1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bảo tồn và phát huy giá trị di tích nho học việt nam (trường hợp văn miếu quốc tử giám, hà nội và văn miếu mao điền, hải dương)

248 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 248
Dung lượng 13,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có hay không sựkhác biệt trong việc bảo tồn và phát huy giá trị DTNH và các di tích khác?Giải pháp nào cho nhà quản lý các DTNH để bảo tồn và phát huy giá trịDTNH hiệu quả, góp phần thực

Trang 1

Nguyễn Văn Tú

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH NHO HỌC VIỆT NAM (Trường hợp Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội và Văn miếu

Mao Điền, Hải Dương)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HOÁ

Hà Nội - 2020

Trang 2

Nguyễn Văn Tú

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH NHO HỌC VIỆT NAM (Trường hợp Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội và Văn miếu

Mao Điền, Hải Dương)

Chuyên ngành: Quản lý văn hoá

Mã số: 9319042 LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HOÁ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Phạm Hồng Toàn PGS.TS Phạm Thị Thu Hương

Hà Nội - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Luận án tiến sỹ: Bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học Việt Nam (Trường hợp Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Hà Nội và Văn miếu Mao Điền, Hải Dương) là do tôi viết và chưa công bố Các trích dẫn, số liệu, kết quả nêu

trong luận án là trung thực và có xuất xứ rõ ràng

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả

Nguyễn Văn Tú

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC SƠ ĐỒ, MÔ HÌNH, BẢNG TRONG LUẬN ÁN v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 9

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH NHO HỌC VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH NHO HỌC 9

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị di tích 9

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về bảo tồn và phát huy di tích Nho học Việt Nam 14

1.1.3 Các công trình nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị di tích Văn Miếu- Quốc Tử Giám và Văn miếu Mao Điền 17

1.2 Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị di tích 22

1.2.1 Một số khái niệm 22

1.2.2 Quan điểm lý thuyết luận án áp dụng 30

1.2.3 Khung phân tích hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học 34

1.3 Hệ thống di tích Nho học Việt Nam 38

1.3.1 Quá trình hình thành hệ thống di tích Nho học Việt Nam 38

1.3.2 Hiện trạng hệ thống di tích Nho học Việt Nam 42

1.3.3 Phân loại di tích Nho học Việt Nam 44

1.3.4 Đặc điểm hệ thống di tích Nho học Việt Nam 48

1.3.5 Vai trò và giá trị của di tích Nho học Việt Nam hiện nay 51

1.3.6 Lịch sử di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám và Văn miếu Mao Điền 59

Tiểu kết 63

Chương 2 65

THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH 65

VĂN MIẾU – QUỐC TỬ GIÁM VÀ VĂN MIẾU MAO ĐIỀN 65

2.1 Giá trị của di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám và Văn miếu Mao Điền 65

2.1.1 Giá trị của Văn Miếu-Quốc Tử Giám hiện nay 65

2.1.2 Giá trị di tích Văn miếu Mao Điền 73

2.2 Thực trạng hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám và Văn miếu Mao Điền 78

2.2.1 Bảo vệ di tích về mặt pháp lý và khoa học 78

2.2.2 Bảo vệ di tích về mặt vật chất và kỹ thuật 93

2.2.3 Hoạt động phát huy giá trị di tích 100

2.3 Nhận xét chung 115

2.3.1 Ưu điểm và bài học kinh nghiệm 115

Trang 5

2.3.2 Bất cập và những vấn đề đặt ra 121

Tiểu kết 126

Chương 3 128

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH NHO HỌC HIỆN NAY 128

3.1 Cơ sở của việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học Việt Nam 128

3.1.1 Chính sách và quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị di sản 128

3.1.2 Những vấn đề cần quan tâm trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học 130

3.2 Giải pháp chung nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích Nho học Việt Nam 132

3.2.1 Định hướng và mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học 132

3.2.2 Nguyên tắc bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học 134

3.2.3 Một số giải pháp chung 136

3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám 150

3.3.1 Giải pháp trong hoạt động bảo vệ về pháp lý, khoa học 150

3.3.2 Giải pháp trong hoạt động tu bổ, tôn tạo 153

3.3.3 Giải pháp trong hoạt động phát huy giá trị di tích 157

3.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích Văn miếu Mao Điền 161

3.4.1 Giải pháp trong bảo vệ về pháp lý, khoa học 161

3.4.2 Giải pháp trong hoạt động tu bổ, tôn tạo di tích 162

3.4.3 Giải pháp trong hoạt động phát huy giá trị di tích 163

Tiểu kết 165

KẾT LUẬN 167

TÀI LIỆU THAM KHẢO 171

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 170

PHỤ LỤC 185

Trang 6

: Trang: Tiến sỹ: Ủy ban nhân dân: United Nations Educational, Scientificand Cultural Organization (Tổ chức VănKhoa học và Giáo dục Liên Hợp Quốc):Văn hóa khoa học

: Văn hóa – Thể thao và Du lịch: Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội): Văn Miếu Mao Điền (Hải Dương)

hóa,

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ, MÔ HÌNH, BẢNG TRONG LUẬN ÁN

Sơ đồ 2.1 Kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám hiện nay 69

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ Cơ cấu tổ chức Trung tâm hoạt động VHKH 85VMQTG

Sơ đồ 2.3 Sơ đồ cơ cấu tổ chức BQL di tích huyện Cẩm 86Giàng

Sơ đồ 3.3 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Trung tâm Hoạt động VHKH 152VMQTG NCS đề xuất

Tên mô hình

Mô hình 3.2 Mô hình mạng lưới liên kết các di tích Nho học 149

Tên bảngBảng 2.1 Lượt khách và giá trị thu phí tham quan ở Văn Miếu 72– Quốc Tử Giám

Bảng 2.1 Số lượng đoàn và tổng số lượt khách được đón tiếp ở 77VMMĐ

Bảng 2.2 Số đoàn khách tham quan VMQGT được thuyết minh 109

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Nho giáo du nhập vào Việt Nam khoảng đầu công nguyên cho đến thời

kỳ độc lập tự chủ thì đã xác lập được chỗ đứng trong đời sống văn hóa – xãhội của người Việt Với sự kiện thành lập Văn Miếu, sau đó là Quốc Tử Giámvào các năm 1070 và 1076 ở thời Lý, cùng với các khoa thi liên tiếp được mở

ra sau đó, trên đất nước Việt Nam đã dần dần hình thành và phát triển một nềngiáo dục Nho học – khoa cử mà trong suốt hơn 8 thế kỷ đã góp phần đào tạonên một đội ngũ trí thức – quan lại Nho học có những đóng góp tích cực cho

sự phát triển chung của đất nước

Nho giáo và nền giáo dục - khoa cử Nho học cũng đã để lại một di sảnvăn hóa vật thể và phi vật thể đồ sộ, đó là kho tàng thư tịch Hán Nôm đồ sộ;

là hệ thống Văn miếu, Văn từ, Văn chỉ - nơi thờ các bậc Tiên thánh, Tiênhiền, danh Nho và tôn vinh, ngưỡng vọng những người hiếu học, học giỏi, đỗcao; các trường học từ trung ương đến địa phương cùng các hiện vật liên quannhư: bia đá, bảng vàng, sắc phong, thần phả, gia phả, nhà thờ các vị đỗ đạikhoa; những hiện vật của các vị khoa bảng như: nhà cửa, phương tiện họchành (sách, bút, nghiên mực, gánh sách…) Hệ thống di tích Nho học ở ViệtNam chiếm một vị trí quan trọng trong di sản Nho học và trong hệ thống ditích lịch sử văn hóa toàn quốc Trải qua chiến tranh cũng như những thăngtrầm của lịch sử, hệ thống di tích Nho học ở Việt Nam đã bị hư hại xuống cấpnhiều Trong số các di tích Nho học hiện còn, đáng chú ý có các Văn miếucấp trung ương như Văn Miếu-Quốc Tử Giám Hà Nội (VMQGT), Văn miếuHuế, các Văn Miếu cấp địa phương (cấp tỉnh) như Văn miếu Mao Điền HảiDương (VMMĐ), Văn Miếu Xích Đằng (Hưng Yên), Văn miếu Bắc Ninh(Bắc Ninh) Việc bảo tồn, tôn tạo và tổ chức các hoạt động nhằm phát huy giá

Trang 9

trị những di tích này trong công cuộc xây dựng nền văn hóa và giáo dục hiệnnay có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của nhà nước, nhiều ditích đã được quan tâm đầu tư, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị Hoạt động bảotồn và phát huy giá trị đã đạt được những thành tựu to lớn không chỉ góp phầnvào công cuộc bảo tồn, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và xây dựng nền vănhóa mới, mà còn có ý nghĩa lớn về xã hội và kinh tế Đặc biệt DTNH gắn vớinền giáo dục khoa cử Việt Nam, là biểu tượng, minh chứng cho truyền thốnghiếu học, khoa bảng của dân tộc Việc phát huy giá trị của di tích nhằm giáodục truyền thống hiếu học, bồi dưỡng nhân cách con người góp phần to lớnvào sự nghiệp giáo dục, đào tạo nhân tài cho đất nước, tạo nguồn lực cho việcxây dựng đất nước hiện đại trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tếhiện nay

Chiến lược Phát triển văn hóa đến năm 2020 đã chỉ rõ: “Đầu tư đồng bộ

bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hoá tiêu biểu trở thành những di sản

có chất lượng cao về khoa học bảo tồn và môi trường văn hoá, phục vụ giáodục truyền thống” [107]

Tuy nhiên, công tác BTPH giá trị của di tích hiện nay vẫn còn nhiều bấtcập, chưa đồng bộ Ngoài di tích có điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịchnhư VMQTG Hà Nội, hầu hết các di tích khác chỉ có thể phát huy giá trị trongcác dịp đặc biệt như tết cổ truyền hoặc đầu năm học Công tác tu bổ, tôn tạo ditích, việc tổ chức hoạt động nhằm phát huy giá trị của các di tích hiện chưaxứng với tiềm năng và giá trị của di tích Ngay cả ở những nơi có hoạt độngtích cực, hiệu quả như VMQTG, thì việc tổ chức các hoạt động này còn mangnhiều tính tự phát, giải pháp tình thế của đơn vị quản lý di tích, các hoạt độngchưa được tổ chức thành hệ thống, dựa trên những cơ sở lý luận khoa học, vàchưa tổng kết, đánh giá được hiệu quả của hoạt động

Trang 10

Một thực tế đáng lưu tâm hiện nay là, việc tu bổ, tôn tạo các di tích Nhohọc, như Văn miếu hàng tỉnh, hàng huyện hay Văn từ, Văn chỉ không chỉ gặpkhó khăn trong việc huy động kinh phí, thống nhất về chủ trương đầu tư, màcòn gặp phải những vấn đề có tính chất lý luận như: DTNH có vai trò, giá trịthế nào đối với văn hóa, giáo dục, kinh tế, có cần thiết phải tiếp tục tu bổ, tôntạo DTNH trong giai đoạn hiện nay không? Việc bảo tồn và phát huy giá trịDTNH hiện nay thực hiện theo định hướng như thế nào? Có hay không sựkhác biệt trong việc bảo tồn và phát huy giá trị DTNH và các di tích khác?Giải pháp nào cho nhà quản lý các DTNH để bảo tồn và phát huy giá trịDTNH hiệu quả, góp phần thực hiện thành công chiến lược xây dựng xã hộihọc tập, xây dựng nền kinh tế trí thức trong xã hội hiện đại?

Vấn đề này cần được nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, đúc kết để đưa rađịnh hướng và giải pháp cho hoạt động BTPH giá trị phù hợp vừa mang tínhkhoa học, vừa được thực tiễn chấp nhận Cho đến nay, chưa có một công trìnhnghiên cứu đầy đủ nền tảng lý luận và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn quátrình BTPH giá trị của DTNH trong giai đoạn vừa qua

Từ những vấn đề trên, NCS lựa chọn đề tài: Bảo tồn và phát huy giá trị

di tích Nho học Việt Nam (Trường hợp Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội; Văn miếu Mao Điền,Hải Dương) làm đề tài cho luận án, với mong muốn

nghiên cứu để giải quyết các vấn đề còn bất cập trong hoạt động bảo tồn vàphát huy giá trị các di tích Nho học, góp phần giúp các nhà quản lý văn hóa cóđịnh hướng và giải pháp để bảo tồn, tôn tạo DTNH bền vững, hiệu quả, gópphần phát triển nền giáo dục, đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo tồn và phát triểnbền vững di tích trong bối cảnh hiện nay

2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 11

Nghiên cứu thực trạng hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị DTNH ởViệt Nam qua trường hợp VMQTG, VMMĐ; chỉ ra ưu điểm và bất cập tronghoạt động này, để từ đó đề ra định hướng và giải pháp tăng cường hiệu quảhoạt động bảo tồn và phát huy giá trị DTNH nói chung, các di tích VMQTG

và VMMĐ nói riêng, một cách hiệu quả và bền vững

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống cơ sở lý luận, quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị di tích và xây dựng khung lý thuyết áp dụng cho luận án;

- Nghiên cứu giá trị tiêu biểu, đặc thù của hệ thống DTNH nói chung vàcủa Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Văn Miếu Mao Điền, làm cơ sở cho hoạt độngphát huy giá trị di tích;

- Nghiên cứu thực trạng hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích VMQTG và VMMĐ; đánh giá ưu điểm, hạn chế của công tác này;

- Đề xuất định hướng và giải pháp tăng cường hiệu quả bảo tồn và phát huy giá trị cho các di tích này trong giai đoạn hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3 1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động BTPH giá trị di tích VMQTG và VMMĐ

Đây là hai DTNH tiêu biểu, đặc thù nhất trong hệ thống DTNH ViệtNam Trước hết, Văn miếu là loại hình di tích mang nét đặc trưng, tiêu biểunhất của di tích Nho học, thể hiện được bản chất của di tích Nho học: là nơithờ tự, tôn vinh và giáo dục Nho học; Thứ hai, đây là hai di tích đại diện chohai mức độ, cấp độ quan trọng khác nhau trong hệ thống DTNH, đó là:VMQTG là Văn miếu cấp quốc gia, do triều đình quản lý, còn VMMĐ là Vănmiếu cấp tỉnh, vùng, có ảnh hưởng một vùng, một địa phương, do địa phươngquản lý; Thứ ba, đây là hai di tích được bảo tồn, bảo vệ thuộc loại nguyên vẹn

Trang 12

nhất cho đến thời điểm nghiên cứu; Thứ tư, đây là hai di tích được bảo vệ, tôntạo và phát huy giá trị hiệu quả nhất trong số các di tích còn lại hiện nay.Trong quá trình triển khai, NCS còn so sánh với hoạt động BTPH giá trị tại DTNH khác để làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi thời gian: từ 1986 đến nay, tập trung giai đoạn 2015 đến nay

- Nội dung nghiên cứu: Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích VMQTG và VMMĐ

4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

4.1 Câu hỏi nghiên cứu

1 Di tích Nho học nói chung, di tích VMQTG, VMMĐ có giá trị và vai trò gì trong việc bảo tồn và phát triển nền văn hóa, giáo dục Việt Nam?

sự hiệu quả, phát huy hết giá trị của di tích trong bối cảnh hiện nay?

3 Định hướng và những giải pháp nào để khắc phục và nâng cao hiệu quả hoạt động BTPH giá trị DTNH nói chung, di tích VMQTG, VMMĐ?

4.2 Giả thuyết nghiên cứu

DTNH nói chung, VMQTG và VMMĐ nói riêng có vai trò quan trọng,giá trị đặc biệt với việc bảo tồn và phát triển nền văn hóa, giáo dục, với pháttriển kinh tế gắn với du lịch hiện nay, nếu được bảo tồn và phát huy giá trịđúng hướng, khoa học và phù hợp với quan điểm quản lý DSVH hiện đại.Xây dựng DTNH thành một trung tâm văn hóa, khoa học, giáo dục truyềnthống của quốc gia, tỉnh, vùng tùy theo quy mô, vai trò cụ thể của di tích bằngnhững giải pháp BTPH thích hợp sẽ đưa DTNH vào phục vụ đời sống cộngđồng đem lại hiệu quả tích cực cho nền giáo dục và văn hóa, kinh tế

Trang 13

Trên cơ sở khung lý thuyết nghiên cứu hoạt động BTPH giá trị DTNH,NCS nghiên cứu thực trạng hoạt động BTPH giá trị di tích VMQTG và VMMĐ,

đề ra định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả BTPH giá trị DTNH nói chung,

di tích VMQTG, VMMĐ nói riêng trong bối cảnh hiện nay

5.1 Đóng góp khoa học

- Bổ sung thêm cơ sở lý luận cho chuyên ngành quản lý văn hóa cơ sở

lý luận về quản lý DTNH, cụ thể là khung lý thuyết nghiên cứu BTPH giá trị

DTNH nói chung và VMQTG, VMMĐ, chỉ ra ưu điểm, tồn tại của hoạt động BTPH phát huy giá trị của DTNH

- Chỉ ra vai trò, giá trị đặc biệt của hệ thống di tích Nho học trong nềnnền văn hóa và đối với văn hóa, giáo dục hiện nay, làm cơ sở để triển khai các giảipháp bảo tồn và phát huy giá trị DTNH hiệu quả, bền vững trong giai đoạn hiệnnay

5.2 Đóng góp thực tiễn

Đánh giá thực trạng BTPH giá trị DTNH nói chung, di tích VMQTG,VMMĐ một cách khoa học, khách quan, từ đó chỉ ra ưu điểm, tồn tại của hoạtđộng BTPH phát huy giá trị VMQTG và VMMĐ, làm cơ sở chỉ ra địnhhướng, mục tiêu, giải pháp BTPH giá trị DTNH nói chung, đề ra giải phápBTPH hiệu quả di tích VMQTG, VMMĐ hiện nay nói riêng Các nhà quản lý

có thể tham khảo để quản lý DTNH bền vững, tạo động lực cho việc pháttriển kinh tế, đào tạo, phát triển con người trong nền kinh tế trí thức, nguồnnhân lực cho một xã hội công nghiệp hiện đại, bảo tồn văn hóa truyền thốngcủa dân tộc, góp phần đảm bảo cho việc hội nhập văn hóa thành công

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Văn hóa học, Quản lý văn

hóa, Sử học, xã hội học dùng để nghiên cứu lịch sử hình thành di tích Nho

Trang 14

học, lịch sử tu bổ, tồn tạo di tích tại chương 1; việc tìm hiểu đánh giá củangười sử dụng di tích, quản lý di tích trong chương 2, chương 3;

6.2 Phương pháp so sánh

Nghiên cứu, so sánh các luận điểm của các nhà nghiên cứu về bảo tồn ditích để tổng hợp, đề xuất ra khung lý thuyết nghiên cứu của luận án, địnhhướng, quan điểm, giải pháp về BTPH giá trị di tích Nho học Phương phápnày được sử dụng nhiều ở chương 1 và chương 3, khi cần đưa ra những nhậnđịnh, luận giải những quan điểm, đề xuất định hướng, giải pháp

6.3 Phương pháp điền dã, khảo sát thực địa

Điền dã, khảo sát thực địa, quan sát, thu thập tài liệu bằng chụp ảnh, ghichép, phỏng vấn, tham dự các sự kiện tại di tích VMQTG, VMMĐ để tìmhiểu thực trạng hoạt động BTPH giá trị di tích, từ đó đánh giá ưu điểm, tìm ranhững vấn đề còn hạn chế Phương pháp này được sử dụng ở chương 2, khinghiên cứu thực trạng hoạt động BTPH của Di tích VMQTG, VMMĐ và một

số DTNH khác

6.4 Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu

Sử dụng trong quá trình nghiên cứu nhằm thu thập dữ liệu, tổng hợp,phân tích tài liệu liên quan đến hoạt động BTPH giá trị DTNH, xác định giátrị, vai trò của di tích Nho học xưa và nay Phương pháp này được sử dụngchủ yếu trong chương 1, chương 2 để tìm hiểu, nghiên cứu về các khái niệm,

lý thuyết, luận điểm của các nhà nghiên cứu trong việc bảo tồn và phát huygiá trị di tích nói chung, di tích Nho học nói riêng Nghiên cứu vai trò, giá trịcủa các di tích Nho học trong bối cảnh hiện nay

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu (08 trang), Kết luận (04 trang), Phụlục (50 trang), Tài liệu tham khảo (14 trang), phần chính văn luận án trình bày trong

03 chương:

Trang 15

Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH

NHO HỌC VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH NHO HỌC

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị di tích

Di sản văn hóa là vấn đề đã được quan tâm nhiều, đặc biệt trong nhữngnăm gần đây, khi việc BTPH giá trị của DSVH không chỉ là vấn đề của riêngngành văn hóa, của các nhà quản lý, mà còn là mối quan tâm của nhiều ngànhkhác nhau, từ kinh tế, du lịch, bảo vệ môi trường Các công trình nghiên cứu

về BTPH giá trị DSVH đã đề cập đến các quan điểm, nguyên tắc cũng nhưgiải pháp bảo tồn và phát huy giá trị DSVH áp dụng cho nhiều loại hìnhDSVH khác nhau, trong đó có DSVH vật thể, mà cụ thể là các di tích LSVH

và danh lam thắng cảnh

Bảo tồn và phát huy giá trị DSVH đã được các nhà nghiên cứu thế giớiquan tâm từ khá sớm Trong nhiều nghiên cứu, khi đề cập tới hai vấn đềBTPH giá trị di tích, các tác giả tập trung triển khai, cụ thể hóa các nguyêntắc, quan điểm quản lý di tích trong các công ước, hiến chương của UNESCO,

phát triển các quan điểm này, như: Heritage Studies: Methods and Approaches (Nghiên cứu di sản: Các phương pháp và cách tiếp cận) của tác giả John Carman & Marie Louise Stig Sorensen (2009) [144]; Cultural Heritage Management (Quản lý DSVH ) của PM Massenger and GS Smith (2010) [146]; Để phát huy giá trị DSVH, các tác giả nghiên cứu giải pháp

khai thác các giá trị nhằm phát triển du lịch, tìm hiểu mối tương quan giữa di

sản và du lịch như trong Heritage, Tourism and Society (Di sản, Du lịch và cộng đồng) của tác giả Herbert, D.T (1995) [145]; Tourism and heritage Management (Quản lý di sản và Du lịch) của Nuryanti W (1997)[147]; Managing heritage tourism (Quản lý du lịch di sản) của tác giả Brian Garrod,

Trang 17

Alan Fyall (2000) [141]; Cultural Tourism: the Partnership between Tourism and Cultural Heritage Management (Du lịch văn hóa: Sự tương tác giữa du

lịch và quản lý DSVH) của tác giả B McKercher, H Cross, and RB

McKercher (2002)[142]; Heritage Indentification, Conservation and Management của G Aplin(2002) (Xác định, bảo tồn và quản lý di sản)[143]; hoặc Cultural Heritage and Tourism (DSVH và du lịch) của tác giả Timothy,

D J (2011) [150], (Bản sách điện tử Kindle); Nhìn chung, các tác giả đề cậpđến nội dung và các vấn đề đặt ra trong BTPH giá trị DSVH, đưa ra một sốnguyên tắc, kinh nghiệm về bảo tồn và phát huy giá trị di sản gắn với với hoạtđộng phát triển du lịch

Trong các nghiên cứu của mình, các tác giả cho rằng, vấn đề cân bằnggiữa hai lĩnh vực bảo tồn và phát triển thế nào cho hợp lý luôn là bài toán khó

với các nhà quản lý Peter Howard (2002) trong Heritage: Management, Interpretation, Identity (Di sản: quản lý, diễn giải và bản sắc) cho rằng, các

nhà quản lý luôn phải đặt ra câu hỏi: chúng ta cần bảo tồn cái gì, tại sao vàcho ai? Việc bảo tồn nhằm gìn giữ lại tối đa những giá trị của di sản, làm cơ

sở để khai thác, phát huy các giá trị đó trong đời sống Việc khai thác, pháthuy giá trị là điều cần, làm cho di sản thực sự trở thành một bộ phận của cuộcsống hiện tại Tuy nhiên, các nghiên cứu lưu ý rằng, việc khai thác cần quantâm đến vấn đề phát triển bền vững, tránh tình trạng khai thác quá mức dẫn tớinhững ảnh hưởng không tốt đến bản thân giá trị của các di sản đó [149]

Tại Việt Nam, đã có rất nhiều các bài viết, nghiên cứu mang tính vĩ môliên quan đến việc bảo tồn DSVH vật thể Các tác giả đã đề cập tới các quanđiểm, khái niệm về quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị DSVH, thực trạng việcbảo tồn, phát huy giá trị DSVH vật thể, đồng thời đề xuất một số nhóm quanđiểm và giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị DSVH vật thể, trong đó chủ yếu

là di tích LSVH Thực tế quản lý các DSVH vật thể, mọi hoạt động quản lý

Trang 18

đều hướng tới mục đích quan trọng nhất đó là duy trì sự tồn tại của các di sản

ở trạng thái tốt nhất, từ đó có thể khai thác, phát huy phục vụ cho cộng đồng

xã hội Một số công trình đã nghiên cứu hiện trạng quản lý DSVH vật thể trongnhững năm qua, từ đó chỉ rõ giải pháp nhằm BTPH giá trị DSVH vật thể, chủ yếu

là các di tích LSVH

Trong bài “Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn DSVH”,tác giả Đặng Văn Bài (2002) đã đưa ra một số nội dung chủ yếu của công tácquản lý nhà nước đối với DSVH, coi đây là các vấn đề then chốt, cần quantâm, trong đó việc phân cấp quản lý di tích; Hệ thống tổ chức ngành bảo tồn -bảo tàng và đầu tư ngân sách cho các cơ quan quản lý di tích - là yếu tố cótính chất quyết định nhằm tăng cường hiệu quả quản lý [4, tr.11-13]

Trong bài “Mấy vấn đề về hoạt động tu bổ, phục hồi di tích LSVH” tác

giả Lưu Trần Tiêu (2011) cho rằng, hoạt động bảo tồn di tích thể hiện ở 3 mặt

cụ thể là: bảo vệ di tích về mặt pháp lý và khoa học, bảo vệ di tích về mặt vậtchất kỹ thuật, cuối cùng là sử dụng di tích phục vụ nhu cầu hiện tại của xã hội.Tác giả nhấn mạnh: các di tích LSVH chỉ có thể được bảo vệ và phát huy caonhất giá trị văn hóa khi thực hiện một cách đồng bộ 3 mặt hoạt động này [112,

tr 3 -7] Như vậy, có thể thấy hoạt động bảo tồn bao gồm các hoạt động:nghiên cứu khoa học và lập hồ sơ di tích, công nhận di tích để có căn cứ pháp

lý, khoa học bảo vệ di tích, sau đó tiến hành tu bổ, tôn tạo nhằm bảo vệ sự tồntại lâu dài của di tích, cuối cùng là phát huy giá trị di tích Như vậy, bảo tồn ditích bản thân đã bao gồm hoạt động phát huy giá trị di tích

Hai tác giả Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (đồng chủ biên-2012)

trong cuốn Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế đã đề cập đến nhiều lĩnh vực cụ thể của hoạt động quản lý DSVH,

trong đó có thực trạng quản lý di tích LSVH, bảo tàng và DSVH phi vật thể

Từ thực trạng này các tác giả đã đề ra những giải pháp cụ thể cho từng lĩnh

Trang 19

vực của di tích như: đầu tư đồng bộ trong bảo tồn, tôn tạo, triển khai việc quyhoạch chi tiết đối với các di tích để giải quyết hợp lý, hài hòa bền vững [38,tr.486].

Tác giả Hà Văn Tấn (2005) trong bài viết “Bảo vệ di tích LSVH trongbối cảnh công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước” cho rằng: “Các di tíchLSVH đang trong tình trạng SOS khẩn cấp Nếu chúng ta không có nhữngchính sách bảo tồn thì ngay cả các di tích quý giá ấy cũng sẽ bị mất đi, màmột dân tộc đánh mất đi di tích LSVH là một dân tộc đánh mất trí nhớ…” [98,tr.44-54] Trong bài “Tầm nhìn tương lai đối với DSVH và hệ thống bảo vệ ditích ở nước ta” của tác giả Nguyễn Quốc Hùng đã chỉ ra những tác động củaCNH, ĐTH làm tổn hại tới hệ thống di tích LSVH; nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng hiện nay Tác giả đã phân tích khá kỹ ba nhóm giải pháp nhằm nâng caohiệu quả của công tác quản lý, BTPH giá trị DSVH trong điều kiện CNH,ĐHT hiện nay [47, tr.4-5]

Đề tài nghiên cứu Bảo vệ và phát huy các giá trị DSVH trong quá trình phát triển kinh tế -xã hội và hội nhập quốc tế [51] của Cục DSVH do Nguyễn

Thế Hùng làm chủ nhiệm đã nghiên cứu về thực trạng hoạt động bảo vệ, pháthuy DSVH vật thể và phi vật thể trên phạm vi cả nước, chỉ ra những thành tựu

và hạn chế trong hoạt động này Tác giả cũng đề xuất 6 nhóm giải pháp chínhnhằm đẩy mạnh việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH là: tăng cường công tácquản lý nhà nước; củng cố hoàn thiện bộ máy ngành; chính sách đầu tư; xãhội hóa; đào tạo nguồn lực con người; tăng cường hợp tác quốc tế…

Tác giả Phạm Thị Thu Hương (2013) trong đề tàì nghiên cứu khoa học

cấp bộ Nghiên cứu thực trạng và giải pháp bảo tồn DSVH tại các vùng đang trong quá trình CNH, ĐTH ở đồng bằng sông Hồng, [52] nghiên cứu thực

trạng bảo vệ DSVH vật thể và phi vật thể ở một số địa phương vùng đồngbằng sông Hồng trong quá trình CNH, ĐTH Sau khi chỉ ra tác động cả tích

Trang 20

cực và tiêu cực của quá trình CNH, ĐTH đến DSVH, tác giả đã đề ra nhữnggiải pháp bảo tồn DSVH.

Công trình Văn hóa Việt Nam, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn năm (2006) [19] của tác giả Nguyễn Chí Bền và BTPH giá trị DSVH vật thể Thăng Long Hà Nội (2010) [20] do tác giả Nguyễn Chí Bền chủ biên đã trình bày,

phân tích khá rõ những vấn đề về lý luận, thực tiễn cùng những kinh nghiệmbảo tồn, phát huy giá trị của DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội, tiếp thunhững quan điểm mới về quản lý di sản của nhiều nước trên thế giới để có thể

áp dụng vào thực tiễn ở nước ta Công trình đã đề xuất các nhóm khuyến nghị

để BTPH giá trị của các DSVH vật thể của thủ đô Thực chất, đây chính lànhững đề xuất cho công tác quản lý di tích LSVH của thủ đô Hà Nội nóiriêng, và cả nước hiện nay

Một số tài liệu, giáo trình được viết để giảng dạy những nội dung cơ

bản về quản lý DSVH cho sinh viên trong nhà trường như: Quản lý DSVH với phát triển du lịch do PGS.TS Lê Hồng Lý chủ biên [72], Hoàng Sơn Cường (1998) với Lược sử quản lý văn hóa ở Việt Nam [29]; Nguyễn Thị Kim Loan (chủ biên) và Nguyễn Trường Tân trong giáo trình Quản lý DSVH [62]; Trịnh Minh Đức (chủ biên), Phạm Thu Hương (2007) trong Bảo tồn di tích LSVH

[37]… đã đưa ra một số khái niệm cơ bản về DSVH, quản lý DSVH, cácnguyên tắc và nội dung của công tác quản lý DSVH, vai trò của di sản đối với

sự phát triển du lịch hiện nay, thực chất đó là các mặt hoạt động bảo tồnDSVH

Ngoài những công trình nghiên cứu đã nêu trên, một số khá lớn các bàiviết đăng trên các tạp chí chuyên ngành như DSVH, Văn hóa Nghệ thuật, Vănhóa học, Nghiên cứu văn hóa bàn luận vấn đề BTPH giá trị DSVH ở nước ta

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, các bài viết trên đề cập đếnnhững vấn đề lý luận và thực tiễn của việc bảo tồn, phát huy giá trị của DSVH

Trang 21

trong bối cảnh hiện nay theo các quan điểm, cách nhìn cá nhân rất đa dạng,trong đó đáng chú ý, hoạt động bảo tồn DSVH, di tích nói riêng được khuônthành 3 vấn đề: bảo vệ di tích về mặt pháp lý và khoa học, bảo vệ di tích vềmặt vật chất kỹ thuật, và sử dụng di tích phục vụ nhu cầu hiện của xã hội, hayphát huy giá trị di tích cho xã hội Đây là gợi ý về cơ sở lý luận để NCS kếthừa, áp dụng vào trong nghiên cứu của mình

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về bảo tồn và phát huy di tích Nho học Việt Nam

Nho giáo, Nho học gắn liền với chế độ quân chủ, phong kiến, có ảnhhưởng sâu rộng đến văn hóa, giáo dục của Việt Nam Nguồn gốc của cácDTNH gắn liền với sự thịnh suy của chế độ quân chủ, và nền giáo dục theoNho học Khi thế giới, nhất là các nước châu Á vốn ảnh hưởng bởi nền giáodục Nho học dần làm quen, tiếp xúc với nền văn hóa, giáo dục phương tây thìcũng là lúc nền giáo dục Nho học mất vị trí, vai trò trong xã hội Các cơ sởcủa Nho giáo, Nho học không còn đảm nhiệm chức năng ban đầu của mình,dần chuyển thành di tích thì cũng là lúc chúng bị lãng quên, cùng với sự lãngquên của Nho giáo và Nho học, sau khi chế độ phong kiến chấm dứt

Di tích Nho học gần đây được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và cónhững công trình có giá trị trong việc nhận diện, đánh giá giá trị của loại hình

di tích này, đồng thời đưa ra giải pháp BTPH giá trị của chúng Các công trình

Trang 22

Miếu, Văn từ, văn chỉ ở Vĩnh Phúc [71], Trần Thị Xuyến (2012) trong Văn hóa Làng khoa bảng Quan Tử [133], Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2013) với DTNH và Khoa bảng tỉnh Hưng Yên [14]

Nhóm thứ hai, nghiên cứu bảo tồn, phát huy DTNH đã chỉ ra giải phápBTPH giá trị của di tích Nho học, ngoài việc mô tả, hệ thống hóa về DTNHViệt Nam, có đưa ra một số giải pháp quản lý, sử dụng DTNH Đề tài khoa

học: Cơ sở và giải pháp nghiên cứu bảo tồn DTNH Việt Nam (1998) của Sở

Khoa học Công Nghệ và Môi trường và Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội thựchiện [92] bước đầu đánh giá hiện trạng hệ thống DTNH Việt Nam trong thờigian những năm 1990, có tổng kết, thống kê các DTNH ở Việt Nam, mô tảhiện trạng một số di tích Nho học tiêu biểu ở các địa phương như Nam Định,Ninh Bình, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên Đề tài cũng đưa ra nhóm giảipháp mang tính vĩ mô nhằm quản lý hệ thống DTNH trong phần tổng luận.Tuy nhiên, đề tài chưa chỉ rõ cơ sở lý luận, hệ thống các quan điểm quản lý,bảo tồn DTNH còn chưa rõ ràng Ngoài ra, đề tài còn chưa đề cập đến địnhhướng cũng như giải pháp BTPH giá trị từng di tích nói riêng, hoặc các di tíchtiêu biểu như các Văn miếu, chưa đề xuất được các hoạt động cụ thể nhằmbảo vệ trực tiếp di tích; Một số hội thảo khoa học do Trung tâm hoạt độngVHKH VMQTG tổ chức với sự tham gia của các nhà nghiên cứu, nhà quản lý

văn hóa như: VMQTG và hệ thống DTNH Việt Nam (2008) [116] hay: Kỷ yếu Hội nghị khoa học các đơn vị Quản lý DTNHViệt Nam (2010) [118] … Các

tham luận về các vấn đề trong việc quản lý các DTNH nói chung, tại địaphương nói riêng như: “Những giải pháp BTPH giá trị DTNH ở Bắc Ninh”của tác giả Nguyễn Hữu Mạo [68]; “Những giải pháp BTPH giá trị DTNH ởNinh Bình” của tác giả Nguyễn Xuân Khang [60]; “Gìn giữ truyền thống hiếuhọc tại các DTNH ở Hưng Yên” của Đào Mạnh Huân [42]… Tuy nhiên, cáccông trình này chủ yếu mô tả việc tu bổ di tích, phát huy giá trị di tích trên

Trang 23

phương diện khai thác phục vụ du lịch, xuất phát từ tình hình thực tế, hay lànhững giải pháp mang tính tình thế giải quyết những một vấn đề nào đó củathực tế, mà chưa tổng kết, chưa đưa ra được đánh giá điểm được, chưa đượctrong công tác BTPH giá trị DTNH, từ đó chỉ ra giải pháp BTPH hiệu quả cácDTNH, chưa đặt trong một chiến lược, kế hoạch tổng thể BTPH giá trị di tích

cụ thể, từ đó có giải pháp cụ thể đẩy mạnh phát huy giá trị cho từng DTNHtrên cơ sở những quan điểm quản lý hiện đại, hoặc xuất phát từ đặc điểm đặcthù của di tích Nho học

Tác giả Dương Văn Sáu (2014) trong công trình Hệ thống DTNH Việt Nam và các Văn Miếu tiêu biểu ở Bắc bộ [88] đã hệ thống hóa về DTNH Việt

Nam, mô tả, khắc họa lại một số Văn miếu tiêu biểu ở đồng bằng Bắc bộ nhưVăn miếu Xích Đằng – Hưng Yên, Văn miếu Bắc Ninh, VMMĐ và VMQTG.Đây là công trình công phu, khắc họa lại tương đối rõ nét về hệ thống DTNHxưa và nay, đưa ra một số hướng quản lý di tích Văn miếu trong thời gian tới.Tuy nhiên, tác giả không đề cập đến vấn đề tu bổ, tôn tạo các di tích này saocho hiệu quả hiện nay như thế nào

Các bài viết về quản lý DSVH Nho học của tác giả Nguyễn Quốc Hùng

(2009) trong “Bảo vệ và phát huy giá trị DTNH thời hội nhập”[49] và

Nguyễn Quốc Hùng (2017), “Bàn về quản lý DSVH Nho học ở nước ta hiệnnay”[50] đã đánh giá thành quả cũng như chỉ ra tồn tại trong việc bảo tồn,phát huy giá trị DTNH trong giai đoạn hiện nay, đồng thời đưa ra nhiều giảipháp tổng thể cho việc phát huy giá trị của DTNH, tuy nhiên tác giả chưa đisâu nghiên cứu việc tu bổ, tôn tạo DTNH cụ thể, từ đó chỉ ra giải pháp cụ thểcho việc quản lý từng di tích Cũng vì vậy mà tác giả đã đề xuất “cần phải có

sự tổng kết, đánh giá công tác quản lý nhằm đưa ra được mô hình, giải phápphù hợp” để BTPH giá trị DTNH [50] Những công trình trên sẽ là nguồn tưliệu, cơ sở để tác giả nghiên cứu bổ sung cho việc nghiên cứu trường hợp hai

Trang 24

di tích được bàn đến trong luận án này Cụ thể, những định hướng, giải phápphát huy giá trị DTNH của các tác giả sẽ là gợi ý cho những giải pháp pháthuy hiệu quả di tích VMQTG và VMMĐ.

1.1.3 Các công trình nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị di tích Văn Miếu- Quốc Tử Giám và Văn miếu Mao Điền

Những công trình nghiên cứu về di tích Nho học, về Nho giáo thường

đề cập đến di tích VMQTG, và ngược lại, nghiên cứu về VMQTG không thểkhông đề cập đến Nho giáo và giáo dục Nho học Tuy nhiên, mức độ đề cậpđến VMQTG có khác nhau ở từng công trình, nhất là những công trình, tàiliệu về quản lý di tích VMQTG

Đáng chú ý có đề tài nghiên cứu khoa học: VMQTG – Trung tâm văn hóa giáo dục Nho giáo Việt Nam (1992) do Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội

thực hiện [93] Đề tài đã nghiên cứu lịch sử VMQTG, đánh giá vai trò lịch sửcủa VMQTG Trên cơ sở đề tài đó, của hai tác giả tham gia đề tài là Nguyễn

Quang Lộc và Phạm Thị Thúy Hằng (2009) đã công bố sách VMQTG Thăng Long – Hà Nội [65] Cuốn sách là công trình khảo tả khá đầy đủ và toàn diện

về nền giáo dục Nho học và lịch sử di tích VMQTG, được coi là tài liệu hữuích cho công chúng hiểu rõ về di tích VMQTG Bên cạnh đó, có những công

trình chuyên biệt, nghiên cứu sâu về DSVH tại di tích VMQTG như: Văn bia tiến sĩ VMQTG Thăng Long của Ngô Đức Thọ [105], đã khảo cứu về lịch sử

di tích VMQTG và nghiên cứu khá toàn diện về bia tiến sĩ tại VMQTG, biêndịch toàn bộ 82 bài văn bia sang tiếng Việt Cùng với chủ đề, thể loại này còn

có các công trình khác của các tác giả như: Văn bia Quốc Tử Giám Thăng Long của Đỗ Văn Ninh [80]; Trung tâm hoạt động VHKH VMQTG xuất bản cuốn Văn khắc Hán Nôm [117], sưu tầm toàn bộ hệ thống văn khắc Hán Nôm

tại di tích VMQTG bao gồm văn bia, câu đối, hoành phi, minh chuông; Tácgiả Phan Văn Các, Trần Ngọc Vương tập hợp tất cả các tác phẩm văn thơ xưa

Trang 25

của các nhà Nho, của các học quan của Quốc Tử Giám viết về và liên quan

đến VMQTG trong cuốn Di sản văn chương VMQTG [24], tác giả Đào Thị

Thúy Anh (2007) với bài viết “Kiến trúc VMQTG dưới góc nhìn văn hóa”[2]hay “Vẻ đẹp tạo hình của VMQTG” [3] Có thể nói, viết về di tích VMQTGrất đầy đủ, phong phú Rất tiếc, các công trình trên phần nhiều mô tả, liệt kênhững giá trị, công trình liên quan, về di tích VMQTG, mới chỉ là một việctrong số những việc mà hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di tích yêu cầu, vìthế, chưa đủ, không chỉ rõ, việc BTPH giá trị di tích VMQTG hiện nay nhưthế nào để đáp ứng yêu cầu, nhu cầu của hiện tại

Trong các hội thảo khoa học do Trung tâm hoạt động VHKH VMQTGthực hiện trong những năm qua đã có nhiều tham luận riêng cho các mặt hoạtđộng nhằm phát huy giá trị di tích Có thể kể ra nhiều tham luận về các lĩnhvực, hoạt động nhằm quản lý, phát huy di tích như: Đặng Kim Ngọc với thamluận: “Những bài học kinh nghiệm về công tác BTPH giá trị của Di tíchVMQTG”[76], tác giả Phạm Thị Xuân với tham luận: “Bảo vệ cảnh quan,môi trường và hệ sinh thái của di tích VMQTG Hà Nội”; tác giả Lê ThuHương với tham luận: “Từ quá trình dựng bia Tiến sĩ tại VMQTG đến việc tu

bổ, tôn tạo DTNH hiện nay”, các tác giả đề ra những giải pháp cho công tácBTPH giá trị di tích VMQTG, như Lê Thu Hương nghiên cứu lịch sử dựngbia Tiến sĩ để rút ra một số gợi ý cho việc tu bổ, tôn tạo di tích, đặc biệt là vềviệc tu bổ, phục dựng, tôn tạo hệ thống bia tiến sĩ, bia ghi danh khoa bảng ởcác DTNH Những đề xuất của tác giả tuy không căn cứ trên cơ sở lý thuyếtnào nhưng lại khá gần với quan điểm quản lý di sản Bảo tồn phát triển của cácnhà nghiên cứu hiện nay Ngoài ra, một số luận văn thạc sĩ có đề cập vềVMQTG và việc quản lý di tích Nho học, trong đó có di tích VMQTG như:Nguyễn Liên Hương (2014), Quản lý khu Di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu– Quốc Tử Giám, thực trạng và giải pháp; hay Nguyễn Thị Mai (2017), Quản

Trang 26

lý các văn từ, văn chỉ ở Hà Nội; Đỗ Thị Tám (2013), Văn Miếu Hà Nội giaiđoạn 1884-1945 qua tài liệu lưu trữ; Đỗ Hương Thảo (2000), VMQTG và hệthống Văn miếu, Văn từ, văn chỉ (ở Hà Nội và vùng phụ cận) Các nghiên cứunày góp phần làm sáng tỏ về di tích Nho học ở Hà Nội, công tác quản lý ditích Nho học ở Hà Nội, là nguồn tài liệu phong phú để NCS thêm khẳng địnhgiá trị, vai trò và bàn luận về giải pháp BTPH giá trị của VMQTG.

Gần đây, tác giả Đoàn Thị Thanh Thủy (2019) trong LATS Giá trị DSVH với phát triển du lịch thủ đô Hà Nội hiện nay (trường hợp VMQTG)

[111] đã chỉ ra giá trị của di tích VMQTG để khai thác chúng nhằm phát triển

du lịch bền vững của thủ đô Công trình đã coi di tích VMQTG như là điểnhình trong việc khai thác giá trị DSVH nhằm phát triển du lịch thủ đô, từ đólấy làm mẫu hình cho việc khai thác giá trị di tích nói chung của thủ đô nhằmphát triển du lịch của thủ đô

Nghiên cứu về VMMĐ cũng được nhiều tác giả đề cập đến trong cácnghiên cứu về DTNH, về giáo dục khoa cử ở Hải Dương, xứ Đông Ngoài

những công trình nghiên cứu đã liệt kê ở mục 1.1.2 Các công trình nghiên cứu BTPH giá trị di tích Nho học, còn có các công trình nghiên cứu trực tiếp

về VMMĐ Một trong những công trình đề cập đến VMMĐ sớm là Hải Dương – Di tích và Danh thắng [94] của Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Hải

Dương (1999) Tác giả Dương Văn Sáu có loạt công trình liên quan và về

VMMĐ như LATS năm 2008: Các di tích Văn Miếu Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên [86]; bài viết năm 2009, “Khai thác giá trị của Văn miếu Mao Điền

(Hải Dương) để phát triển du lịch trong giai đoạn hiện nay” [87], sách năm

2014: Hệ thống DTNH Việt Nam và các Văn miếu tiêu biểu ở Bắc Bộ [88].

Các công trình này đã mô tả đầy đủ lịch sử hình thành, phát triển, quá trìnhtồn tại, và hiện trạng kiến trúc cùng các di vật của di tích VMMĐ cho đến thờiđiểm công bố (2014), đề ra một số giải pháp phát triển du lịch đối với

Trang 27

VMMĐ, định hướng sử dụng DTNH tại thời điểm nghiên cứu Đây là nhữngtài liệu rất giá trị giúp cho việc quản lý cũng như phát huy giá trị di tích đượcthuận lợi, có cơ sở khoa học.

Một số nhà nghiên cứu, quản lý cũng có những tham luận về công tácquản lý di tích VMMĐ trong các cuộc hội thảo khoa học được tổ chức từ năm

2009 trở lại đây, như Tăng Bá Hoành (2009) “Văn miếu Hải Dương – quátrình tu bổ, tôn tạo và phát huy” [40]; An Văn Mậu (2009) với “Về việc pháthuy giá trị di tích VMMĐ Hải Dương’’[69] trong kỷ yếu hội thảo khoa học:

VMQTG và hệ thống DTNH Việt Nam [116] do Trung tâm hoạt động VHKH

VMQTG tổ chức

Gần đây nhất, năm 2019, Ban quản lý di tích huyện Cẩm Giàng có công

bố sách: VMMĐ- Di tích- danh nhân và lễ hội [13] Đây là cuốn sách kế thừa

những nghiên cứu đi trước, giới thiệu đầy đủ về lịch sử, quá trình tu bổ, tôntạo, hiện trạng kiến trúc cũng như hệ thống danh nhân được thờ tại đây chođến ngày nay Công trình cũng giới thiệu các hoạt động văn hóa, khoa học,giáo dục được tổ chức tại VMMĐ trong thời gian từ 2004 trở lại đây Đây làtài liệu rất quan trọng mô tả thực trạng về quản lý, BTPH giá trị của DTNHVMMĐ trong những năm gần đây

Tổng quan về lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài cho thấy DSVHvật thể mà cụ thể là các di tích LSVH đã được đông đảo giới học giả trong vàngoài nước quan tâm từ rất sớm Các công trình về DSVH vật thể hiện nay tậptrung đến vấn đề quản lý, BTPH giá trị của các DSVH trong đời sống đươngđại và có rất nhiều giải pháp, quan điểm được đưa ra với từng loại hình tháiDSVH khác nhau, là cụ thể hóa các quan điểm mà các nhà nghiên cứu lýthuyết trong đó có ba quan điểm mà Ashworth đưa ra Thực tế cho thấy, cácgiải pháp thiên về khai thác, phát huy giá trị của DSVH phục vụ đời sốngđương đại, phát huy giá trị di sản để bảo tồn di sản, làm cho di sản sống được

Trang 28

đang là xu hướng được nhiều học giả đi theo trong những năm gần đây Tuynhiên, hiện chưa có công trình riêng biệt nào ứng dựng những lý thuyết đó đốivới các DTNH Việt Nam Đó là khoảng trống định hướng, quan điểm lýthuyết cần được bổ sung mà NCS cố gắng thực hiện trong đề tài này.

Các công trình nghiên cứu về BTPH giá trị DTNH, trong đó có di tíchVMQTG và VMMĐ đã và hiện đang thu hút được đông đảo các nhà nghiêncứu, quản lý Phần nhiều trong đó thiên về việc khảo sát, mô tả hiện trạng ditích, đánh giá giá trị di tích, di sản Cũng đã có những chuyên đề bàn về giảipháp trong công tác BTPH giá trị di tích theo định hướng phát triển du lịch,phục vụ du lịch Mục tiêu khai thác DTNH cho việc phát triển du lịch, cũng là

xu hướng chung đã hình thành, thịnh hành trong thời gian qua ở Việt Nam vàthế giới Tuy nhiên, nếu chỉ khai thác giá trị của DTNH cho mục tiêu pháttriển du lịch thì chưa đủ, cần phải khai thác những giá trị đặc trưng củaDTNH, và đánh giá việc khai thác đã phù hợp với định hướng phát triển bềnvững chưa DTNH với đặc trưng là di tích gắn với nền giáo dục Việt Namtruyền thống vì vậy, trong hoạt động BTPH cần định hướng phát triển nềngiáo dục hiện đại trong bối cảnh nền kinh tế trí thức và nhất là khai thác giá trị

đó để cho mục tiêu bảo tồn truyền thống giáo dục, văn hóa, phát triển nềngiáo dục hiện đại Nghiên cứu BTPH giá trị di tích cho mục tiêu phát triển bềnvững di tích thông qua việc xem xét thực trạng BTPH giá di tích trong thờigian qua, từ đó đánh giá hiệu quả, rút ra bài học kinh nghiệm cho việc côngtác tu bổ, tôn tạo các di tích khác nhằm phát huy giá trị di tích cho việc bảotồn và phát triển giá trị phi vật thể của di tích đối với nền giáo dục, văn hóahiện nay, cùng với phát triển du lịch

Một vấn đề cần quan tâm nữa là công tác bảo vệ, duy tu môi trường,cảnh quan di tích trong công tác BTPH giá trị di tích Cho đến nay, gần nhưchưa có nghiên cứu nào quan tâm đến vấn để bảo tồn, duy tu môi trường cho

Trang 29

di tích Đây là vấn đề rất quan trọng, nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi môitrường nói chung và cảnh quan di tích đang ngày càng xấu đi bởi quá trình đôthị hóa, hiện đại hóa.

Rõ ràng, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ, một cách

có hệ thống về lý luận và thực tiễn công tác BTPH giá trị DTNH, chưa có mộtcông trình đầy đủ khảo sát toàn diện công tác BTPH giá trị di tích VMQTG,VMMĐ và đề ra hệ thống, kế hoạch tổng thể trong việc BTPH di tíchVMQTG, VMMĐ trên cơ sở lý thuyết về quản lý di sản phù hợp

1.2 Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị di tích

1.2.1 Một số khái niệm

1.2.1.1 Di sản và Di sản văn hóa

Khái niệm “Di sản” là một thuật ngữ khoa học được hình thành từnhững năm 1970 với quan niệm: “tài sản do cha và mẹ để lại” sau đó là “tàisản văn hóa của một cộng đồng, một đất nước, của nhân loại” [96, tr 78], giờđây người ta quen dần với khái niệm di sản là hiện vật từ quá khứ và đượccông nhận ở thời kỳ hiện tại

Khái niệm Di sản văn hóa: Trong Công ước về bảo vệ DSVH và thiên nhiên thế giới của UNESCO ban hành năm 1972 [129] tại điều 1 có quy định

những loại hình sẽ được coi như là “di sản văn hoá” bao gồm: Di tích kiếntrúc (monuments), nhóm công trình xây dựng (groups of buildings) và các dichỉ (sites) Khái niệm di sản trong một số từ điển được hiểu theo một nghĩađơn giản, đó là tính năng thuộc về nền văn hóa của một xã hội cụ thể, chẳnghạn như truyền thống, ngôn ngữ, hoặc các tòa nhà, đã được tạo ra trong quákhứ và vẫn còn có tầm quan trọng lịch sử

Ở Việt Nam, khái niệm “di sản” trước đây được hiểu một cách đơn giản

là tài sản của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau, là “các tài sản văn hóa như văn họcdân gian, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác

Trang 30

phẩm văn học… mà các thế hệ trước để lại cho thế hệ sau” [41, tr 667] Tuynhiên, không phải bất cứ tài sản gì do thế hệ trước để lại cho thế hệ sau cũngđược xem như di sản Thuật ngữ “DSVH” chính thức được ghi tại điều 1 của

Luật DSVH của Việt Nam được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua

ngày 29 tháng 6 năm 2001: “Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất cógiá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ

khác” [81] Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của luật DSVH được thông

qua này 18 tháng 6 năm 2009 của Việt Nam định nghĩa, “DSVH bao gồmDSVH phi vật thể và DSVH vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trịlịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ởnước Cộng hòa XHCN Việt Nam”[81] Tại điều 4 của Luật DSVH có ghi: “Disản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học,bao gồm di tích lịch sử -văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vậtquốc gia”, và “Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộngđồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hoá liên quan; có giá trị lịch sử,văn hoá, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo

và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền

nghề, trình diễn và các hình thức khác” [81] Trong TCVN số: 10382:2014 do Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thẩm định, Bộ Khoa học và Công

nghệ công bố năm 2014, nội dung do Cục DSVH, Bộ VHTT&DL biên soạn,khái niệm DSVH, DSVH phi vật thể, DSVH vật thể cũng có nội dung tương

tự, như mục 2.1.5: Di sản văn hóa (Cultural heritage): “Sản phẩm tinh thần,

vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này quathế hệ khác, bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể”;mục 2.3.1.1 Di sản văn hóa vật thể (Tangible cultural heritage): “Sản phẩmvật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,

Trang 31

bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”

Như vậy, có thể thấy, di sản được hiểu, không chỉ là tài sản từ quá khứ

để lại mà phải là tài sản có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học đối với cộngđồng, quốc gia, dân tộc Rõ ràng là, không phải bất kỳ tài sản từ quá khứ nàocũng có thể trở thành di sản Di sản văn hóa bao gồm di sản vật thể và di sảnvăn hóa phi vật thể NCS thống nhất lấy khái niệm trong luật DSVH làm công

cụ nghiên cứu trong nghiên cứu này

1.2.1.2 Di tích, Di tích Nho học

Di tích: Di tích được hiểu là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử Trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt, di tích là DSVH bất động; di tích LSVH được hiểu là “Tổng

thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sửhay giá trị văn hóa được lưu lại” [126, tr.533]

Theo Khoản 3, điều 4 của Luật DSVH: “Di tích LSVH là công trình xây

dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địađiểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [81] Ở đây, có thể hiểu rộng racác công trình xây dựng, địa điểm đó là các tòa nhà, đài tưởng niệm, quảngtrường, khu phố… gắn với các sự kiện lịch sử, các di chỉ khảo cổ, các địa

điểm gắn với hoạt động tôn giáo tín ngưỡng… TCVN số: 10382:2014 cũng định nghĩa di tích LSVH tương tự: mục 2.3.1.10 “Di tích LSVH (Historical

and cultural site/monument): Công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổvật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa,khoa học, đã được xếp hạng theo quy định của pháp luật” Nội hàm hai địnhnghĩa này tương tự, tuy nhiên, trong TCVN, có thêm yêu cầu phải được xếphạng theo quy định của pháp luật NCS thống nhất sự dụng khái niệm di tíchLSVH quy định tại Luật DSVH để làm công cụ nghiên cứu

Trang 32

Di tích Nho học

Nho giáo, Nho học được du nhập và truyền bá vào Việt Nam từ nhữngnăm đầu Công nguyên, nhưng phải đến khi nước nhà được độc lập, đặc biệt từthế kỷ XI, khi Văn Miếu được triều Lý cho xây dựng vào năm 1070, Nhogiáo, Nho học mới chính thức có vị trí trong đời sống chính trị xã hội của ViệtNam

+ Nho giáo: Nho giáo là một học thuyết chính trị và đạo đức của

phương đông, là hệ tư tưởng về quản lý, điều tiết xã hội ở nhiều quốc gia Á đông.Học thuyết này do Khổng Tử đề xuất nhằm duy trì trật tự xã hội phong kiến [126,

tr 1253] Là một trong ba triết học cổ đại lớn, bên cạnh Phật giáo và Lão giáo, doKhổng Tử sáng lập, nên còn được gọi là Khổng giáo hoặc đạo Khổng Dương VănSáu (2014) đã đưa ra định nghĩa về Nho giáo như sau:

Nho giáo là ý thức hệ tư tưởng, hệ thống giáo lý, kinh điển, lễ nghi,phép tắc được các triều đại phong kiến phương Đông sử dụng trongquá trình cầm quyền để cai trị xã hội, xây dựng và quản lý đất nước,đồng thời trở thành chuẩn mực trong các mối quan hệ xã hội, đượcmọi người thừa nhận và tuân theo một cách tự nguyện hay cưỡngbức [88, tr 9]

+ Nho học: Nho học là nền tư tưởng, học vấn nhằm giáo dục con người theo Nho giáo Nguyễn Như Ý (1998) trong Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa:

“Nho học - nền học vấn theo Nho giáo” [134, tr.1253] Nho giáo đào tạo con ngườilàm nên bộ máy cầm quyền cũng những thiết chế đi kèm để duy trì trật tự xã hội

Nho giáo là học thuyết chính trị, đạo đức, là hệ tư tưởng về quản lý,điều tiết xã hội thì Nho học chính là nền giáo dục, là phương tiện để đào tạo ranhững con người quản lý xã hội theo học thuyết Nho giáo, chính là các quanlại của bộ máy chính quyền phong kiến Nho học là nền tảng của xã hội

Trang 33

phong kiến, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội phong kiến.Nho giáo mang tính tôn giáo, còn Nho học mang tính học thuật, là nội dung tưtưởng và cách thức tổ chức thực hiện để quản lý xã hội theo Nho giáo Nho họcchính là nền giáo dục, đào tạo con người theo chuẩn mực Nho giáo.

Trong quá trình tồn tại và phát triển, Nho giáo và Nho học thiết lập nêncác thiết chế, các cơ sở vật chất phục vụ cho sự tồn tại và phát triển, truyền bá

tư tưởng, nội dung của mình Những cơ sở, thiết chế này bao gồm những nơithờ tự, tôn vinh những người có công xây dựng và phát triển học thuyết này,những danh nhân có những thành tựu đặc biệt xuất sắc góp phần vào sự pháttriển của Nho giáo và Nho học Hơn nữa, trong quá trình tồn tại, những thànhtựu của Nho học cũng được bảo tồn, gìn giữ truyền lại trở thành những di sảnquý báu cho đời sau Những cơ sở vật chất, thiết chế đó gắn bó với đời sốngchính trị, xã hội, văn hóa của đất nước, trở thành DSVH của đất nước Đóchính là nguồn gốc của DSVH Nho học, trong đó có bộ phận quan trọng làDTNH

Có nhiều cách hiểu, nhận biết về DTNH khác nhau Theo tác giả

Dương Văn Sáu (2014):

DTNH là những công trình kiến trúc công cộng với quy mô và hìnhthức khác nhau ở các địa phương, dùng làm nơi thờ Khổng Tử vàcác bậc tiên nho, tiên triết, các vị đỗ đạt khoa bảng; đồng thời baogồm những trường học, trường thi mà ở đó còn lại những dấu tíchcủa quá trình đào tạo và tuyển chọn, cung cấp nguồn nhân lực cho

bộ máy chính quyền phong kiến các cấp [88, tr 41]

Luật DSVH, Điều 4, mục 3 [81], xác định, di tích LSVH là công trình

xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình,địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học Di tích LSVH là một bộphận cấu thành của DSVH vật thể Mỗi DTNH gắn với, là minh chứng, chứng

Trang 34

cứ của một thành tựu của Nho học, Nho giáo, nên chúng có ý nghĩa, giá trị vềlịch sử, văn hóa ở các mức độ khác nhau Như vậy, theo tiêu chí của di tích

LSVH xác định trong Luật DSVH [81], DTNH là di tích LSVH, nhưng là di

tích LSVH đặc thù, với giá trị đặc thù, đó là gắn với nền giáo dục Nho học

Với ý nghĩa như vậy, có thể định nghĩa như sau: DTNH là di tích lịch

sử văn hóa về, và liên quan đến Nho giáo và nền giáo dục Nho học Việt Nam

1.2.1.3 Bảo vệ, bảo tồn di tích

Bảo vệ: theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, bảo vệ là hoạt động chống

lại mọi sự huỷ hoại, xâm phạm để giữ cho được nguyên vẹn [41], như vậy bảo

vệ di tích chính là các hoạt động ngăn ngừa, chống lại sự xâm phạm, hủy hoại

di tích, đảm bảo cho di tích được nguyên vẹn TCVN đã dẫn ở trên, mục 2.3.3.3 Bảo vệ di tích (Monument protection): “Hoạt động phòng ngừa, ngăn

chặn nguy cơ xâm hại di tích và xử lý hành vi xâm hại di tích theo quy địnhcủa pháp luật” Như vậy theo quy định trong TCVN, thì bảo vệ di tích còn baogồm cả xử lý hành vi xâm hại di tích nữa

Bảo tồn: Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, bảo tồn là giữ lại không để

mất đi Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng

thức vốn có của nó [41] Điều 1, Hiến chương Burra định nghĩa: “Bảo tồn (preservation) có nghĩa là bảo quản kết cấu một địa điểm ở hiện trạng và hãm

sự xuống cấp của kết cấu đó”, và “Bảo quản (maintenance) có nghĩa là chăm nom bảo vệ thường xuyên kết cấu và khung cảnh một địa điểm, và cần phải phân biệt với sửa sang Sửa sang bao hàm trùng tu hoặc phục dựng”[56] Như

vậy có thể thấy, cả hai định nghĩa trên đều thống nhất, bảo tồn là bảo vệ vàlàm cho một vật, địa điểm không bị xuống cấp, hay hủy hoại

Bảo tồn di tích: Theo TCVN nêu trên, bảo tồn di tích: Hoạt động

nghiên cứu, quản lý, bảo vệ, bảo quản, tu bổ, phục hồi nhằm bảo đảm tínhtoàn vẹn, tính xác thực và sự tồn tại lâu dài, ổn định của di tích để phát huy

Trang 35

giá trị” Theo đó, mục 2.3.3.2 Bảo quản di tích (Conservation of relics): “Hoạt

động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà khônglàm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử - văn hóa,

danh lam thắng cảnh”; mục: 2.3.3.3 Bảo vệ di tích (Monument protection):

“Hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ xâm hại di tích và xử lý hành vi

xâm hại di tích theo quy định của pháp luật” Mục 2.3.3.20 Tu bổ di tích (Monument restoration): Hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích LSVH, danh lam thắng cảnh; mục 2.3.3.18 Tôn tạo di tích (Relics

conservation/Restoration): Hoạt động nhằm tăng cường khả năng sử dụng,khai thác và phát huy giá trị di tích nhưng không làm ảnh hưởng đến yếu tốgốc cấu thành di tích, cảnh quan thiên nhiên và môi trường - sinh thái của di

tích” Mục 2.3.3.9 Phục hồi di tích (Restoration of site/monument) ghi: “Hoạt

động nhằm phục dựng lại di tích LSVH, danh lam thắng cảnh đã bị hủy hoạitrên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích LSVH, danh lam thắng cảnh đó”

Như vậy, theo TCVN thì Bảo tồn di tích bao gồm việc nghiên cứu,

quản lý, bảo vệ, bảo quản, tu bổ, phục hồi nhằm bảo đảm tính toàn vẹn, tínhxác thực và sự tồn tại lâu dài, ổn định của di tích để phát huy giá trị Nội hàm,nội dung công việc của bảo tồn là đảm bảo cho di tích giữ được nguyên vẹnnhư nó vốn có và tồn tại lâu dài vì mục đích phát huy giá trị Để đảm bảo thựchiện được các hoạt động đó, phải nghiên cứu nhận diện di tích toàn diện, đồngthời phải giữ gìn di tích bằng nhiều biện pháp khác nhau để không bị xâm hại,hủy hoại, và làm cho di tích trở nên toàn vẹn, bằng việc tôn tạo, phục hồi di

tích Tất cả các hoạt động trên nhằm để phát huy giá trị di tích Như vậy, Bảo tồn di tích là những hoạt động nhằm là đảm bảo cho di tích giữ được nguyên

vẹn như nó vốn có và tồn tại lâu dài vì mục đích phát huy giá trị Bảo vệ ditích chỉ là một phần rất nhỏ công việc của bảo tồn di tích

Trang 36

Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu hoạt động quản lý di sản văn hóa,các nhà nghiên cứu có những luận giải cụ thể về hoạt động bảo tồn di tích.Theo tác giả Nguyễn Chí Bền, bảo tồn di tích “là tất cả những nỗ lực nhằmhiểu biết về DSVH giá trị lịch sử, ý nghĩa của nó, nhằm đảm bảo sự an toàn

về vật chất của di tích và khi cần đến đảm bảo việc giới thiệu, trưng bày, khôiphục” [20, tr 20] Công thức hoạt động của khoa học bảo tồn DTNH ở đây sẽlà: Nghiên cứu phát hiện giá trị của di tích + tìm kiếm giải pháp kỹ thuật gìngiữ lâu dài + khai thác giá trị phục vụ phát triển văn hóa, xã hội [20, tr 21]

Định nghĩa này phù hợp với những luận giải ở các nghiên cứu về hoạtđộng bảo tồn di tích đã nói ở phần 1.1.1, và đó là cơ sở để NCS xây dựngkhung lý thuyết nghiên cứu hoạt động BTPH giá trị DTNH Đối tượng bảotồn trong nghiên cứu này là DTNH, cụ thể là VMQTG và VMMĐ

1.2.1.4 Giá trị, phát huy giá trị

Giá trị: Khái niệm về giá trị được hiểu theo nhiều mặt khác nhau, có nhiều

quan niệm khác nhau tùy theo cách tiếp cận Giá trị có thể được hiểu là phẩmchất tốt, tác dụng tốt, là cái làm cho sự vật trở nên có ích, có đáng quý Nghĩa là,tùy theo nhận thức, đánh giá của con người đối với một sự vật, một khách thể

Đại từ điển tiếng Việt giải thích: Giá trị là cái được xác định có ích, có hiệu quả

trong cuộc sống vật chất, tinh thần [126, tr 725] Theo tác giả Trần Ngọc Thêm

Giá trị được hiểu “là tính chất của khách thể, được chủ thể đánh giá là tích cực

xét trong so sánh với các khách thể khác cùng loại trong bối cảnh không gian –thời gian cụ thể” [103, tr 139] Theo đó, giá trị di tích là tính chất của di tíchđược con người (cộng đồng, chủ thể) đánh giá là tích cực, trong sự so sánh vớicác di tích khác ở cùng trong khu vực, vào cùng thời điểm Di tích được coi là cógiá trị khi cộng đồng, chủ thể xác định là tốt, là tích cực trong sự so sánh vớinhững thứ khác cùng loại Do đó, di tích lịch sử phải là những di tích có giá trịlịch sử, văn hóa, khoa học theo sự đánh giá của chủ thể (chính quyền,

Trang 37

cộng đồng sở hữu ) Trong nghiên cứu này, NCS sử dụng khái niệm giá trịnày để nghiên cứu giá trị di tích Nho học.

Phát huy giá trị: phát huy có nghĩa là làm cho cái hay, cái tốt lan rộng

tác dụng và tiếp tục phát triển thêm, phát huy giá trị tức là làm cho giá trịđược lan rộng tác dụng, tiếp tục phát triển thêm Phát huy giá trị di tích nghĩa

là làm cho giá trị của di tích được lan rộng tác dụng, phát triển thêm giá trịcủa di tích Theo tác giả Nguyễn Chí Bền, “Phát huy giá trị di tích có nghĩa làtập trung sự chú ý của công chúng một cách tích cực tới các giá trị của di tích/

di sản, làm cho đông đảo người biết đến giá trị của di tích bằng cách truyềnđạt trực tiếp hay thông qua một hình thức nào đó” [20, tr 21]

Phát huy giá trị di tích có nghĩa là sử dụng hiệu quả giá trị vốn có của

di tích vào việc giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa, thẩm mĩ, khoa học.Phát huy những giá trị đó như là nguồn lực phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,đồng thời trên cơ sở đó nâng cao trách nhiệm bảo vệ di sản của cộng đồng

Vai trò của việc BTPH giá trị của DSVH là hai mặt hữu cơ, tương hỗ,

là hai mặt của một quá trình Bảo tồn DSVH chính là việc gìn giữ sự tồn tạicủa di tích lâu dài, ổn định, là những hoạt động nhằm đảm bảo sự tồn tại lâudài, ổn định của di tích Còn phát huy giá trị di tích là làm cho giá trị của ditích, di sản được lan rộng, tiếp tục tác dụng tích cực tới công chúng DSVHđược phát huy theo nhiều cách khác nhau, cho nhiều mục đích khác nhau tùytheo giá trị của chúng

Bảo tồn và phát huy giá trị là hai mặt hữu cơ trong việc quản lý DSVH

Di tích, di sản phải được bảo tồn mới gìn giữ được giá trị, ngược lại, giá trị disản phải được phát huy mới đem lại giá trị cho cộng đồng, qua đó khẳng địnhgiá trị của di sản, đồng thời đem lại nguồn lực, động lực bảo tồn di sản BTPHgiá trị di tích là hoạt động cơ bản của quản lý DSVH

1.2.2 Quan điểm lý thuyết luận án áp dụng

Trang 38

Để tìm hiểu các quan điểm bảo tồn di sản hiện nay, Bùi Hoài Sơn

(2008) đã đưa ra khái niệm về di sản như sau: “Di sản là sự lựa chọn từ quá

khứ lịch sử, ký ức, báu vật của cộng đồng để thể hiện cho nhu cầu, nguyệnvọng, mong muốn của xã hội hiện tại.” [100, tr 79] Bùi Hoài Sơn đã dựa trêncác công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, đặc biệt là nghiên cứu của

Ashworth (1997) tổng hợp thành 3 quan điểm về quản lý di sản, đó là: Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn; Quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa và Quản điểm bảo tồn phát triển (Quản lý di sản) [100, tr 176-177] Trong đó, quan

điểm Bảo tồn phát triển được sử dụng rộng rãi hiện nay Quan điểm này, theoAshworth, được bắt đầu từ mô hình quan niệm sau:

Mô hình 1.2 Mô hình quan điểm Bảo tồn phát triểnQuan điểm này không bận tâm tới việc bảo tồn y nguyên như thế nào,nên kế thừa cái gì từ quá khứ, mà đặt trọng tâm vào việc làm thế nào để di sảnsống và phát huy được tác dụng trong đời sống đương đại

Có thể có nhiều mục đích khác nhau, thậm chí trái ngược nhau trongviệc bảo tồn di sản và mục đích được áp dụng phù hợp với từng đối tượng di

Trang 39

sản nhất định Nguồn lực cho việc bảo tồn được tạo ra bởi nhu cầu của thịtrường sản phẩm Bởi vậy các tiêu chí được lựa chọn để bảo tồn cũng phụthuộc vào sự lựa chọn của thị trường Cho nên, chiến lược bảo tồn của quanđiểm này coi di sản là một chức năng nên là một sự lựa chọn cho phát triển.Không có sự mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển Kế hoạch bảo tồn di sảnkhông tách rời khỏi các chiến lược bảo tồn di sản khác [100, tr 178-185].Quan điểm này dựa trên cơ sở DSVH hiển nhiên đang tồn tại song hành với

xã hội của chúng ta Vì vậy, chúng ta cần có những biện pháp vận hành di sảnmột cách thích hợp với những yêu cầu của thời đại hiện nay Điểm quan trọngcủa quan điểm này nằm ở nội hàm “tính xác thực” của DSVH

Văn kiện Nara năm 1994 về “tính xác thực” nhận thức theo tinh thầncủa Hiến chương Venice năm 1964, đã mở rộng khái niệm “tính xác thực” đểđáp ứng các mối quan tâm và lợi ích đối với các di sản văn hóa ngày càng mởrộng trên thế giới ngày nay Tùy thuộc tính chất và bối cảnh văn hóa của disản và sự biến chuyển của nó trong thời gian mà xác định tính xác thực gắnvới các nguồn tư liệu khác như hình thức, thiết kế, vật liệu và chất liệu cách

sử dụng, chức năng truyền thống và kỹ thuật; tính chất và cách thể hiện vànhững nhân tố khác bên trong và bên ngoài di sản Quan điểm nhận thức vềgiá trị DSVH, tính nguyên gốc của di sản văn hóa, và xu hướng dự báo về vaitrò của di sản văn hóa trong tương lai cũng được giới nghiên cứu tiếp cận theohướng mới mẻ Theo đó, DSVH không còn được coi là sự vật của quá khứ vớihàm nghĩa những giá trị và hình thái bất di bất dịch, có giá trị vĩnh viễn, màDSVH được nhìn nhận lại như một quá trình sáng tạo văn hóa trong nhữngmôi trường vận động xã hội thực tại Điều quan trọng nằm ở nhận thức về giátrị di sản và cách thức duy trì các giá trị đó - như những nền tảng cơ bản của

xã hội cần thiết cho cuộc sống hôm nay và ngày mai

Quan điểm mới về di sản giúp các nhà quản lý di sản có quyết định hợp

Trang 40

lý, về vấn đề sử dụng di sản Mục tiêu của xã hội là làm sao để sử dụng quákhứ (DSVH) cho phù hợp, đem lại các lợi ích lớn nhất (về mọi mặt) cho xãhội - chứ không còn là gò bó đi theo quan điểm này hay quan điểm khác vềbảo tồn Trong trường hợp cần thiết (với quan điểm mới) người ta vẫn có thểquyết định bảo tồn yếu tố nào đó của quá khứ - nhưng bảo tồn không phải đểbảo tồn, gìn giữ một cách cứng nhắc, thuần túy, mà bảo tồn hiểu theo nghĩarộng, đó là cách tốt nhất để gìn giữ và phát huy các giá trị di sản Và đươngnhiên, bên cạnh các hình thức hoạt động bảo tồn, vẫn còn có thể có nhiều cáchkhác giúp các nhà quản lý văn hóa và cộng đồng phát huy giá trị di sản Đâychính là một trong những cơ sở lý luận cần thiết cho việc nghiên cứu quá trìnhquản lý di sản văn hóa, trong đó có việc BTPH giá trị DSVH trong xã hội hiệnnay.

Theo quan điểm này, khi thực hiện công tác BTPH giá trị di tích, cầnđặt trọng tâm vào việc làm thế nào để di tích sống và phát huy được các giá trịcủa nó trong đời sống đương đại Nhiệm vụ BTPH giá trị di tích là “chuyểngiao cho các thế hệ mai sau muôn ngàn di tích đó với đầy đủ vẻ rực rỡ huyhoàng đích thực của chúng” [58] DTNH có giá trị lịch sử bởi nó gắn liền, làsản phẩm của chế độ quân chủ, của nền giáo dục truyền thống, minh chứngcho nền giáo dục truyền thống Việt Nam Di tích Nho học là ký ức về nhữngthành tựu vẻ của nền giáo dục truyền thống, như các danh nhân, trí thức Nhohọc, các kỳ lễ hội tôn vinh hiền tài, các lễ xướng danh, lễ vinh quy bái tổ, hìnhảnh các thầy đồ, các danh nhân…DTNH là báu vật, bởi nó là di sản của hàngngàn năm xây dựng, bảo vệ, công sức của bao thế hệ kết tỉnh trong đó DTNHngày nay, có thể coi như là hàng hóa để xây dựng sản phẩm phục vụ conngười, nhưng phải gìn giữ, bảo tồn chúng Bảo tồn là duy trì, bảo dưỡng kéodài tuổi thọ và tạo lập độ bền vững của di tích, đồng thời phát huy giá trị ditích phục vụ tốt nhất các nhu cầu do xã hội đặt ra, góp phần thúc đẩy phát

Ngày đăng: 18/11/2020, 16:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2006), Việt Nam văn hoá sử cương, NXB Văn hoá -Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Văn hoá -Thông tin
Năm: 2006
2. Đào Thị Thúy Anh (2007) “Kiến trúc Văn miếu Quốc Tử Giám dưới góc nhìn văn hóa”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 2 (272) tr.57-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc Văn miếu Quốc Tử Giám dưới góc nhìn văn hóa”," Tạp chí Văn hóa Nghệ thuậ
3. Đào Thị Thúy Anh (2012), “Vẻ đẹp tạo hình của Văn Miếu - Quốc Tử Giám”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 7 (337), tr. 99-101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vẻ đẹp tạo hình của Văn Miếu - Quốc TửGiám”, "Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật
Tác giả: Đào Thị Thúy Anh
Năm: 2012
4. Đặng Văn Bài (2001), “Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 4, tr.11 -13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vựcbảo tồn di sản văn hóa”, "Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2001
5. Đặng Văn Bài (2006), “Tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa là hoạt động có tính đặc thù chuyên ngành”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 2 (15), tr. 10-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử - vănhóa là hoạt động có tính đặc thù chuyên ngành”," Tạp chí Di sản văn hóa
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2006
6. Đặng Văn Bài (2006), “Bảo vệ di sản văn hóa trong quy hoạch phát triển đô thị ở Việt Nam”, Một con đường tiếp cận di sản văn hoá, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ di sản văn hóa trong quy hoạchphát triển đô thị ở Việt Nam”", Một con đường tiếp cận di sản vănhoá
Tác giả: Đặng Văn Bài
Nhà XB: NXBThế giới
Năm: 2006
7. Đặng Văn Bài, Nguyễn Hữu Toàn (2006), Bảo tàng hóa di sản văn hóa làng, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tàng hóa di sản văn hóa làng
Tác giả: Đặng Văn Bài, Nguyễn Hữu Toàn
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2006
8. Đặng Văn Bài (2013), “Quan điểm bảo tồn di sản văn hoá trong chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020”, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, (346), tr. 8-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm bảo tồn di sản văn hoá trongchiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020”, "Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2013
9. Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (2008), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII "về “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2008

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w