Kết quả gần phẫu thuật nội soi cắt thùy gan trái điều trị ung thư biểu mô tế bào gan tại khoa Ngoại Gan Mật Tụy Bệnh viện K - Phạm Thế Anh, Nguyễn Kiều Hưng, Nguyễn Trường Giang, Nghiêm
Trang 11 Kết quả sớm phẫu thuật cắt khối tá tụy
bằng robot tại khoa Ngoại Gan Mật Tụy
Bệnh viện Chợ Rẫy - Đoàn Tiến Mỹ, Mai
Đại Ngà, Bùi An Thọ, Trần Đình Quốc,
Đỗ Hữu Liệt, Ngô Ngọc Bình Việt, Bùi Thế
Phương, Lê Công Trí, Thềm Việt Phúc, Võ
Trường Quốc
2 Kết quả sớm của phẫu thuật điều trị u thần
kinh nội tiết Gan Mật Tụy - Đoàn Tiến
Mỹ, Phạm Hữu Thiện Chí, Phan Minh
Trí, Lê Công Khánh, Lê Công Trí, Nguyễn
Nguyên Khôi, Võ Trường Quốc
3 Kiểm soát cuống Glisson từ ngả sau
(Takasaki) trong phẫu thuật cắt Gan tại
Bệnh viện Trung ương Huế - Hồ Văn Linh
4 Đánh giá kết quả điều trị bảo tồn vỡ gan
trong chấn thương bụng kín tại Bệnh
viện hữu nghị đa khoa Nghệ An - Lê
Anh Xuân, Nguyễn Huy Toàn, Nguyễn
Văn Hương
5 Kết quả gần phẫu thuật nội soi cắt thùy gan
trái điều trị ung thư biểu mô tế bào gan
tại khoa Ngoại Gan Mật Tụy Bệnh viện
K - Phạm Thế Anh, Nguyễn Kiều Hưng,
Nguyễn Trường Giang, Nghiêm Thanh
Hà, Phạm Bá Đức
6 Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật cắt gan
điều trị ung thư gan tại bệnh viện hữu
nghị đa khoa Nghệ An - Nguyễn Văn
Hương, Nguyễn Huy Toàn, Lê Anh Xuân,
8 Kết quả sống thêm lâu dài của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan được điều trị bằng phương pháp tắc mạch hóa dầu
Vũ Quang Minh, Nguyễn Thành Ngoan, Bành Trung Hiếu, Nguyễn Đình Song Huy
11 Giá trị 3 chỉ số AFP, AFP-l3, PIVKA-II trong dự đoán ung thư biểu mô tế bào Gan
tái phát sau đốt u (RFA) - Phan Huỳnh Vị,
Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Hoàng Bé,Trần Minh Sang, Nguyễn Đình Song Huy
12 Đánh giá kết quả bước đầu nội soi mật tụy ngược dòng kết hợp cắt túi mật nội soi trong điều trị sỏi ống mật chủ kèm sỏi
túi mật - Hồ Văn Linh, Dương Phan Hải Thanh, Mai Đình Điểu
Trang 2Bệnh viện Trung ương Huế
13 Vai trò của nội soi đường mật trong
cắt gan điều trị sỏi - Đoàn Văn Trân,
Nguyễn Thanh Sáng, Trịnh Du Dương,Lê
Nguyên Khôi
14 Kết quả bước đầu phẫu thuật nội soi
lấy sỏi đường mật trong và ngoài Gan có
sử dụng nội soi mềm và ống nối Mật -
Da tại Bệnh viện 108 - Lê Văn Thành, Lê
Văn Lợi
15 Kết quả nội soi tán sỏi đường mật trong
gan bằng điện thủy lực qua đường hầm
KEHR tại Bệnh viện Quân Y 103 - Đỗ Sơn
Hải, Nguyễn Quang Nam, Bùi Tuấn Anh
16 Đánh giá kết quả điều trị sau mổ bệnh nhân
nang ống mật chủ tại khoa gây mê hồi sức
A Bệnh viện Trung ương Huế - Nguyễn
Viết Quang Hiển
17 Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật điều trị
chấn thương tụy - Đỗ Hữu Liệt, Đoàn Tiến
Mỹ, Phạm Hữu Thiện Chí, Bùi An Thọ, Phan Minh Trí, Lê Công Khánh, Nguyễn Phước Hưng, Nguyễn Đình Tam, Phạm Duy Toàn, Trần Đình Quốc, Lê Quang Chỉnh, Hoàng Công Thành, Nguyễn Thái Tuấn, Lê Công Trí, Trần Vĩnh Long Trường, Hoàng Thanh Lâm, Thiềm Việt Phúc, Trần Thị Bé Thi, Dương Thùy Linh
18 Miệng nối tụy hỗng tràng kiểu Blumgart cải tiến trong phẫu thuật Whipple: kinh
nghiệm 73 trường hợp - Hồ Văn Linh, Phan Hải Thanh
19 Báo cáo 11 trường hợp phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy điều trị ung thư quanh bóng
Vater - Nguyễn Văn Tuấn, Mai Văn Đợi, Nguyễn Lê Gia Kiệt, Phạm Văn Năng
Trang 3KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT CẮT KHỐI TÁ TỤY BẰNG ROBOT TẠI KHOA NGOẠI GAN MẬT TỤY BỆNH VIỆN CHỢ RẪY
Đoàn Tiến Mỹ1, Mai Đại Ngà1, Bùi An Thọ1, Trần Đình Quốc1,
Đỗ Hữu Liệt1, Ngô Ngọc Bình Việt1, Bùi Thế Phương1, Lê Công Trí1,
Thềm Việt Phúc1, Võ Trường Quốc1
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Cắt khối tá tụy là một trong những phẫu thuật ổ bụng khó nhất Việc áp dụng phương pháp
xâm lấn tối thiểu cho phẫu thuật này gặp nhiều khó khăn với dụng cụ nội soi cổ điển Phẫu thuật nội soi với robot hỗ trợ giúp phẫu thuật trở nên dễ dàng hơn.
Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật robot cắt khối tá tụy
Phương pháp: Mô tả tiền cứu các trường hợp cắt khối tá tụy bằng robot tại khoa Ngoại Gan Mật Tụy
Bệnh viện Chợ Rẫy
Kết quả: Trong thời gian tháng 12/2017 đến tháng 3/2019, chúng tôi đã thực hiện 28 trường hợp cắt
khối tá tụy bằng robot Chẩn đoán trước mổ đa số là u bóng Vater (77%), u đoạn cuối ống mật chủ và u đầu tụy lần lượt chiếm 9% và 14% Thời gian phẫu thuật trung bình là 522,5 phút Chuyển mổ mở 2 trường hợp (7,1%).Điểm đau trung bình các ngày hậu phẫu theo VAS là 4 Có 6 trường hợp biến chứng nhẹ (Clavien- Dindo độ 1-2, 21,4%), 4 trường hợp biến chứng nặng (Clavien-Dindo độ 3-4, 14,3%), mổ lại 2 trường hợp (7,1%) Không có tử vong Thời gian hậu phẫu trung bình là 16,4 ngày.
Kết luận: Kết quả của nghiên cứu tương đồng với kết quả của các tác giả trên thế giới Phẫu thuật robot
cắt khối tá tụy được chứng minh là an toàn và khả thi.
Từ khóa: Cắt khối tá tụy, Robot
ABSTRACT
PRELIMINARY RESULTS OF ROBOTIC PANCREATICODUODENECTOMY
AT HEPATOBILIARYPANCREATIC SURGERY DEPARTMENT
-CHO RAY HOSPITAL
Doan Tien My 1 , Mai Dai Nga 1 , Bui An Tho 1 , Tran Dinh Quoc 1 ,
Do Huu Liet 1 , Ngo Ngoc Binh Viet 1 , Bui The Phuong 1 , Le Cong Tri 1 ,
Them Viet Phuc 1 , Vo Truong Quoc 1
Background: Pancreaticoduodenectomy is one of hardest abdominal procedures Application of minimal
invasive surgery in this procedure encounters many difficulties with classic laparoscopic instruments Robot-assisted surgery system refers minimal invasive surgery in pancreaticoduodenectomy easier.
Objectives: Assess preliminary results of robotic pancreaticoduodenectomy
Results: From December 2017 to March 2019, we performed 28 cases of robotic
pancreaticoduode-1 Bệnh viện Chợ Rẫy - Ngày nhận bài (Received): 25/4/2019; Ngày phản biện (Revised): 3/6/2019;
- Ngày đăng bài (Accepted): 17/6/2019
- Người phản hồi (Corresponding author): Phan Minh Trí
- Email:phanminhtri2000@ump.edu.vn; SĐT: 091 415 77 33
Trang 4Bệnh viện Trung ương Huế
Kết quả sớm phẫu thuật cắt khối tá tụy
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Phẫu thuật cắt khối tá tụy được thực hiện lần
đầu năm 1935 bởi Alfred Whipple, áp dụng cho các
trường hợp ung thư quanh bóng Vater hoặc viêm
tụy mạn có khối viêm đầu tụy [1] Đây là một phẫu
thuật lớn, phức tạp, tỉ lệ biến chứng và tử vong trong
những năm đầu rất cao, về sau các tỉ lệ này mới
giảm đi nhờ vào những tiến bộ về kĩ thuật mổ, chỉ
phẫu thuật và gây mê hồi sức (hình 1) Hiện nay
cắt khối tá tụy vẫn là phẫu thuật tiêu chuẩn cho các
trường hợp ung thư quanh bóng Vater
Hình 1 Minh họa các phần bị cắt bỏ trong
phẫu thuật cắt khối tá tụy
(Nguồn: Fischer’s mastery of surgery: Sixth edition)
Những năm 90 là thời kì bùng nổ của phẫu thuật
xâm lấn tối thiểu (phẫu thuật nội soi) Phẫu thuật
xâm lấn tối thiểu cho thấy những ưu điểm rõ rệt
so với phẫu thuật mở kinh điển như thời gian nằm
viện ngắn hơn, ít đau sau mổ hơn, giảm những rối
loạn về miễn dịch sau mổ, vết mổ thẩm mỹ hơn Phẫu thuật này cũng cho thấy kết quả ung thư học
là tương đương so với mổ mở đối với một số loại ung thư Do đó các nỗ lực áp dụng phẫu thuật nội soi cho cắt khối tá tụy đã được thực hiện Các kết quả tương đối khả quan đã được đưa ra, khi phẫu thuật nội soi có diễn tiến hậu phẫu thuận lợi hơn, thời gian nằm viện ngắn hơn và kết quả ung thư học tương đương so với mổ mở [2], [3], [4], [5] Tuy nhiên phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy không trở nên phổ biến Kỹ thuật mổ là một vấn đề lớn: đây là một phẫu thuật lớn, thời gian mổ kéo dài, đòi hỏi bóc tách tinh tế tụy khỏi các mạch máu lớn, miệng nối tụy ruột cần sự tỉ mỉ cao độ Do đó chỉ những phẫu thuật viên đầy kinh nghiệm cả về cắt khối tá tụy mổ mở lẫn về phẫu thuật nội soi mới có thể thực hiện phẫu thuật này
Đầu thập niên 2000, phẫu thuật robot xuất hiện, tiếp đà phát triển của phẫu thuật xâm lấn tối thiểu Phẫu thuật robot khắc phục những nhược điểm của phẫu thuật nội soi trước đó: không còn những dụng
cụ nội soi “cứng đơ” với chỉ một góc xoay mà thay vào là những dụng cụ robot với 7 góc xoay như cổ tay người giúp dụng cụ trở nên mềm mại hơn, phẫu thuật viên không còn phải uốn mình theo tư thế giải phẫu của bệnh nhân mà ngồi thoải mái trước màn hình điều khiển những cánh tay robot (hình 2 và 3) Theo kinh nghiệm của các phẫu thuật viên Ấn Độ, dụng cụ robot có thể bóc tách an toàn các mạch máu thậm chí rất nhỏ Nối tụy ruột là chìa khóa thành công của cắt khối tá tụy Bắt kim và khâu nối trở nên rất dễ dàng với hệ thống robot [6]EndoWrist Dựa trên các
nectomy Preoperative diagnosis included many of Vater tumors (77%), distal bile duct tumors (9%) and pancreatic head tumor (14%) Mean operative time was 522.5 minutes Conversion rate was 7.1% (n=2) Average mean postoperative VAS score was 4 There was 6 cases of mild complications (Clavien-Dindo grade 1-2, 21.4%), 4 cases of severe complications (Clavien-Dindo grade 3-4, 14.3%), Reoperation in 2 cases (7,1%) No case of death Mean postoperative time was 16.4 days.
Conclusion: our results are similar to other researches in worldwide Robotic pancreaticoduodenectomy
was proved to be safe and feasible.
Key words: Pancreaticoduodenectomy, Robotic
Trang 5chứng cứ y học, phẫu thuật robot cắt khối tá tụy là
khả thi và an toàn Số lượng máu mất thấp hơn, thời
gian nằm viện, biến chứng và tử vong giảm so với mổ
mở Kết quả ung thư học không khác so với mổ mở
[7], [8], [9] Như vậy, việc áp dụng phẫu thuật xâm
lấn tối thiểu vào cắt khối tá tụy trở nên dễ dàng với sự
hỗ trợ của robot
Hình 2 Cánh tay camera và các cánh tay
dụng cụ robot (Nguồn: Internet)
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đây là nghiên cứu mô tả tiền cứu, được thực hiện tại khoa Ngoại Gan Mật Tụy Bệnh viện Chợ Rẫy, từ tháng 12/2017 đến 3/2019 Các bệnh nhân
có chỉ định cắt khối tá tụy bằng robot và không nằm trong chống chỉ định sẽ được tư vấn về các phương pháp mổ cắt khối tá tụy mở, nội soi và robot, bệnh nhân lựa chọn tự nguyện
2.1 Chỉ định
Phẫu thuật cắt khối tá tụy thường được thực hiện trong điều trị ung thư biểu mô tuyến vùng đầu tụy (ung thư bóng Vater, ung thư tế bào tụy ngoại tiết, ung thư đoạn cuối ống mật chủ), u nhầy ống tụy (IPMN), ung thư tá tràng xâm lấn tụy, u nội tiết thần kinh ở tụy (pancreatic neuroendocrine tumor)
2.3 Phương pháp phẫu thuật (hình 4 và 5)
- Tư thế bệnh nhân nằm ngửa, duỗi 2 chân và 2 tay, tư thế chuyển sang đầu cao nghiêng trái sau khi docking các cánh tay robot
- Vào trocar 12mm dành cho camera ở rốn bằng phương pháp vào bụng kín, bơm hơi CO2 ổ bụng với
áp lực 12mmHg và vận tốc 15ml/phút
- Vào trocar cánh tay thứ 1 bên phải, trên rốn khoảng 1-2 cm, cách trocar rốn 6cm, bằng trocar 8mm đặc thù của robot, dưới quan sát camera
- Vào trocar cánh tay thứ 2 bên trái, trên rốn khoảng 2-3 cm, cách trocar rốn 6cm, bằng trocar 8mm đặc thù của robot, dưới quan sát camera
- Vào trocar cánh tay thứ 3 bên phải, dưới bờ sườn phải 1-2cm, cách trocar cánh tay thứ nhất 6cm, bằng trocar 8mm đặc thù của robot, dưới quan sát camera
- Vào trocar 12mm hỗ trợ dành cho người phụ, dưới rốn 1-2cm, cách trocar rốn 4-5cm, dưới quan sát camera
- Docking cánh tay camera và 3 cánh tay robot
Hình 3 Đầu dụng cụ robot như một bàn tay
thu nhỏ của phẫu thuật viên
(Nguồn: Internet)
Khoa Ngoại gan mật tụy bệnh viện Chợ Rẫy là
một trung tâm phẫu thuật tụy lớn Với mong muốn
áp dụng những kĩ thuật hiện đại trên thế giới vào
chuyên ngành phẫu thuật tụy, chúng tôi đã triển khai
phẫu thuật cắt khối tá tụy bằng robot Nghiên cứu
này nhằm đánh giá bước đầu tính an toàn và khả thi
của phẫu thuật robot cắt khối tá tụy, tạo điều kiện để
áp dụng với quy mô lớn trong tương lai
Trang 6Bệnh viện Trung ương Huế
Kết quả sớm phẫu thuật cắt khối tá tụy
vào các trocar tương ứng, bắt đầu tiến hành phẫu
động mạch vị phải và vị mạc nối phải được kẹp
đốt và cắt bằng tay robot thứ 1 mang bipolar hàn
mạch máu
- Cắt ngang vùng hang môn vị bằng stapler
60mm qua trocar 12mm hỗ trợ, phần dạ dày còn lại
được đặt ở phần tư phía trên bên trái ổ bụng
- Hạ đại tràng góc gan để bộc lộ tá tràng, thực
hiện thủ thuật Kocher và di động góc Treitz
- Bóc tách động mạch gan chung và nạo hạch
thân tạng và rốn gan
- Kẹp cắt động mạch vị tá
- Bóc tách và di động bờ dưới đầu tụy và cổ tụy
- Tạo đường thông bên dưới cổ tụy, trước tĩnh
mạch mạc treo tràng trên và tĩnh mạch cửa
- Cổ tụy được cắt ngang bằng cánh tay robot thứ
2 mang harmonic
- Cắt hỗng tràng cách góc Treitz 10cm bằng
sta-pler 60mm qua trocar 12mm hỗ trợ
- Mạc treo ruột non được cắt đốt bằng tay robot
có dụng cụ hàn mạch máu hướng về phía mỏm móc
- Cắt túi mật khỏi giường gan và thắt động mạch túi mật Ống gan chung được cắt ngang trên chỗ đổ của ống túi mật
- Toàn bộ mẫu bệnh phẩm được cho vào túi bệnh phẩm và sẽ được lấy khỏi ổ bụng qua đường mở rộng trocar rốn vào cuối ca phẫu thuật
- Khâu miệng nối tụy - hỗng tràng tận – bên 2 lớp, tương tự như trong kỹ thuật mổ mở Mặt sau
sử dụng chỉ đơn sợi 4-0 mũi liên tục (khâu bao tụy với thanh cơ hỗng tràng) Mở lỗ nhỏ ở hỗng tràng (tương đương kích thước ống tụy) bằng dao điện, thực hiện miệng nối ống tụy – niêm mạc ruột bằng chỉ đơn sợi 6-0, có luồn feeding tube 6-8F làm nòng Mặt trước miệng nối tụy được khâu liên tục bằng chỉ đơn sợi 4-0
- Miệng nối ống gan chung - hỗng tràng được thực hiện cách miệng nối tụy - hỗng tràng khoảng 10- 15cm, bằng chỉ đơn sợi 4-0 hoặc 5-0, mũi khâu liên tục hoặc mũi rời, tùy thuộc kích thước ống gan chung
- Cuối cùng, nối dạ dày - hỗng tràng trước đại tràng ngang, cách miệng nối mật 50 cm bằng chỉ tan đơn sợi liên tục hoặc stapler
- Đặt một dẫn lưu dưới gan phải cạnh miệng nối mật và miệng nối tụy
- Đóng các lỗ trocar
Hình 4 Vị trí vào trocar của phẫu thuật robot cắt khối tá tụy C: camera R1-R3:
các cánh tay robot A: hỗ trợ (Nguồn: Fischer’s mastery of surgery: Sixth edition)
Trang 7Hình 5 Minh họa phẫu thuật robot cắt khối tá tụy: thì nối (Nguồn: Fischer’s mastery of surgery: Sixth edition)
2.4 Phân tích dữ liệu
Chúng tôi ghi nhận các đặc điểm lâm sàng: tuổi, giới, các triệu chứng cơ năng, phân độ ASA Chúng tôi cũng ghi nhận các đặc điểm trong mổ như: thời gian phẫu thuật, lượng máu mất, kích thước u, chuyển mổ mở Diễn tiến hậu phẫu ghi nhận số ngày dùng giảm đau tĩnh mạch, biến chứng sau mổ, tỉ lệ mổ lại, tỉ lệ tử vong,
số ngày nằm viện Các biến chứng sớm sau mổ được đánh giá theo phân độ Clavien- Dindo (bảng 1) [11]
Bảng 1 Phân độ Cladien- Dindo đánh giá biến chứng sau mổ
1 Bất kì bất thường nào khác với diễn tiến bình thường sau
mổ bao gồm nhiễm trùng vết mổ Nhiễm trùng vết mổ, sảng sau mổ
2 Biến chứng cần điều trị nội khoa đặc hiệu hơn so với độ 1 Viêm đường mật, rò tụy hay mật
cung lượng ít3a Biến chứng cần can thiệp thủ thuật hoặc phẫu thuật dưới
gây tê tại chỗ Tụ dịch nhiễm trùng ổ bụng lượng lớn3b Biến chứng cần can thiệp phẫu thuật dưới gây mê toàn thân Chảy máu sau mổ, xì miệng nối
4 Biến chứng cần phải điều trị tại đơn vị hồi sức tích cực Suy hô hấp do viêm phổi, choáng
nhiễm trùng do viêm đường mật
Các dữ liệu được thu thập bằng phần mềm Excel, được xử lí bằng phần mềm Stata Các biến định tính được trình bày dưới dạng tỉ lệ, các biến định lượng được trình bày dưới dạng số trung bình
Trang 8Bệnh viện Trung ương Huế
Kết quả sớm phẫu thuật cắt khối tá tụy
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian tháng 12/2017 đến 3/2019,
chúng tôi đã thực hiện 28 trường hợp cắt khối tá tụy
bằng robot Chẩn đoán trước mổ là u bóng vater, u
đầu tụy và u đoạn cuối ống mật chủ, u bóng Vater
chiếm đa số (biểu đồ 1)
Biểu đồ 1 Tỉ lệ các chẩn đoán trước mổ
Đặc điểm lâm sàng của các bệnh nhân được trình
bày trong bảng 2 Phần lớn không có bệnh lý nền
gây ảnh hưởng đến cuộc sống với điểm số ASA
thấp Đa số các bệnh nhân có biểu hiện đau bụng
và vàng da Thể trạng các bệnh nhân tương đối tốt
do không có cảm giác tốt nên dễ xé rách nhu mô, chúng tôi mở bụng đường nhỏ để thực hiện các miệng nối kèm mở hỗng tràng nuôi ăn
Bảng 3 Đặc điểm phẫu thuật
Thời gian mổ trung bình 522,5 phútBiến cố trong mổ 10,7% (n=3)Máu mất trong mổ 347,73 mlChuyển mổ mở 7,1% (n=2)Đặc điểm hậu phẫu được trình bày trong bảng 4 Các bệnh nhân đa số ít đau sau mổ Có vài trường hợp biến chứng nhẹ (Clavien- Dindo độ 1-2) không cần điều trị đặc hiệu bao gồm rò tụy cung lượng ít,
tụ dịch sau mổ, suy gan thoáng qua sau mổ Các trường hợp biến chứng nặng được trình bày riêng trong bảng 5
Bảng 4 Đặc điểm hậu phẫu
Điểm đau trung bình các ngày hậu phẫu (VAS) 4,0
Thời gian nằm hậu phẫu 16,4 ngày
Biến chứng nhẹ (Clavien- Dindo độ 1-2) 21,4% (n=6, trong đó 3 rò tụy cung lượng ít,1 tụ dịch sau mổ, 1 suy gan thoáng qua, 1 rò dưỡng trấp)Biến chứng nặng (Clavien- Dindođộ 3-4) 14,3% (n=4)
Trang 9Bảng 5 Chi tiết các trường hợp có biến chứng nặng
Bệnh nhân
T V M
Chảy máu miệng nối tụy ruột, chảy máu do loét miệng nối vị tràng
Mổ lại lần 1 vì tình trạng choáng mất máu: khâu cầm máu miệng nối tụy ruột Mổ lại lần 2 cũng vì tình trạng choáng mất máu: khâu cầm máu miệng nối vị tràng
Bệnh nhân điều trị hậu phẫu
37 ngày, ổn xuất viện
Bệnh nhân
H T T Xì miệng nối mật ruột, viêm tụy hoại tử
Mổ lại vì tình trạng choáng nhiễm trùng: làm lại miệng nối mật ruột, rửa bụng dẫn lưu
Bệnh nhân điều trị hậu phẫu
40 ngày, ổn xuất việnBệnh nhân
N H S Rò tụy, viêm phổi Dẫn lưu, kháng sinh, kháng tiết, hỗ trợ hô hấp Bệnh nhân điều trị hậu phẫu 36 ngày, ổn xuất việnBệnh nhân
V Đ P B Rò tụy, viêm phổi Dẫn lưu, kháng sinh, kháng tiết, hỗ trợ hô hấp Bệnh nhân điều trị hậu phẫu 23 ngày, ổn xuất viện
IV BÀN LUẬN
Phẫu thuật robot ra đời đã giúp ích rất nhiều cho
việc áp dụng phẫu thuật xâm lấn tối thiểu vào cắt
khối tá tụy Về chọn bệnh, vì phẫu thuật robot là kỹ
thuật mới, nên đa số các tác giả chọn bệnh nhân có
các đặc điểm thuận lợi cho cuộc mổ như: chẩn đoán
u bóng Vater do về mặt kỹ thuật mổ dễ dàng hơn so
với u đầu tụy hay u đoạn cuối ống mật chủ, bệnh
nhân có phân độ ASA thấp, thể trạng tốt với BMI
trong giới hạn bình thường, bệnh nhân không quá
lớn tuổi Tác giả Kim trong một nghiên cứu so sánh
phẫu thuật mở và robot cắt khối tá tụy, chọn bệnh
nhân trong nhóm robot có tuổi trung bình là 60,7,
BMI trung bình là 22,7 [12] Tác giả Chalikonda
chọn bệnh nhân trong nhóm robot có tuổi trung bình
62, BMI trung bình là 24,8 [13] Zureikat trong một
nghiên cứu đa trung tâm so sánh giữa phẫu thuật mở
và phẫu thuật robot cắt khối tá tụy, thấy nhóm robot
có BMI trung bình cao hơn nhóm mổ mở, và nhóm
mổ mở có tỉ lệ chẩn đoán u đầu tụy và không giãn
ống tụy cao hơn nhóm robot [14] Chúng tôi có 77%
bệnh nhân chẩn đoán u bóng Vater, tuổi trung bình
là 57,7, BMI trung bình là 21,5
Về mặt kĩ thuật, phẫu thuật robot dễ dàng hơn
phẫu thuật nội soi quy ước do góc chuyển động rộng
của các cánh tay robot và tư thế ngồi thoải mái của
phẫu thuật viên Thời gian mổ của phẫu thuật robot tương đương phẫu thuật nội soi, tuy nhiên vẫn còn dài hơn so với phẫu thuật mở, có thể là do mất thời gian khởi động hệ thống và docking các cánh tay robot [15], [16] Trong các báo cáo về phẫu thuật cắt khối tá tụy bằng robot, thời gian phẫu thuật của Boggi là 597 phút, Kim là 335,6 phút, Lai là 491,5 phút, Chalíkonda là 476,2 phút [12], [13], [17], [18].Pedziwiatr trong một nghiên cứu phân tích tổng hợp
so sánh giữa phẫu thuật mở, nội soi và robot cắt khối tá tụy thấy rằng thời gian mổ trung bình của phẫu thuật mở là 388 phút, phẫu thuật robot là 482 phút, của phẫu thuật nội soi là 427 phút, tuy nhiên không có sự khác biệt giữa phẫu thuật robot và phẫu thuật nội soi [16] Thời gian mổ phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của phẫu thuật viên Do phẫu thuật robot là một kỹ thuật mới cần thêm thời gian để các phẫu thuật viên thích nghi hơn Theo Boone, thời gian phẫu thuật cải thiện rõ rệt từ ca thứ 80 trở lên [19] Chúng tôi mới bước đầu áp dụng phẫu thuật robot cắt khối tá tụy trên 20 ca, thời gian mổ trung bình là 522,2 phút Trong đó ca mổ kéo dài nhất là
810 phút, do mô tụy bở khâu nối bằng robot gây xé rách nhu mô, cảm thấy miệng nối tụy không an toàn nên chúng tôi mở đường nhỏ để thực hiện miệng nối, khiến thời gian mổ trở nên kéo dài
Trang 10Bệnh viện Trung ương Huế
Kết quả sớm phẫu thuật cắt khối tá tụy
Pedziwiatr trong một nghiên cứu phân tích tổng
hợp thấy rằng mất máu trong mổ của cắt khối tá tụy
mở kinh điển là nhiều nhất với trung bình 534,67
ml, phẫu thuật nội soi là 350,8 ml, phẫu thuật robot
là 339,04 ml Tỉ lệ chuyển mổ mở là 7,23% trong
nhóm nội soi quy ước và 5,49% trong nhóm robot
[16] Chúng tôi ghi nhận máu mất trung bình là
347,73 ml, 2 trường hợp chuyển mổ mở (7,1%),
trong đó 1 trường hợp thủng tĩnh mạch cửa trong
quá trình bóc tách cổ tụy khỏi tĩnh mạch bên dưới,
1 trường hợp u xâm lấn tĩnh mạch cửa- mạc treo
tràng trên không an toàn khi phẫu thuật robot và
chúng tôi mổ mở tiến hành cắt khối tá tụy kèm cắt
nối ngã ba tĩnh mạch lách- cửa- mạc treo tràng trên
Tác giả Lai cũng báo cáo trong nghiên cứu của
mình có 1 trường hợp chuyển mổ mở do bóc tách
khó khăn vùng cổ tụy khỏi tĩnh mạch cửa- mạc treo
tràng trên [18] Boggi báo cáo không có trường hợp
chuyển mổ mở nào mặc dù có 3 trường hợp cắt nối
tĩnh mạch cửa- mạc treo tràng trên [17] Chúng tôi
do mới bước đầu áp dụng kỹ thuật nên chưa thực
hiện cắt nối tĩnh mạch cửa qua robot Chúng tôi
hướng đến trong trong tương lai, khi kỹ thuật mổ
trở nên hoàn thiện, thời gian mổ, lượng máu mất và
tỉ lệ chuyển mổ mở sẽ cải thiện hơn
Phẫu thuật robot được cho là có những ưu điểm
của phẫu thuật xâm lấn tối thiểu như ít đau sau mổ,
thời gian nằm viện ngắn, vết mổ thẩm mỹ hơn Đây
cũng là những lí do khiến các phẫu thuật viên cố
gắng áp dụng phẫu thuật này cho cắt khối tá tụy
Tác giả Kim thấy rằng phẫu thuật robot cắt khối tá
tụy có điểm đau sau mổ là 3,7, thời gian nằm hậu
phẫu là 10,6 ngày [12] Tác giả Lai có số ngày nằm
viện trong nhóm phẫu thuật robot là 13,7 ngày [18]
Tác giả Guerra báo cáo số ngày nằm viện trung bình
là 9 ngày [22] Tác giả Chalikonda báo cáo số ngày
nằm viện trung bình là 9,79 ngày [13] Các tác giả
trên đều có so sánh với phẫu thuật mở cắt khối tá
tụy và thấy phẫu thuật robot có ưu điểm hơn Trong
số liệu của chúng tôi, điểm đau trung bình (VAS)
sau mổ là 4, thời gian nằm hậu phẫu trung bình là 16,4 ngày, thời gian nằm viện là 26,5 ngày
Vấn đề được quan tâm nhiều đối với phẫu thuật robot cắt khối tá tụy là biến chứng và tử vong sau
mổ Do đây là một kỹ thuật còn rất mới, các phẫu thuật viên còn ít kinh nghiệm với phẫu thuật robot nên nhiều tác giả e ngại tỉ lệ biến chứng sau mổ cao Tuy nhiên các nghiên cứu trên thế giới cho thấy rằng phẫu thuật robot có tỉ lệ biến chứng và tử vong tương đương với mổ mở Tác giả Kim báo cáo tỉ lệ biến chứng của phẫu thuật robot là 15,7% trong đó
rò tụy là 6% [12] Tác giả Chalikonda báo cáo tỉ lệ biến chứng 30%, mổ lại là 6% [13] Tác giả Zeh báo cáo có 13,26% biến chứng nhẹ (Clavien-Dindo
độ 1-2), 30% biến chứng nặng (Clavien-Dindo độ 3-4) [21] Đa số các tác giả kể trên đều so sánh với phẫu thuật mở cắt khối tá tụy và nhận thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa Zureikat trong một nghiên cứu phân tích tổng hợp còn nhận thấy rằng phẫu thuật robot giúp giảm tỉ lệ biến chứng nặng có ý nghĩa [14] Hầu như không có báo cáo
tử vong sau mổ trong các nghiên cứu Chúng tôi có 21,4% biến chứng nhẹ (n=6) và 14,3% biến chứng nặng (n=4), mổ lại 7,1% (n=2), tử vong 0% Các trường hợp biến chứng nặng và tử vong đã được trình bày chi tiết trong bảng 5 Tác giả Lai báo cáo
tỉ lệ biến chứng chung là 50%, rò tụy là 30%, mổ lại 2% Trong cùng nghiên cứu, có 2 trường hợp
mổ lại, 1 trường hợp giả phình mạch động mạch gan phải hậu quả của rò tụy, 1 trường hợp hoại tử đại tràng phải do tổn thương cung mạch trong lúc phẫu thuật [18] Rò tụy vẫn là biến chứng thường gặp nhất Theo tác giả Boone, tỉ lệ rò tụy chỉ giảm
rõ rệt khi phẫu thuật viên đạt qua ngưỡng 40 ca mổ robot cắt khối tá tụy [19] Chúng tôi chỉ mới thực hiện được trên 20 ca mổ cắt khối tá tụy robot, tỉ lệ biến chứng sau mổ so với các nghiên cứu khác trên thế giới không chênh lệch nhiều, chúng tôi hướng đến trong tương lai sẽ hạn chế biến chứng sau mổ đến mức thấp nhất
Trang 11V KẾT LUẬN
Kết quả sớm phẫu thuật cắt khối tá tụy bằng
robot của chúng tôi tương đồng với kết quả của các
nghiên cứu trên thế giới Phẫu thuật robot cắt khối tá
tụy có thời gian mổ, tỉ lệ chuyển mổ mở không cao
hơn so với phẫu thuật nội soi quy ước, mức đau sau
ổ thấp, thời gian nằm hậu phẫu ngắn hơn so với mổ
mở, trong khi biến chứng sau mổ tương đương hoặc
thấp hơn Mặc dù kết quả của chúng tôi còn nhiều
mặt hạn chế về thời gian mổ, thời gian nằm hậu phẫu cũng như còn một tỉ lệ nhất định chuyển mổ
mở và biến chứng sau mổ tuy nhiên kết quả này không chênh lệch nhiều so với các tác giả khác Phẫu thuật cắt khối tá tụy bằng robot chứng tỏ là một phẫu thuật an toàn và khả thi Trong tương lai khi kỹ thuật mổ đã nhuần nhuyễn, kết quả của phẫu thuật này hứa hẹn sẽ còn khả quan hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Whipple A.O., Parsons W.B., and Mullins C.R
(1935) Treatment of carcinoma of the ampulla
of vater Ann Surg, 102(4), pp 763–779.
2 Gagner M and Pomp A (1997) Laparoscopic
pancreatic resection: is it worthwhile? J
Gas-trointest Surg, 1(1), pp 20–26.
3 Dulucq J.-L., Wintringer P., and Mahajna A
(2006) Dulucq JL, Wintringer P, Mahajna A
Laparoscopic pancreaticoduodenectomy for
benign and malignant diseases Surg Endosc
2006;20(7):1045-1050 Surg Endosc, 20,
pp 1045–50
4 Hüscher C.G.S., Ponzano C., and Di Paola M
(2008) Laparoscopic Management of
Pancre-atic Neoplasms Diseases of the Pancreas:
Cur-rent Surgical Therapy Springer Berlin
Heidel-berg, Berlin, HeidelHeidel-berg, pp 653–664
5 Merkow J., Paniccia A., and Edil B.H (2015)
Laparoscopic pancreaticoduodenectomy: a
de-scriptive and comparative review Chin J
Can-cer Res, 27(4), pp 368–375.
6 Croner R.S (2015) Robotic Pancreatic
Re-sections: Feasibility and Advantages Indian J
Surg, 77(5), pp 433–435.
7 Baker E.H., Ross S.W., Seshadri R., et al (2015)
Robotic pancreaticoduodenectomy for
pancre-atic adenocarcinoma: role in 2014 and beyond
years: a comparative study World J Surg, 34(9),
pp 2109–2114
10 Fischer J.E., Jones D.B., Pomposelli F.B., et
al (2012), Fischer’s mastery of surgery: Sixth edition.
11 Dindo D., Demartines N., and Clavien P.A (2004) Classification of surgical complications:
a new proposal with evaluation in a cohort of
6336 patients and 108 results of a survey Ann Surg, 240.
12 Kim H.S., Han Y., Kang J.S., et al (2018) parison of surgical outcomes between open and robot-assisted minimally invasive pancreatico-
Com-duodenectomy J Hepato-Biliary-Pancreat Sci,
25(2), pp 142–149
13 Chalikonda S., Aguilar-Saavedra J.R., and Walsh R.M (2012) Laparoscopic robotic-assisted pancreaticoduodenectomy: a case-
matched comparison with open resection Surg Endosc, 26(9), pp 2397–2402.
14 Zureikat A.H., Postlewait L.M., Liu Y., et al
Trang 12Bệnh viện Trung ương Huế
Kết quả sớm phẫu thuật cắt khối tá tụy
(2016) A Multi-institutional Comparison of
Perioperative Outcomes of Robotic and Open
Pancreaticoduodenectomy Ann Surg, 264(4),
pp 640–649
15 Wang S., Shi N., You L., et al (2017) Minimally
invasive surgical approach versus open
proce-dure for pancreaticoduodenectomy: A systematic
review and meta-analysis Medicine (Baltimore),
96(50), pp.e8619
16 Pędziwiatr M., Małczak P., Pisarska M., et al
(2017) Minimally invasive versus open
pan-creatoduodenectomy-systematic review and
meta-analysis Langenbecks Arch Surg, 402(5),
pp 841–851
17 Boggi U., Signori S., De Lio N., et al (2013)
Feasibility of robotic pancreaticoduodenectomy
Br J Surg, 100(7), pp 917–925.
18 Lai E.C.H., Yang G.P.C., and Tang C.N (2012)
Robot-assisted laparoscopic
pancreaticoduode-nectomy versus open
pancreaticoduodenecto-my a comparative study Int J Surg Lond Engl,
10(9), pp 475–479
19 Boone B.A., Zenati M., Hogg M.E., et al (2015) Assessment of quality outcomes for robotic pancreaticoduodenectomy: identification
of the learning curve JAMA Surg, 150(5),
Trang 13KẾT QUẢ SỚM CỦA PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ U THẦN KINH NỘI TIẾT GAN MẬT TỤY
Đoàn Tiến Mỹ1, Phạm Hữu Thiện Chí1, Phan Minh Trí2, Lê Công Khánh1,
Lê Công Trí 1, Nguyễn Nguyên Khôi1, Võ Trường Quốc2
TÓM TẮT
Mở đầu: U thần kinh nội tiết chiếm khoảng 0,5% tổng số U tân sinh toàn cơ thể U thần kinh nội tiết gan
mật tụy chiếm 1-5% tổng số u thần kinh nội tiết.Phẫu thuật trong u thần kinh nội tiết giúp làm giảm triệu chứng đối với các u chức năng Chúng tôi thực hiện nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tỉ lệ tai biến, biến chứng và kết quả sau phẫu thuật của các u thần kinh nội tiết gan mật tụy.
Mục tiêu nghiên cứu: (1) Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của u thần kinh nội tiết gan mật tụy, (2)
Kết quả sớm của phẫu thuật điều trị u thần kinh nội tiết gan mật tụy.
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu, mô tả loạt ca.Tất cả bệnh nhân có giải phẫu bệnh sau phẫu thuật
là u thần kinh nội tiết tại khoa Gan Mật Tụy Bệnh viện Chợ Rẫy từ 01 tháng 01 năm 2015 đến 31 tháng 12 năm 2018.
Kết quả: Có 25 trường hợp u thần kinh nội tiết gan mật tụy được phẫu thuật trong thời gian nghiên cứu
Tỉ lệ nam/nữ là 1,2/1, độ tuổi trung bình là 41,5 tuổi Trong đó, u thần kinh nội tiết tụy chiếm đa số với 14 trường hợp (56%), u thần kinh nội tiết túi mật 2 trường hợp (8%), đường mật ngoài gan 2 trường hợp (8%), bóng Vater 1 trường hợp (4%), u gan chiếm tỉ lệ thấp nhất với 6 trường hợp (24%) Triệu chứng thường gặp đau hạ sườn phải 60%, vàng da 40%, hạ đường huyết 8% Phẫu thuật cắt khối tá tụy có 11 trường hợp, phẫu thuật bóc u tụy tại chỗ 2 trường hợp, cắt tụy đoạn xa 4 trường hợp, cắt túi mật kèm cắt gan HPT IV,V cho 2 trường hợp Tỉ lệ biến chứng chung là 16%, với hai biến chứng thường gặp là nhiễm trùng vết mổ và
rò tụy Thời gian nằm viện trung bình là 7,87 ngày.
Kết luận: U thần kinh nội tiết gan mật tụy hiếm gặp.Phẫu thuật điều trị u thần kinh nội tiết cho kết quả
an toàn và tỉ lệ tai biến, biến chứng thấp Các triệu chứng nội tiết trở về bình thường sau phẫu thuật cắt u.
Từ khoá: U thần kinh nội tiết, phẫu thuật gan mật tụy.
ABSTRACT
SHORT TERM RESULT OF SURGERY FOR HEPATOBILIARY -
PANCREATIC NEUROENDOCRINE TUMOR
Doan Tien My 1 , Pham Huu Thien Chi 1 , Phan Minh Tri 2 , Le Cong Khanh 1 ,
Le Cong Tri 1 , Nguyen Nguyen Khoi 1 , Vo Truong Quoc 2
Introduction: Neuroendocrine tumor is about 0.5% nenoplasm tumor Hepatobilary and pancreatic
neuroendocrine tumor is about 1-5% in the whole neuroendocrine tumor Surgery helps reduce the symptome for functional tumor We conducted this study to determine the short-term result after surgery for neuroendocrine tumor of hepatobiliary and pancreatic ones.
1 Bệnh viện Chợ Rẫy
2 Bệnh viện Chợ Rẫy,
Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh
- Ngày nhận bài (Received): 25/4/2019; Ngày phản biện (Revised): 3/6/2019;
- Ngày đăng bài (Accepted): 17/6/2019
- Người phản hồi (Corresponding author): Phan Minh Trí
- Email:phanminhtri2000@ump.edu.vn; SĐT: 091 415 77 33
Trang 14Bệnh viện Trung ương Huế
Objectives: (1) Clinical, subclinical of treatment for hepatobiliary and pancreatic neuroendocrine tumor
(2) Investigation the early results of surgery for hepatobiliary and pancreatic neuroendocrine tumor Method: Retrospective, cross-sectional description All patients were operated for hepatobiliary and pancreatic neuroendocrine tumor at Cho Ray hospital from 01 January 2015 to 31 December 2018.
Result: There were 25 cases of surgery for hepatobiliary and pancreatic neuroendocrine tumor The
male / female ratio was 1.2 / 1, the mean age of patients was 41.5 years Right subcostal pain was the most common symptom (60%), jaudice (40%), Whipple syndrome 8%.Pancreatoduodenectomy for 11 cases, distal pancreatectomy in 4 cases, nucleation in 2 cases, cholescystectomy and hepatectomy in 2 cases The overall complication rate was 16%, with two common complications - wound infection and pancreatic leakage The mean hospital stay was 7.87 days.
Conclusion: Hepatobilary and pancreatic neuroendocrine tumor is rare Surgery for hepatobilary
and pancreatic neuroendocrine tumor brings back safety and low morbidities Surgery helps reduce the symptome for functional tumor.
Keywords: Neuroendocrine tumor, hepatobilary and pancreatic surgery
I ĐẶT VẤN ĐỀ
U thần kinh nội tiết (neuroendocrine tumors -
NETs) chiếm khoảng 0,5% các khối u tân sinh mới
được chẩn đoán[1] Vị trí u thường gặp nhất là ở ống
tiêu hoá (62 – 67%) và phổi (22 – 27%), 12 – 22%
các bệnh nhân có di căn xa Ung thư thần kinh nội
tiết được định nghĩa là các u có biệt hóa kém tỉ lệ
tăng sinh cao (Ki-67 >20% và/hoặc >20 phân bào
trên quang trường x10) [1]
Các khối u thần kinh nội tiết đường tiêu hoá
- tuỵ (GEP - NETs) còn gọi là u carcinoid và u tế
bào đảo, có nguồn gốc từ các tế bào thần kinh nội
tiết nằm rải rác dọc theo ống tiêu hoá, có biểu hiện
lâm sàng không rõ ràng.U thần kinh nội tiết gan
mật tụy chiếm khoảng 1-5% trong tổng số U thần
kinh nội tiết
Phẫu thuật là phương pháp điều trị duy nhất có
thể điều trị triệt để đối với khối u còn khu trú tại
chỗ U có kích thước nhỏ hơn 2 cm thường được lựa
chọn phương pháp bóc u tại chỗ, trong khi u kích
thước lớn hơn 2cm phải phẫu thuật cắt rộng rãi u
kèm cắt cơ quan xâm lấn Do đó chúng tôi tiến hành
nghiên cứu “Kết quả sớm của phẫu thuật điều trị u
thần kinh nội tiết gan mật tụy” nhằm mục đích tìm
hiểu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tỉ lệ tai biến,
biến chứng và kết quả sau phẫu thuật của các u thần
kinh nội tiết gan mật tụy
Mục tiêu nghiên cứu
(1) Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của u thần kinh nội tiết gan mật tụy
(2) Kết quả sớm của phẫu thuật điều trị u thần kinh nội tiết gan mật tụy
II ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân có giải phẫu bệnh sau phẫu thuật là u thần kinh nội tiết tại khoa Gan Mật Tụy Bệnh viện Chợ Rẫy từ 01 tháng 01 năm 2015 đến 31 tháng 12 năm 2018
2.2 Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu, báo
cáo loạt ca
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian một năm từ 01 tháng 01 năm
2015 đến 31 tháng 12 năm 2018, tại khoa Gan Mật Tụy Bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi đã thu thập được
25 trường hợp u thần kinh nội tiết thỏa tiêu chuẩn nghiên cứu
Bệnh nhân có tuổi trung vị là 54, tuổi trung bình
là 41,5 ± 15,8 tuổi; trong đó trường hợp lớn tuổi nhất là 79 tuổi, trẻ nhất là 23, và độ tuổi thường gặp nhất là 40 – 60 tuổi Tỉ lệ nam/nữ là 1.2/1.0 Nghiên cứu ghi nhận 6 TH (24%) có các bệnh lý kèm theo, trong đó hai bệnh thường gặp nhất là tăng
Kết quả sớm của phẫu thuật điều trị u thần kinh
Trang 15huyết áp có 4TH (18,2%), tam chứng Whipple với
2 TH (8%)
Hầu hết BN trong nghiên cứu có thời gian từ
khi nhập viện đến khi được phẫu thuật dưới 5 ngày
Có 3 BN được mổ phẫu thuật sau ngày 10 do bệnh
nội khoa kèm theo cần phải điều trị ổn định trước
mổ.Thời gian từ lúc nhập viện đến lúc mổ trung
bình là 5,4 ngày ± 0,5 ngày, sớm nhất là 2 ngày và
muộn nhất là 10 ngày
Trong số các BN trong nghiên cứu, có 6 TH
(24%) có tiền căn phẫu thuật vùng bụng trước đó,
100% là phẫu thuật vùng bụng dưới
Bảng 1: Triệu chứng thực thể thường gặp
Tam chứng Whipple
Đau hạ sườn phải
Sờ thấy túi mật căng to
Vàng da
Không ghi nhận bất thường
2 (8%)
15 (60%)8(32%)10(40%)4(16%)
Bảng 2: Phân bố vị trí u thần kinh nội tiết
844824
ĐẶC ĐIỂM PHẪU THUẬT Phương pháp phẫu thuật:
Cắt khối tá tụy: 11 trường hợp, trong đó có
8 trường hợp do u thần kinh nội tiết ở đầu tụy, 1 trường hợp u bóng Vater, 2 trường hợp u đoạn cuối ống mật chủ
Bóc u thần kinh nội tiết ở tụy (nucleation): 2 trường hợp insulinoma ở tụy
Cắt tụy đoạn xa: 4 trường hợp cho u thần kinh nội tiết vùng thân và đuôi tụy
Cắt túi mật, cắt gan HPT IV,V: 2 trường hợp cho
u carcinoma thần kinh nội tiết ở túi mật
Thời gian phẫu thuật
Thời gian phẫu thuật trung vị là 210 phút, trung bình là 219 ± 7 phút, lâu nhất là 300 phút, và nhanh nhất là 90 phút
Lượng máu mất trung bình trong mổ là 130 ml, trong đó trường hợp mất máu nhiều nhất là 300ml.Trong nghiên cứu của chúng tôi có 23 TH được đặt dẫn lưu sau mổ (92%)
KẾT QUẢ SỚM SAU MỔ Giải phẫu bệnh sau mổ
Bảng 3: Giải phẫu bệnh sau mổ
InsulinomaCarcinoma TKNTHỗn hợp u TKNT và carcinoma tuyến
2221
Biếnchứng
Các biến chứng sau mổ được trình bày ở Bảng 4:
Bảng 4: Biến chứng sau mổ
Thời gian hậu phẫu
Thời gian hậu phẫu trung bình trong nghiên cứu
là 7,87 ± 1,9 ngày, ngắn nhất là 5 ngày và dài nhất
là 19 ngày
IV BÀN LUẬN
Tuổi trung vị trong nghiên cứu của chúng tôi là
54, tuổi trung bình là 41,5, trong đó trường hợp lớn tuổi nhất là 79 tuổi, trẻ nhất là 23, và độ tuổi thường
Trang 16Bệnh viện Trung ương Huế
gặp nhất là 40 – 60 tuổi Tỉ lệ nam/nữ là 1.2/1.0
Qua đó cho thấy đa số u thần kinh nội tiết gan mật
tụy gặp ở độ tuổi trung niên, kết quả nghiên cứu
cũng tương đồng với một số nghiên cứu của các tác
giả khác [2]
Các marker như chromogranin A, polypeptide
tuỵ, neuron-specific enolase huyết thanh và thành
phần hormone glycoprotein được sử dụng để tầm
soát cho những bệnh nhân không có biểu hiện lâm
sàng của sự quá tiết hormone Trong đó marker
quan trọng nhất là chromogranin A, hiện diện trong
80-90% bệnh nhân GEP-NETs, đo chromogranin A
còn dùng để phân giai đoạn, tiên lượng và theo dõi
vì nồng độ trong huyết thanh tương ứng với khối u
Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ có 2 bệnh nhân
insulinoma có làm các xét nghiệm chromogranin A,
polypeptide tuỵ
Chẩn đoán vị trí và sự xâm lấn khối u quyết định
kế hoạch điều trị, các phương tiện hình ảnh thường
dùng là siêu âm bụng, CT, MRI, chụp mạch máu
chọn lọc, chụp xạ hình receptor somatostatin với CT
phát photon đơn (octreoscan), xạ hình xương, siêu
âm qua nội soi và các phương pháp khảo sát trong
mổ khác.Tất cả các bệnh nhân của chúng tôi đều
được chụp CT scan trước mổ 2 trường hợp chụp
MRI do u đoạn cuối ống mật chủ
U thần kinh nội tiết của tụy hiếm.Có thể là u chức
năng hoặc không chức năng, bao gồm insulinoma,
gastrinomas, carcinoids và glucagonomas Tỉ lệ di
căn gan chiếm 80% tổng số u thần kinh nội tiết tụy
Tỉ lệ sống còn sau 5 năm chỉ là 30% nếu không phẫu
thuật so với 60-80% nếu được cắt bỏ u Theo tác giả
Kai Pun Wang năm 2018 [2], u chức năng, có triệu
chứng, kích thước >=2cm nên được phẫu thuật cắt
u Tác giả Kazanjian nằm 2006 [3], nghiên cứu 70
bệnh nhân u thần kinh nội tiết tụy, 20/70 bệnh nhân
là u chức năng, bao gồm insulinoma (16 trường
hợp), glucagonoma (2 trường hợp), gastrinoma (2
trường hợp) Có 50 trường hợp u không chức năng,
trong đó 27 trường hợp carcinoma 27 bệnh nhân
được phẫu thuật cắt khối tá tụy, 32 bệnh nhân cắt tụy
đoạn xa và 11 bệnh nhân bóc u tại chỗ (enucleation)
Bệnh nhân được bóc u tại chỗ có tuổi trung bình là
39 tuổi (so với 51 tuổi ở nhóm không bóc u tại chỗ, p=0,009) và kích thước u nhỏ khoảng 2cm (so với 5cm ở nhóm không bóc u, p=0,001) Biến chứng có
13 bệnh nhân (chiếm 48,1%) sau cắt khối tá tụy, sau cắt tụy xa (4 trường hợp, chiếm 12,5%), không ghi nhận biến chứng sau bóc u tại chỗ Không ghi nhận trường hợp tử vong Thời gian theo dõi trung bình
50 tháng Tỉ lệ sống còn sau 5 năm đạt 77% đối với u carcinoma, và tất cả các bệnh nhân u chức năng đều sống Tình trạng di căn hạch, gan, phổi không ảnh hưởng tới thời gian sống còn sau mổ.U insolinoma nhỏ ở tuỵ cũng có tiên lượng rất tốt (90% là lành tính) và có thể phẫu thuật khoét u là đủ.Trong nghiên cứu của chúng tôi có 14 trường hợp u thần kinh nội tiết nằm ở tụy Trong đó có 2 trường hợp bóc u tụy tại chỗ do insulinoma, 4 trường hợp cắt tụy xa, và 8 trường hợp cắt khối tá tụy
Carcinoma thần kinh nội tiết (neuroendocrine carcinoma – NEC) ở túi mật rất hiếm Tác giả Liu W năm 2019 [5], trong một nghiên cứu 8 trường hợp NEC ở túi mật: đa số bệnh nhân nhập viện với triệu chứng đau hạ sườn phải Có hai trường hợp được phẫu thuật triệt để cắt túi mật kèm cắt gan hạ phân thùy IV, V Một trường hợp hóa trị sau phẫu thuật triệt để và không tái phát sau 25 tháng theo dõi Trường hợp còn lại không hóa trị và tái phát u sau
12 tháng theo dõi Tác giả khuyến cáo carcinoma thần kinh nội tiết ở túi mật giai đoạn T1N0M0, chỉ cần cắt túi mật là đủ U các giai đoạn còn lại nên được điều trị kết hợp đa mô thức Tác giả You
YH tổng kết 31 trường hợp NEC túi mật trong 20 năm (1994-2014) ghi nhận: 18 trường hợp không thể phẫu thuật do u di căn gan, 4 trường hợp điều trị phẫu thuật cắt giảm u, 9 trường hợp phẫu thuật triệt để Xét nghiệm CA19-9 trung bình trước mổ là 74,8±156,1 U/mL Có 7/9 bệnh nhân có giải phẫu bệnh sau mổ là ung thư tế bào biệt hóa kém Thời gian sống trung bình là 10 tháng (7.0-12.0 tháng)
Tỉ lệ tái phát u là 88,9%.Nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 2 trường hợp u thần kinh nội tiết ở túi mật được chẩn đoán Cả 2 trường hợp có chẩn đoán u
Kết quả sớm của phẫu thuật điều trị u thần kinh
Trang 17nghi u ác tính trước mổ, được phẫu thuật cắ túi mật
kèm cắt gan HPT IV, V trong mổ
U thần kinh nội tiết ống mật chủ: theo tác giả
Liang Zang (2018) [4], tỉ lệ carcinoma thần kinh nội
tiết ống mật chủ chỉ chiếm 0,32% tổng số ung thư
đường mật ngoài gan Tác giả nghiên cứu 22 trường
hợp trong độ tuổi trung bình 68 tuổi (32-82 tuổi)
Tỉ lệ Nam: Nữ là 15/7 Nhiễm Clonorchis sinensis
trong 2 trường hợp Đường kính u trung bình 3,1 cm
(0,3-6cm) Triệu chứng chủ yếu là vàng da (18/22
trường hợp), đau bụng (6/22), buồn nôn (5/22), sốt
(2/22) Điều trị phẫu thuật NEC đường mật ngoài
gan chủ yếu dựa vào vị trí u Nếu u đoạn đầu ống
mật chủ, phẫu thuật cắt đường mật kèm cắt thùy
gan, nối mật-ruột kiểu Roux-en-Y được lựa chọn.U
đoạn cuối ống mật chủ được phẫu thuật cắt khối
tá tụy là chủ yếu.Nghiên cứu của chúng tôi có 2
trường hợp u TKNT ở đường mật ngoài gan được
chẩn đoán.Cả 2 đều ở vị trí u đoạn cuối ống mật chủ,
được phẫu thuật cắt khối tá tụy
U thần kinh nội tiết bóng Vater chiếm khoảng
0,3% tổng số u thần kinh nội tiết đường tiêu hóa,
theo tác giả Milanetto AC [6] Điều trị chủ yếu là
khoét u Vater hoặc cắt khối tá tụy Qua nghiên cứu
18 trường hợp u thần kinh nội tiết bóng Vater, tác
giả ghi nhận tỉ lệ Nam/Nữ là 1:1, tuổi trung bình
là 62 tuổi Triệu chứng cơ năng chính là vàng da
(chiếm 22% ) Có 7 trường hợp (39%) được phẫu
thuật khoét u Vater (kích thước trung bình u 1,5cm)
và 11 trường hợp (61%) được phẫu thuật cắt khối tá tụy (kích thước trung bình u 2,4cm) Thời gian phẫu thuật khoét u Vater trung bình là 221 phút, lượng máu mất trung bình là 75ml Thời gian phẫu thuật cắt khối tá tụy trung bình là 506 phút và lượng máu mất trung bình 425 ml Thời gian nằm viện trung bình là 10 ngày Tỉ lệ biến chứng 33%, trong đó có
1 trường hợp rò tụy và 1 trường hợp chảy máu ổ bụng Giải phẫu bệnh sau mổ là u thần kinh nội tiết G2-G3 Có 3 trường hợp ác tính (17%) NEC-G3 Các trường hợp trên được hóa trị sau mổ, với tỉ lệ tái phát u là 31% sau 42 tháng phẫu thuật cắt khối tá tụy R0 Tỉ lệ sống còn sau 5 năm là 66%.Trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 1 trường hợp u bóng Vater
có kết quả giải phẫu bệnh sau mổ là u TKNT, bệnh nhân đã được phẫu thuật cắt khối tá tụy trong mổ
Do cỡ mẫu của chúng tôi ít, nên chưa có điều kiện
để đánh giá kết quả lâu dài sau phẫu thuật cũng như các phương pháp hóa, xạ trị bổ trợ sau mổ khác
V KẾT LUẬN
U thần kinh nội tiết gan mật tụy hiếm gặp, bệnh nhân đến khám chủ yếu khi có triệu chứng hạ đường huyết hoặc đau hạ sườn phải Phẫu thuật điều trị
u thần kinh nội tiết cho kết quả an toàn và tỉ lệ tai biến, biến chứng thấp Các triệu chứng nội tiết về bình thường sau phẫu thuật cắt u
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Chung DC, Modlin IM, Oberg K, et al (2008),
“Gastroenteropancreatic neuroendocrine
tumours”, Lancet Oncol, 9:61–72
2 Kai Pun Wong (2018), “Role of surgery in
pancreatic neuroendocrine tumor”, Gland Surg,
7(1): 36–41
3 Kazanjian KK (2006), “Resection of
pancreat-ic neuroendocrine tumors: results of 70 cases”
Arch Surg., 141(8):765-9; discussion 769-70
4 Liang Zhang (2018),“Neuroendocrine carcinoma
in the extrahepatic biliary tract: A case report
and literature review”, Medicine (Baltimore),
97(29): e11487
5 Liu W (2019), “Neuroendocrine carcinoma
of gallbladder: a case series and literature
re-view”, Gland Surg,24(1):8
6 Milanetto AC (2018), “Ampullary crine neoplasms: surgical experience of a rare and challenging entity”, Langenbecks Arch Surg., 403(5):581-589
neuroendo-7 You YH (2019), “Can surgical treatment
be justified for neuroendocrine carcinoma
of the gallbladder?”Medicine (Baltimore), 98(11)
Trang 18Bệnh viện Trung ương Huế
KIỂM SOÁT CUỐNG GLISSON TỪ NGẢ SAU (TAKASAKI) TRONG PHẪU THUẬT CẮT GAN
TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ
Hồ Văn Linh1
TÓM TẮT
Mục tiêu: Ứng dụng kỹ thuật kiểm soát cuống gan theo Takasaki để cắt gan.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang 31 bệnh nhân được phẫu thuật cắt
gan bằng phương pháp Takasaki tại Bệnh viện Trung ương Huế từ 01/2017 đến 05/2019.
Kết quả: Tuổi trung bình 55 ±11,7 (39 – 73), tỷ lệ nam/nữ là 7,3 Thời gian phẫu thuật trung bình 115 ±
37 phút, lượng máu mất trong phẫu thuật 271 ± 119 (150 – 400ml) Tai biến cắt đứt ống gan chung 1(3,6%)
BN Biến chứng sau phẫu thuật là 7(22,4%) BN Không có tử vong sau phẫu thuật.
Kết luận: Kiểm soát cuống Glisson theo phương pháp Takasaki để cắt gan là an toàn và hiệu quả.
Từ khóa: Cuống Glisson, cắt gan, gan.
ABSTRACT
GLISSONEAL PEDICLE CONTROL FROM POSTERIOR APPROACH (TAKASAKI)
IN HEPATECTOMY AT HUE CENTRAL HOSPITAL
Ho Van Linh 1
Objective: Applying hepatectomyusing Takasaki procedure to control Glissonea pedicle.
Methods: A retrospective study based on 31 patients underwent hepatectomy using Takasaki
proce-dure to control Glissonean pedicle.
Result: The mean age was 55 ± 11.7 (range 39 – 73 years), rate male/female was 7.3 The mean
op-erative time was 115 ± 37 minutes, the mean blood loss was 271 ± 119 ml Surgical complications were 7(22.4%) patients There were no postoperative mortality.
Conclusions: Hepatectomy using Takasaki procedure to control Glissonea pedicle should be
consid-ered as asafe and effective technic.
Key words: Glissonean pedicle, hepatectomy, liver.
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, có nhiều phương pháp điều trị ung thư gan như RFA, TOCE, phẫu thuật phố kết hợp đa mô thức Tuy nhiên, theo y văn thì phẫu thuật cắt gan vẫn là phương pháp điều trị triệt để nhất và có tiên lượng sống thêm sau phẫu thuật tốt nhất
Hai phương pháp phẫu thuật cắt gan theo giải phẫu thường được sử dụng là Lortat– Jacob và Tôn Thất Tùng
1 Bệnh viện TW Huế - Ngày nhận bài (Received): 25/4/2019; Ngày phản biện (Revised): 3/6/2019;
- Ngày đăng bài (Accepted): 17/6/2019
- Người phản hồi (Corresponding author): Hồ Văn Linh
- Email: drlinh2000@yahoo.com; ĐT: 0913465464
Kiểm soát cuống Glisson từ ngả sau
Trang 19Mất máu trong phẫu thuật cắt gan là một trở ngại
lớn cho phẫu thuật viên cũng như việc tiên lượng
kết quả sau phẫu thuật cho người bệnh Nhiều
phương pháp kiểm soát mạch máu được giới thiệu
trong phẫu thuật cắt gan như: Pringle (1908), Henry
Bismuth (1982), Makuchi (1987) Tuy nhiên, kỹ
thuật này gây thiếu máu toàn bộ gan
Takasaki (1986) đề xuất kỹ thuật tiếp cận cuống
Glisson cặp chung cả ba thành phần mà không cần
phẫu tích Kỹ thuật này giúp giảm thiếu máu, hạn chế
tối đa sự thiếu máu của nhu mô gan còn lại, xác định
rõ ranh giới diện cắt và cắt gan theo đúng giải phẫu
Ứng dụng kỹ thuật Takasaki để cắt gan nhanh
chóng được áp dụng rộng rãi tại Nhật Bản và trên
thế giới
Chúng tôi, thực hiện đề tài nhằm mục tiêu:
Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật Takasaki để cắt gan
tại Bệnh viện Trung ương Huế
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Đối tượng nghiên cứu: Gồm 31 bệnh nhân
được cắt gan theo phương pháp Takasaki từ 05/2017
- 05/2019 tại Bệnh viện Trung ương Huế
2.2 Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu, mô tả
cắt gang không đối chứng
2.3 Kỹ thuật tiến hành
Phẫu tích cuống Glisson phải và trái
Cắt túi mật để bộc lộ cửa gan, sau khi mở lớp
phúc mạc ngay vị trí giữa cuống Glisson phải và
trái, dễ dàng bộc lộ và luồn dây qua giữa hai cuống
Glisson Lưu ý, thắt các nhánh nhỏ đi trực tiếp từ
các cuống Glisson vào gan giúp hạn chế chảy máu
Phẫu tích cuống Glisson trước và sau
Cắt bỏ mô liên kết dọc theo cuống Glisson phân
thùy trước, tách cuống này khỏi nhu mô vào sâu
trong gan để bộc lộ mặt trước Phẫu tích vào khe
giữa cuống Glisson phân thùy trước và sau để bộc
lộ mặt sau, luồn dây qua cuống trước, dễ dàng tách
riêng biệt hai cuống Glisson phân thùy trước và sau
Như vậy luôn luôn phẫu tích và kiểm soát được
3 cuống Glisson riêng biệt tại cửa gan Buộc các
cuống Glisson này sẽ xác định được ranh giới các
phân thùy gan và mặt phẳng cắt gan Buộc cuống
Glisson các hạ phân thùy trong trường hợp cắt riêng từng hạ phân thùy Cắt nhu mô gan bằng kelly, buộccác mạch máu nhỏ và đường mật trong gan bằng chỉ silk 3/0 hoặc kẹp bằng clip Diện cắt gan được khâu ép bằng chỉ Vicryl 1/0
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu gồm 31 trường hợp cắt gan có kiểm soát cuống Glisson từ ngả sau, thu được một số kết quả sau đây: Nam chiếm tỉ lệ cao so với nữ, tuổi trung bình 55 ± 11,7 bệnh nhân lớn nhất 73 tuổi và nhỏ nhất 39 tuổi
Bảng 1 Chức năng gan trước phẫu thuật
theo Child - Pugh
Trang 20Bệnh viện Trung ương Huế
Bảng 2 Chỉ định cắt gan
Chỉ định cắt gan lớn tương đối phổ biến
19/31(61,3%)
Bảng 3 Kết quả trong mổ
Thông số trong phẫu thuật Kết quả
Thời gian phẫu thuật (phút) 115 ± 37
Lượng máu mất trong phẫu thuật (ml) 271 ± 119
Lượng máu truyền sau phẫu thuật (ml) 150 ± 56
Tai biến trong phẫu thuật (n, %) 01(3,6%)
Thời gian phẫu thuật trung bình 115 ± 37 (97 -
155 phút), lượng máu mất trong phẫu thuật trung
bình 271 ± 119 (150 - 400 ml), lượng máu truyền
250 ± 56 (200 - 400 ml) Một bệnh nhân cắt mất
đoạn ống gan chung khi phẫu tích kiểm soát cuống
gan phải trong cắt gan phải, sau phẫu thuật ngày thứ
nhất bilirubin tăng và tiếp tục tăng lên từng ngày,
đến ngày thứ 5 thì có biểu hiện vàng mắt, vàng da
Quyết định phẫu thuật lại ngày thứ 11 và phát hiện
tắt mật do mất đoạn ống gan chung Giải quyết bằng
cách nối mật ruột kiểu Roux – en – Y bệnh ổn định
(*) Bệnh nhân tắt mật do cắt ống gan chung được
phát hiện khi phẫu thuật lại Gồm 7/31 (22,4%) BN
có biến chứng sau phẫu thuật Trong đó, suy gan
3/31(9,7%) thường xẩy ra từ ngày thứ 3 trở đi, hồi
phục dần và ổn định sau 2 tuần, abscess tồn dư 4/31
cơ tử vong lên đến 5% [2], [3]
- Nghiên cứu tiếp theo của chúng tôi gồm 31 bệnh nhân được cắt gan thành công theo phương pháp kiểm soát cuống Glisson của Takasaki Tỷ lệ biến chứng chung 7/31(22,4%), không có tử vong sau phẫu thuật Một bệnh nhân có tai biến cắt nhầm ống gan chung khi phẫu tích cuống Glisson phải trong cắt gan phải và được phát hiện sau khi mổ lại vào ngày thứ 11 với biểu hiện bilirubin tăng nhanh, tiếp theo là vàng da, vàng mắt đậm và suy gan; CTscanner bụng phát hiện đường mật trong gan giãn, ống gan chung không khảo sát được
Mổ lại nối mật ruột kiểu Roux - en - Y, bệnh ổn định
và ra viện ngày thứ 27 sau phẫu thuật lần đầu Biến chứng suy gan sau phẫu thuật cũng thường gặp đối với bệnh nhân cắt gan lớn (cắt gan phải hoặc cắt gan trái) có chức năng gan trước mổ tương ứng Child B Tuy vậy, suy gan chỉ thoáng qua từ ngày thứ 3 đến thứ 5 trở đi Kinh nghiệm chúng tôi thường sử dụng plasma, albumin và lợi tiểu cho các trường hợp suy gan sau phẫu thuật, cho thấy đáp ứng và cải thiện triệu chứng và hồi phục hoàn toàn vào ngày 15 - 20
- Ứng dụng kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson của Takasaki để cắt gan theo giải phẫu giúp xác định ranh giới chính xác giữa các phân thùy, hạn chế thiếu máu phần gan còn lại và tránh phát tán tế bào ung thư sang các phân thùy gan kế cận trong lúc phẫu thuật [6]
- Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy sự xâm lấn mạch máu và di căn trong gan theo đường tĩnh mạch cửa là yếu tố tiên lượng độc lập đối với tái phát ung thư và thời gian sống của bệnh nhân Cắt
Kiểm soát cuống Glisson từ ngả sau
Trang 21gan theo giải phẫu cho kết quả sống lâu dài tốt hơn
và hạn chế tái phát so với cắt gan không theo giải
phẫu.Hiệu quả điều trị triệt để khi cắt gan theo giải
phẫu là lấy bỏ hoàn toàn phân thùy hoặc hạ phân
thùy gan và tĩnh mạch cửa tận gốc của phân thùy
hay hạ phân thùy đó Vì vậy, giúp loại bỏ hoàn toàn
các di căn nhỏ trong phân thùy gan khi u xâm lấn
mạch máu giúp hạn chế tái phát [4]
V KẾT LUẬN
Tiếp cận cuống Glisson theo Takasaki là kỹ thuật thực hiện tương đối dễ dàng, cho phép xác định chính xác diện cắt giữa các phân thùy, hạn chế tối
đa sự thiếu máu nhu mô gan còn lại, giảm mất máu
và triệt để hơn về phương diện ung thư
Cần hoàn thiện kỹ thuật, nghiên cứu đánh giá hiệu quả để có thể áp dụng rộng rãi
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trần Công Duy Long, Nguyễn Đức Thuận,
Nguyễn Hoàng Bắc, Lê Tiến Đạt, Đặng Quốc
Việt (2013), Áp dụng kỹ thuật phẫu tích cuống
glisson ngả sau trong cắt gan theo giải phẫu điều
trị ung thư tế bào gan, Tạp chí Y học Thành phố
Hồ Chí Minh, 1(17), tr 48 – 53
2 Masatoshi Kudo (2010), Liver Cancer Working
Group Report, Jpn J Clin Oncol, 40(1), pp 19 - 27.
3 Masakazu Yamamoto, Satoshi Katagiri, Shun-ichi
Ariizumi,Yoshihito Kotera, Yutaka Takahashi
(2012), Glissonean pedicle transection method
for liver surgery (with video), J Hepatobiliary
Pancreat Sci, 19, pp 3–8.
4 Makuuchi M, Hasegawa H, Yamazaki S (1985),
Ultrasonically guided subsegmentectomy, Surg Gynecol Obstet, 161, pp 346–350.
5 Ton That Tung, Nguyen Duong Quang (1963), A
new technique for operating on the liver, Lancet Jan, 26(281), pp 192 – 193.
6 Yamamoto M, Takasaki K, Ohtsubo T, Katsuragawa H, Fukuda C, Katagiri S (2001), Effectiveness of systematized hepatectomy with Glisson’s pedicle transection at the hepatic hilus for small nodular hepatocellular
carcinoma: retrospective analysis, Surgery,
130, pp 443 - 448
Trang 22Bệnh viện Trung ương Huế
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN VỠ GAN TRONG CHẤN THƯƠNG BỤNG KÍN TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ ĐA KHOA NGHỆ AN
Lê Anh Xuân1, Nguyễn Huy Toàn1, Nguyễn Văn Hương1
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị bảo tồn vỡ gan trong chấn thương bụng kín tại Bệnh viện hữu nghị
đa khoa Nghệ An.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả 155 bệnh nhân chấn thương gan
được nhập viện và điều trị bảo tồn từ 10/2014 đến 4/2017.
Kết quả nghiên cứu: 39 nữ ( 25,2%), 116 nam (74,8%); độ tuổi TB: 35 ± 12,8 (10-92) tuổi,90,3%đau
vùng gan chiếm, 94,2% đáp ứng nhanh với hồi sức ban đầu; siêu âm, CT có dịch ổ bụng là 86,5% và 89%;tổn thương phân thùy sau chiếm 55,7%, chấn thương độ III, độ IV bảo tồn kết quả tốt 98,4%, 86,8%, bảo tồn nội khoa thành công chiếm tỷ lệ cao 98,1%.
Kết luận: Điều trị bảo tồn vỡ gan trong chấn thương bụng kín là phương pháp an toàn, hiệu quả, được
thực hiện ở cơ sở y tế có khả năng hồi sức và phẫu thuật gan.
Từ khoá: điều trị bảo tồn, chấn thương gan
ABSTRACT
RESULTS OF NON-OPERATIVE MANAGEMENT FOR BLUNT LIVE TRAUMA
Le Anh Xuan 1 , Nguyen Huy Toan 1 , Nguyen Van Huong 1
Objective: To evaluate the results of non-operative management for blunt live trauma at Nghe An General Friendship hospitl.
Subject and method: A retrospective-descriptive study on 155 patients with blunt liver trauma
hospitalized who were selected initially for non – operative management from 10/2014 to 4/2017 at Nghe
An general friendship hospital
Result: including 116 males and 39 females with the mean age was 35 ±12.8 years (range 10-92
years); 90.3% abdominal pain in the liver; 94.2% respond quickly to initial resuscitation; abdominal fluid
on ultrasound, CT 86.5%, 89%; posterior segment is damaged 55.7%; Grade 3 and 4 had good results 98.4%, 86.8%; Successful rate of non – operative management was 98.1%.
Conclusion: Non-operative management for blunt live trauma is safe, effective and performed in
medical facilities capable of resuscitation and liver surgery
Key words: Non-operative management, Blunt liver trauma.
1 BV Hữu nghị ĐK Nghệ An - Ngày nhận bài (Received): 25/4/2019; Ngày phản biện (Revised): 3/6/2019;
- Ngày đăng bài (Accepted): 17/6/2019
- Người phản hồi (Corresponding author): Nguyễn Huy Toàn
- Email: drhuytoan@yahoo.com; SĐT: 0946 254 777
Đánh giá kết quả điều trị bảo tồn vỡ gan trong chấn thương bụng kín
Trang 23I ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương (CT) gan chiếm tỷ lệ lớn trong CT
bụng kín nói chung, chỉ đứng thứ hai sau CT lách
Ngày nay, CT bụng kín trên thế giới cũng như ở Việt
Nam có xu hướng gia tăng do tốc độ đô thị hóa cùng
sự phát triển của các phương tiện giao thông cũng
như tình hình giao thông phức tạp, tai nạn lao động
và tai nạn sinh hoạt ngày càng nhiều [1]
Nhờ sự phát triển của các phương tiện chẩn
đoán hình ảnh, việc phân loại và đánh giá mức độ
thương tổn lâm sàng - giải phẫu trong CT gan được
chính xác hơn, tạo cơ sở để quyết định các phương
pháp điều trị thích hợp không những cứu sống tính
mạng người bệnh mà còn bảo tồn được gan bị chấn
thương, tránh được những cuộc mổ không cần thiết
nhiều khi làm nặng thêm tình trạng bệnh [2] Tại
khoa Ngoại tổng hợp - Bệnh viện hữu nghị đa khoa
Nghệ An, cũng trong sự phát triển chung, chúng tôi
đã bắt đầu thực hiện việc chọn lọc BN CT gan để
điều trị bảo tồn không mổ tạo nên một bước ngoặt
lớn trong thực hành điều trị
Trước tình hình CT gan ngày càng gia tăng đòi hỏi phải có một chiến lược chẩn đoán, xử trí thích hợp và với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán và kết quả điều trị bảo tồn không
mổ CT gan Chúng tôi thực hiện đề tài với mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị bảo tồn vỡ gan trong chấn thương bụng kín tại Bệnh viện hữu nghị đa khoa Nghệ An tháng 10 năm 2014 đến tháng 4 năm 2017
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu: Gồm 155 BN CT
gan được chẩn đoán và điều trị bảo tồn tại khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện hữu nghị đa khoa Nghệ
An từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 4 năm 2017
2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu hồi cứu mô tả qua hồ sơ bệnh án trên phiếu điều tra có sẵn
- Các chỉ số nghiên cứu: tuổi, giới, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, mức độ thương tổn, kết quả bảo tồn, thời gian nằm viện
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Từ 10/2014-6/2017, chúng tôi có 155 bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn chọn bệnh gồm: Có 39 nữ (25,2%),
116 nam (74,8%), độ tuổi TB: 35 ± 12,8 (10-92) tuổi
(*) Các dấu hiệu thành bụng bao gồm: co cứng thành bụng, phản ứng thành bụng, cảm ứng phúc mạc
Bảng 2: Mức độ thiếu máu và đáp ứng ban đầu
Trang 24Bệnh viện Trung ương Huế
Bảng 3:Mức độ thiếu máu theo xét nghệm công thức máu
Thiếu máu từ nhẹ tới nặng 44,5%
Bảng 4:Các tổn thương phát hiện trên siêu âm ổ bụng
Trang 25Bảng 6: Mức độ chấn thương gan và kết quả điều trị
Bảng 8: Số ngày nằm viện trung bình
Mức độ chấn thương gan Số ngày nằm viện trung bình
Trong nhóm nghiện cứu, nam giới gặp nhiều hơn
với tỷ lệ 74,8%, nữ giới là 25,2%; độ tuổi gặp nhiều
nhất là 16-55 tuổi chiếm 127/155 trường hợp, tuổi
trung bình là 35 ± 12,8 tuối Kết quả này phù hợp
với nhiều nghiên cứu khác: theo Trịnh Hồng Sơn [3],
tỷ lệ nam giới chiếm 85%, tập trung nhiều ở lứa tuổi
20-50 (63,3%); theo Trần Bình Giang [1], tỷ lệ nam/
nữ là 2,8/1, tuổi trung bình là 28,9, đội tuổi 16-45
chiếm 78,7%
CT gan thường có dấu hiệu lâm sàng gợi ý: đau, xây sát, đụng dập thành bụng, phản ứng thành bụng vùng gan, bụng chướng Tuy nhiên chỉ dựa vào dấu hiệu lâm sàng không đủ để khẳng định có CT gan, mức độ tổn thương cũng như các tổn thương phối hợp khác trong ổ bụng nhưng có thể giúp nghĩ đến hoặc loại trừ tổn thương tạng rỗng phối hợp là một chỉ định mổ cấp cứu tuyệt đối
Trong nghiên cứu, có 94,2% đáp ứng nhanh với hồi sức ban đầu, 5,8 % có đáp ứng tạm với hồi sức
Trang 26Bệnh viện Trung ương Huế
ban đầu, không có trường hợp nào không đáp ứng
Tất cả các trường hợp mất máu độ 1 có đáp ứng tốt
với hồi sức ban đầu Các trường hợp mất máu độ 2
tất cả đều có đáp ứng với hồi sức ban đầu, trong đó
25/31 BN (80,6%) đáp ứng tốt Mất máu độ 3 có 3
trường hợp và đều đáp ứng tạm với hồi sức ban đầu,
trong đó có 2/3 BN phải chuyển mổ vì chảy máu
tiếp diễn, huyết động xấu đi
Nghiên cứu cả số phải mổ cấp cứu của Nguyễn
Ngọc Hùng [4] cho thấy nhóm đáp ứng nhanh với
truyền dịch BN không có nguy cơ phải mổ cấp cứu
vì mất máu; nhóm sốc nặng, không đáp ứng với
hồi sức ban đầu 100% phải mổ cấp cứu; nhóm đáp
ứng tạm thời, phải duy trì bù máu, dịch để đảm bảo
huyết động thì 26,7% (8/30 BN) phải mổ cấp cứu
Như vậy, hồi sức ban đầu đóng vai trò rất quan trọng
trong việc quyết định thái độ xử trí
Phát hiện dịch ổ bụng là giá trị lớn nhất của siêu
âm trong CT bụng kín, là dấu hiệu gián tiếp rất quan
trọng vì nhiều khi đó là dấu hiệu duy nhất phát hiện
được Theo Phạm Minh Thông [5], trong CT gan,
lách các dấu hiệu gián tiếp như dịch Douglas có
độ nhạy rất cao 92,9%; dịch dưới hoành, dịch cạnh
rãnh đại tràng tuy độ nhạy không cao nhưng lại có
độ đặc hiệu tuyệt đối; dấu hiệu gián tiếp của CT gan
hay gặp nhất là dịch quanh gan gặp ở 76,9% các
trường hợp, dịch dưới bao gan chỉ gặp trong 19,2%
trường hợp và giá trị chẩn đoán không cao; độ nhạy
chung của các dấu hiệu gián tiếp trong CT gan là
92,3% Theo Federle [6], chẩn đoán dịch ổ bụng
dựa vào CLVT chỉ có 01 trường hợp âm tính giả, 02
trường hợp dương tính giả trên tổng số 300 BN CT
bụng Khác với CT lách, đại đa số (98,6%) có dịch ổ
bụng [5], trong CT gan, nghiên cứu của Federle [6]
có 12/17 trường hợp không có dịch trong ổ bụng
Trong nhóm nghiên cứu, 100% bệnh nhân không
có dịch ổ bụng trên CLVT đều được điều trị bảo tồn không mổ thành công Không có dịch ổ bụng có thể giải thích do tổn thương ở mức độ nhẹ hoặc trung bình, do chụp ở giai đoạn sớm hoặc do tổn thương nhu mô không phá vỡ bao gan
Tỷ lệ bảo tồn không mổ thành công 98,1% (152/155); kết quả tốt đạt 85,5% (148/155) Số biến chứng được can thiệp ít xâm lấn là 4, phải chuyển
mổ là 3; như vậy, tỷ lệ biến chứng là 4,5% (7/155),
tỷ lệ biến chứng phải mổ là 42,9% (3/7) - tỷ lệ này theo nghiên cứu của Kozar [7]20 là 34% Tỷ lệ chuyển mổ (bảo tồn không mổ thất bại) là 1,9% (3/155) trong đó 1,3% do CT gan, 0,6% không do
CT gan; do vậy, nếu chỉ tính số chuyển mổ do gan
là không mổ thất bại thì tỷ lệ tổn thương gan không phải can thiệp phẫu thuật là 98,7% (153/155BN) Không có tử vong trong thời gian nằm viện trong nhóm nghiên cứu
Cho dù biến chứng đa phần xuất hiện ở CT gan nặng thì phần lớn những trường hợp này vẫn không phải can thiệp phẫu thuật Gần đây, sự phát triển của các phương pháp can thiệp ít xâm lấn như can thiệp nội mạch, nội soi can thiệp, dẫn lưu dưới hướng dẫn của siêu âm, CLVT trong điều trị các biến chứng của CT gan và đặc biệt là có sự phối hợp của các biện pháp này khi cần thiết đã giúp BN tránh được những cuộc phẫu thuật khó khăn, nặng
nề và làm tăng tỷ lệ điều trị bảo tồn không mổ CT gan [8]
Trong nghiên cứu này, 2 BN có khối máu tụ lớn dưới bao gan phải, được điều trị dẫn lưu dưới hướng dẫn siêu âm sau 20 ngày nhập viện, BN được lưu dẫn lưu, kiểm tra lại sau 3 tuần và rút dẫn lưu; 2 BN
có ổ tụ dịch mật được điều trị bằng kháng sinh, lâm sàng ổn định, kiểm tra lại sau 1 tháng không còn thấy ổ tụ dịch mật
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trần Bình Giang và các cộng sự (2006), “Chỉ
định và kết quả bước đầu điều trị bảo tồn không
mổ chấn thương gan tại Bệnh viện Việt Đức
2004-2005”, Tạp chí Ngoại khoa, 56, tr 97-104
2 Trần Bình Giang (2013), Chấn thương gan, Nhà
xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội
Đánh giá kết quả điều trị bảo tồn vỡ gan trong chấn thương bụng kín
Trang 273 Trịnh Hồng Sơn và các cộng sự (1996), “Chấn
thương và vết thương gan: phân loại mức độ tổn
thương, chẩn đoán và điều trị”, Y học thực hành,
1, tr 40-46
4 Nguyễn Ngọc Hùng, Lê Nhật Huy và Trần Bình
Giang (2012), “Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ
trong chỉ định và điều trị không mổ chấn thương
gan”, Tạp chí Ngoại khoa, 61(1-2-3), tr 85-94.
5 Phạm Minh Thông (1998), Nghiên cứu giá trị
siêu âm trong chẩn đoán vỡ gan, lách do chấn
thương, Luận án Tiến sỹ Y học, Trường Đại học
Y Hà Nội, Hà Nội
6 M P Federle and R B Jeffrey, Jr (1983), moperitoneum studied by computed tomogra- phy”, Radiology 148(1), pp 187-92.
“He-7 R A Kozar et al (2006), “Risk factors for patic morbidity following nonoperative man- agement: multicenter study”, Arch Surg 141(5),
he-pp 451-8; discussion 458-9
8 Croce MA et al (1995), Nonoperative ment of blunt hepatic truuma is of choice for he- modynamically stable patien Result prospective trial Ann Surg 212(2), pp744-755.
Trang 28manage-Bệnh viện Trung ương Huế
KẾT QUẢ GẦN PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT THÙY GAN TRÁI ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN
TẠI KHOA NGOẠI GAN MẬT TỤY BỆNH VIỆN K
Phạm Thế Anh1, Nguyễn Kiều Hưng1, Nguyễn Trường Giang1,
Nghiêm Thanh Hà1, Phạm Bá Đức1
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Phẫu thuật nội soi cắt gan thường được chỉ định cho những khối u gan ở vị trí dễ tiếp cận
bằng nội soi (thùy gan trái, gan trái,…), kích thước u không quá lớn,…Tính khả thi, an toàn còn phụ thuộc vào trang thiết bị hỗ trợ, trình độ phẫu thuật viên.
Mục tiêu: Đánh giá kết quả gần phẫu thuật cắt thùy gan trái nội soi điều trị ung thư biểu mô tế bào gan Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu gồm 13 bệnh nhân
được chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan thùy gan trái, được tiến hành cắt thùy gan trái nội soi tại Khoa Ngoại Gan Mật Tụy – Bệnh viện K trong thời gian từ 8/2018 – 4/2019.
Kết quả: Tỉ lệ nam:nữ là≈ 5,49:1 Tuổi trung bình là 58,46 ± 8,67 tuổi (38 – 77 tuổi) 30,8% trường hợp
có nhiễm virus viêm gan B 46,2% trường hợp nghiện rượu 100% trường hợp có điểm Child – Pugh A Tỉ
lệ cắt thùy gan trái nội soi thành công là 100% Không ghi nhận tai biến trong phẫu thuật Thời gian phẫu thuật trung bình là 163,08 ± 14,94 phút (140 – 180 phút) Không có trường hợp nào cần truyền máu trong phẫu thuật Không ghi nhận biến chứng sau phẫu thuật Thời gian nằm viện trung bình sau phẫu thuật là 7,54 ±1,15 ngày (6 – 10 ngày) Không có trường hợp tử vong trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật.
Kết luận: Phẫu thuật nội soi cắt thùy gan trái điều trị ung thư biểu mô tế bào gan là một phẫu thuật đơn
giản, an toàn, có tính khả thi cao với nguy cơ tai biến, biến chứng thấp, hồi phục nhanh sau phẫu thuật và thời gian nằm viện ngắn.
Từ khóa: Ung thư biểu mô tế bào gan, phẫu thuật nội soi, cắt thùy gan trái.
ABSTRACT
SHORT-TERM OUTCOMES OF LAPAROSCOPIC LEFT LATERAL SECTIONECTOMY FOR HEPATOCELLULAR CARCINOMA TREATMENT IN DEPARTMENT OF
HEPATOBILIARY AND PANCREATIC SURGERY – NATIONAL CANCER HOSPITAL
Pham The Anh 1 , Nguyen Kieu Hung 1 , Nguyen Truong Giang 1 ,
Nghiem Thanh Ha 1 , Pham Ba Duc 1
Background: Laparoscopic left lateral sectionectomy (LLLS) is often indicated for liver tumors which
locate in easily accessible locations (left lateral section, left lobe, ), with small sizes, Feasibility , safety also depends on surgeon skills, equipments.
Objectives: Evaluate short-term outcomes of LLLS to treat hepatocellular carcinoma.
1 Bệnh viện K Hà Nội - Ngày nhận bài (Received): 25/4/2019; Ngày phản biện (Revised): 3/6/2019;
- Ngày đăng bài (Accepted): 17/6/2019
- Người phản hồi (Corresponding author): Phạm Thế Anh
- Email:theanhvietduc@gmail.com; SĐT: 0912118212
Kết quả gần phẫu thuật nội soi cắt thùy gan trái
Trang 29I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư biểu mô tế bào gan là bệnh lý ác tính
phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới Bệnh có
liên quan đến tình trạng nhiễm virus viêm gan B,
C, nghiện rượu,…với tỉ lệ tử vong cao Có nhiều
phương pháp điều trị nhưng phẫu thuật cắt gan vẫn
là phương pháp cơ bản và quan trọng nhất Cùng
với sự tiến bộ của y học, các phương tiện hỗ trợ,
phẫu thuật nội soi cắt gan đang ngày càng trở nên
phổ biến và đem lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân
(giảm đau sau phẫu thuật, rút ngắn thời gian nằm
viện, thẩm mỹ,…) trong khi nguy cơ tai biến, biến
chứng không có sự khác biệt so với phẫu thuật mở
Phẫu thuật nội soi cắt gan thường được chỉ định cho
những khối u gan ở vị trí dễ tiếp cận bằng nội soi
(gan trái, thùy gan trái,…), kích thước không quá
lớn,…và đang dần trở thành xu hướng trong điều trị
phẫu thuật ung thư biểu mô tế bào gan
Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài này với 2 mục tiêu:
1 Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm
sàng của bệnh nhân cắt thùy gan trái nội soi do ung
thư biểu mô tế bào gan
2 Đánh giá kết quả gần phẫu thuật cắt thùy gan
trái nội soi điều trị ung thư biểu mô tế bào gan
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu: Từ tháng 8/2018
đến 4/2019, có 13 bệnh nhân được phẫu thuật cắt thùy gan trái nội soi điều trị ung thư biểu mô tế bào gan được đưa vào nhóm nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
* Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang tiến cứu.
* Kỹ thuật cắt thùy gan trái nội soi
- Bệnh nhân nằm ngửa Phẫu thuật viên đứng bên phải bệnh nhân Phụ 1 đứng cùng bên phẫu thuật viên và cầm Camera Phụ 2 đứng bên đối diện
- Đặt Trocar: thường đặt 4 - 5 trocar bao gồm
1 trocar 11mm tại rốn dùng đặt Camera, 1 trocar 12mm mạn sườn phải ngang rốn dùng để đưa Stapler, dao CUSA nội soi 1 trocar 5mm dưới sườn phải, 1 trocar 5mm dưới sườn trái và 1 trocar 5mm mạn sườn phải dưới rốn (trocar thứ 5 này được đặt
ở 8 bệnh nhân gần nhất, dùng để kẹp cuống Glisson toàn bộ từ ngoài vào bằng Pince Kelly)
- Bơm hơi ổ bụng: áp lực ổ bụng được theo dõi bằng máy và duy trì ở mức < 12mmHg, tốc độ bơm 2,5 lít/phút
- Kiểm soát cuống gan: làm thủ thuật Pringle để kiểm soát cuống gan toàn bộ Mở mạc nối nhỏ, luồn sonde Nelaton vòng qua mặt dưới cuống gan từ lỗ
mở mạc nối nhỏ sang khe Winslow Luồn sonde Nelaton vào ống nhựa được cắt ngắn từ sonde dẫn lưu silicone cỡ 14CH Thít sonde Nelaton sau khi
đã luồn qua sonde silicone để kẹp cuống gan Có 2
kỹ thuật đã được chúng tôi áp dụng để kẹp cuống toàn bộ Với 5 bệnh nhân đầu tiên, chúng tôi dùng
Subjects and methods: A prospective cross-sectional study, including 13 patients who diagnosed with
hepatocellular carcinoma in left lateral section of the liver, was indicated LLLS in Department of Hepatobiliary and Pancreatic Surgery – National Cancer Hospital from 8/2018 to 4/2019.
Results: Sex ratio was 5.49: 1 Mean age was 58.46 ± 8.67 years old (38 - 77 years old) 30.8% patients
had got hepatitis B virus 46.2% patients had got alcoholism 100% patients had Child - Pugh A The successful rate of LLLS was 100% No complications inside operations Mean operation time is 163.08 ± 14.94 minutes (140 - 180 minutes) No patients need blood transfusion during operations No complications postoperation Mean length of hospital stay postoperation was 7.54 ± 1.15 days (6-10 days) No death within 30 days postoperation.
Conclusions: LLLS for hepatocellular carcinoma treatment is a simple, safe, highly feasible surgery
with low risk of complications, rapid postoperative recovery and a short hospital stay.
Keywords: Hepatocellular carcinoma, laparoscopic surgery, left lateral sectionectomy.
Trang 30Bệnh viện Trung ương Huế
Hemolock kẹp vào sonde Nelaton sau khi đã thít
chặt sonde này với sự đối lực của đoạn ống sonde
plastic kể trên Với 8 bệnh nhân gần nhất, chúng tôi
dùng pince Kelly kẹp và giữ để kiểm soát cuống gan
toàn bộ từ ngoài vào qua trocar thứ 5 đặt thêm (loại
5mm) Chúng tôi kẹp cuống gan liên tục trong thời
gian 15 phút sau đó bỏ kẹp trong 5 phút rồi kẹp lại
bất cứ khi nào thầy cần thiết
- Di động gan trái: cắt các dây chằng liềm, dây
chằng vành trái để di động gan trái
- Cắt nhu mô gan: dùng dao Ligasure, CUSA nội
soi, clip Titan, Hemolock để cắt nhu mô gan, kiểm
soát chảy máu, chảy mật Cuống Glisson bên trái và
tĩnh mạch gan trái được cắt bằng 2 Stapler Kiểm tra
cầm máu diện cắt gan bằng dao điện, Bipolar Phủ
diện cắt bằng Surgicel
- Đặt 1 dẫn lưu hố lách
- Lấy bệnh phẩm qua đường mở rộng lỗ trocar rốn
- Đóng bụng theo lớp giải phẫu
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Tỉ lệ nam:nữ≈ 5,49:1
3.2 Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là
58,46 ± 8,67 tuổi (38 – 77 tuổi)
3.3 Tiền sử bệnh lý trước phẫu thuật
Tình trạng nhiễm virus viêm gan
Tình trạng viêm gan virus n %
3.4 Chức năng gan trước phẫu thuật
100% bệnh nhân có chức năng gan trước phẫu
thuật là Child – Pugh A (5 – 6 điểm)
3.5 Số lượng u trên CT Scanner
Cả hạ phân thùy II và III 7 53,8
3.7 Kích thước u trung bình trên CT Scanner
Kích thước u gan trung bình trên CT Scanner của nhóm nghiên cứu là 51,6 ± 26,7 mm (19 – 98 mm)
3.8 Số lượng trocar đặt trong phẫu thuật
- Tai biến trong phẫu thuật: Không có tai biến trong phẫu thuật
- Biến chứng sau phẫu thuật: Không có biến chứng sau phẫu thuật
- Tỉ lệ thành công của phẫu thuật cắt gan nội soi: 100% bệnh nhân được cắt thùy gan trái qua phẫu thuật nội soi hoàn toàn
- Thời gian nằm viện trung bình sau phẫu thuật là: 7,54 ±1,15 ngày (6 – 10 ngày)
- Không có trường hợp tử vong trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật
IV BÀN LUẬN 4.1 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
Tỉ lệ nam:nữ của nhóm nghiên cứu là ≈ 5,49:1 Kết quả này tương tự một số nghiên cứu cho thấy nam giới gặp nhiều hơn nữ, có thể do liên quan đến
Kết quả gần phẫu thuật nội soi cắt thùy gan trái
Trang 31tình trạng uống rượu ở nam giới bên cạnh tình trạng
nhiễm virus viêm gan B hoặc C[1]
Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 58,46 ±
8,67 tuổi (38 – 77 tuổi) Kết quả này tương tự các
nghiên cứu khác trong và ngoài nước cho thấy độ
tuổi hay gặp là 50 – 60 tuổi [2], [3], [4], [5], [6]
Tiền sử viêm gan B là 30,8%, không có bệnh
nhân nào viêm gan C Có 46,2% nghiện rượu nhiều
năm Kết quả này tương tự một số nghiên cứu trong
và ngoài nước cho thấy ung thư biểu mô tế bào gan
có liên quan đến tình trạng nhiễm virus viêm gan B,
C và tình trạng nghiện rượu [5], [6]
100% bệnh nhân có chức năng gan trước phẫu
thuật là Child – Pugh A (5 – 6 điểm) Kết quả này
tương tự hầu hết các nghiên cứu trong và ngoài
nước khi các bệnh nhân được chỉ định cắt gan nội
soi có chức năng gan còn tốt[6]
84,6% trường hợp có khối u đơn độc ở thùy trái
15,4% trường hợp có 2 khối u ở thùy trái 53,8%
trường hợp khối u nằm ở cả hạ phân thùy II và III
Khối u chỉ khu trú ở hạ phân thùy II trong 30,8%
trường hợp, chỉ khu trú ở hạ phân thùy III ở 15,4%
trường hợp Kết quả này tương tự nhiều nghiên cứu
cho thấy có thể có 1 hoặc nhiều khối u khu trú ở
thùy gan trái, u có thể nằm ở hạ phân thùy II hoặc
III hoặc cả thùy gan trái [7]
Kích thước u gan trung bình trên CT Scanner của
nhóm nghiên cứu là 51,6 ± 26,7 mm (19 – 98 mm)
Trường hợp khối u có kích thước lớn nhất trong
nghiên cứu của chúng tôi là 98mm nhưng may mắn
khối u chỉ khu trú ở thùy gan trái, tiên lượng có
thể cắt được qua nội soi 61,5% bệnh nhân trong
nghiên cứu của chúng tôi có u nhỏ dưới 50mm Kết
quả này tương tự một số nghiên cứu cho thấy kích
thước khối u phù hợp cho phẫu thuật nội soi nên
dưới 50mm Tuy nhiên trong một số trường hợp khi
u phát triển chủ yếu sang bên trái của thùy gan trái
thì vẫn có thể xem xét chỉ định cắt qua nội soi [2],
[8], [7], [4]
61,5% trường hợp được đặt 5 trocar trong phẫu
thuật 38,5% trường hợp được đặt 4 trocar trong
phẫu thuật Số lượng trocar được đặt tùy thuộc kinh nghiệm phẫu thuật viên nhưng hầu hết nghiên cứu cho thấy đặt 3 – 5 trocar là đủ để thực hiện phẫu thuật nội soi thành công[2]
4.2 Đặc điểm trong phẫu thuật và kết quả gần
của phẫu thuật nội soi cắt thùy gan tráiThời gian phẫu thuật trung bình là 163,08 ± 14,94 phút (140 – 180 phút) Nhiều nghiên cứu
đã cho thấy thời gian phẫu thuật nội soi cắt thùy gan trái kéo dài hơn so với phẫu thuật mở nhưng được cải thiện dần theo thời gian cùng với kinh nghiệm của phẫu thuật viên, trang thiết bị hỗ trợ,… [9], [10], [11], [12], [13], [14], [15]
Truyền máu trong phẫu thuật: nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có bệnh nhân nào phải truyền máu trong phẫu thuật Kết quả này tương tự một số nghiên cứu cho thấy phẫu thuật nội soi cắt thùy gan trái tương đối an toàn, mất máu trong phẫu thuật ít và thường không cần truyền máu [16], [2], [10], [17], [5]
Tai biến trong phẫu thuật: nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có tai biến trong phẫu thuật Có thể do cỡ mẫu của chúng tôi còn nhỏ nên chưa gặp nhưng hầu hết nghiên cứu đều chỉ ra tỉ lệ tai biến trong phẫu thuật nội soi cắt thùy gan trái thấp Theo một số nghiên cứu cho thấy một số tai biến có thể gặp trong phẫu thuật như chảy máu do thủng tạng lân cận
do đốt điện (túi mật, đại tràng,…), rách tĩnh mạch gan,… Các tai biến này thường được xử trí dễ dàng bằng việc khâu lại tổn thương hoặc chuyển mổ mở nhưng tỉ lệ tai biến thấp Chứng tỏ đây là một phẫu thuật có tính an toàn cao [16], [10], [17]
Biến chứng sau phẫu thuật: nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có biến chứng sau phẫu thuật Kết quả này tương tự một số nghiên cứu cho thấy tỉ lệ biến chứng sau phẫu thuật nội soi cắt thùy gan trái thấp và thường điều trị bảo tồn ổn định [16], [10] Như vậy, phẫu thuật nội soi cắt thùy gan trái là phẫu thuật có tính an toàn và hiệu quả cao
100% bệnh nhân được cắt thùy gan trái qua nội soi hoàn toàn Không có trường hợp phải chuyển
Trang 32Bệnh viện Trung ương Huế
sang phẫu thuật mở Kết quả này tương tự nhiều
nghiên cứu cho thấy tỉ lệ phẫu thuật nội soi thành
công rất cao từ trên 95% đến 100%[6]
Thời gian nằm viện trung bình sau phẫu thuật
là 7,54 ±1,15 ngày (6 – 10 ngày) Thời gian nằm
viện sau phẫu thuật nội soi cắt thùy gan trái thay
đổi tùy từng nghiên cứu Một số nghiên cứu cho kết
quả tương tự [16],[2], hoặc ngắn hơn[9], [18], [7],
[10], [19], [11], [14], [5], [6], hoặc dài hơn[4] so với
nghiên cứu của chúng tôi Nhưng hầu hết các nghiên
cứu đều cho thấy thời gian nằm viện sau phẫu thuật
nội soi cắt thùy gan trái thường không kéo dài quá 7
ngày và khi so sánh với phẫu thuật mở cho thấy thời
gian nằm viện sau phẫu thuật của nhóm phẫu thuật
nội soi ngắn hơn so với nhóm phẫu thuật mở [12],
[13], [3], [4], [15]
Không có trường hợp tử vong trong vòng 30
ngày sau phẫu thuật Kết quả này tương tự hầu hết
các nghiên cứu cho thấy biến chứng tử vong liên quan đến phẫu thuật nội soi cắt thùy gan trái rất thấp [2], [17], [15], [6]
V KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 13 bệnh nhân được phẫu thuật cắt thùy gan trái nội soi điều trị ung thư biểu mô tế bào gan, chúng tôi nhận thấy tỉ lệ thành công của phẫu thuật nội soi cắt thùy gan trái là 100% Không có tai biến trong phẫu thuật cũng như biến chứng sau phẫu thuật Thời gian phẫu thuật trung bình là 163,08 phút Không có trường hợp nào cần truyền máu trong phẫu thuật do mất máu Thời gian nằm viện trung bình là 7,54 ngày Như vậy, phẫu thuật nội soi cắt thùy gan trái điều trị ung thư biểu mô tế bào gan là một phẫu thuật an toàn, tỉ lệ thành công cao, rút ngắn thời gian nằm viện sau phẫu thuật so với phẫu thuật mở và có thể áp dụng rộng rãi và thường quy
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Im, C., et al., Laparoscopic left lateral
sectionectomy in patients with histologically
confirmed cirrhosis Surg Oncol, 2016 25(3):
132-8
2 Chang, S., et al., Laparoscopy as a routine
approach for left lateral sectionectomy Br J
Surg, 2007 94(1): 58-63
3 Kim, J.K., et al., Robotic versus laparoscopic
left lateral sectionectomy of liver Surg Endosc,
2016 30(11): 4756-4764
4 Lesurtel, M., et al., Laparoscopic versus open
left lateral hepatic lobectomy: a case-control
study J Am Coll Surg, 2003 196(2): 236-42.
5 Troisi, R.I., Van Huysse, J., Berrevoet, F.,
Van-denbossche, B., Sainz-Barriga, M., Vinci, A.,
de Hemptinne, B, Evolution of laparoscopic
left lateral sectionectomy without the Pringle
maneuver: through resection of benign and
ma-lignant tumors to living liver donation Surgical
endoscopy, 2010 25(1), 79–87 doi:10.1007/
s00464-010-1133-8
6 Nguyễn Hoàng Bắc, T.C.D.L.v.c.s., Vai trò của phẫu thuật nội soi cắt thùy gan trái điều trị ung thư biểu mô tế bào gan Bệnh viện Đại học Y
Dược TPHCM, 2012
7 Herrero Fonollosa, E., et al., Laparoscopic left lateral sectionectomy Presentation of our technique Cir Esp, 2011 89(10): 650-6.
8 Lee, C.W., et al., Stapleless laparoscopic left lateral sectionectomy for hepatocellular carcinoma: reappraisal of the Louisville statement by a young liver surgeon BMC
Gastroenterol, 2018 18(1): 178
9 Abu Hilal, M and N.W Pearce, Laparoscopic left lateral liver sectionectomy: a safe, efficient, reproducible technique Dig Surg, 2008 25(4):
305-8
10 Linden, B.C., A Humar, and T.D Sielaff,
Laparoscopic stapled left lateral segment liver resection technique and results J Gastrointest
Surg, 2003 7(6): 777-82
11 Rao, A., G Rao, and I Ahmed, Laparoscopic
Kết quả gần phẫu thuật nội soi cắt thùy gan trái
Trang 33left lateral liver resection should be a standard
operation Surg Endosc, 2011 25(5): 1603-10.
12 Abu Hilal, M., et al., Laparoscopic versus open
left lateral hepatic sectionectomy: A comparative
study Eur J Surg Oncol, 2008 34(12): 1285-8.
13 Aldrighetti, L., et al., A prospective evaluation
of laparoscopic versus open left lateral hepatic
sectionectomy J Gastrointest Surg, 2008 12(3):
457-62
14 Goh, B.K., Chan, C Y., Lee, S Y., Lee, V T.,
Cheow, P C., Chow, P K., … Chung, A Y ,
Laparoscopic Liver Resection for Tumors in
the Left Lateral Liver Section JSLS : Journal
of the Society of Laparoendoscopic Surgeons,,
2016 20(1), e2015.00112 doi:10.4293/
JSLS.2015.00112
15 Carswell, K.A., Sagias, F G., Murgatroyd, B.,
Rela, M., Heaton, N., & Patel, A G , Laparoscopic
versus open left lateral segmentectomy BMC
surgery, 2009 9, 14 14
doi:10.1186/1471-2482-9-16 Belli, G., et al., Laparoscopic left lateral hepatic lobectomy: a safer and faster technique J
Hepatobiliary Pancreat Surg, 2006 13(2):
149-54
17 Maker, A.V., W Jamal, and B Gayet, Video: totally laparoscopic left lateral segmentectomy for hepatic malignancies: a modified technique
J Gastrointest Surg, 2011 15(9): 1650.
18 Gautier, S., et al., Laparoscopic left lateral section procurement in living liver donors: A single center propensity score-matched study
Clin Transplant, 2018 32(9): e13374
19 Liu, Z., et al., Laparoscopic left lateral hepatic sectionectomy was expected to be the standard for the treatment of left hepatic lobe lesions:
A meta-analysis Medicine (Baltimore), 2018
97(7): e9835
Trang 34Bệnh viện Trung ương Huế
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT CẮT GAN ĐIỀU TRỊ UNG THƯ GAN TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ ĐA KHOA NGHỆ AN
Nguyễn Huy Toàn1,Nguyễn Văn Hương1,
Lê Anh Xuân1, Hà Văn Quyết1
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật cắt gan điều trị ung thư gan tại Bệnh viện Hữu nghị Đa
khoa Nghệ An
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả 60 bệnh nhân được phẫu thuật
cắt gan điều trị ung thư gan tại Bệnh viện HNĐK Nghệ An từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 6 năm 2018
Kết quả: Nam (81,7%), nữ (18,3%), độ tuổi trung bình 62,5, viêm gan B đơn thuần chiếm 68,3% Xơ gan Child A chiếm 93,3%, 45,1% bệnh nhân có AFP > 400 ng/ml, 51,7% khối u > 5 cm, U ở giai đoạn trung gian chiếm 58,3%, cắt gan lớn chiếm 31,7%, báng kéo dài và tràn dịch màng phổi là 2 biến chứng thường gặp chiếm 23,3 % và 10% Thời gian phẫu thuật trung bình là 153,5 phút (55 – 230) Thời gian hậu phẫu trung bình 8,3 ngày (7-15).
Kết luận: Phẫu thuật cắt gan điều trị ung thư gan là kỹ thuật an toàn, bước đầu cho kết quả tốt.
Từ khóa: Ung thư gan, cắt gan.
ABSTRACT
TO EVALUATE THE EARLY RESULTS OF HEPATECTOMY IN TREATMENT LIVER
CANCER AT NGHE AN GENERAL FRIENDSHIP HOSPITAL
Nguyen Huy Toan 1 , Nguyen Van Huong 1 ,
Le Anh Xuan 1 , Ha Van Quyet 1
Objective: To evaluate the early results of hepatectomy in treatment liver cancer at Nghe An general
friendship hospital
Subject and method: A retrospective-descriptive study on 60 patients with liver cancer were operated
from January 2016 to June 2018
Result: Male (81.7%)- Female (18.3%), The mean age was 62.5, B hepatitis 68.3%, Child Pugh Class
A 93.3%, AFP > 400 ng/ml 45.1%, 51.7% of patients has tumor size > 5cm, tumor in theintermediate stage 58.3%, major hepatectomy 31.7%, prolonged ascites and pleural effusion are common complications 23.3%, 10% The mean operative time was 153.5 minutes (55-230).The mean postoperative time was 8.3 days (7-15).
Conclusion: Hepatectomy in treatment liver cancer is safe, effective proceducre with intial promising
result.
Key words: Liver cancer, hepatectomy.
1 BV Hữu nghị ĐK Nghệ An - Ngày nhận bài (Received): 25/4/2019; Ngày phản biện (Revised): 3/6/2019; - Ngày đăng bài (Accepted): 17/6/2019
- Người phản hồi (Corresponding author): Nguyễn Huy Toàn
- Email: drhuytoan@yahoo.com; SĐT: 0946 254 777
Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật cắt gan điều trị ung thư gan
Trang 35I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư gan nguyên phát mà chủ yếu ung thư
biểu mô tế bào gan là một bệnh ác tính phổ biến ở
Việt Nam và trên thế giới Theo thống kê của Tổ
chức Y tế thế giới (Globocan 2012) ước tính có
khoảng 782.000 trường hợp ung thư mới mỗi năm
trên toàn cầu Đây là loại ung thư phổ biến thứ 5 ở
nam giới và thứ 9 ở nữ giới[1] Hiện nay, có nhiều
phương pháp điều trị ung thư tế bào gan được áp
dụng như: phẫu thuật cắt gan, ghép gan, đốt nhiệt
cao tần, tiêm cồn qua da, các phương pháp điều trị
tắc mạch…Tuy nhiên, phẫu thuật cắt gan vẫn được
đánh giá là phương pháp điều trị cơ bản và hiệu quả
nhất Phẫu thuật được dựa vào các nguyên tắc: phải
loại bỏ được hoàn toàn khối u ra khỏi cơ thể, đảm
bảo được chức năng gan sau phẫu thuật, hạn chế tối
đa sự mất máu cũng như tổn thương các thành phần
xung quanh gan Việc tuân thủ các nguyên tắc đó
cũng sẽ giúp hạn chế, ngăn ngừa các tai biến và biến
chứng [2] Các biến chứng như áp xe gan, rò mật,
nhiễm trùng trong ổ bụng ít gặp hơn, nhưng suy
gan, chảy máu sau mổ, tái phát sớm vẫn còn tồn tại
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với mục tiêu:
Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật cắt gan điều
trị ung thư gan tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa
Nghệ An từ tháng 1/2016 đến hết tháng 6/2018.
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm 60 bệnh nhân được phẫu thuật cắt gan
điều trị ung thư gan tại Bệnh viện HNĐK Nghệ An
từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 6 năm 2018
Tiêu chuẩn lựa chọn: các bệnh nhân được phẫu
thuật cắt gan điều trị các bệnh lý ung gan như ung
thư biểu mô tế bào gan, ung thư biểu mô đường mật
trong gan
2.1 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu hồi cứu mô tả qua hồ sơ bệnh án
trên phiếu điều tra có sẵn
- Các chỉ số nghiên cứu: tuổi, giới, đặc điểm lâm
sàng, viêm gan, xơ gan, ghi nhận kết quả phẫu thuật, loại cắt gan, thời gian mổ, thời gian nằm viện
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung
3.1.1 Tuổi và giới
Từ 01/2016- 6/2018, 60 bệnh nhân ung thư gan thoả mãn tiêu chuẩn chọn bệnh được phẫu thuật cắt
bỏ u gan, gồm 49 nam (81,7%), 11 nữ (18,3%); độ tuổi trung bình 62,5 (36 – 84 tuổi)
Số bệnh nhân có chỉ số khối gầy và bình thường chiếm tỷ lệ cao nhất 86,7%
3.2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, khối u
3.2.1 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
Bảng 3.2: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng n % Triệu chứng lâm sàng
Trang 36Bệnh viện Trung ương Huế
Triệu chứng lâm sàng: sút cân chiếm tỷ lệ cao nhất
3.2.3 Giai đoạn theo BCLC
Bảng 3.4: Giai đoạn theo BCLC
3.3 Kết quả phẫu thuật
3.3.1 Loại phẫu thuật
Bảng 3.5: Loại phẫu thuật
3.3.2 Tai biến trong mổ
Bảng 3.6: Tai biến trong mổ
3.3.3 Kết quả giải phẫu bệnh
Bảng 3.7: Giải phẫu bệnh sau mổ
Có 96,7% kết quả GPB là carcinoma tế bào gan trong đó 20% biệt hoá cao, 76,7% biệt hoá vừa, không có biệt hoá kém
% và 10%, Có 1 bệnh nhân sau mổ suy gan cấp
3.3.5 Thời gian phẫu thuật, hậu phẫu, số bệnh nhân truyền máu
Thời gian phẫu thuật trung bình là 153,5 phút, ngắn nhất là 55 phút, dài nhất là 230 phút
Thời gian hậu phẫu trung bình 8,3 ngày ngắn nhất 7 ngày, dài nhất 15 ngày
Số lượng bệnh nhân phải truyền máu trong và/ hoặc sau mổ là 22, trong đó bệnh nhân u gan vỡ là 16
Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật cắt gan điều trị ung thư gan
Trang 37IV BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 60 BN được
đưa vào nghiên cứu với độ tuổi trung bình là 62,5
tuổi, trẻ nhất là 36 tuổi, già nhất là 84 tuổi, tập trung
chủ yếu ở nhóm tuổi trung niên từ 41-60 với tổng tỉ
lệ 58,3 % trong đó lứa tuổi 51-60 chiếm ưu thế với
tỉ lệ 28,3%
Các số liệu tương đối phù hợp với một số NC
trong nước, Ninh Việt Khải (2018) nghiên cứu trên
72 BN ung thư gan cho thấy độ tuổi trung bình là
52,3 trong đó độ tuổi trung niên 41 – 60 tuổi chiếm
ưu thế với tỉ lệ là 58,3%[3]
Cân nặng là chỉ số thường được quan tâm hơn,
đặc biệt trong cắt gan lớn nhằm xác định tỉ lệ giữa
thể tích gan còn lại với trọng lượng cơ thể Dựa vào
chiều cao và cân nặng sẽ tính được chỉ số khối cơ
thể (BMI), trong nghiên cứu của chúng tôi BMI 18-
24,9 có 34 BN chiếm 56,8%, BMI từ 25 - 30 (quá
cân) có 6 BN chiếm 16,7%, có 2 BN béo phì (BMI >
30) Luca Viganó cho rằng tỉ lệ biến chứng nhẹ như
nhiễm trùng vết mổ sau mổ cắt gan ở BN béo phì
cao hơn BN không béo phì, biến chứng nặng không
liên quan đến BMI [4]
Trong NC của chúng tôi có 68,3% nhiễm virus
viêm gan B, có 3 bệnh nhân nhiễm virus viêm gan C
chiếm tỷ lệ 5% và có 1 bệnh nhân đồng nhiễm cả 2
virus B-C Nhiễm virus viêm gan mạn tính từ lâu đã
được biết đến như là một trong những yếu tố nguy
cơ chính của UBTG Theo một số tác giả, virus
viêm gan B có liên quan trong 50-80% các trường
hợp UBTG trên toàn thế giới trong khi 10-25% số
trường hợp có liên quan tới nhiễm virus viêm gan
C [5]
Hiện nay, trên lâm sàng đánh giá chức năng gan
theo phân loại Child -Pugh vẫn được nhiều phẫu
thuật viên sử dụng Tuy nhiên, nhược điểm của phân
loại này là khó đánh giá những BN chức năng gan
nhằm giữa ranh giới Child A và Child B hoặc Child
B và Child C vì thế khó tiên lượng và không chính
xác Kết quả NC bảng 3.7 thấy tỷ lệ bệnh nhân có
Child A là 93,3%; Child B là 6,7%; Child C không
có bệnh nhân nào Như vậy, các bệnh nhân được phẫu thuật trong NC đều nằm trong giới hạn cho phép Child A hoặc Child B
Chỉ định cắt gan tốt nhất ở giai đoạn Child A, không nên cắt gan lớn ở giai đoạn Child B và không chỉ định ở giai đoạn Child C ngoại trừ cắt gan hạ phân thuỳ, do chức năng gan kém dễ dẫn đến suy gan, hôn mê gan Tỉ lệ Child - Pugh A trong nghiên cứu của Văn Tần là 63,25%, Lê Lộc là 66,82%, Fu
là 93,3% [6], [7], [8]
Cắt gan theo giải phẫu được chứng minh là có
ưu thế vượt trội so với cắt gan không theo giải phẫu trong việc kéo dài thời gian sống thêm của BN Phân tích gộp của Zhou và cộng sự (2011) cho thấy mặc dù không có sự khác biệt về tỉ lệ tử vong cũng như biến chứng quanh mổ song phẫu thuật theo giải phẫu có tỉ lệ sống thêm cao hơn so với nhóm phẫu thuật không theo giải phẫu (sau 3 năm là 81,2% so với 72,3%, sau 5 năm là 66,8% so với 55,5%), tỉ lệ không tái phát giữa hai nhóm cũng có sự khác biệt (sau 3 năm là 52,1% so với 34,5%, sau 5 năm là 43,9% so với 25,3%) [9]
Trong nghiên cứu của chúng tôi, phương pháp cắt gan Tôn Thất Tùng kết hợp Takasaki chiếm tỷ
lệ 78,3%; cắt gan theo phương pháp Tôn Thất Tùng đơn thuần chiếm 21,7% và thường áp dụng trong cắt thuỳ trái đơn giản
Phương pháp cắt gan của giáo sư Tôn Thất Tùng: Nguyên tắc của phẫu thuật là mở gan vào các rãnh
đã được biết (rãnh giữa, rãnh bên phải, rãnh rốn), đây là một phẫu thuật cắt gan có kế hoạch, kiểm soát cuống mạch trong nhu mô Trong kỹ thuật này PTV phá vỡ nhu mô gan trước sau đó cặp và thắt các cuống mạch trong nhu mô sau Phương pháp cắt gan Takasaki dựa trên cấu trúc giải phẫu của cuống Glisson ngoài gan bao bọc cả ba thành phần động mạch gan, tĩnh mạch cửa và đường mật các cuống Glisson của gan phải và trái, phân thùy trước và sau nằm bên ngoài nhu mô gan Vì vậy có thể bộc lộ và kiểm soát các cuống này để xác định ranh giới của vùng nhu mô gan tương ứng (thể hiện qua tình trạng
Trang 38Bệnh viện Trung ương Huế
thiếu máu) trước khi cắt nhu mô gan theo ranh giới
giải phẫu
Trong nghiên cứu này chảy máu trong mổ có 6
trường hợp chiếm 10%; rách cơ hoành có 2 trường
hợp chiếm 3,3%; tổn thương tuyến thượng thận trái
4 trường hợp chiếm 6,7%; không có trường hợp nào
tử vong
6 trường hợp chảy máu có 4 trường hợp là do
quá trình phẫu tích nhu mô trong cắt gan lớn là rách
nhánh bên tĩnh mạch gan Tất cả các trường hợp
này chúng tôi đều bộc lộ hoàn toàn đoạn tĩnh mạch
và cầm máu bằng khâu chỉ Prolen 4.0 mũi vắt Hai
trường hợp chảy máu do tụt múi chỉ buộc tĩnh mạch
Makuuchi Tất cả trường hợp này chúng tôi đều
khâu buộc bằng chỉ Prolen 3/0 Kinh nghiệm cho
thấy, các tĩnh mạch Makuuchi rất hay chảy máu, do
đó tất cả các tĩnh mạch này chúng tôi đều khâu bằng
chỉ Prolen để hạn chế chảy máu thay vì buộc bằng
chỉ silk Hai trường hợp rách cơ hoành là do khối u
HPT VII, VIII dính chặt vào cơ hoành phải Chúng
tôi quyết định cắt cơ hoành kèm u, khâu phục hồi
cơ hoành Cả 2 trường hợp đều không phải dẫn lưu
màng phổi Tổn thương tuyến thượng thận phải
cũng hay gặp trong quá trình giải phóng gan Đặc
điểm dễ nhận biết màu sắc tuyến thượng thận hơi
vàng, rất dễ chảy máu khi bị rách Khi bị tổn thương
thì nên khâu mà không đốt điện
Tai biến rách tĩnh mạch chủ dưới trong nghiên
cứu của chúng tôi không gặp nhưng trong y văn đã
ghi nhận Do gan xơ dính chặt với TM chủ dưới
hoặc do khối u gan thâm nhiễm vào TM chủ dưới
nên khi giải phóng gan hoặc khi cắt gan dễ gây tổn
thương TM chủ dưới Tai biến này ít gặp nhưng rất
nguy hiểm do gây mất máu hoặc thoát khí vào buồng
tim, có thể dẫn đến tử vong Khi tai biến xảy ra cần
cho BN ở thế đầu thấp để tránh thoát khí vào buồng
tim Tổn thương rách nhỏ có thể dùng đầu ngón tay
bịt vào chỗ rách để cầm máu tạm thời, khâu chỗ
rách cùng với việc dịch chuyển ngón tay khi khâu
cho đến khi khâu kín tổn thương Tổn thương rách
rộng và phức tạp, để kiểm soát chảy máu cần nhanh
chóng cặp cuống gan, TM chủ dưới dưới gan và trên gan, sau đó tùy mức độ tổn thương mà có thể khâu,
vá hoặc thay đoạn TM chủ dưới
Biến chứng sau mổ chúng tôi gặp 6,7% nhiễm trùng vết mổ, báng kéo dài 23,3%, tràn dịch màng phổi 10%, tử vong tại viện có 1 trường hợp chiếm 1,7% Theo Lương Công Chánh cơ chế của hiện tượng tràn dịch màng phổi, báng kéo là do quá trình giải phóng gan, cắt các dây chằng gây ảnh hưởng đến tuần hoàn bạch huyết khu vực hoặc do rối loạn chức năng gan sau mổ[10] Tràn dịch màng phổi thường với số lượng ít, được điều trị nội khoa hoặc chọc hút dịch, ít khi phải dẫn lưu màng phổi.Trong nghiên cứu này không có trường hợp nào
rò mật, chảy máu sau hậu phẫu Rò mật cũng là biến chứng nặng của phẫu thuật cắt gan Rò mật được xác định khi dịch mật chảy qua dẫn lưu ổ bụng mà yêu cầu phải để dẫn lưu trong khoảng thời gian dài hơn bình thường hoặc có ổ đọng dịch mật trong ổ bụng mà đòi hỏi phải chọc dẫn lưu mật qua da hoặc phải mổ lại Để hạn chế rò mật sau khi đưa được khối u gan ra ngoài chúng tôi tiến hành kiểm tra khâu lại các cuống Glisson bị cắt bằng chỉ Prolen, dùng tấm gạc khô ấn vào diện cắt 3-5 phút kiểm tra xem các điểm chảy máu hoặc rò mật Có những trường hợp chúng tôi bơm nước qua ống túi mật để kiểm tra điểm rò mật
Một ca tử vong sau mổ được xác định là ung thư biểu mô tế bào gan –viêm gan B- xơ gan Child
A Bệnh nhân được cắt gan HPT VI-VII Sau mổ
4 ngày bệnh nhân có dấu hiệu tiền hôn mê gan,
tỷ Prothrombin 29,8%; BilrubinTP/TT: 61/30 mcmol/l; SGOT/SGPT: 432/449 u/l Bệnh nhân được hồi sức tích cực, lọc máu sau 10 ngày bệnh nhân tử vong trong bệnh cảnh suy đa tạng Suy gan
là biến chứng nặng nề nhất của phẫu thuật cắt gan
và cũng là nguyên nhân chính của tử vong sau mổ [11] NC của Trịnh Hồng Sơn tổng kết 124 trường hợp UTG được điều trị cắt gan mở từ 1992-1996 cho thấy tỷ lệ tử vong sau mổ cắt gan là 11,3%, nguyên nhân chính là suy gan sau mổ [12]
Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật cắt gan điều trị ung thư gan
Trang 39Nghiên cứu của chúng tôi có 96,7% kết quả giải
phẫu bệnh là carcinoma tế bào gan trong đó 20%
biệt hoá cao, 76,7% biệt hoá vừa, không có biệt hoá
kém Theo nghiên cứu của Lê Văn Thành (2013), tỷ
lệ carcinoma biệt hoá cao 17,7%; biệt hoá vừa 76%
Thời gian sống thêm của các nhóm BN có độ biệt
hóa khối u cao, vừa, thấp lần lượt là 40,0±2,7 tháng,
32,7±2,0 tháng và 11,3±3,0 tháng Sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê với p<0,001[2] Theo Okuda và
cộng sự (1985), các yếu tố mô học như biệt hóa cao,
tế bào sáng, UBTG thể fibrolamellar và khối u có bao xơ có tiên lượng tốt hơn [13]
V KẾT LUẬN
Phẫu thuật cắt gan điều trị ung thư là một phương pháp hiệu quả, an toàn, tai biến và biến chứng có thể kiểm soát được.Việc lựa chọn bệnh nhân là một vấn
đề mấu chốt và đóng vai trò rất quan trọng tới kết quả của điều trị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trần Quế Sơn, Đỗ Tuấn Anh (2016), “Phẫu thuật u
gan tại Bệnh viện Việt Đức giai đoạn 2010 - 2014,”
Tạp chí Nghiên cứu y học, 100(2), tr 131-138.
2 Lê Văn Thành (2013), Nghiên cứu chỉ định và
kết quả phẫu thuật cắt gan kết hợp phương pháp
Tôn Thất Tùng và Lortat-Jacob điều trị ung thư
biểu mô tế bào gan, Luận án Tiến sĩ Y học, Học
viện Quân y
3 Ninh Việt Khải (2018), Nghiên cứu ứng dụng
cặp kiểm soát chọn lọc cuống gan trong cắt gan
theo phương pháp Tôn Thất Tùng, Luận án tiến
sĩ Y học, Học viện Quân y
4 Vigano L., K M D., and L A (2011), “Liver
resection in obese patients: results of a
case-control study,” Hepato-Pancreato-Biliary J.,
vol 13(2), pp 103–111
5 Anthony P P (2001), “Hepatocellular carcinoma:
an overview,” Histopathology, và 39(2),
pp 109–118
6 Văn Tần, Nguyễn Cao Cương và Trần Vĩnh Hưng
(2016), “Nghiên cứu tai biến và biến chứng cắt
gan ung thư,” Tạp chí Y Dược Lâm sàng 108, số
11, tr 69–76
7 Lê Lộc (2010), “Kinh nghiệm qua 1245 trường
hợp cắt gan ung thư,” Tạp chí Gan Mật Việt
Nam, số 13, tr, 36–44.
8 L G G Fu S Y., Lau W Y (2011), “A prospective randomized controlled trial to compare Pringle maneuver, hemihepatic vascular inflow occlusion, and main portal vein
inflow occlusion in partial hepatectomy,” Am J Surg., vol 201(1), pp 62–69.
9 W L Zhou Y., Xu D (2011), “Meta-analysis of anatomic resection versus nonanatomic resection
for hepatocellular carcinoma,” Langenbecks Arch Surg, vol 396, (7), pp 1109–1117.
10 Lương Công Chánh (2015), Nghiên cứu điều trị ung thư gan bằng phẫu thuật cắt gan nội soi,
Luận án tiến sĩ y học, Viện Nghiên cứu khoa học
y dược lâm sàng 108
11 S Balzan et al.(2005), “The ‘50-50 criteria’ on
postoperative day 5: An accurate predictor of
liver failure and death after hepatectomy,” Ann Surg., vol 242, no 6, pp 824–829.
12 Trịnh Hồng Sơn, Lê Tư Hoàng, Nguyễn Quang Nghĩa (2001), “Kết quả phẫu thuật điều trị ung thư gan nguyên phát tại BV Việt Đức giai đoạn
1992-1996,” Y học thực hành, số 7, tr 42–46.
13 K Okuda et al(1985)., “Natural history of
hepatocellular carcinoma and prognosis in relation to treatment study of 850 patients,”
Cancer, vol 56, no 4, pp 918–928.
Trang 40Bệnh viện Trung ương Huế
KẾT QUẢ GẦN CỦA PHẪU THUẬT CẮT GAN THEO GIẢI PHẪU BẢO TỒN PHẦN LƯNG HOẶC
PHẦN BỤNG CỦA PHÂN THÙY TRƯỚC
Nguyễn Trường Giang1, Phạm Thế Anh1, Nghiêm Thanh Hà1, Nguyễn Kiều Hưng1, Phạm Bá Đức1
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Cắt gan theo giải phẫu là phương pháp điều trị chủ yếu cho ung thư biểu mô tế bào gan
nguyên phát (HCC) Tuy nhiên, thể tích gan còn lại là một vấn đề quan trọng đối với bệnh nhân Nghiên cứu gần đây cho thấy phân thùy trước gan không chỉ chia thành hạ phân thùy V và VIII theo Couinaud mà còn có thể chia thành 2 phần lưng và bụng Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá kết quả gần của phẫu thuật cắt gan theo giải phẫu bảo tồn phần lưng hoặc bụng của phân thùy trước.
Đối tượng: Từ tháng 7/2018 tới tháng 3/2019, 13 bệnh nhân HCC được tiến hành phẫu thuật bảo tồn
phần lưng hoặc bụng của phân thùy trước Giải phẫu của phân thùy trước được đánh giá trước mổ dựa trên phim MDCT hoặc MRI
Kết quả: Trong 13 bệnh nhân, có 11 nam và 2 nữ Tuổi trung bình là 60,1 ± 8,64 11 trường hợp được
phẫu thuật cắt gan phải bảo tồn phần bụng của phân thùy trước, 1 trường hợp cắt gan trung tâm bảo tồn phần lưng, và 1 trường hợp cắt gan trái kèm theo phần bụng phân thùy trước Thời gian mổ trung bình là 257,7 ± 37,0 phút với lượng máu mất ước tính trung bình 361,5 ± 319,5 ml Một trường hợp suy gan sau
mổ được ghi nhận (Clavien-Dindo độ 2) Thời gian nằm viện trung bình là 10,7 ± 3,8 ngày Không có trường hợp tử vong sau mổ nào ghi nhận
Kết luận: Cắt gan theo giải phẫu bảo tồn phần lưng hoặc phần bụng của phân thùy trước là phương
Introduction: Anatomic liver resection is the primary treatment for hepatocellular carcinoma (HCC)
However, the remnant liver volume is an important issue to be considered Recent studies showed that the right anterior sector can not only be divided into segments V and VIII according to Couinaud but also into ventral and dorsal areas We conducted this study to evaluate the short-term results of anatomic liver resection with preservation of ventral or dorsal area of right anterior sector.
Subjects: From July 2018 to March 2019, 13 HCC patients underwent liver resection with preservation
1 Bệnh viện K Hà Nội - Ngày nhận bài (Received): 25/4/2019; Ngày phản biện (Revised): 3/6/2019;
- Ngày đăng bài (Accepted): 17/6/2019
- Người phản hồi (Corresponding author): Phạm Thế Anh
- Email:theanhvietduc@gmail.com; SĐT: 0912118212
Kết quả gần của phẫu thuật cắt gan