Điều này có thể giải thích là do chế độ dinh dưỡng và lối sống của bà ngoại có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của người mẹ của đứa trẻ, lúc đó trứng tạo ra các con cái sau này đã được t
Trang 1Dinh dưỡng và Phát triển:
Những câu trả lời cho những
Câu hỏi thông thường
Mục đích của chương này là tóm tắt các điểm chính của
bài báo cáo bằng cách sử dụng dạng hỏi và đáp Nhiều
câu hỏi được sử dụng thường được đặt ra bởi các nhà
báo y học Các câu hỏi được tập hợp dưới dạng tiêu đề,
và nói chung là thực hiện theo cùng một thứ tự như các
chương trong báo cáo
hưởng của dinh dưỡng trên sức khỏe của con cái trong cuộc sống sau này có khả năng bị ảnh hưởng bởi chế độ
ăn uống và lối sống của thế hệ ông bà Điều này có thể giải thích là do chế độ dinh dưỡng và lối sống của bà ngoại có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của người mẹ của đứa trẻ, lúc đó trứng tạo ra các con cái sau này đã được thành lập ngay trong người mẹ lúc còn ở dạng bào thai đang phát triển trong tử cung của bà ngoại
Cân nặng lúc sinh lý tưởng là cân nặng khi sinh được liên kết với tỷ lệ tử vong chu sinh thấp nhất Cân nặng lúc sinh lý tưởng thay đổi giữa các dân tộc khác nhau, cũng là cân nặng lúc sinh trung bình Cân nặng lúc sinh trung bình của trẻ sơ sinh da trắng ở Anh đã báo cáo là
Cơ chế làm cơ sở cho các mối liên hệ giữa trải nghiệm đầu đời và bệnh tật sau này được mô tả như lập trình Lập trình phát triển (Developmental programming) còn được gọi là lập trình bào thai là một quá trình theo
đó một kích thích hoặc chấn thương xảy ra tại một giai đoạn quan trọng của phát triển bào thai hoặc kéo dài trong thời kỳ đầu đời sau khi sinh, làm thay đổi cấu trúc hoặc chức năng của đứa con (xem chương 1 và chương 4)
Chứng cứ mạnh mẽ từ các nghiên cứu ở người và mô
hình động vật cho thấy rằng nếu một em bé được tiếp
xúc với quá ít hay quá nhiều dinh dưỡng trong đời sống
bào thai thì có khả năng phát triển nhiều hơn các bệnh
như bệnh đái tháo đường tuýp 2, bệnh tim mạch và
loãng xương trong cuộc sống sau này
Tuy nhiên, cần tìm hiểu liệu sự thay đổi lượng chất
dinh dưỡng của người mẹ trong thai kỳ có thể ảnh
hưởng đến nguy cơ của con cái trong những điều kiện
trên hay không
Chất lượng chế độ ăn uống của một người mẹ tác động
trên sức khỏe của đứa trẻ trong cuộc sống đầu đời,
nhưng cũng có chứng cứ cho thấy chế độ ăn và tập quán
lối sống của mẹ (ví dụ như cân nặng và dinh dưỡng của
bà mẹ), ngay cả trước khi mang thai, có thể ảnh hưởng
đến sức khỏe của trẻ trong cuộc sống sau này Trong
thực tế, cũng có những tác động giữa các thế hệ: ảnh
18.1 Dinh dưỡng và phát triển
Q1: Dinh dưỡng trong bào thai ảnh hưởng thế nào
lên sức khỏe lâu dài của chúng ta?
Q2: Ở tuổi nào dinh dưỡng bắt đầu có ảnh hưởng đến
sức khỏe trong cuộc sống sau này?
18.2 Giả thuyết lập trình phát triển
Q1: Lập trình phát triển là gì?
18.3 Tăng trưởng bình thường
Q1: Cân nặng lúc sinh lý tưởng hoặc Cân nặng lúc sinh tốt nhất là gì?
© 2013 Viện Dinh dưỡng Anh Xuất bản năm 2013 bởi Nhà xuất bản Blackwell.,Ltd
Dinh dưỡng và phát triển: Hệ quả ngắn hạn và dài hạn cho sức khỏe, Ấn bản đầu tiên Thay đổi nội dung bởi Viện Dinh dưỡng Anh.
Trang 23,416 kg Cân nặng lúc sinh thấp được định nghĩa theo
Tổ chức Y tế Thế giới là cân nặng sơ sinh đủ tháng nặng
dưới 2,5 kg Cân nặng lúc sinh cao được định nghĩa là
cân nặng của trẻ sinh đủ tháng nặng hơn 4,0 kg Thực tế
không có cân nặng lúc sinh lý tưởng như thế, nhưng
thường là một dãy chỉ số của cân nặng sơ sinh bình
thường Những chỉ số cân nặng được hiển thị trên các
biểu đồ tăng trưởng và sử dụng bởi các nữ hộ sinh và trợ
y khi họ đánh giá một em bé đang phát triển như thế
nào Các biểu đồ tăng trưởng và thông tin dành cho các
bậc cha mẹ và người chăm sóc về những gì các biểu đồ
tăng trưởng chỉ ra nay có sẵn tại www.growthcharts
rcpch.ac.uk Các bác sĩ thường sẽ điều chỉnh cân nặng
lúc sinh bằng cách định ra một giới hạn cho phép trong
tuần lễ của thai kỳ mà em bé được sinh ra Do đó, một
bé có thể được gọi là “nhỏ so với tuổi thai” hoặc “lớn so
với tuổi thai” Điều này giúp xác định một cách chính
xác hơn những trẻ nào có bị ảnh hưởng đối nghịch bởi
các điều kiện trong quá trình phát triển (xem Chương 2,
mục 2.6)
Không có bằng chứng rõ ràng về sự gia tăng cân nặng
sơ sinh trung bình trong thập kỷ qua Tuy nhiên, hai yếu
tố trong những năm gần đây có thể tác động đến một xu
hướng như vậy Thứ nhất, đã có sự gia tăng trẻ sinh non
rất nhẹ cân do những tiến bộ y khoa hiện nay đã cho
phép em bé sinh rất nhẹ cân có một cơ hội hợp lý về sự
tồn tại khi sinh sớm ở tuổi thai 24 tuần Thứ hai, tỷ lệ
các bà mẹ thừa cân và béo phì đã tăng lên, điều đó tác
động trực tiếp lên việc tăng cân nặng lúc sinh của con
Vì vậy, việc thiếu bất kỳ sự thay đổi nào trên cân nặng
trung bình lúc sinh trong những thập kỷ gần đây có thể
bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong cân nặng lúc
sinh theo cả hai hướng (xem chương 2, mục 2.9)
Sự phát triển của bào thai được ảnh hưởng bởi các gien
của nó Tuy nhiên, môi trường trong bụng mẹ mà bào
thai phát triển xem ra có ảnh hưởng lớn trên sự tăng
trưởng hơn là ảnh hưởng của di truyền Chứng cứ cho
thấy rằng khoảng 62% của sự thay đổi trong cân nặng
lúc sinh là kết quả của môi trường trong tử cung, 20% kết quả của gien bà mẹ và 18% là do gien của bào thai (xem chương 1, mục 1.3.1)
Tăng trưởng nhanh chóng của phôi thai xảy ra trong 3 tháng đầu của thai kỳ Các loại tế bào khác nhau như tế bào máu, tế bào thận và tế bào thần kinh được hình thành trong giai đoạn này Các cơ quan bắt đầu có hình dạng khoảng 4 tuần sau khi trứng thụ tinh và phát triển
ở mức độ khác nhau trong suốt thai kỳ và trong suốt giai đoạn đầu đời Tim (và hệ thống tim mạch) là cơ quan trước tiên hoạt động trong phôi thai, với các cơ quan khác như thận phát triển sau đó trong thai kỳ (xem Chương 4)
Khi phôi thai trở thành một bào thai (khoảng 8 tuần), có nghĩa rằng tất cả các hệ thống lớn đã hình thành Các cơ quan và mô phát triển từ các tế bào phôi thai Những tế bào này theo một con đường riêng biệt Đầu tiên chúng phát triển thành các loại tế bào khác nhau (ví dụ như tế bào máu, tế bào thận, tế bào tim) Giai đoạn này được gọi là biệt hóa tế bào Sau đó, số lượng của từng loại khác nhau của tế bào tăng lên Giai đoạn này là được biết đến như là tăng sinh tế bào Thời gian của sự biệt hóa và giai đoạn tăng sinh thì khác nhau cho mỗi mô và
cơ quan Nếu bào thai nhận được dinh dưỡng kém trong giai đoạn biệt hóa một cơ quan nào sau đó dự kiến
nó sẽ là cơ quan có kích cỡ bình thường, nhưng sẽ có một thay đổi diện mạo của các tế bào Mặt khác, nếu
Nhau thai có một số vai trò quan trọng (xem Chương 4, Phần 4.3) Đầu tiên, nhau thai chuyển các chất dinh dưỡng cho bào thai, vận chuyển chất thải từ bào thai, và cho phép trao đổi khí giữa mẹ và thai nhi.Thứ hai, nhau thai phóng thích hoóc môn vào máu người mẹ, có ảnh hưởng đến sự trao đổi chất trong mẹ và bào thai Nhau thai đóng một vai trò quan trọng trong việc sản xuất các hoóc môn, progesteron và estrogen, chất cần thiết cho một thai kỳ khỏe mạnh Một số nội tiết tố nhau thai cũng giúp chuyển chất dinh dưỡng từ mẹ sang bào thai
và một số chất khác kích thích mạch máu và tăng trưởng nhau thai
Q2: Có phải cân nặng sơ sinh ngày càng tăng
trong vài thập kỷ qua?
18.4 Phát triển xảy ra như thế nào và các
yếu tố có thể ảnh hưởng đến nó?
Q1: Môi trường mà bào thai phát triển ảnh hưởng
lên sự phát triển của bào thai nhiều như
thế nào?
Q2: Vai trò của nhau thai là gì?
Q3: Tại giai đoạn nào của thai kỳ các cơ quan bắt đầu phát triển?
Q4: Tại sao các cơ quan khác nhau ảnh hưởng khác nhau về tăng trưởng và phát triển ở các giai đoạn khác nhau trong thai kỳ ?
Trang 3bào thai nhận được dinh dưỡng kém trong giai đoạn
tăng sinh của một cơ quan, cơ quan đó sẽ có mẫu tế bào
bình thường, nhưng giảm tổng số lượng tế bào, kết quả
có thể dẫn đến là có cơ quan nhỏ hơn (xem Chương 4,
mục 4.5.1)
Để hỗ trợ cho việc giới tính hóa của bé, bà mẹ nên duy trì một chế độ ăn uống đa dạng khỏe mạnh và lối sống lành mạnh Nên tránh dùng nội tiết tố androgen vì chúng có thể làm giảm sự phát triển của bào thai (thông qua các ảnh hưởng trên người mẹ) và có thể sẽ nam hóa một bào thai nữ, nếu có, kết quả là một đứa trẻ nữ bị nam hóa bất thường Các cơ quan sinh sản và cơ quan sinh dục phát triển ở tuổi thai khoảng 8-12 tuần, vì vậy các bà mẹ sẽ không biết giới tính của em bé trong giai đoạn phát triển ban đầu
Chúng ta biết rằng kích thích tố đóng một vai trò trong một số bệnh mạn tính như bệnh tim, nam giới có nguy
cơ cao hơn so với phụ nữ, đặc biệt là trong tuổi trung niên Tại Anh, vào năm 2009 có khoảng một phần năm (20%) trường hợp tử vong vì bệnh tim ở nam giới và một phần tám (13%) ở phụ nữ Đối với rối loạn sinh sản đặc trưng ở nam chúng ta biết rằng hoóc môn của bào thai bị thay đổi (nội tiết tố androgen) có thể sẽ là quan trọng, nhưng đối với bệnh thận, phổi và tim, chúng ta không biết liệu các nội tiết tố thay đổi có liên quan hay không Đối với rối loạn tim mạch, có nhiều chứng cứ hơn trên quan hệ cân nặng lúc sinh với cả áp huyết ở người lớn (cân nặng lúc sinh thấp hơn có liên quan với huyết áp cao hơn khi lớn) và mức độ testosteron (cân nặng lúc sinh thấp hơn có liên quan đến testosteron thấp hơn), nhưng mối tương quan của cả hai vẫn chưa rõ
(27-35 tuần) Do đó, có thể hệ sinh sản và não được nam hóa một cách khác biệt nếu, cho ví dụ là, sản xuất testosterone bởi tinh hoàn của bào thai (cơ quan đưa đến nam hóa) bị suy giảm chỉ trong giai đoạn sớm hay muộn của thai kỳ Một ảnh hưởng khác biệt như vậy có thể giải thích nguyên nhân của trầm cảm bất thường của giới tính (khi một người cảm thấy rằng họ đang bị đặt vào một cơ thể sai giới tính?) (Xem chương 5, mục 5.2)
Có ba bước quan trọng mà một người phụ nữ nên thực
hiện khi dự định có thai, sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ hạn
chế sự phát triển của bào thai trong thai kỳ Quan trọng
nhất, họ không nên hút thuốc lá Điều cũng quan trọng
là có một cân nặng khỏe mạnh và một chế độ ăn đa dạng
bổ dưỡng
Sự phát triển của bào thai thành nam giới
(masculinisation) bắt đầu như là kết quả của kích thích
tố (chủ yếu là nội tiết tố androgen) trong bào thai, mặc
dù sự phát triển xa hơn của hướng-kích thích tố
androgen (androgen driven) về các đặc điểm nam tính
xảy ra ngay lập tức sau khi sinh (“dậy thì nhỏ”)
(mini-puberty) và ngay ở tuổi dậy thì Cho dù nam hóa của
đường sinh sản và cơ quan sinh dục xảy ra rất sớm
trong thai kỳ (khoảng 8-12 tuần), sự nam hóa của các
cơ quan và hệ thống khác nhau tất cả không xảy ra cùng
một lúc Ví dụ, nam hóa của não xảy ra vào cuối thai kỳ
Tất cả các bào thai sẽ trở thành nữ tính trừ khi hình
thành tinh hoàn và có tác động hoóc môn (chủ yếu là
nội tiết tố androgen) xảy ra trong đời sống bào thai để
bắt đầu quá trình trở thành nam tính (masculinisation)
Sự nam hóa của hệ sinh sản và cơ quan sinh dục xảy ra
rất sớm trong thai kỳ (khoảng 8-12 tuần) Khoảng thời
gian này là được biết đến như là cửa sổ lập trình nam
hóa, khi tác động của kích thích tố nam (androgen)
trong bào thai là chủ yếu đối với quá trình nam hóa
(xem chương 5, mục 5.2)
Q5: Làm thế nào phụ nữ mang thai có thể giảm
thiểu nguy cơ của sự hạn chế phát triển của
bào thai trong quá trình mang thai ? Những
giai đoạn khác nhau của thai kỳ ?
18.5 Các ảnh hưởng của tiếp xúc với hoóc
môn giới tính trong giai đoạn chu sinh
trên lập trình của tính mẫn cảm với
bệnh tật
Q1: Ở giai đoạn phát triển nào của bào thai được
xác định giới tính ?
Q2: Quá trình nam hóa diễn ra bao lâu ?
Q3: Nếu nội tiết tố androgen trong thai là rất quan trọng cho trạng thái bình thường tương lai và sức khỏe chung của nam giới, một người phụ
nữ mang thai có thể làm điều gì để đảm bảo tối đa tiếp xúc androgen, ví dụ, cô ấy có thể dùng nội tiết tố androgen ?
Q4: Kích thích tố đóng vai trò gì trong sự phát triển của các bệnh mạn tính, khi có sự khác biệt nam - nữ tạo nguy cơ phát triển một rối loạn đặc biệt?
Trang 4Các bào thai nam phát triển nhanh hơn và dường như dễ
tổn thương hơn đối với sự tăng trưởng hạn chế hơn do
các yếu tố khác nhau, bao gồm những lựa chọn lối sống
của người mẹ Nam hóa của bào thai nam bằng nội tiết
tố androgen trong bào thai và thời kỳ đầu sau khi sinh
gây ảnh hưởng khắp cơ thể trên các cơ quan không phải
là hệ sinh sản Điều này có thể giải thích rằng việc trở
thành nam hay nữ sẽ xác định nguy cơ cá nhân của một
số bệnh, ví dụ, bệnh tim mạch, bệnh tự miễn, bệnh
suyễn, bệnh trầm cảm và bệnh thận
Sự phát triển của vi khuẩn đường ruột có thể được mô
tả trong ba giai đoạn Giai đoạn đầu tiên là quá trình sinh nở và vài giờ đầu tiên sau khi chào đời, trong thời gian đó trẻ sơ sinh tiếp xúc với các vi sinh vật của bà mẹ
và vi sinh vật môi trường Giai đoạn thứ hai là sự nối tiếp các vi khuẩn trong thời gian cho ăn hoàn toàn bằng sữa Giai đoạn thứ ba bao gồm việc bổ sung các thực phẩm đặc vào chế độ ăn của trẻ nhũ nhi (tức là ăn dặm)
Sự biến đổi của các vi khuẩn đường ruột thường được cho là ổn định ở khoảng 2 tuổi
Có sự khác biệt rõ ràng trong hệ vi sinh vật của trẻ nhũ nhi bú sữa mẹ và trẻ dùng sữa công thức Các vi khuẩn trong ruột của trẻ nhỏ bú sữa mẹ ít đa dạng hơn so với
hệ vi khuẩn của trẻ nuôi bằng sữa công thức Loại vi khuẩn chính trong ruột của trẻ bú sữa mẹ là bifidobacteria, trong khi trẻ nhũ nhi nuôi bằng sữa công thức có hệ vi khuẩn đường ruột đa dạng hơn Tuy nhiên,
sự phát triển trong các công thức sữa tiên tiến đưa đến việc bổ sung prebiotics Đây là những thành phần thực phẩm không tiêu hóa có tác dụng thúc đẩy sự tăng
Thời gian từ ba tháng cuối (khoảng 26 tuần) của thai kỳ
đến khi sinh là thời kỳ chính trong tăng trưởng nhanh
chóng của não bộ Não tiếp tục phát triển mạnh mẽ
trong hai năm đầu sau sinh Với trẻ em 2 tuổi, bộ não đã
nặng bằng 80% não của người lớn
Việc có hệ vi khuẩn đường ruột khỏe mạnh là điều cần thiết vì nó làm giảm cơ hội cho vi khuẩn có hại xâm chiếm đường ruột, nó giúp tăng cường sự hấp thu các chất dinh dưỡng nhất định cho cá nhân và lợi ích cho hệ thống miễn dịch Hơn nữa, các loài vi khuẩn nhất định
và / hoặc các vi khuẩn có liên quan đến các rối loạn đặc biệt (chẳng hạn như bệnh tự kỷ) và / hoặc rối loạn tiêu hóa (bao gồm cả ung thư đại trực tràng, viêm loét đại tràng và bệnh Crohn), tiêu chảy do kháng sinh và tiêu chảy cấp Ví dụ, có bằng chứng tốt cho thấy chủng probiotic được gọi là Lactobacillus rhamnosus GG (LGG) có hiệu quả trong việc giảm nguy cơ phát triển bệnh tiêu chảy do kháng sinh và giảm thời gian tiêu chảy cấp ở trẻ em
Rất khó để đánh giá liệu chế độ ăn uống của mẹ có tác
động trên sự thông minh của con hay không, do khả
năng có nhiều yếu tố khác có thể ảnh hưởng trên trí
thông minh Chế độ ăn uống của mẹ có thể ảnh hưởng
đến phát triển của não và chức năng phát triển bào thai
trong biến đổi trầm trọng Khi bị suy dinh dưỡng, ví dụ
như không có đủ năng lượng hoặc protein trong chế độ
ăn uống hoặc không nhận được lượng chất dinh dưỡng
được khuyến cáo đối với các vi chất dinh dưỡng hoặc
axit béo thiết yếu, có thể tác động đến sự phát triển và
chức năng của não bộ bào thai Tương tự như vậy, khi
dinh dưỡng dư thừa, ví dụ ăn vào lượng năng lượng quá
mức, hoặc bà mẹ có bệnh đái tháo đường trong thai kỳ
hoặc thừa cân hoặc béo phì trong khi mang thai, có thể
có một ảnh hưởng bất lợi trên sự phát triển não của bào
thai Các yếu tố khác cũng có thể ảnh hưởng đến cấu
trúc não và quá trình phát triển, và do vậy, ảnh hưởng
đến trí tuệ (hoặc chỉ số IQ) của con cái Những yếu tố
này bao gồm trẻ được sinh ra nhỏ hơn tuổi thai, lớn hơn
so với tuổi thai, hoặc sinh non, cũng như chế độ ăn
uống của trẻ nhũ nhi lúc đầu đời (chế độ ăn sữa và chế
độ ăn uống của trẻ nhũ nhi trong giai đoạn đầu đời)
Q5: Giới tính của bào thai ảnh hưởng trên sức
khỏe đời sống sau này như thế nào?
18.6 Phát triển nhận thức
và thần kinh
Q1: Khi nào não phát triển?
Q2: Chế độ ăn uống của mẹ có thể làm cho con
thông minh hơn ?
18.7 Các ảnh hưởng của hệ vi sinh vật đường ruột trên lập trình của tính mẫn cảm với bệnh (dễ mắc bệnh)
Q1: Tại sao có được một hệ vi khuẩn đường ruột khỏe mạnh là quan trọng đối với sức khỏe ?
Q2: Những thay đổi lớn nào xảy ra ở đường tiêu hóa trong lúc sinh ra và vài năm đầu của cuộc sống?
Q3: Có sự khác biệt trong vi khuẩn đường ruột của trẻ nhỏ bú sữa mẹ và trẻ dùng sữa công thức không?
Trang 5trưởng và hoạt động của vi khuẩn trong hệ tiêu hóa
được cho là có lợi cho sức khỏe Những phát triển trong
sữa công thức, cùng với phân tích vi sinh được cải
thiện, có thể giải thích lý do tại sao các nghiên cứu được
công bố nhiều hơn gần đây (trong 20 năm qua) thường
cho thấy ít có khác biệt hơn giữa hệ vi khuẩn đường
ruột của trẻ bú sữa mẹ và trẻ dùng sữa công thức (đặc
biệt là liên quan đến lượng của khuẩn bifidobacteria)
khi được cung cấp lượng dinh dưỡng dư dật
Bà mẹ bị béo phì trong thời kỳ mang thai có nhiều khả năng có mức độ đường trong máu cao làm tăng cân nặng lúc sinh Điều này, lần lượt, có thể làm tăng nguy
cơ béo phì ở trẻ khi trưởng thành Các nghiên cứu động vật cho rằng sự gia tăng sự thèm ăn có thể được lập trình trong tử cung (trong bụng mẹ) Điều có thể tạo nên một vòng luẩn quẩn của béo phì ở bà mẹ dẫn đến bệnh béo phì ở trẻ em
Nuôi con bằng sữa mẹ có rất nhiều lợi ích bao gồm giảm nguy cơ béo phì trong cuộc sống sau này Nhưng ảnh hưởng có thể không mạnh mẽ hơn so với suy nghĩ ban đầu Thật khó cho các nghiên cứu để xác định những tác động thực sự vì có khả năng sai lệch nhiều do
sự khác biệt giai cấp xã hội của phụ nữ, là người có quyền chọn cho con bú hay không Những lý do đằng sau sự giảm nguy cơ béo phì ở cuộc sống sau này trong
số trẻ được bú sữa mẹ có thể tăng cân chậm hơn trẻ nhũ nhi bú sữa công thức, hoặc trẻ bú sữa mẹ thì hầu như bú
ít hơn khi phụ thuộc vào cách tự nhiên để kích thích ăn
so với trẻ bú bình Những nguyên nhân được đề xuất khác bao gồm các yếu tố trong sữa mẹ như leptin (một nội tiết tố liên quan đến kiểm soát thèm ăn và tiêu hao năng lượng) và lượng insulin, hoặc hàm lượng protein cao hơn của sữa công thức (có thể dẫn đến sự tăng trưởng nhanh chóng - một yếu tố nguy cơ béo phì trong cuộc sống sau này), mặc dù sự cải tiến trong phát triển sữa công thức hiện nay đã có kết quả trong việc sản xuất công thức sữa có lượng protein thấp hơn hỗ trợ sự tăng trưởng chậm hơn ở trẻ nhũ nhi
Đường ruột của trẻ chưa sinh được cho là vô trùng, các
vi khuẩn bắt đầu xuất hiện trong quá trình sinh nở hoặc
ngay lập tức sau sinh (tùy thuộc vào cách sinh) Vì vi
khuẩn được phát hiện trong nhau thai và nước ối, ngày
nay các nhà khoa học nghĩ rằng đường ruột của bào thai
có thể chứa vi khuẩn
Có một số biểu thị cho thấy bé sinh đủ tháng có số cân nặng hơn có thể có nhiều khả năng phát triển bệnh béo phì trong cuộc sống sau này Ngoài ra, trẻ đủ tháng có cân nặng khi sinh rất thấp dường như cũng cho thấy xu hướng tương tự Thực ra một số nhà nghiên cứu cho rằng mối quan hệ giữa cân nặng lúc sinh và béo phì sau này theo một đường cong hình chữ J hoặc chữ U Trẻ sinh non bắt kịp tăng trưởng nhanh như trẻ sinh đủ tháng trong giai đoạn đầu đời cũng có thể có nguy cơ
Các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự khu trú sớm của vi
khuẩn trong đường ruột trẻ nhũ nhi bao gồm tuổi thai,
phương thức sinh, sự phơi nhiễm với vi khuẩn và sự
hình thành các gien di truyền của trẻ nhũ nhi Trẻ sinh
non hoặc sinh rất nhẹ cân có xu hướng trì hoãn sự khu
trú vi khuẩn đường ruột và hệ vi khuẩn ít đa dạng Điều
này có thể một phần là kết quả của sử dụng kháng sinh ở
trẻ nhũ nhi sinh non Sức khỏe, tình trạng dinh dưỡng
và vi khuẩn đường ruột của người mẹ cũng có thể là
những yếu tố quan trọng
Khi một bào thai phải đối mặt với lượng dinh dưỡng
không đầy đủ, nó có thể thích ứng để đảm bảo cho các
chất dinh dưỡng đáp ứng đúng nhu cầu sống còn của
các cơ quan quan trọng như não, tim, tuyến thượng
thận và nhau thai Nhưng điều này có thể có nghĩa là
các cơ quan khác, chẳng hạn như tủy xương, cơ, phổi,
đường tiêu hóa và thận, không nhận được đầy đủ các
chất dinh dưỡng Mặc dù chiến lược sống còn này là
thuận lợi cho bào thai khi đang ở trong bụng mẹ, người
ta cho rằng trẻ có thể có một bất lợi sau này trong đời
Q4: Khi nào các vi khuẩn đầu tiên bắt đầu xuất
hiện ở đường tiêu hóa?
Q5: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến số lượng và
sự đa dạng của các vi khuẩn hiện diện trong
đường tiêu hóa của trẻ nhũ nhi ?
18.8 Béo phì
Q1: Những gì mẹ ăn trong thời gian mang thai
ảnh hưởng thế nào với nguy cơ béo phì khi
trưởng thành?
Q2: Có phải trẻ được nuôi bằng sữa mẹ làm giảm nguy cơ trẻ bị thừa cân hoặc béo phì sau này trong cuộc sống?
Q3: Có phải một đứa trẻ có cân nặng lúc sinh cao hơn trung bình có nhiều khả năng bị thừa cân hoặc béo phì trong cuộc sống sau này?
Trang 6tăng trưởng nhiều cơ bắp hơn là tăng trưởng nhiều chất
mỡ khi lớn Câu hỏi đúng chỗ là liệu một bé béo có
nhiều chất mỡ hơn, chứ không phải là một đứa trẻ nặng
ký hơn, có nhiều khả năng trở thành thừa cân trong
cuộc sống sau này hay không (nói cách khác, có phải
lượng chất béo dư thừa có trong trẻ trong khoảng thời
gian trước và sau sinh sẽ đi vào giai đoạn trưởng
thành?) Thật không may hiện nay không có đủ chứng
cứ để có thể trả lời câu hỏi này nhưng là gợi ý rõ ràng
hơn với nghiên cứu xa hơn
Chứng cứ hiện tại cho thấy bản thân trẻ con của các bà
mẹ béo phì có nhiều khả năng trở nên béo phì khi lớn
lên Béo phì làm tăng nguy cơ biến chứng trong thời kỳ
đầu mang thai, chẳng hạn như tiền sản giật (ở phụ nữ có
huyết áp cao, có protein trong nước tiểu, và có thể phát
triển các triệu chứng và vấn đề khác) làm tăng nguy cơ
sinh ra một trẻ có cân nặng lúc sinh thấp và tăng trưởng
chậm Nếu là trẻ đã trải qua thời kỳ tăng trưởng nhanh/
bắt kịp sau sinh, dường như có nguy cơ lớn hơn bị béo
phì sau này Bà mẹ béo phì cũng có nhiều khả năng có
con với cân nặng lúc sinh quá mức (một tình trạng gọi
là hội chứng khổng lồ-macrosomia) Điều này cũng
liên quan với tăng nguy cơ béo phì sau này Tuy nhiên,
rất khó để chứng minh mối liên hệ trực tiếp giữa người
mẹ béo và sự phát triển của bệnh béo phì ở con trẻ của
họ bởi vì có rất nhiều yếu tố môi trường và lối sống có
thể ảnh hưởng lên sự béo phì của trẻ em Ngoài ra,
nhiều nghiên cứu cũng khám phá ra có mối liên hệ dùng
biến số (variable)- nhiều bà mẹ béo phì tăng thêm cân
trong lúc mang thai, một số có thể ít lên cân hơn so với
các bà mẹ gầy hơn, hay là dùng các tiêu chuẩn kém để
đánh giá chất béo ở cơ thể của cả bà mẹ và trẻ em Ở phụ
nữ béo phì, chỉ số khối cơ thể trước khi mang thai (một
chỉ số dựa trên cân nặng và chiều cao) được cho là một
yếu tố quyết định quan trọng của kết quả thai kỳ hơn là
tăng cân trong thai kỳ Điều này là do việc tăng cân
trong quá trình mang thai là rất khác nhau - trong khi
nhiều bà mẹ béo phì tăng cân quá mức trong thai kỳ,
một số có thể lên cân ít hơn so với các bà mẹ gầy hơn
Trẻ sinh ra nhỏ hơn so với tuổi thai, khi tăng cân nhanh
chóng (tăng trưởng ' bắt kịp ') trong 6-12 tháng đầu đời
có thể phát triển với cân nặng cơ thể gia tăng hoặc mập
béo trong cuộc sống sau này Sẽ có lợi khi việc tăng cân
Tăng trưởng kém của bào thai làm tăng nguy cơ bệnh tim và đột quỵ trong cuộc sống sau này, nhưng nguy cơ trên lớn hơn nhiều trong những người thừa cân hoặc
trong giai đoạn thơ ấu với tốc độ chậm, phù hợp với những đường cong tăng trưởng tiêu chuẩn (tức là theo dõi trên đường cong so với biểu đồ tăng trưởng)
Không chỉ vì bạn bị thiếu cân lúc sinh có nghĩa là bạn sẽ đương nhiên phát triển bệnh đái tháo đường tuýp 2 - nó chỉ làm tăng nguy cơ cho bạn thôi, đặc biệt là nếu bạn đang thừa cân và không hoạt động thể chất Duy trì một cân nặng khỏe mạnh, đặc biệt là đảm bảo số đo vòng bụng của bạn không vượt quá 80 cm đối với phụ nữ và
94 cm đối với nam giới, và hoạt động thể chất thường xuyên (tương đương với 30 phút đi bộ nhanh, ít nhất 5 lần mỗi tuần) sẽ làm giảm nguy cơ đái tháo đường cho bạn
Nếu các mô không được tiếp xúc với các chất dinh dưỡng thích hợp trong giai đoạn phát triển quan trọng,
sẽ không phát triển đúng cách, và chẳng hạn trong trường hợp của tuyến tụy, điều này có thể dẫn đến giảm
số lượng các tế bào sản xuất insulin
Insulin là một hoóc môn giúp cơ thể sử dụng năng lượng (hoặc đường) từ thực phẩm Tuy nhiên, ở những người bị bệnh đái tháo đường, cơ thể không thể chuyển hóa glucose thành năng lượng Điều này có thể do khối lượng cơ thấp (do mức độ hoạt động thể chất thấp) có thể làm giảm hiệu quả của insulin (khả năng loại bỏ đường trong máu)
Một lý do khác có thể là do sự đề kháng insulin sinh
ra trong quá trình trưởng thành, do cân nặng tăng quá mức và ít vận động Đây là một tình trạng mà trong đó các tế bào của cơ thể ít đáp ứng (hoặc nhạy cảm) với hoạt động của insulin và do đó, tuyến tụy phải tiết ra insulin nhiều hơn Cuối cùng, khả năng tiết ra insulin của tuyến tụy suy giảm, lượng đường trong máu tăng lên và đưa đến bệnh đái tháo đường tuýp 2
Q4: Có phải trẻ con của các bà mẹ béo phì có nhiều
khả năng bản thân sẽ bị béo phì trong cuộc sống
sau này?
Q5: Nếu em bé được sinh ra với một cân nặng lúc
sinh thấp thì việc 'bắt kịp' cân nặng nhanh
chóng trong năm đầu tiên có lợi cho bé không?
18.9 Đái tháo đường
Q1: Tại sao dinh dưỡng trong bào thai ảnh hưởng đến nguy cơ phát triển bệnh đái tháo đường tuýp 2?
Q2: Tôi có thể làm gì để bản thân mình ngăn chặn phát triển bệnh đái tháo đường nếu tôi bị thiếu cân lúc sinh?
18.10 Bệnh tim mạch
Q1: Có phải cân nặng lúc sinh liên quan đến nguy cơ mắc bệnh tim mạch trong cuộc sống sau này?
Trang 7béo phì trong cuộc sống trưởng thành Một chế độ ăn
uống thiếu dưỡng chất và hoạt động thể chất không đầy
đủ sẽ gia tăng nguy cơ bệnh tim mạch
Mặc dù chứng cứ không rõ ràng khi cho rằng có một mối liên hệ giữa tăng trưởng kém trong thời kỳ mang thai và nguy cơ bệnh tim mạch trong cuộc sống sau này, các bà mẹ béo phì có nhiều khả năng bị cao huyết áp trong thai kỳ và sinh em bé lớn ký, đặc biệt trong trường hợp sinh con gái, sẽ có nguy cơ tăng bệnh tim mạch, đặc biệt là nếu trẻ này trở thành thừa cân hoặc béo phì khi trưởng thành
Người lớn có chiều cao thấp có liên quan với nguy cơ bệnh tim mạch cao hơn 55% trong cuộc sống sau này so với người có chiều cao cao hơn Chiều cao phần lớn được quyết định bởi sự tăng trưởng trong 2 năm đầu đời Chiều cao gia tăng cũng liên quan với huyết áp thấp hơn trong cuộc sống trưởng thành
Mức cholesterol của mẹ trong khi mang thai không ảnh
hưởng đến mức cholesterol của con Tuy nhiên, nếu
người mẹ có cholesterol máu cao do di truyền, thì sau
đó con cái có thể kế thừa chứng này từ mẹ
Con của bà mẹ có tăng huyết áp trong thai kỳ sẽ tăng
huyết áp sau này trong cuộc sống Tuy nhiên, đó là một
sự gia tăng tương đối nhỏ khoảng 2 mmHg Các yếu tố
khác, chẳng hạn như bà mẹ bị béo phì và con sinh nhẹ
cân, có ảnh hưởng lớn trong việc huyết áp tăng cao ở
con cái trong cuộc sống khi trưởng thành
Không có chứng cứ trực tiếp để hỗ trợ cho điều này
Tuy nhiên, các em bé có số cân nặng lớn trong 3 tháng
đầu đời sẽ có nhiều nguy cơ phát triển hội chứng
chuyển hóa (một nhóm các yếu tố, chẳng hạn như cao
huyết áp, cholesterol cao và béo phì, kết hợp với nguy
cơ phát triển bệnh đái tháo đường tuýp2 và bệnh tim)
Nguy cơ bệnh tim và đột quỵ gia tăng ở những trẻ sinh
thiếu cân và thừa cân khi lớn được cho là ảnh hưởng bởi
gia tăng nguy cơ huyết áp cao và phát triển bất thường
nồng độ lipid (chất béo) trong máu (được gọi là kiểu
hình lipoprotein xơ vữa) Việc này có khả năng xảy ra ở
trẻ em mà lúc sinh có cân nặng thấp nhưng sau đó tăng
cân nhanh chóng trong thời kỳ đầu đời (1-5 tuổi) Tăng
trưởng của bào thai kém cũng có thể ảnh hưởng đến sự
phát triển của thận, làm cho việc tạo nên thế hệ con cái
nhạy cảm hơn với bệnh tăng huyết áp do muối
Q2: Nếu một người mẹ có cholesterol máu cao, điều
này có ảnh hưởng đến cholesterol máu của con
khi lớn không?
Q3: Nếu một người mẹ có bệnh cao huyết áp trong
thai kỳ, điều này ảnh hưởng đến huyết áp ở
con sau này không?
Q4: Có phải trẻ bú bình có nguy cơ cao mắc bệnh
tim mạch hơn so với trẻ bú sữa mẹ?
Q5: Tại sao các em bé khi sinh có cân nặng thấp,
khi lớn trở thành những người bị quá cân thì
có nhiều nguy cơ mắc bệnh tim mạch?
Q6: Điều gì ảnh hưởng đến bà mẹ béo phì mà con của họ có nguy cơ bệnh tim mạch?
Q7: Trẻ em hiện nay cao hơn so với thế hệ trước, điều này có ảnh hưởng đến nguy cơ bệnh tim mạch?
Hầu hết các chứng cứ liên quan đến cân nặng lúc sinh
và nguy cơ ung thư vú, trong đó cân nặng lúc sinh cao hơn có liên quan với tăng nguy cơ ung thư vú Chứng
cứ về cân nặng lúc sinh và nguy cơ mắc các ung thư khác là chưa rõ ràng Chứng cứ cho thấy nguy cơ gia tăng của bệnh bạch cầu cấp tính với cân nặng lúc sinh cao hơn Các nghiên cứu đã được thực hiện để điều tra cân nặng lúc sinh và nguy cơ ung thư đại trực tràng và ung thư tuyến tiền liệt, nhưng ít có chứng cứ thuyết phục Nghiên cứu gần đây cho thấy rằng các cá nhân có chiều cao quá khổ có nguy cơ gia tăng bệnh ung thư
Dinh dưỡng đầu đời có thể ảnh hưởng nguy cơ ung thư bằng cách chọn lọc đối với phôi có gien đặc trưng có khả năng mắc ung thư Chế độ ăn của mẹ dưới điều kiện tốt nhất có thể thay đổi mã ngoại di truyền Mã ngoại di truyền được cho là thêm một lớp bên ngoài trên đầu của gien (ADN) mà nó có thể kiểm soát được nút tắt hoặc
18.11 Ung thư
Q1: Có phải cân nặng lúc sinh liên quan đến nguy
cơ ung thư trong cuộc sống sau này?
Q2: Dinh dưỡng dẫn đến tăng nguy cơ ung thư như thế nào?
Trang 8mở của gien Sự thay đổi đối với mã ngoại di truyền
không làm thay đổi cấu trúc cơ bản của ADN, một gien
đã có những thay đổi ngoại di truyền sẽ vẫn tạo ra các
protein tương tự, nhưng những thay đổi này có thể ảnh
hưởng khi gien được bật nút mở ra, và số lượng protein
gien làm ra Dinh dưỡng đầu đời có thể ảnh hưởng nguy
cơ ung thư trong cuộc sống sau này bằng cách tác động
trên khối mỡ của cơ thể và nhiễm tiếp xúc với hoóc
môn
Có chứng cứ tin cậy cho thấy rằng canxi và vitamin D cần thiết cho sự phát triển xương đầy đủ trong thời thơ
ấu và niên thiếu Chứng cứ cho thấy trẻ em với lượng canxi hoặc nồng độ vitamin D lớn hơn có xương rắn chắc hơn (mật độ xương cao hơn) Chứng cứ cho thấy hoạt động thể lực ở trẻ nhũ nhi và trẻ em ảnh hưởng có lợi cho khối lượng xương ở cuối thời thơ ấu Trẻ em vận động thể chất thường xuyên có xu hướng có xương cứng cáp hơn (khoáng hóa xương nhiều hơn).Tuy nhiên, liệu những lợi điểm trên có tác dụng ở cuối thời
Trước khi thực hiện một chương trình sàng lọc, cần phải có chứng cứ tốt là sàng lọc vitamin D sẽ có lợi cho
bà mẹ và trẻ em Trong trường hợp có thiếu hụt vitamin
D nhiều với dấu hiệu lâm sàng rõ ràng, ví dụ nồng độ canxi thấp (hạ canxi máu), đau xương và yếu cơ, điều trị được đề nghị giúp cho sức khỏe ngay lập tức của bà
mẹ và đứa trẻ Dấu hiệu lâm sàng của sự thiếu hụt vitamin D có thể sẽ phổ biến hơn trong nhóm nguy cơ cao như người dân tộc thiểu số da đen Tuy nhiên, tại thời điểm, mà ở đó một mức độ thấp của vitamin D được tìm thấy một cách ngẫu nhiên trên một xét nghiệm máu trong trường hợp không biểu hiện triệu chứng lâm sàng, có rất ít dữ liệu hiện có để thông tin cho quá trình điều trị chính xác
Recommendations Aligned - những khuyến nghị về Vi chất dinh dưỡng ở châu Âu), nhằm mục đích thiết lập các nhu cầu và khuyến nghị cho các vi chất dinh dưỡng trên khắp châu Âu, đề nghị 400 IU / ngày (hoặc 10 mg / ngày) cho phụ nữ mang thai và cho con bú
Một liên quan có thể đã được đề xuất giữa hàm lượng vitamin D cao ở phụ nữ mang thai và gia tăng bệnh hen suyễn ở con trẻ của họ, chúng ta phải cẩn thận khi tư vấn bổ sung liều lượng rất cao, và nhằm mục đích
để đạt được liều đầy đủ (chứ không phải là liều cao) của vitamin Trong phát biểu này, nghiên cứu cho thấy con người đã tiến hóa để đối phó với lượng vitamin D nhiều bằng 25 000 IU / ngày (6250 mg / ngày) được hình thành trong da Gần đây, một thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên lớn đang thực hiện tại Southampton (MAVIDOS - Maternal Vitamin D Osteoporosis Study; Nghiên cứu Loãng xương Vitamin D cho mẹ) sẽ giúp trả lời câu hỏi này
Đây là một câu hỏi khó trả lời Tỉ lệ cho con bú có xu
hướng cao hơn ở phụ nữ tầng lớp xã hội cao hơn, là
những người có nhiều khả năng có một chế độ ăn uống
tốt và có lối sống lành mạnh Tỷ lệ ung thư có xu hướng
thấp hơn trong số những tầng lớp kinh tế xã hội cao
hơn Do đó khó để xác định xem nguy cơ ung thư có
ảnh hưởng bởi việc cho con bú, hoặc bởi các yếu tố
kinh tế xã hội phổ biến với những người cho con bú
Các nghiên cứu trong đó những người đã có bệnh ung
thư được hỏi về lịch sử nuôi con bằng sữa mẹ của họ có
thể có chỗ bị thiếu sót bởi “gợi nhớ thành kiến chênh
lệch” Dữ liệu mạnh mẽ hơn từ các nghiên cứu thuần
tập (đoàn hệ) (nơi mà người dân được yêu cầu nếu họ
nuôi con bằng sữa mẹ và được theo dõi phát triển ung
thư theo thời gian) cho thấy không có khác biệt đáng
kể
Liều khuyến cáo của vitamin D trong quá trình trước và
trong khi mang thai có sự khác biệt giữa các quốc gia
Vương quốc Anh hiện tại hướng dẫn là dùng 400 IU /
ngày (hoặc 10 mg / ngày) Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO), Tổ chức Lương Nông Liên Hợp quốc
(UNFAO) và các chính phủ của Australia và New
Zealand đề nghị 200 IU / ngày (hoặc 5 mg / ngày), đó là
số lượng mà các tổ chức và các quốc gia đề nghị cho
phụ nữ không mang thai ở độ tuổi 19-50 Ở Mỹ và
Canada khuyến khích 600 IU/ ngày (hoặc 15 mg/
ngày), cho trường hợp tiếp xúc tối thiểu ánh sáng mặt
trời Trên khắp châu Âu, các khuyến nghị cho phụ nữ
khác nhau từ 200 IU/ ngày (hoặc 5 mg/ ngày) (ví dụ, ở
Đức, Áo và Thụy Sĩ) tới 400 IU/ ngày (hoặc 10 mg /
ngày) (ví dụ, ở Bỉ) Một dự án châu Âu gọi là
E U R R E C A ( E U R o p e a n m i c r o n u t r i e n t
Q3: Liệu cho con bú có ảnh hưởng đến nguy cơ
ung thư trong cuộc sống sau này ?
18.12 Sức khỏe của xương
Q1: Liều khuyến cáo bổ sung vitamin D cho phụ nữ
mang thai và cho con bú là gì?
Q2: Chúng ta có nên sàng lọc sự thiếu hụt vitamin D trong thời kỳ mang thai và / hoặc giai đoạn nhũ nhi?
Q3: Các khía cạnh nào của dinh dưỡng và lối sống trẻ em có thể ảnh hưởng lên sức khỏe xương của trẻ?
Trang 9kỳ thơ ấu và chuyển sang lợi ích lâu dài hoặc giảm nguy
cơ gãy xương sau tuổi trưởng thành hay không vẫn
chưa rõ ràng
(không no nhiều nối đôi), có thể ảnh hưởng sự phát triển của bệnh hen suyễn và bệnh dị ứng ở trẻ em Tuy nhiên, chứng cứ hiện tại liên quan đến ảnh hưởng của các chất dinh dưỡng trong chế độ ăn của bà mẹ về sự phát triển của bệnh hen suyễn và bệnh dị ứng ở con cái còn hạn chế và có tính suy đoán
Năm 1998, chính phủ Anh khuyên phụ nữ mang thai và cho con bú nên tránh các tác nhân có khả năng gây dị ứng từ thực phẩm chẳng hạn như đậu phộng (lạc), được cho là làm tăng nguy cơ mắc bệnh dị ứng thời thơ ấu Tuy nhiên, trong năm 2009, sau khi xem xét các chứng
cứ sẵn có, chính phủ đã sửa đổi lời khuyên này Chứng
cứ gần đây không đề nghị một tác dụng ngược hoặc lợi ích của việc dùng đậu phộng (lạc) của mẹ trong khi mang thai và cho con bú liên quan đến sự phát triển dị ứng đậu phộng ở trẻ em Theo tư vấn mới cho rằng nếu các bà mẹ muốn ăn đậu phộng hoặc thực phẩm có chứa đậu phộng trong khi mang thai hoặc cho con bú, họ có thể chọn đậu phộng như là một phần của chế độ ăn uống
đa dạng lành mạnh, không phân biệt con của họ có một tiền sử gia đình bị dị ứng hay không, trừ khi có lời khuyên của bác sĩ
Các dị ứng phổ biến nhất là protein sữa bò, trứng, đậu nành, lúa mì, các loại hạt và tôm cua Không có chứng
cứ thuyết phục cho thấy việc trì hoãn giới thiệu các loại thực phẩm có khả năng gây dị ứng sẽ làm giảm khả năng của dị ứng thực phẩm và bệnh dị ứng Tại Anh, lời khuyên của Bộ Y tế là sữa bò nguyên kem thì không thích hợp dùng như thức uống chính cho trẻ nhũ nhi dưới 1 tuổi Tuy nhiên, có thể được sử dụng trong thức
ăn chế biến sẵn cho các em bé trên 6 tháng tuổi Khi hệ thống miễn dịch của bé chưa phát triển đầy đủ, không nên cho bé ăn lúa mì (bao gồm cả các loại thực phẩm như bánh mì, mì ống và ngũ cốc ăn sáng), trứng, cá và tôm cua, và pho mát mềm và chưa được tiệt trùng trước
6 tháng tuổi Tuy nhiên, thực phẩm có chứa lúa mì, trứng nấu chín, cá (trừ cá mập, cá cờ và cá kiếm) và pho mát mềm làm bằng sữa tiệt trùng có thể dùng được từ 6 tháng tuổi Đậu phộng hoặc các loại đậu hoặc hạt khác (hoặc các loại thực phẩm khác có chứa các loại này) thì không nên cho bé ăn cho đến khi 6 tháng tuổi
Nghiên cứu cho thấy sự phát triển xương có thể được
ảnh hưởng bởi mô hình khác nhau của viêc cho ăn ở trẻ
nhũ nhi trong ngắn hạn Tuy nhiên, trong dài hạn,
không có sự khác biệt trong sức mạnh của xương ở trẻ
đã bú sữa mẹ so với trẻ đã nuôi bằng sữa công thức
Việc so sánh giữa trẻ bú mẹ và bú bình cũng có thể phụ
thuộc vào hàm lượng canxi trong sữa công thức Tất cả
các sữa công thức dành cho trẻ nhỏ ở Anh chứa hàm
lượng canxi ấn định do Hướng dẫn của Châu Âu (từ 50
đến140 mg canxi mỗi 100 kcal [419 kJ]) (xem sữa công
thức cho trẻ nhỏ và sữa công thức tiếp theo (Anh quốc)
quy định 2007 (www.legislation.gov.uk/uksi/2007/
3521/contents/made)
Kể từ đầu những năm 1960 đã có một sự gia tăng đáng
kể tỷ lệ bệnh hen suyễn và bệnh dị ứng trên toàn thế
giới, đặc biệt là ở các nước giàu, phương Tây Sự gia
tăng nhanh chóng bệnh hen suyễn và bệnh dị ứng trong
những thập kỷ gần đây gần như chắc chắn là hậu quả
của thay đổi môi trường và lối sống, và có chứng cứ
ngày càng tăng rằng tiếp xúc với các yếu tố trong quá
trình phát triển của bào thai và vài năm đầu của cuộc
sống đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
điều chỉnh khả năng của bệnh hen suyễn và dị ứng
trong cuộc sống sau này
Chế độ ăn uống khi mang thai của mẹ và dinh dưỡng
đầu đời của con trong thời nhũ nhi và giai đoạn đầu của
thời thơ ấu ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh hen
suyễn và bệnh dị ứng Có sự quan tâm ngày càng tăng
có thể hàm lượng dinh dưỡng của chế độ ăn của người
mẹ trong thời kỳ mang thai, đặc biệt là vitaminE,
vitamin D, kẽm, selen và chất béo đa không bão hòa
Q4: Có chứng cứ nào cho thấy trẻ nuôi bằng sữa
mẹ ít có khả năng mắc bệnh loãng xương hơn
trẻ dùng sữa công thức?
18.13 Bệnh dị ứng và hen suyễn
Q1: Tại sao số lượng người bị hen suyễn và bệnh
dị ứng ngày càng tăng?
Q2: Chế độ ăn uống của bà mẹ có thể ảnh hưởng
nguy cơ con cái bị dị ứng hoặc hen suyễn?
Q3: Phụ nữ mang thai nên tránh ăn đậu phộng (lạc)?
Q4: Có nên cho trẻ làm quen với thực phẩm có khả năng gây dị ứng bị trì hoãn trong giai đoạn ăn dặm?
Trang 10Tất cả các chất dinh dưỡng ảnh hưởng đến phát triển
não bộ, mặc dù các chất dinh dưỡng đặc biệt quan trọng
là năng lượng, protein, các axit béo chuỗi dài, sắt, kẽm,
đồng, I- ốt, selen, vitamin A, choline và acid folic Theo
khuyến nghị của Ủy ban châu Âu, các bà mẹ mang thai
và cho con bú nên tiêu thụ axit béo tương đương với hai khẩu phần của cá béo mỗi tuần, mặc dù sức mạnh của bằng chứng vẫn còn đang được tranh luận Một ảnh hưởng của việc ăn vào này là kéo dài thời gian mang thai, với một hiệu ứng có lợi trên sự phát triển của thai nhi Trong ba tháng cuối thai kỳ, thai nhi phát triển nhanh chóng và bộ não có nhu cầu cao về DHA (một axit béo chuỗi dài omega-3 có trong cá chứa nhiều mỡ)
Các nghiên cứu với bằng chứng tốt đã chỉ ra lợi ích của việc cho con bú sữa mẹ trên phát triển nhận thức của trẻ Một số nghiên cứu cũng đã chứng minh rằng việc
bú sữa mẹ ảnh hưởng tới phát triển cảm xúc và hành vi của trẻ Người ta cho rằng các axit béo thiết yếu được tìm thấy trong sữa mẹ chịu trách nhiệm chủ yếu về những lợi ích này Tuy nhiên, một loạt các yếu tố có thể ảnh hưởng đến những phát hiện này của các nghiên cứu.Ví dụ, những lợi ích quan sát được thấy trong một
số nghiên cứu có thể là do yếu tố không liên quan đến dinh dưỡng như tình trạng kinh tế xã hội của người mẹ, tiền sử hút thuốc lá của mẹ lúc mang thai, khả năng nhận thức của bà mẹ lúc mang thai, giáo dục về vai trò của thai nghén và làm cha mẹ, và độ lớn gia đình (đông hay ít con)
Ảnh hưởng của chế độ ăn uống của trẻ nhũ nhi trên phát triển tâm thần còn chưa được hiểu rõ Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy trẻ nhũ nhi trong độ tuổi 6-12 tháng tuổi được cho ăn một chế độ ăn nhiều rau quả và thực phẩm chuẩn bị ở nhà có nhiều khả năng có chỉ số IQ cao hơn Những vi chất dinh dưỡng trong chế độ ăn của trẻ nhũ nhi được cho là quan trọng đối với sức khỏe tâm thần trong cuộc sống sau này bao gồm các axit béo thiết yếu, sắt, kẽm, iốt, folat và selen
Điều quan trọng là người phụ nữ dự trữ dinh dưỡng đầy
đủ cho bản thân trước khi mang thai Điều này đạt được
Sức khỏe tâm thần liên quan đến cảm xúc hạnh phúc
của chúng ta và cách chúng ta ứng xử như thế nào Nó
có thể, do đó, có tác động lớn về các hành vi lối sống
(bao gồm cả lựa chọn thực phẩm), năng suất kinh tế, tỷ
lệ mắc bệnh về thể chất và cuối cùng tuổi thọ Hành vi
nhận thức liên quan đến cách xử lý thông tin của một
người nào đó và trở thành hiểu biết, nhận thức hay hiểu
thấu đáo ý tưởng Nó liên quan đến tất cả các khía cạnh
của nhận thức, tư duy, lý luận và ghi nhớ Kỹ năng nhận
thức ở trẻ em là một yếu tố dự báo mạnh mẽ về thành
tích giáo dục, và khả năng nhận thức ở trẻ em vào tuổi
trưởng thành và trực tiếp dự đoán nguy cơ sa sút trí tuệ
trong cuộc sống sau này
Bằng chứng cho thấy tỉ lệ hiện hành của các vấn đề sức
khỏe tâm thần tăng giữa những năm 1970 và những
năm 1990 Gần một trong mười trẻ em từ 5-16 tuổi có
vấn đề về sức khỏe tâm thần có thể chẩn đoán lâm sàng
Hầu hết các vấn đề tình cảm thời thơ ấu khởi phát kéo
dài đến tuổi trưởng thành Người ta ước tính rằng thanh
thiếu niên bị trầm cảm cao hơn 2- 7 lần so với khả năng
bị trầm cảm ở tuổi trưởng thành, với 40- 70% cho thấy
rối loạn trầm cảm xảy ra chủ yếu trong giai đoạn này
của cuộc đời Rối loạn trầm cảm chủ yếu được đặc
trưng bởi một tâm trạng chán nản, thiếu quan tâm trong
các hoạt động bình thường được thụ hưởng, thay đổi
cân nặng và giấc ngủ, mệt mỏi, cảm giác vô dụng và tội
lỗi, gặp khó khăn khi tập trung và suy nghĩ về cái chết
và tự tử Tổ chức Y tế Thế giới đã xác định, rối loạn
trầm cảm chủ yếu là nguyên nhân hàng đầu của gánh
nặng bệnh tật ở các nước thu nhập trung bình và cao
(xem Chương 14, Phần 14.1) Ước tính trên toàn cầu có
một trong bốn người sẽ trãi nghiệm một tình trạng sức
khỏe tâm thần trong suốt cuộc đời của họ
18.14 Sức khỏe tâm thần và hành vi
nhận thức
Q1: Sự khác biệt giữa sức khỏe tâm thần và hành
vi nhận thức là gì?
Q2: Mức độ phổ biến những vấn đề sức khỏe tâm
thần như thế nào?
Q3: Phụ nữ mang thai nên ăn thực phẩm gì để đảm
bảo con cái của họ nhận được đầy đủ dinh
dưỡng cho sự phát triển não bộ?
Q4: Có phải bú sữa mẹ cải thiện chức năng nhận thức ở trẻ em?
Q5: Có phải chế độ ăn uống cho trẻ nhũ nhi ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần trong cuộc sống sau này?
18.15 Tư vấn về chế độ ăn uống và lối sống cho cuộc sống đầu đời
Q1: Lời khuyên gì có thể nên nghe theo trước khi mang thai để tăng cường sức khỏe của con cái?