Để bảo vệ quyền này, phải kể đến biện pháp khởi kiện vụ án dân sự, theo đó các chủ thể có quyền dân sự bị xâm phạm có quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự, yêu cầu tòa án giải quy
Trang 1Hà Nội, 2020
MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 1
I Khởi kiện vụ án dân sự 1
1 Quyền khởi kiện 1
2 Phạm vi khởi kiện 2
3 Thời hiệu khởi kiên 3
4 Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự 5
5 Đơn khởi kiện 7
6 Nộp đơn khởi kiện 9
C KẾT LUẬN 9
Trang 2A LỜI MỞ ĐẦU
Quyền dân sự được thừa nhận là một quyền năng cơ bản dành cho các chủ thể trong pháp luật dân sự Tuy nhiên quyền này thường hay bị xâm phạm, làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Để bảo vệ quyền này, phải kể đến biện pháp khởi kiện vụ án dân sự, theo đó các chủ thể có quyền dân
sự bị xâm phạm có quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự, yêu cầu tòa án giải quyết nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đây là một biện pháp hữu hiệu và có tính khả thi cao
Để đảm bảo cho Tòa án xét xử đúng đắn vụ án dân sự cũng như bảo vệ được quyền lợi ích hợp pháp của đương sự trước tòa án, pháp luật đã qui định rất cụ thể các thủ tục giải quyết vụ án dân xự tại tòa án các cấp
Trong bài tiểu luận dưới đây, em xin phân tích đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về khởi kiện vụ án dân sự
B NỘI DUNG
I Khởi kiện vụ án dân sự
1 Quyền khởi kiện:
Quyền khởi kiện được chia ra làm hai nhóm:
- Nhóm thứ nhất là khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích của chính mình khi nhận thấy quyền , lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Cụ thể, theo Điều 186 quy định về quyền khởi kiện vụ án BLTTDS năm 2015 thì:
“Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”
- Nhóm thứ hai là khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Đối với quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước thuộc lĩnh vực phụ trách, một số cơ quan trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có
Trang 3quyền khởi kiện phải kể đến như : cơ quan dân số, gia đình và trẻ em, công đoàn… cụ thể được qui định tại Điều 187 như sau:
“1 Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ
em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
2 Tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật.
3 Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
4 Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền
khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của
Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật.
5 Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.”
Ta nhận thấy BLTTDS 2015 đã mở rộng hay quy định đầy đủ hơn các chủ thể có quyền khởi kiện VADS so với quy định tại BLTTDS năm 2004 (sửa đổi,
bổ sung năm 2011) Việc mở rộng này đã đáp ứng được quyền tiếp cận công lý của các chủ thể tham gia các quan hệ xã hội nói riêng, bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân được quy định trong Hiến pháp 2013 và đặc biệt là bảo đảm quyền lợi cho nhóm các chủ thể yếu thế trong xã hội
2 Phạm vi khởi kiện
Phạm vi khởi kiện VADS là giới hạn những vấn đề khởi kiện trong một VADSA Về phạm vi khởi kiện, theo quy định tại Điều 188, bao gồm:
Trang 4- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể khởi kiện một hoặc nhiều cơ quan, tổ
chức, cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án
- Nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể cùng khởi kiện một cơ quan, một
tổ chức, một cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật
có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 187 của Bộ luật này có thể khởi kiện một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án
Như vậy, cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể khởi kiện một hoặc nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết cùng một vụ án; hay nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức cũng có thể cùng khởi kiện một cá nhân, một cơ quan, một tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một án; hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định tại Điều 187 Bộ luật này có thể khởi kiện đối với một hoặc nhiều
cá nhân, cơ quan, tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án
3 Thời hiệu khởi kiện
Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà các chủ thể có quyền khởi kiện được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân, gia đình… để bảo vệ quyền lợi ích bị xâm phạm Hết thời hạn đó thì chủ thể khởi kiện mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác ( Ví dụ: đối với yêu cầu hoàn trả tài sản thuộc sở hữu nhà nước hay yêu cầu bảo vệ nhân thân thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện) Có thể nói tùy vào tính chất của mỗi loại tranh chấp mà pháp luật có quy định về thời hiệu riêng
Trang 5Theo Điều 184 và 185 BLTTDS năm 2015, thời hiệu khởi kiện được quy định như sau:
+ Các quy định về thời hiệu của BLDS được áp dụng trong tố tụng dân sự + Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc
+ Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ
Trên thực tế có nhiều nguyên nhân khách quan mà việc khởi kiện không được thực hiện trong thời hạn qui định Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ pháp luật qui định không tính vào thời hiệu khởi kiện khoảng thời gian phát sinh những sự kiện sau đây:
+ Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu
+ Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
+ Chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện được trong trường hợp người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự chết;
+ Trường hợp nếu một vụ án đã được Tòa án giải quyết bằng một bản án hay quyết định đã có hiệu lực thì đương sự không được khởi kiện lại đối với vụ
án đó nữa, trừ các trường hợp sau đây:
+ Bản án, quyết định của tòa án bác đơn xin ly hôn
Trang 6+ Yêu cầu xin thay đổi con nuôi, thay mức cấp dưỡng,mức bồi thường thiệt hại
+ Vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho
ở nhờ mà tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện
+ Các trường hợp khác pháp luật quy định
Như vậy, khi tham gia tố tụng, pháp luật đưa ra hai điều kiện về áp dụng thời hiệu khởi kiện: (i) một bên hoặc các bên yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện; (ii) yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc BLTTDS năm 2015 đã tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự trong việc cho phép một hoặc các bên được quyền yêu cầu áp dụng thời hiệu và loại bỏ quy định việc Tòa án tự mình lấy căn cứ thời hiệu khởi kiện đã hết để đình chỉ giải quyết VADS Quy định này đã giúp các chủ thể khôi phục lại quyền và lợi ích đã bị xâm phạm dù thời hiệu khởi kiện đã hết góp phần đảm bảo quyền khởi kiện trên thực tế
4 Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự
Việc xác định thẩm quyền của Tòa án trong tranh chấp dân sự là một vấn
đề hết sức quan trọng Thẩm quyền được xác định một cách chính xác sẽ tránh được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ của Tòa án với các cơ quan
tố tụng khác và với các bộ phận trong một Tòa án, góp phần giải quyết đúng đắn, tạo điều kiện cho đương sự dễ dàng tham gia tố tụng, thực hiện quyền khởi kiện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Để vụ án được thụ lý, đơn khởi kiện phải gửi đúng đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết, xét xử Tòa án chỉ thụ lý VADS đối với những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của mình Theo BLTTDS thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án được qui định như sau:
- Thẩm quyền chung
Trang 7Không phải mọi tranh chấp dân sự đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, mà Tòa chỉ giải quyết những tranh chấp dân sự ( hôn nhân gia đình, lao động, kinh doanh thương mại…) qui định tại Điều 26,28,30,32 BLTTDS 2015
Vì vậy khi có tranh chấp, người khởi kiện cần phải xác định tranh chấp đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án để được giải quyết
Sau khi xác định thẩm quyền, Tòa án cũng phải xác định nội dung tranh chấp, yêu cầu đó là loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại hay lao động để vào sổ thụ lý loại án đúng với qui định Việc này có
ý nghĩa rất lớn khi xác định các quy phạm pháp luật nội dung để áp dụng
- Thẩm quyền theo cấp
Khi đã xác định được tranh chấp có thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án thì người khởi kiện cần xác định tiếp tranh chấp thuộc thầm quyền xét xử của Tòa án cấp nào
Theo Luật Tổ chức Tòa án năm 2014, hệ thống tổ chức Tòa án nhân dân Việt Nam bao gồm: TAND tối cao, TAND cấp cao, TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện
Thẩm quyền của Tòa án các cấp được qui định cụ thể tại Điều 35, 36,37,38 BLTTDS năm 2015
- Thẩm quyền theo lãnh thổ
Sau khi xác định được thẩm quyền chung, thẩm quyền theo cấp, người khởi kiện chỉ cần xác định thêm Tòa án theo lãnh thổ
Việc xác định thẩm quyền giải quyết theo lãnh thổ được quy định rất cụ thể tại Điều 39 BLTTDS 2015 như sau:
Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn
có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục
sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
Trang 8Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa
án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết
Về nguyên tắc việc phân định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ phải được tiến hành dựa trên cơ sở bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án được nhanh chóng, đúng đắn, bảo đảm việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp phá của các đương sự nhưng vẫn đảm bảo Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án thuận lợi nhất cho việc tham gia tố tụng của đương sự, là Tòa án có điều kiện thuận lợi nhất để giải quyết vụ án
- Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu
Trường hợp người khởi kiện có quyền lựa chọn Tòa án theo Điều 40 BLTTDS thì yêu cầu đương sự cam kết không khởi kiện tại các tòa án khác Nếu
do thỏa thuận lựa chọn Tòa án giải quyết thì phải kiểm tra tính hợp pháp của thỏa thuận Như vậy, quyền tự định đoạt của các đương sự đã được pháp luật đề cao, tôn trọng, theo đó nếu bị đơn đồng ý với nguyên đơn về việc giải quyết vụ
án tại Tòa án nguyên đơn cư trú làm việc thì Tòa án đó không được từ chối thụ
lý Tuy nhiên, đối với tranh chấp mà đối tượng tranh chấp là bất động sản thì các bên không được thỏa thuận mà vẫn là Tòa án nơi có bất động sản giải quyết
5 Đơn khởi kiện
Khoản 1 Điều 189 BLTTDS 2015 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân
khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.” Theo đó, Tòa án chỉ thụ lý giải quyết tranh
chấp khi có đơn khởi kiện của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện
Trang 9Đối với việc làm đơn khởi kiện của cá nhân:
- Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì có thể tự mình
hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của cá nhân đó;
ở phần cuối đơn, cá nhân đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;
Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi
cư trú của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;
Cá nhân thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này là người không biết chữ, người khuyết tật nhìn, người không thể tự mình làm đơn khởi kiện, người không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện và phải có người có đủ năng lực tố tụng dân sự làm chứng Người làm chứng phải ký xác nhận vào đơn khởi kiện
- Đối với việc khởi kiện của cơ quan, tổ chức:
Cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ
án Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật doanh nghiệp
Về nội dung chính của đơn khởi kiện, được qui định cụ thể tại khoản 4 Điều 189 BLTTDS 2015
Trang 10Về chứng cứ tài liệu, theo Khoản 5 Điều 189 BLTTDS năm 2015, được qui định như sau:
Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm
Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy
đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án
6 Nộp đơn khởi kiện
Theo qui định tại Điều 190 BLTTDS 2015, người khởi kiện có hai cách thức nộp đơn khởi kiện:
- Nộp trực tiếp tại trụ sở Tòa án có thẩm quyền
- Gửi theo đường dịch vụ bưu điện
- Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)
C KẾT LUẬN
Quy định của BLTTDS năm 2015 về khởi kiện VADS đã có những sự hoàn thiên nhất định so với quy định của BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), đã quy định khá đầy đủ, cụ thể và hợp lý về vấn đề liên quan đến khởi kiện VADS như chủ thể có quyền khởi kiện, phạm vi khởi kiện, những trường hợp được khởi kiện lại v.v nhằm hướng đến việc tạo thuận lợi cho các chủ thể khởi kiện và việc Tòa án thụ lý VADS Bộ luật này cũng quy định cụ thể
về trình tự, thủ tục tiếp nhận và phương thức tiếp nhận đơn khởi kiệ nhằm đảm bảo quyền khởi kiện của các chủ thể Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì quy định của pháp luật về khởi kiện VADS vẫn còn những hạn chế nhất định như sự