Mục tiêu đề tài Đánh giá thực trạng quản lý, bảo vệ, sử dụng rừng tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Phân tích những thuận lợi, khó khăn trong quản lý và bảo vệ rừng tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHAN VĂN SƠN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN, 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHAN VĂN SƠN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã ngành: 8 62 01 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS KIỀU THỊ THU HƯƠNG
THÁI NGUYÊN, 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ mang tên “Đánh giá thực trạng
và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác dưới mọi hình thức
Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng Bảo vệ Luận văn về lời cam đoan của mình
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2020
Tác giả
Phan Văn Sơn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện làm luận văn tốt nghiệp theo chương trình đào tạo Thạc sĩ của Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể và cá nhân
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới tiến sỹ Kiều Thị Thu Hương giáo viên trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm, Phòng Đào tạo, các thầy cô giáo đã bổ sung, cập nhật kiến thức khoa học bổ ích cho tôi Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể, cá nhân: Ban quản lý VQG Xuân Sơn, Chi cục thống kê huyện Tân Sơn, Hạt Kiểm lâm Tân Sơn, UBND các xã: Xuân Sơn, Thu Cúc, Kim Thượng và các hộ gia đình đã cùng làm việc, cung cấp thông tin, tải liệu quý giá cho tôi trong quá trình xây dựng luận văn
Mặc dù đã hết sức cố gắng xong do về điều kiện thời gian, nhân lực, trình độ và điều kiện nghiên cứu nên luận văn không thể tránh những thiếu sót nhất định Tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo, các nhà khoa học và đồng nghiệp để bản luận văn tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 03 năm 2020
Tác giả
Phan Văn Sơn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ viii
TRÍCH YẾU CỦA LUẬN VĂN ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài 4
1.1.1 Khái niệm rừng, Quản lý bảo vệ rừng, quản lý rừng bền vững 4
1.1.2 Đặc điểm và phân loại rừng 5
1.1.3 Nguyên tắc hoạt động lâm nghiệp, nguyên tắc bảo vệ và phát triển rừng 6
1.2 Cơ sở thực tiễn 8
1.2.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới 8
1.2.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam 13
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu 29
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 29
2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 32
2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện kinh tế - xã hội 37
Trang 62.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 39
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 39
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 39
2.3 Nội dung nghiên cứu 39
2.4 Phương pháp nghiên cứu 40
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 40
2.4.2 Phương pháp tổng hợp, xử lý và phân tích thông tin 42
2.5 Các chỉ tiêu nghiên cứu 43
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
3.1 Thực trạng công tác quản lý, bảo vệ, sử dụng rừng tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 44
3.1.1 Thực trạng công tác quản lý, bảo vệ và sử dụng rừng 44
3.1.2 Những diễn biến về diện tích và chất lượng rừng tại khu vực nghiên cứu 53
3.2 Hoạt động QLBVR tại Hạt kiểm lâm Tân Sơn 54
3.2.1 Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật 54
3.2.2 Công tác phòng cháy chữa cháy rừng 57
3.2.3 Công tác tuần tra phát hiện xử lý vi phạm 60
3.2.4 Đánh giá công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Tân Sơn 61
3.2.5 Phân tích SWOT cho công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Tân Sơn 63
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý, bảo vệ rừng 65
3.3.1 Mối quan tâm của các bên liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ rừng 66
3.3.2 Mức độ quan trọng của các bên liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ rừng 67
3.3.3 Mức độ ưu tiên của các giải pháp quản lý bảo vệ và phát triển rừng 69
3.3.4 Tác động của quản lý, bảo vệ rừng 70
Trang 73.4 Những thuận lợi, khó khăn, kiến nghị trong công tác quản lý, bảo vệ
rừng tại huyện Tân Sơn 74
3.4.1 Thuận lợi 74
3.4.2 Khó khăn, kiến nghị 74
3.5 Đề xuất các giải pháp tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng 78
3.5.1 Giải pháp về kinh tế 78
3.5.2 Giải pháp về chính sách 78
3.5.3 Giải pháp về xã hội 79
3.5.4 Giải pháp về khoa học công nghệ 79
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 85
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
3 ITTO Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế
9 RTN, RT Rừng tự nhiên, rừng trồng
10 RTN, RT Rừng tự nhiên, Rừng trồng
12 THPT-THBT Trung học phổ thông - trung học bổ túc
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Dân số, mật độ dân số, tỷ lệ tăng dân số tại huyện Tân
Sơn năm 2019 32
Bảng 3.1 Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp giai đoạn 2015 - 2019 47
Bảng 3.2 Diện tích rừng phân theo chủ quản lý giai đoạn 2015 - 2019 50
Bảng 3.3 Trữ lượng, năng suất, độ che phủ rừng giai đoạn 2015 - 2019 51
Bảng 3.4 Biến động tài nguyên rừng tại địa bàn nghiên cứu 53
Bảng 3.5: Kết quả thực hiện công tác tuyên truyền giai đoạn 2015 - 2019 55
Bảng 3.6 Số vụ cháy rừng và mức độ thiệt hại do cháy rừng gây ra 58
Bảng 3.7 Tổng hợp số vụ vi phạm pháp luật 60
Bảng 3.8 Phân tích SWOT cho công tác quản lý, bảo vệ rừng 63
Bảng 3.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý và bảo vệ rừng 65
Bảng 3.10 Mối quan tâm của các bên liên quan đến công tác QLBVR 67
Bảng 3.11 Mức độ quan trọng của các bên liên quan đến công tác quản lý bảo vệ rừng 68
Bảng 3.12 Mức độ ưu tiên của các giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng 69
Bảng 3.13 Cơ cấu thu nhập bình quân của một hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu 70
Bảng 3.14 Nhận thức của người dân trong quản lý bảo vệ rừng 71
Bảng 3.15 Nhu cầu gỗ bình quân một năm của cộng đồng tại khu vực nghiên cứu 72
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của rừng đến môi trường 73
Bảng 3.17 Tổng hợp khó khăn, kiến nghị trong công tác quản lý, bảo vệ rừng 75
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 2.1 Vị trí địa lý huyện Tân Sơn 29Hình 3.1 Sơ đồ về cơ cấu tổ chức lực lượng QLBVR huyện Tân Sơn 44Hình 3.2 Hội nghị tuyên truyền, phổ biến giáo dục về lâm nghiệp cho
người dân trên địa bàn huyện Tân Sơn 54Hình 3.3 Diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng cấp huyện năm 2019 57
Trang 11TRÍCH YẾU CỦA LUẬN VĂN
1 Tên tác giả: Phan Văn Sơn
2 Tên luận văn: Đánh giá Thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu
quả quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
3 Ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 8.62.01.15
4 Cơ sở đào tạo: Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Huyện Tân Sơn nằm về phía Tây Nam của tỉnh Phú Thọ, phía Bắc giáp huyện Yên Lập, phía Đông giáp huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ, phía Nam giáp huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình, phía Tây giáp huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái và huyện Phù Yên tỉnh Sơn La Trung tâm huyện lỵ nằm tại xã Tân Phú có trục đường Quốc lộ 32A chạy qua, cách thành phố Việt Trì 75km, cách thủ đô Hà Nội 117km, vị trí địa lý thuận lợi cho giao thương giữa huyện với các trung tâm kinh tế, chính trị lớn của tỉnh và của cả nước
Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn đã sử dụng Phương pháp thu thập số liệu và Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Điều tra bằng phiếu điều tra đã được chuẩn bị sẵn cụ thể phỏng vấn:
Trang 12- Phỏng vấn cán bộ huyện 08 cán bộ cụ thể: 01 cán bộ phòng TNMT;
01 cán bộ phòng NN&PTNT; 01 cán bộ pháp chế Hạt kiểm lâm; 03 cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn (01 cán bộ/xã); BQL rừng đặc dụng VQG Xuân Sơn phỏng vấn 02 cán bộ phụ trách địa bàn về công tác quản lý, bảo vệ rừng tại địa bàn Kết quả điều tra theo phiếu phỏng vấn chuẩn bị sẵn (phụ lục số 1)
- Phỏng vấn 06 cán bộ thôn (02 cán bộ thôn/xã) về công tác chỉ đạo, giám sát và tổ chức thực hiện quản lý bảo vệ rừng Lựa chọn 120 hộ gia đình đại diện trong xã để phỏng vấn (40 hộ gia đình/xã, 20 hộ gia đình/thôn) để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ rừng, các hoạt động đã và đang thực hiện, kết quả tác động, thuận lợi, khó khăn và các giải pháp đề xuất khắc phục Kết quả điều tra theo phiếu phỏng vấn chuẩn bị sẵn (phụ lục số 3, phụ lục số 4)
do Ban quản lý rừng đặc dụng (14.367,9 ha), doanh nghiệp nhà nước (5.086,0ha), hộ gia đình (26.266,2 ha) và UBND xã (11.906,9ha) Công tác quản lý, bảo vệ rừng đã và đang nhận được sự hỗ trợ về vốn của Nhà nước theo các chương trình dự án nhờ vậy những hoạt động quản lý, bảo vệ rừng
đã và đang thực hiện có hiệu quả, góp phần nhất định trong phát triển kinh
tế của người dân và địa phương
- Các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau như: Yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, phong tục tập quán… Trong đó yếu tố phong tục - tập quán có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý, bảo vệ rừng
Trang 13- Để công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Tân Sơn có hiệu quả, bền vững thì một trong những vấn đề mang tính chất quyết định
là làm cho các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng trở thành hoạt động kinh tế chính của người dân Ngoài ra, cần chú trọng nhiều hơn nữa vào các giải pháp về tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho người dân và cộng đồng về vị trí, vai trò, trách nhiệm, lợi ích khi tham gia vào các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng; giải pháp về phòng cháy chữa cháy rừng cần phải được quan tâm và duy trì thường xuyên Đồng thời cần đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, năng lực quản lý rừng và sự tham gia của các cấp chính quyền địa phương
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rừng là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với chúng ta Rừng
là hệ sinh thái có độ đa dạng sinh học cao nhất ở trên cạn, đặc biệt là rừng nhiệt đới ẩm Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc tích trữ nước Ngoài những ý nghĩa về tài nguyên động thực vật, rừng còn là một yếu tố địa lý không thể thiếu được trong tự nhiên, đóng vai trò cực kì quan trọng trong việc tạo cảnh quan và tác động mạnh mẽ đến các yếu tố đất đai, khí hậu Chính vì vậy, rừng không chỉ có chức năng trong phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng: rừng tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển ôxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ phì nhiêu của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn rửa trôi, xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước mặt và nước ngầm và làm giảm mức ô nhiễm không khí và nước Ở Việt Nam ngoài những chức năng trên rừng còn mang các ý nghĩa lịch sử, văn hóa và tâm linh của nhiều cộng đồng dân tộc khác nhau
Tuy nhiên có một số nguyên nhân làm cho tài nguyên rừng trên Trài đất ngày càng suy giảm về diện tích và chất lượng, trong đó rừng nhiệt đới bị suy giảm với tốc độ lớn nhất, đó là do áp lực về dân số của các vùng tăng nhanh, nghèo đói, người dân sinh kế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên rừng, trình độ dân trí vùng sâu, vùng xa còn thấp kiến thức bản địa chưa được phát huy, hoạt động khuyến nông khuyến lâm chưa phát triển, chính sách của Nhà nước về quản lý rừng còn nhiều bất cập, cơ cấu xã hội truyền thống có nhiều sự thay đổi… Vì vậy vấn đề bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng hiện nay được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất trong sự phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam Một trong những đòi hỏi để thực hiện thành công nhiệm vụ này là phải có những cơ chế phù hợp thu hút sự tham gia tích cực của người dân vào công tác quản lý bảo vệ phát triển rừng
Trang 15Tân Sơn là một huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ, cách thành phố Việt trì khoảng 75 km về phía Đông Bắc Theo kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp năm 2019 huyện Tân Sơn Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là: 68.858,3 ha, trong số đó có 57.800,9 ha đất quy hoạch lâm nghiệp
- chiếm tỷ lệ 83,9% so với tổng diện tích tự nhiên Trong số diện tích đất lâm nghiệp có 42.245,7 ha là đất có rừng, diện tích rừng quy hoạch rừng phòng hộ là 9.320,8 ha, diện tích rừng quy hoạch rừng sản xuất là 33.431,3
ha, diện tích rừng quy hoạch rừng đặc dụng là 15.048,8 ha, diện tích ngoài 3 loại rừng là 192,2 ha
Những năm qua, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã được các cấp chính quyền quan tâm và chỉ đạo thực hiện Do đó diện tích rừng được bảo vệ tốt hơn, rừng được tăng lên cả về số lượng và chất lương Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, hiện nay vẫn còn tồn tại những hạn chế trong công tác quản lý, bảo vệ rừng như: việc ngăn chặn tình trạng phá rừng, suy giảm rừng, lẫn chiếm đất rừng của các đối tượng được giao trách nhiệm quản lý, bảo vệ, sử dụng rừng còn hạn chế; công tác bảo vệ và phát triển rừng còn nặng về lợi ích trước mắt, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của lâm nghiệp vẫn còn thấp kém, hiệu quả sản xuất lâm nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng của huyện Điều này khẳng định việc tìm hiểu vấn đề và nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng là điều quan trọng và cấp bách hiện nay
Chính vì vậy đề tài: “Đánh giá Thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao
hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ”
có cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Trang 16- Phân tích những thuận lợi, khó khăn trong quản lý và bảo vệ rừng tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Là tài liệu tham khảo trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng cho các khu vực có điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tương đồng
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lí luận của đề tài
1.1.1 Khái niệm rừng, Quản lý bảo vệ rừng, quản lý rừng bền vững
1.1.1.1 Khái niệm rừng
Ngay từ thủa sơ khai, con người đã có những khái niệm cơ bản nhất về rừng, bởi lẽ rừng chính là nơi cung cấp mọi thứ phục vụ cuộc sống của họ Lịch sử ngày càng phát triển thì những khái niệm về rừng được tích lũy, hoàn thiện thành những học thuyết về rừng
Năm 1930, Morozov đã đưa ra khái niệm: “Rừng là một tổng thể cây
gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển Rừng chiếm phần lớn bề mặt trái đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý” (Bộ Nông nghiệp và PTNT (2004))
Năm 1952, M.E.Tcahenco đã định nghĩa: “Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và cả vi sinh vật Trong quá trình phát triển của mình, chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài” (Bộ Nông nghiệp và PTNT (2004))
Năm 1974, LS.Melekhop cho rằng: “Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu”(Bộ Nông nghiệp
và PTNT (2004))
Việt Nam, Quốc Hội nước ta đã ra luật số 16/2017/QH14 ngày 15 tháng 11 năm 2017, rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây
họ cau được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liền vùng từ 0,3ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên (Luật Lâm nghiệp số 16 năm 2017)
Trang 181.1.1.2 Quản lý bảo vệ rừng: Quản lý bảo vệ rừng là tổng hợp các biện pháp
tác động tích cực vào rừng nhằm quản lý, bảo vệ và phát triển rừng theo hướng bền vững (Lê Sỹ Trung và Đặng Kim Tuyến, năm 2003)
1.1.1.3 Quản lý rừng bền vững (QLRBV): Quản lý rừng bền vững là phương thức
quản trị rừng bảo đảm được các mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng, không làm suy giảm các giá trị và nâng cao giá trị rừng, cải thiện sinh kế, bảo vệ môi trường, góp phần giữ vững quốc phòng, an ninh (Luật Lâm nghiệp số 16 năm 2017)
Theo định nghĩa trên, thì QLRBV có thể hiểu là: các phương thức quản
lý, bảo vệ, sử dụng, phát triển rừng lâu dài phải đảm bảo hài hòa các lợi ích kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh
1.1.2 Đặc điểm và phân loại rừng
1.1.2.1 Đặc điểm của rừng
Có thể nói, rừng là một quần xã sinh vật với diện tích đủ lớn trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu Trong đó, quần xã sinh vật và môi trường cùng với các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết
để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác Do vậy, rừng có những đặc điểm cụ thể như sau:
Thứ nhất, rừng là một thể tổng hợp phức tạp có mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong quần thể, giữa các quần thể trong quần xã và có sự thống nhất giữa chúng với hoàn cảnh trong tổng hợp đó (Luật Lâm nghiệp số 16 năm 2017)
Thứ hai, rừng luôn luôn có sự cân bằng động, có tính ổn định, tự điều hòa và tự phục hồi để chống lại những biến đổi của hoàn cảnh và những biến đổi về số lượng sinh vật, những khả năng này được hình thành do kết quả của
sự tiến hóa lâu dài và kết quả của sự chọn lọc tự nhiên của tất cả các thành phần rừng (Lê Sỹ Trung và Đặng Kim Tuyến (2003))
Thứ ba, rừng có khả năng tự phục hồi và trao đổi cao Khả năng tự phục hồi giúp rừng chống lại những thay đổi nhất định (Lê Sỹ Trung và Đặng Kim Tuyến (2003))
Trang 19Thứ tư, rừng có sự cân bằng đặc biệt về sự trao đổi năng lượng và vật chất, luôn luôn tồn tại quá trình tuần hoàn sinh vật, trao đổi vật chất năng lượng, đồng thời nó thải ra khỏi hệ sinh thái các chất và bổ sung thêm vào đó một số chất từ các hệ sinh thái khác (Lê Sỹ Trung và Đặng Kim Tuyến (2003))
Thứ năm, sự vận động của các quá trình nằm trong các tác động tương
hỗ phức tạp dẫn tới sự ổn định bền vững của hệ sinh thái rừng (Lê Sỹ Trung
và Đặng Kim Tuyến (2003))
Thứ sáu, rừng có phân bố địa lý theo vùng miền, địa phương Các vùng miền, địa phương có điều kiện khác nhau có kiểu rừng khác nhau, hệ sinh thái rừng cũng có những đặc trưng riêng theo vùng miền (Lê Sỹ Trung và Đặng Kim Tuyến (2003))
Rừng sản xuất) (Luật Lâm nghiệp, số 16, 2017)
1.1.3 Nguyên tắc hoạt động lâm nghiệp, nguyên tắc bảo vệ và phát triển rừng
1.1.3.1 Nguyên tắc hoạt động lâm nghiệp
Rừng được quản lý bền vững về diện tích và chất lượng, bảo đảm hài hòa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo tồn đa dạng sinh học, nâng cao tỷ lệ che phủ rừng, giá trị dịch vụ môi trường rừng và ứng phó với biến đổi khí hậu
Xã hội hóa hoạt động lâm nghiệp; bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của chủ rừng, tổ chức, cá nhân hoạt động lâm nghiệp Bảo đảm tổ chức liên kết theo chuỗi từ bảo vệ rừng, phát triển rừng, sử dụng rừng đến chế biến và thương mại lâm sản để nâng cao giá trị rừng
Bảo đảm công khai, minh bạch, sự tham gia của tổ chức, hộ gia đình,
cá nhân, cộng đồng dân cư liên quan trong hoạt động lâm nghiệp
Trang 20Tuân thủ điều ước quốc tế liên quan đến lâm nghiệp mà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này hoặc văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam chưa có quy định thì thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế đó) (Luật Lâm nghiệp số 16, 2017)
1.1.3.2 Nguyên tắc bảo vệ và phát triển rừng
Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm phát triển bền vững
về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch,
kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước và địa phương; tuân theo quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định (Lê Sỹ Trung và Đặng Kim Tuyến (2003))
Bảo vệ rừng là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm nguyên tắc quản lý rừng bền vững; kết hợp bảo vệ và phát triển rừng với khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả tài nguyên rừng; kết hợp chặt chẽ giữa trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng, làm giàu rừng với bảo vệ diện tích rừng hiện có; kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp và ngư nghiệp; đẩy mạnh trồng rừng kinh tế gắn với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản nhằm nâng cao giá trị sản phẩm rừng (Lê Sỹ Trung và Đặng Kim Tuyến (2003))
Việc bảo vệ và phát triển rừng phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất Việc giao, cho thuê, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng rừng và đất phải tuân theo các quy định của Luật này, Luật đất đai và các quy định khác của pháp luật có liên quan, bảo đảm ổn định lâu dài theo hướng xã hội hoá nghề rừng (Lê Sỹ Trung và Đặng Kim Tuyến (2003))
Trang 21Bảo đảm hài hoà lợi ích giữa Nhà nước với chủ rừng; giữa lợi ích kinh
tế của rừng với lợi ích phòng hộ, bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên; giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; bảo đảm cho người làm nghề rừng sống chủ yếu bằng nghề rừng (Lê Sỹ Trung và Đặng Kim Tuyến (2003))
Chủ rừng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng rừng theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật, không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của chủ rừng khác (Lê Sỹ Trung và
Đặng Kim Tuyến (2003))
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới
1.2.1.1 Những nghiên cứu về QLBVR trên thế giới
Nhiều nhà khoa học nước ngoài đi sâu nghiên cứu cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng Điển hình, Baur (1962), Odum (1971) các tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề sinh thái nói chung và cơ sở sinh thái cho kinh doanh rừng mưa nói riêng Các nghiên cứu đã nêu lên quan điểm, khái niệm và mô
tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng, đặc biệt là qua các nghiên cứu đã làm sáng tỏ khái niệm về hệ sinh thái rừng, đây là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc đứng trên quan điểm sinh thái học Richards (1959) đã phân biệt tổ thành thực vật của rừng mưa thành hai loại rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây phức tạp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản, trong những lập địa đặc biệt thì rừng mưa đơn ưu chỉ bao gồm một vài loài cây Việc mô hình hoá cấu trúc đường kính thân cây với phân bố
số cây theo cỡ đường kính được nhiều tác giả quan tâm, kiểu cấu trúc này thường được biểu diễn dưới dạng toán học với nhiều dạng phân bố khác nhau Nhiều tác giả khác dùng hàm Hyperbol, Meyer, Poisson
Cũng từ phương pháp định lượng, nhiều tác giả đã xây dựng cấu trúc vốn rừng và nêu lên nguồn gốc sinh thái của nó
Rừng tự nhiên là một hệ sinh thái cực kỳ phức tạp bao gồm nhiều thành phần với các quy luật sắp xếp khác nhau trong không gian và thời gian Trên
Trang 22quan điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng Rất nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng, mà tiêu biểu là Baur (1962), các tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề sinh thái nói chung và cơ sở sinh thái cho kinh doanh rừng mưa nói riêng Các nghiên cứu đã nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng, đặc biệt là qua các nghiên cứu đã làm sáng tỏ khái niệm về hệ sinh thái rừng, đây là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc đứng trên quan điểm sinh thái học
Vào cuối thế kỷ XX, khi tài nguyên rừng đã bị suy thoái nghiêm trọng thì con người mới nhận thức được rằng, tài nguyên rừng là có hạn và cần được bảo
vệ Nếu theo đà mỗi năm mất khoảng 15 triệu ha như số liệu thống kê của FAO thì chỉ hơn 100 năm nữa rừng nhiệt đới sẽ hoàn toàn bị biến mất, loài người sẽ phải chịu những thảm họa khôn lường về kinh tế, xã hội, môi trường (Võ Đại Hải (2005))
Để ngăn chặn tình trạng mất rừng, cộng đồng quốc tế đã thành lập nhiều tổ chức, tiến hành nhiều hội nghị, đề xuất và cam kết nhiều Công ước bảo vệ và phát triển rừng, trong đó có chiến lược bảo tồn quốc tế (1980 và điều chỉnh năm 1991), Tổ chức gỗ quốc tế (ITTO năm 1983), Chương trình hành động rừng nhiệt đới (TFAP năm 1985), Hội nghị quốc tế về môi trường
và phát triển (UNCED tại Rio de janeiro năm 1992), Công ước về buôn bán các loài động thực vật quí hiếm (CITES), Công ước về ĐDSH (CBD, 1992), Công ước về thay đổi khí hậu toàn cầu (CGCC, 1994), Công ước về chống sa mạc hóa (CCD, 1996), Hiệp định quốc tế về gỗ nhiệt đới (ITTA, 1997) Những năm gần đây nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế và quốc gia về QLRBV
đã liên tục được tổ chức (Võ Đại Hải (2005))
Hiện nay, trên thế giới đã có các bộ tiêu chuẩn quản lý bền vững cấp quốc gia (Canada, Thụy Điển, Malaysia, Indonesia…) và cấp quốc tế của tiến trình Helsinki, tiến trình Montreal Hội đồng quản trị rừng (FSC) và tổ chức gỗ nhiệt đới đã có bộ tiêu chuẩn “Những tiêu chí và chỉ báo quản lý rừng (P&C)
Trang 23đã được công nhận và áp dụng ở nhiều nước trên thế giới và các tổ chức cấp chứng chỉ rừng đều dùng bộ tiêu chí này để đánh giá tình trạng quản lý rừng và xét cấp chứng chỉ QLRBV cho các chủ rừng (Hội thảo Khoa học (2013))
Lịch sử quản lý rừng nhiệt đới được phát triển từ những năm đầu của thế kỷ 19 ở Ấn Độ, Mianma và nhanh chóng lan rộng sang nhiều khu vực ở châu Phi Khởi đầu, hoạt động quản lý được thực hiện nhằm bảo vệ có hệ thống các nguồn tài nguyên gỗ Ở giai đoạn sau này, các hoạt động quản lý được đa dạng hóa như: chuyển đổi rừng tự nhiên thành rừng trồng hoặc nông lâm kết hợp (các hệ thống chuyển đổi), tác động nhằm tạo ra rừng tự nhiên có năng suất cao hơn (các hệ thống chặt trắng), hoặc giảm thiểu tác động và sử dụng tái sinh tự nhiên để tạo ra các lâm phần có mục tiêu lấy gỗ (các hệ thống tái sinh tự nhiên) Ngoài ra, quản lý rừng cũng bao gồm các hệ thống phục hồi bằng việc phục hồi lại rừng trên đất đã bị thoái hóa (các hệ thống phục hồi)
Theo A Ofosu-Asiedu (1997), các hệ thống quản lý rừng ở vùng nhiệt đới ẩm có thể gộp thành hai nhóm chính, nhóm các hệ thống hướng rừng về cấu trúc đơn giản hơn, rừng có xu hướng trở thành đồng tuổi hoặc cùng kích thước (monocyclic management systems) và nhóm các hệ thống quản lý có tính chu kỳ, thúc đẩy tái sinh tự nhiên nhằm tạo ra rừng có cấu trúc gần với tự nhiên (polycyclic management systems)
1.2.1.2 Các biện pháp quản lý rừng trên thế giới
Sự gia tăng dân số gây sức ép rất lớn đối với tài nguyên rừng, và phương thức quản lý rừng theo hướng tiếp cận đơn mục đích (chỉ chú ý tới khai thác bền vững tài nguyên gỗ) đã không còn phù hợp nữa, xã hội loài người bắt đầu hướng tới một phương thức quản lý rừng mới mang tính bền vững hơn đó là phương thức quản lý rừng đa mục đích
Quản lý rừng theo hướng tiếp cận mới - quản lý đa mục đích là một đóng góp rất đáng kể cùng với sự phát triển của ngành Lâm nghiệp, sự phát triển đó phải mang lại lợi ích kinh tế, môi trường và xã hội, có thể cân bằng
Trang 24giữa nhu cầu hiện tại và tương lai (Trần Văn Mùi, năm 2005) Giai đoạn đầu thế kỷ XX, vai trò của người dân trong công tác quản lý rừng chưa được chú
ý tới Do vậy, người dân chỉ biết khai thác lâm sản và phá rừng lấy đất canh tác nương rẫy mà không hề quan tâm tới việc xây dựng và phát triển vốn rừng dẫn tới tài nguyên rừng trong giai đoạn này bị suy thoái nghiêm trọng
Việc quản lý rừng theo phương thức tập trung đã không mang lại kết quả trong quản lý tài nguyên rừng như mong muốn của các nhà quản lý, người ta bắt đầu nhận thấy tầm quan trọng của người dân, cộng đồng địa phương trong việc tham gia quản lý tài nguyên rừng đó là cơ sở của sự ra đời phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng và khái niệm đồng quản lý trong tài nguyên rừng cũng được ra đời từ đó Phương thức quản lý rừng cộng đồng xuất hiện đầu tiên ở ấn
Độ và dần dần biến thái thành các hình thức quản lý khác nhau như lâm nghiệp trang trại, lâm nghiệp xã hội (Nêpan, Thái Lan, Philippines, ) (Vũ Nhâm, năm 2005) Trong việc xây dựng mối quan hệ đồng quản lý tài nguyên rừng thì vai trò của người dân được nhắc tới nhiều hơn, việc đồng quản lý nhằm gắn chặt quyền lợi với nghĩa vụ của người dân khi tham gia quản lý rừng, để người dân thực sự cảm nhận được vai trò làm chủ của mình đối với tài nguyên rừng khi tham gia vào công tác quản lý rừng Nhờ việc thực hiện theo phương thức quản
lý rừng dựa vào cộng đồng, thực hiện đồng quản lý trong việc chia sẻ lợi ích mà tại Ấn Độ đã có hơn 63.000 nhóm - tổ tham gia vào các chương trình trồng mới
14 triệu ha rừng, mang lại hiệu quả tích cực trong việc phục hồi và phát triển rừng của đất nước, góp phần giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn về lợi ích giữa nhà nước và người dân địa phương
Ở Nam Phi tại vườn quốc gia Richtersveld việc nghiên cứu tìm ra phương thức hợp tác quản lý với cộng đồng dân cư dựa trên hương ước quản
lý bảo vệ rừng, trong đó người dân cam kết bảo vệ đa dạng sinh học trên địa phận của mình còn chính quyền và ban quản lý hỗ trợ người dân xây dựng cơ
sở hạ tầng và cải thiện các điều kiện kinh tế xã hội khác đã đóng góp rất tích
Trang 25cực cho việc thực hiện quản lý rừng tại Vườn quốc gia (Quỹ HEINRICH, năm 2002) Chính sách của nhà nước về các giải pháp kinh tế, xã hội có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý rừng Một trong những yếu tố quan trọng quyết định tới hiệu quả của công tác quản lý rừng đó là sự rõ ràng trong quyền sử dụng/sở hữu rừng và đất rừng
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy những nơi mà quyền sở hữu/sử dụng về rừng và đất rừng không được xác định rõ thì tài nguyên rừng nhanh chóng bị khai thác cạn kiệt và chuyển sang các mục đích sử dụng khác, không khuyến khích được việc bảo vệ đất, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức vì lợi ích kinh tế trước mắt Vì vậy, sự tham gia của các cộng đồng trong quản lý và sử dụng đất được xem là một trong những chìa khoá để nâng cao hiệu quả sử dụng đất Một số nghiên cứu cho thấy các mối quan hệ truyền thống trong xã hội có vai trò quan trọng trong việc giải quyết những vấn đề về
sở hữu/sử dụng tài nguyên (Laslo Pancel, 1993) (Fao, năm 1990) Thông qua các nghiên cứu và thực tiễn sản xuất, chính phủ các nước đã đưa ra các chương trình quan trọng như “Lâm nghiệp cộng đồng”, các chính sách quản
lý tài nguyên thiên nhiên và đều chú trọng đến sự tham gia của người dân, sự phân cấp và chuyển giao trách nhiệm quản lý tài nguyên sang các cộng đồng địa phương và các nhóm sử dụng Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, mâu thuẫn giữa việc muốn bảo vệ rừng và đất rừng của nhà nước và lợi ích của cộng đồng địa phương có thể gây nên những xung đột về sử dụng tài nguyên
ở vùng rừng và đất rừng phòng hộ đầu nguồn cho các hồ thủy điện Kết quả của sự canh tác nông nghiệp không hợp lý dẫn đến xói mòn và rửa trôi đất xuống lòng hồ làm suy giảm tuổi thọ của hồ thuỷ điện Từ thực tế trên, một số quốc gia đã đưa ra các biện pháp chống xói mòn như: Biện pháp sử dụng đất tổng hợp để kiểm soát xói mòn xuống lòng hồ, đồng thời nâng cao năng suất cây trồng và vật nuôi cho người dân, biện pháp đắp bờ, trồng cây theo đường đồng mức, trồng băng cây phân xanh hay cỏ lâu năm (Indonesia), canh tác trên đất dốc với 4 mô hình SALT (Philippines)
Trang 26Như vậy, có thể thấy rằng người dân đóng một vai trò hết sức quan trọng trong sử dụng đất bền vững và là nhân tố quyết định tới việc quản lý bảo vệ, phục hồi rừng phòng hộ Ở Trung Quốc, Chính phủ khuyến khích
sự tham gia của người dân thông qua hệ thống hợp đồng quản lý đất (Vương Văn Quỳnh và cộng sự, năm 2000) Ngoài ra, thông qua các chính sách đất đai cũng đã giải quyết được vấn đề như thúc đẩy kinh tế, bình đẳng và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và sử dụng đất bền vững (Nguyễn Ngọc Hùng, năm 2002) Như vậy, sự hỗ trợ của nhà nước và các
tổ chức, các chính sách về đất đai, dựa trên những mục tiêu củng cố vai trò của người dân địa phương, trong đó việc xác định rõ quyền sở hữu/sử dụng đất đai được coi như là cơ bản cho việc sử dụng đất hiệu quả, bền vững và bảo vệ tài nguyên
1.2.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.2.1 Những nghiên cứu về QLBVR ở Việt Nam
Là một quốc gia đang phát triển, có diện tích đất lâm nghiệp chiếm khoảng 50% tổng diện tích tự nhiên toàn quốc (Bộ NN&PTNT, 2006) Nên tài nguyên rừng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, rừng ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và đời sống kinh tế của một bộ phận dân số của cả nước
Trong thời kỳ trước năm 1945 tài nguyên rừng Việt Nam khá phong phú, nhu cầu lâm sản của con người còn thấp, mức độ tác động của con người vào tài nguyên rừng chưa cao, vấn đề QLRBV chưa được đặt ra Trong thời
kỳ này, toàn bộ rừng nước ta là rừng tự nhiên đã được chia theo các chức năng để quản lý, sử dụng như sau:
+ Rừng chưa quản lý: Là những diện tích rừng ở những vùng núi hiểm trở, dân cư thưa thớt, nhà nước thực dân chưa có khả năng quản lý, người dân được tự do sử dụng lâm sản, đốt nương làm rẫy Việc khai thác sử dụng lâm sản đang ở mức tự cung tự cấp, lâm sản chưa trở thành hàng hoá
Trang 27+ Rừng mở để kinh doanh: Là những diện tích rừng ở những vùng có dân cư và đường giao thông thuận lợi cho việc vận chuyển lâm sản Những diện tích rừng này được chia thành các đơn vị như khu, từ khu được chia thành các lô khai thác và theo chu kỳ, sản lượng do hạt trưởng lâm nghiệp quản lý, đấu thầu khai thác
+ Rừng cấm: Là những diện tích rừng sau khai thác, cần được bảo vệ
để tái sinh trong cả chu kỳ theo vòng quay điều chế, cũng có thể là khu rừng
có tác dụng đặc biệt cần được bảo vệ
Trong giai đoạn nửa sau của thế kỷ XX, Việt Nam đã mất đi hàng triệu hecta rừng, đó là nguyên nhân chủ yếu gây ra những biến đổi khí hậu, gia tăng tần suất và mức độ thiệt hại của hạn hán, lũ lụt Dẫn đến hằng năm nhà nước phải đầu tư nhiều tỉ đồng để củng cố đê điều và chống lũ Đồng thời, mất rừng
đã gây nên sự xói mòn mạnh và sự thoái hóa một số diện tích đất đồi núi
Ngoài các nguyên nhân mất rừng do sự gia tăng dân số, thiếu thốn về lương thực, phá rừng lấy đất canh tác, khai thác lâm sản quá mức, rừng Việt Nam còn bị ảnh hưởng bởi sự huỷ diệt trầm trọng của 2 cuộc chiến tranh kéo dài đã làm cho tài nguyên rừng bị giảm sút vì bom đạn, chất độc hoá học tàn phá nặng nề Nếu như diện tích rừng của nước ta năm 1945 là 14,3 triệu ha,
tỷ lệ che phủ rừng là 43% thì đến năm 1976 chỉ còn 11,2 triệu ha, tỷ lệ che phủ rừng còn 33,8%
Từ sau hoà bình lập lại rừng được chia thành 3 chức năng để quản lý
sử dụng đó là rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng Tổ chức quản
lý sử dụng 3 loại rừng được hình thành và phát triển từ năm 1986 Trong thời kỳ này, hoạt động của ngành lâm nghiệp đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Ngay sau khi hoà bình lập lại, toàn bộ diện tích rừng và đất rừng
ở miền Bắc được quy hoạch vào các lâm trường quốc doanh Nhiệm vụ chủ yếu là khai thác lâm sản để phục vụ cho nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế và của nhân dân, việc xây dựng và phát triển vốn rừng tuy có đặt ra
Trang 28nhưng chưa được các đơn vị sản xuất kinh doanh lâm nghiệp quan tâm đúng mức Cùng với mức độ tăng nhanh về dân số, tình trạng chặt phá rừng tự nhiên lấy đất sử dụng canh tác nông nghiệp, lấy các sản phẩm gỗ, củi và các lâm sản khác càng diễn ra nghiêm trọng hơn Những hình thức quản lý và sử dụng tài nguyên rừng như trên đã làm cho tài nguyên rừng nước ta bị tàn phá một cách nặng nề (diện tích rừng đã bị giảm 5,0 triệu ha từ năm 1945 đến 1995), trung bình mỗi năm giảm 0,1 triệu ha Giai đoạn từ năm 1946 - 1960, công tác bảo vệ và phát triển rừng chủ yếu là khoanh nuôi bảo vệ, hướng dẫn nông dân miền núi sản xuất trên nương rẫy, ổn định công tác định canh, định cư, khôi phục kinh tế sau chiến tranh Giai đoạn 1961 - 1975 QLBVR được đẩy mạnh, khoanh nuôi tái sinh rừng gắn chặt với định canh, định cư Công tác khai thác rừng đã chú ý đến thực hiện theo các quy trình, quy phạm, đảm bảo xúc tiến tái sinh tự nhiên Nhìn chung, công tác QLBVR được thống nhất quản lý từ trung ương đến địa phương Sau ngày thống nhất đất nước, Nhà nước quản lý toàn bộ tài nguyên rừng thông qua các lâm trường quốc doanh, người dân và cộng đồng đã bị tách rời khỏi các hoạt động quản lý, sử dụng tài nguyên rừng Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng suy thoái tài nguyên rừng một cách nhanh chóng ở nước ta Vào khoảng năm 1990 - 1995, rừng Việt Nam ở mức thấp nhất, diện tích rừng chỉ còn 9,3 ha, tỷ lệ che phủ rừng 28,2%
Theo tài liệu trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020, hoạt động sản xuất của ngành lâm nghiệp giai đoạn 1996 -
2005, đang chuyển đổi mạnh mẽ từ nền lâm nghiệp quốc doanh, theo cơ chế
kế hoạch hoá tập trung sang nền lâm nghiệp xã hội hoá với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và hoạt động theo cơ chế của nền kinh tế sản xuất hàng hoá,
do đó ngành lâm nghiệp đã tham gia tích cực tạo việc làm, cải thiện đời sống cho gần 25% dân số của Việt Nam sống trên địa bàn rừng núi, góp phần bảo đảm an ninh chính trị xã hội, tạo đà phát triển chung cho đất nước trong các
Trang 29năm qua Công tác bảo vệ và phát triển rừng trên phạm vi toàn quốc đã từng bước đạt được những tiến bộ, tình trạng suy thoái về diện tích và chất lượng rừng được ngăn chặn, diện tích rừng tăng từ 9,30 triệu ha năm 1995 lên 12,61 triệu ha năm 2005 và 13,2 triệu ha năm 2009 Hiện nay bình quân mỗi năm trồng mới được 200.000 ha rừng Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng đạt 2.000.000 m3/năm để cung cấp nguyên liệu cho chế biến hàng lâm sản xuất khẩu và tiêu dùng trong nước (Chính phủ, năm 2007) và đến cuối năm 2016
tỷ lệ che phủ rừng của nước ta đạt 41,19%
Tuy nhiên, thực tế vẫn còn những tồn tại hạn chế như: diện tích rừng tuy có tăng nhưng chất lượng và tính đa dạng sinh học của rừng tự nhiên vẫn tiếp tục bị suy giảm, ở một số nơi diện tích rừng tiếp tục bị tàn phá
Do yêu cầu về chức năng bảo tồn và phòng hộ của rừng ngày càng trở nên quan trọng, để bảo vệ môi trường bền vững phục vụ cho phát triển kinh
tế, xã hội nên các hoạt động lâm nghiệp đặc biệt quan tâm đến 2 loại rừng đặc dụng và phòng hộ Quốc hội Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã thông qua Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998-2010 tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc Hội Khóa X bằng Nghị quyết số 08 ngày 5/2/1997, với mục tiêu trồng 2 triệu ha rừng phòng hộ, đặc dụng và 3 triệu ha rừng sản xuất Kết quả, sau 12 năm triển khai dự án, nhờ có sự quan tâm chỉ đạo và có nhiều chủ trương, giải pháp cụ thể của Chính phủ, đến nay công tác bảo vệ rừng và trồng rừng mới đã đạt được nhiều kết quả Số vụ vi phạm pháp luật liên quan đến rừng có xu hướng giảm, năm 2010 giảm 46 % so với năm 1998 Tổng diện tích đã trồng và khoanh nuôi tái sinh rừng trong thời gian thực hiện dự án
là 4.675.006 ha, đạt 93,5 % kế hoạch Trong đó, trồng rừng đạt 2.450.010 ha, khoanh nuôi tái sinh rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đạt 1.283.350 ha, diện tích trồng cây công nghiệp và cây ăn quả là 941.464 ha, đạt 94% kế hoạch
Độ che phủ rừng đã tăng từ 32% năm 1998 lên 39,5 % diện tích cả nước năm
2010 (Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội cho ý kiến về kết quả thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, ngày 11/10/2011), khi kết thúc dự án 661
Trang 30Trong tiến trình phát triển lâm nghiệp, quan niệm “Quản lý rừng bền vững” ở Việt nam mới được hình thành từ những năm cuối thập niên 80 của thế
kỷ 20 Từ đó cho tới nay, vấn đề quản lý rừng bền vững luôn là một yếu tố chủ chốt trong các chính sách, chiến lược và kế hoạch hành động của Việt nam Điều
đó được thể hiện trong các văn bản pháp luật, các chỉ thị nghị quyết của Chính phủ cũng như trong các quy chế, quy trình, quy phạm của ngành Cụ thể:
- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (Quốc hội, 2004): Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 dựa trên quan điểm áp dụng quản lý rừng bền vững với tất cả các khu rừng ở Việt Nam Đây là đạo luật quan trọng nhất về lâm nghiệp Trong đó tại Điều 9 đã quy định các hoạt động để đảm bảo quản lý rừng bền vững: Các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải đảm bảo phát triển bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước và địa phương; tuân theo quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định;
- Luật Lâm nghiệp số 16 ban hành ngày 15/11/2017
+ Mở rộng phạm vi điều chỉnh, coi lâm nghiệp một ngành kinh tế - xã hội Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 chỉ quy định đến hình thành rừng, tức là từ quản lý đến bảo vệ, phát triển rừng Luật Lâm nghiệp năm
2017 đã mở rộng đến các lĩnh vực chế biến và thương mại, khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế Như vậy, Luật đã khẳng định lâm nghiệp là ngành kinh
tế - xã hội có liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm lâm nghiệp, từ quản lý, bảo
vệ, phát triển, sử dụng rừng đến chế biến và thương mại lâm sản; khẳng định ngành Lâm nghiệp vừa thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, vừa phát huy giá trị xã hội là thích ứng với biến đổi khí hậu với đòi hỏi phải quản lý bền vững
Với những quy định của Luật Lâm nghiệp 2017, chúng ta có thể hiểu rằng: Lâm nghiệp là một ngành kinh tế - xã hội đặc thù, gồm tất cả các hoạt động gắn liền với sản xuất hàng hóa và dịch vụ liên quan đến rừng
Trang 31+ Thay thế Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng ở 4 cấp bằng quy hoạch lâm nghiệp quốc gia
Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng được lập ở 4 cấp: Trung ương, tỉnh, huyện và xã Luật Lâm nghiệp 2017 đã có thay đổi rất cơ bản là thay thế quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng
+ Cấp quy hoạch Lâm nghiệp quốc gia để phù hợp với Luật Quy hoạch Khoản 2 - Điều 11 của Luật Lâm nghiệp 2017 đã quy định các nội dung quy hoạch lâm nghiệp, trong đó có các nội dung về định hướng phát triển 3 loại rừng, kết cấu hạ tầng lâm nghiệp và phát triển thị trường, vùng nguyên lệu, chế biến lâm sản Do đặc thù của ngành nên trong Luật Lâm nghiệp đã có các quy định về nguyên tắc, căn cứ, nội dung quy hoạch; trách nhiệm lập, lấy ý kiến, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch lâm nghiệp quốc gia Mặc dù những nội dung này cũng đã dược quy định chung trong Luật Quy hoạch 2017
+ Thay đổi về chế định sở hữu rừng
Nếu như Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 chỉ xác định quyền của Nhà nước đối với rừng Chủ rừng chỉ có quyền sử dụng, sở hữu rừng khi được Nhà nước trao và công nhận thì Luật Lâm nghiệp 2017 đã quy định hai nhóm hình thức sở hữu rừng là: Rừng sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và rừng sở hữu của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư Theo đó, rừng trồng sản xuất được đầu tư từ các tổ chức, cá nhân, ai
là người đầu tư thì sẽ là chủ sở hữu của rừng
Việc quy định rõ các hình thức sở hữu rừng nhằm thừa nhận thành quả lao động, kết quả đầu tư của người làm nghề rừng; tạo động lực khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư vào rừng nghèo và hưởng lợi từ rừng; bảo đảm quản lý rừng tốt hơn, hiệu quả hơn Từ quan điểm về quyền sở hữu như vậy, một loạt chế định khác từ quản lý cho tới chế độ chính sách đối với các chủ rừng sẽ phải thay đổi
Trang 32+ Khẳng định việc giao đất giao rừng cho người dân
Về chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, nếu như Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 mời chỉ dừng ở mức “Nhà nước khuyến khích tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận đất phát triển rừng ở những vùng đất trống, đồi núi trọc” (Khoản 4 - Điều 10) thì đến Luật Lâm nghiệp 2017 đã khẳng định “Nhà nước bảo đảm cho đồng bào dân tộc thiểu số, cộng đồng dân
cư sinh sống phụ thuộc vào rừng được giao rừng gắn với giao đất để sản xuất” (Khoản 6 - Điều 4)
Quy định trên của Luật Lâm nghiệp cũng thể hiện sự đột phá so với quy định tại Khoản 2 - Điều 27 Luật Đất đai 2013 là: “Có chính sách tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số trực tiếp sản xuất nông nghiệp ở nông thôn
có đất để sản xuất nông nghiệp” “Tạo điều kiện” nghĩa là có điều kiện thì giao, không có điều kiện thì không giao, không mang tính bắt buộc
+ Quy định chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 (Điều 27), việc chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác được thực hiện khi “được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền” Luật Đất đai 2013 (Điều 58) cũng cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với đất rừng phòng hộ, đặc dụng khi có văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ (với diện tích từ 20 ha trở lên) và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh (với diện tích dưới 20 ha), không đề cập đến việc chuyển mục đích sử dụng đất đối với đất rừng sản xuất
Luật Lâm nghiệp 2017 (Khoản 2 - Điều 14) khẳng định: “Không chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên sang mục đích khác, trừ dự án quan trọng quốc gia; dự án phục vụ quốc phòng, an ninh quốc gia; dự án cấp thiết khác được Chính phủ phê duyệt” Quy định chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng rừng
tự nhiên nhằm mục đích phát huy giá trị của từng loại rừng, đáp ứng các yêu cầu về giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu
+ Quy định về dịch vụ môi trường rừng:
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 chưa đề cập đến dịch vụ môi trường rừng Luật Lâm nghiệp 2017 đã luật hóa Nghị định 99/2010/NĐ-CP về
Trang 33chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng thông qua việc quy định cụ thể các loại dịch vụ, nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường rừng; đối tượng, hình thức chi trả và quản lý, sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng; quyền, nghĩa vụ của bên sử dụng và bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng
Quy định về dịch vụ môi trường rừng là điểm rất mới của Luật Lâm nghiệp 2017, tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho việc chuyển hướng từ khai thác lợi ích trước mắt sang khai thác lợi ích tiềm năng của rừng; từ sản phẩm
gỗ và lâm sản ngoài gỗ sang sản phẩm phi gỗ, tạo nguồn tài chính bền vững
để đầu tư trực tiếp vào rừng, tăng thu nhập cho người làm nghề rừng
+ Quy định về chế biến và thương mại lâm sản
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 chưa đề cập đến chế biến và thương mại lâm sản Luật Lâm nghiệp 2017 đã quy định rõ chính sách phát triển lâm sản theo hướng hỗ trợ doanh nghiệp hợp tác, liên doanh, liên kết với chủ rừng để tạo vùng nguyên liệu, quản lý rừng bền vững, tiêu thụ sản phẩm, ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ mới và các giải pháp tăng trưởng xanh, nâng cao giá trị gia tăng, ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ trong chế biến lâm sản
Luật cũng quy định việc chế biến mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và mẫu vật các loài thực vật rừng hoang dã, động vật rừng hoang dã nguy cấp thuộc các phụ lục của Công ước CITES Quy định việc xây dựng và vận hành hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam; ban hành tiêu chí, quy trình, thủ tục, thẩm quyền phân loại doanh nghiệp khai thác, vận chuyển, tiêu thụ, chế biến và xuất khẩu gỗ và sản phẩm
gỗ Quy định về chính sách phát triển thị trường lâm sản
Ngoài những điểm nêu trên, Luật Lâm nghiệp 2017 còn có một số điểm mới khác như: Định nghĩa về rừng được xác định theo 3 tiêu chí: diện tích; chiều cao cây; độ tàn che để phù hợp với thực tiễn Việt Nam và đáp ứng yêu cầu chung của quốc tế Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng bền vững Hoạt động khoa học và công nghệ về lâm nghiệp…
Trang 34Luật Lâm nghiệp mới ban hành xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn trong công cuộc bảo vệ phát triển rừng, đồng thời đảm bảo việc phát triển kinh tế lâm nghiệp theo chuỗi giá trị Với các quy định của Luật sẽ góp phần quản lý các hoạt động về lâm nghiệp hiệu quả hơn, phát huy những lợi thế về rừng theo hướng là ngành kinh tế - kỹ thuật Đồng thời khắc phục những vấn đề tồn tại trước đây để chính sách thực sự đi vào cuộc sống
- Luật Đa dạng sinh học: Trong Luật Đa dạng sinh học quy định việc
quy hoạch, bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái tự nhiên, các loài sinh vật, kiểm soát lòaì xâm hại, bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên di truyền và hợp tác quốc tế về đa dạng sinh học
- Tại Luật Bảo vệ Môi trường, trong Chương IV: Bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, có 7 điều (từ Điều 28 đến Điều 34) đã đưa ra những quy định liên quan tới quản lý rừng bền vững thuộc các lĩnh vực, như: Điều tra, đánh giá, lập quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên; Bảo vệ thiên nhiên; Bảo vệ đa dạng sinh học; Bảo vệ và phát triển cảnh quan thiên nhiên; Bảo vệ môi trường trong khảo sát, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; Phát triển năng lượng sạch; (Quốc hội, 2005):
- Luật Đất đai, năm 2013 đã quy định: Việc sử dụng đất phải tôn trọng các nguyên tắc sau đây: Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh (Điều 6); (Quốc hội, 2013)
- Một số văn bản dưới luật, như:
+ Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện trồng mới 5 triệu ha rừng
+ Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp
Trang 35+ Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/6/2006 của Thủ tướng
Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng Quyết định số
34/2011/QĐTTg ngày 24/06/2011 của thủ tướng chính phủ Sửa đổi, bổ
sung ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg
+ Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020
+ Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng
+ Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
+ Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng; và Thông tư số 78/2011/TT-BNNPTNT ngày 11/11/2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNT quy định chi tiết thi hành Nghị định số 117/2010/NĐ-CP
+ Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 09/09/2015 của Chính Phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo
nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2020
+ Chỉ thị 12/2003/CT-Ttg ngày 16/5/2003 về việc tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng
+ Chỉ thị số 1685/CT-TTg, ngày 27/9/2011 của thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ
+ Thông tư liên tịch số TANDTC, ngày 08/3/2007 hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật hình sự
19/2007/TTLT-BNN-BTP-BCA-VKSNDTC-về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
+ Thông tư số 93/2016/TTLT-BTC-BNNPTNT ngày 27/6/2016 Thông
tư liên tịch hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí sự nghiệp thực hiện Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2020
Trang 36+ Thông tư số 23/2016/TT-BNNPTNT, ngày 30/6/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc Hướng dẫn một số nội dung quản lý công trình lâm sinh
+ Thông tư số 21/2017/TT-BNNPTNT ngày 15/11/2017 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 886/QĐ-TTg ngày 16/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ
Năm 2017, Từ khi luật Lâm nghiệp được ban hành đã có nhiều văn bản quy phạp pháp luật thực hiện liên quan đồng thời thay thế Luật bảo vệ
và phát triển rừng và các thông tư, nghị định…cụ thể:
+ Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018, Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp
+ Nghị định số 01/2019/NĐ-CP ngày 15/02/2019, Nghị định về kiểm lâm và lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng
+ Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 10/3/2019, Nghị định Về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về
buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp
+ Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 10/6/2019, Nghị định Quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp
- Thông tư 27/2018/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản
- Thông tư 28/2018/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về quản lý rừng bền vững
- Thông tư 29/2018/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về biện pháp lâm sinh
- Thông tư 33/2018/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng
Và còn nhiều các văn bản pháp quy khác được Bộ Nông nghiệp & PTNT, liên bộ và chính quyền các địa phương ban hành về những vấn đề liên quan đến công tác quản lý và bảo vệ rừng Những văn bản quy phạm đó đã và đang giúp các địa phương và ngành Lâm nghiệp quản lý bảo vệ và phát triển rừng có hiệu quả hơn
Trang 37Ngoài ra, trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều quan tâm đến công tác quản lý, bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng bằng các giải pháp chính sách, tổ chức quản lý và xã hội hoá nghề rừng Cụ thể đã thực hiện cắt giảm sản lượng khai thác và tiến tới đóng cửa rừng tự nhiên, đẩy mạnh và phát triển rừng trồng sản xuất, phát triển kinh tế trang trại, phát triển lâm nghiệp theo hướng xã hội hóa nghề rừng, Việc thiết lập các khu rừng đặc dụng, xây dựng và tổ chức thực hiện các dự án trồng rừng và bảo vệ rừng phòng hộ đang rất được quan tâm
Thấy được tầm quan trọng và giá trị to lớn của tài nguyên rừng và ĐDSH, từ năm 1962 Nhà nước ta đã thành lập rừng cấm Cúc Phương, đây là rừng đặc dụng đầu tiên của nước ta Hiện nay, Việt Nam đã thành lập được 30 vườn quốc gia, 54 khu bảo tồn thiên nhiên, 11 khu bảo tồn loài, 45 khu bảo vệ cảnh quan và 20 khu rừng nghiên cứu khoa học, thực nghiệm với tổng diện tích quy hoạch gần 2,2 triệu ha Với mục đích bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên đa dạng sinh học quan trọng, quý hiếm, đặc hữu, hệ thống rừng đặc dụng đã và đang được Nhà nước đầu tư bảo vệ chặt chẽ và nghiêm ngặt thông qua lực lượng kiểm lâm, các ban quản lý vườn quốc gia và khu bảo tồn (Hội thảo khoa học, ngày 24/5/2013)
Hiện nay, nhận thức của con người về lợi ích, vai trò của rừng ngày càng nâng lên, tuy thế, nhưng việc phục hồi những diện tích rừng tự nhiên đã mất lại gặp rất nhiều khó khăn do thiếu vốn, thiếu kỹ thuật phục hồi rừng và đôi khi là tư duy, ý thức, đạo đức của một bộ phận những người có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Vì vậy, công tác quản lý tài nguyên rừng bền vững càng trở nên cấp thiết hơn Nếu tình trạng suy thoái tài nguyên rừng không chấm dứt, rừng trồng thay thế rừng tự nhiên ngày càng nhiều thì nguy cơ mất cân bằng sinh thái, giảm tính đa dạng sinh học sẽ ngày càng lớn mạnh hơn, từ đó dẫn đến nhiều tổn thất về kinh tế, xã hội và đặc biệt là môi trường
Trang 38Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã có nhiều khởi sắc, an ninh lương thực được đảm bảo, hơn thế, Việt Nam còn đang là một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới; đồng thời hiện nay, nhiều loại chất đốt (than, điện, ga ) đã thay thế một phần gỗ củi Do đó có thể nói công tác quản lý
sử dụng tài nguyên rừng có nhiều thuận lợi hơn trước Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách để làm tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng (Chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc (chương trình 327) thực hiện từ năm 1993-1998; tiếp đó là Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng được thực hiện từ năm 1998-
2010, và hiện nay là Kế hoạch Bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020) nhằm mục tiêu là xây dựng và bảo vệ rừng để đảm bảo an toàn môi trường sinh thái, đồng thời đáp ứng nhu cầu lâm sản phục vụ cho nền kinh tế quốc dân
Trong bản Chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp Việt nam, giai đoạn 2006- 2020, đã khẳng định quan điểm phát triển lâm nghiệp là: Quản lý, sử dụng và phát triển rừng bền vững là nền tảng cho phát triển lâm nghiệp Các hoạt động sản xuất lâm nghiệp phải dựa trên nền tảng quản lý bền vững thông qua quy hoạch, kế hoạch bảo vệ phát triển rừng nhằm không ngừng nâng cao chất lượng rừng Phải kết hợp bảo vệ, bảo tồn và phát triển với khai thác rừng hợp lý Đồng thời, trong Chiến lược cũng đã đề ra 5 chương trình hành động, trong đó Chương trình quản lý và phát triển rừng bền vững là Chương trình trọng tâm và ưu tiên số 1 Đồng thời trong Chiến lược đã đặt ra nhiệm vụ: Quản lý bền vững và có hiệu quả 8,4 triệu ha rừng sản xuất, trong đó 4,15 triệu
ha rừng trồng và 3,63 triệu ha rừng tự nhiên Phấn đấu ít nhất có được 30% diện tích rừng sản xuất có chứng chỉ rừng (Chính phủ, năm 2007)
Hiện nay, ở Việt Nam, tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV được tổ công tác FSC Việt Nam biên soạn trên cơ sở điều chỉnh bổ sung những tiêu chuẩn
và tiêu chí quản lý rừng của FSC quốc tế, có sử dụng những ý kiến đóng góp của các nhà quản lý và sản xuất lâm nghiệp trong nước và trên thế giới, để vừa đảm bảo những tiêu chuẩn quốc tế, vừa phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam và đã được Ban giám đốc FSC quốc tế phê duyệt năm 1999 Do những tiêu chuẩn và những tiêu chí áp dụng chung cho toàn quốc, đồng thời
Trang 39phải phù hợp với tiêu chuẩn chung của quốc tế nên việc áp dụng không thể phù hợp hoàn toàn trong mọi trường hợp và mọi điều kiện ở từng địa phương
Vì vậy, khi áp dụng những tiêu chuẩn và những tiêu chí cần có sự mềm dẻo trong một phạm vi nhất định, được các tổ chức chứng chỉ rừng quốc tế và FSC quốc gia chấp nhận QLRBV Việt Nam đang được đặt ra như một vấn đề bức xúc cả về quan điểm, phương pháp luận đến những giải pháp cụ thể Các kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm trong nước và quốc tế về QLRBV thực sự
là những bài học quý giá cho quản lý rừng ở mỗi địa phương
Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững; một số đề tài nghiên cứu
đã bước đầu đề xuất các giải pháp cụ thể áp dụng cho một số vùng như:
- Quản lý bền vững rừng khộp ở EaSúp - Đắc Lắc của Hồ Viết Sắc
1998, tác giả đã đề xuất một số giải pháp về xã hội và quản lý nhằm quản lý bền vững rừng khộp ở Ea Súp - Đắc Lắc
- Du canh với vấn đề QLBVR ở Việt Nam của Đỗ Đình Sâm 1998, tác giả đã phản ánh thực trạng du canh, đánh giá sự ảnh hưởng của nó đồng thời nêu lên một số giải pháp chính sách về định canh và biện pháp kỹ thuật canh tác trên đất dốc nhằm quản lý rừng bền vững ở Việt Nam
- Đánh giá tình hình khai thác sử dụng lâm sản ngoài gỗ và đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững ở vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống của Suree và Đào Thị Minh Châu (2004), các tác giả đã đánh giá thực trạng
và ảnh hưởng của việc khai thác, sử dụng lâm sản ngoài gỗ đồng thời đã nêu
ra được một số giải pháp về xã hội và kỹ thuật nhằm quản lý rừng bền vững ở vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống
- Nghiên cứu giải pháp quản lý rừng bền vững tại BQL rừng phòng hộ Hướng Hóa-Đakrông, tỉnh Quảng Trị của Lê Thiên Vinh (2007)
- Sử dụng đất tổng hợp bền vững của Nguyễn Xuân Quát năm 1996, tác giả đã phân tích tình hình sử dụng đất, các mô hình sử dụng đất bền vững, mô hình khoanh nuôi phục hồi rừng ở Việt Nam, đồng thời đã đề xuất tập đoàn cây trồng nhằm sử dụng bền vững và ổn định đất rừng
Trang 401.2.2.2 Các biện pháp quản lý rừng ở Việt Nam
- Giao rừng và đất rừng phòng hộ: Giao rừng và đất rừng phòng hộ tới chủ sở hữu, sử dụng cụ thể được xem là giải pháp phục hồi, bảo vệ rừng phòng hộ rất có hiệu quả và đã được thể chế hóa trong các văn bản luật như: Luật Đất đai năm 2013, Luật bảo vệ phát triển rừng 2004, Nghị định số 02/CP, Nghị định 63/1999/NĐ-CP Đối tượng giao đất rừng là Ban quản lý rừng phòng hộ, các tổ chức của Nhà nước, lực lượng vũ trang; một số rừng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu, đất khu phòng hộ đầu nguồn phân tán không
đủ điều kiện để thành lập Ban Quản lý rừng thì giao cho các tổ chức khác, chi cục kiểm lâm, hộ gia đình, cá nhân, theo hướng dẫn của Bộ NN & PTNT Hạn mức và thời hạn giao đất theo quy định của Nhà nước (30 - 50 năm), rừng phòng hộ đầu nguồn, giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ; rừng phòng
hộ kết hợp với mục đích khác giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
- Cho thuê, giao khoán đất và thu hồi rừng phòng hộ Điều 25 Luật Bảo
vệ và phát triển rừng 2004 quy định: Nhà nước cho tổ chức kinh tế thuê rừng phòng hộ trả tiền hàng năm để bảo vệ phát triển rừng kết hợp sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, môi trường Việc quy định về việc giao khoán rừng và đất rừng phòng hộ được thực hiện theo Quyết định số 202/TTg ngày 02 tháng 05 năm
1994 của Thủ tướng Chính phủ ban hành bản quy định về việc khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và trồng rừng, theo đó đối tượng được phép giao đất, giao rừng phòng hộ bao gồm: Các ban quản lý rừng phòng hộ, Ban quản lý dự án 661 về rừng phòng hộ và các hộ được nhận khoán bao gồm: hộ gia đình; cá nhân; các cơ quan; đơn vị thuộc lực lượng vũ trang; các trường học; các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế gọi chung là hộ nhận khoán (Điều 2 - Quyết định số 202/TTg) Hạn mức giao, thời hạn giao, cho thuê đất, cho thuê rừng, thu hồi đất, thu hồi rừng thực hiện theo Luật Đất đai năm 2003, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, Nghị định số 23/2006/NĐ-CP của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan