai đã khai thác phát triển kinh tế, xã hội thật đa dạng và phong phú
3.1.2 Con người
Đồng Nai nói riêng và Đông Nam Bộ nói chung, từ lâu đã có người cư trú Theo
sách Biên Hòa –Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển, trang 50, ở một số địa
phương trong tỉnh Đồng Nai như: Dầu Giây, An Lộc, Hàng Gòn, Cảm Tiểm, Bình Lộc, Núi Đất, Phú Quý… đã phát hiện những công cụ lao động của người cổ Đồng Nai thuộc
sơ kì đá cũ như rìu tay, mũi nhọn, hòn ném, nạo, mảnh tước… được làm từ đá Bazan loại chất liệu rất phong phú ở Đồng Nai Đây là những bằng chứng xác thực được khảo
cổ học Đồng Nai chứng minh và cho rằng ở thời đá cũ đã có con người sinh sống trên đất Đồng Nai Đại diện cho người Đồng Nai cổ đó chính là các dân tộc như Xtiêng, Mạ, Chơro, Kơho, M,
nông Qua những công cụ tìm thấy, cho biết người Đồng Nai ở buổi ban đầu chủ yếu sống bằng nghề săn bắt hái lượm Dần dần người cổ Đồng Nai biết sáng chế cuốc đá, rìu mài nhẵn, dao đá… để phục vụ cho trồng trọt, chăn nuôi (tiền nông nghiệp) thay thế săn bắt và hái lượm trước đó cũng là giai đoạn chuyển dần sang thời đá mới, rồi đồ sắt… Cùng với đó là sự phát triển về dân số của người Đồng Nai cổ
để rồi họ đã dần định cư theo làng và bắt đầu có sự phân công lao động Tuy nhiên, cư dân Đồng Nai ở giai đoạn này cũng mới chỉ là các dân tộc đã kể trên mà chưa có sự di
cư từ nơi khác tới Cho đến thế kỷ XVI, dân số nơi đây vẫn còn thưa thớt, ngoài các dân tộc bản địa nói trên, ở Đồng Nai lúc này còn có sự hiện diện của người Khmer sinh sống rải rác trong một vài sóc nhỏ, nằm heo hút trên các giống đất cao chưa có người cai quản
Khoảng đến cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, người dân từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung, với muôn hoàn cảnh và lý do, họ lần lượt kéo nhau về đây làm ăn sinh sống và tạo dựng cuộc sống mới Những cuộc di dân này diễn ra lẻ tẻ, với những lý
do bỏ quê hương đi tìm cuộc sống mới chứ chưa có sự can thiệp của chính quyền nhà
Lâm Hiếu Trung (Chủ biên) Biên Hòa- Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển, Nxb Đồng Nai,
1998
Trang 1010
Nguyễn, bởi lẽ lúc này cũng là thời Trịnh - Nguyễn phân tranh Miền ác địa Thủy Chân Lạp vẫn còn vô chủ, mặc nhiên được xem như vùng trái độn giữa hai biên giới Việt và Miên Vì vậy bất kỳ dân tộc nào có gan dạ, có sức, có lực… ai ai muốn đến chiếm cứ khai phá vùng này lấy đất sinh sống đều được tự do, không bị cản trở, cấm đoán Khi chính quyền nhà Nguyễn tạo được ảnh hưởng của mình trên vùng đất Đồng Nai –Gia Định và mạnh lên từ cuối thế kỷ XVII, điều đó đã khuyến khích làn sóng di cư của người Việt đến vùng đất mới này ngày một đông Lịch sử đã ghi chép, khoảng cuối thế
kỷ XVI đến đầu thể kỷ XVII cư dân người Việt từ vùng Ngũ Quảng đã lũ lượt kéo nhau tới vùng đất phía Nam để sinh cơ lập nghiệp, tạo dựng cuộc sống mới với muôn hoàn cảnh và lý do khác nhau Điểm dừng chân đầu tiên của người Việt là vùng Mô Xoài (còn gọi là Mỗi Xuy tức Bà Rịa) địa đầu của vùng đất mới nằm trên trục giao thông đường bộ từ Bình Thuận vào Nam, lại nằm trên đường biển có vịnh biển Ô Trạm rất thuận lợi cho tàu thuyền cập bến Đây là một vùng rộng lớn từ Long Hương, Phước Lễ
đến đất đỏ ngày nay Theo Trịnh Hoài Đức “Gia Định thành thông chí” thì lưu dân Việt
Nam đã vào Mô Xoài từ các đời chúa Nguyễn Hoàng (1558-1613), chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648) chứ không phải họ theo đạo quân của Nguyễn Phúc yên vào Mô Xoài năm 1658 Đến sau nữa thế kỉ XVII số di dân người Việt đến vùng này đã khá đông, trong đó có những di dân Thiên Chúa Giáo trốn chạy việc cấm đạo
Từ Mô Xoài, Bà Rịa, các thế hệ di dân tự do người Việt với phương tiện di chuyển chủ yếu là thuyền, ghe, xuồng theo thủy triều ngược dòng Đồng Nai và cả đi bộ dọc theo sông tiến dần vào vùng Đồng Nai Các điểm định cư sớm nhất của họ ở khu vực Đồng Nai ngày nay là Nhơn Trạch, Long Thành, An Hòa, Bến Gỗ, Bàn Lân, cù lao Phố, cù lao Tân Chánh, cù lao Ngô, cù lao Kinh, cù lao Tân Triều …rồi đến Biên Hòa, Vĩnh Cửu vì những vùng này ghe thuyền dễ cập bến và là nơi sẵn nước ngọt phục vụ
Lâm Hiếu Trung (Chủ biên) Biên Hòa- Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển, Nxb Đồng Nai,
1998
Trang 1111
cho sinh hoạt và trồng tỉa Song song với đó, các vùng ven núi như núi Thiết Khâu (tục danh núi Lò Thổi), núi Ký (tục danh núi Bà Ký), núi Nữ Tăng (tục dang núi Bà Vãi ở địa phận huyện Long Thành), núi Sa Trúc (tục danh Núi Nứa)… cũng là nơi được lưu dân người Việt chọn làm nơi định cư, bởi nơi đây có điều kiện khai thác các nguồn lợi lâm sản như: săn bắt, khai thác gỗ, nứa, khai thác mỏ, ….Vùng giồng cao ven biển, nhất
là có vùng hoặc cửa sông tốt cũng là một trong những nơi định cư làm ăn đầu tiên của người Việt Họ sống bằng săn bắn, bằng nghề chài lưới, làm mắm, làm ruộng … trồng tỉa Việc chọn đất khai khẩn, lập làng ấp của lưu dân người Việt diễn ra theo kinh nghiệm cuộc sống từ quê hương vùng Ngũ Quảng là hoàn toàn tự do theo sở thích riêng của từng nhóm hoặc từng gia đình dòng họ, ai muốn ở đâu, lập làng ấp chỗ nào tùy theo
ý thích mà chưa có sự quản lý về mặt hành chánh nhà nước Người Việt đến nơi này cùng với người Khmer và các dân tộc bản địa khai khẩn một vùng đất rộng lớn Đến cuối thế kỷ thứ XVII cũng là lúc nhà Nguyễn đã tạo được uy thế của mình ở vùng đất phương Nam, triều đình nhà nguyễn đã tổ chức di dân vào vùng đất phía Nam và từng bước thiết lập hành chánh cho vùng đất này Tiến trình nhập cư của lưu dân người Việt vào đất Đồng Nai - Sài Gòn đã diễn ra liên tục trong suất gần một thế kỷ Theo sánh
Biên Hòa Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển có thể nhìn nhận với một lược đồ
như sau:
Vùng Mỗi Xuy – Bà Rịa là nơi khai thác sớm nhất, khu vực Long Hưng, Phước
Lễ, đất đỏ đã có đông người Việt đến định cư khai thác vào cuối thế kỉ XVI
Từ đầu thế kỷ XVII và đến giữa thế kỷ này các vùng dọc ven sông Phước Long như Nhơn Trạch lên Long Thành đến Biên Hòa, Vĩnh Cửu lần lượt được người Việt đến khai khẩn lập làng và với những cánh đồng ruộng vườn trù phú
Nhìn chung, những lưu dân Việt thuộc lớp tiên phong đi vào vùng đất mới Đồng Nai-Gia Định lập nghiệp làm nhiều đợt trước cả thời Trịnh-Nguyễn phân tranh nhưng dâng lên thành làn sóng và mạnh mẽ hơn là vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII Phần đông họ chọn phương tiện tự động đi lẻ tẻ, hoặc cả gia đình, hoặc người khỏe mạnh đi trước tạo dựng cơ sở rồi đón gia đình đến sau, hoặc một vài gia đình cùng làng xóm kết
Trang 1212
nhóm cùng đi với nhau Phần lớn họ chọn thuyền buồm hay ghe bầu làm phương tiện di chuyển chính, bởi lúc bấy giờ việc di chuyển giữa các phủ miền Trung với vùng Đồng Nai-Gia Định chủ yếu là đường biển Dĩ nhiên lúc bấy giờ có nhiều người không có được ghe thuyền, đành phải chấp nhận mạo hiểm trèo đèo lội suối đi theo đường bộ, đi dần từng chặng một, đến mỗi địa phương ở lại một thời gian, thấy trụ được thì ở lại lập nghiệp, bằng không thì đi tiếp lần hồi cũng vào tới vùng đất mới Đồng Nai
Cùng với việc di cư tự do và có sự can thiệp của chính quyền nhà Nguyễn, một
bộ phận người Hoa (1679) vì ý đồ “phản Thanh phục Minh” không thành nên đã đến Đại Việt xin chúa Nguyễn cho phép vào miền Nam Việt Nam cùng với cư dân người Việt khai hoang mở mang bờ cỏi Được nhà Nguyễn chấp thuận, dưới sự hướng dẫn của tướng lĩnh Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch, người Hoa đã có mặt ở các tỉnh Nam Bộ và Tây Nam Bộ; từ Sài Gòn – Gia Định, Đồng Nai, Bình Dương cho đến một
số tỉnh Tây Nam Bộ Họ đi đến đâu thì cùng với người Việt khai hoang sản xuất lập làng, lập phố xá đến đó
Đến năm 1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh của chúa Nguyễn Phúc Chu vào kinh lược, thiết lập hệ thống quản lý hành chính, tổ chức việc khai thác đất đai và ổn định trật tự xã hội thì vùng đất Đồng Nai đã hơn 40.000 hộ, với dân số khoảng 200.000 người
Công cuộc khai hoang và sản xuất của lưu dân người Việt cùng với các dân tộc bản địa trong thế kỷ XVII đã làm biến đổi bộ mặt kinh tế Đồng Nai Nơi đây vốn là rừng hoang nê địa trở thành những cánh đồng lúa và hoa màu tốt tươi Song việc khai hoang và sản xuất của lưu dân Việt không thể diễn ra một cách đơn độc, bởi vùng đất Đồng Nai lúc này còn quá hoang vu, khí hậu độc, gây nhiều bệnh tật lại đầy dẫy những thú dữ và rắn rếp Hơn nữa sản xuất nông nghiệp vốn dĩ cần một lực lượng lao động dồi dào để làm cho kịp thời vụ, vì vậy đã buộc họ phải liên kết với nhau, sống cận kề nhau
Lâm Hiếu Trung (Chủ biên) Biên Hòa- Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển, Nxb Đồng
Nai, 1998
Trang 1313
thành từng xóm, làng như quê hương họ đã từng sống để tương trợ nhau khi cần và vì vậy xóm làng đã từng bước được hình thành Khi dân số đông lên do sinh đẻ tự nhiên,
do các đợt di cư sau bổ sung, xóm được mở rộng thành ấp, thành thôn, thành xã rồi tách
ra thành thôn, xã mới Việc sản xuất nông nghiệp ngày càng cao phát triển có của ăn của để, các nông sản ngày càng phong phú nên người dân đã dần tính đến trao đổi nông sản để làm phong phú bữa ăn Bên cạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, người dân bắt đầu nghĩ đến việc hình thành các ngành nghề thủ công khác như mộc, gốm, gạch ngói, nung vôi, dệt chiếu, vải, đúc đồng … để rồi dần hình thành nên nghề buôn bán Trong khi đó ở Đồng Nai, với Cù Lao Phố có hê thống sông bao quanh, giao thông thuận tiện với đường thủy từ Bắc xuống Nam, lên Cao Miên và xuống miền Tây Nam Bộ Những điều kiện này giúp cho nông nghiệp và thương nghiệp ở Đồng Nai sớm hình thành và phát triển Bộ phận lưu dân người Hoa đến đất Đồng Nai sinh sống, nông nghiệp không phải là thế mạnh của họ mà chỉ là kế sinh nhai tạm thời Họ đến Đồng Nai đốn chặt cây cối, phát cỏ rậm xung quanh khu vực định cư, khai thông nguồn nước, mở mang đường ngõ và phát triển thương nghiêp Thấy được những lợi thế mà Cù Lao Phố mang lại, người Hoa đã thu nạp thương nhân người Hoa và một số địa phương khác để rồi cùng người Việt từng bước hình thành nên thương cảng Cù Lao Phố sầm uất mang tầm cở quốc tế thời bấy giờ
Trên cơ sở của những lực lượng di dân, khai khẩn vùng đất phương Nam này năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu đã cử Lễ Thanh Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất này Và ông đã lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình dựng dinh phiên Trấn… “tại” mỗi dinh đặt chức lưu thủ, cai bộ và kỷ lụật để quản trị, nha thuộc có hai ty xá –lại để làm việc; quân binh thì có cơ, đội, thuyền, thủy bộ tinh binh và thuộc binh để hậu vệ Bên cạnh đó ông cũng thành lập xã, thôn, ấp, phường, chia đặt địa giới, khai khẩn ruộng đất, định lệ thuế,
tô và dung, lập sổ đinh, sổ điền…
Dưới thời nhà Nguyễn, với nhiều chính sách dễ dãi như cho mua bán nô ti để phục vụ cho công cuộc khai khẩn; cho mượn hoặc cung cấp nông cụ, giống cây trồng,
Trang 1414
không giới hạn diện tích canh tác, hộ gia đình chưa có đất canh tác thì được chính quyền cấp, cấp cả trâu bò để cày cấy… với nhiều chính sách ưu ái nên đã chiêu mộ được nhiều tầng lớp nhân dân về đây sinh cơ lập nghiệp và vì vậy, diện tích đất đai được khai hoang mở rộng
Đến năm 1920, nhiều Công ty đất đỏ và Đông Dương của tư bản Pháp đứng ra xin khai khẩn đất khắp các vùng đông Bắc xứ Đồng Nai để lập thành đồ điền cao su, mỗi sở rộng lớn, choáng hàng vạn mẫu Tây Do đó phát xuất phong trào tuyển mộ mỗi năm hàng ngàn dân di cư từ Bắc Việt đưa đến khai thác các đồn điền, lập phân thành từng làng trong các sở lớn, có chợ, bến xá, trường học nhà thờ, chùa, được trang bị hệ thống điện nước… Việc tuyển dụng tuy có khế ước, song khi vào một số nhân công ban đầu không chịu được phong lam chướng khí xa lạ, mang chứng sốt rét nên đã trốn khỏi đồn điền Lần về sau tình trạng này được cải thiện, bồi dưỡng nên công nhân vựng thêm
ý chí tiếp tục làm việc, gây phong phú cho nguồn lợi kỹ nghệ Biên Hòa
Đến cuối năm 1954, sau Hiệp định Geneve, Đồng Nai lại tiếp nhận trên 60.000 đồng bào miền Bắc đến định cư lập nghiệp trên miền Đồng Nai nước ngọt Sau đó vào năm 1965, Đồng Nai đón nhận sự chuyển cư từ Phước Thành và các tỉnh bạn đến lập thành ấp An Bình tại xã Trảng Bom và nhiều đơn vị thuộc lực lượng đồng minh đến đồn trú rải rác khắp trong tỉnh Các đơn vị đã khai hoang phá rừng, mở thêm diện tích thương trường, lập nhiều khu quân sự kiên cố ở khắp mọi nơi, giúp thêm công việc làm
ăn cho giới công nhân tạo phú túc cho ngành doanh thương, công, kỷ, tô điểm thị thành, đem lại phồn thạnh chung cho xứ sở Biên Hòa
Thời kỳ Mỹ xâm lược, chúng đã nhiều lần chia tách sáp nhập, thay đổi địa giới hành chánh nhằm để kìm kẹp và bình định Sau khi hòa bình lập lại 30/4/1975, rồi đến năm 1976, tỉnh Đồng Nai được thành lập trên cơ sở hợp nhất 3 tỉnh: Biên Hòa, Bà Rịa - Long Khánh, Tân Phú Từ năm 1978 đến nay thêm nhiều lần điều chỉnh đơn vị hành chính cấp huyện Kết quả của sự hội tụ cư dân ấy, ngày nay trên địa bàn Đồng Nai có
Lương Văn Lựu (1976), Biên Hòa Sử Lược Toàn Biên- Tập I, Trấn Biên Cổ Kính
Trang 1515
hơn 30 tộc người cùng chung sống Bên cạnh dân tộc Kinh và dân tộc Hoa chiếm đa
số, các dân tộc: Stiêng, Chro, Mạ, Kơho được xem là dân tộc bản địa cùng chung lưng đấu cật với nhau ra sức sản xuất tạo dựng cuộc sống ngày một tốt đẹp như ngày hôm nay
Một thời khai phá, thế hệ di dân ở Đồng Nai đã để lại dấu ấn lịch sử của mình Sử
sách của triều Nguyễn như Đại Nam nhất thống chí khi đề cập đến tỉnh Biên Hòa rộng
lớn trước đây, có nhắc nhiều những di tích mà có thể kể ở đây là:
Cổ Thành Biên Hòa ngày nay còn lại những dấu tích một vách tường thành bằng
đá ong tại phường Quang Vinh, Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Cổ Thành được xây dựng thời Minh Mạng (khoảng năm 1834) Cổ Thành đóng góp rất quan trọng trong việc bố phòng, trấn an vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai Cùng với một số đền miếu như đàn Xã Tắc, đàn Tiên Nông, đền Trung Tiết đều được xây dựng thời Minh Mệnh
Văn miếu Trấn Biên ở địa phận Thôn Tân lại xây dựng (1715), cùng với đó là đình Tân Lại; miếu Hội Đồng và miếu Thành Hoàng Song song đó còn có các đền thờ (đình thần ) ghi dấu những bậc tiền nhân như: đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, đền thờ Nguyễn Tri Phương, đền thờ Đoàn Văn Cự, đền thờ Trần Thượng Xuyên Lại còn cả những ngôi chùa cổ thường gắn liền với những chuyện tích lịch sử, truyền tích về những vua chúa, vị quan quân, những chư Tăng hay chuyện tích về Phật Pháp như: chùa Đại Giác, chùa Bửu Phong, chùa Long Thiền, chùa Hội Quốc và chùa Ông- Ngôi chùa của di dân người Hòa trên đất Biên Hòa - Đồng Nai
Dấu ấn ấy còn là cả một hệ thống đình làng ở Đồng Nai tọa lạc hầu khắp các huyện thị và Thành phố Biên Hòa, nhưng nhiều nhất là xã Hiệp Hòa (trên 10 ngôi đình), huyện Vịnh Cửu, xã An Hòa, Thành phố Biên Hòa và huyên Nhơn Trạch, Long Thành, Đồng Nai cũng là những điạ phương có nhiều cơ sở tín ngưỡng
Theo số liệu thống kê của Ban Dân tộc tỉnh Đồng Nai thực hiện năm 2014
Dẫn theo Lâm Hiếu Trung (Chủ biên) Biên Hòa- Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển, Nxb
Đồng Nai, 1998