(Luận án tiến sĩ) Con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX(Luận án tiến sĩ) Con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX(Luận án tiến sĩ) Con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX(Luận án tiến sĩ) Con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX(Luận án tiến sĩ) Con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX(Luận án tiến sĩ) Con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX(Luận án tiến sĩ) Con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX(Luận án tiến sĩ) Con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX(Luận án tiến sĩ) Con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX(Luận án tiến sĩ) Con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX(Luận án tiến sĩ) Con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN NGỌC PHÚ
CON NGƯỜI TRUNG NGHĨA
TRONG VĂN HỌC NHÀ NHO NAM BỘ
NỬA SAU THẾ KỶ XIX
NGHỆ AN - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN NGỌC PHÚ
TRONG VĂN HỌC NHÀ NHO NAM BỘ
NỬA SAU THẾ KỶ XIX
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 9220121
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS BIỆN MINH ĐIỀN
NGHỆ AN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả
nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Đóng góp của luận án 4
7 Cấu trúc luận án 5
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Vấn đề nghiên cứu văn học nhà nho và văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX 6
1.1.2 Vấn đề nghiên cứu con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX 18
1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài 25
1.2.1 Các lý thuyết nghiên cứu, tìm hiểu về con người trong văn học 25
1.2.2 Nho giáo và sự ảnh hưởng, chi phối đến tư tưởng nhà nho và văn học nhà nho 27
1.2.3 Truyền thống tư tưởng của con người Việt Nam nói chung, Nam Bộ nói riêng 29
1.2.4 Một số lý thuyết về nghiên cứu, phê bình văn học 31
Tiểu kết Chương 1 33
Chương 2 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ VAI TRÒ, VỊ THẾ CỦA VĂN HỌC NHÀ NHO NAM BỘ NỬA SAU THẾ KỶ XIX TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC DÂN TỘC 34
2.1 Văn học Việt Nam nói chung và văn học nhà nho nói riêng giai đoa ̣n nửa sau thế kỷ XIX 34
2.1.1 Văn học nửa sau thế kỷ XIX trong lịch sử văn học dân tộc 34
2.1.2 Văn học nhà nho giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX 44
2.2 Văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX 49
2.2.1 Một số giới thuyết về văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX 49
Trang 52.2.2 Các khuynh hướng tư tưởng và nghê ̣ thuâ ̣t trong văn ho ̣c nhà nho Nam Bô ̣
nử a sau thế kỷ XIX 57
2.2.3 Vấn đề con người trung nghĩa trong văn ho ̣c nhà nho Nam Bô ̣ nửa sau thế kỷ XIX 63
Tiểu kết Chương 2 66
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CỦA CON NGƯỜI TRUNG NGHĨA TRONG VĂN HỌC NHÀ NHO NAM BỘ NỬA SAU THẾ KỶ XIX 67
3.1 Quan niệm về trung nghĩa và con người trung nghĩa 67
3.1.1 Quan niệm về trung nghĩa, con người trung nghĩa trong ho ̣c thuyết Nho giáo và Nho giáo triều Nguyễn 67
3.1.2 Quan niệm về trung nghĩa và con người trung nghĩa trong truyền thống tư tưởng dân tô ̣c 72
3.1.3 Quan niệm về trung nghĩa và con người trung nghĩa trong văn ho ̣c Viê ̣t Nam trung đa ̣i 76
3.1.4 Tư tưởng trung nghĩa và nhận thức về con người trung nghĩa trong văn ho ̣c nhà nho Nam Bô ̣ nửa sau thế kỷ XIX 81
3.2 Con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX giữa các mối quan hê ̣ phức ta ̣p 87
3.2.1 Con ngườ i trung nghĩa trong mối quan hê ̣ với lý tưởng trung quân 87
3.2.2 Con ngườ i trung nghĩa trong mối quan hê ̣ với lý tưởng ái quốc 92
3.2.3 Con ngườ i trung nghĩa trong mối quan hê ̣ với lợi ích dân tô ̣c và cô ̣ng đồng 95
3.2.4 Con người trung nghĩa trước các “bài toán” của li ̣ch sử giai đoa ̣n nửa sau thế kỷ XIX 98
3.3 Con người trung nghĩa - một hình tượng thẩm mỹ độc đáo, vừa mang vẻ đẹp của con người “Lục tỉnh”, vừa mang vẻ đẹp thời đại 101
3.3.1 Vẻ đẹp của lý tưởng và tâm hồn, nhân cách 101
3.3.2 Vẻ đẹp của bản lĩnh và sự lựa chọn ứng xử trước các thử thách lịch sử 103
3.3.3 Sức khái quát nghệ thuật củ a mẫu hình con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX 105
Tiểu kết Chương 3 109
Chương 4 PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CON NGƯỜI TRUNG NGHĨA TRONG VĂN HỌC NHÀ NHO NAM BỘ NỬA SAU THẾ KỶ XIX 111
4.1 Sự lựa chọn thể loại 111
4.1.1 Các thể thơ 111
4.1.2 Các thể loại biền văn 116
Trang 64.1.3 Các thể văn chính luận 119
4.1.4 Các thể loại văn xuôi tự sự 123
4.1.5 Một số thể loa ̣i văn học dân tô ̣c 124
4.2 Sự vận dụng bút pháp 127
4.2.1 Bú t pháp trữ tình 127
4.2.2 Bú t pháp tự sự 129
4.2.3 Bú t pháp trào phúng 130
4.3 Nghệ thuật tổ chức giọng điệu và ngôn ngữ 133
4.3.1 Nghệ thuật tổ chức giọng điệu 133
4.3.2 Nghệ thuật tổ chức ngôn ngữ 137
Tiểu kết Chương 4 148
KẾT LUẬN 149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 152
TÀI LIỆU THAM KHẢO 153
Trang 7MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
văn học Việt Nam thời trung đại (từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX) Bộ phâ ̣n văn học
này hiê ̣n còn nhiều vấn đề chưa được tìm hiểu, nghiên cứu hoặc có được tìm hiểu, nghiên cứu nhưng chưa hẳn đã sát, đúng với bản chất của nó Chẳng hạn, ngay phạm trù Nho gia (nhà nho) ở Việt Nam có phải chỉ giới hạn trong “cộng đồng” những người tôn thờ học thuyết Khổng - Mạnh?; nhà nho Việt Nam cũng như văn học nhà nho Việt Nam có gì khác biệt so với nhà nho và văn học nhà nho Trung Quốc?; Cũng
là nhà nho Việt Nam nhưng tùy theo từng vùng miền (Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ)
mà trong sáng tác của họ có những điểm khác biệt nhau?, đâu là mô hình chung và đâu
là những biến thức từ mô hình chung?, v.v Thiết nghĩ, mọi tìm hiểu, nghiên cứu về văn học nhà nho Việt Nam ở từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử, ở từng vùng miền khác nhau của đất nước đều ít nhiều có thể góp phần trả lời cho các câu hỏi trên
1.2 Văn học nhà nho Nam Bộ mà chúng tôi đề cập ở đây chỉ bộ phận văn
học phát triển trong bối cảnh đặc biệt của lịch sử dân tộc nửa sau thế kỷ XIX - giai đoạn mà Nam Bộ nói riêng, Việt Nam nói chung phải đối mặt với sự xâm lược của thực dân Pháp Việc đi sâu nghiên cứ u văn học nhà nho không chỉ xuất phát từ những bí ẩn của quá khứ chưa có lời giải thoả đáng mà còn hướng tới việc tìm kiếm, xây đắp những giá tri ̣ tinh thần cho hiê ̣n ta ̣i và tương lai
Văn ho ̣c nhà nho Nam Bô ̣ ở giai đoa ̣n nửa sau thế kỷ XIX có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc Ngoài những điểm chung của văn
học nhà nho, văn học nhà nho Nam Bộ còn có những đă ̣c điểm riêng do nhiều nguyên nhân tác đô ̣ng bởi bối cảnh li ̣ch sử, xã hô ̣i, văn hoá vùng miền,… Còn
trong đó có vấn đề con người trung nghĩa
1.3 Con người bao giờ cũng là đối tượng chính yếu, đối tượng trung tâm của
văn học Thành công hay đóng góp của văn học cho lịch sử - văn hóa - xã hội loài người, trước hết phải là ở sự tìm hiểu, khám phá con người, ở cái nhìn và sự lý giải về con người Đành rằng ở từng tác giả văn học đều có những nét riêng trong tìm hiểu, khám phá về con người nhưng cùng một loại hình tác giả và loại hình văn học, nhất là cùng một bối cảnh lịch sử - văn hóa - xã hội, có thể tìm thấy mẫu số chung (hay những nét chung) về một dạng thái con người chủ đạo trong văn học Dạng thái con người chủ đạo ấy trong văn học nhà nho Nam Bộ giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX là con người
Trang 8trung nghĩa Con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX vừa mang tính phức tạp của lịch sử, vừa mang nét đặc thù của vùng miền Đây là vấn đề đòi hỏi phải có cái nhìn hệ thống, bao quát, chuyên sâu với những khảo sát, phân tích xác thực để xác định đúng bản chất và ý nghĩa xã hội - thẩm mỹ sâu sắc của
nó Con người trung nghĩa trở thành hình tượng thẩm mỹ có sức khái quát lớn, là mẫu hình con người có cái đẹp và sức sống riêng của vùng đất Nam Bộ Cho đến nay, nhìn chung đây vẫn là vấn đề mới, chưa được quan tâm nghiên cứu một cách thỏa đáng
1.4 Trong chương trình Ngữ văn ở trung học phổ thông và các trường đại
học, văn học Việt Nam chiếm dung lượng lớn mà phần văn học yêu nước của các nhà nho cuối thế kỷ XIX là một bộ phận hết sức quan trọng, đặc biệt là văn học nhà nho Nam Bộ Nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa giúp cho việc tìm hiểu văn học nhà nho nói chung, văn học nhà nho Nam Bộ nói riêng được tốt hơn Nghiên cứu văn học nhà nho và con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX còn có ý nghĩa quan trọng thiết thực trong thực tiễn giáo dục hiện nay, nhất là đối với việc tìm kiếm mẫu hình con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới trên cơ sở biết tiếp thu những giá trị truyền thống
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX, luận án nhằm chỉ ra, làm rõ những đặc trưng của mẫu hình con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ ở một giai đoa ̣n đă ̣c biê ̣t của li ̣ch sử dân
Bộ qua việc thể hiện con người trung nghĩa; từ đây đề xuất một số vấn đề về nghiên cứu và tiếp nhận văn học nhà nho ở một vùng miền có nhiều đặc điểm riêng
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
2.2.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài
2.2.2 Xác định vai trò, vị trí của văn học nhà nho Nam Bộ trong lịch sử văn học dân tộc giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX
2.2.3 Khảo sát, phân tích, luận giải con người trung nghĩa với các dạng thái
và đặc điểm của nó trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX
2.2.4 Khảo sát, phân tích, chỉ ra những nét chính, nổi bật trong phương thức thể hiện của văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX
Cuối cùng rút ra một số kết luận về con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ và đề xuất một số vấn đề nghiên cứu có liên quan
Trang 93 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận án là Con người trung nghĩa trong văn học
nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Luận án tâ ̣p trung tìm hiểu, nghiên cứu con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX Bộ phận văn ho ̣c này rất phong phú và cũng đầy phứ c ta ̣p, do nhiều kiểu tác giả nhà nho thuô ̣c nhiều khuynh hướng tư tưởng khác nhau, viết bằng nhiều thể loa ̣i và ngôn ngữ khác nhau (chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ, thâ ̣m chí cả bằng tiếng Pháp)… Quan tâm tất cả, nhưng luâ ̣n án tâ ̣p trung vào sáng tác của các tác giả nhà nho viết bằng chữ Hán, chữ Nôm (tiêu biểu như: Phan Thanh Giản, Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Phan Văn Trị, Nguyễn Hữu Huân, Nhiêu Tâm, Học Lạc,…)
Về văn bản sáng tác của các nhà nho Nam Bộ ở giai đoa ̣n nửa sau thế kỷ XIX, luận án dựa vào các tài liê ̣u: Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX (1858 - 1900) do
Trần Văn Giàu giới thiệu, Chu Thiên, Đặng Huy Vận, Nguyễn Bỉnh Khôi biên soạn
[37]; Thơ văn yêu nước Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX do Bảo Định Giang biên soạn, Ca Văn Thỉnh giới thiệu [42]; Nguyễn Đình Chiểu toàn tập do Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải [189, 190]; Thơ văn Phan Thanh
Giản do Phan Thị Minh Lễ, Chương Thâu biên soạn [111]; Bộ sưu tập Lương Khê Thi văn thảo do chính Phan Thanh Giản và các con trai của ông sưu tầm, biên tập và khắc
in; Tác phẩm Nguyễn Thông do Cao Tự Thanh - Đoàn Lê Giang biên soạn nhân kỷ niệm lần thứ 100 ngày mất của Nguyễn Thông [172]; Phan Văn Trị - cuộc đời và tác
phẩm do Nguyễn Khắc Thuần, Nguyễn Quảng Tuân sưu tầm, biên soa ̣n [193]; Di cảo
Nam Lục tỉnh, tập 3 với chủ đề Văn học Hán Nôm thời kháng Pháp và thuộc Pháp do
Nguyễn Văn Hầu biên soạn [82]; Nhân vật lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX (Quyển 2 - Cuộc khởi nghĩa ở Nam Kỳ) do Vũ Thanh Sơn biên soạn [161]; Nguyễn Trung Trực - Một Kinh Kha của miền Nam do Tạp chí Xưa và Nay tập hợp các bài viết
của nhiều tác giả để xuất bản sách [73];…
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp liên ngành: Phương pháp liên ngành giúp cho việc huy động các nguồn tri thức khác nhau (về văn hóa, lịch sử, chính trị, xã hội, nhân học, văn
Trang 10học) nhằm tham chiếu, soi tỏ, phục vụ cho vấn đề được tập trung nghiên cứu (con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX)
- Phương pháp lịch sử: Phương pháp này giúp trình bày vấn đề (quan niệm trung nghĩa và con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ) trong tiến trình vận động và phát triển của nó, đồng thời dùng để tái diễn những nét lớn của bối cảnh lịch sử - văn hóa - xã hội ảnh hưởng đến văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX
- Phương pháp thông diễn học: Phương pháp này được áp dụng, giúp giải thích các thuật ngữ, quan niệm trung nghĩa, con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX
- Phương pháp thống kê - miêu tả: Phương pháp này được vận dụng nhằm thống kê, miêu tả, trình bày những nội dung cụ thể, chi tiết của văn học nhà nho Nam
Bộ nửa sau thế kỷ XIX liên quan đến con người trung nghĩa
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp này dùng để phân tích và tổng hợp các yếu tố qua tác phẩm và hệ thống các tác phẩm, nhằm làm rõ những đặc điểm của con người trung nghĩa và sự thể hiện con người trung nghĩa của các nhà nho Nam Bộ trong văn học nửa sau thế kỷ XIX
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Phương pháp này dùng để chỉ ra sự tương đồng và khác biệt, sự đa dạng và thống nhất trong quan niệm (về trung nghĩa và con người trung nghĩa) của các tác giả nhà nho cùng vùng miền (Nam Bộ) cũng như khác vùng miền (Nam Bộ, Trung Bộ, Bắc Bộ)
- Phương pháp loại hình: Phương pháp này vận dụng tiêu chí loại hình (loại hình tác giả, loại hình tác phẩm, loại hình văn học) để nhìn vấn đề theo hệ “cộng đồng giá trị”
- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Phương pháp này được dùng để xâu chuỗi,
hệ thống vấn đề nghiên cứu và nhìn chúng trong tính cấu trúc chỉnh thể
6.3 Luận án là công trình đi sâu khảo sát, phân tích, xác định những đặc điểm nổi bật của con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế
Trang 11kỷ XIX, từ đây góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề phức tạp, không dễ lĩnh hội về nội dung, tư tưởng của bộ phận văn học này
6.4 Luận án chỉ ra, xác định và làm rõ những đặc điểm chủ yếu trong phương thức thể hiện con người trung nghĩa của văn học nhà nho Nam Bộ giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX
6.5 Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nói riêng, văn học nhà nho nói chung ở mô ̣t giai đoa ̣n đă ̣c biê ̣t của li ̣ch sử dân tô ̣c: giai đoa ̣n nửa sau thế kỷ XIX
7 CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án
được triển khai trong 4 chương:
Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài
Chương 2 Cơ sở hình thành và vai trò, vị thế của văn học nhà nho Nam Bộ
nửa sau thế kỷ XIX trong lịch sử văn học dân tộc
Chương 3 Đặc điểm của con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam
Bộ nửa sau thế kỷ XIX
Chương 4 Phương thức thể hiện con người trung nghĩa của văn học nhà
nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Vấn đề nghiên cứu văn học nhà nho và văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX
1.1.1.1 Về văn học nhà nho trong lịch sử văn học Việt Nam trung đại nói chung
Nho giáo ảnh hưởng, chi phối sâu sắc, nhiều mặt đến văn học Việt Nam trung đại, nhà nho lại là lực lượng sáng tác chủ đạo của văn học Việt Nam trung đại Văn học nửa sau thế kỷ XIX là một giai đoạn văn học có vai trò, vị trí quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn học trung đại Việt Nam, trong đó có đề câ ̣p đến văn ho ̣c Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX - phần văn ho ̣c do nhà nho sáng tác Vì vậy có bao nhiêu công trình nghiên cứu về văn học Việt Nam thời kỳ này, thì dường như có bấy nhiêu công trình đề cập đến Nho giáo và văn học nhà nho, hoặc ở dạng khái quát, văn học sử; hoặc ở dạng đi sâu vào từng tác giả, tác phẩm cụ thể
Trước hết, có thể thấy từ khi có các công trình nghiên cứu về Nho giáo của các tác giả Phan Bội Châu, Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố, Đào Duy Anh, Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Nguyễn Duy Cần, Bùi Văn Nguyên, Trần Trọng Sâm, Hoàng Tuấn, Lê Văn Quán, Đỗ Anh Thơ, v.v…, việc nghiên cứu văn học Nho
giáo, văn học nhà nho càng được chú ý hơn Công trình Việt Nam văn học sử yếu của
Dương Quảng Hàm [80] có thể coi là công trình mở đầu nói về “ảnh hưởng của nước Tàu”, về “văn chương cổ điển - những điều giản ước về sách giáo khoa cũ để học chữ Nho” Trong Chương thứ 3, Dương Quảng Hàm viết: “… dân tộc Việt Nam ngay từ khi thành lập đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Tàu Cái văn hóa ấy truyền sang nước ta có nhiều cách,… tức là nhờ sự học chữ nho và sách chữ nho”…, “Trong đó các trào lưu tư tưởng của người Tàu… có ảnh hưởng sâu sắc đến dân tộc ta, nhất là Nho giáo” [109,
tr.204] Trong những năm 1945 - 1954, có thể kể đến một số công trình như: Việt Nam
văn học sử trích yếu (1949) của Nghiêm Toản, Văn học sử Việt Nam hậu bán thế kỷ XIX
(1952) của Nguyễn Tường Phượng - Bùi Hữu Sủng Đáng chú ý, hai công trình Việt
Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ [143], [144] và Bảng lược đồ văn học Việt Nam của Thanh Lãng [103] đã khẳng định sự tồn tại của văn học nhà nho và có
những nhận định đánh giá sát, đúng về văn học nhà nho Đây là hai công trình khá tiêu biểu, nổi bật nghiên cứu văn học nhà nho từ rất sớm, đưa ra những nhận định có giá trị,
Trang 13khẳng định sự tồn tại của bộ phận văn học nhà nho ở các mức độ khác nhau Các tác giả
có đề cập Nguyễn Đình Chiểu như một đối tượng nghiên cứu, tuy nhiên việc đánh giá di sản văn chương của Nguyễn Đình Chiểu vẫn còn thiên lệch, phiến diện Các nhà nghiên cứu ít nhiều có những né tránh trong đánh giá dẫn đến việc phủ nhận sự ảnh hưởng hoặc chưa khẳng định đúng mức những giá trị, đóng góp của văn học nhà Nho
Từ sau Cách mạng tháng Tám đến đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, đáng chú ý là
công trình Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam: từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng
Tám của Trần Văn Giàu [35], [36] Khi phân tích đạo đức Nho giáo nói chung, đạo
đức trung nói riêng, Trần Văn Giàu đặt vấn đề: “Lắm khi chữ hiếu đặt trước cả chữ
trung, đạo hiếu được xem là nền của đạo trung”, “trung hiếu là hai đức tính cơ bản của con người mà luân lý Nho giáo đòi hỏi một cách nghiêm khắc Đánh giá con người, nhận xét hành vi, tất thảy đều lấy trung hiếu làm tiêu chuẩn” [35, tr.241-246] Tác giả nghiên cứu Nho giáo trên phương diện tư tưởng chứ chưa nhấn mạnh vai trò Nho giáo tới đời sống văn học Trong những năm sau đó, giới nghiên cứu quan tâm nhiều, nghiên cứu hệ thống hơn về loại hình nhà nho, tiêu biểu như Nguyễn Khắc Viện, Trần
Đình Hượu, Quang Đạm Nguyễn Khắc Viện với công trình Bàn về Đạo Nho đã phân
tích những giá trị tích cực cũng như những hạn chế lịch sử của Đạo Nho, mối quan hệ của Đạo Nho với truyền thống văn hóa Việt Nam, trong đó có đề cập yếu tố “nghĩa” Tác giả cũng đề cập mẫu hình con người, sự kết hợp Đông - Tây của con người Việt Nam trên con đường hội nhập với thế giới, làm rõ một “đạo lý” đẹp đẽ và chung thủy của người sĩ phu trung thực, hết lòng vì nước, vì dân Đặc biệt Trần Đình Hượu với
các bài viết “Mấy ý kiến bàn về vấn đề nghiên cứu Nho giáo”, “Nho giáo và văn học nghệ thuật” (đã được tập hợp trong sách Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại),
quan tâm đến mối quan hệ giữa văn học và Nho giáo với nhiều nhận định sâu sắc:
“Nho giáo chi phối văn học nghệ thuật… hình thành trong lịch sử cả vùng một loại hình văn sĩ, nghệ sĩ, một loại hình văn học nghệ thuật, viết cùng những thể loại, theo cùng một quan niệm văn học” [100, tr.20] Bàn về ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn học nghệ thuật, Trần Đình Hượu xác định thêm: “Nho giáo gây ra tác dụng kìm hãm nặng nề đối với văn học nghệ thuật… Ngự trị lâu dài như thế văn học nghệ thuật của Nho giáo tác động rất mạnh đến truyền thống của các dân tộc” [100, tr.44-45]
Từ sau ngày thống nhất đất nước, việc nghiên cứu văn học sử có những thay đổi lớn, đem lại cái nhìn mới và góp thêm tiếng nói phong phú và đa dạng về văn học nửa sau thế kỷ XIX Gần đây, Phương Lựu với tham luận “Khái quát về quan niệm văn học Nho giáo ở Việt Nam” tại Hội thảo quốc tế do Viện Hán Nôm Việt Nam và Viện Harward-Yenching Hoa Kỳ tổ chức (2004) tại Hà Nội nhận diện “ảnh hưởng của Nho
Trang 14giáo đối với văn học Việt Nam trung cận đại” theo hướng miêu tả cụ thể - điều mà học thuật đang quan tâm Thực ra, việc nghiên cứu về Nho giáo suốt một thời kỳ dài ở nước
ta bị “trì trệ” khá lâu sau những công trình có tính chất mô tả tổng quan của Trần Trọng Kim (viết năm 1928 và in 2-3 lần năm 1932) Mặc dù, sách của Trần Trọng Kim chỉ có tính mô tả nhưng nó lại mang tính nhập môn rất cần thiết,… Sau đó có một số bài viết, một số người phê bình theo nghĩa là đối thoại, bàn luận thêm Trong đó Đào Duy Anh
với cuốn Khổng giáo phê bình tiểu luận được coi là “công trình đầu tiên và có lẽ là duy
nhất trước Cách mạng tháng Tám đã thử vận dụng thế giới quan Mác-xít để khảo sát và
đánh giá Nho giáo” (Dẫn theo nhận xét của Trần Ngọc Vương,
https://baomoi.com/pgs-ts-tran-ngoc-vuong-thuong-phai-chinh/c/7583940.epi)
Về văn học nửa sau thế kỷ XIX có thể kể tên một số công trình tiêu biểu như Lịch
sử văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX của Nguyễn Lộc [116]; Lịch sử văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX của tập thể tác giả Đại học Sư phạm I (Lê Trí Viễn, Phan Côn,
Nguyễn Đình Chú, Huỳnh Lý, Lê Hoài Nam [203]; “Lời giới thiệu” của Trần Văn Giàu trong Hợp tuyển thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX [55] Trần Văn Giàu đề cập tư
tưởng chủ đạo trong sáng tác của các nhà nho yêu nước giai đoạn này, là: “việc nghĩa phải làm, không kể đến thành bại”, “tư tưởng trung quân: hình ảnh vua càng mờ xuống, vị trí
dân càng lên cao” [55, tr.24, 32] Cũng Trần Văn Giàu, trong công trình Tư tưởng yêu
nước trong dòng chủ lưu của văn học Việt Nam [39] với bài viết “Nguyễn Đình Chiểu:
đạo làm người”, tác giả nêu khái niệm về “Nghĩa”: “là lẽ phải; Gặp việc nghĩa phải làm, không làm không dũng, mà làm người thì phải dũng, không dũng không ra người; Làm việc nghĩa không suy tính lợi hại, làm việc nghĩa mà dù có thiệt cho riêng mình, có chết đi nữa cũng cứ phải làm; Làm việc nghĩa không cần báo đáp” [39, tr.254] Ông có những đánh giá khái quát vấn đề trung nghĩa giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX, tuy nhiên đấy chưa phải là công trình nghiên cứu tư tưởng trung nghĩa, con người trung nghĩa trong văn học
Công trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX của
Nguyễn Lộc [117], viết về hai giai đoạn hết sức quan trọng trong văn học Việt Nam trung đại: một giai đoạn đỉnh cao, một giai đoạn là bước chuyển mình của văn học dân tộc từ trung đại sang cận, hiện đại Quyển sách trình bày quá trình phát triển văn học Việt Nam qua hai giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, và giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX Theo tác giả, văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX thể hiện bằng thơ văn yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược và bọn tay sai bán nước; văn học mang tính tố cáo hiện thực sâu sắc; văn học có những đổi mới khác hẳn
so với giai đoạn trước (nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX) Nguyễn Lộc cũng phân chia các khuynh hướng văn học và dành 6 chương giới thiệu, khái quát 6
Trang 15tác giả là nhà nho: Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn
Quang Bích, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương Công trình Văn học Việt Nam giai
đoạn giao thời 1900 - 1930 của Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng [98] xem giai đoạn
văn học 1900 - 1930 như một sự chuyển hóa, chuẩn bị cho sự ra đời văn học Việt Nam hiện đại Theo các tác giả, tính chất giao thời biểu hiện ở sự tồn tại song song hai nền văn học cũ và mới với hai lực lượng sáng tác; hai công chúng với hai quan niệm văn
học, hai ngôn ngữ văn học ở hai địa bàn khác nhau
Trần Đình Hượu với công trình Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại
[100] cho rằng để hiểu hơn nhà nho Việt Nam cần phải đánh giá sự tiếp xúc của họ với Nho giáo và văn học Trung Quốc, đồng thời phải lưu ý đến tình hình phát triển không đồng đều của các vùng đất nước Về nhà Nho theo Trần Đình Hượu, không nên hiểu là những người học chữ Hán, đọc sách thánh hiền, giữ đạo tam cương ngũ thường… mà cần nhìn họ như một tầng lớp xã hội, một đội ngũ có nhiều loại hình Với công trình này, ông chia nhà nho ra làm ba loại: nhà nho hành đạo, nhà nho ẩn dật và nhà nho tài
tử Trần Đình Hượu khảo sát một số hiện tượng văn học - những trường hợp nhà nho tiêu biểu như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Thông, Phan Bội Châu, Tản Đà,…; ảnh hưởng của Nho giáo trong văn học Việt Nam trung đại thế kỷ XV - XIX Cuốn sách đề cập nhiều hiện tượng văn học trung cận đại Việt Nam, đặc biệt ảnh hưởng Nho giáo và nhà nho đối với văn học và ảnh hưởng đó được nhìn tập trung vào quan niệm văn học Cũng Trần Đình Hượu, trong bài
“Về ảnh hưởng nhiều mặt của Nho giáo trong văn học Việt Nam trung cận đại”, tác giả dành nhiều tâm huyết cho việc “khảo sát văn học do nhà nho viết, viết theo quan niệm Nho giáo…” [100, tr.10] Theo ông: “Nho giáo ảnh hưởng tới văn học với tư cách là một học thuyết tức là một hệ thống các quan điểm về thế giới, về xã hội, về con người,
về lý tưởng… cho nên cũng có một cách quan niệm văn học riêng… Theo quan niệm văn học của Nho giáo, văn học có một nguồn gốc linh thiêng, một chức năng xã hội cao
cả Nho giáo hy vọng dùng văn chương để giáo hóa, động viên, tổ chức, hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội”; “Nho giáo ảnh hưởng trực tiếp đến văn học qua thế giới quan của người viết” [100, tr.49, 50], “Nho giáo hướng văn học vào truyền đạt đạo lý chứ không phải tả và kể, phản ánh cái thực”; “Nho giáo, các nhà nho làm chủ văn học ta từ thế kỷ XV đến vài thập kỷ đầu thế kỷ XX…; “Chứng tích ảnh hưởng Nho giáo trong văn học không chỉ ở mô típ nội dung, hình ảnh, từ ngữ mà sâu xa hơn là ở quan niệm văn học, ở quan niệm cái đẹp” [100, tr.53-54] Trên nhiều phương diện, tác giả đề cập những thành tựu nghiên cứu về xã hội, con người, lý tưởng,… quan trọng là dùng văn chương để góp phần hoàn thiện con người Khi nghiên cứu, luận giải về Nho giáo, văn
Trang 16chương nhà nho nói chung, tác giả đã suy ngẫm và tổng kết, khái quát lên từ vốn sống,
từ sự quan sát thực tế đã có những hướng nghiên cứu một cách có hệ thống toàn bộ cấu trúc của Nho giáo và sự chi phối của nó từ trong lịch sử cho đến thời hiện đại
Trần Ngọc Vương trong các công trình Loại hình học tác giả văn học - Nhà nho
tài tử và văn học Việt Nam [212]; Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung
[214] cho rằng “từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX… nội hàm khái niệm văn học dân tộc gần như trùng khớp với nội hàm khái niệm văn học nhà nho ở Việt Nam” [214, tr.117]
Công trình Văn học Việt Nam thế kỷ X - XIX những vấn đề lý luận và lịch sử [215] được
biên soạn bởi Trần Ngọc Vương (chủ biên), Trần Nho Thìn, Nguyễn Văn Thịnh, Trần Nghĩa, Đoàn Lê Giang, Kiều Thu Hoạch, Cao Tự Thanh, Các tác giả bàn về văn học nhà nho, tìm hiểu nghiên cứu về Nho giáo, tiêu biểu là hai loại hình nhà nho ẩn dật và hành đạo, nêu sơ lược về nguồn gốc, lịch sử hình thành cũng như quan niệm, tư tưởng
và cách nghĩ của hai loại hình nhà nho chính thống
Một số tác giả khác như Nguyễn Tài Thư với công trình Nho học và Nho học ở Việt
Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn [194] có chỉ ra một số đặc trưng và vai trò của Nho
giáo đối với xã hội Việt Nam phong kiến; Trần Nho Thìn với công trình Văn học trung đại
Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa [183] đã nêu những vấn đề cần quan tâm khi “nghiên cứu
hiện tượng văn học sử trong khuôn khổ hệ thống văn học của nhà nho” [tr.20-21] Với Trần
Nho Thìn, trước hết ông tập trung xác định Một số vấn đề lý luận của văn học trung đại
nhìn từ góc độ văn hóa, trong đó nhấn mạnh định hướng tiếp cận văn hóa học trong nghiên
cứu văn học, phác thảo tính hệ thống và tiến trình văn học trung đại Việt Nam như là bước tiến đồng hành với quá trình vận động, phát triển của nền văn hóa dân tộc Trên cơ sở nhấn mạnh yêu cầu nghiên cứu những lĩnh vực văn hóa chuyên biệt, xác định văn hóa
là hệ thống mở và việc nghiên cứu giao lưu văn hóa, tác giả đã đưa ra nhiều chứng dẫn thuyết phục và đi đến kết luận hợp lý: “Xét cho cùng thì bản sắc dân tộc phải được xem xét trong một không gian mở, có so sánh, khu biệt Phải xác định được những cái chung, cái phổ biến trước khi rút tỉa ra cái riêng, cái bản sắc” [tr.51] Đặt trong tương quan chung, các vấn đề sự thể hiện con người và vai trò “cái tôi” tác giả, nghệ thuật phản ánh cuộc sống xã hội trong văn chương nhà nho trên hai chiều công thức và sáng tạo tiếp tục được Trần Nho Thìn phân tích, lý giải và qui chiếu thành những đặc điểm tư duy văn hóa mang tính thời đại,… (Dẫn theo La Sơn, http://toquoc.vn/gioi-thieu-sach/van-hoc-trung-dai-viet-nam-duoi-
goc-nhin-van-hoa-106249.html) Các tác giả Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ
XIX,… đã xem xét Nguyễn Đình Chiểu trong tương quan không gian văn học Nam Bộ mà
cụ thể văn học Gia Định làm nổi bật một số nét trong phong cách cá nhân và phong cách thời đại ở nhà thơ Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã giải quyết được các vấn đề
Trang 17cơ bản mang tính lý thuyết của văn học nhà nho từ góc nhìn xã hội học - lịch sử và văn hóa Các nhà nghiên cứu đã xác lập được một số điểm quan trọng mang tính lý luận về văn học nhà nho nói chung Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề cụ thể cần phải được nghiên cứu thêm
Về các bài viết đề câ ̣p vấn đề văn học nhà nho Việt Nam nói chung, trước hết có thể
kể đến các bài viết như: “Quan niệm văn học của một số nhà nho Việt Nam” (1963) của Nguyễn Đức Vân; “Tìm hiểu thiên đạo quan của triều đình và của các nhà nho trong thời Nguyễn” (1969) của Trần Văn Giàu; “Thử tìm hiểu quan niệm Thi dĩ ngôn chí của nhà Nho” (1973) của Trần Lê Sáng; “Tính chất phản kháng trong thơ văn bình dân Nam Kỳ thời Pháp thuộc” (1974) của Long Điền; “Nghĩa tình Bắc Trung Nam qua một số thơ văn nửa sau thế kỷ XIX” (1974) của Nguyễn Đình Chú; “Mối quan hệ giữa cái tôi nhà nho và thực tại trong văn chương thời cổ” (1994) của Trần Nho Thìn; “Sự công phá bên trong của đạo đức nhân dân đối với đạo đức Nho giáo ở một tác phẩm văn học cụ thể: Lục Vân Tiên” (1994) của Nguyễn Đình Chú; “Nho giáo triều Nguyễn - Nội dung, tính chất, vai trò lịch sử” (1997) của Nguyễn Tài Thư; “Nho sĩ Việt Nam trước cuộc xâm lược Pháp” (1997) của Nguyễn Tùng; “Tư tưởng về đạo trị nước ở các nhà nho Việt Nam” (2007) của Nguyễn Thanh Bình; “Đặc trưng hệ thống thể loại của văn chương yêu nước nửa sau thế kỷ XIX ở Việt Nam” (2008) của Nguyễn Văn Thế,… Một số tác giả cũng đã đề cập đến khái niệm nhà nho trung nghĩa: “Các tác giả văn chương yêu nước mà trước hết và chủ yếu là nhà nho trung nghĩa đã dùng những thể loại văn học thích hợp với con người và hoàn cảnh của họ
để nói cảm xúc trước nạn nước” [179, tr.83] Cũng cần phải kể đến một số bài viết với hướng tiếp cận khác đề cập văn học nhà nho như: “Quá trình hình thành và phát triển của loại hình tác giả nhà nho ẩn dật Việt Nam thời trung đại (từ thế kỷ XVI đến hết thế kỷ XIX)” (2009); “Loại hình tác giả nhà nho ẩn dật trong văn học trung đại Việt Nam” (2013) của Lê Văn Tấn; “Từ những rạn nứt của lý tưởng nhà nho đến những mâu thuẫn mang tính
bi kịch trong thơ Phan Thúc Trực” (2011) của Đinh Trí Dũng; “Thế giới quan triết học của
các nhà nho trong xã hội phong kiến” (2011) của Phạm Thị Loan; v.v…
Suy nghĩ tiếp từ nghiên cứu Nho giáo của Trần Đình Hượu, Đoàn Lê Giang có bài viết “Nhà Nho tài tử: Nguồn gốc, nội dung và ý nghĩa đối với việc nghiên cứu văn học trung cận đại Việt Nam” đề cập nội dung khái niệm nhà nho tài tử, có nói đến đặc điểm của người quân tử Một trong những phẩm chất đó là “nghĩa”: “Nghĩa vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè, đất nước” “Nghĩa là nghĩa vụ, nghĩa lý, đạo nghĩa, nghĩa ở đời
Người quân tử đề cao Nghĩa, đối lập với Lợi, với hưởng thụ”
(https://www.vanhoanghean.com.vn) Trong bài viết “Trần Đình Hượu với việc phân loại
ba mẫu nhà nho trong văn học Việt Nam trung đại”, Phạm Văn Hưng đưa ra sự phân biệt
khá rạch ròi giữa ba loại hình nhà nho ẩn dật, nhà nho tài tử, nhà nho hành đạo, và sự giao
Trang 18thoa giữa ba loại hình nhà nho này; Biện Minh Điền với: “Vấn đề tác giả và loại hình tác giả văn học Việt Nam trung đại”, “Dấu ấn Trần Đình Hượu trong nghiên cứu Nho giáo và ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn hóa, văn học Việt Nam” đã bàn đến những đặc điểm của tác giả và loại hình tác giả nhà nho Việt Nam… Các bài viết trên đề cập tình hình nghiên cứu văn học của các nhà nho, quan niệm văn học của nhà nho, cái tôi nhà nho, đạo đức nhân dân đối với đạo đức Nho giáo, đặc điểm của người quân tử, văn chương yêu nước của nhà nho trung nghĩa, sự hình thành, phát triển và kết thúc của loại hình tác giả nhà nho,…
Về các công trình, bài viết của các tác giả nước ngoài, có thể kế đến: The Birth of
Vietnam (1983) và A History of the Vietnamese (2013) của K.M Taylor [224] [225] có
chú ý tìm hiểu “truyền thống, bản sắc của người Việt, dân tộc Việt, cốt cách bản địa Việt Nam”; bài viết “Confucianism in Vietnam: an essay on the current state of the industry” (2006) của C Kelley [226] đã xem xét lại những nghiên cứu về Nho giáo ở Việt Nam thời tiền hiện đại của những học giả trong lĩnh vực này ở Bắc Mỹ và Úc châu C Kelley kết luận rằng, những học giả này chưa hoàn toàn nhận thấy được vai trò của Nho giáo trong quá khứ của Việt Nam và tác giả nghiên cứu Nho giáo ở từng triều đại (Việt Nam và mô hình Trung Hoa), sự khác biệt về quản lý nhà nước qua mỗi triều đại ở từng vùng miền… Sau đó một số học giả bắt đầu xem xét về vấn đề này như: Keith Taylor, Li Tana, Nola
Cooke, Choi Byung Wook,…; công trình The Vietnamese Response to French
Intervention, 1862 - 1874 (1991) [230] của McLeod Mark W nói về sự phản ứng của Việt
Nam đối với sự can thiệp của Pháp; công trình Southern Vietnam under the Nguyen
(1993/1996) của Tana Li, Anthony Reid [234] đề cập miền Nam Việt Nam dưới thời Nguyễn; bài viết “Beteunamin eui Namjin gwa Nambu Munhwa eui Hyeongseong” (1999) của Yu, Insun đề cập các phong trào phía Việt Nam và sự hình thành nền văn hóa miền Nam Việt Nam;… Một số công trình khác nghiên cứu Nho học (ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam), có đề cập đến văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX như:
Rethinking confucianism, Past and Present in China, Japan, Korea, and Vietnam (2002)
của BA Elman, JB Duncan, H Ooms [220]; công trình A Mid-19 th Century Southern Literature “Lục Vân Tiên”, and the Anti - French Resistance của Choi Byung - Wook
[221] tìm hiểu về văn học nửa sau thế kỷ XIX có đề cập Lục Vân Tiên và cuộc kháng chiến chống Pháp; Etude sur la littérature annamite poesies et chants populaires của E Villard nghiên cứu về văn học An Nam, trong đó có phân tích truyện Lục Vân Tiên;… Tuy tình
hình nghiên cứu cả ở trong và ngoài nước về văn học nhà nho khá đa dạng, sôi nổi nhưng cho đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX Vì thế, luận án này có thể coi là công trình đầu tiên tiếp cận vấn đề trên theo hướng chuyên sâu và hệ thống
Trang 191.1.1.2 Về văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX
Khi nhắc đến văn học Việt Nam giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX, các nhà nghiên cứu không thể không nói đến bộ phận văn học này (văn học nhà nho Nam Bộ) Văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX thể hiện qua sáng tác của các tác giả nhà nho Nam
Bộ tiêu biểu như Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Phan Văn Trị, Phan Thanh Giản, Học Lạc, Nhiêu Tâm… đã từng được nghiên cứu Thành tựu nghiên cứu ở đây (về các tác giả tiêu biểu trên) là rất đáng khẳng định Về nhà nho Nam Bộ và văn học nhà nho
Nam Bộ, rất cần phải kể đến công trình Nam Bộ nhân vật chí [56] Nam Bộ nhân vật chí
giới thiệu cuộc đời, hành trạng và đóng góp của các nhân vật Nam Bộ trong quá trình xây dựng và phát triển vùng đất Nam Việt Nam Họ là những nhân sĩ trí thức, nhà hoạt động cách mạng, nhà văn hóa, văn nghệ sĩ,… có công khai phá trên lĩnh vực văn hóa vật chất và tinh thần Công trình đã phác họa chân dung con người, cá tính Nam Bộ, chỉ ra những đặc trưng của cư dân nơi vùng đất mới, vùng đất nơi “đầu sóng ngọn gió”, là
miền đất “đi trước về sau” (https://www.nxbctqg.org.vn)… Các tác giả công trình Đất
và người Nam Bộ từ rất sớm đã chú ý nghiên cứu văn hóa truyền thống Nam Bộ Công
trình khẳng định “giá trị, bản sắc văn hóa Nam Bộ, bác bỏ những luận điểm sai trái của học giả trong và ngoài nước về con người, lịch sử, văn chương, giáo dục Nam Bộ” [192, tr.7] Ca Văn Thỉnh cho rằng: “Nam Bộ là đất có lịch sử lâu đời, do người Việt khai khẩn… Về mặt văn học, ông cho thấy Nam Bộ rõ ràng có một nền văn học quy mô tổ chức hẳn hoi, với những tác giả tác phẩm tiêu biểu cho tinh thần “ngay thảo”, “hào khí Đồng Nai” , đề cao đạo nghĩa danh tiết, và con người Nam Bộ là những người “có văn hóa”, “biết đạo nghĩa” [192, tr.7]
Các công trình nghiên cứu trên đã có cái nhìn khái quát về tình hình văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, đồng thời giới thiệu một số tác giả tiêu biểu của văn học giai đoạn này, giúp người đọc hiểu thêm về cuộc đời, sự nghiệp, quá trình đấu tranh của ông cha ta đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển vùng đất Nam Bộ, cung cấp nguồn tư liệu, góp thêm những nhận định mới mẻ về nhà nho Nam Bộ
Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đề cập đến văn học nhà nho nói chung, trong đó có văn học nhà nho Nam Bộ Hầu hết các công trình đều khẳng định vai trò, vị trí của các nhà nho Nam Bộ đối với sự phát triển của lịch sử văn học dân tộc, tuy nhiên chưa có tính hệ thống, chuyên sâu
Về loa ̣i công trình đi sâu vào các tác giả và thơ văn của nhà nho Nam Bộ có Thơ
văn yêu nước Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX do Bảo Định Giang biên soạn, Ca Văn Thỉnh
giới thiệu [42] Tập thơ văn tuyển chọn một số bài tiêu biểu, phản ánh tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của nhân dân Nam Bộ Tác giả có trực tiếp tham gia kháng chiến chống
Trang 20Pháp thì được xếp lên trước, tiếp theo là tác giả có thơ văn trực tiếp động viên, cổ vũ phong trào chống Pháp Ca Văn Thỉnh cho rằng: “Thơ văn Nam Bộ phản ánh đặc tính của nhân dân Nam Bộ: thơ văn đầy nhiệt tình yêu nước, tinh thần đấu tranh vì nghĩa cả, vì nước, vì dân, lời lẽ chất phác, chân thật, nông dân dễ tiếp thu Đó là mặt tích cực, mặt độc đáo của thơ văn Nam Bộ thời đầu kháng Pháp” [42, tr.33] Về hành động vì nghĩa của nhân dân Nam Bộ, theo Ca Văn Thỉnh, người Nam Bộ: “Thấy việc nghĩa phải làm, trước nạn ngoại xâm có nghĩa là phải cứu nước cứu nhà, dù phải hy sinh tính mạng cũng không
lùi bước” [42, tr.33] Bảo Định Giang trong tiểu luận Những ngôi sao sáng trên bầu trời
văn học Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX [43] có giới thiệu các danh nhân văn học nửa sau thế
kỷ XIX để tuyên truyền, phổ biến di sản tinh thần của tiền nhân cho những thế hệ sau
Cuốn Nguyễn Đình Chiểu - Về tác gia và tác phẩm do Nguyễn Ngọc Thiê ̣n tuyển
chọn [186] các bài nghiên cứu, phê bình - tiểu luận, trích đoạn chương sách từ những công trình nghiên cứu tiêu biểu do các tác giả trong và ngoài nước đã công bố trong khoảng thời gian từ 1986 - 2001 Nguyễn Đình Chiểu được đánh giá là “nhà thơ yêu nước lớn của dân tộc” (Hồ Sĩ Hiệp) [tr.58], “ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc” (Phạm Văn Đồng) [tr.69], “lá cờ đầu của nền thơ văn yêu nước thời kỳ cận đại” (Trần Thanh Mại) [tr.99], “một tâm hồn vằng vặc nhân nghĩa, một tấm gương kiên trung và bất khuất” (Hà Huy Giáp) [tr.122], Còn nhiều bài viết khác đề cập “tinh thần đấu tranh”, “lý tưởng nhân nghĩa đến chủ nghĩa yêu nước”, “đạo làm người”, “tính nhân dân”, “yếu tố đạo lý”, “tâm đạo của nhà thơ”,… Đây là những bài viết đề cập con người
và sự nghiệp Nguyễn Đình Chiểu Có những bài viết tiếp cận tác phẩm từ góc độ truyền thống văn hóa, từ mối quan hệ giữa đạo đức và thẩm mỹ, thế giới quan, hình tượng thời
gian, chữ dân và nước, giá trị nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật…
Nguyễn Thạch Giang với Từ ngữ - Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu [46] đưa ra
những nhận xét tổng quát về ngôn ngữ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, với ba điểm cụ thể:
1 Hình ảnh phong trào kháng Pháp của nhân dân Nam Bộ, 2 Hệ thống ngữ loại hình tượng về việc học với yêu cầu xác lập một nền tảng tư tưởng của thời đại, và 3 Từ ngữ
và hình tượng về cuộc đời, về con người và người phụ nữ Công trình chủ yếu tường giải từ ngữ, điển cố, sắc thái địa phương Nam Bộ trong cách sử dụng ngôn ngữ và nhận xét chung về một số thư tịch Hán Nôm trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu
Đối với tác giả Nguyễn Thông, có: Nguyễn Thông - con người và tác phẩm do
Ca Văn Thỉnh và Bảo Định Giang trích di ̣ch và giới thiê ̣u [191] nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày mất của Nguyễn Thông Ca Văn Thỉnh và Bảo Định Giang dựa trên quá trình nghiên cứu thêm về Nguyễn Thông đã biên soạn lại, bổ sung thêm nhiều tài liệu mới thu thập được Khi đánh giá con người và tác phẩm của Nguyễn Thông, các nhà nghiên cứu
Trang 21đều cho rằng Nguyễn Thông có nhiều đóng góp trên nhiều lĩnh vực và nhất trí xếp thơ
văn ông vào dòng thơ văn yêu nước cuối thế kỷ XIX
nghiệp, cuộc đời của Phan Thanh Giản [171] đã tìm hiểu rõ hơn thân thế, sự nghiệp cũng
như nhận thức, đánh giá sâu thêm về Phan Thanh Giản Công trình Phan Thanh Giản nỗi
đau trăm năm của Hoàng Lại Giang [49] đã dựng lại bức tranh khá hoàn chỉnh về cuộc
đời, con người Phan Thanh Giản và có những nhận định, đánh giá về ông như: “nhẫn nhục, cam chịu và gắng gỏi” [49, tr.10], ra làm quan phò vua, giúp nước nhưng cảm thấy mình tài hèn đức mỏng và luôn mang nỗi buồn mênh mông: “Chút nghĩa vương mang
phải gắng đi/ Tang bồng đành rõ chí nam nhi” [49, tr.147] Công trình Thế kỷ XXI nhìn về
nhân vâ ̣t li ̣ch sử Phan Thanh Giản [59] đã tập hợp những tham luận của 2 cuộc Hội thảo
gần đây nhất (1994, 2003) để ghi nhận một chặng đường nhận thức dài cùng với những biến thiên của lịch sử đất nước Không khí cởi mở, khoan dung đã đưa lại cách nhìn nhận, đánh giá bớt khắt khe và công bằng hơn đối với Phan Thanh Giản Chân dung Phan Thanh Giản đang dần trở lại với cái nhìn đầy vị tha truyền thống của người Việt Nam Trong thời gian này, có nhiều tuyển tập tác phẩm Phan Thanh Giản và một số công trình chuyên luận liên quan được xuất bản hay tái bản Phan Thị Minh Lễ, Chương Thâu với
quyển Thơ văn Phan Thanh Giản [111] đã tập hợp tất cả những bài thơ do Phan Thanh
Giản sáng tác, giúp cho người đọc hiểu hơn về ông Trong lời “Giới thiệu Di cảo Phan
Thanh Giản Lương Khê Thi văn thảo”, Chương Thâu nhận định Phan Thanh Giản: “nổi
tiếng là một con người cương trực, khảng khái, hiếu nghĩa, thanh liêm và được người đời
xưng tụng” [111, tr.8] Câu Lạc bộ thơ Ba Tri cho xuất bản tập thơ Nỗi oan sáng tỏ [62]
nhân kỷ niệm 212 năm ngày sinh và 141 năm ngày mất của Phan Thanh Giản, ca ngợi công lao và tấm lòng trung nghĩa của Phan Thanh Giản đối với đất nước: “Câu lạc bộ thơ
Ba Tri hiểu và cảm thông sâu sắc với nỗi đau nhân thế mà cụ Phan học sĩ phải tiếp nhận bằng sự “tuẫn tiết” để tỏ rõ lòng trung nghĩa trước buổi dương cùng!” [62, tr.3]; “Cụ - một
vị quan yêu nước, thương dân, suốt đời sống thanh bạch, liêm khiết, cương trực, Cụ dám can gián Vua để mang họa vào thân vì trách nhiệm trước dân, nước của mình” [62, tr.8]
Công trình Nguyễn Hữu Huân nhà yêu nước kiên cường, nhà thơ bất khuất do
Phạm Thiều chủ biên, Cao Tự Thanh, Lê Minh Đức khảo luận, dịch và sưu tầm [187] Việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam không thể không bắt nguồn từ những giá trị tinh thần và đạo lý truyền thống dân tộc, đặc biệt là truyền thống yêu nước chống ngoại xâm Trên tinh thần ấy, các tác giả chủ trương tích cực nghiên cứu và giới thiệu những tấm gương đấu tranh của các thế hệ đi trước, bắt đầu từ những gương mặt
Trang 22tiêu biểu của Hào khí Đồng Nai để tiếp theo, giới thiệu hai nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu và Nguyễn Thông
Nghiên cứu văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX, rất cần phải kể đến các bài viết đề cập đến các tác giả văn học nhà nho Nam Bộ Về Phan Thanh Giản,
năm 1954 Trường Viễn Đông bác cổ của Pháp tại Hà Nội xuất bản cuốn Hiểu biết về
Việt Nam của hai tác giả Pie Huya và Môrixơ Đurăng Trang 87 - 88 sách này viết đại
ý: “Lòng trung thành với vua được thể hiện nổi bật trong cách tự vẫn của Võ Tánh,
Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương…” [233] Quốc sử quán triều Nguyễn đã có
một cái nhìn chia xẻ với Phan Thanh Giản: “Thanh Giản là người ngay thực, giữ lòng
liêm khiết,… Xem tờ sớ để lại thì lòng trung ái chứa chan ở ngoài lời nói” (Đại Nam
chính biên liệt truyện, tập 4, Huế, 1993, tr.46)
Đã có nhiều cuộc Hội thảo khoa học về Phan Thanh Giản tổ chức ở Vĩnh Long,
Bến Tre, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội Gần đây nhất là cuộc tọa đàm Thế kỷ XXI
nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản với các nhận định: “Người có tội với dân với
nước là Tự Đức Tư tưởng trung quân của đạo Nho đã buộc Phan Thanh Giản làm trái với lương tâm và tấm lòng yêu nước, thương dân của mình” [59, tr.79]; “Phan Thanh Giản nổi tiếng là một con người cương trực, khẳng khái, hiếu nghĩa, thanh liêm và được người đời xưng tụng” [59, tr.91]; “Ông lấy cái chết để tự trừng phạt mình và để tỏ tấm lòng trung nghĩa Phải nói là lòng trung này của ông là khẳng định, là sự thực chân thành
và đẹp đẽ… Ông là người cha, người chồng làm tròn bổn phận, là người nói đến tình nghĩa gia đình” [59, tr.105]; “Phan Thanh Giản cũng dần dần rơi vào bế tắc trên một lập trường chính trị chiết trung Vừa mong ái dân vừa muốn trung quân, cái tâm thế lưỡng phân này khiến từ 1859 Phan không kế thừa được một cách tích cực truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc…” [59, tr.282]; “Phan Thanh Giản là một vị quan có trí thức, mẫn cán, thanh liêm, yêu nước và có nhân cách lớn” Sự qui kết cho ông tội
“bán nước” hay “phản bội Tổ quốc” như trước đây là nặng nề, không có căn cứ, vừa không đúng với hành động và động cơ của ông, vừa trái với tấm lòng ngưỡng mộ và kính mến mà xưa nay nhân dân quê hương vẫn dành cho ông Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt phát biểu: “Nhân cách đạo đức của Phan Thanh Giản rất đáng để chúng ta và nhiều thế hệ nối tiếp học tập”, “Tôi khẳng định Phan Thanh Giản là người yêu nước,
thương dân mà lo không tròn bổn phận” [59, tr.231, 234] Trong bài viết “Một vài nét về
tư tưởng “an dân” của Phan Thanh Giản” (trong sách Những vấn đề văn hóa - xã hội
thời Nguyễn), Đặng Đức Thi nhận xét: “Phan Thanh Giản nói trung quân ái quốc chứ
không nói trung quân như Nho giáo chính thống Với Phan Thanh Giản, trung quân ái
Trang 23quốc gồm hai nghĩa: một là trung với vua, hai là yêu nước… ông lo cho dân cho nước, chứ không chỉ lo cho vua” [119, tr.55]
Huỳnh Công Tín với bài viết “Tưởng nhớ ngày mất của Tiến sĩ Phan Thanh Giản (mồng 5 tháng 7 năm Đinh Mão 4-8-1867)”, đăng trên báo điện tử Cần Thơ ngày 9/8/2008, đã nêu lên tất cả những đức hạnh tốt đẹp Phan Thanh Giản và đồng thời giới thiệu các tập thơ của Phan Thanh Giản Bài viết “Đánh giá lại các nhân vật lịch sử nửa sau thế kỷ XIX ở Việt Nam và Trung Quốc - Trường hợp Phan Thanh Giản (Việt Nam)
và Tăng Quốc Phiên (Trung Quốc)” của Nguyễn Tiến Lực đã khẳng định: “Trong bất
cứ cương vị nào ông cũng luôn luôn trung thành, mẫn cán, lo làm tròn sứ mạng phò vua, giúp nước, an dân” [120] Sau khi đất nước thống nhất và tiến hành công cuộc đổi mới, nhiều nhà khoa học thấy cần phải đánh giá lại Phan Thanh Giản một cách khách quan và
đầy đủ hơn (các bài viết về Phan Thanh Giản trên các tạp chí Nghiên cứu lịch sử, tạp chí
Xưa và Nay, báo Tuổi Trẻ, Tiền Phong,…)
Đối với tác giả Nguyễn Đình Chiểu, có thể nói Nỗi lòng Đồ Chiểu của Phan Văn
Hùm [95] là công trình đầu tiên nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu một cách khoa học và có tính hệ thống, chú ý lý giải mối quan hệ giữa sáng tác Nguyễn Đình Chiểu với cuộc đời của ông Chuyên luận đã “cắm một cái mốc theo định hướng đúng, nhiều triển vọng” trong lịch sử nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu cả về tư tưởng học thuật cũng như phương pháp văn bản học Từ những năm 60 của thế kỷ XX đến nay, giới nghiên cứu chú ý nhiều đến Nguyễn Đình Chiểu Phạm Văn Đồng khẳng định: “Nguyễn Đình Chiểu là một người chí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước ta Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật,
nêu cao sứ mệnh của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng” [186, tr.74]
Năm 1982, Hội nghị khoa học quốc gia về Nguyễn Đình Chiểu được tổ chức tại tỉnh Bến Tre Có nhiều tham luận được gửi đến Các ý kiến đều cho rằng tư tưởng Nguyễn Đình Chiểu chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng nhân dân Ông xứng đáng là đại biểu cho tinh thần quật cường của lớp sĩ phu tiến bộ cuối thế kỷ XIX cũng như quảng
đại nhân dân Nam Bộ thời kỳ này Năm 1982, Lê Trí Viễn cho ra đời cuốn Nguyễn
Đình Chiểu ngôi sao càng nhìn càng sáng [204] đã đề cập khá chi tiết về cuộc đời, sự
nghiệp sáng tác của nhà thơ Đặc biệt Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang đã cố gắng biên khảo, chú giải trình bày khá chi tiết, đầy đủ tất cả các tác phẩm
Nguyễn Đình Chiểu trước và sau khi thực dân Pháp xâm lược để cho ra mắt Nguyễn
Đình Chiểu toàn tập [189], [190] Bộ sách được sưu tầm, biên soạn công phu góp
phần tạo thuận lợi cho việc tiếp cận di sản thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu
Trang 24Vũ Khiêu - Nguyễn Đức Sự với Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng của người trí
thức Việt Nam [70], đã nghiên cứu truyền thống của người trí thức Việt Nam, sự ảnh
hưởng của Nho giáo, việc vận dụng Nho giáo trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu và thái
độ của ông đứng trước nạn ngoại xâm Trần Văn Giàu với Nguyễn Đình Chiểu đạo làm
người [38] đánh giá cao đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu: “Cuộc đời của Nguyễn
Đình Chiểu là một cuộc đời điển hình (sĩ phu yêu nước) trong một hoàn cảnh điển hình (đất nước bị xâm lăng) Con người Nguyễn Đình Chiểu không phải sống tùy thời… mà
từ đầu chí cuối đứng sừng sững… đương đầu bất khuất với thời cuộc mỗi lúc thêm bi đát, giữ được đến cùng cái chính khí bản thiên, cái ý chí quang phục, cái nhân cách Việt Nam” [38, tr.6] Gần đây, có thêm một số công trình nghiên cứu như chuyên luận
Nguyễn Đình Chiểu từ quan điểm thi pháp học của Nguyễn Phong Nam [136]; Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc do Đoàn Lê Giang biên soạn
[45],… đã góp phần tích cực cho việc tìm hiểu, nghiên cứu, giảng dạy tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu trong nhà trường Có thể khẳng định, việc nghiên cứu, đánh giá Nguyễn Đình Chiểu và sáng tác của ông đã có những bước tiến lớn,… Các nhà nghiên cứu thể hiện thái độ nghiêm túc, khoa học khi đề cao con người, tư tưởng và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu Tuy nhiên, vấn đề quan niệm trung nghĩa cũng như con người trung nghĩa trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu còn nhiều bỏ ngỏ…
Việc nghiên cứu văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX có ý nghĩa tích cực về mặt quan điểm, phương pháp nghiên cứu,… góp phần làm rõ hơn những giá trị văn học nhà nho Nam Bộ và đóng góp của các tác giả vào quá trình phát triển của lịch
sử văn học dân tộc Những thành tựu đã có trong tìm hiểu, nghiên cứu, đặc biệt trong sưu tầm, tập hợp, biên dịch, biên soạn tư liệu về văn học nhà nho Nam Bộ là rất đáng khẳng định Đấy là thuận lợi lớn cho người đến sau trong tiếp cận văn học nhà nho Nam
Bộ ở một giai đoạn vào loại phức tạp nhất
1.1.2 Vấn đề nghiên cứu con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX
1.1.2.1 Về khái niệm trung nghĩa, tư tưởng trung nghĩa trong văn học nhà
nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX
Tuy chưa lấy con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế
kỷ XIX làm đối tượng nghiên cứu, nhưng khái niệm trung nghĩa, mẫu hình con người trung nghĩa đã được đề cập trong một số công trình ở cả trong và ngoài nước Có thể thấy khái niệm trung nghĩa, tư tưởng trung nghĩa được đề cập trong các công trình với các ý kiến đáng chú ý
Trang 25Nguyễn Đình Chiểu là một tác gia lớn của văn học Việt Nam, trong sáng tác của ông yếu tố trung nghĩa giữ vai trò quan trọng, tạo nên sự độc đáo của phong cách tác giả Nhìn nhận về vấn đề này, Lê Trí Viễn có bài “Màu sắc Miền Nam trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu”, Nguyễn Trung Hiếu với bài viết “Cái nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu và tấm lòng ý chí Việt Nam” [84]; E Hoeffel có bài “Đức trung, hiếu, tiết, nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu”; Hà Huy Giáp có bài “Nguyễn Đình Chiểu nhà thơ lớn yêu nước, chống xâm lăng, một tâm hồn vằng vặc nhân nghĩa, một tấm gương kiên trung và bất khuất”,
Theo Hà Huy Giáp, Nguyễn Đình Chiểu với tác phẩm Lục Vân Tiên “đã đáp ứng được
tinh thần dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài, ghét gian ác, của người dân Việt Nam”;
“những con người tốt trong Lục Vân Tiên kế tục những truyền thống cao quý nhất của dân
tộc về nhân nghĩa; đó là những con người trong sạch, bình dị, làm việc nghĩa như một nhu cầu mà không hề nghĩ đến tiền tài, ơn huệ”; “Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu là một thứ chủ nghĩa nhân đạo chiến đấu vì dân, vì nước, vì phẩm giá con người”;
“Cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu toát lên một tư tưởng nhân nghĩa lớn, bao trùm là tình yêu nước thương dân sâu sắc” [186, tr.126-128]
Vũ Đức Phúc trong các bài viết “Mở rộng nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu”,
“Đạo nho và các nhân vật trí thức trong sáng tác Nguyễn Đình Chiểu” có đề cập đến
tư tưởng trung quân của Nguyễn Đình Chiểu: “Nguyễn Đình Chiểu đã lên án hết sức các vua chúa thuở xưa làm hại dân Đối với các vua như thế thì “trung” sao được vì lòng yêu nước thương dân, đã quẳng chữ trung quân đi” [186, tr.243-244] Trong bài
“Từ Lục Vân Tiên đến Dương Từ - Hà Mậu” [88], Nguyễn Văn Hoàn có nói đến tiêu chuẩn của “Nghĩa” theo đạo Nho, tư tưởng “trung, nghĩa” tích cực trong Lục Vân Tiên,
quan niệm “nhân nghĩa” của nhà thơ gắn liền với “nợ nước, tình nhà”, [186, tr.436]
Trần Ngọc Vương trong bài viết “Những đặc điểm mang tính quy luật của sự phát triển văn học nhìn nhận qua sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu” khẳng định: “chủ đề
cơ bản trong toàn bộ sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu là “Vệ đạo, bảo dân, trung quân,
ái quốc”; “Hình tượng văn học của cuối thế kỷ XIX về cơ bản là sự kết tinh toàn bộ những giá trị mà cũng là sự kết thúc của hình tượng người trung nghĩa” [186, tr.307, 310] Ngoài ra, còn những nghiên cứu khác như: “Sự vận dụng Nho giáo trên lập trường nhân dân của Nguyễn Đình Chiểu” của Nguyễn Đức Sự, “Tính nhân dân của Nguyễn
Đình Chiểu” của Phan Ngọc, “Truyện Lục Vân Tiên và vấn đề quan hệ đạo đức và thẩm mỹ” của Lâm Vinh, “Nguyễn Đình Chiểu qua trang đời, trang văn” của Thạch Phương - Mai Quốc Liên, Về tác phẩm Lục Vân Tiên có một số học giả người Pháp như: G
Aubaret, A Michels, G Jeanneau, tìm hiểu giá trị nội dung, luân lý đạo đức cũng như
nghệ thuật diễn tả tâm lý, tình cảm nhân vật Năm 1864, Gabriel Aubaret đã dịch Lục
Trang 26Vân Tiên ra tiếng Pháp và có lời tán dương: “ở tác phẩm đó những tính căn bản của một
dân tộc mà chúng tôi đã chung sống rất lâu, sản phẩm của trí tuệ con người đạt được cái ưu điểm hiếm có tiêu biểu được một cách trung thành tình cảm của cả một dân tộc”
[186, tr.624] Báo Courrier de Sai Gon, số 14, 20/7/1866 đã khẳng định: “vẻ tươi sáng
cứng cỏi của những tình cảm xứng đáng với các dân tộc tiên tiến”, “danh phẩm này đã diễn tả rất khéo léo những phong tục và tư tưởng của một dân tộc rất đáng để ý về mọi
phương diện” [186, tr.626] Năm 1873, G Jeanneau đã ấn hành Lục Vân Tiên ra chữ
Quốc ngữ, góp phần phổ biến tác phẩm sâu rộng trong nhân dân Năm 1866, Engène
Bajot dịch Lục Vân Tiên ra thơ Pháp, tuy không lột tả hết tinh thần của nguyên tác
nhưng cũng chuyển tải được một số nội dung cốt truyện Các bài viết của những nhà nghiên cứu trong và ngoài nước trên, bằng thái độ nghiêm túc, khoa học, tập trung đi sâu
đề cao sự linh hoạt tư tưởng trung, nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu, nêu cao triết lý hành
động tích cực, lấy “dân” và “nước” làm gốc,
Năm 1961 ở Hà Nội, lần đầu tiên cuốn Thơ văn Nguyễn Thông [188] do Ca Văn
Thỉnh, Bảo Định Giang giới thiệu, Lê Thước, Phạm Khắc Khoan dịch Từ đó đến nay, nhiều sách văn học khi nói đến Nguyễn Thông, chủ yếu dựa vào sách này Nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất của Nguyễn Thông, các tác giả Ca Văn Thỉnh và Bảo Định
Giang dựa trên quá trình nghiên cứu thêm về Nguyễn Thông đã giới thiệu cuốn Nguyễn
Thông, con người và tác phẩm [191] Tác giả Cao Tự Thanh và Đoàn Lê Giang trong
cuốn Tác phẩm Nguyễn Thông [172] đã nhận định: “Giữa những âm sắc khác nhau
trong dòng văn chương yêu nước chống Pháp nửa sau thế kỷ XIX, tiếng thơ Nguyễn Thông đã cất lên như tiếng lòng tha thiết của một người cầm bút - một nhà thơ chân chính rơi vào nghịch cảnh nhưng vẫn giữ vẹn tấm lòng son sắt với quê hương” [172, tr.38] Trong cuốn sách này tác giả đề cập đến điểm giống và khác nhau giữa hai nhà chí
sĩ yêu nước Nguyễn Thông và Nguyễn Đình Chiểu Cuốn Từ điển văn học (Bộ mới) [85] cũng đề cập đến Nguyễn Thông với tư cách một nhà nho - trí thức phong kiến có
tài và hoạt động trên khá nhiều lĩnh vực Nhưng theo các tác giả: “Nổi bật và bao trùm thơ văn Nguyễn Thông là tấm lòng thiết tha yêu mến quê hương mà ông phải lìa bỏ vì không chịu sống trên đất kẻ thù đã chiếm đóng Đó là nét đặc sắc của một con người tiêu biểu cho phong trào “tỵ địa” - một trong những phong trào yêu nước ở Nam Bộ nửa cuối thế kỷ XIX” [85, tr.1189] Hơn một thế kỷ qua, tên tuổi và cuộc đời Nguyễn Thông
có ảnh hưởng lớn đối với nền văn học nước nhà Song cho đến nay số lượng công trình nghiên cứu sự nghiệp thơ văn Nguyễn Thông chưa phải là nhiều Thành tựu nghiên cứu
về Nguyễn Thông chưa xứng đáng với tầm vóc của ông
Trang 27Có thể tìm thấy những thông tin hữu ích về nhà nho Tây Nam Bộ - Nguyễn
Thông qua các sách Nguyễn Thông con người và tác phẩm của Ca Văn Thỉnh - Bảo Định Giang [191]; Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX của Nguyễn Lộc [117]; Từ điển văn học do Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá chủ biên [85]; Từ điển văn học Việt Nam - Từ nguồn gốc đến hết
thế kỷ XIX do Lại Nguyên Ân chủ biên [5]; Các tác giả trên chủ yếu xem xét thơ
văn Nguyễn Thông trên phương diện cuộc đời và tác phẩm Vấn đề con người trung nghĩa trong thơ văn của Nguyễn Thông chưa được làm rõ
Tiếp theo có bài viết về Phan Văn Trị: “Trăm năm vẫn sáng ngời đạo nghĩa” của Đặng Duy Khôi Theo tác giả bài viết, Phan Văn Trị “trọn đời trung trinh tiết liệt, dùng thơ văn của mình để góp phần đấu tranh với kẻ thù xâm lược Trăm năm đã qua, đạo nghĩa và tài năng của cụ Cử Trị mãi là ngọn đuốc sáng, soi đường cho thế hệ hôm nay”
Về Nhiêu Tâm, đáng chú ý có các bài viết như: “Thơ trào phúng ở miền Nam” (1957),
“Đỗ Minh Tâm - một nhà thơ trào phúng” (1958) của Thái Bạch; “Nhà thơ trào phúng
của miền Nam” (1957) của Nguyễn Tử Năng; “Thi ca châm biếm trào lộng Việt Nam”
(1969) của Hoàng Trọng Thược Các bài viết của các nhà nghiên cứu “đều thống nhất quan điểm cho rằng Nhiêu Tâm là nhà thơ trào phúng đặc sắc của miền Nam” Phan Mạnh Hùng trong bài “Một ít tư liệu về Nhiêu Tâm nhà thơ trào phúng đất Nam Kỳ thời cận đại” (2013) khẳng định: “tiếng thơ Nhiêu Tâm không chỉ mang sắc thái trào phúng
mà còn có ý vị thâm trầm của tâm hồn đa cảm, cảm thông với phận đời, tình người” [94,
tr.31] Đối với Học Lạc, có bài viết “Học Lạc - nhà thơ trào phúng miền Nam” (1957)
của Nguyễn Tử Năng; “Thử đánh giá Học Lạc, nhà thơ trào phúng miền Nam” (1958) của Hồ Tuấn Niêm; “Học Lạc - Thi sĩ trào phúng của miền Nam nước Việt” (2008) của
Lê Minh Quốc; “Học Lạc - nhà thơ trào phúng đất Nam Bộ” (2009) của Huỳnh Mẫn Chi; Ngoài ra, còn khá nhiều bài viết nghiên cứu, đánh giá giá trị thơ văn của một số nhà nho Nam Bộ khác như Trương Định, Bùi Hữu Nghĩa, Nhìn chung, các bài viết của những nhà nghiên cứu trên mới nêu những nhận định khái quát hoặc đi sâu phân tích, bình luận về một số tác giả trào phúng tiêu biểu Các bài viết ấy không chỉ đề cao vấn đề trung và nghĩa mà còn ngợi ca những tác phẩm văn học yêu nước có sự gắn bó với cuộc đời nhà nho hay phê phán, vạch mặt bọn bán nước phản động,… Các nhà nghiên cứu đều khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của các nhà nho Nam Bộ trong nền văn học nước nhà Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu con người trung nghĩa trong văn học của các nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX
Cũng đánh giá về văn học giai đoạn này, gần đây có một số luận án tiến sĩ văn
học nghiên cứu về văn học nhà nho Có thể kể đến: Trí thức Nam kỳ đối mặt với cuộc
Trang 28chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp trong nửa sau thế kỷ XIX (qua các trường hợp Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông, Trương Vĩnh Ký (2003) của
Trần Thị Kim Dung [22]; Nhận diện loại hình tác giả nhà nho ẩn dật và vai trò của họ
trong văn học trung đại Việt Nam (2012) của Lê Văn Tấn Ngoài ra, một số luận văn
Thạc sĩ cũng đề cập văn học nhà nho nửa sau thế kỷ XIX như: Hiện tượng phản tỉnh
trong văn học nửa sau thế kỷ XIX (2004) của Vũ Thị Ngọc Tú; Đặc sắc thơ cảm hoài trong văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX (2005) của Hoàng Thị Tuyết Anh; Nghiên cứu sự tiếp nhận sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu (2005) của Đoàn Trần Ái Thy; Kiểu tác giả nhà nho tài tử trong văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX
(2007) của Nguyễn Thị Kim Anh; Đặc điểm thơ trào phúng Nam Bộ cuối thế kỷ XIX -
đầu thế kỷ XX (2014) của Trần Thế Vỹ; Con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần Vương cuối thế kỷ XIX (2014) của Nguyễn Thị Vân Trang,… Nhìn chung
các luận văn, luận án tuy có nhắc đến vấn đề trung nghĩa, con người trung nghĩa trong văn học nhà nho, nhưng đấy chưa phải là vấn đề trung nghĩa, con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX
Con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX còn
là vấn đề có ý nghĩa sâu sắc về nhiều mặt, một cách đầy đủ, hệ thống Luâ ̣n án nghiên
cách là mô ̣t vấn đề chuyên biê ̣t
1.1.2.2 Về mẫu hình con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ
nửa sau thế kỷ XIX
Có thể thấy mẫu hình con người trung nghĩa được đề cập trong các công trình với các ý kiến đáng chú ý Phạm Văn Đồng trong bài viết: “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc” (1963) đã khẳng định giá trị văn chương Nguyễn Đình Chiểu và đề cập việc xây dựng mẫu hình các nhân vật chính nghĩa của nhà thơ
Ông cho rằng phải hiểu đúng tác phẩm Lục Vân Tiên mới thấy hết giá trị của nó, “bản
trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quý trọng ở đời, ca ngợi những người trung nghĩa” [186, tr.73] Cao Tự Thanh, Đoàn Lê Giang trong phần “Giới thiệu Nguyễn Thông và văn bản tác phẩm Nguyễn Thông” đã khẳng định tư tưởng yêu nước thương dân của Nguyễn Thông và nhận thấy Nguyễn Thông tự điều chỉnh mình trở về với ý thức trung quân nhưng con người này cũng không tránh khỏi bi kịch với
“những mâu thuẫn vò xé tâm hồn: mâu thuẫn giữa ý thức trung quân và tinh thần yêu nước”; “từ đây, lý tưởng xã hội tiến bộ ở ông đã có điều kiện chuyển hóa trực tiếp thành tư tưởng thương dân yêu nước” [172, tr.35, 45] Nguyễn Thông từng đề cao mẫu
Trang 29hình con người “quyên sinh để giữ vững khí tiết” Đó là mẫu hình con người mang
“những giá trị tích cực trong đời sống tinh thần dân tộc” [172, tr.47]
Các tác giả Lê Trí Viễn, Phan Côn, Nguyễn Đình Chú, Huỳnh Lý, Lê Hoài
Nam trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam, tập IV [203] thì cho rằng hai nhân vật
chính trong thơ văn yêu nước chống Pháp là “nhà nho yêu nước và người chiến sĩ nhân dân”, hành động của họ “thể hiện lòng trung với nước, với dân”; “đó là tấm lòng
vì nghĩa quên mình, thấy việc cứu nước là phải thì cứ làm” [203, tr.34, 38] Còn Trần
Văn Giàu trong “Lời giới thiệu” cuốn Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX đã đề cập
mẫu hình con người trung nghĩa “đặt nghĩa lớn đất nước lên trên quyền lợi cá nhân, lên trên cả tính mạng của mình” và đặt vấn đề “lòng yêu nước”, “vấn đề sống và chết” trong giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX [37, tr.25, 26]
Ca Văn Thỉnh trong “Lời mở đầu” tiểu luận Những ngôi sao sáng trên bầu trời văn
học Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX đã nói đến mẫu hình con người trung nghĩa yêu nước: “thấy
việc nghĩa phải làm, trước nạn ngoại xâm có nghĩa là phải cứu nước cứu nhà, dù phải hy sinh tính mạng cũng không lùi bước” [43, tr.53] Huỳnh Công Tín với bài “Phan Thanh Giản - Vị tiến sĩ đầu tiên đất Nam Kỳ” cho rằng: “Phan Thanh Giản mang bi kịch mâu thuẫn giữa trung quân và ái quốc, yêu nước, thương dân mà lo không tròn bổn phận, cụ đã tự làm bản án cho chính mình: đó là cái chết Một cuộc đời thanh sạch, thật đáng để lại gương soi cho hậu thế…”; “Nói như Cao Tự Thanh: “cái số phận nhiều cay đắng mà ít vinh quang…” [197]
Nguyễn Khắc Thuần, Nguyễn Quảng Tuân trong “Lời tựa” cuốn Phan Văn Trị - cuộc đời và
tác phẩm cũng đề cập mẫu hình con người trung nghĩa với “những tấm gương chiến đấu, hy
sinh mẫu mực” [193, tr.11] Đây là mẫu hình con người với những phẩm chất cao quý Phan Văn Trị nhắc đến “quan hệ vua tôi” nhưng không lùi bước trước quân thù, “quyết đi theo chí nguyện của mình” và lên án “bọn đầu trâu mặt ngựa”, “phản bạn lừa thầy” [193, tr.12] Bùi Hữu Nghĩa phải trả một giá đắt cho sự “thanh liêm chánh trực của mình giữa thời nhiễu nhương” [193, tr.69] Hồ Huân Nghiệp “đi theo tiếng gọi của nghĩa quân Trương Định” [193, tr.69] nên đã bị kẻ thù xử tử Huỳnh Mẫn Đạt trước sau vẫn “bất hợp tác với thực dân Pháp”
và công khai bày tỏ “sự khâm phục và lòng kính trọng sâu sắc của mình đối với người anh hùng Nguyễn Trung Trực” [193, tr.70] Bên cạnh đó còn có những mẫu hình nổi bật khác như Trần Thiện Chánh, Học Lạc, Nhiêu Tâm,… và hàng loạt những hình tượng con người trung nghĩa khác Đây là mẫu hình con người trung nghĩa được thể hiện qua hình tượng cái tôi trữ tình trong sáng tác Các nhà nho yêu nước đã dựng lên bức chân dung tự họa (hình tượng tác giả) với những băn khoăn, lo lắng cho thực trạng đất nước
Đặc biệt mẫu hình con người trung nghĩa đều được các tác giả văn học (là nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX) ngợi ca qua các tấm gương trung nghĩa có thật trong
Trang 30lịch sử dân tộc Họ là những nghĩa sĩ xả thân hy sinh vì đại nghiệp của dân tộc Họ đại diện cho nhân dân yêu nước Nam Bộ với tính cách nghĩa hiệp đáng trọng Những nhân vật trong thơ, văn tế, hịch, truyện,… hy sinh vì nước như Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân, Phan Tòng, Trần Văn Thành, từ ngoài đời bước vào tác phẩm, và rồi từ tác phẩm bước ra cuộc đời đã khơi dậy lòng căm thù giặc
và tinh thần yêu nước của nhân dân ta Phan Thanh Giản cũng ca ngợi: “từ thuở tiên sanh lấy lối học nghĩa lý để giáo hóa…; tới nay, dân gian trong Lục tỉnh Nam kỳ, tỏ lòng trung nghĩa, cảm phát, dám hy sanh tới tánh mạng,… [192, tr.19] Vì vậy những con người yêu nước đã tạo nên sự đa dạng và thống nhất của mẫu hình con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX
Các bài viết của tác giả nước ngoài đề cập đến mẫu hình con người trung nghĩa
như: A Delvaux trong L’ambassade de Phan - Thanh - Gian en 1863 (1926) [219] nói đến Phan Thanh Giản; MW McLeod trong Trương Định and Vietnamese Anti-
Colonialism (1993) [229] đề cập người anh hùng Trương Định và chủ nghĩa chống chủ
nghĩa thực dân; cũng trong Lettre autographe de Legrand de la Liraye au sujet de la
distribution des bằng cấp par Quản Định [227] nói về người anh hùng Trương Định đã
không theo lệnh ngưng chiến, lại còn giả truyền mật chỉ hay phát bằng cấp của triều
đình để cổ vũ nhân dân kháng chiến; PTM Lê, Pierre PH Chanfreau trong Phan Thanh
Gian patriote et précurseur du Vietnam moderne (2002) [232] bàn đến con người yêu
nước Phan Thanh Giản và người báo hiếu của nước Việt Nam hiện đại; ME Osborne
trong Truong Vinh Ky and Phan Thanh Gian: The Problem of a Nationalist
Interpretation of 19th Century Vietnamese History (1970) [228] đã giải thích về vấn đề
lịch sử Việt Nam; C Kelley cũng đưa ra một số kết luận nhưng thiếu tính lịch sử, suy đoán chủ quan, dựa trên một số tư liệu không có ý nghĩa phổ quát, chưa chú ý nghiên cứu lịch sử, văn hóa từ góc nhìn toàn diện lịch sử - cụ thể, chưa thấy hết “ý thức về độc lập dân tộc, yêu nước, sẵn sàng hy sinh tính mạng vì các giá trị này” qua các tên tuổi Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, (xem bài viết “Nghiên cứu phi lịch
sử, hay thực hành “chủ nghĩa thực dân tinh thần?” (2014) của Nguyễn Hòa
(http://www.nhandan.com.vn); Paulin Vial trong Les premières années de la
Cochinchine - Colonie francaise (1874) đề cập phong trào đấu tranh của những con
người yêu nước: “sự kiện này được coi như một biến cố đau đớn làm người An Nam phấn khởi tinh thần và gây xúc động sâu xa trong người Pháp” [231, tr.124-126]; De
Septans trong Les commencements de L’Indochine Francaise cũng thừa nhận tình trạng
khốn quẫn của quân Pháp: “sức khỏe đã bị suy giảm trầm trọng, những cơn mệt mỏi và
Trang 31những trận chiến đấu, bệnh dịch tả và kiết lỵ sát hại từng đoàn quân bất hạnh” [222, tr.177]; “chính họ đã phải nhận định: cuộc đấu tranh với nước này còn khó hơn cuộc chiến tranh với vương quốc Trung Hoa” [223, tr.352]; Như vậy, đã có không ít các công trình, bài viết trong và ngoài nước nghiên cứu văn học nhà nho và văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX Tuy nhiên, vấn đề con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Nam Bộ là vấn đề lớn, phức tạp, mang tính chuyên biệt, cần được khảo sát, phân tích thấu đáo, cần được nghiên cứu chuyên sâu, có tính hệ thống
1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài
Con người là đối tượng nghiên cứu, miêu tả của văn học, những mặt liên quan đến con người, thuộc về con người đều nằm trong phạm vi nhận thức của văn học Theo quan điểm của K Marx: “con người là thực thể tự nhiên có tính người, là “thực thể sinh học -
xã hội”, “trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội” [79, tr.331] Văn chương lấy con người làm đối tượng miêu tả, phản ánh, đặc biệt trong văn học trung đại phương Đông, con người được quan niệm như “tầm nhìn của nhà văn
học vấn đề và suy nghĩ , Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999, tr.210) Quan niệm con người trong
văn chương có sự thay đổi qua các thời kì phát triển của lịch sử văn học Các lý thuyết nghiên cứu, tìm hiểu về con người trong văn học trung đại biểu hiện của sự thay đổi tư duy và quan niệm thẩm mỹ về con người Các lý thuyết nghiên cứu về con người là nguyên tắc lý giải, cảm thụ của chủ thể Điều này tạo nên chiều sâu, tính độc đáo của con người trong văn học, đó là “sự lý giải, cắt nghĩa sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức thể hiện con người trong văn học” [164, tr.59] Triết học nhìn nhận con người trong mối quan hệ với tự nhiên để tìm hiểu bản chất con người; Mỹ học nhìn nhận con người với những giá trị thuộc về cái đẹp; Đạo đức học nhìn con người thông qua các chuẩn mực, nguyên tắc xử thế,… Lão Tử coi con người là yếu tố của Thiên - Địa - Nhân, con người phải gắn bó, hòa hợp với vũ trụ Nhiều
lý thuyết thời trung đại (tiêu biểu như Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo) khi đề cập đến con người, đều bàn đến các phạm trù: vô ngã, hữu ngã, bản ngã, tha nhân,… xem xét tính đa dạng và phong phú của con người trong mối quan hệ với chính trị, đạo đức Con người được nhìn nhận như một nhân cách đích thực và được soi chiếu từ nhiều góc nhìn khác nhau, phản ánh sinh động dựa trên những khía cạnh: khoa học, triết học, lịch sử, mỹ học, tôn giáo, đạo đức,… Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn có những điểm nhìn khác nhau về con người trong văn học, cụ thể hóa thành các kiểu nhân vật, mẫu hình thẩm mỹ trung tâm,… Con người hướng đến phẩm chất tư tưởng xả thân, thể hiện mối quan hệ với lịch
Trang 32sử, trên phương diện xã hội, cộng đồng và với thiên nhiên Sự xuất hiện con người vũ trụ,
tự nhiên, tâm linh trong văn học trung đại cho thấy các lý thuyết nghiên cứu về con người trong văn học không ngừng phát triển Nhà văn quan tâm đến quan niệm nhân đạo chủ nghĩa, quan tâm đến số phận, quyền sống và sự giải phóng con người; quan niệm về con người yêu nước và căm thù giặc sâu sắc, sư hy sinh và tinh thần chiến đấu cho sự nghiệp cứu nước của dân tộc
Các lý thuyết nghiên cứu, nhìn nhận con người trong nhiều mối quan hệ: con người với tự nhiên, vũ trụ; con người với xã hội; con người với quá khứ và hiện tại,… Nho giáo (và kéo theo đó là văn chương Nho giáo) quan tâm hàng đầu tới con người xã hội với các dạng thái: con người chức năng - phận vị, con người đạo đức - lễ nghĩa, con người trách nhiệm - nghĩa vụ,… Văn chương Nho giáo chú trọng tiêu chí con người nghĩa khí, hành động vì nghĩa để xác lập mẫu hình lí tưởng nhân vật chính diện: sống theo ý thức bổn phận và trách nhiệm với vua, với nước, với các quan hệ ngũ luân Nho giáo đề cao hàng đầu con người chức năng phận vị, con người đạo đức Con người đạo đức có thể dẹp bỏ những ham muốn, quyền lợi cá nhân để thực hiện tốt chuẩn mực đạo đức Đó là những nhân vật sống vì “hiếu, nghĩa, tiết”, “đạo đức trở thành một tiêu chuẩn cơ bản để phân loại con người trong văn chương nhà nho” [183, tr.260] Con người trong văn chương nhà nho, nói như Nguyễn Đình Chiểu là phải “năm phẩm rừng Nho săn sóc lấy” (năm phẩm chất (ngũ thường): nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) [189, tr.315]
Con người trong văn học trung đại được xem như là một yếu tố trong mô hình:
“Thiên - Địa - Nhân” (Tam Tài) Quan niệm “Thiên - Địa - Nhân” hay “Thiên nhân tương cảm” chi phối nhiều đến sự biểu hiện con người trong tác phẩm, con người đứng trước trời đất, đối diện với thiên nhiên vũ trụ, sống trong quy tắc “hô, ứng”,
không tìm cách đối lập với tự nhiên, ngược lại, cố gắng hòa với tự nhiên Nho giáo
xem “Trời” là đấng chí tôn, từ đó đề xướng “theo mệnh trời”, không nhân cách hóa
thành một Ðấng sáng thế Theo Lão giáo, con người phải sống theo “Ðạo”, ứng xử tốt
nhất của con người là “vô vi” Phật giáo không bàn về Thượng đế, chỉ bàn tới “Chân
lý cuối cùng”, về sự giác ngộ chân lý, hòa mình với chân lý Nói chung, khác với các thuyết lấy con người làm trung tâm, triết học phương Ðông coi con người chỉ là một
bộ phận của vũ trụ, của tự nhiên và phải hòa chung vào tự nhiên
Ngoài ra, con người còn bị chi phối bởi một hệ thống tôn giáo, tâm linh, tín ngưỡng, đạo đức, luân lí Văn chương xưa thường chia các nhân vật trong xã hội thành hai tuyến: thiện - ác, tốt - xấu với mục đích, chức năng nổi bật là giáo huấn Con người trong văn học trung đại còn là con người của tấm lòng, con người của chí khí Các nhân vật tự trừu tượng hóa, đem tấm lòng ra đối diện với nhau Cùng với mô hình con người vũ
Trang 33trụ và con người đạo đức là quan niệm về con người “đấng bậc” Trong quan niệm của Nguyễn Du, Kim Trọng, Thúy Kiều, Từ Hải là những “đấng”, những “bậc” đáng kính trọng Họ là “đấng tài hoa” (Đạm Tiên), “bậc tài danh” (Kim Trọng), “bậc bố kinh” (Thúy Kiều), “đấng anh hùng” (Từ Hải), Nho giáo đề cao sự rèn luyện cá nhân (tu thân), cá nhân phục vụ xã hội, không dựa trên sự cưỡng chế, mà dựa vào sự tự giác của cá nhân Trong văn học trung đại phương Ðông xuất hiện những tấm gương tự nguyện hy sinh cá nhân cho lợi ích xã hội Không cần “vua bảo chết, thần chết”, chính thần dân nhiều khi chịu chết một cách tự nguyện vì vua Chết vì vua không phải chết cho cá nhân
nhà vua, mà chết cho lý tưởng xã hội kết tinh ở ngôi vua Con người trong văn học nói
chung và văn học trung đại nói riêng phản ánh cái tôi, giãi bày tư tưởng, tình cảm riêng tư của tác giả Nhận thức của con người không chỉ ở những hoạt động sống mà cả hoạt động tâm linh, suy tưởng Con người cá nhân phương Ðông ở chiều sâu nhất là con người hướng thượng, hướng thiện, hướng tới cái thiêng liêng và siêu việt Ðó có thể là “mệnh”,
“đạo”, “vô thượng”… (http://triethoc.edu.vn) Tùy theo từng giai đoạn, thời kỳ văn học, con người cá nhân có những đặc điểm khác nhau
Nói đến các lý thuyết về con người thời trung đại ở phương Đông, cũng cần nói đến thuyết về “tính thiện”, “nhân trị” của Mạnh Tử; thuyết “tính ác” và “lễ trị” của Tuân Tử; thuyết “thiên nhân tương cảm” và thuyết “tai dị” huyễn hoặc lạc hậu và nhất là đi đến chỗ hợp nhất phụ quyền vương quyền với thần quyền, biến nhà vua thành một gia trưởng,
đế vương, giáo chủ của Đổng Trọng Thư; thuyết “tam giáo đồng nguyên”, “tam giáo hợp nhất” của Liễu Tôn Nguyên,… Nho giáo ở từng thời kỳ lại chia ra làm nhiều khuynh hướng khác nhau, thậm chí đối lập nhau Nhưng cái chung nhất vẫn là “cương thường” Tất cả các lý thuyết đó đã ảnh hưởng đến việc xây dựng hình tượng con người trong văn học Việt Nam trung đại
học nhà nho
Nho giáo chi phối sâu sắc đến nhà nho và văn học nhà nho thời trung đại Văn chương trung đại thiên về chức năng tác động, truyền cảm hơn là phản ánh, vì ảnh
hưởng bởi ba phạm trù chi phối: Tâm, Chí, Đạo (“văn dĩ tải đạo”, “văn dĩ minh đạo”,
“thi dĩ ngôn chí”), mang tính giáo huấn, bác học, cao quý, trang nhã, quy phạm,… Những quan niệm thi luận về ngôn chí của Phan Phu Tiên, Lý Tử Tấn, Hoàng Đức
Lương, Nguyễn Trãi,… phản ánh một phần tính chất ảnh hưởng của Nho giáo đến nhà nho và văn học nhà nho Nhìn chung đại bộ phận nhà nho qua các triều đại dần dần đều
thích nghi với chính sách thân dân, tư tưởng dân vi quý tích cực của Nho giáo Họ đề cao học thuyết đạo đức nhân nghĩa, tôn trọng vương quyền, củng cố giềng mối đạo đức
Trang 34xã hội, xây dựng mẫu người lý tưởng - người quân tử, đồng thời đề cao mẫu người thiên
tử - trong tinh thần thiên nhân hợp nhất và chính sách thân dân Nho giáo từng bước
ảnh hưởng sâu đậm đến thơ văn của tác giả nhà nho Nguyễn Lộc cho rằng: “Các nhà nho theo quan niệm xuất xử của Nho giáo - gặp thời loạn thì lui về ở ẩn, lấy thiên nhiên
để di dưỡng tính tình Họ tìm thấy trong thiên nhiên những phẩm chất đạo đức cao quý của con người theo quan niệm của Nho giáo” [183, tr.268] Tiếp xúc với nho học chính thống, ngay từ đầu các nhà nho sơ kỳ trung đại đã rất thấm những điều “Tử viết” và các quan điểm văn chương của Khổng - Mạnh (các quan điểm về khả năng “hưng”, “quan”,
“quần”, “oán” của thơ ca; “những quan điểm của văn học Nho giáo như “văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí”,…) từ lâu đã có ảnh hưởng lớn đối với đời sống sáng tác” [117,
tr.731] Thơ nói chí trong văn học nhà nho là chủ đề cơ bản nhưng cũng khá phức tạp, gắn liền với những biến động của đất nước, sự tồn vong của dân tộc Chí hướng dẫn hành động tập trung cho một lý tưởng, chí của nhà nho xuất phát từ cách vật (hiểu sự vật, hiện tượng, những quy luật khách quan) đến những việc tu - tề - trị - bình theo chiều hướng mở rộng từng bước phạm vi ảnh hưởng của tư tưởng nhân nghĩa Từ góc độ triết học, Nho giáo thông qua đạo để tác động đến thi ca, phương thức tư duy đó đặt cơ sở trên một số quan niệm về đạo, văn, mỹ, giao cảm, dương cương, âm nhu, phương pháp
sáng tác, các kinh nghiệm mỹ cảm Từ góc độ văn học, theo một phương thức riêng thì
Nho giáo và thơ trữ tình có mối quan hệ đặc biệt, thể hiện cảm hứng vui mệnh, đi theo mạch tư duy chiều từ đạo đến văn (Văn bắt nguồn từ đạo - Nguyễn Văn Siêu), vận dụng phạm trù trung thứ, mở rộng phạm vi từ bản thân đến với người khác, từ trái tim đến trái
tim Văn học nhà nho sử dụng những quan niệm định giá phẩm chất thơ ca rất phong
phú như: chí, khí, tâm, đạo (Chí là nơi để tâm vào, tâm có chủ trương không theo thói thường, thơ biểu đạt cái chí thông qua hình thức ngôn ngữ thơ, là phương tiện phán ánh
tâm của kẻ sĩ quân tử) và thể hiện cảm hứng yêu nước, thân dân, nhân văn, đạo lý thông
qua những hình tượng nhà nho (phẩm chất, cảnh ngộ) Có thể nói mẫu hình “nam nhi
chí với các chuẩn mực trung, hiếu, tiết nghĩa để xây dựng hình tượng, để phản ánh và
biểu hiện” [32, tr.149], là mẫu hình thẩm mỹ có sức hấp dẫn, khái quát lớn trong văn
học nhà nho Khi chí không thực hiện được, ngôn chí gặp tình huống bi kịch, các nhà thơ thường gặp nhau ở mạch thơ cảm hoài, nhất là trong thời loạn
Con người trong văn học trung đại từ đó mang đậm dấu ấn của con người theo quan niệm của Nho giáo; con người sống không thể không theo những quy định chặt chẽ
của ngũ luân (5 mối quan hệ cơ bản: Quân - thần, phụ - tử, phu - phụ, huynh - đệ, bằng -
hữu) và ngũ thường (5 phẩm chất thường hằng: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín),… Trần Đình
Hượu cho rằng Nho giáo nhìn nhận con người trong các mối quan hệ luân thường: vua -
Trang 35tôi, cha - con, anh - em, vợ - chồng,… “Con người, theo cách hình dung của Nho giáo,… sống theo trật tự đẳng cấp… tức là có một chức năng luân thường Giá trị con người là ở đạo đức” [183, tr.260] Vì thế, đạo đức trở thành một tiêu chuẩn cơ bản để phân loại con người trong văn chương nhà nho Tuy nhiên ảnh hưởng đến văn học trung đại Việt Nam
và con người trong văn học thời kỳ này, không chỉ có Nho giáo Con người trong văn học
trung đại còn chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo (vô ngã, từ bi bác ái, sinh - lão - bệnh -
tử), Lão giáo (quan niệm cuộc đời phù vân, thoát tục, vô vi, vô hình),… Bên cạnh đó, con
người trong văn học Việt Nam trung đại chịu ảnh hưởng bởi truyền thống tư tưởng dân tộc Lý tưởng trung quân - ái quốc, lý tưởng nhân nghĩa của Khổng - Mạnh và tư tưởng truyền thống dân tộc (bản địa) đã khéo tìm gặp nhau, phối - kết hợp được với nhau trong
tư tưởng, tình cảm của các nhà nho Việt Nam Các sáng tác văn học thể hiện thái độ thẩm
mỹ tinh thần của Nho giáo và có sự thống nhất với những giá trị tư tưởng truyền thống dân tộc Con người đại diện cho tinh thần Nho học mà trực tiếp nhất là chính bản thân nhà nho, nhà thơ, vừa ngợi ca, phê phán, vừa cười cợt, trào tiếu chua chát, đắng cay Con người không thể thoát ra khỏi những giáo lý của Khổng Mạnh về quan hệ vua tôi, suy nghĩ và hành động trước bài toán phức tạp của lịch sử dân tộc, ái quốc không còn đồng nghĩa với trung quân, họ giương cao khẩu hiệu “trung nghĩa” trước giặc Pháp xâm lược
Vì vậy các học thuyết của Nho giáo để lại dấu ấn sâu đậm, khẳng định những giá trị tích cực đối với mọi mặt đời sống văn học, tạo ra một đội ngũ tác giả nhà nho sáng tác dựa trên quan điểm, học thuyết Nho giáo Họ thể hiện, khẳng định sự ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn học Việt Nam trung đại nói chung, văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX nói riêng, đem đến cho văn học những sắc thái mới, trước bài toán, yêu cầu của lịch
sử dân tộc, đặc biệt là văn học nhà nho Nam Bộ thể hiện hệ thống quan điểm thẩm mỹ với những nguyên tắc nghệ thuật mang đặc trưng Nho giáo
1.2.3 Truyền thống tư tưởng của con người Việt Nam nói chung, Nam Bộ nói riêng
Lịch sử cho thấy truyền thống tư tưởng của con người Việt Nam là yêu nước, anh dũng, cần cù, nhân đạo, thương người, vì nghĩa, thủy chung,… Đây là những giá trị truyền thống quý báu của dân tộc được thể hiện chân thực, sinh động trong văn học Yêu nước là giá trị cao nhất trong hệ thống giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam Cảm hứng yêu nước thể hiện ở nhiều khía cạnh, sắc thái, cung bậc khác nhau: ý thức tự cường, tự tôn dân tộc, khát vọng xây dựng đất nước thanh bình, ý chí quyết chiến với kẻ thù, bảo vệ chủ quyền dân tộc,… Không phải ngẫu nhiên mà các truyện đứng đầu trong kho tàng thần thoại Việt đều là truyện yêu nước Chủ nghĩa yêu nước phát triển trong điều kiện nhà nước phong kiến độc lập: “vua tôi đồng tâm, anh em hòa thuận, cả nước góp sức”, “phải khoan thư sức dân
để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách cứu nước” (Trần Quốc Tuấn), “thà làm quỷ
Trang 36nước Nam không làm vương đất Bắc” (Trần Bình Trọng);… Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam chịu ảnh hưởng của tư tưởng trung quân của Nho giáo; càng phát triển mạnh trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ và nhiều cuộc cách mạng khác trong thời hiện đại Cái
“dụng” của chủ nghĩa yêu nước là cứu nước, một tiêu chuẩn để xác định tốt xấu, phải quấy,
là động cơ tinh thần to lớn cho công cuộc xây dựng nước nhà giàu mạnh
Tư tưởng nhân đạo cũng là một tư tưởng lớn, xuyên suốt trong văn học Việt Nam thể hiện ở niềm xót thương với nỗi đau khổ, bất hạnh của con người, lên án tố cáo mạnh
mẽ các thế lực chà đạp lên quyền sống, hạnh phúc của con người Cũng từ góc nhìn nhân đạo, các nhà văn khám phá, trân trọng và ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của con người Dân tộc Việt Nam vốn là một dân tộc cần cù, “cần” là một trong những đức tính lớn của
truyền thống tư tưởng dân tộc, “cần” là làm việc, làm lụng, lao động sản xuất Đức tính
cần cù tạo thành nơi sinh tụ của giống nòi, tạo thành Đất tổ, các triều đại thịnh trị đều lấy
chữ cần làm một phương châm của chỉ đạo Theo tư tưởng phương Đông, cần không phải chỉ là bổn phận và đức tính của con người nói chung Theo Kinh Dịch thì cần trước hết là
đức tính lớn của trời đất, trời chuyển vận luôn luôn, không bao giờ ngừng [56, tr.255] Anh dũng (anh hùng) là khái niệm đạo đức chỉ hành động dũng cảm xuất sắc theo chính nghĩa và có lý tưởng, được mọi người khác khâm phục [56, tr.279] Chủ nghĩa anh hùng Việt Nam xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước và phát triển trên cơ sở của chủ nghĩa yêu nước: Kiên trì, bất khuất, chịu đựng gian khổ, giành thắng lợi cuối cùng, đó là sự thống
nhất của trí và dũng “Thương người” là một giá trị tinh thần, một đức lớn trong truyền
thống tư tưởng dân tộc, nó xuất phát từ chính cuộc sống của người Việt và phát triển theo
sự phát triển của dân tộc Đức lớn này không chỉ biểu lộ ở văn chương bình dân mà cả trong văn chương bác học, là một trong những nguyên lý chỉ đạo sự sáng tác văn học Yêu nước và thương người hay nói bao quát hơn là yêu nước và nhân đạo thực sự là những tư tưởng lớn của con người Việt Nam Những tư tưởng này rõ ràng cũng chi phối sâu sắc đến văn học nhà nho nói chung, văn học nhà nho Nam Bộ nói riêng
Cũng không khó để thấy rằng trong truyền thống tư tưởng, tinh thần của người
Việt, ý thức vì nghĩa, khái niệm nghĩa cũng rất được chú trọng đề cao “Nghĩa” chỉ việc
làm chính đáng, là trách nhiệm, bổn phận không thể không thực hiện Các nhà nho đặt
nghĩa trong quan hệ với Tổ quốc, cộng đồng, với vận mệnh nhân dân: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân (Nguyễn Trãi), người dân vì “mến nghĩa mà làm quân chiêu mộ” (Nguyễn
Đình Chiểu) [190, tr.26], “Nghĩa dân na quản tử vong hưu” (Người dân ứng nghĩa không quản gì chết chóc) (Nguyễn Xuân Ôn) [31, tr.69], “một lòng chịu chết vì nghĩa vua tôi”
(Nguyễn Quang Bích) [31, tr.70], Vì nghĩa đã “trở thành một phạm trù thẩm mỹ trung
tâm của văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX” [32, tr.150], trở nên “như là nguyên tắc
Trang 37cấu trúc tác phẩm và xây dựng hình tượng” [27] ; “Văn học Việt Nam đến đây thực sự có
một mạch thơ, nền thơ vì nghĩa hết sức sâu sắc và cảm động” [32, tr.153] Văn học nửa
sau thế kỷ XIX, đặc biệt là văn học nhà nho Nam Bộ đã đưa ra một “quan niệm nhân đạo mới, tích cực và thực tiễn, tạo được vẻ đẹp vĩnh hằng của một lý tưởng, một thái độ sống:
vì nghĩa lớn” [27] Đây cũng là một trong những nét đẹp nổi trội nhất trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX
Trước sự bạc nhược của vua quan nhà Nguyễn, với truyền thống tư tưởng của dân tộc, đặc biệt tinh thần trọng nghĩa của người Nam Bộ, nhân dân Nam Bộ tiếp tục đấu tranh bất khuất,… Phong trào kháng chiến của nhân dân trở nên là chỗ dựa tinh thần lớn nhất cho nhà nho, không chỉ trong cuộc đời mà còn cả trong sáng tạo văn học
1.2.4 Một số lý thuyết về nghiên cứu, phê bình văn học
Hiện nay đã có nhiều lý thuyết về nghiên cứu phê bình văn học được giới thiệu
và được ứng dụng vào nghiên cứu văn học ở Việt Nam, ngoài các lý thuyết Mác-xít (Marxist theories) là các lý thuyết từ phương Tây (hình thức luận, cấu trúc luận, hậu cấu trúc luận, liên văn bản, thuyết người đọc, phân tâm học, v.v…) Có thể thấy mỗi lý thuyết đều có ưu, nhược điểm riêng của nó, nhưng một số lý thuyết hiện đại nếu vận dụng vào nghiên cứu văn học trung đại có thể sẽ gặp nhiều bất cập, thậm chí là bất khả
Đối với văn học trung đại, cụ thể hơn là vấn đề mà chúng tôi đang tìm hiểu, nghiên cứu (con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX), chúng tôi đặc biệt chú trọng một số lý thuyết và phương pháp thích hợp, mang tính hữu hiệu: Huấn hỗ học, Thông diễn học và Loại hình học Trong nghiên cứu văn học quá khứ, M Bakhtin từng lưu ý rằng “cần phải gắn bó chặt chẽ với lịch sử văn hóa; văn học
là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa, không thể hiểu nó ngoài các mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa một thời đại trong đó nó tồn tại” [53, tr.361-371]
Nghiên cứu văn học theo lý thuyết và phương pháp loại hình được giới nghiên cứu thế giới đề xuất và ứng dụng có hiệu quả từ những năm 70 của thế kỷ XX Có thể
kể đến các tác giả với các công trình tiêu biểu như: V.M Girmunxki với Vấn đề nghiên
cứu so sánh lịch sử các nền văn học (trong sách Nghiên cứu văn học so sánh, Phương Đông và phương Tây); N.I Konrad trong Phương Đông và phương Tây, Văn học các dân tộc phương Đông và vấn đề nghiên cứu văn học đại cương (trong sách Các mối quan hệ qua lại và tác động qua lại của các nền văn học dân tộc); D.X Likhachop với Bảy thế kỷ trong văn học Nga (trong sách Bảy thế kỷ trong sự phát triển văn học thế giới); M Bakhtin với Tác giả và nhân vật trong hoạt động thẩm mỹ - Vấn đề tác giả
(trong sách Mỹ học sáng tạo ngôn từ); B.L Riptin trong sách Loại hình học và các mối
quan hệ qua lại của các nền văn học trung đại; các chuyên gia văn học cổ, trung đại nói
Trang 38đến đặc điểm chủ yếu của loại hình văn học trung đại như: D.X Likhachop, A.Ja Gurevich, V.M Girmunxki, B.L Riptin, I.X Lixevich, M Bakhtin,
Ở nước ta, phương pháp nghiên cứu này cũng được nhiều học giả vận dụng và đạt
được thành tựu đáng kể như: Trương Tửu với Nhà nho tài tử Nguyễn Công Trứ; Trần Đình Hượu với Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại; Trần Ngọc Vương với Loại hình
học tác giả văn học nhà nho tài tử và văn học Việt Nam; Lê Văn Tấn với Hành trình nghiên cứu ngữ văn (viết chung với Nguyễn Thị Hưởng) tập trung vào hướng nghiên cứu về tác
giả nhà nho ẩn dật, nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam theo phương pháp loại hình;
“Đặc điểm loại hình tác gia văn học trung đại” của Nguyễn Hữu Sơn, tập trung xác định các đặc điểm loại hình tác gia văn học trung đại từ phạm vi thế giới đến khu vực Đông Á (bao gồm Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản)… cũng đã có những kiến giải về mối quan hệ cơ hữu giữa lịch sử - văn hóa “thời trung đại” với “tác gia văn học trung đại”; so sánh kiểu tác gia văn học viết trung đại với tác gia văn học cận - hiện đại; về loại hình văn học và loại hình tác giả văn học trung đại,… Trên cơ sở một số nguyên tắc trong nghiên cứu
văn học theo phương pháp loại hình, Biện Minh Điền với công trình Loại hình văn học
trung đại Việt Nam đã xác định những vấn đề cơ bản của loại hình văn học trung đại Việt
Nam (khái niệm văn học trung đại Việt Nam, diễn trình và tính loại hình của văn học trung đại Việt Nam, những đặc trưng của loại hình văn học trung đại Việt Nam) Nhìn chung các công trình nghiên cứu có cách tiếp cận vấn đề khá lý thú, đặc biệt là vận dụng phương pháp loại hình trong nghiên cứu văn chương nhà nho
Trong nghiên cứu văn học, đúng như Lại Nguyên Ân nhận xét: “bên cạnh nghiên cứu riêng về từng tác giả văn học, cũng thường thấy phạm trù loại hình tác giả được nhấn mạnh, như loại hình nhà nho hành đạo, loại hình nhà nho tài tử trong văn học trung đại Việt Nam, loại hình nghệ sĩ ẩn dật trong văn học Nhật Bản…, với
tư cách những loại hình chủ thể thẩm mỹ, được hình thành như những sản phẩm xã hội, lịch sử, văn hóa cụ thể Những loại hình tác giả văn học đó thường có dấu hiệu chung về cách nhìn và cách lựa chọn thái độ sống, thế ứng xử, quan điểm thẩm mỹ,
xu hướng nghệ thuật…” (https://vi.m.wikipedia.org)
M Bakhtin từng xem tác giả văn học là “trung tâm tổ chức nội dung và hình thức của cái nhìn nghệ thuật”; “tác giả - kẻ tạo ra những giá trị văn học mới, kẻ kiến thiết, tổ chức và thống nhất các mối quan hệ thế giới nghệ thuật trong tác phẩm… Hạt nhân của phạm trù tác giả là hình tượng tác giả - phạm trù thể hiện “cách tự ý thức về vai trò xã hội và vai trò văn học” [32, tr.94] Các nhà văn trung đại xây dựng tác phẩm “theo khuôn mẫu, theo những công thức tu từ và cốt truyện có sẵn”, “coi việc sáng tác là công việc nghiêm túc, trang trọng, thành kính” (D.X Likhachop) [32, tr.108-109] Việc tìm
Trang 39hiểu loại hình tác giả sẽ giúp khám phá, giải thích những đặc điểm nội dung lẫn hình
thức nghệ thuật Trần Đình Hượu với Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại đã
xác định loại hình tác giả nhà nho hành đạo, ẩn dật, tài tử như là cơ sở ban đầu để đi xa
hơn trong nghiên cứu Trần Đình Sử trong Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt
Nam phân biệt hai loại hình tác giả: “nhà thơ Thiền và nhà thơ Nho” [163, tr.12]…
Trần Ngọc Vương với Loại hình học tác giả văn học - Nhà nho tài tử và văn học
Việt Nam lần lượt phân tích cả ba loại hình tác giả hành đạo, ẩn dật và tài tử, trong đó
tập trung phân tích loại hình nhà nho tài tử cũng như những đóng góp của kiểu tác giả này tới sự phát triển văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX cùng những ảnh hưởng của
nó đến văn học giao thời và phong trào Thơ mới, văn chương Tự lực văn đoàn… Biện
Minh Điền với Loại hình văn học trung đại Việt Nam đã từ đặc trưng loại hình văn học
đến việc xác định đặc trưng loại hình tác giả văn học trung đại Việt Nam Ngoài ra cũng
có những bài viết khác đề cập loại hình tác giả văn học như: “Nhận diện loại hình tác giả nhàn tản trong văn học trung đại Việt Nam” của Lê Văn Tấn; “Sự chuyển đổi loại hình tác giả trong văn học Việt Nam thế kỷ XIV” của Đỗ Thu Hiền; “Loại hình tác giả văn học và vấn đề phương pháp luận nghiên cứu” của Lại Nguyên Ân;…
Tất cả các ý kiến trên tạo nên cơ sở lý thuyết đáng tin cậy cho nghiên cứu
về văn học trung đại của dân tộc, trước hết đối với tác giả luận án này với đề tài: Con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX
Tiểu kết Chương 1
Văn học nhà nho nói chung và văn học nhà nho Nam Bộ nói riêng được giới nghiên cứu tiếp cận, tìm hiểu ở các mức độ nhất định Nhìn chung các hướng nghiên cứu đều nhận thấy vai trò, ảnh hưởng của Nho giáo; của truyền thống tư tưởng dân tộc
đến tư tưởng, quan niệm của nhà nho và văn học nhà nho Quan niệm trung nghĩa của
các nhà nho Nam Bộ trong bối cảnh đặc biệt của lịch sử dân tộc cũng đã được ít nhiều chú ý Các triết thuyết, lý thuyết về con người thời trung đại (trong đó có con người trung nghĩa) đã được một số nhà nghiên cứu có một vài đánh giá ở mức độ chung nhất trong các bài viết khái quát về văn học nửa sau thế kỷ XIX…
Chừng ấy chưa đủ để làm nổi bật văn học nhà nho Nam Bộ và con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX Nhưng đấy là những tiền đề quan trọng giúp tác giả luận án xác lập cơ sở lý thuyết của đề tài Cũng trên
cơ sở đó mà luận án có đường hướng và điều kiện đi sâu khảo sát con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX - một vấn đề có
ý nghĩa sâu sắc trên nhiều phương diện nhưng cũng hết sức phức tạp…
Trang 40Chương 2
CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ VAI TRÒ, VỊ THẾ CỦA VĂN HỌC NHÀ NHO NAM BỘ NỬA SAU THẾ KỶ XIX
TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC DÂN TỘC
sau thế kỷ XIX
2.1.1.1 Bô ́i cảnh sinh thành và phát triển
Văn học nửa sau thế kỷ XIX là giai đoạn văn học có vai trò, vị trí đặc biệt trong lịch sử dân tộc và cũng là giai đoạn cuối cùng chịu sự chi phối của ý thức hệ phong kiến, thuộc loại hình văn học trung đại Văn học giai đoạn này sinh thành và phát triển trong một bối cảnh đặc biệt: xã hội phong kiến Việt Nam lâm vào khủng hoảng toàn diện, lại có thêm sự xâm lăng của chủ nghĩa thực dân phương Tây, tấn bi
- hài kịch ở đây chắc chắn khó mà tránh khỏi Mốc lịch sử của văn học giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX bắt đầu từ sự kiện thực dân Pháp xâm lược nước ta và kết thúc khi thực dân Pháp hoàn thành công cuộc bình định, chuẩn bị cho cuộc khai thác thuộc địa… Văn học nửa sau thế kỷ XIX sinh thành và phát triển trong bối cảnh mới với nhiều sự kiện đặc biệt chi phối Cuộc xâm lăng do thực dân Pháp phát động xâm lược Việt Nam bắt đầu năm 1858, đã tạo nên những xáo trộn, thay đổi chưa từng có đối với đời sống dân tộc, trong đó có văn học
Thực ra, dã tâm thôn tính Việt Nam của thực dân Pháp đã manh nha từ những năm cuối thế kỷ XVIII, khi chế độ phong kiến Việt Nam ngày càng đi vào khủng hoảng nghiêm trọng Thực dân Pháp tận dụng mọi cơ hội thông qua con đường buôn bán và truyền đạo để tìm cách xâm lược Việt Nam Nhân dân Nam Bộ yêu nước nghĩa dũng đã không chịu lùi bước trước quân thù xâm lược, kiên cường tiếp tục cuộc kháng chiến với những lãnh binh nổi tiếng như Trương Định, Võ Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân, Phan Tòng, Phan Trung, Nguyễn Trung Trực, Phan Văn Đạt, Lê Cao Dõng,… Có thể nói, giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX, phong trào đấu tranh chống Pháp ở Nam Bộ đã phát triển rộng khắp, đi đầu trong toàn quốc kháng chiến chống Pháp xâm lược
Trong lịch sử văn học dân tộc, chưa bao giờ vận mệnh đất nước, sự tồn vong của dân tộc lại đặt ra gay gắt như vậy trong văn học giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX Trong triều đình giai cấp phong kiến lãnh đạo chia làm nhiều phe phái (phái chủ hòa thì chủ trương giữ thế thủ; phái chủ chiến gồm những người giàu lòng yêu nước thì quyết tâm chiến đấu chống kẻ thù xâm lược) Trong hàng ngũ nhà nho cũng có sự