1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp marketing nhằm thu hút khách du lịch quốc tế đến thành phố tuy hòa tỉnh phú yên

97 58 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 2,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động marketing trong sự thúc đấy phát triển du lịch tại điểm đến và với mong muốn hình ảnh du lịch Việt Nam nói chung và thành phố Tuy Hòa, Phú Yên

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

KHOA DU LỊCH _

Họ và tên: PHẠM THỊ NHÃ – K24QT

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

ĐỀ TÀI GIẢI PHÁP MARKETING NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN THÀNH PHỐ TUY HÒA- TỈNH PHÚ YÊN

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH (DU LỊCH, KHÁCH SẠN)

MÃ NGÀNH:7810103.3

Giáo viên hướng dẫn :

(Chữ ký kèm theo)

HÀ NỘI, 01 - 2020

Trang 2

Em xin gửi lời cảm ơn đến thư viện Khoa du lịch Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho em được tham khảo, thu thập cũng như tìm kiếm những tài liệu nghiên cứu cần thiết liên quan đến khóa luận Cùng với đó là những đóng góp nhiệt tình của các anh, chị và các bạn đã đồng hành, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện và hoàn thiện Khóa luận này

Cuối cùng, với điều kiện cũng như kinh nghiệm còn hạn chế, nên Khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vậy nên, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, nhận xét của quý Thầy Cô để hoàn thiện Khóa luận của mình

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày… tháng… năm 2020 Sinh viên tốt nghiệp

Trang 3

NHIỆM VỤ THIẾT KẾ KHOÁ LUẬNTỐT NGHIỆP

Họ và tên: Phạm Thị Nhã ĐT: 0326 107 555

Lớp - Khoá: A2-K24 Ngành học: Quản trị Du lịch Khách sạn

1 Tên đề tài: “Giải pháp marketing nhằm thu hút khách du lịch quốc tế đến với thành

phố Tuy Hòa- Tỉnh Phú Yên”

2 Các số liệu ban đầu:

Giáo trình, sách, tạp chí, báo và thông tin thu thập trên mạng và Thư viện Khoa Du lịch, Đại học Mở Hà Nội

3 Nội dung các phần thuyết minh và tính toán:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về du lịch và marketing điểm đến

4 Giáo viên hướng dẫn (toàn phần hoặc từng phần) : Toàn phần

5 Ngày giao nhiệm vụ Khoá luận tốt nghiệp : 25/10/2019

6 Ngày nộp Khoá luận cho VP Khoa (hạn chót) : 15/01/2020

Giáo viên Hướng dẫn

(Ký & ghi rõ họ tên)

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Trang 4

_Toc29891219

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 8

NỘI DUNG CỦA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 12

CHƯƠNG 1 12

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DU LỊCH VÀ MARKETING ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 12

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 12

1.2 Cơ sở lý thuyết về Du lịch 13

1.2.1 Khái niệm 13

1.2.2 Vai trò của du lịch 15

1.2.3 Các loại hình du lịch 16

1.3 Cơ sở lý thuyết về Marketing điểm đến du lịch 20

1.3.1.Điểm đến du lịch 20

1.3.1.1 Khái niệm 20

1.3.1.2 Đặc điểm của điểm đến du lịch 21

1.3.1.3 Các yếu tố hấp dẫn khách du lịch đến với điểm đến 22

1.3.2 Marketing điểm đến du lịch 24

1.3.2.1 Khái niệm 24

1.3.2.2 Vai trò của marketing điểm đến du lịch 26

1.3.2.3 Quy trình marketing điểm đến du lịch 28

1.4 Tiểu kết chương 1 32

CHƯƠNG 2 33

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH TỊ THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN GIAI ĐOẠN 2014-2019 33

2.1 Giới thiệu khái quát về thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 33

Trang 5

2.1.1 Vị trí đia lý 33

2.1.2 Tiềm năng phát triển du lịch 34

2.1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 34

2.1.2.2 Tài nguyên du lịch văn hóa 35

2.2 Thực trạng hoạt động du lịch của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên giai đọan 2014-2019 42

2.2.1 Khách du lịch 42

2.2.1.1 Số lượng khách 42

2.2.1.2 Cơ cấu khách 44

2.2.2 Doanh thu từ hoạt động du lịch 46

2.2.3 Các dịch vụ du lịch 47

2.2.3.1 Dịch vụ lưu trú 47

2.2.3.2 Dịch vụ ăn uống 48

2.2.3.3 Dịch vụ vận chuyển du lịch 48

2.2.3.4 Dịch vụ lữ hành 49

2.2.3.5 Dịch vụ du lịch khác 50

2.3 Thực trạng hoạt động marketing điểm đến du lịch của thành phố Tuy Hòa,tỉnh Phú Yên giai đọn 2014-2019 51

2.3.1 Chiến lược định vị và xây dựng thương hiệu 51

2.3.2 Chiến lược sản phẩm 52

2.3.3 Chiến lược giá 54

2.3.4 Chiến lược xúc tiến 56

2.3.5 Chiến lược phân phối 58

2.3.6 Chiến lược phát triển quan hệ đối tác 61

2.4 Đánh giá hoạt động marketing điểm đến du lịch của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên giai đoạn 2014-2019 62

2.4.1 Những thành tựu đạt được và nguyên nhân 62

Trang 6

2.4.2 Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân 63

2.5 Tiểu kết chương 2 65

CHƯƠNG 3 66

GIẢI PHÁP MARKETING NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN VỚI THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN 66

3.1 Quan điểm, định hướng phát triển du lịch thành phố Tuy Hòa, tình Phú Yên 66

3.1.1 Quan điểm phát triển 66

3.1.2 Định hướng về phát triển hoạt động du lịch của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 67

3.2 Những cơ hội và thách thức về du lịch và marketing du lịch của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 68

3.2.1 Cơ hội phát triển du lịch thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 68

3.2.2 Thách thức trong phát triển du lịch thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 70

3.3 Một số giải pháp Marketing nhằm thu hút khách du lịch đến thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 71

3.3.1 Nhóm các giải pháp marketing 71

3.3.1.1 Giải pháp định vị thương hiệu du lịch Tuy Hòa, Phú Yên 71

3.3.1.2 Giải pháp về sản phẩm 72

3.3.1.3 Giải pháp về giá 74

3.3.1.4 Giải pháp quảng bá, xúc tiến 76

3.3.1.5 Giải pháp phân phối sản phẩm du lịch 80

3.3.2 Nhóm các giải pháp hỗ trợ 81

3.3.2.1 Đối với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch 81

1.3.2.4 Đối với doanh nghiệp kinh doanh du lịch 85

1.3.2.5 Đối với cộng đồng 87

Trang 7

3.4 Tiểu kết chương 3 88

KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC 94

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng khách du lịch đến với Tuy Hòa, Phú Yên (2014-2019) 43 Bảng 2.2 Cơ cấu khách du lịch đến Tuy Hòa, Phú Yên (2014- 2019) 45 Bảng 2.3 Tổng doanh thu du lịch của Tuy Hòa, Phú Yên (2014-2018) 46 Bảng 2.4 Số lượng cơ sở lưu trú trên địa bàn thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 47 Bảng 2.5 Giá tour du lịch trọn gói đi Tuy Hòa, Phú Yên (tham khảo) 55

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng du lịch đa dạng và phong phúvới nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá trải dài trên khắp đất nước, cùng kho tàng văn hóa đồ sộ, độc đáo trải dài 4000 năm lịch sử dân tộc, đã góp phần thu hút không ít số lượng khách

du lịch trong nước và quốc tế Theo thống kê của Tổng cục du lịch, trong năm 2018, Việt Nam đã đón 15,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 80 triệu lượt khách du lịch nội địa, tổng thu từ du lịch đạt hơn 620.000 tỷ đồng.Năm 2019, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã lên đến 18 triệu lượt người, và 85 triệu lượt khách nội địa, tổng số thu từ khách du lịch năm 2019 cũng lên đến 726.000 tỷ đồng Sự tăng trưởng vượt bậc của ngành du lịch trong những năm vừa qua đã góp phần mang lại sự phát triển kinh tế chung của đất nước Tuy nhiên trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc và toàn diện,việc phát triển du lịch vừa mang đến những cơ hội lớn cho đất nước, xong cũng phải đối mặt với nhiều thách thức bởi đi liền với hợp tác là cạnh tranh nhất là cạnh tranh giữa các điểm đến trong khu vực và thế giới đang ngày càng trở nên gay gắt hơn Vì vậy, việc vận dụng marketing dịch vụ trong ngành du lịch đóng vai trò quan trong và cần thiết trong việc nâng cao sự thích ứng của hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần thu hút khách du lịch đến với điểm đến du lịch

Phú Yên là tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, giàu tiềm năng phát triển

du lịch với giao thông thuận lợi, bờ biển dài có sự kết hợp giữa núi non cao, nước biển xanh biếc, và lặng sóng.Phú Yên còn có nhiều đầm, vịnh, ghềnh mang vẻ đẹp tự nhiên

và hoang sơ.Tuy Hòa là thành phố trực thuộc tỉnh Phú Yên, là trung tâm chính trị, kinh

tế, văn hóa, và xã hội của tỉnh Phú yên và là nơi sở hữu những điểm đến đẹp mê hồn của vùng đất Việt Nam Có thể nói du lịch Tuy Hòa có tiềm năng phát triển rất lớn trong hệ thống du lịch Việt Nam nói chung, đã và đang trở thành trung tâm du lịch tỉnh Phú Yên nói riêng Tuy nhiên để có thể thu hútkhách du lịch với các địa điểm nổi tiếng khác như Đà nẵng, Hội An, Nha Trang… đòi hỏi ngành du lịch Tuy Hòa phải có sự đầu tư đúng đắn vào việc quảng bá hình ảnh trên quy mô lớn với những định hướng dài hạn và những giải pháp marketing phù hợp, mang tính đột phá, có tính cạnh tranh cao để thu hút khách du lịch trong tương lai

Trang 10

Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động marketing trong sự thúc đấy phát triển du lịch tại điểm đến và với mong muốn hình ảnh du lịch Việt Nam nói chung và thành phố Tuy Hòa, Phú Yên nói riêng đạt được vị trí nhất định trên bản đồ du lịch

Việt Nam, em quyết định lựa chọn đề tài: “Giải pháp marketing nhằm thu hút khách

du lịch quốc tế đến với thành phố Tuy Hòa- Tỉnh Phú Yên” làm khóa luận tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và nghiên cứu thực tiễn trong hoạt động marketing du lịch của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, mục tiêu của khóa luận là đề xuất một số giải pháp marketing phù hợp nhằm thu hút khách du lịch đến với địa phương, góp phần đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và tương xứng với tiềm năng vốn có của thành phố Tuy Hòa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hoạt động marketing du lịch của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Bình Định

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Thành phố Tuy Hòa

- Về thời gian: Hoạt đông marketing và du lịch thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên trong giai đoạn 2014-2019

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê và phân tích:

+ Thu thập, tổng hợp, phân tích các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu từ tạp chí, báo của nghành du lịch Việt Nam: Tìm kiếm thông tin về thực trạng hoạt động

du lịch Việt Nam nói chung và thành phố Tuy Hòa, Phú Yên nói riêng, số lượng khách

du lịch trong và ngoài nước đến Tuy Hòa, Phú Yên và các hoạt động của ngành du lịch đối với thị trường khách du lịch

+ Sách, giáo trình trong và ngoài nước: cơ sở lý thuyết về du lịch, marketing điểm đến, hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế

Trang 11

+ Mạng Internet: các bài báo, bài phân tích liên quan đến các hoạt động thu hút khách quốc tế đến Phú Yên nói chung và Thành phố Tuy Hòa nói riêng

- Phương pháp điều tra, khảo sát: lập bảng hỏi, lấy ý kiến của khách du lịch + Số lượng: 50 khách du lịch đến Tuy Hòa, Phú Yên

+ Phiếu điều tra: Nội dung của phiếu chia làm hai phần: phần thông tin chung và phần thông tin liên quan đến chuyến đi tới Tuy Hòa, Phú Yên của khách du lịch Các câu hỏi đều bám sát với đề tài nghiên cứu như: mục đích chuyến di, lựa chọn và sự hài lòng của du khách về các dịch vụ du lịch, nguồn thông tin khách tiếp cận đến du lịch Tuy Hòa, Phú Yên và phần thông tin cá nhân của du khách bao gồm độ tuổi, giới tính

và nghề nghiệp Các câu hỏi được xây dựng trên tiêu chí ngắn gọn, dễ hiểu, du khách

có thể trả lời dễ dàng trong thời gian ngắn, thiết kế theo dạng câu hỏi lựa chọn, câu hỏi đánh giá theo thang điểm từ 1 đến 5, câu hỏi dạng điền trống

+ Cách phát phiếu điều tra: Phát 50 phiếu gián tiếp cho khách du lịchtại các điểm tham quan tại Tuy Hòa, Phú Yên thông qua các hướng dẫn viên du lịch dẫn khách nội địa và quốc tế đến Tuy Hòa Việc trả lời phiếu điều tra là hoàn toàn tự nguyện với tinh thần cộng tác Trong 50 phiếu thu về được 48 phiếu điền đầy đủ thông tin, có thể sử dụng trong tổng hợp kết quả điều tra Trong số khách du lịch tham gia vào khảo sát, số lượng khách du lịch nữ chiếm 52%, số khách du lịch nam chiếm 48% Độ tuổi dưới 25 chiếm 18.75%, 25- 45 chiếm 29.17%, 45- 64 chiếm 35.12% và trên 65 tuổi chiếm 16.96%

- Phương pháp phỏng vấn và lấy ý kiến chuyên gia: phỏng vấn đại diện lãnh đạo của các vụ tại Tổng cục Du lịch, cán bộ của Viện nghiên cứu Phát triển du lịch để lấy ý

về định hướng phát triển, hoạt động xúc tiến, quảng bá hình ảnh Tuy Hòa, Phú Yên Đồng thời tiến hành phỏng vấn trực tiếp hướng dẫn viên chuyên dẫn khách du lịch đến Phú Yên về những vấn đề như: những tồn taị, hạn chế của du lịch Phú Yên khiến du khách chưa hài lòng…

5 Kết cấu của khóa luận

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về du lịch và marketing điểm đến du lịch

Trang 12

Chương 2: Thực trạng hoạt động Marketing điểm đến du lịch tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên giai đoạn 2014-2019

Chương 3: Giải pháp Marketing nhằm thu hút khách du lịch quốc tế đến với thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

Trang 13

NỘI DUNG CỦA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DU

LỊCH VÀ MARKETING ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu để tìm ra giải pháp thu hút khách du lịch là một việc làm quan trọng nhằm góp phần mang lại hiệu quả phát triển điểm đến du lịch Đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này

Trên thế giới đã có các nghiên cứu như “Attracting tourists to local businesses” của nhóm tác giả Bill Ryan, Jim Bloms, Jim Hovland, David Scheker xuất bản năm

2000 Nghiên cứu tập trung vào việc xác định thị trường khách du lịch, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát triển hệ thống bán lẻ sản phẩm du lịch để thu hút khách du lịch sử dụng sản phẩm du lịch địa phương Đề án “The Use of the Internet to Attract Toursists to Zimbabwe” của nhóm tác giả: W.D Govere, T.Tsokota, O Chikuta, A Mukwembi, P Chiofung, thực hiện năm 2013 đã phân tích tác dụng của mạng Internet trong việc thu hút khách du lịch đến Zimbabwe cũng như đề xuất một số phương pháp nhằm sử dụng tối đa tác dụng của Internet để thu hút khách du lịch và phục vụ hoạt động du lịch Luận án “Vietnamese Domestic Tourism: An Investigation of travel Motivations” của tác giả Bùi Hương Thanh thực hiện năm 2011 Nghiên cứu này đã khám phá các mô hình du lịch của khách du lịch nội địa Việt Nam và thảo luận về động lực của khách du lịch trong nước tại Việt Nam đương thời thông qua cái nhìn sâu sắc về hành vi du lịch của du khách

Tại Việt Nam vấn đề thu hút khách du lịch đến điểm đến đã được nhiều học viên lựa chọn là luận văn tốt nghiệp như đề tài: “Một số giải pháp thu hút khách du lịch Úc đến Việt Nam” của tác giả Lê Thị Vân Anh, thực hiện năm 2013 Tác giả nghiên cứu những đặc điểm tính cách và điều kiện nảy sinh nhu cầu du lịch của người

Úc Nghiên cứu thực trạng khai thác thị trường khách du lịchÚc tại Việt Nam trên cơ

sở số lượng, cơ cấu, chi tiêu, thời vụ, thời gian mỗichuyến đi và sự hấp dẫn của các sản phẩm du lịch Việt Nam, các tác nhân hạnchế, từ đó đưa ra giải pháp có tính khả thi

Trang 14

để nâng cao hiệu quả kinh doanh chongành du lịch Việt Nam Đề tài: “Định hướng và

giải pháp thu hút khách du lịch Trunng Quốc đến tỉnh Lào Cai” của tác giả Nguyễn

Thị Hồng Hải, thực hiện năm 2012 đưa ra tổngquan về thị trường khách du lịch Trung

Quốc, tìm hiểu đặc trưng và các sở thíchtiêu dùng du lịch của du khách Trung Quốc

Từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp thu hút khách du lịch Trung Quốc đến tỉnh

Lào Cai, Việt Nam.Ngoài ra còn nhiều nghiên cứu khác nhằm thu hút khách du lịch tới

một điểm đến hoặc một đơn vị kinh doanh đã được thực hiện

Ở Phú Yên, ngành du lịch Phú Yên đã và đang được quan tâm phát triển, cụ thể

là đã có những kế hoạch phát triển du lịch của tỉnh như kế hoạch cho giai đoạn

2012-2015, định hướng 2020 tầm nhìn 2025 Nhiều hội thảo về du lịch như hôi thảo “Giải

pháp kết nối điểm đến du lịch Phú yên”, hội thảo về phát triển sản phẩm du lịch, bàn

về sản phẩm du lịch đặc trưng Bên cạnh đó, cũng đã có một số đề tài như: “Một số

giải pháp marketing địa phương nhằm phát triển du lịch Phú Yên đến năm 2020” được

thực hiện năm 2012 bởi tác giả Đào Bảo Minh, hay đề tài “Hoạt động thu hút khách

nội địa đến du lịch Phú Yên- Thực trạng và giải pháp” của tác giả Triều Thị Thúy thực

hiện năm 2015 Trong luận văn, tác giả đã chứng minh tiềm năng phát triển du lịch

tỉnh Phú Yên, phân tích thực trạng hoạt động du lịch tỉnh và từ đó đưa ra các giải pháp

nhằm tăng sức thu hút khách du lịch nội địa đến du lịch Phú Yên Tuy nhiên chưa có

đề tài nghiên cứu về giải pháp markrting nhằm thu hút khách du lịch quốc tế đến thành

phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

1.2 Cơ sở lý thuyết về Du lịch

1.2.1 Khái niệm

Trong sự phát triển không ngừng của nền sản xuất xã hội, du lịch đã trở thành

một đòi hỏi tất yếu của con người Ở nhiều nước trên thế giới, du lịch được coi như

một ngành kinh tế mũi nhọn, ngành du lịch mang lại thu nhập GDP cho nền kinh tế,

giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động và có sức hút mạnh mẽ đối với

nhiều ngành Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến

không chỉ ở các nước phát triển mà ở cả các nước đang phát triển, trong đó có Việt

Nam Tuy nhiên, cho đến nay, nhận thức về khái niệm du lịch trên thế giới vẫn chưa

thống nhất Bởi hoàn cảnh, thời gian và khu vực khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên

cứu khác nhau, khái niệm về du lịch cũng không giống nhau Theo định nghĩa của Tổ

Comment [H1]: Làm rõ nội dung từng

nghiên cứu được kể tên trên đây, để xem các nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề gì? Có liên quan như thế nào đến đề tài khóa luận? Từ đó tìm ra khoảng trống nghiên cứu “chưa được đề cập đ

Comment [H2]: Làm rõ nội dung mà của

nghiên cứu trên đây đề cập đến để xem đã đề cập đến những vấn đề gì có liên quan đến đề tài khóa luận Từ đó, tìm ra khoảng trống nghiên cứu của đề tài là những nội dung

“chưa” được nghiên cứu

Trang 15

chức du lịch thế giới (UNWTO- United Nations World Tourism Organization): “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư, nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”.[16,8]

Tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp tại Rome – Italia (21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”

Tại Việt Nam, khái niệm Du lịch được quy định rất rõ trong Luật du lịch Việt Nam 2017, tại Điều 3, khoản 1: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến di của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.[7]

Có thể thấy, nếu nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách, du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác,

từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc Còn nếu nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác

Như vậy, chúng ta thấy được du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm nhiều thành phần tham gia, giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính quyền

và cộng đồng dân cư địa phương tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp nhằm thu hút

và đón tiếp khách du lịch Nó vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội Để làm cơ sở phân tích cho các nội dung có liên quan trong khóa luận, đề tài sử dụng khái niệm về du lịch được định nghĩa theo Luật du lịch Việt Nam 2017, tại Điều 3, khoản 1: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến di của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01

Trang 16

năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.[7]

1.2.2 Vai trò của du lịch

 Về mặt kinh tế

 Đối với du lịch nội địa

- Du lịch tham gia tích cực vào qúa trình tạo nên thu nhập quốc dân (sản xuất ra

đồ lưu niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng các cơ sở vật chất kĩ thuật…) làm tăng tổng sản phẩm quốc nội

- Tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng

- Bên cạnh đó, du lịch nội địa phát triển tốt sẽ củng cố sức khỏe cho nhân dân lao động và do vậy góp phần làm tăng năng suất lao động xã hội Ngoài ra du lịch nội địa giúp cho việc sử dụng cơ sở vật chất kĩ thuật của du lịch quốc tế được hiệu quả hơn

 Đối với du lịch quốc tế chủ động

- Du lịch tham gia tích cực vào việc làm tăng thu nhập quốc dân thông qua thu ngoại tệ, đóng góp vai trò to lớn trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế

- Du lịch khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài

- Du lịch là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả cao nhất

- Du lịch góp phần củng cố và phát triển các mối quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới

- Du lịch quốc tế phát triển tạo nên sự phát triển đường lối giao thông quốc tế

- Du lịch như đầu mối “xuất nhập khẩu” ngoại tệ, phát triển quan hệ ngoại hối quốc tế

 Đối với du lịch quốc tế thụ động

Khác với du lịch quốc tế chủ động, du lịch quốc tế thụ động là một hình thức nhập khẩu đối với đất nước có khách đi ra nước ngoài Cái mà họ nhận được đó chính là các “lợi ích vô hình” Đó là nâng cao hiểu biết, học hỏi kỹ thuật mới, củng cố sức khỏe…của người dân Nhưng nếu đi với mục đích kinh doanh, du lịch quốc tế thụ động có tác động gián tiếp đến nền kinh tế bởi nó là hình thức

Trang 17

đem tiền đi tiêu nhưng họ có thể thu về là bản hợp đồng đầu tư thu lợi nhuận

 Các tác động khác về măt kinh tế của việc việc phát triển kinh doanh du lịch nói

chung

- Khu vực du lịch đã mang lại cho Việt nam cơ hội to lớn trong quá trình chuyển

đổi từ một nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp chuyển sang một nền kinh

tế dựa vào dịch vụ

- Du lịch làm tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương phát triển du lịch,

tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân và phân phối lại thu

nhập quốc dân giữa các vùng

- Du lịch phát triển thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo

- Đối với nền sản xuất xã hội, du lịch mở ra thị trường tiêu thụ hàng hóa

- Tận dụng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành kinh tế khác

 Về mặt xã hội

- Du lịch góp phần giải quyết việc làm cho nhân dân điạ phương

- Du lịch làm giảm quá trình đô thị hóa ở các nước có nền kinh tế phát triển

- Du lịch là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả

- Du lịch làm tăng tầm hiểu biết chung về văn hóa – xã hội

 Về mặt môi trường

- Nâng cao ý thức bảo tồn cảnh quan thiên nhiên, giữ gìn môi trường sống

- Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

- Nâng cấp cơ sở hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi cho nhu cầu đi lại và lưu trú của

du khách

- Nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ và tăng cường chất lượng môi

trườngnhư làm sạch môi trường, kiểm soát chất lượng không khí, nước, đất, ô

nhiễm tiếng ồn, thải rác và các vấn đề môi trường khác tốt hơn

1.2.3 Các loại hình du lịch

“Loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đăc điểm

giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tương tự, hoặc

Comment [H3]: Bổ sung vai trò của du lịch

ở mặt Môi trường để nhìn thấy rõ sự đóng góp của nó đối với sự phát triển bền vững

Trang 18

được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau hoặc xếp chung theo một mức giá bán nào đó”.[16,10] Phân loại loại hình du lịch sẽ giúp tạo cơ sở cho các hoạt động quản lý và kinh doanh

du lịch tại các điểm đến Mỗi loại hình du lịch sẽ chứa đựng những nét đặc trưng riêng,

có những nét hấp dẫn riêng đối với từng nhóm du khách

Hiện nay có 7 cách phân loại loại hình du lịch chính [16,11]

 Phân loại theo mục đích chuyến đi

- Du lịch tham quan: là hoạt động của con người để nâng cao nhận thức về mọi mặt Loại hình du lịch này có thể khai thác cả tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn

- Du lịch khám phá: là loại hình du lịch nhằm nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh Tuy thuộc vào mức độ có thể chia thành tìm hiểu và mạo hiểm

- Du lịch giải trí: là loại hình du lịch nảy sinh do nhu cầu thư giãn, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khỏe sau những ngày làm việc căng thẳng, mệt mỏi Đời sống xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu vui chơi, giải trí của con người ngày càng tăng Do vậy, trong chương trình du lịch, ngoài thời gian cho các hoạt động tham quan, cần có chương trình có các hoạt động vui chơi, giải trí, thư dãn

- Du lịch nghỉ dưỡng: là hoạt động du lịch nhằm khôi phục sức khỏe con người sau những ngày lao động vất vả Khách tham quan hoạt động nghỉ dưỡng thường thích những nơi có khí hậu trong lành, mát mẻ, phong cảnh đẹp như các bãi biển, vùng núi hoặc miền quê…

- Du lịch thể thao: bao gồm thể thao chủ động và thụ động là loại hình nhằm dáp ứng đam mê thể thao của du khách Khách du lịch có thể lựa chọn các hình thức du lịch thể thao được ưa chuộng như câu cá, chơi golf, bơi thuyền, lướt ván, trượt tuyết, leo núi…

- Du lịch tôn giáo: là hình thức du lịch tâm linh Khách đến hành hương, chiêm bái những công trình có ý nghĩa tôn giáo

Trang 19

- Du lịch công cụ: bao gồm những người đi dự hội nghị, hội thảo, hoặc tham gia các cuộc họp, đàm phán kinh doanh… Bên cạnh mục đích chính của chuyến đi

là thực hiện các công việc, họ có thể tranh thủ nghỉ dưỡng, tham quan, ngắm cảnh trong thời gian rảnh rỗi Ở loại hình du lịch này, khách thường là đối tượng có khả năng chi trả cao Do đó, cần đảm bảo đầy đủ các dịch vụ có chất lượng cao để phục vụ nhu cầu của du khách

- Du lịch chữa bệnh: với mục đích chính của chuyến đi là để chữa bệnh, nâng cao sức khỏe cho khách du lịch Địa điểm đên thường là những nơi có nguồn nước khoáng, có điều kiện thích hợp để chữa bệnh Đặc biệt của loại hình này

là để đáp ứng nhu cầu chữa bệnh, khách thường lưu trú dài ngày nên cần đảm bảo cơ sở phục vụ tốt

- Du lịch thăm thân nhân: là loại hình kết hợp du lịch trong chuyến đi với mục đích thăm hỏi bà con, họ hàng, bạn bè… Loại hình du lịch này có ý nghĩa đối với những quốc gia có nhiều kiều bào sống xa tổ quốc

 Phân loại theo tài nguyên du lịch

- Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị vănhoá truyền thống Đây là loại hình du lịch nhằm nâng cao hiểu biết cho du khách về lịch

sử, kiến trúc, phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa ở nơi họ đến thăm Địa điểm đến thăm của du khách có thể là các di tích văn hóa- lịch sử, bảo tang, lễ hội của địa phương, liên hoan nghệ thuật…

- Du lịch sinh thái: là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững Du lịch sinh thái là hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu tim hiểu về các hệ sinh thái

tự nhiên và văn hóa bản địa Địa điểm tổ chức loại hình này thường là những khu vực có hệ sinh thái còn tương đối hoang sơ, có phong cảnh đẹp, văn hóa bản địa được bảo tồn như các vườn quốc gia, các khu dự trữ sinh quyển, các khu bảo tồn thiên nhiên, các bản làng…

 Phân loại theo lãnh thổ hoạt động

Trang 20

- Du lịch nội địa: là tất cả các hoạt động phục vụ cho nhu cầu của du khách ở trong nước di nghỉ ngơi, tham quan các đối tượng du lịch trong phạm vi đất nước mình

- Du lịch quốc tế: là loại hình du lịch sử dụng nguồn tài nguyên du lịch bên ngoài lãnh thổ quốc gia nơi khách đang lưu trú Du lịch quốc tế chia thành hai loại du lịch đó là du lịch quốc tế chủ động (du lịch đón khách) và du lịch quốc

tế thụ động (du lịch gửi khách)

 Phân loại theo vị trí địa lý

- Du lịch biển: là loại hình gắn với biển, thuận lợi cho viêc tổ chức các hoạt động tắm biển, thể thao nước Loại hình này có tính mùa vụ cao

- Du lịch núi: là loại hình du lịch gắn với các khu vực có địa hình cao Điều kiện khí hậu ở đây thuận lợi để nghỉ mát vào mùa hè và nghỉ đông vào mùa đông

- Du lịch đô thị mà điểm đến là các thành phố, các trung tâm kinh tế với nhiều công trình kiến trúc lớn, khu thương mại, đầu mối giao thông, công viên giải trí…

- Du lịch đồng quê: thường diễn ra ở những nơi có không khí trong lành, thoáng mát, thanh bình Đây là khu vực địa lý có sức hấp dẫn đối với khách là những người dân song ở các khu đô thi, nhất là ở các khu đô thị lớn

 Phân loại theo độ dài chuyến đi

- Du lịch ngắn ngày: là loại hình du lịch thường kéo dài từ 1-3 ngày (hoặc dưới

1 tuần), tập chung chủ yếu vào những ngày nghỉ cuối tuần

- Du lịch dài ngày: là loại hình du lịch thường gắn với các kì nghỉ dài ngày từ vài tuần đến vài tháng ở địa điểm cách xa nơi ở của khách

 Phân loại theo phương tiện vận chuyển

- Du lịch xe đạp: là loại hình sử dụng phương tiện chính là xe đạp Loại hình du lịch này phát triển ở các khu vực có địa hình bằng phẳng, con người thân thiện, thích gần gũi với thiên nhiên

Trang 21

- Du lịch Ô tô: là loại phương tiện phổ biến và có nhiều lợi thế so với các phương tiện vận chuyển khác Đặc điểm của loại phương tiện này là chi phí thấp, đễ tiếp cận với các điểm du lịch nhưng không phù hợp cho khoảng cách di chuyển dài

- Du lịch tàu hỏa: là phương tiện phổ biến đối với nhiều du khách vì chi phí thấp, có thể tận dụng thời gian cho việc di chuyển vào ban đêm

- Du lịch tàu thủy: là loại hình phương tiện vận chuyển đồng thời là cơ sở lưu trú, ngoài ra khách được tận hưởng không khi trong lành và được tham quan nhiều điểm đến trong chuyến đi

- Du lịch máy bay: là một trong những loại hình hiện đại, có hể di chuyển với khoảng cách địa lý xa trong thời gian ngắn

 Phân loại theo hình thức tổ chức

- Du lịch theo đoàn: là loại hình có sự tham gia của một nhóm khách thường thuộc các tổ chức, sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp lữ hành

- Du lịch cá nhân: là hoạt động đu lịch do cá nhân tự quyết định về huyến đi như lịch trình, cơ sở cung ứng các dịch vụ Loại hình này ngày càng phát triển

vì có những ưu thế nhất định như linh hoạt, đề cao được nhu cầu của cá nhân du khách trong chuyến đi

- Du lịch gia đình: là loại hình du lịch do các gia đình tự tổ chức hoặc sử dụng dịch vụ của các công ty lữ hành

1.3 Cơ sở lý thuyết về Marketing điểm đến du lịch

1.3.1.Điểm đến du lịch

1.3.1.1 Khái niệm

Điếm đến là một trong những khái niệm rất rộng và đa dạng được dùng để chỉ một địa điểm (place) có sức hút với tập du khách khác biệt cao hơn so với địa điểm cùng cấp so sánh xung quanh bởi tính đa dạng tài nguyên, chất lượng và một loạt các tiện nghi và hoạt động

Trang 22

Tổ chức Du lịch Thế giới (UN-WTO), đã đưa ra khái niệm về điểm đến du lịch (Tourism Destination) như sau: “Điểm đến du lịch là vùng không gian địa lý mà khách

du lịch ở lại ít nhất một đêm, bao gồm các sản phẩm du lịch, các dịch vụ cung cấp, các tài nguyên du lịch thu hút khách, có ranh giới hành chính để quản lý và có sự nhận diện về hình ảnh để xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường”

Theo Philip Kotler, “Một điểm đến là một khu vực có địa giới hành chính được luật pháp công nhận hay có đường biên nằm trong nhận thức của mọi người”

Mở rộng khái niệm này, có thể thấy, điểm đến du lịch là nơi có nguồn tài nguyên du lịch - tài nguyên tự nhiên hoặc/và tài nguyên nhân văn mà du khách tìm đến để thỏa mãn các nhu cầu của họ trong khi đi du lịch Quy mô của một điểm đến du lịch phụ thuộc vào “địa giới hành chính được luật pháp công nhận hay có đường biên nằm trong nhận thức của mọi người’’ nên rất đa dạng, có thể là một khu vực có địa giới hành chính rõ ràng hay một vùng văn hóa Nếu phân cấp theo địa giới hành chính, điểm đến du lịch có thể là một khu vực gồm nhiều quốc gia, một quốc gia, một khu vực trong một quốc gia, (có thể là một vùng có địa giới hành chính như một bang hay một tỉnh), một thành phố, một thị trấn hay thậm chí là một địa điểm cụ thể

Tại Việt Nam, theo Luật Du lịch 2017: “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp ẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch” như vậy điểm đến du lịch phải là nơi có tài nguyên du lịch, có sức hấp dẫn khách du lịch [7]

Nhìn chung, do phần lớn các hoạt động du lịch diễn ra tại các điểm đến nên có thể miêu tả điểm đến như là nơi có sự kết hợp các yếu tố vật chất và tinh thần, nhằm cung cấp do du khách khi lưu trú (tạm thời tại một điểm du lịch của địa phương) để tham gia vào các hoạt động và giao tiếp liên quan đến du lịch

1.3.1.2 Đặc điểm của điểm đến du lịch

Điểm đến du lịch chứa đựng rất nhiều yếu tố tác động đến nhu cầu du lịch của

du khách Theo UNWTO trong cuốn Practical Guide to Tourism Destination

Management, nhìn chung, một điểm đến du lịch sẽ có những đặc điểm sau:

- Tính hấp dẫn và thu hút khách du lịch: Một điểm đến du lịch sẽ chỉ thu hút được du

khách khi nó có tính hấp dẫn Tính hấp dẫn này được quyết định chủ yếu dựa trên nguồn tài nguyên du lịch (tự nhiên và văn hóa) của điểm đến Trong khi, một điểm đến

Trang 23

du lịch bất kỳ chắc chắn đều có tài nguyên du lịch để có thể được khai thác và phục vụ cho hoạt động du lịch Do đó, tính hấp dẫn và thu hút khách du lịch là yếu tố đặc trưng

đầu tiên của một điểm đến du lịch

- Tính đa dạng: Nhu cầu của du khách khi đi du lịch tại điểm đến là rất đa dạng Chính điều này làm nên tính đa dạng của điểm đến Tính đa dạng này được thể hiện trong sự phong phú của các hoạt động du lịch cũng như trong sự đa dạng của các sản phẩm, dịch vụ cung cấp tại điểm đến để thỏa mãn nhu cầu của du khách

- Tính đa mục đích sử dụng: Đặc tính này được thể hiện ở việc hệ thống cơ sở hạ tầng hay cơ sở vật chất phục vụ du lịch tại điểm đến du lịch không chỉ phục vụ khách du lịch mà còn đáp ứng, phục vụ nhu cầu của người dân địa phương với các nhu cầu và mục đích sử dụng khác nhau

- Tính bổ sung lẫn nhau: các yếu tố bao gồm trong các hoạt đông du lịch nhằm phục

vụ du khách và mang đến những trải nghiệm thú vị đến khách du lịch sẽ bổ sung, hỗ trợ cho nhau để đáp ứng nhu cầu du khách nhằm mang lại những trải nghiệm toàn diện

về điểm đến cho du khách trong quá trình lưu trú tại điểm đến

1.3.1.3 Các yếu tố hấp dẫn khách du lịch đến với điểm đến

Yếu tố hấp dẫn là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá tài nguyên du lịch và xây dựng hình ảnh của điểm đến du lịch

Theo các nhà nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố tạo nên tính hấp dẫn của điểm đến du lịch bao gồm: Các điểm tham quan du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và các tiện nghi phục vụ khách, khả năng khách du lịch tiếp cận điểm đến, Nguồn nhân lực phục vụ du lịch tại điểm đến du lịch, hình ảnh của điểm đến du lịch

- Các điểm tham quan du lịch

Điểm thăm quan du lịch là yếu tố cấu thành nên điểm đến du lịch, là nơi mà du khách có thể chiêm ngưỡng, tham quan các tác phẩm giá trị, hoặc là nơi trưng bày các giá trị văn hóa có ý nghĩa lịch sử Điểm tham quan du lịch là một yếu tố rất quan trọng

và ảnh hưởng trực tiếp đển mức độ hấp dẫn khách du lịch đến với điểm đến dù mang đặc điểm tự nhiên hay nhân tạo, hoặc là các sự kiện thì cũng đều gây ra động lực ban đầu cho sự thăm viếng của du khách và nó đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch của một đất nước nói chung và một địa phương nói riêng

Trang 24

- Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và các tiện nghi phục vụ khách

Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và các tiện nghi phục vụ khách du lịch là khả năng đáp ứng các nhu cầu cơ bản của khách du lịch, nó có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác các tài nguyên và phục vụ khách du lịch Để là điểm đến du lịch hấp dẫn cần có vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch một cách đồng bộ, đủ tiện nghi, đạt tiêu chuẩn quốc tế Ngoài ra còn có các cơ sở khác như mua sắm, rạp hát, rạp xiếc, các cơ sở về thể thao như sân bóng đá, sân golfs, sân tenis, bowling… và các cơ

sở chăm sóc sức khỏe như massage, tắm bùn, bể bơi nước khoáng Hay các các cơ sở phục vụ sinh hoạt như: mạng Internet, nơi đổi tiền, thanh toán bằng thẻ… Tất cả những vấn đề trên tạo cho khách một tâm lý thoải mái, nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng và tham gia vào các hoạt động tại điểm đến du lịch

- Khả năng khách du lịch tiếp cận điểm đến

Một điểm đến du lịch có thể có sức hấp dẫn đối với khách du lịch nhưng vẫn không thể khai thác được vì việc tiếp cận điểm đến đó hết sức khó khăn Vấn đề tiếp cận điểm đến du lịch thuận lợi phụ thuộc vào yếu tố:

- Khoảng cách giữa điểm đến du lịch và nguồn khách hay giữa điểm đi và điểm đến là một trong những yếu tố về khả năng tiếp cận Điều này chỉ thuận lợi khi có mạng lưới các phương tiện giao thông vận chuyển khách đa dạng, thuận tiện, dễ dàng, an toàn và nhanh chóng Đó là mạng lưới của các hãng hàng không, mạng lưới đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường biển

Đối với khách du lịch quốc tế, đó là việc đơn giản hóa các thủ tục từ thị thực xuất nhập cảnh đến các thủ tục hộ chiếu, hải quan tại các cửa khẩu quốc tế Tất cả những thủ tục hành chính này sẽ tạo ra những ấn tượng đầu tiên đối với khách và họ sẽ

có những cảm nhận về điểm đến du lịch

- Nguồn nhân lực phục vụ du lịch tại điểm đến du lịch

Nguồn nhân lực phục vụ du lịch tại điểm đến du lịch đóng một vai trò quyết định cho

sự phát triển Hoạt động du lịch chủ yếu là dịch vụ, dịch vụ phụ thuộc vào yếu tố con người không những trực tiếp phục vụ khách mà cả những người gián tiếp phục vụ cũng như cộng đồng dân cư tại điểm đến

Trang 25

Những người trực tiếp phục vụ khách, đó là nhân viên trong các doanh nghiệp

du lịch (doanh nghiệp lữ hành, khách sạn, nhà hàng, hướng dẫn viên du lịch, thuyết minh viên tại các điểm tham quan, các phương tiện phục vụ khách…) Họ là những người trực tiếp chịu trách nhiệm phục vụ khách từ lúc họ đến cho đến khi họ đi Ấn tượng của họ về sự phục vụ của các nhân viên là rất lớn, họ đòi hỏi một sự nhiệt tình với công việc và trách nhiệm của nhân viên đối với khách từ những công việc và hành động nhỏ nhất Nếu như nhân viên làm tốt sẽ tạo ra một ấn tượng sâu sắc cho khách và đây sẽ là một hình thức tuyên truyền và quảng cáo hiệu quả nhất

Những nhân viên trong các cơ sở như: bán hàng lưu niệm, các cơ sở dịch vụ vừa phục

vụ cộng đồng dân cư vừa phục vụ khách du lịch… Họ là những người gián tiếp phục

vụ khách du lịch, những hành động không tốt của họ như nói thách, bán hàng giả, lấy giá cao… sẽ đem lại một ấn tượng, cảm xúc không tốt không chỉ với họ mà cả điểm đến du lịch và địa phương, đất nước

Khách du lịch đến điểm đến du lịch sẽ tìm hiểu về phong tục tập quán, nếp sinh hoạt của cộng đồng dân cư Thái độ ứng xử của cộng đồng dân cư đối với khách du lịch là một trong những vấn đề tác động mạnh đến ấn tượng và cảm xúc của khách Một cộng đồng dân cư hiếu khách, tôn trọng khách, nhiệt tình với khách sẽ đem lại danh tiếng không chỉ cho địa phương mà cho cả điểm đến du lịch

- Hình ảnh của điểm đến du lịch

Mỗi một điểm đến du lịch cần có sự độc đáo, hấp dẫn và sự khác biệt với các điểm đến du lịch khác Có như vậy mới có thể cạnh tranh trong việc thu hút khách du lịch với các điểm đến du lịch khác Vì thế, mỗi điểm đến cần tìm ra sự độc đáo, điểm khác biệt của mình để tuyên truyền, quảng cáo và xây dựng hình ảnh của mình trong tâm trí mọi người

1.3.2 Marketing điểm đến du lịch

1.3.2.1 Khái niệm

Tuy đã xuất hiện trên thế giới từ khá lâu, nhưng trong vòng 10 năm trở lại đây,marketing điểm đến du lịch mới nhận được sự quan tâm của các chuyên gia marketingvà các nhà hoạch định – phát triển du lịch Việt Nam do sự chuyển hướng ngành

Trang 26

côngnghiệp mũi nhọn của quốc gia khiến cho du lịch ngày càng đóng vai trò quan trọngtrong nền kinh tế và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong nội bộ ngành du lịch

Để hiểu rõ khái niệm Marketing điểm đến du lịch, trước hết chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu khái niệm Marketing Khái niệm này đã được định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau bởi các học giả và các tổ chức khác nhau

Theo hiệp hội marketing Mỹ (American Marketing Association)- AMA:

“Marketing là quá trình tiến hành hoạch định và thực hiện sự sáng tạo, định giá, xúc tiến và phân phối những ý tưởng, hàng hóa và dịch vụ để tạo ra sự trao đổi và thỏa mãn những nhu cầu, mục tiêu của cá nhân, tổ chức, hay của toàn xã hội” Theo như khái niệm này, doanh nghiệp tập trung vào các hoạt động lập kế hoạch marketing, thực hiện chính sách phân phối và các địch vụ khách hàng nhằm mục đích đưa ra thị trường những sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng

Còn theo Philip Kotler, “cha đẻ” của marketing hiện đại đã đưa ra định nghĩa về marketing như sau: “Marketing là một quá trình quản trị và xã hội trong đó những cá nhân và tổ chức có được những gì họ cần và mong muốn nhờ việc tạo ra và trao đổi những sản phẩm hay giá trị với những cá nhân hay tổ chức khác” Định nghĩa của ông nhấn mạnh vào quá trình trao đổi Ông xác định rõ gốc rễ của marketing là nhu cầu, ước muốn của con người và nội dung cơ bản của marketing chính là sự trao đổi giá trị

Từ các khái niệm về Marketing, khái niệm Marketing điểm đến du lịch đã được phát triển bởi nhiều học giả và tổ chức khác nhau Tuy nhiên, tất cả đều thống nhất rằng Marketing điểm đến du lịch là một quá trình quản lý nhằm xây dựng mối quan hệ tích cực giữa điểm đến du lịch với thị trường khách du lịch thông qua việc dự báo và đáp ứng những nhu cầu của du khách đối với điểm đến

Trong lĩnh vực du lịch, marketing điểm đến du lịch bao gồm một loạt các hoạt động nhằm thu hút khách du lịch đến và tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ du lịch được cung cấp tại điểm đến đó Thông qua những hoạt động này, điểm đến tìm kiếm những thay đổi tích cực về mặt giá trị nhờ cung cấp các lợi ích cho khách du lịch hiện tại và khách du lịch tiềm năng, đồng thời làm lợi cho các thành phần khác tham gia vào hoạt động du lịch tại điểm đến Vì mục tiêu của marketing điểm đến du lịch là hướng tới sự thỏa mãn nhu cầu của du khách nên điểm đến phải tận dụng những lợi thế

Trang 27

cạnh tranh của nó để thiết lập một vị trí vững chắc trên thị trường Phát triển điểm đến

du lịch bền vững đòi hỏi sự đảm bảo các lợi ích cân bằng về tất cả các mặt kinh tế, xã hội, môi trường tại điểm đến du lịch

1.3.2.2 Vai trò của marketing điểm đến du lịch

- Đối với điểm đến

Trong bối cảnh thị trường du lịch ngày càng phát triển và đa dạng, các điểm đếndu lịch có xu hướng bị bão hòa và lu mờ, không có những điểm nhấn để phân biệt

và thu hút khách du lịch so với các đối thủ khác Cuộc cạnh tranh giành khách du lịchđang dần tập trung vào làm nổi bật linh hồn và bản sắc của điểm đến Do đó,marketing điểm đến du lịch trở thành công cụ quan trọng làm nổi bật những điểm khácbiệt, lợi thế cạnh tranh của một điểm đến, giúp khách hàng dễ dàng tiếp cận và đưa ralựa chọn Từ đó xây dựng nên bản sắc riêng, khiến khách hàng có thể dễ dàng nhậnbiết các sản phẩm du lịch của điểm đến đó

Marketing điểm đến du lịch không chỉ là cầu nối gắn kết, mối liện hệ đa dạng

và chặt chẽ giữa điểm đến và khách hàng tiềm năng, mà còn là công cụ đòi hỏi sự gắn kết giữa các đơn vị liên quan bao gồm toàn thể chính trị, kinh tế, văn hóa…các cơ sở

du lịch tư nhân, người dân và khách du lịch Do đó một chiến lược marketing điểm đến hiệu quảsẽ giúp tạo dựng sự chặt chẽ, đồng bộ trong hành động từ đó đẩy mạnh sự phát triểncủa điểm đến một cách bền vững

Ngoài ra, hoạt động marketing điểm đến du lịch có vai trò quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh điểm đến, giúp tạo điểm nhấn để thu hút nỗ lực của tất cả cácchủ thể hoạt động trong lĩnh vực du lịch như đại lý lữ hành, nhân viên khách sạn, nhânviên nhà hàng… bởi hình ảnh của họ chính là một phần hình ảnh điểm đến Nhờ vậy cácchủ thể sẽ cùng nhau tham gia vào hoạt động xúc tiến để truyền tải hình ảnh của điểmđến

du lịch thông qua nhiều kênh ở nhiều nơi và bất cứ lúc nào Do đó, việc thực hiện marketing điểm đến sẽ đemđến cho khách du lịch cái nhìn chính xác, khách quan, những hình ảnh thiện cảm, kíchthích mong muốn tìm hiểu và trải nghiệm, đồng thời hạn chế những hình ảnh sai lệch từ nhữngnguồn không chính thức về điểm đến Hiện nay, marketing điểm đến du lịch không những là công cụ hữu hiệu thu hút khách du lịch, mà còn là một cơ chế nhằm đạt được các mục tiêu phát triển tổng thểcủa

Trang 28

điểm đến như thu hút sự quan tâm đầu tư từ bên ngoài, thay đổi quan điểm, cách suy

nghĩ, của các chủ thể trong điểm đến, đồng bộ hành động hỗ trợ điểm đến pháttriển

hiệu quả

- Đối với khách du lịch

Trong thời đại hiện nay, khi giá trị của thời gian và sự tiện lợi ngày càng được

đềcao, khách hàng luôn có xu hướng chủ động tìm kiếm thông tin để đưa ra quyết

địnhmột cách sáng suốt Nhất là đối với thị trường du lịch, khi đưa ra quyết định cho

mộtkỳ nghỉ đồng nghĩa với việc khách hàng cần lựa chọn được một địa điểm phù hợp

vớinhu cầu nghỉ ngơi, thư giãn, giải trí của họ; phù hợp với khoản chi phí họ dự định

bỏra; và những điểm thú vị của điểm đến mà họ muốn khám phá Như vậy,

marketingđiểm đến sẽ cung cấp cho khách hàng một cái nhìn tổng quan về điểm đến,

giới thiệucho họ một cách khái quát về những đặc điểm nổi bật của điểm đến như văn

hóa,phong tục tập quán, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, tín ngưỡng, con người…

giúprút ngắn thời gian và công sức trong việc tìm kiếm thông tin, lựa chọn được điểm

đếnphù hợp nhất với mong muốn của mình.Bên cạnh đó, marketing điểm đến du lịch

là một công cụ cạnh tranh hữu hiệu,không chỉ nhằm phát triển thương hiệu, tăng độ

biết đến của địa điểm du lịch vớikhách hàng, nó còn giúp nâng cao, củng cố chất lượng

sản phẩm, dịch vụ du lịch tạichính điểm đến đó qua các chương trình tổng thể tác động

vào tất cả các đối tượngtrong ngành du lịch Như vậy, khách hàng sẽ là đối tượng

hưởng lợi từ các hoạt độngmarketing thông qua việc được tiếp xúc với những sản

phẩm, dịch vụ chất lượng caovới giá thành cạnh tranh.Và hơn bao giờ hết, việc lựa

chọn điểm đến du lịch ngày nay đã trở thành mộttrong những chỉ số quan trọng để

đánh giá lối sống của khách hàng tiềm năng Vì vậy,điểm du lịch cần có sức hấp dẫn

cao, thu hút được sự quan tâm sâu sắc của khách dulịch Tổ chức du lịch thế giới

(UNWTO) thậm chí còn cho rằng: “Thế kỷ tới sẽ đánhdấu sự nổi lên của các điểm đến

du lịch như một mặt hàng thời trang Sự lựa chọnđiểm đến du lịch sẽ giúp xác định đặc

điểm du khách và trong một thế giới tính đồngnhất ngày càng tăng, đặc trưng của một

du khách là một cơ sở để phân biệt anh ta vớidu khách khác” Như vậy, điểm đến du

lịch ngày nay không chỉ là một địa điểm nhằmthỏa mãn nhu cầu vui chơi, giải trí,

khám phá của khách hàng mà còn là một sản phẩmtạo ra phong cách, đẳng cấp của họ

Comment [H4]: Diễn giải rõ nội dung này

hơn

Trang 29

Xu hướng này càng khẳng định vị thế quan trọngcủa marketing điểm đến trong việc tạo nên đẳng cấp du lịch của điểm đến trong mắtkhách hàng

- Đối với doanh nghiệp du lịch

Khi ngành công nghiệp du lịch đang này càng phát triển và cạnh tranh lẫn nhaumột cách gay gắt, thì việc các doanh nghiệp du lịch hoạt động marketing đơn lẻ,

tự phátsẽ làm giảm mức độ hiệu quả của các chiến dịch marketing hơn rất nhiều Bên cạnh đó,việc tự thân vận động trên quá nhiều thị trường khiến các doanh nghiệp không thể tậptrung khai thác được hết các thể mạnh cũng như đặc điểm nổi trội, lợi thế cạnh tranh củađiểm đến Marketing điểm đến du lịch là một sự hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp.Tăng cường sự quảng bá, phát triển thương hiệu, củng cố hình ảnh của điểm đến, thu hútsự quan tâm của khách du lịch đến với điểm du lịch tạo tiền đề vững chắc cho các chiếnlược marketing, chăm sóc khách hàng cụ thể sau đó của doanh nghiệp.Thêm vào đó, marketing điểm đến còn là sự định hướng chủ chốt cho tất cả cácdoanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch trong việc thiết kế ra các sản phẩm marketingcủa mình từ đó tạo được sự đồng bộ, chuyển nghiệp, tiết kiệm chi phí đáng

kể cho cácdoanh nghiệp trong việc nỗ lực thu hút khách du lịch

1.3.2.3 Quy trình marketing điểm đến du lịch

Hoạt động marketing điểm đến được các tổ chức du lịch quốc gia và vùng thực hiện Hoạt động marketing du lịch hiệu quả phải tính đến nhiệm vụ của tổ chức cũng như các yếu tố thuộc môi trường bên trong và bên ngoài của tổ chức đó

Quy trình lập kế hoạch marketing cho điểm đến du lịch được phái sinh từ công thức marketing căn bản:[10,41]

Marketing = R + STP + Mm + I + E + C Trong đó: R (reseach): Nghiên cứu thị trường

S (segmentation): Phân đoạn thị trường

T (target market): Xác định thị trường mục tiêu

P (positioning): Định vị

M (marketing – mix): Hỗn hợp marketing

I (implementation): Thực hiện

E (evaluation): Đánh giá

Trang 30

C (control): Điều chỉnh

Quy trình lập kế hoạch marketing cho điểm đến du lịch sau đây được các tổ chức du lịch nhà nước và tư nhân trên phạm vi toàn cầu đón nhận và đã áp dụng thành công Mô hình này nhấn mạnh vào các nhiệm vụ quản lý chiến lược đối với một nhà quản lý du lịch điểm đến

Quy trình lập kế hoạch marketing cho điểm đến du lịch bao gồm các nội dung

- Phân tích thực trạng

Mục tiêu của quá trình phân tích thực trạng điểm đến là để việc xác định các cơ hội, thách thức, thế mạnh, điểm yếu và các vấn đề mà điểm đến đang phải đối mặt Tổ chức du lịch phải tiến hành phân tích tất cả các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài có thể tác động đến điểm đến cũng như rà soát toàn bộ nguồn lực bên trong của điểm đến Hoạt động này bao gồm cả việc đánh giá các tình huống marketing hiện tại, thông tin

về tất cả các thành phần thuộc môi trường vĩ mô, các xu hướng trên thị trường và các đối thủ cạnh tranh

- Xác định nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu và chiến lược cho điểm đến

Các mục tiêu và chỉ tiêu chung của tổ chức quản lý nhà nước về du lịch ở điểm đến thường chỉ ra các đích cụ thể như chi tiêu, thị phần, lượng khách, doanh thu và mức sinh lời Những mục tiêu dài hạn thường đặt ra trong một khoảng thời gian tương đối dài (có thể tới 20 năm, nhưng thông thường là từ 3-5 năm) Mục tiêu của các đơn

vị kinh doanh du lịch thường khác biệt hẳn so với mục tiêu của các tổ chức quản lý nhà nước về du lịch và nhìn chung có định hướng lợi nhuận rõ rệt

Trang 31

- Chiến lược marketing cho điểm đến

Chiến lược marketing cho điểm đến nhấn mạnh vào các chiến lược trong ngắn hạn và các chiến thuật có liên quan cần phải được thực hiện để đạt được mục tiêu của điểm đến Có thể là kế hoạch trong năm hay 1 - 2 năm, trong đó làm rõ các nội dung liên quan đến các mục tiêu lâu dài của tổ chức Chiến lược marketing ngắn hạn thường bao hàm chiến lược tiếp cận thị trường mục tiêu, chiến lược định vị, xây dựng thương hiệu và chiến lược hỗn hợp marketing

Trang 32

Quy trình lập kế hoạch marketing cho điểm đến du lịch

Hình 1.1 Sơ đồ quy trình marketing điểm đến du lịch [10,43]

Nguồn: Giáo trình Marketing điểm đến du lịch (ĐH Mở- khoa Du lịch)

Tầm nhìn của điểm đến

Phân tích thực trạng (SWOT)

Xác định tôn chỉ và chiến lược cho điểm đến

Chiến lược marketing cho điểm đến

1 Chiến lược tiếp cận thị trường mục tiêu

2 Chiến lược định vị

3 Chiến lược hỗn hợp marketing

4 Marketing mix strategy

Thực hiện

Đánh giá và điều chỉnh

Trang 33

có những chuyển biến và phát triển tích cực nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, quảng bá du lịch Việt Nam ra thị quốc tế Trong đó có thành phố Tuy hòa thuộc tỉnh Phú Yên là một trong những địa điểm vô cùng mới mẻ, giàu tiềm năng phát triển

du lịch trong khu vực Tuy nhiên, để bắt kịp xu thế phát triển của thời đại mới và phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng vốn có, đòi hỏi người dân cũng như các cấp chính quyền của thành phố Tuy Hòa phải nỗ lực đưa ra các chiến lược cũng như giải pháp nhằm giới thiệu, quảng bá hình ảnh của thành phố Trong chương 1 của khóa luận đề cập đến những nội dung, khái niệm cũng như vai trò hay quá trình của hoạt động marketing điểm đến du lịch Đây là những tiền đề lý lận quan trọng để phân tích

và đánh giá thực trạng thu hút khách du lịch đến với thành phố Tuy Hòa ở chương 2 và những kiến nghị giải pháp ở chương 3

Trang 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH TỊ THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN GIAI

Thành phố Tuy Hòa có bờ biển dài trên 30km, đây là một bãi ngang trải dài với bãi cát trắng thơ mộng Với thế mạnh về tự nhiên cùng nhiều danh lam thắng cảnh nằm trong và lân cận địa bàn thành phố như Tháp Nhạn, núi Chóp Chài, bãi biển Long Thủy, đầm Ô Loan, gành Đá Đĩa… Các khu du lịch cao cấp, khu đô thị mới nằm ở các cửa ngõ thành phố như khu du lịch Đồi Thơm (phía Bắc), Khách sạn CenDeluxe và khu du lịch sinh thái Thuận Thảo (phía Tây), khu đô thị mới Nam sông Đà Rằng (phía Nam), đã giúp cho du lịch Tuy Hòa ngày một phát triển với nhiều dịch vụ hấp dẫn Các ngành kinh tế chính của thành phố Tuy Hòa gồm công nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu, dịch vu cảng biển, nuôi và khai thác thủy hải sản, du lịch

Về khí hậu, thành phố Tuy Hòa có 2 mà rõ rệt: mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, nhiệt độ trung bình hàng năm là 26,5 độ

Thành phố biển Tuy Hòa thuộc khu vực duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam và là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, khoa học kĩ thuật và du lịch của tỉnh Phú Yên Với địa thế tuyệt đẹp, giàu truyền thống văn hóa, người dân thân thiện, Thành phố Tuy Hòa được đánh giá là vùng đất có nhiều tiềm năng, lợi thế cho phát triển và thu hút khách du lịch

Trang 35

2.1.2 Tiềm năng phát triển du lịch

2.1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu,

hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đich phát triển

du lịch

- Địa hình

Địa hình thành phố tương đối bằng phẳng, nơi đây địa hình chủ yếu là đồng

bằng phù sa do hạ lưu sông Ba bồi đắp, một số núi thấp tập trung ở xã Hòa kiến, còn ở

vùng châu thổ đồng bằng có núi Nhạn và núi Chóp Chài nằm ngay trung tâm, cùng với

sông Ba lững lờ chảy ra biển Đông tạo cho thành phố có một nét đẹp riêng

- Khí hậu

Với vị thếgần biển và tiếp giáp với đồng bằng, khí hậu thành phố Tuy Hòa nằm

trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhưng vừa có nét riêng là khí hậu trung bình thấp hơn

các nơi Mỗi năm chia làm hai mùa, mùa nắng bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 9 và mùa

mưa bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau Mùa nắng chịu ảnh hưởng gió tây nam,

còn gọi là gió Lào, mùa mưa chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc từ biển thổi vào

- Cảnh quan thiên nhiên

Thành phố Tuy Hòa được biết đến là thành phố biển xinh đẹp, hiền hòa Tài

nguyên du lịch tự nhiên ở đây chủ yếu là nguồn tài nguyên biển.Phía đông của thành

phố hoàn toàn tiếp giáp biển, bờ biển dài, khuc khuỷu, có nhiều dải núi dai ăn ra biển

hình thành các ro vịnh, đầm phá, tạo nên thành phố biển Tuy Hòa hoang sơ tuyệt đẹp

+ Tài nguyên du lịch biển đảo- Bãi biển Tuy Hòa

Vị trí : nằm ngay trung tâm thành phố và gần kề quốc lộ 1A

Đặc điểm tài nguyên: Bờ biển trải dài hơn 10km, với những trảng cát lớn dãi

dầu nắng nóng mưa sa Đây là một bãi ngang hứng trọn bao mùa gió cùng vị mặn biển

khơi thổi vào Dọc bãi biển Tuy Hòa là rừng dương xanh mát ngút ngàn, như tô điểm

thêm cho vẻ đẹp còn đậm nét hoang sơ của bờ biển rì rào sóng vỗ

Khả năng khai thác: phát triển sản phẩm đu lịch biển cấp quốc gia

Comment [H5]: Các ND trong mục này làm

rõ theo đúng thứ tự các thành phần của tài nguyên du lịch tự nhiên đã được kể trên đây, bao gồm: địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, sinh vật, thủy văn…

(Xem them trong Tài liệu Tổng quan du lịch

để tránh bỏ sót việc kiểm đếm tài nguyên) >> DONE

Trang 36

+ Bãi biển Long Thủy

Vị trí: thuộc xã An Phú, cách trung tâm thành phố Tuy Hòa khoảng 12 km về

phía Bắc, gần kề quốc lộ 1A

Đặc điểm tài nguyên: bãi biển Long Thủy từ lâu được xem là bãi biển đẹp nổi

tiếng của Phú Yên, có bờ biển phẳng, cát trắng mịn và sạch Bên cạnh bxi tắm là rừng

dừa xanh mát Nước biển trong xanh, lặng sóng tạo thành bãi tắm lỹ tưởng, hấp dẫn

khách du lịch trong và ngoài nước Từ đây, du khách có thể đu thuyền ra thăm các đảo

như: Hòn Chùa, Hòn Than, Hòn Dứa, nơi có sự phát triển phong phú của các loài sinh

vật biển, thích hợp cho du lịch lặn biển

Khả năng khai thác: phát triển sản phẩm đu lịch biển, đảo cấp quốc gia

- Tài nguyên du lịch sông, núi

+ Sông Đà Rằng

Sông Đà Rằnghay còn gọi là sông Ba, là con sông lớn nhất vùng ven biển

miền Trung, chảy qua 4 tỉnh miền Trung Việt Nam là Kon Tum, Gia Lai, Đắc

Lắc và Phú Yên Sông Ba cung cấp nước quanh năm cho đồng bằng Tuy Hòa, với

diện tích hơn 20.000 ha, vựa lúa lớn nhất Duyên hải Nam Trung Bộ Dọc theo sông

Ba có nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sửm, thu hút khách du lịch trong và

ngoài nước

+ Núi Chóp Chài

Núi Chóp Chài là một biểu tượng khác của Phú Yên ngoài núi Nhạn, sông

Đà… Núi Chóp Chài cách trung tâm thành phố Tuy Hòa khoảng 4Km Núi Chóp

Chài cao khoản 391m, có hình dáng như một kim tự tháp khổng lồ nằm giữa cánh

đồng ngoài thành phố Tuy Hòa Đường lên núi tuy ngắn nhưng dốc và khó đi Vào

những tháng cuối năm, có những cơn mưa phùn và mây phủ lên ngọn núi, tạo những

màn sương trắng lơ lững trên núi như chốn tiên cảnh Từ đây có thể nhìn một cách

toàn cảnh thành phố Tuy Hòa

2.1.2.2 Tài nguyên du lịch văn hóa

- Di tích lịch sử- văn hóa

+Núi Nhạn

Comment [H6]: TNDL Văn hóa bao gồm

các thành phần như: di tích lịch sử, văn hóa; công trình, kiến trúc; phong tục tập quán, lễ hội, các yếu tố gắn với dân tộc học… (Xem them tài liệu TNDL văn hóa để liệt kê cho đủ) >>> DONE

Trang 37

Núi Nhạn là một cảnh quan đẹp của thành phố Tuy Hòa bên bở sông Đà Rằng Trên đỉnh núi Nhạn có ngôi tháp Chăm cổ kính, có tên là tháp Nhạn, được xây dựng vào khoảng cuối thế kỉ 11 Đây là một trong những ngôi tháp vào loại lớn nhất của người chăm Tháp có cấu trúc bình đồ vuông, mỗi cạnh 10m, chiều cao 23,5m, gồm 3 phần chính: đế, thân và mái Cửa tháp quay về hướng Đông Đứng trên núi Nhạn có thể nhìn bao quát một vùng non nước Phú Yên vớ câu Đà Rằng, với làng hoa Bình Ngọc, thành phố Tuy Hòa, biển Đông

Ngày 16/11/1988, Bộ Văn hóa thông tin (nay là bộ Văn hóa thể thao và du lịch) quyết định công nhận Tháp Nhạn- Núi Nhạn là di tích kiến trúc- nghệ thuật cấp quốc gia

+ Địa điểm quản thúc và giải thoát Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, xã Bình Kiến

Di tích lịch sử địa điểm quản thúc và giải thoát luật sư Nguyễn Hữu Thọ nói riêng và những địa điểm gắn với quá trình hoạt động của luật sư Nguyễn Hữu Thọ trong thời gian bị địch quản thúc tại Phú Yên (giai đoạn 1955-1961) nói chung đã trở thành những di tích ghi đậm dấu ấn lịch sử, minh chứng cho quãng thời gian hoạt động cách mạng đầy gian nguy, thử thách của luật sư dưới sự theo dõi, kiểm soát nghiêm ngặt của chính quyền Sài Gòn Cuộc giải thoát Luật sư Nguyễn Hữu Thọ với mật danh

"Chị Nghĩa" vào ngày 30/10/1961 tại địa điểm mộ bà Dũ Ký, dưới chân núi Chóp Chài, thôn Liên Trì 1, xã Bình Kiến, thành phố Tuy Hòa trở thành một trong những mốc son trong bản hùng ca chống Mỹ của quân và dân thành phố Tuy Hòa nói riêng, tỉnh Phú Yên nói chung

Với những ý nghĩa lịch sử quan trọng đó, Địa điểm giải thoát luật sư Nguyễn Hữu Thọ (Mộ bà Dũ Ký, Thôn Liên Trì 1, xã Bình Kiến, thành phố Tuy Hòa) được xếp hạng di tích cấp tỉnh theo Quyết định số 799/QĐ-UBND, ngày 18/5/2011 của UBND tỉnh Phú Yên

+ Di tích Chùa Khánh Sơn, Phường 9

Chùa Khánh Sơn tọa lạc về hướng Nam núi Chóp Chài, thuộc khu phố Thanh Đức, Phường 9, thành phố Tuy Hòa Khuôn viên chùa có tổng diện tích 21.955m2

, do

Tổ khai sơn Toàn Đức, hiệu Thiệu Long, thuộc phái Lâm Tế đời thứ 37 sáng lập vào năm 1802 Năm 1945, Chùa Khánh Sơn được Tỉnh ủy Phú Yên chọn làm địa điểm tập

Trang 38

hợp lực lượng để chuẩn bị Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám Đây cũng là nơi đồng chí Nguyễn Côn – nguyên Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên chọn làm địa điểm mở các lớp học tập lý luận chính trị và là địa điểm dừng chân của các đồng chí lãnh đạo ở Nam kỳ, khu VI khi đến Phú Yên

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, chùa Khánh Sơn là căn cứ cách mạng của Thị ủy Tuy Hòa, nơi tổ chức hội họp, bàn kế hoạch chống Mỹ cứu nước Là địa điểm lực lượng đặc công ẩn nấp chuẩn bị giải thoát Luật sư – Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ vào năm 1960 Tỉnh ủy Phú Yên cũng chọn chùa Khánh Sơn làm địa điểm tổ chức họp mặt cán bộ các huyện Sông Cầu, Tuy An, Tuy Hòa và đã xây dựng nơi đây thành nơi đón tiếp các đồng chí cấp trên về chỉ đạo phong trào đấu tranh chống Mỹ cứu nước như: Trương Quang Giao, Trần Công, Nguyễn Sỹ

Với bề dày lịch sử lâu đời, chùa Khánh Sơn là một trong những ngôi chùa cổ có

ý nghĩa quan trọng trong việc việc nghiên cứu quá trình phát triển của Phật giáo trên đất Phú Yên Ngày 18/5/2011, UBND tỉnh Phú Yên xếp hạng chùa Khánh Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh

+ Di tích Đình Ngọc Lãng, xã Bình Ngọc:

Làng Ngọc Lãng xưa được hình thành trên những bãi bồi nằm ở phía bắc cửa sông Đà Rằng và một số vùng phụ cận Ban đầu làng có tên là Nguyệt Tiên Đông, Nguyệt Lãng và về sau đổi tên thành Ngọc Lãng với ý nghĩa là viên ngọc sáng Đình Ngọc Lãng nằm trong khuôn viên rộng khoảng 3.000m2, xung quanh là ruộng vườn và cộng đồng dân cư Đình quay mặt về hướng Nam, trước mặt có sông Đà Rằng, xa hơn

có núi Đá Bia như bức bình phong che chắn

Hiện tại, đình Ngọc Lãng còn lưu giữ một số tư liệu Hán - Nôm bao gồm một chiếu chỉ có từ đời vua Thiệu Trị, sáu sắc phong của các vua Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân, Khải Định Nội dung của tờ chiếu chỉ và các sắc phong có liên quan đến Thành hoàng làng và thần Bạch Mã

Với những giá trị lịch sử - văn hóa tiêu biểu gắn với quá trình hình thành các cộng đồng dân cư trên khu vực đồng bằng hạ lưu sông Ba, Đình Ngọc Lãng được UBND tỉnh Phú Yên xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh vào ngày 02/4/2013 + Di tích Đình Phú Câu, Phường 6:

Trang 39

Theo Địa bạ triều Nguyễn, vùng đất Phú Câu xưa là thôn Phường Câu, đến năm

1832 được đổi tên thành Phú Câu, thuộc tổng Hòa Bình, huyện Tuy Hòa Trải qua thời gian và nhiều lần thay đổi về địa giới hành chính, địa danh Phú Câu nay thuộc Phường

Đình Phú Câu hiện nay một năm có hai ngày cúng tế lớn đó là Xuân kỳ và Thu

tế Ngoài ra còn có các hoạt động cúng tế quy mô nhỏ hơn vào ngày vía bà, dịp đầu xuân và đêm giao thừa Đặc biệt, Đình Phú Câu là địa điểm bảo tồn và thực hiện các nghi thức của Lễ hội Cầu Ngư – di sản văn hóa phi vật thể có vị trí quan trọng trong tâm thức của cư dân vạn chài

Di tích đình Phú Câu có ý nghĩa rất lớn về mặt lịch sử - văn hóa, là cơ sở quan trọng phục vụ nghiên cứu về vị trí, vai trò của đình làng trong xã hội xưa và nay Chính từ những giá trị đặc biệt quan trọng đó, ngày 31/12/2014, UBND tỉnh Phú Yên

đã ban hành Quyết định số 2234/QĐ-UBND xếp hạng đình Phú Câu, Phường 6, thành phố Tuy Hòa là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh

+ Di tích khảo cổ Tháp Chăm Đông Tác, phường Phú Thạnh:

Trang 40

Di tích khảo cổ tháp Chăm Đông Tác nằm cách trung tâm thành phố Tuy Hòa khoảng 03km về hướng Nam, được nhân dân trong vùng gọi là cồn gạch Gò Chùa Còn các nhà nghiên cứu gọi di tích này là phế tích Tháp Chăm Đông Tác Theo lời kể của các bậc cao niên, tháp Chăm Đông Tác đã bị đổ từ rất lâu nhưng cách đây vài chục năm, di tích này vẫn còn cao khoảng 10 đến 12 mét, xung quang được bao bọc bởi cây

cổ thụ và các cụm cây bụi um tùm Qua thời gian, tháp bị bào mòn, nhân dân trong vùng lấy gạch, cát để làm đường đi ra đồng ruộng và đường đi vào trong làng Theo trục Bắc – Nam, tháp Chăm Đông Tác nằm trên Gò Chùa, một khu vực khá bằng phẳng cao khoảng 20m ở phía Nam sông Đà Rằng Tuy chỉ còn ở dạng phế tích nhưng ngôi tháp này là di sản văn hóa vật thể quan trọng đối với các nhà khoa học khi nghiên cứu về văn hóa Chămpa trên vùng đất Phú Yên Theo Tiến sĩ Ngô Đăng Doanh, tháp Chăm Đông Tác có các số đo gần giống với tháp Chăm ở Núi Bà (xã Hòa Phong,

huyện Tây Hòa), gạch có hai loại là 40x20x08 và 38,5x19x06, tường dày 2,3m và

trong lòng tháp rộng 7,8m Khi so sánh, gạch để xây dựng tháp Chăm Đông Tác không những giống với loại gạch dùng để xây dựng tháp Chăm ở Núi Bà mà còn giống với loại gạch dùng để xây dựng di tích Thành Hồ, Tháp Nhạn Từ đó có thể đi đến kết luận, tháp Chăm Đông Tác có niên đại xây dựng khoảng thế kỷ XII sau Công nguyên Với ý nghĩa quan trọng về giá trị nghệ thuật kiến trúc và khảo cổ, Tháp Chăm Đông Tác được UBND tỉnh Phú Yên xếp hạng di tích cấp tỉnh theo Quyết định số 784/QĐ-UBND ngày 18/5/2011

- Công trình, kiến trúc

+ Đài tưởng niệm núi Nhạn

Đài tưởng niệm Núi Nhạn là một công trình độc đáo thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố hiện đại và nghệ thuật kiến trúc truyền thống Ban đầu, công trình được tỉnh Phú Khánh đầu tư xây dựng từ năm 1983 theo thiết kế của nhóm tác giả do Kiến trúc sư Tô Định đứng đầu, gồm bảo tàng trưng bày ở bên dưới, phần trên là tháp đài cao 30 mét Tựa lưng vào tháp đài là cụm tượng người mẹ Phú Yên anh hùng cầm bó đuốc, bên phải mẹ là anh bộ đội cầm súng xông lên, bên trái là bé trai cắp sách đến trường Hướng chính của công trình là Tây Nam, nhìn về cánh đồng lúa Tuy Hoà bao

la, xa xa là rừng núi trùng điệp - cái nôi của phong trào cách mạng Phú Yên qua hai cuộc kháng chiến

Ngày đăng: 18/11/2020, 23:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w