NDT: Đồng Nhân Dân Tệ NHNN: Ngân hàng Nhà nước NHTM: Nhân hàng thương mại NHTW: Ngân hàng trung ương OBOR : Kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường” ODA: Nguồn vốn viện trợ ODA ODI: Nguồn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ HỒNG DUYÊN
TÁC ĐỘNG KẾ HOẠCH
“MỘT VÀNH ĐAI, MỘT CON ĐƯỜNG”
VÀ CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI MỸ-TRUNG
ĐẾN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ HỒNG DUYÊN
TÁC ĐỘNG KẾ HOẠCH
“MỘT VÀNH ĐAI, MỘT CON ĐƯỜNG”
VÀ CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI MỸ-TRUNG
Trang 3Tôi xin cam đoan đề tài “Tác động kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường”
và chiến tranh thương mại Mỹ-Trung đến Việt Nam” là công trình nghiên cứu do
chính tôi thực hiện, được hướng dẫn tận tình từ Thầy PGS.TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo Các số liệu và nội dung trong Luận văn Thạc sĩ này là trung thực và các trích dẫn được ghi rõ nguồn gốc Kết quả của Luận văn Thạc sĩ chưa từng được công bố trong bất kỳ
nghiên cứu khoa học nào
Tác giả
NGUYỄN THỊ HỒNG DUYÊN
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TÓM TẮT- ABSTRACT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Kết cấu đề tài 2
CHƯƠNG 2: KẾ HOẠCH “MỘT VÀNH ĐAI, MỘT CON ĐƯỜNG” 4
2.1 Kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường” 4
2.1.1 Con đường Tơ lụa 4
2.1.2 Kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường” 5
2.1.3 Chiến lược bành trướng toàn cầu 6
2.2 Giấc Mộng Trung Hoa 6
2.3 Nội dung chính của kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường” 7
2.3.1 Ưu tiên về kết nối cơ sở hạ tầng 8
2.3.2 Về thương mại 9
2.3.2.1 Thúc đẩy hoạt động thương mại với các nước nằm trên đường vành đai 10
2.3.2.2 Phát triển đầu tư gắn liền với thương mại 10
2.3.3 Thiết lập thị trường tài chính 12
2.3.3.1 Triển khai hợp tác tài chính 12
2.3.3.2 Sự quốc tế hóa đồng Nhân Dân Tệ 13
2.4 Con đường tơ lụa- Yếu điểm của các nền kinh tế mới nổi 15
2.4.1 Bẫy nợ Trung Quốc 15
2.4.2 Bẫy tiêu chuẩn áp đặt lên các nước 17
2.4.3 Sự phụ thuộc của các nước vào nền kinh tế Trung Quốc 19
Trang 52.5.2 Về hoạt động đầu tư thương mại 21
2.5.3 Về thể chế tài chính 21
2.6 Việt Nam trong chiến lược OBOR 22
2.6.1 Vai trò của Việt Nam trong kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường” 22
2.6.2 Về kết nối cơ sở hạ tầng 23
2.6.3 Về thương mại 24
2.6.4 Về tài chính 25
CHƯƠNG 3: CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI MỸ-TRUNG 27
3.1 Chiến tranh thương mại 27
3.1.1 Nguồn gốc chiến tranh thương mại 28
3.1.1.1 Kế hoạch cũa Mỹ để đối phó với kế hoạch “ Một Vành Đai, Một Con Đường” 28
3.1.1.2 Thương chiến Mỹ Trung – Sự kìm hãm nền kinh tế Trung Quốc của Mỹ 29
3.1.2 Diễn biến 30
3.2 Ảnh hưởng của chiến tranh thương mại đến nền kinh tế Trung Quốc 31
3.2.1 Về thương mại 31
3.2.1.1 Sự suy giảm của thương mại trong ngắn hạn 31
3.2.1.2 Dịch chuyển thương mại Trung Quốc trong dài hạn 32
3.2.2 Về đầu tư 33
3.2.2.1 Tháo chạy vốn và bài toán nợ công của Trung Quốc trong bối cảnh chiến tranh thương mại
33
3.2.2.2 Thị trường chứng khoán Trung Quốc lao đao trong bối cảnh chiến tranh thương mại
35
3.2.2.3 Tháo chạy vốn, giảm tỷ giá và ảnh hưởng đến kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường”
35
CHƯƠNG 4: ẢNH HƯỞNG CỦA CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 37
4.1 Những đặc trưng của nền kinh tế trong chiến tranh thương mại 37
4.1.1 Độ mở của nền kinh tế Việt Nam 37
4.1.2 Độ nhạy cảm của thương mại Việt Nam trong chiến tranh 37
4.1.3 Dịch chuyển dòng vốn quốc tế đến thị trường Việt Nam trong bối cảnh chiến tranh thương mại 40
Trang 642
4.2 Điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng Nhà nước trong diễn biến của chiến tranh thương mại 43
4.2.1 Tỷ giá năm 2018-2019 43
4.2.2 Lãi suất liên ngân hàng 2018-2019 45
4.3 Diễn biến khó lường và dự báo ảnh hưởng của thương chiến Mỹ - Trung 47
4.3.1 Triển vọng kết thúc chiến tranh thương mại 47
4.3.2 Kịch bản thương chiến leo thang và những tác động đến nền kinh tế Thế giới 49
4.3.2.1 Chiến tranh thương mại leo thang và ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu 49
4.3.2.2 Nguy cơ chiến tranh tiền tệ và chiến tranh kinh tế trên phạm vi toàn cầu 50
4.3.3 Tác động đến nền kinh tế Việt Nam 52
4.3.3.1 Xét về góc độ thương mại 52
4.3.3.2 Xét về góc độ đầu tư 54
5.1 Việt Nam đối với kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường” 57
5.2 Việt Nam trong chiến tranh thương mại Mỹ - Trung 58
5.3 Kết luận 59 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7ACFTA: Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN - Trung Quốc
AHKFTA: Hiệp định thương mại ASEAN - Hồng Kông
AIIB: Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng châu Á
APFTA: Hiệp định thương mại tự do châu Á - Thái Bình Dương
ARF: Diễn đàn khu vực ASEAN
ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CBEZ: Khu hợp tác kinh tế qua biên giới
CDB: Ngân hàng Phát triển Trung Quốc
CIPM: Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển Cơ sở hạ tầng Cửu Long CNY: Tỷ giá Đồng Nhân Dân Tệ
CPTPP : Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CSHT: Cơ sở hạ tầng
CHEXIM: Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc
EU : Khối liên minh Châu Âu
EVFTA: Hiệp định thương mại Việt Nam - EU
FDI : Dòng vốn đầu tư trực tiếp
FED : Cục liên bang Hoa Kỳ
FII: Dòng vốn đầu tư gián tiếp
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
HIPC: Tập hợp các nước nghèo có nợ cao
ICBC: Ngân hàng công thương Trung Quốc
IDFC: Tập đoàn Tài chính Phát triển Quốc tế
IMF : Quỹ tiền tệ quốc tế
KRW: Tỷ giá đồng Won Hàn Quốc
MOF: Bộ ngoại giao Trung Quốc
MOFCOM: Bộ thương mại Trung Quốc
Trang 8NDT: Đồng Nhân Dân Tệ
NHNN: Ngân hàng Nhà nước
NHTM: Nhân hàng thương mại
NHTW: Ngân hàng trung ương
OBOR : Kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường” ODA: Nguồn vốn viện trợ ODA
ODI: Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ODI
OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
PBoC: Ngân hàng nhà nước Trung Quốc
RCEP: Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực SBEZ: Đặc khu kinh tế biên giới
SBV: Ngân hàng nhà nước Việt Nam
SEZ: Đặc khu kinh tế
SGD: Tỷ giá đồng Singapore
SRF: Qũy con đường tơ lụa
TNHH: Công ty trách nhiệm hữu hạn
TOCB: Sáng kiến “Hai vành đại, Một con đường”
TPP: Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
WTO: Tổ chức thương mại Thế giới
ZTE: Tập đoàn viễn thông Trung Hưng (Trung Quốc)
Trang 9Bài Luận văn nghiên cứu và trình bày về những tác động của kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường” và ảnh hưởng của chiến tranh thương mại Mỹ -Trung đến nền kinh tế Việt Nam Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính với kỹ thuật thu thập, phân tích dữ liệu từ các nguồn báo chí trên internet, các bài nghiên cứu, thảo luận xoay quanh vấn đề kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường” và chiến tranh thương mại Mỹ- Trung
Bài nghiên cứu cho thấy Việt Nam có vai trò quan trọng trong kế hoạch OBOR cả
về khía cạnh vị trí địa lý lẫn sự hợp tác kinh tế song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc từ trước tới nay Kế hoạch OBOR ở Việt Nam đang được triển khai trên cả ba mặt trận: Cơ sở hạ tầng, đầu tư thương mại và tài chính
Thương chiến Mỹ - Trung trong thời gian qua cũng tác động đáng kể đến nền kinh
tế Việt Nam cả về thương mại, đầu tư và sự ổn định kinh tế vĩ mô Thương chiến dự báo còn diễn biến kéo dài, do đó để tránh những thiệt hại trong “Khói lửa chiến tranh” thì đòi hỏi Nhà Nước cần lường trước các tác động và có các chính sách can thiệp rõ ràng, giúp tăng niềm tin với giới đầu tư vào thị trường Việt Nam cũng như để khuyến khích các doanh nghiệp trong nước phát triển, ứng phó tốt với những diễn biến khó lường của thương chiến
Kết quả nghiên cứu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà chính sách, quản trị có các giải pháp, chiến lược phù hợp hơn cho nền kinh tế Việt Nam dưới tác động của kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường” và chiến tranh thương mại Mỹ- Trung
Từ khóa: Chiến tranh thương mại Mỹ- Trung, Một Vành Đai, Một Con Đường
Trang 10The thesis researches and presents the impacts of the "One Belt, One Road" initiative and the impact of the US-China Trade War on the Vietnamese economy The paper uses qualitative methods with techniques of collecting, analyzing data from internet press sources, research papers, discussions around the strategic issue of "One Belt, One Road" and the US-China Trade War
The study showed that Vietnam has an important role in the OBOR initiative in terms of both geographical location and bilateral economic cooperation between Vietnam and China The implementation of OBOR in Vietnam is being implemented on all three fronts: Infrastructure, commercial and financial investment
The US-China trade war in recent years has also significantly affected the Vietnamese economy in terms of trade, investment and macroeconomic stability Trade war is forecasted to continue for a long time, so to avoid damages in "Smoke of war" requires the State to anticipate the impacts and have clear intervention policies, helping to increase trust with investors in Vietnam market as well as to encourage domestic enterprises to develop, respond well to unpredictable developments of the War
The research results will create favorable conditions for policy-makers and administrators to have more appropriate solutions and strategies for the Vietnamese economy under the impact of the "One Belt, One Road" Initiative and US-China trade war
Keywords: US-China trade war, A Belt, A Road.
Trang 11CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài
Kế hoạch "Một Vành Đai, Một Con Đường" (OBOR) của Trung Quốc là một
"dự án tham vọng nhất Thế giới", nhằm định hình lại kinh tế toàn cầu trong thế kỷ
21 bằng việc kết nối các nền kinh tế Á - Âu - Phi thông qua một mạng lưới giao thông và cơ sở hạ tầng mạnh mẽ chưa từng có Theo ước tính của một số nhà phân tích, với chi phí khoảng 1.000 tỷ USD, OBOR đã trở thành một trong những chương trình phát triển kinh tế lớn nhất trong lịch sử Thế giới, vượt xa Kế hoạch Marshall (nhằm tái thiết châu Âu sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai) của Mỹ
Mặc dù kế hoạch đầy tham vọng này đã được bắt đầu triển khai từ sớm vào năm 2013 nhưng thực sự nó vẫn chưa nhận được nhiều sự chú ý bởi các nhà nghiên cứu Riêng đối với Việt Nam, sự quan trọng của chiến lược nằm ở chỗ nó ảnh hưởng trực tiếp trên tất cả các phương diện từ kinh tế, chính trị, quốc phòng và ngoại giao Vậy Việt Nam có vai trò và chịu tác động thế nào trong kế hoạch OBOR?
Ngoài ra, gần đây cuộc chiến tranh thương mại Mỹ- Trung đang trở nên nóng dần lên như là một hệ quả của kế hoạch khi mà Mỹ đang muốn kìm hãm sức mạnh của nền kinh tế Trung Quốc để hạn chế nguồn lực trong việc triển khai OBOR Cuộc chiến này không chỉ đơn thuần tác động đến nền kinh tế Trung Quốc hay Mỹ
mà còn mang đến nhiều hệ lụy cho nền kinh tế Thế giới, đặc biệt Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng trực tiếp Vậy tác động của thương chiến Mỹ- Trung đến việc triển khai OBOR ra sao và Việt Nam chịu ảnh hưởng như thế nào từ cuộc chiến này?
Từ những câu hỏi trên, tác giả đã thực hiện một bài Luận văn nghiên cứu
“Tác động kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường” và chiến tranh thương
mại Mỹ-Trung đến Việt Nam” Với mong muốn bài nghiên cứu này có thể trả lời
được phần nào những vấn đề xoay quanh OBOR, chiến tranh thương mại Mỹ- Trung và đóng góp thêm vào việc tìm hiểu và nghiên cứu, không chỉ riêng đối với
Trang 12các chuyên gia kinh tế, các nhà nghiên cứu, mà còn đối với cả các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam và trên Thế giới
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Bài Luận văn trình bày về những tác động của kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường” và ảnh hưởng của chiến tranh thương mại Mỹ- Trung đến nền kinh tế Việt Nam Kết quả nghiên cứu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà chính sách, quản trị có các giải pháp, chiến lược phù hợp hơn cho nền kinh tế Việt Nam dưới tác động của kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường” và chiến tranh thương
mại Mỹ- Trung
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bài Luận văn phân tích và trình bày những biến chuyển của nền kinh tế Trung Quốc và đặc biệt là nền kinh tế Việt Nam dưới tác động của kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường” và ảnh hưởng của Chiến tranh thương mại Mỹ- Trung
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Bài Luận văn sử dụng phương pháp định tính với kỹ thuật thu thập, phân tích
dữ liệu từ các nguồn báo chí trên internet, các bài nghiên cứu, thảo luận xoay quanh chủ đề kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường” và chiến tranh thương mại Mỹ- Trung
1.5 Kết cấu đề tài
Bài Luận văn này gồm 5 chương:
Chương 1, trong chương này tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Chương 2, trong chương này tác giả giới thiệu về kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường”, nguồn gốc và ba nội dung chính của kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường” là ưu tiên kết nối về CSHT, đẩy mạnh hợp tác về đầu tư, thương mại
và xây dựng các trụ cột liên kết về tài chính Đồng thời phân tích vị trí chiến lược
Trang 13của khu vực Đông Nam Á và vai trò của Việt Nam trong kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường”
Chương 3, trong chương này tác giả trình bày về nguồn gốc, diễn biến của chiến tranh thương mại Mỹ- Trung, ảnh hưởng của chiến tranh đến nền kinh tế Trung Quốc ở các góc độ thương mại, đầu tư
Chương 4, trong chương này tác giả phân tích những đặc trưng nền kinh tế Việt Nam trong chiến tranh thương mại Mỹ- Trung biểu hiện ở độ mở của nền kinh tế,
độ nhạy cảm của thương mại, sự dịch chuyển dòng vốn quốc tế đến thị trường Việt Nam, những chính sách điều hành tiền tệ của ngân hàng Nhà nước trong giai đoạn chiến tranh năm 2018-2019 và tác động của chiến tranh đến nền kinh tế Việt Nam ở các góc độ thương mại, đầu tư
Chương 5, trong chương này tác giả kết luận và đề xuất một số giải pháp cho nền kinh tế Việt Nam trước ảnh hưởng của kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường”
và chiến tranh thương mại Mỹ- Trung
Trang 14CHƯƠNG 2: KẾ HOẠCH “MỘT VÀNH ĐAI, MỘT CON ĐƯỜNG”
2.1 Kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường”
Việt Nam đã tham dự hội nghị “Nhất Đới (Một Vành Đai), Nhất Lộ (Một Con Đường)” hay còn gọi là OBOR (One Belt, One Road) vào ngày 14/5/2017 do Tập Cận Bình chủ trì Nếu người Mỹ muốn khẳng định vị trí số một của mình trong thương mại toàn cầu bằng việc thúc đẩy hai hiệp định thương mại được xem là hai tuyến động mạch chủ: Xuyên qua Đại Tây Dương (#TTIP) và xuyên qua Thái Bình Dương (#TPP) thì Trung Quốc thì lại muốn thay đổi cục diện này bằng việc xây dựng một tham vọng khác, Con đường Tơ lụa Mới (OBOR) – cái tên gắn với một thời hoàng kim của giao thương thương mại Trung Quốc, một hệ thống rộng lớn con đường thương mại cổ xưa giúp Trung Quốc kết nối với những thị trường mới rộng khắp Thế giới: Trung Á, Trung Đông, châu Phi, và châu Âu
2.1.1 Con đường Tơ lụa
Từ thế kỷ thứ Hai (TCN), Người Trung Hoa cổ đã tìm kiếm và xây dựng nên Con đường Tơ lụa, từ đó mà các vùng Tây Á, các quốc gia Trung Đông, châu Phi rồi kéo dài đến tận châu Âu được kết nối và giao thương với nhau Con đường tơ lụa này được coi là cầu nối huyết mạch giữa hai nền kinh tế phương Đông và phương Tây thời đó
Tuy nhiên, đến thời nhà Minh thì Con Đường Tơ Lụa đã bị Vương triều này kiểm soát chặt chẽ và áp thuế rất cao lên các thương gia, từ đó họ phải tìm đến những con đường vận chuyển khác như đường biển, từ đó mà Con Đường Tơ Lụa trên biển được hình thành và phát triển Sau khi được khai phá, phần lớn các trao đổi thương mại, hàng hóa giữa các quốc gia đều được triển khai bằng con đường này, đầu tiên phải kể tới là các thương gia Ả Rập, đất nước có quan hệ trao đổi hàng hóa lớn với Trung Quốc vào thời đại này, sau đó là Bồ Đào Nha, Anh, Pháp và Hà Lan cũng lần lượt kéo đến buôn bán Quảng Châu từ đó tràn ngập hàng hoá từ các nước khác, Con đường tơ lụa trên bộ từ đó cũng dần dần đi vào dĩ vãng
Trang 152.1.2 Kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường”
Chủ tịch Tập Cận Bình đã tiết lộ tầm nhìn của ông về một “Vành Đai kinh tế”
và một “Con đường tơ lụa” tại Đại học Nazarbayev vào ngày 7 tháng 9 năm 2013 như một phần của chuyến thăm cấp nhà nước tới Kazakhstan Khái niệm “Con đường tơ lụa” trên biển sau đó được Chủ tịch Tập Cận Bình công bố trước Quốc hội Indonesia vào ngày 3 tháng 10 năm 2013 trong một chuyến thăm cấp nhà nước tới Indonesia Hai khái niệm Vành Đai kinh tế và Con đường tơ lụa sau đó được chính thức kết hợp thành kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường” như một nỗ lực để tái hiện lại hai Con đường tơ lụa trên đất liền và trên biển thời Trung Hoa cổ
OBOR là một kế hoạch thương mại quốc tế thực sự tham vọng và lớn bậc nhất
về cả quy mô và giá trị trong lịch sử nhân loại cho đến lúc này, theo đó thì OBOR
sẽ tiến hành kết nối và “hợp nhất” kinh tế ba lục địa lớn Á - Âu – Phi, trong đó Trung Quôc sẽ là nước bắt đầu và cũng là nước sau cùng của vành đai và con đường Cụ thể hơn, Vành Đai kinh tế và Con đường tơ lụa tập trung vào việc kết hợp các khu vực bao gồm Trung Quốc với Trung Á, Nga, Trung - Đông Âu và Tây
Âu, thêm vào đó là kết nối Trung Quốc với Vịnh Ba Tư và Biển Địa Trung Hải thông qua Trung Á và Tây Á, kết nối Trung Quốc với Đông Nam Á, Nam Châu Á
và Ấn Độ Dương Con đường tơ lụa trên biển mới chạy qua một vùng biển rộng lớn, bắt đầu từ bờ biển Trung Quốc đến châu Âu, Đông Phi thông qua Biển Đông và Ấn
Độ Dương trong một tuyến, và đến Nam Thái Bình Dương qua Biển Đông theo một tuyến khác Người ta ước tính rằng các khu vực OBOR bao gồm hơn 60 nền kinh tế thị trường mới nổi, tổng dân số hơn 4 tỷ và một phần lớn sản lượng của Thế giới (65% cho đường bộ trên đất liền và 30% cho đường tơ lụa trên biển) (Swaine, 2015)
Kế hoạch OBOR dự kiến sẽ giúp phát triển vùng nội địa rộng lớn phía tây Trung Quốc Chiến lược này sẽ biến nội địa phía tây thành biên giới mở cửa ra Thế giới, cơ hội phát triển ở khu vực miền trung và miền tây sẽ tăng lên, và các điểm tăng trưởng mới sẽ xuất hiện Do đó, có thể giúp giải quyết sự mất cân đối trong
Trang 16phát triển kinh tế xã hội giữa các tỉnh ven biển hưng thịnh của đất nước và các tỉnh miền tây và miền trung kém phát triển và giảm bất bình đẳng thu nhập1 Kế hoạch OBOR cũng được xem là một công cụ thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia bằng cách thúc đẩy xuất khẩu, tăng cường khả năng tiếp cận tài nguyên thiên nhiên và hỗ trợ các ngành công nghiệp quan trọng trong nước Kế hoạch OBOR có thể là một cách để giảm bớt tình trạng dư thừa trong một số hàng hóa vốn của Trung Quốc và các ngành công nghiệp định hướng xây dựng Điều này có thể trở thành một phần ngày càng quan trọng trong việc điều chỉnh giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế trong dài hạn của Trung Quốc2
Về đối ngoại, OBOR sẽ phá vỡ những hạn chế TPP mà Mỹ đang muốn sử dụng để loại bỏ hay chí ít là làm suy yếu vai trò của Trung Quốc trong khu vực và ngăn cản bước tiến của Trung Quốc ra Thế giới
2.1.3 Chiến lược bành trướng toàn cầu
Trong tương lai, nếu kế hoạch OBOR thực sự được hoàn thành, Trung Quốc
sẽ làm cho các quốc gia nằm trong chiến lược và cả các những quốc gia khác bị phụ thuộc ngày càng nặng nề về cả đầu tư, thương mại và tài chính Trong lúc đó, các quốc gia còn lại trên Thế giới sẽ chỉ biết ngồi và nhìn cái cách Trung Quốc lãnh đạo trong khối OBOR như thế nào để có lợi cho Bắc Kinh Như vậy, về cơ bản thì Trung Quốc đã phần nào hoàn thành xong việc xác lập lại một trật tự Thế giới mới
mà tại đó, Trung Quốc sẽ nắm giữ vai trò trung tâm, xứng đáng là một đối trọng cân bằng với Mỹ3
2.2 Giấc Mộng Trung Hoa
http://www.ey.com/Publication/vwLUAssets/ey-2016-china-outbound-investment-outlook-en/$FILE/ey-3 PGS TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo., 2017 Thấy gì từ Giấc mơ Trung Hoa?, so/thay-gi-tu-giac-mo-trung-hoa-12693.html
Trang 17https://saigondautu.com.vn/ho-Trong những năm gần đây, công tác đối ngoại của Trung Quốc đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần củng cố, nâng cao vị trí, vai trò của Trung Quốc trên trường quốc tế và góp phần quan trọng vào quá trình phát triển đất nước, củng
cố quốc phòng - an ninh của nước này Để tiếp tục duy trì thành quả đạt được, chính sách đối ngoại của Trung Quốc sau Đại hội XIX đã có những thay đổi nhất định với những ưu tiên hàng đầu là “ngoại giao nước lớn” và “ngoại giao láng giềng” nhằm tạo môi trường quốc tế thuận lợi để thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa” Những thay đổi trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc sau Đại hội XIX tác động đa chiều tới tình hình quốc tế nói chung và cục diện khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói riêng
Sau Đại hội XIX, Trung Quốc xác định thúc đẩy xây dựng mạng lưới kết nối trong khuôn khổ OBOR là một trong những nhiệm vụ ưu tiên Cụ thể, Trung Quốc
cụ thể hóa công tác thực thi OBOR thông qua việc tổ chức “Hội nghị công tác thúc đẩy xây dựng OBOR” (16-1-2018), ban hành một loạt văn kiện quan trọng về các nhiệm vụ, lĩnh vực, quốc gia trọng điểm triển khai OBOR Trung Quốc tiếp tục nhận được sự ủng hộ tích cực của các nước ASEAN, Trung Á, Trung Đông Âu, châu Mỹ Latinh và châu Phi về hợp tác triển khai OBOR Trong đó, tại Hội nghị Hợp tác Thượng Hải (SCO) lần thứ 18 (6-2018), nguyên thủ 8 nước thành viên SCO đã nhất trí xác định xây dựng “Cộng đồng chung vận mệnh nhân loại” trở thành mục tiêu chung của SCO Trong các chuyến thăm Lào, Campuchia của lãnh đạo Trung Quốc, phía Lào và Campuchia đều bày tỏ ủng hộ xây dựng “Cộng đồng chung vận mệnh Trung Quốc - ASEAN” Tổng đầu tư của Trung Quốc tại các nước dọc tuyến OBOR trong năm 2017 đạt 14,36 tỷ USD, trong đó đã ký thêm 7.217 hợp đồng mới với tổng trị giá 144,3 tỷ USD; quý I năm 2018 đạt 3,61 tỷ USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm 20171
2.3 Nội dung chính của kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường”
1 PGS, TS Nguyễn Hữu Cát.,2018 Trung Quốc thực hiện chính sách đối ngoại và các tác động đến khu vực châu Á - Thái Bình Dương, http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/quoc-te/item/2768-trung-quoc-thuc- hien-chinh-sach-doi-ngoai-va-cac-tac-dong-den-khu-vuc-chau-a-thai-binh-duong.html
Trang 18Được nêu lên trong các văn bản do NDRC , MOF và MOFCOM cùng đứng tên ban hành ngày 28 / 3 / 2015 dưới sự cho phép của Hội đồng Quốc gia Trung Quốc Văn bản nêu lên năm lĩnh vực hợp tác mà OBOR muốn thúc đẩy:
Kết nối chính sách, tăng cường chia sẻ thông tin để tìm hiểu chính
sách của các bên liên quan đối kế hoạch OBOR ;
Ưu tiên kết nối về CSHT ;
Tăng cường thông thương , hợp tác về đầu tư và thương mại ;
Xây dựng trụ cột liên kết về tài chính ;
Thúc đẩy nền tảng xã hội để thực hiện OBOR , kết nối giữa con người
với con người , giữa người dân các quốc gia nằm trên OBOR với nhau1
Phần tiếp theo của bài nghiên cứu sẽ tập trung phân tích 3 trụ cột chính trong kế hoạch OBOR: Ưu tiên kết nối về CSHT - Hợp tác về đầu tư và thương mại
- Xây dựng các trụ cột liên kết về tài chính
2.3.1 Ưu tiên về kết nối cơ sở hạ tầng
Kế hoạch OBOR là một kế hoạch dựa trên nền tảng lớn là cơ sở hạ tầng, dự kiến ODI của Trung Quốc trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng ở các quốc gia nằm trên Vành Đai sẽ tăng lên như một phần của chiến dịch Dựa trên các tài liệu về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng, đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và thương mại: Điện và năng lượng, hàng không vũ trụ, quốc phòng, giao thông, cơ sở hạ tầng, thiết bị viễn thông, xây dựng kỹ thuật và cáp là các ngành liên quan đến cơ sở hạ tầng Trong đó ngành vận tải và giao thông chiến khoảng 80% tổng vốn đầu tư liên quan đến OBOR2
Trang 19Trung Quốc đã và đang thực hiện hàng loạt các dự án liên quan đến cơ sở hạ tầng với tổng giá trị ước tính khổng lồ cho tất cả các quốc gia nằm trên hành lang OBOR Hiện đã có 90 dự án đang được thực hiện với tổng giá trị lên đến 890 tỉ USD và dự kiến con số này sẽ tăng thêm nhiều lần trong tương lai tới
Thực hiện “Nhất Lộ Hướng Tây”, kết nối hành lang Đông – Tây, Trung Quốc
đã bắt tay vào việc xây dựng đường cao tốc nối liền Tân Cương với Erkeshtam của Kirghizistan và sau đó sẽ tiếp tục kéo dài ra đến Ouzbekistan, Tadjikistan, Turkmenistan, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ Ngoài ra, Trung Quốc còn phát triển hai dự án khác, cũng là để mở cửa cho Trung Quốc đến gần với châu Âu Dự án thứ nhất xuyên ngang Kazakhstan và Nga, con đường thứ hai dự kiến sẽ hướng tới Kazakhstan nhưng xuyên qua lòng Biển Caspi Hai công trình này tạo điều kiện để các tỉnh thuộc vùng nội địa nằm sâu bên trong của Trung Quốc tiếp xúc với bên ngoài, nhất là các vùng nghèo khó ở phía Tây Để thực hiện “Con Đường Tơ Lụa trên biển thế kỷ 21”, Trung Quốc đã thuê một phần cảng biển Piraeus của Hy Lạp trong 35 năm Từ Piraeus, hàng hóa của Trung Quốc có thể đến thị trường Đức, Hungary, Áo nhanh hơn so với trước từ 7 đến 11 ngày Tại Ấn Độ Dương, Trung Quốc vừa hoàn thành việc xây dựng đường ống dẫn dầu từ Myanmar đến Côn Minh dài 2.400 cây số, vừa rút ngắn đáng kể thời gian vận chuyển vừa không phải đi qua
eo biển Malacca tiềm ẩn nhiều rủi ro Trung Quốc còn quan tâm dự án kênh đào Kra dài 102 cây số, trị giá 28 tỷ USD, chạy ngang đoạn hẹp nhất trên bán đảo Malaysia, phần thuộc Thái Lan, rút ngắn cuộc hành trình 1.200 cây số nhờ không qua eo biển Malacca
Như vậy, từ hàng loạt những dự án với giá trị lớn nếu trên, Trung Quốc đang dồn cực lớn nguồn lực của mình cho việc đầu tư, tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng với mục tiêu chính là tạo nền tảng cốt lõi cho các mục tiêu lớn về thương mại cũng như xu hướng hội nhập với các nền kinh tế Ngoài việc phát triển cơ sở hạ tầng Trung Quốc còn đầy mạnh hợp tác về an ninh và quân sự
2.3.2 Về thương mại
Trang 202.3.2.1 Thúc đẩy hoạt động thương mại với các nước nằm trên đường vành
đai
Sau 5 năm thực hiện, OBOR đã nhận được sự hưởng ứng tích cực và tham gia sâu rộng của hơn 100 quốc gia, vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế Tính đến tháng 4-2018, Trung Quốc đã cùng với 86 quốc gia thuộc phạm vi kế hoạch và tổ chức quốc tế ký kết trên 100 thỏa thuận triển khai các dự án hợp tác trên nhiều lĩnh vực thuộc khuôn khổ OBOR Trung Quốc cùng với 24 quốc gia và vùng lãnh thổ, như Hàn Quốc, Pa-ki-xtan, ASEAN, Pê-ru, Chi-lê và nhiều nước khác ký 16 hiệp định thương mại tự do (FTA) Tổng kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc với các nước dọc các tuyến OBOR trong 5 năm qua đã vượt trên 5.000 tỷ USD Thêm vào đó, Trung Quốc cũng đã đầu tư trực tiếp ra nước ngoài hơn 50 tỷ USD vào 53 quốc gia và vùng lãnh thổ Chỉ tính riêng trong năm 2017, Trung Quốc đã nhập khẩu trên 666 tỷ USD hàng hóa từ các nước tham gia OBOR, chiếm 25% tổng giá trị nhập khẩu của Trung Quốc, đồng thời, tổng kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc với các nước này đã tăng ở mức kỷ lục là 14,2% Trung Quốc đã xây dựng trên 50 khu hợp tác kinh tế, thương mại tại khoảng 20 nước tham gia OBOR, giúp các nước tăng nguồn thu thuế, thu nhập thêm 1,1 tỷ USD và tạo 180.000 việc làm mới1
2.3.2.2 Phát triển đầu tư gắn liền với thương mại
Trung Quốc đã triển khai nhiều hoạt động đầu tư, xây dựng các đặc khu kinh
tế lớn tại khu vực các nước Đông Nam Á
Vào tháng 8/2015, Bộ trưởng thương mại Trung Quốc và Phó Thủ tướng Lào
ký kết sự chứng kiến lãnh đạo của 2 bên về việc xậy dưng khu hợp tác kinh tế Mohan-Boten được xây dựng Từ đây, khía cạnh hợp tác về đầu tư và thương mại được triển khai trong chiến lược OBOR Khu hợp tác kinh tế này được xây dựng
1 Nguyễn Thu Hà , 2019 Sáng kiến “Vành đai, Con đường” của Trung Quốc: 5 năm nhìn lại,
duong-cua-Trung-Quoc-5-nam-nhin.aspx
Trang 21http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/The-gioi-van-de-su-kien/2019/54516/Sang-kien-Vanh-dai-Con-giữa biên giới Lào và Vân Nam (Trung Quốc) và cũng là khu hợp tác kinh tế thứ 2 giữa Trung Quốc và Lào sau khu hợp tác kinh tế qua biên giới Trung Quốc – Kazakhstan Horgos International Frontier Cooperation Center
Sihanoukville SEZ là đặc khu kinh tế hợp tác giữa hai công ty của Campuchia
và Trung Quốc Từ cuối 2014 , nhờ 3 tỷ USD vốn đầu tư bổ sung, Sihanoukville đã
có những bước phát triển nhanh chóng Từ con số 40 nhà máy vào 2014 ( 20 nhà máy lúc đi vào hoạt động vào 2012 ) Đến tháng 11 năm 2016, Sihanoukville SEZ
đã trở thành SEZ lớn nhất và phát triển nhất tại Campuchia với 148 nhà máy được xây dựng Sihanoukville SEZ cũng thu hút 16.000 công nhân tới làm việc Ban lãnh đạo Sihanoukville SEZ cũng tuyên bố kế hoạch thu hút 300 nhà máy vào năm 2020
và tạo ra 100.000 việc làm
Ngoài ra thì còn phải nhắc tới khu công nghiệp Kuantan với 49% cổ phần nắm giữ bởi GBIPG - một công ty đang vận hành 4 cảng ở miền Nam Trung Quốc Khu công nghiệp này được khởi công xây dựng vào năm 2013, là tổ hợp gồm cảng hàng rời, một bến nước sâu được công ty TNHH china Nuclear Huaxing đầu tư 19 tỷ USD Thêm vào đó thì Trung Quốc cũng có thêm một khu công nghiệp được cho là song song với Kuatan ở Khâm Châu thuộc Quảng Tây Trung Quốc Khu công nghiệp này được đầu tư theo mô hình “Hai quốc gia, khu công nghiệp sinh đôi”
Dự án xây dựng đặc khu kinh tế Kyaukpyu SEZ được liên kết trực tiếp với đầu
tư của Trung Quốc và đã được coi là một mắt chốt cho sáng kiến “Một Vành đai, Một Con đường” Khi kết thúc, Kyaukphyu SEZ sẽ trở thành một mắt xích quan trọng trong thương mại với Ấn Độ hướng về phương Tây, và sẽ cho Trung Quốc tiếp cận Ấn Độ Dương Một trong những ứng dụng chính của cảng nước sâu của đặc khu kinh tế này sẽ là buôn bán và lưu trữ dầu mà sau đó sẽ được gửi đến Trung Quốc thông qua đường ống dẫn dầu khí Shwe gây tranh cãi, vừa được khai trương
Dự án dự kiến sẽ được phát triển bởi tập đoàn CITIC của nhà nước Trung Quốc, thông qua một số công ty con như China Harbor Engineering Company Ltd, China Merchants Holdings, TEDA Investment Holding [TTEDA.UL] và Tập đoàn Kỹ
Trang 22thuật xây dựng Vân Nam [YNCEG.UL] Dự kiến dự án sẽ được hoàn thành vào năm 2015 và tạo ra khoảng 100.000 việc làm1
Qua việc triển khai các dự án trên, Trung Quốc đang thực hiện các kế hoạch cho động thương mại gắn liền với chiến lược OBOR thông qua hoạt đầu tư vào các đặc khu kinh tế chiến lược giữa Trung Quốc và các nước
2.3.3 Thiết lập thị trường tài chính
2.3.3.1 Triển khai hợp tác tài chính
Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng châu Á (Asian Infrastructure Investment Bank) viết tắt: AIIB, là một tổ chức tài chính quốc tế Tổ chức này là sáng kiến của chính quyền Trung Quốc và được sự ủng hộ của các Thành viên Sáng lập Dự kiến bao gồm 37 nước trong khu vực và 20 nước ngoài khu vực, 51 trong số đó đã ký Điều khoản thỏa thuận để hình thành cơ sở pháp lý cho ngân hàng
Thể chế tài chính đa phương do Trung Quốc khởi xướng này bắt đầu hoạt động vào tháng 1/2016, với chương trình nghị sự tập trung vào việc hỗ trợ cho quá trình phát triển bền vững thông qua cơ sở hạ tầng và các lĩnh vực có hiệu quả khác ở trong và ngoài châu Á Các thành viên của AIIB chiếm 78% dân số Thế giới và 63% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn cầu2
Tổng vốn điều lệ của AIIB lên đến 100 tỷ USD trong đó Trung Quốc là nước với số vốn góp lớn nhất hơn 30 tỷ USD, chiếm 30,34% tổng số vốn, đi sau đó là Ấn
độ và Nga với mức góp vốn lần lượt hơn 830 triệu USD, chiếm hơn 8,5% tổng số vốn và 650 triệu USD chiếm hơn 6.66 % tổng số vốn, ngoài ra từng quốc gia thành viên khác chỉ chiếm không quá 5% tổng số vốn góp Trung Quốc cũng là nước chiếm số phiếu bầu lớn nhất hơn 26 phần trăm trong tổng số phiếu bầu, theo sau là
Ấn Độ với 7.51% và Nga với 5.93%
Trang 23Trung Quốc vừa là quốc gia sáng lập cũng là quốc gia có mức độ chi phối ngân hàng này lớn nhất dựa trên tổng số vốn góp cũng như khả năng áp đặt các quyết định lên tổ chức này Đây là Ngân hàng liên quan trực tiếp và cũng chiếm phần lớn nguồn tài trợ tài chính cho các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng trong chiến lược OBOR Cụ thể thì tính đến nay, AIIB đã phê duyệt và cho vay 24 dự án, với tổng số tiền đạt 4 tỷ USD tại 12 quốc gia (11 quốc gia thành viên trong khu vực
và một quốc gia nằm ngoài khu vực là Ai Cập), trong đó hầu hết các dự án này là cho vay chính phủ hoặc có sự bảo lãnh của chính phủ
Ngoài AIIB, Bắc Kinh đã lập ra Quỹ Con đường tơ lụa (SRF) vào cuối năm
2014 Quỹ này có 40 tỉ USD tiền vốn từ dự trữ ngoại hối của Trung Quốc và các ngân hàng chính sách như Ngân hàng Phát triển Trung Quốc và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc Chủ tịch SRF là Jin Qi cho biết đã đầu tư 6 tỉ USD vào 15
dự án và đã thành lập một quỹ 2 tỉ USD để thúc đẩy hợp tác với Kazakhstan
Hai định chế tài chính lớn nhất Trung Quốc là Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (CDB) và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc (CHEXIM) cũng tham gia vào việc triển khai chiến lược OBOR, họ đã cung cấp 200 tỷ USD cho các khoản vay trên khắp Châu Á, Trung Đông và thậm chí cả Châu Phi Sau thông báo được đưa ra trong hội nghị thượng đỉnh Vành đai và Con đường, hai đinh chế tài chính này tiếp tục thông báo sẽ tăng thêm 55 tỷ USD cho các khoản vay liên quan đến OBOR Các khoản vay cơ sở hạ tầng “Vành đai và Con đường” cho đến nay chủ yếu được chính phủ đàm phán với chính phủ, với lãi suất thấp hơn mức lãi suất được cung cấp bởi các ngân hàng thương mại và lịch trả nợ kéo dài CHEXIM và CDB đã cung cấp tới 80% trong tổng số gần 100 tỷ USD cho vay tại Châu Phi trong suốt giai đoạn 2000-20151
2.3.3.2 Sự quốc tế hóa đồng Nhân Dân Tệ
1 OECD BUSINESS AND FINANCE OUTLOOK 2018 © OECD., 2018 China's Belt and Road Initiative in the Global Trade, Investment and Finance Landscape, https://www.oecd.org/finance/Chinas-Belt-and-Road- Initiative-in-the-global-trade-investment-and-finance-landscape.pdf
Trang 24Mặc dù AIIB đã xác định đồng USD là đồng tiền được cho chính thức trong các khoản vay do định chế này tài trợ, nhưng được thúc đẩy hợp tác tài chính dựa trên việc sử dụng đồng Nhân Dân Tệ để đầu tư trái phiếu của Trung Quốc và khuyến khích thanh toán thương mại song phương bằng đồng Nhân Dân Tệ
Trong tháng 12/2018, PboC đã ra một chính sách khuyến khích tăng cường sử dụng đồng Nhân Dân Tệ tại các khu kinh tế ở biên giới Cụ thể, PboC khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng đồng Nhân Dân Tệ để thực hiện các thỏa thuận thương mại tại khu vực biến giới và hỗ trợ các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng đồng Nhân Dân Tệ để đầu tư trực tiếp trong nước Kể từ 2009, tỷ lệ sử dụng đồng Nhân Dân Tệ trong thanh toán thương mại hai chiều của Trung Quốc đã tăng lên mức 16,7% tổng giao dịch thương mại Các ngân hàng cũng được khuyến khích tạo ra các sản phẩm tài chính mới để giúp doanh nghiệp thanh toán các giao dịch thương mại bằng đồng Nhân Dân Tệ1
Đối với các nước Đông Nam Á, HSBC (2017) tiến hành điều tra các doanh nghiệp về mức độ quốc tế hóa đồng NDT tại khu vực Đông Nam Á, nghiên cứu tổng hợp này chỉ ra rằng triển khai OBOR có tác dụng tích cực với việc thúc đẩy quốc tế hóa đồng NDT ở khu vực 34 % số Công ty cho rằng OBOR có tác động tích cực rõ rệt đối với quá trình quốc tế hóa NDT, 36 % tin rằng OBOR có tác động tích cực, chỉ có 3 % tin rằng không có tác động và 1 % số Công ty cho rằng OBOR tạo ra tác động tiêu cực rõ nét Để thuận lợi hơn cho việc sử dụng đồng NDT trong thanh toán thương mại qua biên giới và đầu tư, Trung Quốc đã ký hiệp định hoán đổi tiền tệ với nhiều nước OBOR ở Đông Nam Á như Thái Lan , Malaysia và Singapore PBoC cũng lựa chọn nhiều ngân hàng thanh toán đồng NDT tại các quốc gia Thái Lan , Malaysia và Campuchia Một số ngân hàng trong nhóm bốn NHTM lớn như ICBC đã thành lập ngân hàng thanh toán đồng NDT tại Lào2
1 Reuters., 2017 China aims to get more cross border transations done in yuan,
transactions-done-in-yuan-idUSL4N1P02OP
https://www.reuters.com/article/china-economy-yuan/update-1-china-aims-to-get-more-cross-border-2 HSBC., 2017 Renminbi Internationalisation Survey Report, Febu
Trang 25Ngoài ra để phụ vụ cho chiến lược quốc tế hóa đồng tiền nội tệ thì Trung Quốc cũng đã theo đuổi chính sách ổn định đồng Nhân Dân Tệ
Từ năm 2011 đến 2015, Trung Quốc là một nước có chính sách ổn định tỷ giá hối đoái với mức tỷ giá chỉ dao động trong khoảng từ 6.2 đến 6.4 so với đồng USD Việc kiểm soát sự biến động này dựa trên chính sách neo tỷ giá có điều chỉnh của ngân hàng trung ương Trung Quốc, trong đó ngân hàng trung ương Trung Quốc đóng vai trò là người mua và bán cuối cùng trên thị trường, điều tiết thông qua hệ thống các NHTM, khi thị trường xuất hiện tình trạng dư cầu hoặc dư cung, có thể gây áp lực khi tỷ giá có nguy cơ vượt quá biên độ cho phép Như trường hợp khi thị trường tồn tại những áp lực, NHTW sẽ đưa ra mức tỷ giá để sẵn sàng mua vào hoặc bán ra khi thị trường vượt qua ngưỡng đó
Việc ổn định tỷ giá sẽ giúp củng cố sức mạnh cho đồng Nhân Dân Tệ trong thị trường tiền tệ và là một yếu tố quan trọng giúp thúc đẩy quá trình quốc tế hóa đồng tiền Nhân Dân Tệ
2.4 Con đường tơ lụa- Yếu điểm của các nền kinh tế mới nổi
2.4.1 Bẫy nợ Trung Quốc
Trung Quốc thường cho các nước có xếp hạng tín nhiệm rất thấp vay vốn Các quốc gia nằm trong chiến lược OBOR được xếp hạng tín nhiệm của Fitch chỉ dao động từ B đến BBB Trung Quốc thường bị coi là quá mạo hiểm trong hoạt động đầu tư Trong giai đoạn 2013 – 2015, có 6/10 quốc gia được Trung Quốc cấp tín dụng phát triển nằm trong danh sách bị OECD đánh giá có mức rất rủi ro về đầu tư phát triển, trong khi con số này của WB chỉ là 2 quốc gia Nợ công của 27 nước OBOR trong đánh giá xếp hạng của Moody (2017) là “junk” (mức thấp nhất trong nấc thang xếp hạng)1, trong khi 14 nước khác không được xếp hạng Có 6/36 quốc gia từng nhận các khoản hỗ trợ của IMF và WB để xử lý vấn đề nợ xấu thông qua
1 Deloite insights., 2018 Embracing the bri ecosystem in 2018,
https://www2.deloitte.com/content/dam/insights/us/articles/4406_Belt-and-road-initiative/4406_Embracing-the-BRI-ecosystem.pdf
Trang 26sáng kiến HIPC1 là các nước OBOR gồm Afghanistan, Bolivia, Ethiopia, Guyana, Madagascar và Senegal
Bẫy nợ của Trung Quốc, điều mà làm cho các quốc gia lâm vào tình trạng khủng hoảng Cụ thể, một nghiên cứu dựa trên 95 siêu dự án có giá trị lên đến 52 tỷ USD của Trung Quốc được xây dựng trong giai đoạn 1984-2008 và 806 dự án cơ sở
hạ tầng của các nước phát triển cho thấy ba kết luận quan trọng: Chi phí xây dựng các dự án của Trung Quốc đắt hơn 30,6 % so với dự toán, 55% các công trình của Trung Quốc không mang tính kinh tế liên quan đến vòng đời vận hành của chúng và 17% số dự án có lợi nhuận/vốn thấp hơn dự tính Hàm ý chính sách của nghiên cứu này chỉ ra rằng việc đầu tư cơ sở hạ tầng quy mô lớn dường như chỉ đêm lại tăng trưởng kinh tế đối với Trung Quốc Điều đó nhấn mạnh rằng việc đi vay để đầu tư
cơ sở hạ tầng quy mô lớn không phải con đường phát triển phù hợp đối với các nước nghèo và có trình độ quản trị thấp, ví dụ như cảng Hambantota là một trong những dự án của quốc gia Nam Á bị rơi vào bẫy nợ Để xây dựng cảng này, Tung Quốc đã cho Sri Lanka vay vốn ưu đãi giai đoạn một là 307 triệu USD với mức lãi suất cao lên tới 6,3%2 (theo Sunday times) Trong khi đó, khoản vốn vay ưu đãi mà các định chế MDB như ADB hoặc WB cung cấp chỉ có lãi suất từ 2-3%, thậm chí
có lúc gần bằng 0% Cũng cách đó không xa, cảng Colombo cũng do chính Trung Quốc đầu tư có công suất bốc dỡ 6,3 triệu TEU vào năm 20173 và vẫn chưa sử dụng hết công suất này, khi mở rộng quy mô trong vài năm tới, cảng Colombo sẽ có công suất tối đa 35 triệu TEU vào năm 2040 Năm 2015, đến 95 % nguồn thu của chính phủ Sri Lanka đã dùng vào việc trả nợ các khoản vay cho Trung Quốc và ngoài ra thì cũng đã tính đến việc đàm phán lại các khoản nợ đối với Trung Quốc
Các khoản vay nước ngoài của Bắc Kinh thống trị thị trường toàn cầu Từ Kenya đến Montenegro, từ Ecuador đến Djibouti, đường sá, đập và nhà máy điện
Trang 27đang được xây dựng với hàng tỷ USD khoản vay từ Bắc Kinh Và tất cả quốc gia đó
sẽ phải trả lại các khoản vay đó trong những năm tới, cả gốc lẫn lãi
Một số ý kiến cho rằng, hàng tỷ USD từ Trung Quốc là một đóng góp đáng hoan nghênh để giúp nhiều khu vực kém phát triển ở châu Á và châu Phi mở rộng
cơ sở hạ tầng Song ngược lại, các khoản vay từ Bắc Kinh đã buộc một nửa Thế giới phải phụ thuộc kinh tế và chính trị vào Bắc Kinh Có thể thấy các “bẫy nợ” bằng việc cho vay để triển khai các dự án lớn nằm trên kế hoạch OBOR của Trung Quốc đang làm các nước khác, đặc biệt là các nước đang hoặc kém phát triển phải đối mặt với trình trạng tiến thoái lưỡng nan, sau đó là việc chi phối lớn của phủ Trung Quốc đối với các nước này
2.4.2 Bẫy tiêu chuẩn áp đặt lên các nước
Nghiên cứu từ Viện Lowy (2017) đã chỉ ra rằng Trung Quốc đang có ý định sử dụng OBOR để thiết lập các tiêu chuẩn kỹ thuật và công nghệ máy móc của Trung Quốc, không chỉ trong vận tải đường sắt, mà còn trong lĩnh vực năng lượng, viễn thông, tài chính và quản lý dữ liệu1 Vào ngày 22 / 10 / 2015, kế hoạch hành động hài hòa các tiêu chuẩn dọc theo Vành đai và Con đường (2015 - 2017) do NDRC ban hành nhằm thúc đẩy mạnh mẽ các tiêu chuẩn của Trung Quốc đi ra bên ngoài, đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa các tiêu chuẩn của Trung Quốc để cung cấp hỗ trợ toàn diện cho việc xây dựng kế hoạch “ Một vành đai Một con đường” Kế hoạch này nhằm ký kết các thỏa thuận hợp tác tiêu chuẩn hóa với các nước OBOR quan trọng ở Đông Nam Á và Trung Á để thúc đẩy các tiêu chuẩn của Trung Quốc trong các lĩnh vực như sắt thép, kim loại màu, kỹ thuật đường sắt, đường cao tốc, đường thủy và dầu khí Một số phân tích chỉ ra rằng, đối với Trung Quốc, việc áp dụng các tiêu chuẩn của mình quan trọng hơn lợi nhuận đầu tư và Trung Quốc dường như rất hài lòng khi việc nước này tiến hành “ tiêu chuẩn OBOR hóa ” Khi Trung Quốc tăng đầu tư ra nước ngoài thông qua OBOR, các công ty Trung Quốc đang tìm kiếm
để xác định và xuất khẩu các tiêu chuẩn cho một tập hợp rộng lớn công nghệ các
1 Peter Cai., 2017 UNDERSTANDING CHINA’S BELT AND ROAD INITIATIVE,
https://www.lowyinstitute.org/publications/understanding-belt-and-road-initiative
Trang 28ứng dụng mà nếu được thực hiện cùng nhau chúng có thể thay đổi diện mạo cạnh tranh toàn cầu Theo kế hoạch hành động năm 2017 về tiêu chuẩn hóa hành chính Trung Quốc, quốc gia này sẽ thúc đẩy việc thực hiện tiêu chuẩn thống nhất với mạng 5G và các thành phố thông minh tại các quốc gia dọc theo OBOR1 Một báo cáo năm 2017 từ Trung tâm Đông - Tây giải thích “Các tiêu chuẩn sẽ phục vụ cho
kế hoạch OBOR như là cầu nối giữa phát triển đổi mới với việc thị trường hóa và công nghiệp hóa của chính những đổi mới đó” Trung Quốc nỗ lực để xuất khẩu các tiêu chuẩn công nghệ, đường sắt tốc độ cao và viễn thông là những ví dụ đáng chú ý của nỗ lực này Cạnh tranh về tiêu chuẩn hóa là khá rõ ràng trong lĩnh vực đường sắt cao tốc mà Nhật Bản và Trung Quốc triển khai, đặc biệt là ở Đông Nam Á Cho đến nay, Trung Quốc đã tìm kiếm quyền đầu tư đường sắt ở Thái Lan, Lào, Indonesia, Campuchia và Việt Nam Khi đẩy mạnh xuất khẩu đường sắt tốc độ cao, Trung Quốc khuyến khích các nước chủ nhà áp dụng các tiêu chuẩn Kỹ thuật và Công trình của Trung Quốc, điều này đã đạt được một số kết quả ở Thái Lan và Indonesia2 Đường sắt cao tốc của Trung Quốc có thể trở thành tiêu chuẩn chung của toàn khu vực nếu các nước OBOR áp dụng công nghệ đường sắt cao tốc của Trung Quốc vào công nghệ tiêu chuẩn quốc gia của mình Nếu điều đó xảy ra, Trung Quốc sẽ độc chiếm thị trường đường sắt cao tốc khu vực và đánh bại các đối thủ nước ngoài, đặc biệt là các nhà sản xuất đường sắt cao tốc Nhật Bản và châu
Âu Các Công ty viễn thông Trung Quốc đang mở rộng nỗ lực trong việc giành được các hợp đồng xây dựng CSHT viễn thông, như cung cấp mạng dịch vụ và bán thiết bị truyền thông ở các nước OBOR3 Huawei, China Mobile và ZTE – những loại hàng có liên quan chặt chẽ với phát triển Công nghệ 5G của Trung Quốc – đã
3 Zen Soo., 2016 ZTE to play integral role in creating ‘information superhighway’ to connect One Belt, One Road countries, https://www.scmp.com/business/article/2051219/zte-play-integral-role-creating-
information-superhighway-connect-one-belt
Trang 29gia tăng sự hiện diện của mình trong việc thiết lập nên các tiêu chuẩn quốc tế cho thiết bị và tổ chức vận hành mạng 5G1
Khi các tiêu chuẩn của Trung Quốc được thông qua , điều này sẽ đảm bảo vị trí của Trung Quốc với tư cách là nhà xuất khẩu hàng hóa CSHT duy nhất tại các quốc gia OBOR Xóa sạch các đối thủ cạnh tranh trong khu vực và toàn cầu Quan trọng hơn, điều này sẽ mang lại cho Trung Quốc sức mạnh thương lượng vượt trội trong các cuộc đàm phán về giá đối với các sản phẩm mà Trung Quốc quy định trong tương lai
Điều có thể nhận thấy là khi tham gia chiến lược OBOR của Trung Quốc thì các nước dường như phải chịu sự áp đặt về các tiêu chuẩn mà Trung Quốc cố tình đặt ra Đặc biệt khi mà các nước nằm trên OBOR lại hầu hết là các nước mới nổi, đang phát triển, do đó việc được hướng theo sự phát triển về công nghệ dẫn đầu bởi một cường quốc như Trung Quốc thì sẽ rất dễ bị rơi vào cái gọi là “Bẫy tiêu chuẩn”
và phải chịu nhiều sự chi phối đến từ Trung Quốc
2.4.3 Sự phụ thuộc của các nước vào nền kinh tế Trung Quốc
Đối với một nước nhận FDI nhiều từ nước khác thì sự phụ thuộc về kinh tế vào nước đó là điều khó có thể tránh khỏi Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường chủ yếu do các công ty, tập đoàn xuyên quốc gia, đã làm nảy sinh nỗi lo rằng các công
ty này sẽ tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế của nước nhận đầu tư vào vốn, kỹ thuật
và mạng lưới tiêu thụ hàng hóa của các công ty xuyên quốc gia Đầu tư trực tiếp nước ngoài có đóng góp phần vốn bổ sung quan trọng cho quá trình phát triển kinh
tế và thực hiện chuyển giao công nghệ cho các nước nhận đầu tư Đồng thời cũng thông qua các công ty xuyên quốc gia là những bên đối tác nước ngoài để chúng ta
có thể tiêu thụ hàng hóa vì các công ty này nắm hầu hết các kênh tiêu thụ hàng hóa
từ nước này sang nước khác Vậy nếu càng dựa nhiều vào đầu tư trực tiếp nước ngoài thì sự phụ thuộc của nền kinh tế vào các nước công nghiệp phát triển càng
1 U.S.-CHINA ECONOMIC and SECURITY REVIEW COMMISSION CHINA., 2018 THE UNITED STATES, AND NEXT GENERATION CONNECTIVITY, https://www.uscc.gov/Hearings/china-united-states-and-next-
generation-connectivity
Trang 30lớn Và nếu nền kinh tế dựa nhiều vào đầu tư trực tiếp nước ngoài thì sự phát triển của nó chỉ là một phồn vinh giả tạo, đằng sau đó là sự lệ thuộc và chịu sự điều khiển
và chi phối của một nước khác
Ngoài ra, nếu nhìn sâu xa ở kế hoạch OBOR của Trung Quốc, việc đầu tư vào các nước khác với tổng giá trị lên đến vài ngàn tỷ USD để hoàn thành tham vọng này thì về lâu về dài sẽ giúp cho Trung Quốc trở thành một trong những trung tâm đầu tư, thương mại và cả tài chính lớn nhất Thế giới Các quốc gia nằm trong chiến lược sẽ ngày càng bị phụ thuộc hơn vào nền kinh tế Trung Quốc về mọi mặt, trong khi đó các nước khác nằm ngoài kế hoạch này sẽ chỉ biết đứng nhìn cách Trung Quốc triển khai tham vọng của mình với tư cách là lãnh đạo trong khối OBOR này Cách tiếp cận của Trung Quốc có thể là hoàn toàn khác với cấu trúc thương mại đa phương như là các nước ASEAN đang áp dụng Chiến lược của Trung Quốc
là cấu trúc kết nối Trung tâm (Trung Quốc) với Ngoại vi (các quốc gia thành viên) Dựa trên các nguyên tắc quan trọng do Trung Quốc đơn phương ấn định Trước tiên
là thực tế có đi có lại trong ngoại giao song phương Căn cứ vào các nguyên tắc đã nêu, nếu các nước khác tuân thủ, Bắc Kinh sẽ tôn trọng lại Nhưng nếu họ làm trái chắc chắn sẽ bị trừng phạt Điều này cho thấy về lâu về dài thì khả năng cao thì nền kinh tế các nước nằm trong kế hoạch này sẽ phải chịu cảnh chi phối lớn đến từ các nhà cầm quyền Trung Quốc1
2.5 Vị trí của Đông Nam Á
2.5.1 Về kết nối cơ sở hạ tầng
Trung Quốc đã có những khoản đầu tư lớn vào CSHT ở Đông Nam Á , bao gồm các tuyến đường sắt, đường cao tốc, cảng biển, nhà máy điện và các cơ sở mạng lưới truyền thông tin kĩ thuật số Trong số 10 dự án về cơ sở hạ tầng lớn nhất nằm trong OBOR thì đến 6 thuộc về các nước nằm trong khu vực Đông Nam Á
1 PGS TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo., 2017 Thấy gì từ Giấc mơ Trung Hoa?, so/thay-gi-tu-giac-mo-trung-hoa-12693.html
Trang 31https://saigondautu.com.vn/ho-Sự tham gia của các quốc gia Đông Nam Á có ý nghĩa chiến lược, cung cấp các đầu mút kết nối hạ tầng cảng biển cho các cảng phía Nam Trung Quốc Để hiện thực hóa chiến lược phát triển này, Trung Quốc không những đầu tư vào các nước
có cảng biển kém phát triển để cải thiện năng lực cảng (như Campuchia, Myanmar), đầu tư vào các nước cảng biển phát triển (Thái Lan , Malaysia) mà còn đầu tư và kết nối những nước không có cảng để giúp vươn ra biển ( như trường hợp Lào thông qua các cảng của Việt Nam tại Vũng Áng ) Ngoài ra, Trung Quốc còn vận động thành lập liên minh cảng biển – trường hợp ba cảng Quảng Tây với mười cảng của Malaysia Trung Quốc hiện có ít nhất sáu dự án cảng biển, bảy dự án đường sắt và đường sắt cao tốc, 2 - 3 dự án đường cao tốc tại Đông Nam Á và hàng chục dự án năng lượng, khai khoáng khác
2.5.2 Về hoạt động đầu tư thương mại
Trung Quốc hiện đã thúc đẩy thành lập 16 khu hợp tác kinh tế qua biên giới, hàng chục khu kinh tế cửa khẩu, trong đó các nước ASEAN chiếm phần lớn Bên cạnh đó, trên cơ sở thành công của hiệp đinh ASEAN - Trung Quốc (ACFTA), vào năm 2016, Nghị định thư sửa đổi ACFTA đã có hiệu lực với mục tiêu chính là nâng cấp các quy định về quy tắc xuất xứ và tạo thuận lợi thương mại để nâng cao khả năng tận dụng ACFTA Ngày 21 / 11 / 2017 vừa qua, AHKFTA đã được chính thức
ký kết, mở ra con đường phát triển vượt bậc về thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc Việc kí kết các hiệp định thương mại tự do sẽ làm một trong các mắt chốt đảm bảo khả năng thương mại của Trung Quốc và các nước Đông Nam Á trong chiến lược OBOR
2.5.3 Về thể chế tài chính
Đông Nam Á là khu vực thuận lợi cho việc quốc tế hóa đồng tiền Nhân Dân
Tệ Quan hệ thương mại và đầu tư giữa ASEAN và Trung Quốc rất lớn, do đó nhu cầu thanh toán trực tiếp bằng đồng NDT để giảm phụ thuộc vào biến động đồng USD ngày càng tăng lên Trung Quốc là nước đầu tiên ký ACFT, nước đầu tiên tham gia TAC của ASEAN và cũng là nước đầu tiên ký tuyên bố đối tác toàn diện
Trang 32vì hòa bình và thịnh vượng với ASEAN Sau sự đảo chiều về quan điểm thương mại của Mỹ, Trung Quốc đã nổi lên như một quốc gia thúc đẩy tự do hóa thương mại Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhấn mạnh thúc đẩy tự do hóa thương mại toàn cầu theo kiểu Trung Quốc hướng đến ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) và Hiệp định thương mại tự do châu Á - Thái Bình Dương (APFTA)
Về đầu tư, vốn FDI của Trung Quốc vào ASEAN đã tăng mạnh cùng với chiến lược khuyến khích doanh nghiệp trong nước đầu tư ra bên ngoài của Trung Quốc Vốn FDI Trung Quốc vào ASEAN đã tăng đột biến từ 600 triệu USD (năm 2003) lên 11,3 tỷ USD, chiếm 8,2 % tổng số vốn FDI của khu vực (năm 2017) Dự báo đến năm 2030, con số này sẽ tăng lên mức 185 tỷ USD (tương đương 14 %) Trong những nền kinh tế ASEAN kể từ 2013 - 2017, Malaysia, Indonesia, Singapore, Lào, Campuchia, Myanmar là những nền kinh tế nhận được nhiều vốn FDI Trung Quốc hơn cả Thứ hai, Đông Nam Á là khu vực có nhiều quốc gia chung đường biên giới với Trung Quốc, tại đây Trung Quốc đã thúc đẩy thành lập nhiều khu hợp tác kinh
tế với nhiều hình thức và khuyến khích sử dụng đồng NDT tại các khu vực biên giới
đó
Sau khi NDT trở thành đồng tiền trong SDR của IMF vào năm 2016, nhiều nước ASEAN đã đẩy mạnh dự trữ đồng NDT trong dự trữ ngoại tệ của mình Hoạt động mua bán trái phiếu đồng NDT cũng đã được thúc đẩy mạnh mẽ bởi ASEAN,
là nơi có Singapore – một trong những trung tâm giao dịch đồng NDT mạnh nhất của Trung Quốc
2.6 Việt Nam trong chiến lược OBOR
2.6.1 Vai trò của Việt Nam trong kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường”
Việt Nam, vốn nằm trong phạm vi địa lý của kế hoạch Vành đai và Con đường (OBOR) của Trung Quốc và có nhu cầu lớn về đầu tư cơ sở hạ tầng, có thể được hưởng lợi từ kế hoạch này Theo báo cáo Triển vọng Cơ sở hạ tầng Toàn cầu xuất bản năm 2017 bởi Trung tâm Cơ sở Hạ tầng Toàn cầu, nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng
Trang 33của Việt Nam từ năm 2016 đến năm 2040 là 605 tỷ USD Đáng chú ý, khoảng cách giữa nhu cầu đầu tư và xu hướng đầu tư hiện tại là con số khổng lồ 102 tỷ USD Mỹ,
có nghĩa là Việt Nam sẽ phải tích cực tìm kiếm các nguồn kinh phí khác nhau để bù đắp cho sự thiếu hụt này Do đó, Việt Nam đã ủng hộ OBOR vì đây có thể trở thành một nguồn vốn quan trọng mà Hà Nội muốn khai thác trong tương lai1 Những con
số cho thấy sự hợp tác kinh tế ngày càng lớn mạnh giữa Việt Nam và Trung Quốc Hai nước: Từ năm 1988 cho đến 2012, Trung Quốc có 893 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng số vốn là 5 tỷ USD, cho đến năm 2016, con số này là 1.300 dự án với
số vốn lên tới 10 tỉ USD Tuy nhiên, sự hình thành của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào ngày 31/12/2015 đã đánh dấu một cơ hội lớn về thị trường và hợp tác kinh tế trong khu vực đối với Việt Nam2 Là một nước nằm ở vị trí địa chính trị quan trọng, Việt Nam có lợi thế để xây dựng mạng lưới vận chuyển Đông-Tây cho phép vận chuyển hàng hóa ở những cảng từ bờ biển phía Đông sang các nước Lào, Cambodia hay Thái Lan
2.6.2 Về kết nối cơ sở hạ tầng
Phần lớn các kết nối về cơ sở hạ tầng của Viêt Nam trong chiến lược OBOR đều nằm ở khu vực phía Bắc giáp với Trung Quốc Đây là các tỉnh đồng thời nằm trong sáng kiến hai hành lang một vành đa (TOCB) mà Việt Nam khởi xướng năm
2014 Do đó việc tham gia vào OBOR là một trong những cách thức để tận dụng nguồn lực của Trung Quốc thực hiện kế hoạch kinh tế mà Việt nam có thể kiểm soát
Đa số các dự án về OBOR liên quan đến Việt Nam đều là về các dự án đường sắt, trong đó có thể kể tới dự án đường sắt Nam Ninh – Bằng Tường Đây sẽ là tuyến đường sắt nối đến cửa khẩu Hữu Nghĩ Quan nơi mà tuyến đường sắt Đồng Đăng-Hà Nội cũng đã được đưa vào Quy Hoạch Đường sắt Quốc gia Ngoài ra, dự
1 Lê Hồng Hiệp, Phan Nguyên., 2018 Sáng kiến Vành đai và Con đường tại Việt Nam: Thách thức và Triển vọng, http://nghiencuuquocte.org/2018/04/23/sang-kien-vanh-dai-va-con-duong-tai-viet-nam-thach-thuc- va-trien-vong
2 ScienceVietNam., 2019 Dự án Một con đường – Một vành đai của Trung Quốc và kinh tế chính trị Việt Nam, https://sc.sshpa.com/post/4422
Trang 34án Phòng Thành – Đông Hưng ở Trung Quốc cũng đã được xây dựng vào cuối năm
2017 với khả năng đạt tới 250 km/h Tiếp nối đó thì về phía Việt Nam, tuyến Hà nội – Hải Phòng là nối dài của dự án Phòng Thành - Đông Hưng cũng sẽ được cải tạo thành tuyến đường sắt đôi, trong đó thì đoạn Hà Nội – Hải Phòng cũng nằm trong khung khổ quy hoạch đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng trong Chiến lược phát triển giao thông vận tải đường sắt Việt Nam Trung Quốc còn cấp phát vốn vay ODA cho dự án đường sắt đô thị Hà Nội tuyến trên cao Cát Linh – Hà Đông1 Bên cạnh các dự án liên quan đến giao thông thì Trung Quốc còn đầu tư vào
dự án Vĩnh Tân 1 ở Bình Thuận là một dự án nhiệt điện, dự án này được đầu tư với tổng chi phí lên tới 1.76 tỷ USD Đến 95% nguồn vốn được tài trợ bởi các nhà đầu
tư Trung Quốc và dự kiến sau khi vận hành được 25 năm thì các nhà đầu tư này sẽ chuyển giao toàn bộ lại dự án cho chính phủ Việt Nam2
2.6.3 Về thương mại
Bên cạnh các dự án liên qua đến cơ sở hạ tầng về cảng và đường sắt thì Trung Quốc và Việt Nam đang triển khai thảo luận để đưa ra kế hoạch tổng thể cho các khu hợp tác kinh tế:
- Khu hợp tác kinh tế Đồng Đăng – Bằng tường
- Khu hợp tác kinh tế qua biên giới Móng Cái
- Khu hợp tác kinh tế qua biên giới Trà Lĩnh – Long Bang
- Khu hợp tác kinh tế qua biên giới Lào Cai – Hồng Hà
Bốn khu hợp tác kinh tế này đều do Trung Quốc đề xuất, theo đó Trung Quốc muốn xây dựng các khu hợp tác kinh tế này theo mô hình “ Hai nước một khu, tự do thương mại, vận hành khép kín” Các khu hợp tác kinh tế này được đề xuất từ rất sớm vào năm 2007 trước khi có kế hoạch OBOR, sau đó từ khi kế hoạch được đưa
Trang 35ra thì những ý tưởng này đã được coi trọng và nâng cấp nhiều hơn, gắn kết chặt chẽ với chính sách của trung ương Trung Quốc
Ngoài ra, từ khi xuất hiện kế hoạch OBOR thì hợp tác “Hai hành lang, một vành đai” (TCOB) càng được phía Trung Quốc thúc đẩy nhiều hơn Kế hoạch TCOB đã được Thủ tướng Phan Văn Khải đưa ra trong chuyến thăm Trung Quốc năm 2004 Hai hành lang ở đây có nghĩa là hành lang kinh tế “Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng”, và hành lang “ Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng” và một “ Vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ” Nội dung cơ bản của kế hoạch này
là hợp tác phát triển thương mại, đầu tư, kinh tế, kĩ thuật, du lịch, khai thác và giao thông vận tải Dự kiến sau khi hoàng thành thì kế hoạch này sẽ là một phần trong hoạt động thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc trong khuôn khổ OBOR Việc thúc đẩy tiến độ đàm phán các khu hợp tác kinh tế và thúc đẩy kết nối trong khung khổ “TCOB” với sáng OBOR là hai nội dung chính trong các thỏa thuận đạt được trong chuyến thăm chính thức của ông Tập Cận Bình đến Việt Nam vào tháng 11/20171, qua đó cho thấy Trung Quốc đang cố gắng để đẩy nhanh tiến
độ, sớm đưa các dự án trên đi vào hoạt động để hỗ trợ cho kế hoạch OBOR2
2.6.4 Về tài chính
Việt Nam cùng Trung Quốc cũng là một trong những thành viên sáng lập ra ngân hàng AIIB, tham gia vào AIIB từ những thời gian đầu kế hoạch này được khởi xướng
Năm 2017, Chính phủ Việt Nam đã có văn bản giao cho ngân hàng Nhà nước (SBV) về việc phối hợp với các bộ ngành liên quan để nghiên cứu và đưa ra danh mục các dự án vay vốn ngân hàng AIIB3 Theo đó thì Tổng Công ty Đầu tư và Phát
Trang 36triển Cơ sở hạ tầng Cửu Long (CIPM) thuộc bộ Giao thông Vận tải đã đề xuất và được AIIB đồng ý về nguyên tắc sẽ xem xét tài trợ cho hai dự án xây dựng công tình tuyến Mỹ An – Cao Lãnh và dự án xây dựng Vành Đai Ba, Thành phố Hồ Chí Minh các đoạn Bến Lức – Quốc lộ 22 – Bình Chuẩn
Như vậy, trong chương 2 này, tác giả đã phân tích và trình bày rõ nét về kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường”, nguồn gốc và ba nội dung chính của kế hoạch muốn đẩy mạnh đó là ưu tiên kết nối về xây dựng cơ sở hạ tầng, thúc đẩy hợp tác về đầu tư, thương mại và xây dựng các trụ cột liên kết về tài chính Đồng thời, phân tích vị trí chiến lược của khu vực Đông Nam Á, vai trò và những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong kế hoạch “Một Vành Đai, Một Con Đường”
Trang 37CHƯƠNG 3: CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI MỸ-TRUNG
3.1 Chiến tranh thương mại
Kể từ đầu năm 2018, hệ thống thương mại đa phương đã bị thách thức bởi các quyết định đơn phương của Mỹ tăng thuế nhập khẩu cho một số đối tác thương mại, đặc biệt là Trung Quốc Bối cảnh của các biện pháp này của Mỹ là sự gia tăng thâm hụt thương mại của nước này trong những năm gần đây, đặc biệt là với Trung Quốc Theo Comtrade (2018), năm 2017, thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc tăng lên 363 tỷ USD, mức thâm hụt thương mại song phương cao nhất được ghi nhận Nó chiếm 42% tổng thâm hụt thương mại của Mỹ là 861 tỷ USD Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump chỉ trích quốc gia của ông thâm hụt rất lớn và quy kết nó đối với các tập quán thương mại không công bằng của Trung Quốc, như các biện pháp bảo hộ và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và bằng sáng chế Do đó, một cuộc điều tra đã được Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) mở ra, báo cáo cuối cùng được gửi vào ngày 11 tháng 1 năm 2018 cho Tổng thống Trump Theo Mục 232 của Đạo luật Mở rộng Thương mại năm 1962, cơ quan này đã phát hiện ra rằng, số lượng và tình trạng nhập khẩu thép và nhôm có nguy cơ làm suy yếu an ninh quốc gia cơ quan đề nghị thuế nhập khẩu 24% đối với tất cả các sản phẩm thép trong tất cả các
quốc gia và 7,7% cho tất cả các sản phẩm nhôm ở tất cả các quốc gia (USTR 2018)
Theo khuyến nghị của USTR, Tổng thống Donald Trump đã ký vào ngày 8 tháng 3 năm 2018 một quy định áp thuế bổ sung 25% cho giá trị nhập khẩu thép và 10% đối với nhôm tại tất cả các nước Ngoài ra, Trump đã công bố vào tháng 4 năm
2018 một danh sách các sản phẩm của Trung Quốc sẽ phải chịu phụ phí nhập khẩu, tương đương 50 tỷ USD Trong cùng tháng đó, Trung Quốc đã thông báo cho Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) về các biện pháp trả đũa của mình với Mỹ bằng cách đưa ra một danh sách các sản phẩm của Mỹ mà thuế quan nhập khẩu cũng sẽ
Trang 38được áp dụng, bao gồm cả việc áp thuế 25% đối với đậu nành nhập khẩu từ Hoa
Kỳ1
3.1.1 Nguồn gốc chiến tranh thương mại
3.1.1.1 Kế hoạch cũa Mỹ để đối phó với kế hoạch “ Một Vành Đai, Một Con
Đường”
Kế hoạch “ Một Vành Đai, Một Con Đường” cho thấy rõ tham vọng của
Trung Quốc trong việc thiệt lập một trật tự kinh tế mới là định chế kinh tế lớn song song với Mỹ OBOR là chiến lược chính trong công cuộc hướng đến “Made in China 2025” - một kế hoạch để nâng cấp toàn diện ngành công nghiệp Trung Quốc được thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường nhắc tới vào tháng 5 năm 2015 Ngoài
ra OBOR cũng là một trong những phản ứng của Trung Quốc đối với sự tập trung của Mỹ vào châu Á - đây là một nỗ lực nhằm kiềm chế Trung Quốc bằng cách mở rộng quan hệ kinh tế của Mỹ ở Đông Nam Á do chính quyền Obama đưa ra vào năm 2011 Trong một bài phát biểu năm 2015, Thủ tướng Qiao Liang đã nghỉ hưu
mô tả OBOR là một kế hoạch phòng hộ chống lại sự di chuyển về phía đông của
Mỹ
Quốc hội Hoa Kỳ thực sự công nhận tầm quan trọng của cột mốc 5 năm của kế hoạch OBOR bằng cách tổ chức các phiên điều trần của Thượng viện có liên quan Các học giả hàng đầu đã làm chứng trước các phiên điều trần của Ủy ban Rà soát Kinh tế và An ninh Quốc hội Hoa Kỳ, cung cấp một bản tóm tắt và phân tích về tiến trình đạt được trong năm năm đầu tiên của kế hoạch Mỹ coi “Vành Đai và Con Đường” như công cụ được Trung Quốc sử dụng để nâng cao lợi ích chiến lược về kinh tế và quân sự Một số quan chức chính quyền Trump và các nhà lập pháp Mỹ cũng mô tả như "bẫy nợ" để Trung Quốc giành quyền kiểm soát cơ sở hạ tầng nhạy cảm và làm suy yếu quyền tự chủ của các nước nợ nần
1 Trungtamwto., 2019 Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và một số tác động đến Việt Nam,
dong-den-viet-nam
Trang 39http://www.trungtamwto.vn/hiep-dinh-khac/13615-chien-tranh-thuong-mai-my trung-va-mot-so-tac-Mỹ gần đây đã có những động thái cạnh tranh và làm giảm nhịp độ tiến hành của các dự án đầu tư trong kế hoạch OBOR Chính quyền Trump trong khi nhận ra ảnh hưởng của Trung Quốc ngày càng tăng ở Châu Phi đã thành lập IDFC (Tập đoàn Tài chính Phát triển Quốc tế), tạo điều kiện cho Hoa Kỳ tài trợ các dự án cơ sở
hạ tầng ở các nền kinh tế thị trường mới nổi (tập trung vào Châu Phi) IDFC đã được phân bổ ngân sách đáng kể với giá trị lên tới 60 tỷ USD1 Mỹ tuyên bố, "Với các công ty Mỹ, công dân trên toàn Thế giới hiểu rằng những gì bạn thấy đúng là những gì bạn nhận được: Hợp đồng trung thực, các điều khoản trung thực và không
có những mối phiền lụy tiềm ẩn", điều này hàm ý nói lên sự không rõ ràng trong việc đầu tư CSHT của Trung Quốc và việc này chỉ nhắm đến mục đích duy nhất là OBOR chứ không phải giúp mang lại các giá trị khác cho nền kinh tế của các nước Trong ARF được tổ chức tại Singapore vào tháng 8 năm 2018, Mỹ đã công bố hai gói trị giá lần lượt là 300 triệu USD và 113 triệu USD để giúp các quốc gia ASEAN duy trì an ninh và tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế2
3.1.1.2 Thương chiến Mỹ Trung – Sự kìm hãm nền kinh tế Trung Quốc của
Mỹ
Vào ngày 15 tháng 6 năm 2018, chính quyền của ông Trump đã áp đặt mức thuế cao với hàng hóa của Trung Quốc Danh sách thuế quan trọng tập trung vào các sản phẩm mũi nhọn được đưa vào kế hoạch “Made in China 2025”, bao gồm các sản phẩm liên quan đến công nghệ thông tin và robot, việc này làm leo thang căng thẳng trong thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc từ đó góp phần hình thành nên chiến thanh thương mại Mỹ-Trung Một trong những mục tiêu của việc phát động chiến tranh thương mại của Mỹ là kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc, làm Trung Quốc sa lầy vào trận chiến, không còn đủ thời gian cũng như nguồn lực để dành cho kế hoạch “Vành Đai – Con Đường” được kỳ vọng sẽ
1 Yinka Adegoke., 2018 A new $60 billion agency is the clearest sign the US is worried about China’s Africa influence, https://qz.com/africa/1423506/china-africa-debt-us-will-invest-60-billion-overseas-to-beat-chin- at-development
2 CAN., 2018 US pledges nearly US$300 million security funding for Southeast Asia,
asia-10588696