1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích sự tin tưởng của bệnh nhân ung thư vú đối với phác đồ nội tiết bổ trợ và sự liên quan của thực trạng thông tin thuốc cho bệnh nhân tại một số bệnh viện chuyên khoa ung bướu

86 50 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 3,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những thập kỷ qua, vấn đề về sự tin tưởng của bệnh nhân đối với phác đồ điều trị và tác động của sự tin tưởng đến việc sử dụng thuốc ngày càng được quan tâm.. Các ng

Trang 1

THÔNG TIN THUỐC CHO BỆNH NHÂN TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN CHUYÊN

KHOA UNG BƯỚU

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ AN QUỲNH Mã sinh viên: 1501424

PHÂN TÍCH SỰ TIN TƯỞNG CỦA

BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ ĐỐI VỚI PHÁC ĐỒ NỘI TIẾT BỔ TRỢ VÀ SỰ LIÊN QUAN CỦA THỰC TRẠNG

THÔNG TIN THUỐC CHO BỆNH NHÂN TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN CHUYÊN

KHOA UNG BƯỚU

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS TS Nguyễn Thị Liên Hương – trưởng Bộ môn Dược lâm sàng đã hướng dẫn, góp ý tận tình và tạo mọi điều

kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Em xin cảm

Tôi xin chân thành cảm ơn ThS Vũ Đình Tiến – Trưởng khoa Dược, bệnh viện K cơ sở Tân Triều và ThS Hoàng Thị Lê Hảo – Trưởng khoa Dược, bệnh viện

Ung bướu Hà Nội, trong suốt thời gian qua đã luôn quan tâm, chỉ dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài Em cảm ơn anh chị!

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ths Bạch Văn Dương – dược sĩ lâm sàng, bệnh viện Ung bướu Hà Nội và Ths Hoàng Thị Minh Thu – dược sĩ lâm sàng, bệnh

viện K cơ sở Tân Triều, trong suốt thời gian qua đã nhiệt tình hướng dẫn những kiến thức chuyên môn cũng như những kỹ năng cần thiết trong công việc Em xin cảm ơn!

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám đốc bệnh viện, Ban lãnh đạo cùng các bác sĩ, điều dưỡng và cán bộ khoa Dược bệnh viện K cơ sở Tân Triều và bệnh viện Ung bướu Hà Nội

Và cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến gia đình và bạn bè tôi, những người đã luôn động viên và chia sẻ, là nguồn động lực cho tôi tiếp tục cố gắng

Hà Nội, ngày 22 tháng 6 năm 2020

Sinh viên

Nguyễn Thị An Quỳnh

Trang 4

1.1.2.1 Cơ sở của liệu pháp nội tiết trong điều trị ung thư vú 4

1.1.2.2 Các nhóm thuốc được sử dụng trong liệu pháp nội tiết bổ trợ 5

1.1.2.3 Lựa chọn thuốc nội tiết trong điều trị ung thư vú 6

Những khó khăn đối với việc tuân thủ sử dụng liệu pháp nội tiết bổ trợ trên

1.1.3

bệnh nhân ung thư vú 7

Tổng quan về thông tin thuốc cho bệnh nhân ung thư 8 1.2

Nhu cầu thông tin thuốc của bệnh nhân ung thư 8

1.2.1

Hình thức và nguồn cung cấp thông tin thuốc cho bệnh nhân ung thư 9

1.2.2

1.2.2.1 Các hình thức cung cấp thông tin thuốc cho bệnh nhân ung thư 9

1.2.2.2 Các nguồn và đối tượng cung cấp thông tin thuốc cho bệnh nhân ung thư 10

Vai trò của thông tin đối với điều trị bằng thuốc cho bệnh nhân ung thư 11

1.2.3

Một số bộ công cụ đánh giá thông tin thuốc cho bệnh nhân 12

1.2.4

1.2.4.1 Thang đo sự hài lòng của bệnh nhân đối với thông tin thuốc (SIMS) 12

1.2.4.2 Bảng câu hỏi về thông tin thuốc (EORTC QLQ - INFO 25) 13

Các nghiên cứu về thông tin thuốc cho bệnh nhân ung thư 13

1.3.3.1 Bộ công cụ sự tin tưởng đối với phác đồ điều trị (BMQ) 17

1.3.3.2 Phiên bản tiếng Việt Nam của bộ công cụ BMQ (BMQ – V) 18

Một số nghiên cứu về sự tin tưởng của bệnh nhân đối với phác đồ điều trị 18

1.3.4

Trang 5

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

Đối tượng nghiên cứu 20 2.1

Tiêu chuẩn lựa chọn 20

2.2.3.1 Quy trình thu thập bệnh nhân 21

2.2.3.1 Quy trình và các công cụ thu thập thông tin từ phỏng vấn bệnh nhân 22

Chỉ tiêu nghiên cứu 24 2.3

Chỉ tiêu nghiên cứu của mục tiêu 1 25

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu 29 3.1

Thực trạng thông tin thuốc trên bệnh nhân ung thư vú điều trị nội tiết bổ trợ 31 3.2

Đặc điểm nội dung thông tin và mức độ hài lòng của bệnh nhân với nội dung

3.2.1

thông tin nhận được 31

Đặc điểm nguồn cung cấp thông tin và mức độ hài lòng của bệnh nhân với

3.2.2

nguồn cung cấp thông tin thuốc 32

Đặc điểm đối tượng giải đáp thắc mắc và mức độ giải đáp thắc mắc về thông tin

3.2.3

thuốc cho bệnh nhân 33

Tổng kết chung về đặc điểm của thông tin bệnh nhân nhận được 34

3.2.4

Mối liên quan giữa đặc điểm nguồn cung cấp thông tin thuốc với số lượng và sự

3.2.5

hài lòng với nội dung thông tin thuốc 35

Đặc điểm sự tin tưởng của bệnh nhân vào phác đồ điều trị 36 3.3

Đặc điểm mức độ đồng ý của bệnh nhân đối với các nhận định trong bộ câu hỏi

Trang 6

Các yếu tố thuộc về thông tin thuốc và một số yếu tố khác liên quan đến sự tin

3.4

tưởng vào phác đồ thuốc nội tiết điều trị ung thư vú 37 Mối liên quan giữa các đặc điểm về thông tin thuốc và sự tin tưởng của bệnh

3.4.1

nhân vào phác đồ điều trị 37

Mối liên quan giữa các đặc điểm bệnh nhân và sự tin tưởng vào phác đồ điều

3.4.2

trị…… 39

Mối liên quan của thông tin thuốc và các yếu tố khác đến mức độ tin tưởng của

3.4.3

bệnh nhân ung thư vú vào mức độ tin tưởng của phác đồ nội tiết bổ trợ 41

Mối liên quan của thông tin thuốc và các yếu tố khác đến mức độ lo ngại của

cần thiết phải sử dụng thuốc 49

Bàn luận về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ lo ngại của bệnh nhân đối về

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

ADR Adverse drug reaction – Phản ứng có hại của thuốc

AI Aromatase inhibitors – Nhóm thuốc ngăn chặn sản xuất estrogen

ASC Assessment of Survivor Concerns scale – Thang đánh giá mối quan tâm

của những người sống sót

BIPQ Brief Illness Perception Questionnaire – Bảng câu hỏi về nhận thức

bệnh tật

BMQ Beliefs about Medicines Questionnaire – Bảng câu hỏi sự tin tưởng của

bệnh nhân với thuốc

CI Confidence Interval – Khoảng tin cậy

EORTC European Platform of Cancer Reserch – Tổ chức nghiên cứu ung thư

Châu Âu

ICD International Classification of Diseases – Phân loại quốc tế về bệnh tật

INS – C Information need scale – Bảng câu hỏi khảo sát những thông tin cần

thiết cho bệnh nhân ung thư

ISQ Information Styles Questionnaire – Bảng câu hỏi về hình thức thông

tin

LH Luteinzing Hormone – Hormon kích thích hoàng thể

MARS Medication Adherence Rating Scale – Thang đánh giá tuân thủ thuốc

NCCN National comprehensive cancer Network – Mạng lưới ung thư Hoa Kỳ

PHQ Patient Health Questionnaire – Bảng câu hỏi về sức khỏe bệnh nhân

PT Phẫu thuật

QLQ

INFO25

Quality of Life Information 25 – Bảng câu hỏi về thông tin cho bệnh

nhân ung thư

SERD Selective estrogen receptor degraders – Chọn lọc suy giảm thụ thể

SERM Selective estrogen receptor modulators - Chọn lọc điều biến thụ thể

SIMS Satisfaction with Information about Medicines Scale – Thang đo sự hài

lòng của bệnh nhân với thông tin thuốc

UTV Ung thư vú

VIF Variance inflation factor - Hệ số lạm phát phương sai

Trang 8

WHO World Health Organization - Tổ chức y tế thế giới.

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Cơ chế hoạt động của các nhóm thuốc nội tiết bổ trợ 5Bảng 1.2 Các phác đồ nội tiết cho phụ nữ ung thư vú xâm lấn 7Bảng 2.1 Lựa chọn nội dung thông tin cho phần 1 của bộ công cụ khảo sát thông tin về thuốc nội tiết trên bệnh nhân ung thư vú 22Bảng 2.2 Các nhận định trong bảng câu hỏi BMQ – V cụ thể 24Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu 29Bảng 3.2 Đặc điểm liên quan đến bệnh lý ung thư vú và điều trị của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu 30Bảng 3.3 Đặc điểm nội dung thông tin và mức độ hài lòng của bệnh nhân với mỗi nội dung thông tin 31Bảng 3.4 Đặc điểm nguồn cung cấp thông tin và mức độ hài lòng của bệnh nhân với nguồn cung cấp thông tin thuốc 32Bảng 3.5 Đặc điểm đối tượng giải đáp thắc mắc và mức độ giải đáp thắc mắc về thông tin thuốc cho bệnh nhân 33Bảng 3.6 Tổng kết chung về đặc điểm thông tin bệnh nhân nhận được 34Bảng 3.7 Mối liên quan giữa đặc điểm nguồn cung cấp thông tin thuốc với số lượng và

sự hài lòng với nội dung thông tin thuốc 35Bảng 3.8 Đặc điểm thang đo mức độ tin tưởng và thang đo mức độ lo ngại 37Bảng 3.9 Mối liên quan đơn biến của đặc điểm nội dung và nguồn thông tin thuốc và

sự tin tưởng của bệnh nhân vào phác đồ điều trị 38Bảng 3.10 Mối liên quan đơn biến của đặc điểm đánh giá hữu ích và nhu cầu thông tin

và sự tin tưởng của bệnh nhân vào phác đồ điều trị 38Bảng 3.11 Mối liên quan đơn biến giữa các đặc điểm nhân khẩu học và sự tin tưởng của bệnh nhân vào phác đồ điều trị 39Bảng 3.12 Mối liên quan đơn biến giữa các đặc điểm liên quan đến bệnh lý ung thư vú

và điều trị và sự tin tưởng vào phác đồ điều trị 40Bảng 3.13 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tin tưởng của bệnh nhân ung thư vú đối với mức độ tin tưởng của phác đồ điều trị 42

Trang 9

Bảng 3.14 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ lo ngại của bệnh nhân ung thư vú đối với phác đồ điều trị 43

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ

Hình 2.1 Quy trình thu thập bệnh nhân và thông tin nghiên cứu 21Hình 3.1 Tỷ lệ bệnh nhân mỗi mức độ đồng ý trong các nhận định của bảng câu hỏi BMQ – V cụ thể 37

Trang 10

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những thập kỷ qua, vấn đề về sự tin tưởng của bệnh nhân đối với phác đồ điều trị và tác động của sự tin tưởng đến việc sử dụng thuốc ngày càng được quan tâm

Có một số nghiên cứu báo cáo rằng nhiều bệnh nhân có suy nghĩ tiêu cực về thuốc như

là có 13,1% bệnh nhân ung thư vú ở Mỹ không tin vào hiệu quả của Tamoxifen và tỷ

lệ bỏ điều trị ở nhóm bệnh nhân này là 35,3%, gấp 3 lần tỷ lệ bỏ điều trị ở những bệnh nhân tin tưởng vào thuốc [16], [37] Như vậy, sự tin tưởng của bệnh nhân vào thuốc là điều cần thiết nhằm thúc đẩy bệnh nhân tiếp tục sử dụng thuốc để điều trị các bệnh lý mạn tính [17] Nhiều nghiên cứu trước đó cũng đã chứng minh nếu bệnh nhân tin tưởng rằng việc sử dụng thuốc là cần thiết thì thường tuân thủ tốt hơn trong khi những bệnh nhân lo ngại về ảnh hưởng tiêu cực của thuốc thì tuân thủ kém hơn [16], [42] Quá trình điều trị các bệnh lý mạn tính đặc biệt là ung thư thường sử dụng các loại thuốc khác nhau và kéo dài trong nhiều năm (như là với hóa trị liệu đường uống, liệu pháp nội tiết bổ trợ,…) Vì vậy, việc đánh giá sự tin tưởng của bệnh nhân ung thư vào phác đồ điều trị và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tin tưởng là vô cùng quan trọng trong việc dự đoán và cải thiện tuân thủ điều trị ở bệnh nhân [17]

Hiện nay, những tiến bộ trong phát hiện sớm ung thư vú và điều trị bằng liệu pháp nội tiết bổ trợ đã giúp kéo dài thời gian sống thêm của bệnh nhân ung thư vú Quá trình điều trị bằng thuốc nội tiết kéo dài đòi hỏi bệnh nhân phải có kiến thức điều trị đầy đủ đặc biệt là về thông tin thuốc [42], [46] Các nghiên cứu cho thấy nhiều bệnh nhân chưa nhận được đầy đủ thông tin như là có 20% bệnh nhân ung thư vú tại Nhật Bản báo cáo họ không nhận được thông tin về tác dụng không mong muốn của liệu pháp nội tiết, hơn nữa 30,7% bệnh nhân trong nghiên cứu này không hài lòng với thông tin được bác sĩ cung cấp [4] Thực trạng thông tin thuốc và mức độ hài lòng của bệnh nhân với thông tin nhận được có sự khác biệt rất lớn giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ, giữa các bệnh viện và giữa từng bệnh nhân [12]

Trong khi đó, thông tin thuốc đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu là một yếu tố liên quan đến sự tin tưởng của bệnh nhân vào phác đồ điều trị Việc cung cấp đầy đủ và chính xác thông tin thuốc cho bệnh nhân giúp nâng cao kiến thức cho bệnh nhân về các vấn đề liên quan đến thuốc [3], [21] Những nghiên cứu trước đây trên thế giới báo cáo rằng bệnh nhân được cung cấp đầy đủ và hài lòng với thông tin

Trang 11

2

thuốc có mức độ tin tưởng vào sự cần thiết phải sử dụng thuốc cao hơn và mức độ lo ngại về việc sử dụng thuốc thấp hơn [7], [21], [28]

Tuy nhiên ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào khảo sát về sự tin tưởng của bệnh nhân ung thư vú đối với phác đồ điều trị cũng như phân tích các yếu tố có thể liên quan đến vấn đề này, trong đó có sự hài lòng của bệnh nhân đối với thông tin thuốc Cũng chưa có một hệ thống trung tâm thông tin thuốc dành cho bệnh nhân ung thư với các nguồn cung cấp thông tin được cho là chính thống ngoài đội ngũ nhân viên

y tế trực tiếp điều trị cho đối tượng bệnh nhân này tại Việt Nam Mặt khác, bệnh viện Ung bướu Hà Nội và bệnh viện K là hai bệnh viện chuyên khoa ung thư với số lượt bệnh nhân đến khám và nhận cấp phát thuốc nội tiết điều trị ung thư vú lớn nhất miền Bắc Với mong muốn hướng tới mục tiêu cải thiện tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc và nâng cao hiệu quả điều trị, thực trạng thông tin thuốc cũng như sự tin tưởng của bệnh nhân đối với phác đồ điều trị là những vấn để được cân nhắc để đưa ra những can thiệp

phù hợp Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Phân tích sự tin tưởng của bệnh

nhân ung thư vú đối với phác đồ nội tiết bổ trợ và sự liên quan của thực trạng thông tin thuốc cho bệnh nhân tại một số bệnh viện chuyên khoa ung bướu” với các

mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng thông tin thuốc trên bệnh nhân ung thư vú điều trị nội tiết bổ trợ

2 Khảo sát sự tin tưởng của bệnh nhân vào phác đồ thuốc nội tiết điều trị ung thư vú

3 Phân tích các yếu tố thuộc về thông tin thuốc và một số yếu tố khác liên quan đến sự tin tưởng vào phác đồ thuốc nội tiết điều trị ung thư vú

Trang 12

3

Trang 13

4

cơ chế kiểm soát về mặt phát triển của cơ thể Ung thư có thể bắt đầu tại bất kì cơ quan, bộ phận nào trong cơ thể như não, xương, gan, phổi, máu [1], [2] Ung thư vú (UTV) là loại ung thư mà các tế bào ác tính xuất hiện bắt đầu từ các mô vùng vú và có thể xâm lấn thậm chí lan rộng và phát triển tại các cơ quan khác Tế bào ung thư vú thường di căn đến các hạch bạch huyết ở nách, hạch vú, hạch trung thất và di căn xa đến xương, phổi, não hoặc gan [1], [32]

Trên thế giới có khoảng 2,1 triệu trường hợp ung thư vú được chẩn đoán mới vào năm 2018 chiếm tỷ lệ 25% trường hợp ung thư ở phụ nữ UTV là loại ung thư được chẩn đoán thường xuyên nhất ở đa số các quốc gia (154 trên tổng số 185 quốc gia) và cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư ở hơn 100 quốc gia [9] Theo thống kê của tổ chức Ghi nhận ung thư toàn cầu (Globocan) năm 2018, nước ta

có 15 229 ca mắc mới ung thư vú chiếm tỷ lệ 9,2% tổng số ca mắc mới ung thư trên cả nước [47]

Hiện nay, các biện pháp điều trị ung thư vú được sử dụng gồm có: Phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, liệu pháp nhắm đích và liệu pháp nội tiết Trong đó liệu pháp nội tiết có thời gian điều trị kéo dài và bệnh nhân thường điều trị ngoại trú [2]

Liệu pháp nội tiết bổ trợ trong điều trị ung thư vú

1.1.2.

Hiện nay, liệu pháp nội tiết bổ trợ trong điều trị ung thư vú đóng vai trò quan trọng trong việc giảm tỷ lệ tái phát và tử vong do ung thư vú [2]

1.1.2.1 Cơ sở của liệu pháp nội tiết trong điều trị ung thư vú

Các tế bào vú bình thường và một số tế bào ung thư vú có các thụ thể gắn vào nội tiết tố estrogen và progesteron, phụ thuộc vào các nội tiết tố này để phát triển Các

tế bào ung thư vú có thể có một trong hai, cả hai (ER dương tính – ER+ và/hoặc PR dương tính – PR+) hoặc không có các thụ thể này (ER và PR âm tính – ER-/PR-) [32]

Trang 14

5

Tất cả các bệnh nhân ung thư vú thường được kiểm tra hai thụ thể nội tiết trên mẫu sinh thiết hoặc giải phẫu bệnh khi khối u được cắt bỏ bằng phẫu thuật Một khối u được coi là dương tính với thụ thể nội tiết nếu ít nhất 1% các tế bào được kiểm tra có thụ thể estrogen và/hoặc progesteron Khoảng 2/3 số bệnh nhân có ít nhất một trong hai thụ thể, tỷ lệ này cao hơn ở phụ nữ lớn tuổi [32] Các kết quả này sẽ hỗ trợ cho việc quyết định phác đồ điều trị phù hợp; khi UTV được xác định có một trong hai hoặc cả hai thụ thể nội tiết, liệu pháp nội tiết bổ trợ có thể được sử dụng [32]

Liệu pháp nội tiết bổ trợ là một biện pháp điều trị ung thư vú Liệu pháp này có thể làm gia tăng số lượng, ức chế hoạt động hoặc loại bỏ các thụ thể nội tiết trong cơ thể từ đó làm giảm mức estrogen hoặc ngăn chặn estrogen tác động lên tế bào ung thư

vú [2] Để hướng tới mục tiêu đó, có bốn loại liệu pháp nội tiết được áp dụng:

o Cắt bỏ buồng trứng vĩnh viễn

o Ức chế buồng trứng tạm thời

o Ngăn chặn sản xuất estrogen

o Ngăn chặn hoạt động estrogen

Liệu pháp nội tiết bổ trợ không có tác dụng đối với bệnh nhân ung thư vú âm tính với thụ thể nội tiết [32]

1.1.2.2 Các nhóm thuốc được sử dụng trong liệu pháp nội tiết bổ trợ

Theo hướng dẫn của NCCN, thuốc đại diện và cơ chế hoạt động của các nhóm thuốc được sử dụng trong liệu pháp nội tiết bổ trợ được trình bày trong Bảng 1.1 [32]

Bảng 1.1 Cơ chế hoạt động của các nhóm thuốc nội tiết bổ trợ

Ức chế buồng

trứng

Goserelin Leuprolid

Ức chế bài tiết LH từ tuyến yên từ đó ngăn buồng trứng sản xuất estrogen

Ngăn chặn sản

xuất estrogen

(AI)

Anastrozol Letrozol Exemestan

Ngăn chặn hoạt động của enzym aromatase mà cơ thể sử dụng để tạo ra estrogen

Ngăn chặn hoạt

động estrogen

Tamoxifen Ngăn chặn estrogen gắn vào thụ thể của nó, từ đó

làm cho estrogen không hoạt động (nhóm SERM) hoặc ngăn chặn và phá hủy các thụ thể estrogen (nhóm SERD)

Trang 15

6

1.1.2.3 Lựa chọn thuốc nội tiết trong điều trị ung thư vú

Có khoảng 80% bệnh nhân có thụ thể nội tiết dương tính, những bệnh nhân này thường được chỉ định sử dụng liệu pháp nội tiết bổ trợ trong vòng 5 đến 10 năm sau khi phẫu thuật [2] Việc sử dụng liệu pháp nội tiết bổ trợ làm giảm khoảng 50% tỷ lệ tái phát và khoảng 30% tỷ lệ tử vong đối với bệnh nhân ung thư vú có thụ thể nội tiết dương tính [42] Liệu pháp nội tiết được lựa chọn dựa trên loại ung thư vú và tình trạng kinh nguyệt của bệnh nhân

Ung thư vú có thể phân loại dựa trên mức độ lan rộng của tế bào ung thư UTV tại chỗ là loại ung thư vú mà tế bào ác tính khu trú tại chỗ và không lan vào các mô vú xung quanh UTV xâm lấn là loại ung thư vú mà tế bào ác tính đã lan vào các mô vú xung quanh [32] Đa số bệnh nhân phát hiện bệnh khi đã sang giai đoạn UTV xâm lấn

Tình trạng kinh nguyệt có thể phân chia thành 2 giai đoạn: trước và sau mãn kinh Phụ nữ được coi là mãn kinh khi không có kinh nguyệt trong một hoặc nhiều năm [32]

Theo hướng dẫn của NCCN, lựa chọn phác đồ nội tiết cho phụ nữ ung thư vú xâm lấn được trình bày trong Bảng 1.2 [32]

+ Nếu mãn kinh sau 5 năm, điều trị với AI 5 năm tiếp theo

- AI trong 5 năm kết hợp với cắt bỏ hoặc ức chế buồng trứng

Sau mãn

kinh

- AI trong 5 năm, xem xét kéo dài thêm 5 năm

- AI trong 2 – 3 năm đầu, sau đó Tamoxifen để hoàn thành liệu trình 5 năm

- Tamoxifen trong 2 – 3 năm đầu, sau đó AI để hoàn thành liệu trình 5 năm

- Tamoxifen trong 2 – 3 năm đầu, sau đó AI tối đa 5 năm

- Tamoxifen trong 4,5 – 6 năm, sau đó AI trong 5 năm

- Tamoxifen trong 4,5 – 6 năm, sau đó xem xét tiếp tục sử dụng để hoàn thành liệu trình 10 năm

- Tamoxifen trong 5 năm nếu AI không có lựa chọn

Trang 16

7

Bảng 1.2 Các phác đồ nội tiết cho phụ nữ ung thƣ vú xâm lấn

Những khó khăn đối với việc tuân thủ sử dụng liệu pháp nội tiết bổ trợ trên 1.1.3.

bệnh nhân ung thư vú

Mặc dù việc sử dụng liệu pháp nội tiết bổ trợ đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu là có thể làm làm giảm tái phát và tử vong đáng kể đối với những phụ nữ ung thư vú có thụ thể nội tiết dương tính, nhưng tỷ lệ không tuân thủ điều trị vẫn khá cao (dao động từ 20 - 50%) do bệnh nhân gặp nhiều khó khăn trong quá trình sử dụng thuốc [38] Những khó khăn đối với bệnh nhân ung thư vú đối với việc tuân thủ sử dụng liệu pháp nội tiết bổ trợ bao gồm:

Gánh nặng tài chính là một vấn đề mà rất nhiều bệnh nhân ung thư vú phải đối mặt Nguyên nhân là do liệu pháp nội tiết bổ trợ có thời gian điều trị kéo dài (5 đến 10 năm thậm chí lâu hơn) Giá thành thuốc nội tiết không quá cao, tuy nhiên đối với bệnh nhân có mức thu nhập thấp hoặc không được chi trả bởi bảo hiểm thì đây là một vấn

đề khó khăn Ngoài việc chi trả cho thuốc, chi phí của việc sử dụng liệu pháp nội tiết

bổ trợ còn bao gồm cả việc các xét nghiệm kiểm tra, di chuyển để tái khám và lấy thuốc [46]

Quên thuốc là một khó khăn cho khá nhiều bệnh nhân ung thư vú sử dụng liệu pháp nội tiết bổ trợ Có nhiều báo cáo rằng việc phải sử dụng thuốc mỗi ngày vào một thời điểm nhất định đã gây bất tiện cho cuộc sống của bệnh nhân Một tỷ lệ lớn bệnh nhân đã gặp khó khăn trong việc nhớ thuốc do họ phải uống nhiều thuốc trong một ngày [46]

Tác dụng không mong muốn của thuốc là một nguyên nhân làm giảm tỷ lệ tuân thủ điều trị liệu pháp nội tiết bổ trợ của bệnh nhân ung thư vú Việc sử dụng thuốc nội tiết có thể gây ra nhiều tác dụng không mong muốn về thể chất và tâm lý đối với bệnh nhân [11], [46] Tác dụng không mong muốn về thể chất phần lớn được báo cáo bao gồm đau, mệt mỏi, buồn ngủ, bốc hỏa, các vấn đề về da và tăng cân Những tác dụng không mong muốn này khiến bệnh nhân cảm thấy khó khăn trong sinh hoạt và làm việc hằng ngày, nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng sống của bệnh nhân Ngoài tác dụng không mong muốn về thể chất, một số bệnh nhân gặp phải các

Trang 17

8

tác dụng không mong muốn về tâm lý bao gồm lo lắng, thay đổi tâm trạng, hay giận

dữ hay thậm chí là trầm cảm Tác dụng không mong muốn về mặt tâm lý đã khiến cho nhiều bệnh nhân phải trải qua những cuộc đấu tranh tâm lý khi quyết định sử dụng thuốc [46]

Thiếu kiến thức điều trị cũng là một trở ngại lớn với hầu hết bệnh nhân ung thư

vú sử dụng liệu pháp nội tiết bổ trợ Báo cáo của nhiều khảo sát cho thấy nhu cầu thông tin của bệnh nhân sử dụng thuốc nội tiết chưa được đáp ứng đầy đủ [31] Trong khảo sát gần đây ở châu Âu về kiến thức của bệnh nhân trong các vấn đề liên quan đến thuốc nội tiết, chỉ có 26,0% bệnh nhân ung thư vú nhận được thông tin về nguy cơ tái phát bệnh và 15,0% bệnh nhân nhận được thông tin về tác dụng không mong muốn của thuốc Kiến thức điều trị kém có thể dẫn đến việc bệnh nhân có nhận thức tiêu cực

về rủi ro của các thuốc nội tiết được kê đơn và ảnh hưởng trực tiếp đến tuân thủ điều trị Để nâng cao kiến thức điều trị, bệnh nhân cần được cung cấp thêm thông tin về bệnh, cách điều trị và nguy cơ tái phát [13] Trong một khảo sát ở Đức, bệnh nhân bị ung thư vú đánh giá rằng thông tin mà họ nhận được về thuốc nội tiết là rất ít, đặc biệt

là thông tin về tác dụng không mong muốn Hơn nữa các thắc mắc mà bệnh nhân đưa

ra hiếm khi được bác sĩ giải đáp chi tiết [49] Nhìn chung, các khảo sát đều cho thấy

do sự phức tạp của phương pháp điều trị ung thư và thời gian để nhân viên y tế cung cấp thông tin cho bệnh nhân còn hạn chế nên rất nhiều bệnh nhân ung thư chưa có kiến thức đầy đủ về điều trị [13], [31], [34], [49] Điều này có thể dẫn đến niềm tin sai lệch

và giảm hiệu quả của phác đồ điều trị trên bệnh nhân

Tổng quan về thông tin thuốc cho bệnh nhân ung thƣ

Trang 18

9

với thông tin thuốc cũng như đánh giá về tính phổ biến và mức độ hữu ích của thông tin cho bệnh nhân Việc xác định được nhu cầu thông tin và mức độ hài lòng của bệnh nhân có thể giúp cho các nhân viên y tế xác định được thiếu sót trong việc cung cấp thông tin và cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe trong tương lai [4], [29]

Một khảo sát về nhu cầu thông tin và mức độ hài lòng của bệnh nhân ung thư với thông tin tại Hy Lạp cho thấy rằng, nhu cầu của bệnh nhân ở mỗi nội dung thông tin là khác nhau Có 72,7% số bệnh nhân được khảo sát báo cáo rằng họ không hề nhận được thông tin về việc sử dụng thuốc tại nhà và 61,0% số bệnh nhân không nhận được thông tin về xét nghiệm theo dõi Về mức độ hài lòng, nhiều bệnh nhân ung thư hài lòng với thái độ của nhân viên y tế nhưng lại ít hài lòng với thông tin được cung cấp bởi nhân viên y tế [3] Kết qủa khảo sát trong nghiên cứu của Mika Miyashita và cộng sự tại Nhật Bản lại cho thấy rằng có đến 95,1% số bệnh nhân nhận được thông tin về các xét nghiệm theo dõi và 80,4% số bệnh nhân nhận được thông tin về tác dụng không mong muốn của liệu pháp nội tiết bổ trợ [31]

Tóm lại, hầu hết các bệnh nhân ung thư đều có nhu cầu thông tin cao Những nội dung thông tin mà bệnh nhân có nhu cầu được cung cấp bao gồm thông tin về bệnh, chẩn đoán và xét nghiệm theo dõi, thông tin về thời gian điều trị, tác dụng của thuốc, cách sử dụng thuốc, tác dụng không mong muốn của thuốc và cách khắc phục các tác dụng không mong muốn, vấn đề về tâm lý và tình dục trong quá trình sử dụng thuốc, thông tin về hỗ trợ tài chính [24] Ngoài ra, phần lớn bệnh nhân ung thư có nhu cầu thông tin về chế độ dinh dưỡng áp dụng trong quá trình điều trị ung thư ví dụ như cách bổ sung vitamin và khoáng chất, các thực phẩm tốt giúp tăng cường miễn dịch và các thực phẩm cấm kỵ khi sử dụng thuốc Nhu cầu thông tin của bệnh nhân có sự khác biệt rất lớn giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ, giữa các bệnh viện, giữa từng bệnh nhân [12] Vì vậy, khảo sát thực trạng về thông tin thuốc ở những bệnh viện khác nhau

là điều vô cùng cần thiết, tạo cơ sở để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe phù hợp với nhu cầu, đáp ứng mong muốn của bệnh nhân

Hình thức và nguồn cung cấp thông tin thuốc cho bệnh nhân ung thư

1.2.2.

1.2.2.1 Các hình thức cung cấp thông tin thuốc cho bệnh nhân ung thư

Hình thức cung cấp thông tin thuốc cho bệnh nhân ung thư rất đa dạng Bệnh nhân ung thư có thể được cung cấp thông tin qua hình thức gặp gỡ trực tiếp, nhận tờ thông tin thuốc, nhận email từ nhân viên y tế, các ấn phẩm truyền thông, các cuộc gọi

Trang 19

10

điện thoại hỗ trợ, video, đĩa hoặc có thể nhận thông tin qua âm thanh ghi âm và mp3 Các hình thức cung cấp thông tin thay đổi tùy theo cá nhân và sự sẵn có của các phương tiện [36] Trong nghiên cứu của M.A Shea – Budgell và cộng sự trên bệnh nhân ở một số trung tâm chăm sóc ung thư cho thấy 84,1% số bệnh nhân có nhu cầu nhận thông tin qua gặp gỡ trực tiếp, 75,1% bệnh nhân có nhu cầu biết thông tin qua việc đọc tờ thông tin thuốc, 67,0% có nhu cầu được cung cấp thông tin từ internet, 64,7% có nhu cầu nhận hỗ trợ thông tin qua điện thoại, các loại hình khác như thông tin truyền hình hay video có ít hơn 50% số bệnh nhân có nhu cầu [36]

1.2.2.2 Các nguồn và đối tượng cung cấp thông tin thuốc cho bệnh nhân ung thư

Việc cung cấp thông tin thuốc phù hợp và đúng thời điểm cho bệnh nhân đã được chứng minh là có vai trò quan trọng trong điều trị ung thư Việc bệnh nhân được tiếp cận với các thông tin chính xác sẽ giúp bệnh nhân nâng cao kiến thức điều trị để ứng phó với bệnh tật, cải thiện chất lượng cuộc sống và tiên lượng bệnh [30] Tuy nhiên, bệnh nhân thường không hình thành kiến thức điều trị thông qua nhận thông tin

từ một nguồn, thay vào đó họ có xu hướng sử dụng kết hợp các nguồn thông tin để đáp ứng nhu cầu thông tin thuốc của bản thân Theo báo cáo trong nhiều nghiên cứu, một

số đối tượng thường cung cấp thông tin cho bệnh nhân ung thư bao gồm nhân viên y tế (bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng), bạn bè và người thân hay những người cùng mắc bệnh; ngoài ra, bệnh nhân cũng có thể chủ động tiếp cận một số nguồn thông tin qua internet hay sách báo… [24], [29], [30], [36]

cho bệnh nhân ung thư ở các quốc gia khác nhau, nhân viên y tế luôn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho bệnh nhân và là đối tượng cung cấp thông tin chính cho bệnh nhân trong quá trình điều trị Trong một khảo sát về nguồn cung cấp thông tin thuốc cho bệnh nhân ung thư ở Malaysia, có 97,1% số bệnh nhân nhận được thông tin từ bác sĩ, 94,2% từ điều dưỡng và 66,0% từ dược sĩ [24] Trong nghiên cứu tương tự ở Ethiopia tới 88,8% bệnh nhân nhận được thông tin từ bác sĩ, 34,0% từ điều dưỡng và 28,9% từ dược sĩ [29] Trong khi đó ở Ireland thì 95,0% bệnh nhân ung thư được cung cấp thông tin thông qua các hoạt động tư vấn tại bệnh viện

[30]

cũng là một nguồn thông tin phổ biến đối với bệnh nhân ung thư Ở Malaysia, có

Trang 20

11

74,8% bệnh nhân ung thư nhận được thông tin từ internet, 77,7% nhận được thông tin

từ ti-vi hoặc đài truyền hình, 79,0% số bệnh nhân nhận được thông tin từ báo và tạp chí [24] Ở Ethiopia thì các phương tiện truyền thông như ti-vi hay đài là nguồn thông

tin cho bệnh nhân ung thư phổ biến thứ 3 (30,6%) sau bác sĩ và điều dưỡng [29]

tượng cung cấp thông tin bệnh nhân ung thư Đối tượng cung cấp thông tin này khá phổ biến trong khảo sát thực trạng thông tin thuốc trên bệnh nhân ung thư ở Malaysia

Cụ thể là 87,4% bệnh nhân ung thư nhận được thông tin từ người thân và 84,5% nhận

được thông tin từ bạn bè [24]

thư được khảo sát tùy theo đặc điểm văn hóa và y tế của mỗi quốc gia Những nguồn thông tin hay được nhắc tới bao gồm: những người cùng mắc bệnh ung thư, sách báo

về y học, tạp chí khoa học, các trung tâm hỗ trợ bệnh nhân ung thư,… [24], [29], [30]

Vai trò của thông tin đối với điều trị bằng thuốc cho bệnh nhân ung thư 1.2.3.

Trong quá trình điều trị ung thư, việc cung cấp thông tin cho bệnh nhân đã được chứng minh là một yếu tố có vai trò quan trọng Cung cấp thông tin đúng thời điểm với cách thức phù hợp và nội dung chính xác có tác động tích cực đối với bệnh nhân ung thư và gia đình của họ Mục đích chính của việc cung cấp thông tin là giúp bệnh nhân ra quyết định điều trị, tăng tuân thủ điều trị, nâng cao sự tin tưởng và nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau điều trị ung thư [24], [29], [36]

Thứ nhất, việc cung cấp thông tin đầy đủ giúp bệnh nhân ung thư ra quyết định điều trị Thuốc điều trị ung thư là loại thuốc có cơ chế phức tạp và nhiều tác dụng không mong muốn Để ra quyết định bắt đầu sử dụng thuốc, bệnh nhân cần phải có những hiểu biết cơ bản về lợi ích và rủi ro của các loại thuốc điều trị ung thư được kê đơn [6]

Thứ hai, việc nhận được thông tin thuốc đầy đủ có thể làm tăng mức độ tin tưởng của bệnh nhân vào phác đồ điều trị từ đó tăng tuân thủ điều trị Việc bệnh nhân được cung cấp đầy đủ thông tin từ nhân viên y tế có thể giúp họ chuẩn bị tốt hơn cho các phương pháp điều trị và xét nghiệm y tế, nâng cao kiến thức điều trị của bệnh nhân ung thư, tăng tuân thủ điều trị, tăng khả năng đối phó với những biến chứng liên quan đến bệnh cũng như các tác dụng không mong muốn của thuốc điều trị ung thư [12], [19] Nghiên cứu của Jacob Arriola và cộng sự (2014) đã cho thấy rằng, bệnh nhân

Trang 21

12

ung thư nếu được cung cấp thông tin thường xuyên từ nhân viên y tế thì tin tưởng hơn

về sự cần thiết phải sử dụng thuốc và từ đó làm tăng tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị [21]

Thứ ba, hoạt động tư vấn về thông tin thuốc có thể tác động tích cực đến tâm lý của bệnh nhân ung thư Chẩn đoán ung thư có thể gây ra sự căng thẳng về thể chất và tâm lý cho bệnh nhân do chính căn bệnh hoặc do các phương pháp điều trị Việc cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác đã được chứng minh là giúp bệnh nhân ung thư tăng khả năng đối phó và thích nghi với các giai đoạn khác nhau trong quá trình điều trị ung thư liên tục [19], [25] Cung cấp thông tin đầy đủ cũng làm giảm lo lắng, trầm cảm cho bệnh nhân ung thư, nâng cao sự hài lòng với dịch vụ chăm sóc y tế và cải thiện mức độ giao tiếp của bệnh nhân với ung thư với các thành viên trong gia đình [12], [25]

Một số bộ công cụ đánh giá thông tin thuốc cho bệnh nhân

1.2.4.

Để đánh giá về thông tin thuốc mà bệnh nhân được cung cấp trong quá trình điều trị, một số bộ công cụ đã được áp dụng trong các nghiên cứu phân tích về hiệu quả của việc tư vấn cho bệnh nhân hay mức độ hài lòng của bệnh nhân đối với dịch vụ chăm sóc y tế Một số bộ công cụ được sử dụng để đánh giá nhu cầu thông tin của bệnh nhân là Bảng câu hỏi về hình thức thông tin (ISQ) và Bảng câu hỏi khảo sát những thông tin cần thiết cho bệnh nhân ung thư (INS – C) [22], [50]

Hiện nay đã có một số nghiên cứu sử dụng các bộ câu hỏi này tuy nhiên khả năng ứng dụng, mức độ tin cậy và hiệu lực còn hạn chế, hơn nữa các câu hỏi về thông tin thuốc như tác dụng không mong muốn hay cách theo dõi hiệu quả không được khai thác nhiều Các bộ câu hỏi được áp dụng rộng rãi hơn là Thang đo sự hài lòng của bệnh nhân đối với thông tin thuốc (SIMS) và Bảng câu hỏi về thông tin cho bệnh nhân ung thư (EORTC QLQ – INFO25) [20], [41]

1.2.4.1 Thang đo sự hài lòng của bệnh nhân đối với thông tin thuốc (SIMS)

Công cụ SIMS được ra đời để đánh giá sự hài lòng của bệnh nhân đối với thông tin về thuốc hoặc với dịch vụ tư vấn y tế Bộ câu hỏi gồm 17 mục đánh giá bệnh nhân

đã cảm thấy nhận đủ thông tin về thuốc được kê đơn hay chưa Các mục của bộ câu hỏi được đánh giá bằng tiêu chí của Horne và các cộng sự gồm 5 mức đánh giá của bệnh nhân đối với thông tin thuốc nhận được: “không cần thiết”, “không nhận được”,

“quá ít”, “vừa đủ”, “quá nhiều” [20] Thang đo này được phân thành 2 phần là thông

Trang 22

13

tin về tác dụng và cách sử dụng thuốc (mục 1 - 9) và nguy cơ của việc sử dụng thuốc (mục 10 - 17) [20], [23]

Sự khác biệt của SIMS so với các bộ câu hỏi về thông tin thuốc khác là thay vì

đo lường số lượng hay chất lượng tuyệt đối của thông tin thì cách đánh giá này đã khơi gợi quan điểm của từng bệnh nhân về thông tin thuốc mà họ đã nhận được Do đó, các nhân viên y tế có thể đánh giá được nhu cầu của từng bệnh nhân Kết quả của việc đánh giá có thể hỗ trợ các bác sĩ và dược sĩ lâm sàng trong việc xây dựng kế hoạch và nội dung hoạt động tư vấn phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của bệnh nhân [23]

1.2.4.2 Bảng câu hỏi về thông tin thuốc (EORTC QLQ - INFO 25)

Tổ chức nghiên cứu và điều trị ung thư Châu Âu (EORTC) đã xây dựng một hệ thống đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư Trên cơ sở đó, công cụ đánh giá về các vấn đề liên quan đến thông tin thuốc cho bệnh nhân (EORTC QLQ – INFO25) đã được xây dựng Công cụ này đánh giá nhận thức của bệnh nhân ung thư

về thông tin nhận được trong quá trình điều trị [5] Bảng câu hỏi bao gồm 25 câu được chia làm 4 phần: 4 câu đầu tiên đề cập đến thông tin về bệnh, 3 câu đề cập đến thông tin về xét nghiệm y tế, 6 câu về thông tin điều trị và 4 câu về các thông tin tư vấn khác Ngoài ra còn có 8 câu hỏi liên quan đến tự chăm sóc tại nhà, hỗ trợ, địa điểm chăm sóc, thông tin dưới dạng văn bản hoặc kỹ thuật số, sự hài lòng với thông tin nhận được, nhu cầu nhận thêm thông tin và mức độ hữu ích của thông tin nhận được [41], [50]

Các nghiên cứu về thông tin thuốc cho bệnh nhân ung thư

1.2.5.

Trong nghiên cứu trên 103 bệnh nhân ung thư tại Malaysia (khảo sát với công

cụ EORTC QLQ – INFO25), bệnh nhân nhận được thông về các xét nghiệm y tế là đầy đủ nhất, tiếp theo sau đó là thông tin về bệnh, có 57/103 bệnh nhân báo cáo rằng

họ chưa bao giờ nhận được bất kì thông tin nào hỗ trợ về tâm lý [24] Tuy nhiên trong nghiên cứu của Boons Christel (2018) và nghiên cứu của Sze Wei Thing (2018) thì tỷ

lệ bệnh nhân nhận được thông tin về liều dùng và cách dùng là nhiều nhất [8], [40]

Trong nghiên cứu tại Malaysia thì bác sĩ, điều dưỡng và các thành viên gia đình

là nguồn thông tin phổ biến và hữu ích nhất của bệnh nhân ung thư Mặt khác, 34,0% bệnh nhân không nhận được thông tin từ dược sĩ và 17,5% không hài lòng với thông tin cung cấp bởi dược sĩ Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các nội dung thông tin cần thiết

Trang 23

14

cho bệnh nhân ung thư chủ yếu là thông tin về bệnh, các phương pháp điều trị, tác dụng không mong muốn của phương pháp điều trị và tiên lượng sống [24]

Tổng quan về sự tin tưởng của bệnh nhân đối với phác đồ điều trị

độ lo ngại cao về rủi ro của phác đồ điều trị có tỷ lệ không tuân thủ điều trị cao hơn [35], [43], [45]

Ngoài mối liên quan với việc tuân thủ điều trị trong nhiều nghiên cứu, sự tin tưởng của bệnh nhân còn ảnh hưởng trực tiếp đến việc ra quyết định điều trị của bệnh nhân Suy nghĩ tiêu cực về thuốc khiến cho bệnh nhân từ chối tiếp nhận phương pháp điều trị Có đến 30% phụ nữ không tin vào hiệu quả của liệu pháp nội tiết và khoảng 15% phụ nữ cho rằng điều trị nội tiết là không cần thiết Nhóm bệnh nhân không tin tưởng vào phác đồ điều trị có tỷ lệ từ chối sử dụng thuốc cao hơn nhóm bệnh nhân tin tưởng vào phác đồ điều trị [48] Kết quả này nhất quán với các tài liệu và nghiên cứu trước đây, điển hình là nghiên cứu của Heisig và cộng sự (2016) cho rằng nhóm phụ

nữ ung thư vú có mức độ lo ngại cao và mức độ tin tưởng thấp đối với liệu pháp nội tiết bổ trợ thì có tỷ lệ báo cáo không có ý định bắt đầu điều trị cao [18]

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tin tưởng của bệnh nhân đối với phác đồ điều 1.3.2.

trị

Trang 24

15

Sự tin tưởng của bệnh nhân vào phác đồ điều trị ảnh hưởng đến hiệu quả của phương pháp điều trị (như tỷ lệ bệnh nhân cải thiện triệu chứng hay tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị trong một số bệnh mạn tính, bao gồm ung thư) Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự tin tưởng của bệnh nhân vào phác đồ điều trị [21], [28]

Thông tin và giáo dục là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tin tưởng của bệnh nhân vào phác đồ điều trị Mặc dù sự tin tưởng của bệnh nhân được tác động bởi rất nhiều yếu tố chẳng hạn như các yếu tố nhân khẩu học, văn hóa, tình trạng kinh tế

xã hội…, tuy nhiên phần lớn các yếu tố đó không thay đổi được Vì vậy, cách hiệu quả

để tác động đến sự tin tưởng của bệnh nhân đó là nâng cao mức độ hiểu biết của bệnh nhân thông qua thông tin và giáo dục [27] Thông tin và giáo dục đóng vai trò rất lớn trong việc hình thành và thay đổi sự tin tưởng của bệnh nhân

Thông tin và giáo dục giúp bệnh nhân hiểu được lợi ích của phác đồ điều trị và giảm mức độ lo ngại của họ về những rủi ro tiềm ẩn của phác đồ điều trị [19] Các bệnh lý mạn tính bao gồm cả ung thư đòi hỏi bệnh nhân phải sử dụng thuốc và thay đổi lối sống trong một thời gian rất dài, có thể là đến hết đời Các bệnh lý này có thể không có triệu chứng nào rõ ràng và rất ít chỉ số xét nghiệm để bệnh nhân có thể thấy được lợi ích vượt trội của việc sử dụng thuốc [27] Ví dụ bệnh nhân ung thư vú điều trị bằng liệu pháp nội tiết bổ trợ ngoại trú, sau khi sử dụng thuốc bệnh nhân thường cảm thấy khó chịu hơn trước khi sử dụng thuốc do tác dụng không mong muốn của thuốc nội tiết khá nhiều Mặt khác, lợi ích của việc sử dụng thuốc thì bệnh nhân không nhận thấy được Vì vậy, việc bệnh nhân nhận được những thông tin chính xác về bệnh, về

cơ chế tác dụng và vai trò của liệu pháp điều trị, các tác dụng không mong muốn thường gặp của thuốc và cách khắc phục, các xét nghiệm theo dõi và một số thông tin khác có thể làm bệnh nhân nâng cao mức độ tin tưởng vào phác đồ điều trị và tuân thủ

sử dụng thuốc [21], [35], [39] Nghiên cứu của Llewellyn, McGurk và Weinman năm

2007 đã chỉ ra rằng sự hài lòng của bệnh nhân với nội dung thông tin và thời gian cung cấp thông tin có liên quan đến niềm tin mạnh mẽ hơn về sự cần thiết phải sử dụng thuốc ở những người ung thư đầu và cổ Ngược lại, Bhattacharya và cộng sự (2012) không tìm thấy mối liên hệ giữa mức độ tin tưởng của bệnh nhân về sự cần thiết phải

sử dụng thuốc và sự hài lòng với thông tin về thuốc [28]

Trang 25

16

Nhân viên y tế là những người trực tiếp hướng dẫn điều trị, cung cấp thông tin, giải đáp thắc mắc và theo dõi liên tục cho bệnh nhân ung thư Vì thế nhân viên y tế có

vị trí lý tưởng đối với bệnh nhân để khuyến khích bệnh nhân tin tưởng vào phác đồ điều trị và tuân thủ sử dụng thuốc [28] Nghiên cứu của Mardby cho thấy bệnh nhân nhận được tư vấn của dược sĩ có mức độ tin tưởng về sự cần thiết phải sử dụng thuốc cao hơn những bệnh nhân không nhận được tư vấn Sau quá trình tư vấn, bệnh nhân tin tưởng mạnh mẽ hơn về tính cần thiết của việc sử dụng thuốc trong việc bảo vệ sức khỏe, từ đó tăng cường tuân thủ thuốc [28] Khảo sát ở Thổ Nhĩ Kì trên những bệnh nhân ung thư vú cho thấy rằng những bệnh nhân thiếu sự tư vấn thông tin thường có những quan niệm sai lầm Những bệnh nhân này sử dụng thuốc thảo dược thay vì thuốc được bác sĩ kê đơn do họ không tin tưởng vào hiệu quả của thuốc nội tiết [7] Như vậy, hoạt động tư vấn của nhân viên y tế đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và nâng cao mức độ tin tưởng của bệnh nhân đặc biệt là bệnh nhân ung thư [28]

Từ kết quả của nhiều nghiên cứu chúng ta có thể thấy rằng, mối quan hệ giữa nhân viên y tế và bệnh nhân ảnh hưởng trực tiếp đến sự tin tưởng của bệnh nhân với phác đồ điều trị Giao tiếp giữa bệnh nhân với nhân viên y tế hiệu quả và thường xuyên hơn sẽ làm cho bệnh nhân tin tưởng hơn vào phác đồ điều trị [21]

- Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân:

Một số yếu tố nhân khẩu học của bệnh nhân có ảnh hưởng đến sự tin tưởng của bệnh nhân đối với phác đồ điều trị, tuy nhiên các yếu tố này có sự khác nhau giữa các nghiên cứu Voogt và cộng sự (2005) báo cáo rằng sự tin tưởng trong điều trị ung thư không khác nhau giữa giới tính, giáo dục hoặc loại ung thư [43] Trong khi đó, Bickell

và cộng sự (2009) quan sát thấy rằng những bệnh nhân cao tuổi hay bệnh nhân có bệnh mắc kèm lo ngạị nhiều hơn về tác hại của thuốc Salgado và cộng sự (2017) báo cáo rằng bệnh nhân UTV trên 70 tuổi có mức độ tin tưởng về sự cần thiết phải sử dụng thuốc thấp hơn nhóm dưới 70 tuổi Tóm lại, mối quan hệ giữa sự tin tưởng đối với phác đồ điều trị và các yếu tố nhân khẩu học của bệnh nhân vẫn chưa được kết luận nhất quán [28]

- Đặc điểm liên quan đến bệnh lý và điều trị của bệnh nhân:

Trang 26

17

Các đặc điểm liên quan đến bệnh lý và điều trị của bệnh nhân đề cập trong các nghiên cứu trước đây là trải qua hóa trị trước đó hay chưa, kinh nghiệm điều trị ung thư, thời gian sử dụng thuốc nội tiết, tác dụng không mong muốn gặp phải,… [28]

Hóa trị, kinh nghiệm điều trị ung thư: kết quả từ một số nghiên cứu chỉ ra rằng

hóa trị có ảnh hưởng đến sự tin tưởng của bệnh nhân Cụ thể là những người đã truyền hóa chất có mức độ tin tưởng vào phác đồ điều trị bổ trợ sau đó cao hơn là những người chưa từng điều trị [39] Ngoài ra những người có kinh nghiệm về bệnh ung thư cũng có mức độ tin tưởng cao hơn đối với phác đồ điều trị [28]

Tác dụng không mong muốn (ADR): Những bệnh nhân gặp ADR nhiều hơn thì

có mức độ lo ngại cao hơn Trên thực tế, các phương pháp điều trị ung thư thường gây

ra nhiều triệu chứng khó chịu hơn chính căn bệnh này nên nhiều bệnh nhân cảm thấy tình trạng sức khỏe của bản thân sau khi điều trị còn tệ hơn trước đó Hậu quả là bệnh nhân giảm mức độ tin tưởng đối với phác đồ điều trị [28], [35]

Số lượng thuốc dùng kèm, thời gian sử dụng thuốc nội tiết: Có một vài nghiên

cứu định tính và định lượng chỉ ra rằng những bệnh nhân có số lượng thuốc được kê đơn nhiều hơn, thời gian sử dụng thuốc nội tiết ngắn hơn thì mức độ tin tưởng về sự cần thiết phải sử dụng thuốc cao hơn [28], [35]

Bộ công cụ đánh giá sự tin tưởng của bệnh nhân vào phác đồ điều trị

1.3.3.

Để điều tra về thái độ của bệnh nhân trong quá trình điều trị bệnh, nhiều công

cụ được ra đời và được áp dụng trong các nghiên cứu quan sát Các nghiên cứu tập trung đánh giá những yếu tố nào ảnh hưởng đến niềm tin, kiến thức, thái độ của bệnh nhân đối với bệnh tật sử dụng chủ yếu là 2 bộ công cụ Bảng câu hỏi ngắn gọn nhận thức về bệnh tật (Brief Illness Perception Questionnaire - BIPQ) và Bảng câu hỏi sự tin tưởng đối với phác đồ điều trị (Beliefs about Medicines Questionnaire - BMQ) Hai công cụ này hiện đã được dịch sang tiếng Việt tuy nhiên chưa được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu tại Việt Nam [33]

1.3.3.1 Bộ công cụ sự tin tưởng đối với phác đồ điều trị (BMQ)

Bộ công cụ đánh giá sự tin tưởng đối với phác đồ điều trị (Beliefs about Medication Questionare - BMQ) được phát triển bởi Horne và cộng sự nhằm mục đích đánh giá sự tin tưởng của bệnh nhân vào phác đồ điều trị Bộ công cụ gồm 2 phần là

“BMQ - general” và “BMQ - specific” Phần “BMQ - general” được chia thành 3 vấn

đề đó là tác hại, lạm dụng và lợi ích Phần “BMQ - specific” được chia làm 2 thang đo

Trang 27

18

mức độ tin tưởng và mức độ lo ngại Bệnh nhân đánh giá bằng thang Likert 5 điểm với các mức độ hoàn toàn đồng ý, đồng ý, trung lập, không đồng ý và hoàn toàn phản đối Điểm của mỗi thang đo được tính bằng tổng điểm của các nhận định trong thang đo với giá trị dao động từ 5 đến 25 Điểm càng cao cho thấy mức độ tin tưởng càng cao

và mức độ lo ngại càng cao [44] Ưu điểm của bộ công cụ này đó là đánh giá được suy nghĩ và thái độ của bệnh nhân đối với phác đồ điều trị Bộ công cụ hiện tại đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu và dịch ra nhiều thứ tiếng trong đó có tiếng Việt [14], [44], [45]

1.3.3.2 Phiên bản tiếng Việt Nam của bộ công cụ BMQ (BMQ – V)

Với mục đích dịch công cụ đánh giá sự tin tưởng đối với phác đồ điều trị (BMQ) sang tiếng Việt, nhóm nghiên cứu của đại học Y Dược Cần Thơ đã làm theo hướng dẫn của Beaton và cộng sự (2000 & 2007) Sau khi qua các bước dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt, bảng câu hỏi đã được kiểm tra đánh giá tính nhất quán và độ tin cậy trên 34 bệnh nhân Việt Nam mắc hội chứng mạch vành cấp tính Kết quả cho thấy

có sự tương đương về ngữ nghĩa, thành ngữ, kinh nghiệm và khái niệm giữa phiên bản gốc và bản dịch tiếng Việt của công cụ này [33] Hệ số Cronbach’ Alpha về tính nhất quán bên trong được chấp nhận cho BMQ -V Cụ thể - mức độ tin tưởng (0,64), BMQ -

V Cụ thể - mức độ lo ngại (0,62), BMQ -V Chung - Tác hại (0,6) và BMQ - V Chung - Lạm dụng (0,27) Bảng câu hỏi BMQ – V là công cụ đáng tin cậy để đánh giá về sự tin tưởng của bệnh nhân với phác đồ điều trị, có thể hỗ trợ đáng kể cho nhân viên y tế có cái nhìn tổng quan hơn khi nghiên cứu tuân thủ điều trị và sự hài lòng của bệnh nhân Tuy nhiên, trong công cụ này có một số từ ngữ khó dịch và giài thích sát nghĩa do sự khác nhau giữa các nền văn hóa, điều này nên được xem xét trong các nghiên cứu về sau [33]

Một số nghiên cứu về sự tin tưởng của bệnh nhân đối với phác đồ điều trị 1.3.4.

Năm 2014, Jacob Arriola và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu các yếu tố có thể thay đổi để tăng sự tuân thủ liệu pháp nội tiết ở bệnh nhân ung thư vú Công cụ được sử dụng là bảng câu hỏi BMQ để khảo sát sự tin tưởng của bệnh nhân vào phác đồ điều trị và bảng câu hỏi MARS để khảo sát tuân thủ điều trị Kết quả phân tích cho thấy rằng tần suất giao tiếp với bác sĩ có ảnh hưởng đến mức

độ tin tưởng về sự cần thiết phải sử dụng thuốc (β=0,18; p≤0,05), tuy nhiên nó lại không ảnh hưởng nhiều đến mức độ lo ngại về việc sử dụng thuốc (β=0,06; p>0,05)

Trang 28

19

Ngoài ra, phân tích với một mô hình tương tự cho thấy sự tin tưởng đối với phác đồ

điều trị có ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị (β=0,18; p≤0,05) nhưng tần suất giao tiếp

với bác sĩ lại không ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị (β=0,13; p>0,05) Điều đó cho

thấy rằng sự tin tưởng làm trung gian cho mối quan hệ giữa tần suất giao tiếp với bác

sĩ và tuân thủ điều trị [21]

Năm 2017, Salgado thực hiện nghiên cứu quan sát với mục đích xác định các

đặc điểm nhân khẩu học và lâm sàng liên quan đến sự tin tưởng đối với AI ở phụ nữ

mãn kinh bị ung thư vú Bệnh nhân trong nghiên cứu trả lời biểu mẫu trực tuyến về

mức độ tin tưởng đối với liệu pháp AI (sử dụng bảng câu hỏi BMQ), niềm tin về ung

thư vú (sử dụng thang đo ASC) và trầm cảm (sử dụng thang đo PHQ – 8) Có 224

bệnh nhân đã hoàn thành khảo sát và được đưa vào phân tích Nghiên cứu đã chỉ ra

rằng phụ nữ từ 70 tuổi trở lên có mức độ tin tưởng về sự cần thiết phải sử dụng thuốc

và mức độ lo ngại về việc sử dụng thuốc thấp hơn Kết quả phân hồi quy tuyến tính đa

biến cho thấy rằng, mức độ tin tưởng cao hơn khi số lượng thuốc kê đơn nhiều hơn

(B=1,06; 95% CI: 0,31 – 1,81; p=0,006) và thời gian điều trị bằng thuốc nhóm AI

ngắn hơn (B=-0,65; 95% CI: -1,23 – -0,07; p=0,029) Mức độ lo ngại cao hơn khi

điểm số về trầm cảm của bệnh nhân cao hơn (B=1,19; 95% CI: 0.35 – 2.03; p=0,006)

[35]

Năm 2019, Amethea L Sutton và cộng sự đã nghiên cứu về ảnh hưởng của các

yếu tố xã hội học, tâm lý và chăm sóc sức khỏe đến sự tin tưởng của bệnh nhân đối với

liệu pháp nội tiết bổ trợ Nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi BMQ để khảo sát sự tin

tưởng của bệnh nhân, các yếu tố xã hội học của bệnh nhân được thu thập thông qua

khảo sát, các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân được lấy từ dữ liệu bệnh án Kết quả

phân tích hồi quy tuyến tính đa biến cho thấy mức độ hài lòng cao hơn với chăm sóc y

tế có liên quan đến mức độ lo ngại thấp hơn và mức độ tin tưởng cao hơn Mức độ lo

ngại cao hơn khi bệnh nhân gặp nhiều ADR hơn (p<0,001) và sự hài lòng của bệnh

nhân thấp hơn (B=-0,07; 95% Cl: -0,09 – 0,04; p<0,001) Mức độ tin tưởng cao hơn

khi có sử dụng hóa trị liệu trước đó (B=0,11; 95% Cl: 0,06 – 0,16; p<0,005) và học

vấn của bệnh nhân thấp hơn (B=1,00; 95% Cl: 0,27 – 1,73; p=0,008) [39]

Trang 29

20

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

2.1.

Bệnh nhân nữ ung thư vú điều trị ngoại trú đến tái khám và lấy thuốc theo chế độ bảo hiểm y tế tại bệnh viện K cơ sở Tân Triều và bệnh viện Ung bướu Hà Nội trong thời

gian từ tháng 01/2020 đến 03/2020 thỏa mãn các tiêu chuẩn:

Tiêu chuẩn lựa chọn

2.1.1.

- Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên

- Được chẩn đoán xác định ung thư vú giai đoạn I – III (mã chẩn đoán ICD10: C50)

- Được chỉ định điều trị bằng tamoxifen hoặc các thuốc ức chế aromatase (letrozol, anastrozol, exemestan) ít nhất trong 3 tháng tính đến thời điểm phỏng vấn

Tiêu chuẩn loại trừ

2.1.2.

- Bệnh nhân có mắc kèm các bệnh ung thư khác

- Bệnh nhân từ chối tham gia vào nghiên cứu

- Bệnh nhân không có khả năng trả lời phỏng vấn (không nghe được, không nói được)

Phương pháp nghiên cứu

Trang 30

21

Quy trình thu thập bệnh nhân và thông tin nghiên cứu

Hình 2.1 Quy trình thu thập bệnh nhân và thông tin nghiên cứu

2.2.3.1 Quy trình thu thập bệnh nhân

- Sau khi tiếp cận bệnh nhân, nghiên cứu viên hỏi bệnh nhân về chẩn đoán bệnh và thời gian sử dụng thuốc nội tiết trước khi mời bệnh nhân tham gia phỏng vấn để sàng lọc chỉ phỏng vấn những bệnh nhân nữ, từ 18 tuổi trở lên, mắc ung thư vú, không mắc kèm các ung thư khác (đối chiếu lại mã ICD10 phù hợp) và đã sử dụng thuốc nội tiết được ít nhất 3 tháng

- Bệnh nhân sau khi được sàng lọc sẽ được nghiên cứu viên cung cấp Bản cung cấp thông tin cho đối tượng tham gia nghiên cứu (Phụ lục 1) và Đơn chấp thuận tham gia nghiên cứu (Phụ lục 2) để lấy chữ kí xác nhận về việc chấp thuận tham gia nghiên cứu

- Mỗi bệnh nhân thoả mãn tiêu chuẩn đưa vào mẫu nghiên cứu được nghiên cứu viên

1 Bệnh nhân tại khu cấp phát thuốc bảo

hiểm y tế

2 Những bệnh nhân thỏa mãn tiêu

chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ

Giới thiệu thông tin nghiên cứu (Phụ lục 1), lấy chữ ký của bệnh nhân chấp thuận tham gia nghiên cứu

Tiếp cận và sàng lọc bệnh nhân

3 Những bệnh nhân ký vào đơn chấp

thuận tham gia nghiên cứu (Phụ lục 2)

4 Thông tin về giai đoạn bệnh từ giấy

ra viện và hoạt chất đang sử dụng từ sổ

khám bệnh

5 Thông tin phỏng vấn bệnh nhân theo mẫu phiếu phỏng vấn bệnh nhân (Phụ lục 3) gồm:

- Thông tin về đặc điểm bệnh nhân (Phần I, II)

- Bảng câu hỏi BMQ – V cụ thể (Phần III)

- Bộ công cụ khảo sát thông tin về thuốc nội tiết trên bệnh nhân UTV (Phần IV)

Tiếp cận Sổ khám bệnh và Giấy ra viện

Phỏng vấn bệnh nhân

Trang 31

22

quy ước bằng 01 mã ID bệnh nhân Mã ID bệnh nhân được quy ước thống nhất trong nghiên cứu và được sử dụng trong quá trình nhập và xử lý dữ liệu

2.2.3.1 Quy trình và các công cụ thu thập thông tin từ phỏng vấn bệnh nhân

Bệnh nhân nghiên cứu được phỏng vấn để thu thập các thông tin trong mẫu

Phiếu phỏng vấn bệnh nhân (Phụ lục 3) theo các nhóm thông tin và bộ câu hỏi phỏng

vấn tương ứng như sau:

- Thông tin hành chính: Họ tên, nghề nghiệp, địa chỉ, số điện thoại, năm sinh

- Các đặc điểm chung của bệnh nhân: Thu nhập, học vấn, tiền sử gia đình, tình trạng kinh nguyệt, thời gian điều trị bằng phác đồ nội tiết bổ trợ hiện tại, các can thiệp khác (phẫu thuật, hoá trị, xạ trị), các bệnh mắc kèm, các thuốc dùng kèm

Bộ công cụ khảo sát thông tin về thuốc nội tiết trên bệnh nhân ung thư vú gồm 5 phần:

Phần 1: Nội dung thông tin thuốc mà bệnh nhân nhận được (gồm 10 câu hỏi)

Các nội dung đưa vào bộ câu hỏi được lựa chọn trên cơ sở 2 bảng câu hỏi SIMS (Phụ lục 4), EORTC QLQ – INFO25 (Phụ lục 5) được trình bày trong Bảng 2.1 [20], [41]

Bảng 2.1 Lựa chọn nội dung thông tin cho phần 1 của bộ công cụ khảo sát

thông tin về thuốc nội tiết trên bệnh nhân ung thƣ vú

Mục đích của việc sử dụng thuốc nội tiết X X

Tác dụng không mong muốn có thể gặp phải X X

Cách phòng tránh/khắc phục một số tác dụng không mong

muốn có thể gặp

X

Khả năng tái phát bệnh khi đang sử dụng thuốc X X

Trang 32

23

Các nội dung thông tin được lựa chọn để phù hợp với tính phổ biến và cần thiết đối với thuốc nội tiết, khả năng nhận thức của bệnh nhân ung thư ở Việt Nam về thuốc nội tiết Bệnh nhân báo cáo các nội dung thông tin nhận được và đánh giá mức độ hài lòng mỗi nội dung thông tin theo thang likert 5 điểm Bệnh nhân được coi là hài lòng khi đánh giá điểm 3 hoặc 4, bệnh nhân chưa hài lòng khi đánh giá điểm 0, 1 hoặc 2

Phần 2: Gồm 8 câu hỏi về nguồn cung cấp thông tin thuốc cho bệnh nhân Câu

hỏi được xây dựng trên cơ sở là kết quả các nghiên cứu trước đây về những nguồn thông tin thuốc phổ biến của bệnh nhân ung thư [24], [25] Bệnh nhân báo cáo các nguồn cung cấp thông tin cho bản thân và đánh giá mức độ hài lòng theo thang likert 5 điểm Bệnh nhân được coi là hài lòng khi đánh giá điểm 3 hoặc 4, bệnh nhân chưa hài lòng khi đánh giá điểm 0, 1 hoặc 2

Phần 3: Gồm 6 câu hỏi về đối tượng giải đáp thắc mắc: bác sĩ, dược sĩ, điều

dưỡng, bạn bè và người thân, những người cùng mắc bệnh, những đối tượng khác Bệnh nhân báo cáo các đối tượng bản thân tìm đến khi có thắc mắc và đánh giá mức

độ giải đáp thắc mắc theo 4 mức: không giải đáp được, giải đáp 1 phần, giải đáp đa số, giải đáp hoàn toàn

Phần 4: 1 câu hỏi về đánh giá của bệnh nhân về mức độ hữu ích của thông tin,

tương ứng câu số 55 trong bảng câu hỏi EORTC QLQ – INFO25 [5] Bệnh nhân cho rằng thông tin có hữu ích khi đánh giá điểm 3 hoặc 4

Phần 5: 1 câu hỏi về nhu cầu nhận thêm thông tin của bệnh nhân, tương ứng

câu số 53 trong bảng câu hỏi EORTC QLQ – INFO25 [5]

 Như vậy, bộ công cụ khảo sát thông tin về thuốc nội tiết trên bệnh nhân ung thư

vú gồm 26 câu hỏi chia làm 5 phần với quy ước đánh giá tổng thể như sau:

- Phần 1: Số nội dung thông tin bệnh nhân nhận được, mức độ hài lòng trung bình của bệnh nhân với các nội dung thông tin nhận được

- Phần 2: Số nguồn cung cấp thông tin, mức độ hài lòng trung bình với nguồn cung cấp thông tin

- Phần 3: Mức độ giải đáp thắc mắc được ghi nhận là mức độ cao nhất nếu bệnh nhân đánh giá các đối tượng giái đáp ở các mức độ khác nhau

- Phần 4: Phân loại bệnh nhân đánh giá có hữu ích hoặc không hữu ích

- Phần 5: Phân loại bệnh nhân có hoặc không có nhu cầu nhận thêm thông tin

Trang 33

24

Sử dụng phiên bản tiếng Việt Nam đã được chuẩn hóa của bảng câu hỏi BMQ – specific Phiên bản tiếng Việt (BMQ – V cụ thể) được sử dụng để phù hợp và dễ hiểu đối với bệnh nhân ở Việt Nam [33] Bảng câu hỏi gồm 10 nhận định chia làm 2 thang

đo là Thang đo mức độ tin tưởng của bệnh nhân vào sự cần thiết phải sử dụng thuốc (thang đo mức độ tin tưởng) và Thang đo mức độ lo ngại của bệnh nhân về việc sử dụng thuốc (thang đo mức độ lo ngại), bệnh nhân đánh giá mức độ đồng ý ở mỗi nhận

định theo thang likert 5 điểm

Điểm trong thang đo mức độ tin tưởng được tính là tổng điểm của 5 nhận định

từ 1 đến 5, điểm càng cao cho thấy mức độ tin tưởng của bệnh nhân vào sự cần thiết phải sử dụng thuốc càng cao Điểm trong thang đo mức độ lo ngại là tổng điểm của 5 nhận định từ 6 đến 10, điểm càng cao cho thấy mức độ lo ngại của bệnh nhân về việc

sử dụng thuốc càng cao Về các nhóm thái độ, bệnh nhân tin tưởng khi điểm thang đo mức độ tin tưởng lớn 15 và ngược lại không tin tưởng khi điểm bé hơn hoặc bằng 15 Bệnh nhân lo ngại khi điểm thang đo mức độ lo ngại lớn hơn 15 và không lo ngại khi điểm thang đo mức độ lo ngại bé hơn hoặc bằng 15

Bảng 2.2 Các nhận định trong bảng câu hỏi BMQ – V cụ thể

Mức độ

tin tưởng

1 Sức khỏe của tôi hiện tại phụ thuộc vào thuốc

2 Cuộc sống của tôi không thể không có thuốc

3 Không có thuốc tôi sẽ cảm thấy rất không khoẻ

4 Sức khoẻ của tôi trong tương lai sẽ phụ thuộc vào thuốc

5 Thuốc bảo vệ tôi không tiến triển bệnh nặng hơn Mức độ lo

ngại

6 Phải uống thuốc làm tôi lo lắng

7 Thỉnh thoảng tôi lo lắng về ảnh hưởng của thuốc khi sử dụng lâu dài

8 Tôi vẫn chưa hiểu hết về các thuốc mình đang dùng

9 Thuốc gây bất tiện cho cuộc sống của tôi

10 Thỉnh thoảng tôi lo lắng trở nên quá phụ thuộc vào thuốc

Chỉ tiêu nghiên cứu

Trang 34

25

- Số lượng bệnh nhân được đưa vào mẫu nghiên cứu, số lượng và tỷ lệ bệnh nhân điều trị tại bệnh viện K cơ sở Tân Triều, bệnh viện Ung bướu Hà Nội

- Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân các nhóm theo đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm liên quan đến bệnh lý ung thư vú và điều trị

Chỉ tiêu nghiên cứu của mục tiêu 1

2.3.1.

 Đặc điểm thông tin mà bệnh nhân nhận được theo nội dung của thông tin:

- Đối với mỗi nội dung thông tin:

+ Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân nhận được thông tin

+ Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân đánh giá thông tin ở từng mức độ hài lòng

 Đặc điểm thông tin mà bệnh nhân nhận được theo nguồn cung cấp thông tin:

- Đối với mỗi nguồn cung cấp thông tin:

+ Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân được cung cấp thông tin

+ Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân đánh giá nguồn cung cấp thông tin ở từng mức độ hài lòng

 Đặc điểm thông tin mà bệnh nhân nhận được theo đối tượng giải đáp thắc mắc

về thông tin thuốc:

- Đối với mỗi đối tượng giải đáp thắc mắc về thông tin thuốc cho bệnh nhân:

+ Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân nhận được thông tin giải đáp thắc mắc

+ Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân được giải đáp thắc mắc ở từng mức độ: không giải đáp được, giải đáp một phần, giải đáp đa số, giải đáp hoàn toàn

 Tổng kết chung về đặc điểm của thông tin mà bệnh nhân nhận được: Số nội dung thông tin bênh nhân được cung cấp, mức độ hài lòng trung bình với nội dung thông tin, số nguồn cung cấp thông tin, mức độ hài lòng trung bình với nguồn cung cấp thông tin, số đối tượng giải đáp thắc mắc, mức độ giải đáp thắc mắc, tỷ lệ bệnh nhân đánh giá thông tin là hữu ích, tỷ lệ bệnh nhân mong muốn nhận thêm thông tin

 Mối liên quan giữa đặc điểm nguồn thông tin thuốc với số nội dung thông tin và mức độ hài lòng với thông tin thuốc

Chỉ tiêu nghiên cứu của mục tiêu 2

2.3.2.

 Mức độ tin tưởng của bệnh nhân về sự cần thiết phải sử dụng thuốc

- Điểm số trung bình của thang đo mức độ tin tưởng

- Tỷ lệ bệnh nhân ở mỗi mức độ đồng ý của mỗi nhận định trong thang đo mức độ tin tưởng

Trang 35

26

 Mức độ lo ngại của bệnh nhân về việc sử dụng thuốc nội tiết bổ trợ

- Điểm số trung bình thang đo mức độ lo ngại

- Tỷ lệ bệnh nhân ở mỗi mức độ đồng ý của mỗi nhận định trong thang đo mức độ lo ngại

 Mức độ tin tưởng, mức độ lo ngại của từng nhóm bệnh nhân

- Điểm số trung bình thang đo mức độ tin tưởng, mức độ lo ngại của mỗi nhóm bệnh nhân theo đặc điểm về thông tin thuốc mà bệnh nhân nhận được và đặc điểm bệnh nhân

Chỉ tiêu nghiên cứu của mục tiêu 3

 Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến:

- Các yếu tố về đặc điểm của thông tin thuốc ảnh hưởng đến mức độ tin tưởng và mức

độ lo ngại của bệnh nhân

- Các yếu tố về đặc điểm bệnh nhân ảnh hưởng đến mức độ tin tưởng và mức độ lo ngại của bệnh nhân

Xử lý số liệu nghiên cứu

- Với kết quả về sự tin tưởng vào phác đồ điều trị, hai biến điểm số của thang đo mức

độ tin tưởng và thang đo mức độ lo ngại không tuân theo phân phối chuẩn, do đó được

sử dụng phân tích tương quan Bivariate – Spearman Kiểm tra mối tương quan giữa 2 biến định lượng là điểm thang đo mức độ tin tưởng, điểm thang đo mức độ lo ngại với

Trang 36

27

các biến khác là các đặc điểm thuộc về bệnh nhân và đặc điểm chung về thông tin thuốc cho bệnh nhân Hai biến được coi là có mối tương quan với nhau khi p<0,05

- So sánh số nội dung thông tin và mức độ hài lòng trung bình với thông tin nhận được giữa 2 nhóm bệnh nhân nhận được và không nhận được thông tin từ mỗi nhóm nguồn thông tin: kiểm định thống kê T – test so sánh 2 giá trị trung bình đối với biến liên tục có phân phối chuẩn; kiểm định phi tham số Mann – Whitney U so sánh 2 giá trị trung vị đối với biến liên tục có phân phối không chuẩn Sự khác biệt giữa hai giá trị trung bình được coi là có ý nghĩa thống kê khi p<0,05

Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới điểm thang đo mức độ tin tưởng và thang đo mức

độ lo ngại của bệnh nhân

 Các bước tiến hành:

Bước 1: Lựa chọn các biến đưa vào mô hình

- Biến phụ thuộc đưa vào mô hình: 2 mô hình có 2 biến đầu ra là 2 biến định lượng: điểm thang đo mức độ tin tưởng và điểm thang đo mức độ lo ngại có giá trị từ 5 đến

25

- Biến độc lập đưa vào mô hình:

+ Các biến về đặc điểm bệnh nhân: từ kết quả phân tích tương quan Spearman kiểm tra mối tương quan điểm thang đo mức độ tin tưởng và mức độ lo ngại giữa các nhóm theo đặc điểm bệnh nhân, các biến độc lập có giá trị p nhỏ hơn 0,2 được đưa vào mô hình tương ứng

+ Các biến về đặc điểm của thông tin thuốc cho bệnh nhân: từ kết quả phân tích tương quan Spearman kiểm tra mối tương quan giữa điểm thang đo mức độ tin tưởng, điểm thang đo mức độ lo ngại với các biến đặc điểm về thông tin thuốc cho bệnh nhân, các biến có giá trị p nhỏ hơn 0,2 được đưa vào mô hình tương ứng

Bước 2: Kiểm tra tính đa cộng tuyến

Tập hợp các biến đã lựa chọn sẽ được kiểm tra tính đa cộng tuyến qua giá trị hệ số lạm phát phương sai (VIF) Những biến có giá trị VIF>2 sẽ được loại ra khỏi mô hình

Bước 3: Đưa các biến độc lập vào phân tích hồi quy tuyến tính đa biến

Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến được phân tích bằng phương pháp Backward stepwise (conditional) để chọn ra các biến ảnh hưởng có ý nghĩa Mức ý nghĩa được

Trang 37

28

xác định với p<0,05 Kết quả thu được được thể hiện bằng trị số B với khoảng tin cậy 95% (95% CI)

Trang 38

29

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

3.1.

Các đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu bao gồm các đặc điểm nhân khẩu học và các đặc điểm liên quan đến bệnh lý ung thư vú và điều trị được trình bày lần lượt trong Bảng 3.1 và Bảng 3.2

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

bệnh nhân

Tỷ lệ %

Trung vị (tứ phân vị): 54,0 (46,5 – 62,0) Thu nhập (1 tháng)(*) <5 triệu đồng 332 65,4

Cao đẳng, đại học trở lên 142 28,0

Trang 39

30

Bảng 3.2 Đặc điểm liên quan đến bệnh lý ung thƣ vú và điều trị của bệnh nhân

trong mẫu nghiên cứu

Trong mẫu nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân ở giai đoạn II là nhiều nhất (56,1%), sau đó là giai đoạn I (26,2%) và giai đoạn III ít nhất với 17,7% Đa số bệnh nhân đã từng hóa trị (87,8%), 295 bệnh nhân từng xạ trị chiếm 58,1% Hầu hết bệnh nhân phẫu thuật cắt bỏ vú (93,7%) Tỷ lệ bệnh nhân đã sử dụng thuốc nội tiết 2 năm – dưới 5 năm

là cao nhất (50%), nhóm sử dụng thuốc trên 5 năm ít nhất (6,1%) Tỷ bệnh nhân sử dụng 1 nhóm thuốc dùng kèm là cao nhất (53,1%) và tỷ lệ bệnh nhân sử dụng 2 nhóm thuốc dùng kèm trở lên là thấp nhất với 15,8% Tỷ lệ bệnh nhân có bệnh mắc kèm là 48,4% Đa số bệnh nhân đã mãn kinh (88,0%)

Trang 40

31

Thực trạng thông tin thuốc trên bệnh nhân ung thƣ vú điều trị nội tiết bổ 3.2.

trợ

Đặc điểm nội dung thông tin và mức độ hài lòng của bệnh nhân với nội 3.2.1.

dung thông tin nhận được

Số bệnh nhân nhận được thông tin và mức độ hài lòng với mỗi nội dung thông tin trong quá trình sử dụng thuốc nội tiết bổ trợ được trình bày trong Bảng 3.3

Bảng 3.3 Đặc điểm nội dung thông tin và mức độ hài lòng của bệnh nhân với

mỗi nội dung thông tin

Chú thích: ( * ) Tỷ lệ bệnh nhân hài lòng chỉ tính trên số bệnh nhân đã nhận được thông tin đó

Trong mẫu nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân nhận được thông tin về liều dùng và cách dùng là nhiều nhất (99,0%) Tỷ lệ bệnh nhân nhận được thông tin về khả năng tái phát bệnh khi đang sử dụng thuốc là thấp nhất (19,7%) Các loại thông tin có hơn 1 nửa số bệnh nhân nhận được là giai đoạn và mức độ bệnh (79,9%), mục đích của việc

sử dụng thuốc nội tiết (77,7%), khoảng thời gian phải sử dụng thuốc (84,1%), tác dụng

Nội dung thông tin

Số lượng bệnh nhân (%) Nhận được thông tin

Xử trí khi quên 1 liều và quá liều 204 (41,2) 183 (89,7) Tác dụng không mong muốn có thể gặp phải 259 (51,0) 222 (85,7) Cách phòng tránh/khắc phục một số tác dụng

không mong muốn có thể gặp

Ngày đăng: 18/11/2020, 23:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w