1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(bản góc đầy đủ: word, file kết quả, ảnh chụp)Nghiên cứu tác động của quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên thị trường chứng khoán

128 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 683,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÔI LÀ TÁC GIẢ LUẬN VĂN ĐỀ TÀI NÀY. AI CẦN HƯỚNG DẪN THÊM VỀ CÁCH THỰC HIỆN MÔ HÌNH HỒI QUY CÓ THỂ LH TÔI. (bản góc đầy đủ: word, file kết quả, ảnh chụp)Nghiên cứu tác động của quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ năm 2015 đến 2017

Trang 1

HOÀNG XUÂN DUẨN

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH THÉP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Mã số: 60.34.03.01

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trương Bá Thanh

Đà Nẵng - Năm 2018

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Hoàng Xuân Duẩn

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 4

3 Câu hỏi nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Kết cấu đề tài 6

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP 12

1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 12

1.1.1 Lý thuyết hiệu quả hoạt động của công ty 12

1.1.2 Khái niệm vốn lưu động 14

1.1.3 Phân loại vốn lưu động 14

1.1.4 Quản trị vốn lưu động 15

1.2 TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP 21

1.2.1 Tác động của thời gian thu tiền đến khả năng sinh lời 22

1.2.2 Tác động của thời gian tồn kho đến khả năng sinh lời 23

1.2.3 Tác động của thời gian trả tiền đến khả năng sinh lời 24

1.2.4 Tác động của chu kỳ chuyển đổi tiền đến khả năng sinh lời 25

1.2.5 Kết quả một số nghiên cứu thực nghiệm trước 26

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 31

Trang 4

2.3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 32

2.4 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 34

2.5 PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH 35

2.6 MÔ TẢ VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN 36

2.6.1 Biến phụ thuộc 36

2.6.2 Các biến độc lập 36

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý ĐỀ XUẤT TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

3.1 TỔNG QUAN NGÀNH THÉP 41

3.1.1 Vị trí và tiềm năng ngành thép 41

3.1.2 Cung cầu ngành thép thế giới 41

3.1.3 Các giai đoạn ngành thép 42

3.1.4 Thị trường thép Việt Nam 42

3.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45

3.2.1 Thống kê mô tả về các biến trong mô hình 45

3.2.2 Phân tích tương quan Pearson giữa các biến 49

3.2.3 Ước lượng mô hình và kiểm định các giả thiết 50

3.3 HÀM Ý ĐỀ XUẤT TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 73

3.3.1 Đối với quản trị khoản phải thu 73

3.3.2 Đối với quản trị hàng tồn kho 75

3.3.3 Đối với quản trị khoản phải trả 79

3.3.4 Đối với quản trị vốn bằng tiền 80

Trang 5

KẾT LUẬN 85 PHỤ LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

BCTC Báo cáo tài chính

BCKQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

HOSE Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí MinhROA Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

ROE Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

ROS Tỷ suất sinh lời trên doanh thu

NOP Tỷ lệ lợi nhuận hoạt động gộp

ACP Kỳ thu tiền bình quân

ICP Kỳ chuyển đổi hàng tồn kho

APP Kỳ thanh toán bình quân

CCC Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt

Trang 7

Số hiệu

1.1 Tổng hợp kết quả một số các nghiên cứu trước 293.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 453.2 Bảng tương quan giữa các biến trong mô hình 493.3 Bảng mô tả hồi quy mô hình (2) theo FEM và REM 52

3.5 Bảng mô tả kết quả hồi quy mô hình (3) theo FEM và REM 57

3.7 Bảng tổng hợp kết quả ước lượng mô hình (1) theo mô hình

3.8 Bảng mô tả kết quả hồi quy mô hình (3) có điều chỉnh theo

3.9 Kết quả hồi quy mô hình (3) có điều chỉnh 65

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế của bất kỳ một quốc gia nào, mỗi doanh nghiệp đềuđược xem là một tế bào sống của nền kinh tế Doanh nghiệp có vị trí đặc biệtquan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trongnước (GDP) Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bướcphát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động

và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vàophục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách

và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: tạo việc làm, xoáđói, giảm nghèo

Để tiến hành sản xuất, ngoài tài sản cố định như máy móc, thiết bị, nhàxưởng doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hànghóa, nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất Như vậy vốn lưu động

là điều kiện đầu tiên để doanh nghiệp đi vào hoạt động hay nói cách khác vốnlưu động là điều kiện tiên quyết của quá trình sản xuất kinh doanh Ngoài ravốn lưu động còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp đượctiến hành thường xuyên, liên tục Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh đánhgiá quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp Vốn lưuđộng còn có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp.Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc sửdụng vốn nên khi muốn mở rộng quy mô của doanh nghiệp phải huy độngmột lượng vốn nhất định để đầu tư ít nhất là đủ để dự trữ vật tư hàng hóa.Vốn lưu động còn giúp cho doanh nghiệp chớp được thời cơ kinh doanh vàtạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Vốn lưu động còn là bộ phận chủ yếucấu thành nên giá thành sản phẩm do đặc điểm luân chuyển toàn bộ một lần

Trang 9

vào giá trị sản phẩm Giá trị của hàng hóa bán ra được tính toán trên cơ sở bùđắp được giá thành sản phẩm cộng thêm một phần lợi nhuận Do đó, vốn lưuđộng đóng vai trò quyết định trong việc tính giá cả hàng hóa bán ra, nó đóngvai trò huyết mạch trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, việcquản trị vốn lưu động là một phần quan trọng trong quyết định tài chính củadoanh nghiệp vì nó ảnh hưởng đến tính thanh khoản và lợi nhuận của doanhnghiệp (Raheman và Nasr, 2007).

Quản trị vốn lưu động mà cụ thể là quản trị tài sản ngắn hạn và quản trị

nợ ngắn hạn hiệu quả là một trong những nội dung quan trọng trong thực tếquản trị tài chính của bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào Việc quản trị hiệuquả nội dung này có tác động rất lớn đến sự thành công của doanh nghiệp do

nó có thể gây ảnh hưởng đến doanh thu bán hàng và ảnh hưởng đến khả năngtạo lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Vì vậy, quản trị vốn lưu động và khả năngsinh lời có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nói cách khác, doanh nghiệp muốntồn tại và phát triển thì lãnh đạo doanh nghiệp cần trú trọng đến quản trị vốnlưu động

Xem xét tầm quan trọng của quản trị vốn lưu động, nhiều nhà nghiêncứu trên thế giới đã tập trung vào phân tích mối quan hệ giữa quản trị vốn lưuđộng và khả năng sinh lời như Deloof [2003]; Padachi [2006]; Turuel vàSolano [2007]; Mohamad.N and N.Saad [2010]; Gul.S và cộng sự [2013] ;…

Ở Việt Nam, quản trị vốn lưu động là một chủ đề không quá mới, vấn đề này

đã và đang được xem xét hằng ngày trong các quyết định của giám đốc tàichính các công ty Tuy nhiên, trong lĩnh vực ngành thép ở Việt Nam vấn đềnày chưa được xem xét một cách cụ thể, rõ ràng về tác động của quản trị vốnlưu động đến khả năng sinh lời, ví dụ như Nguyễn Thị Việt Thủy [2012]

“phân tích mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời củatất cả các công ty cổ phần trên thị trường chứng khoán Việt Nam”; Nguyễn

Trang 10

Ngọc Hân [2012] “ phân tích mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và khảnăng sinh lời của các công ty thủy sản trên thị trường chứng khoán ViệtNam”; Đinh thị Hồng Thắm [2015] “tác động của quản trị vốn lưu động đếnkhả năng sinh lời của các doanh nghiệp vật liệu xây dựng trên thị trườngchứng khoán Việt Nam”; Hồ Văn Hiệp [2017] “phân tích tác động của quảntrị vốn lưu động đến khả năng sinh lời các doanh nghiệp ngành sản xuất hàngtiêu dùng trên thị trường chứng khoán Việt Nam”; Vương Đức Hoàng Quân

và Dương Diễm Kiều [2015] “tác động của quản lý vốn lưu động đến lợinhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Thành phố HồChí Minh”…

Sự ra đời của kim loại thép đã góp phần lớn vào quá trình phát triển củaloài người Kể từ khi công nghệ luyện thép đạt đến tầm cao mới là lúc kết cấucủa thép trở nên vững chắc hơn, thép đã xuất hiện ngày càng nhiều trong cáccông trình xây dựng cầu đường, nhà cửa và dần thay thế các nguyên liệu xâydựng khác như đá và gỗ bởi đặc tính vững chắc và dễ tạo hình của thép Hơnnữa, thép cũng là nguyên vật liệu chính cho các ngành công nghiệp khác nhưđóng tàu, phương tiện vận chuyển, xây dựng nhà máy và sản xuất máy mócthiết bị phục vụ hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm phục vụ đời sống conngười Nhận biết được tầm quan trọng của ngành thép, hầu hết các quốc gia

đã dành nhiều chính sách ưu đãi để phát triển ngành thép Bởi thép được coi

là nguyên vật liệu lõi cho các ngành công nghiệp khác Với mục tiêu đưa đấtnước trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việt Nam đã coi ngànhsản xuất thép là ngành công nghiệp trụ cột của nền kinh tế, đáp ứng tối đa nhucầu về các sản phẩm thép của các ngành công nghiệp khác và tăng cường xuấtkhẩu Bên cạnh đó, Chính phủ dành nhiều chính sách khuyến khích các thànhphần kinh tế khác đầu tư vào ngành thép nhằm tận dụng tối đa nguồn vốn vànhân lực còn rỗi của các ngành, thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo công ăn

Trang 11

việc làm cho người lao động Ðặc trưng của ngành thép là một ngành kinh tếthâm dụng vốn, các tài sản của nó là những tài sản nặng vốn, và chi phí cốđịnh của ngành khá cao Do dó, việc quản trị vốn lưu động hết sức quan trọngđối với ngành thép, vì nếu quản trị không tốt sẽ dẫn đến tình trạng doanhnghiệp không đủ tiền để chi trả cho các hoạt động thường xuyên của mình.Chính vì vậy, khi tìm hiểu và nhận thấy tầm quan trọng của ngành thépcũng như với mục đích tìm kiếm các bằng chứng thực nghiệm về sự tác độngcủa quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành

thép, tác giả đã chọn đề tài: “Nghiên cứu tác động của quản trị vốn lưu động

đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu tác động của quản trị vốn lưu động và các thành phần của

vốn lưu động ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp thép trênthị trường chứng khoán Việt Nam Từ đó, thông qua kết quả nghiên cứu đưa

ra một số đề xuất cho việc quản lý vốn lưu động để nâng cao hiệu quả kinhdoanh của các doanh nghiệp thuộc ngàng thép

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Quản trị vốn lưu động ảnh hưởng như thế nào đến khả năng sinh lời

của các doanh nghiệp thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam?

- Thực trạng quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời của các doanh

nghiệp ngành thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện naynhư thế nào?

- Những hàm ý nào để nâng cao hiệu quả quản trị vốn lưu động, nhằm

góp phần nâng cao khả năng sinh lời của các doanh nghiệp thép niêm yết trênthị trường chứng khoán Việt Nam?

Trang 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của quản trị vốn lưu động đến khả

năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên thi trường chứngkhoán Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên sàngiao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) và sàn giao dịch chứng khoán Thànhphố Hồ Chí Minh (HOSE)

+ Phạm vi thời gian: Số liệu các chỉ tiêu nghiên cứu được lấy từ báo cáotài chính hàng năm đã được kiểm toán của các doanh nghiệp ngành thép từnăm 2014 đến năm 2016

5 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp định lượng với mô hình hồi quy đa biến

- Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu:

+ Đối với tài liệu nghiên cứu, tác giả tham khảo các bài báo khoa họcliên quan đến đề tài ở các tạp chí chuyên ngành trong ngoài nước, các giáotrình và sách chuyên ngành nhằm tìm ra khoảng trống nghiên cứu, so sánhkết quả nghiên cứu thực chứng của đề tài với các nghiên cứu trước đây

+ Đối với số liệu nghiên cứu, tác giả thu thập số liệu thứ cấp từ các báocáo tài chính, báo cáo thường niên của các doanh nghiệp thép niêm yết trênsàn chứng khoán Việt Nam

- Phương pháp xử lý, phân tích số liệu: Phương pháp hồi quy dữ liệu

bảng được sử dụng để ước lượng mô hình nghiên cứu với sự hỗ trợ của phầnmềm Stata13

Trang 13

- Ngoài ra phương pháp nghiên cứu khác cũng được sử dụng như

phương pháp thống kê mô tả, phương pháp tổng hợp…

6 Kết cấu đề tài

Kết cấu luận văn bao gồm các phần như sau:

- Phần Mở đầu: Trình bày lý do nghiên cứu, mục tiêu, câu hỏi, đối

tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu Phần Nội dung: bao gồm 3 chương+ Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của quản trị vốn lưuđộng đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp

Chương này trình bày các lý thuyết liên quan đến các thành phần củavốn lưu động, khả năng sinh lời, quản trị vốn lưu động của công ty và mốiquan hệ giữa chúng Phần cuối của chương trình bày về các nghiên cứu thựcnghiệm trước đây về mối quan hệ này

+ Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

Chương này trình bày quy trình nghiên cứu, đưa ra các giả thiết nghiêncứu, xây dựng mô hình nghiên cứu, trình bày dữ liệu nghiên cứu và phươngpháp thu thập dữ liệu nghiên cứu, trình bày các phương pháp ước lượng môhình, trình bày mô tả và phương pháp đo lường các biến sử dụng trong môhình nghiên cứu

+ Chương 3: Kết quả nghiên cứu và hàm ý đề xuất từ kết quả nghiêncứu

Trang 14

Chương này sẽ giới thiệu qua về tổng quan của ngành thép, trình bày kếtquả ước lượng mô hình và đưa ra các hàm ý từ kết quả nghiên cứu.

- Phần kết luận: Phần này sẽ tóm tắt lại kết quả nghiên cứu, đưa ra kết

luận rằng nghiên cứu này đã đưa ra và cung cấp câu trả lời cho các câu hỏinghiên cứu cũng như những đóng góp, hạn chế của nghiên cứu và đề xuấthướng nghiên cứu tiếp theo

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Quản trị vốn lưu động mà cụ thể là quản trị tài sản ngắn hạn và quản trị

nợ ngắn hạn hiệu quả là một trong những nội dung quan trọng trong thực tếquản trị tài chính của bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào Xem xét tầm quantrọng của quản trị vốn lưu động, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cũng nhưtại Việt Nam đã tập trung vào nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn lưuđộng và khả năng sinh lời của các doanh nghiệp

Deloof [2003] đã phân tích 1.009 công ty phi tài chính của Bỉ từ

1992-1996 Ông thấy rằng lợi nhuận hoạt động gộp của một công ty có mối quan hệnghịch với kỳ luân chuyển hàng tồn kho và kỳ thu tiền bình quân Do dó, ông

đề nghị các nhà quản trị tài chính có thể cố gắng để nâng cao lợi nhuận bằngcách tăng thời hạn thanh toán trung bình và giảm kỳ luân chuyển hàng tồnkho và kỳ thu tiền bình quân

Padachi [2006] đã phân tích quản trị vốn lưu động và mối quan hệ của

nó với lợi nhuận bằng cách kiểm tra một mẫu của 58 công ty sản xuất nhỏ củaMauritius Giai đoạn của nghiên cứu là sáu năm từ 1998-2003 Ông đã sửdụng số ngày các khoản phải thu, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, chu kỳchuyển đổi tiền mặt và số ngày các khoản phải trả làm biến giải thích, và lợi

Trang 15

nhuận trên tổng tài sản (ROA) là biến phụ thuộc Ông nhận thấy rằng trongngành công nghiệp giấy và in ấn có nhiều điểm khác biệt về thành phần vốnlưu động trong toàn bộ ngành công nghiệp sản xuất nói chung Những điểmkhác biệt có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận của ngành công nghiệp này.Cuối cùng ông kết luận rằng nếu một công ty đầu tư mạnh vào hàng tồn kho

và các khoản phải thu thì lợi nhuận của các công ty đó thấp hơn

Nghiên cứu của Binti Mohamad và Mohd Saad [2010] được dựa trên dữliệu thứ cấp của 172 công ty của Malaysia Họ đánh giá tác động của cácthành phần khác nhau của vốn lưu động trên lợi nhuận và giá trị thị trườngcủa các công ty Nghiên cứu bao phủ một khoảng thời gian 5 năm từ 2003 đến

2007 Ðể xem hiệu quả của các thành phần vốn lưu động trong hoạt động tàichính, họ sử dụng Q’s Tobin, lợi nhuận trên vốn đầu tư và lợi nhuận trên tàisản là một thước đo của hoạt động tài chính của các doanh nghiệp lựa chọn.Kết quả cho thấy rằng có tồn tại một mối quan hệ nghịch giữa các thành phầnvốn lưu động khác nhau với hiệu quả hoạt động của các công ty

Gul và cộng sự [2013] đã nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị vốn lưuđộng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Pakistan Thời gian nghiên cứu làbảy năm từ năm 2006 đến năm 2012 Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu nàyđược lấy từ sàn chứng khoán Karachi, cơ quan thuế Biến phụ thuộc củanghiên cứu là ROA được sử dụng như là một đại diện cho lợi nhuận Phântích hồi quy được sử dụng để xác định mối quan hệ giữa vốn lưu động và hiệuquả hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Pakistan Kết quả cho thấyrằng kỳ thanh toán bình quân, tỷ lệ tăng trưởng doanh thu và quy mô doanhnghiệp có quan hệ cùng chiều với khả năng sinh lời, trong khi kỳ thu tiền bìnhquân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và tỷ số nợ cómối quan hệ ngược chiều với khả năng sinh lời

Trang 16

Tại Việt Nam trong những năm gần đây cũng đã có những nghiên cứuchuyên sâu về tác động của quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lời củacác doanh nghiệp

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Việt Thủy [2014], lấy mẫu nghiên cứu gồm

173 công ty cổ phần niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm

2009 đến năm 2011 Tác giả đã sử dụng phương pháp OLS để phân tích hồiquy Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có mối quan hệ đáng kể giữa quản trịvốn lưu động và lợi nhuận, nhưng không có mối quan hệ đáng kể với tiêu chí

về giá trị thị trường

Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Hân [2012], đã cho thấy tác động củaquản trị vốn lưu động lên khả năng sinh lời với biến phụ thuộc ROA bằngphương pháp hồi quy OLS được tiến hành dựa trên một mẫu gồm 24 công tythủy sản trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam trong giai doạn từ năm

2008 đến năm 2010 Bài nghiên cứu này đã cung cấp một bằng chứng thựcnghiệm về tác động của quản trị vốn lưu động lên tỷ suất sinh lời, đồng thờithiết lập mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt vàcác thành phần của nó với tỷ suất sinh lời của các công ty thủy sản niêm yếttrên thị truờng chứng khoán Việt Nam Kết quả nghiên cứu còn chỉ ra mốitương quan đồng biến và có ý nghĩa thống kê giữa kỳ thu tiền khách hàng, kỳchuyển đổi hàng tồn kho, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt với tỷ suất sinh lời, đònbẩy tài chính có tương quan âm với khả năng sinh lời của công ty Ngược lại,

kỳ thanh toán bình quân, quy mô công ty, số năm tồn tại công ty, tỷ số đầu tưtài chính dài hạn có mối tương quan dương và có ý nghĩa thống kê với tỷ suấtsinh lời của công ty

Trang 17

Nghiên cứu của Chu Thị Thu Thủy [2014] đã kiểm tra mối quan hệ giữaquản trị vốn lưu động với khả năng sinh lời của 97 công ty cổ phần côngnghiệp chế biến, chế tạo niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thành phố

Hồ Chí Minh (HOSE) trong năm 2012 Dữ liệu thu thập được phân tích bằngphân tích tương quan Pearson và phân tích hồi quy OLS, kết quả nghiên cứu

đã chỉ rõ có mối tương quan giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời.Hơn nữa, nghiên cứu chỉ ra mối tương quan mạnh giữa tỷ lệ đầu tư vào tài sảnchính, quy mô công ty, đòn bẩy tài chính và khả năng sinh lời

Một nghiên cứu khác từ Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên[2014] đã sử dụng phân tích dữ liệu bảng gồm 208 công ty phi tài chính niêmyết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006đến năm 2012, bằng các phương pháp bình phương tối thiểu (OLS), mô hìnhhiệu ứng cố định (FEM) và mô hình bình phương tối thiểu tổng quát (GLS)kiểm định mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lời củacác doanh nghiệp Việt Nam Kết quả cho thấy việc quản trị vốn luân chuyểnhiệu quả bằng cách rút ngắn kỳ thu tiền bình quân và kỳ lưu kho sẽ làm giatăng khả năng sinh lợi cho các doanh nghiệp Nhóm tác giả còn nghiên cứumối quan hệ này ở một số ngành khác nhau và kết quả cho thấy do đặc điểmcủa ngành khác nhau nên mối quan hệ giữa vốn lưu động và khả năng sinh lờigiữa các ngành cũng khác nhau

Bên cạnh những nghiên cứu tiêu biểu đã trình bày thì vẫn còn có nhữngnghiên cứu của những tác giả khác tập trung nghiên cứu vấn đề này Nhìnchung, các nghiên cứu trước các tác giả đều đã đưa ra những kết quả nghiêncứu, phân tích kết quả đạt được và trình bày những đánh giá khác nhau về cácchiều hướng tác động của quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lời của cácdoanh nghiệp Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu trước chỉ sử dụng kỳ thu tiền

Trang 18

bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thanh toán bình quân hay chu kỳchuyển đổi tiền mặt làm biến giải thích đại diện nhóm biến quản trị vốn lưuđộng Các nghiên cứu trước đây vẫn chưa làm rõ ảnh hưởng của chính sáchquản trị vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ở khía cạnhđầu tư tài sản lưu động và tài trợ vốn lưu động Bên cạnh đó, các kết quảnghiên cứu trước đây ở Việt Nam như của Nguyễn Thị Việt Thủy [2012],Nguyễn Ngọc Hân [2012], Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên[2014], Vương Đức Hoàng Quân và Dương Diễm Kiều [2015], Hồ Văn Hiệp[2017]…đã cho thấy ở những ngành nghề khác nhau thì mức độ tác động củacác biến đại diện cho nhóm biến vốn lưu động đến khả năng sinh lời của cácdoanh nghiệp cũng sẽ khác nhau, nhưng về chiều hướng tác động thì đa sốcác nghiên cứu đều đồng nhất có mối tác động ngược chiều của kỳ thu tiềnbình quân, kỳ chuyển đổi hàng tồn kho, kỳ chuyển đổi tiền mặt lên khả năngsinh lời Kết quả này khi so sánh với các nghiên cứu khác ở các quốc gia khácnhư nghiên cứu của Sharma và Kumar [2011] tại Ấn Độ, nghiên cứu củaGamze Vural [2012] tại Thổ Nhĩ Kỳ, nghiên cứu của Makori [2013] tạiKenya thì cho thấy có sự đối lập nhau Điều này thể hiện rằng đối với mỗi nềnkinh tế khác nhau giữa các nước, cũng như sự khác nhau giữa các ngành trongmỗi nước thì xu hướng tác động của quản trị vốn lưu động đến khả năng sinhlời của các doanh nghiệp cũng sẽ có sự thay đổi.

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về tác động của quản trị vốn lưu độngđến khả năng sinh lời tại các doanh nghiệp ở nước ngoài cũng như ở ViệtNam, nhưng chưa có nghiên cứu cụ thể nào cho lĩnh vực ngành thép được tácgiả chọn để nghiên cứu Trong khi đó ngành thép là ngành đầu vào của cácngành khác, đặc biệt là ngành xây dựng Ngành thép là ngành nhạy cảm vớichu kỳ kinh doanh của nền kinh tế vi mô, khi nền kinh tế tăng trưởng, doanh

Trang 19

số bán hàng và lợi nhuận của các công ty trong ngành sẽ tăng cao Và hầu hếtcác nghiên cứu trước đa số dùng phương pháp ước lượng bình phương tốithiểu (OLS), mô hình ảnh hưởng cố định (FEM), mô hình ảnh hưởng ngẫunhiên (REM) để phân tích và cũng chỉ dùng một hoặc kết hợp các chỉ tiêuROA hoặc ROE hoặc Tobin’s Q để đánh giá tác động của quản trị vốn lưuđộng đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp.

Ở bài nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu về tác động của việc quản trịcác yếu tố vốn lưu động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngànhthép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Tác giả sử dụng chỉ tiêu

tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) để xem xét khả năng sinh lời của cácdoanh nghiệp ngành thép, sử dụng chỉ tiêu này để nghiên cứu sẽ phù hợp vớiđặc điểm của các doanh nghiệp ngành thép thường là những doanh nghiệp cógiá trị doanh thu hàng năm đạt mức rất cao và mức độ biến động doanh thuqua các năm cũng đạt mức cao dựa theo sự biến động của nền kinh tế

Trang 20

1.1.1 Lý thuyết hiệu quả hoạt động của công ty

Bititci, Carrie và McDevitt [1997] định nghĩa quản trị hiệu quả của công

ty như một "quá trình mà theo đó các công ty quản trị thành quả của mình phùhợp với mục tiêu và chiến lược" Ðịnh nghĩa này thường được sử dụng trongcác nghiên cứu quản trị Theo Bititci, Carrie & McDevitt [1997] nó là mục tiêucủa quá trình đó để cung cấp hệ thống kiểm soát toàn diện, là nơi mà các chiếnlược của công ty được triển khai đến tất cả các quy trình kinh doanh, các hoạtđộng, nhiệm vụ và từng nhân viên, và thông tin phản hồi thu được thông qua hệthống quản trị hiệu quả cho phép có các quyết định quản trị thích hợp Mụcđích cuối cùng của quá trình đó là để cải thiện hiệu quả của công ty

Ðể đo lường hiệu quả hoạt động cũng như khả năng sinh lời của công ty

ta có thể đo lường bằng thước đo tài chính và phi tài chính Nhưng mục tiêutrực tiếp nhất đối với các ông chủ doanh nghiệp, các nhà quản lý là tập trungvào các thước đo tài chính Những thước đo này bao gồm lợi nhuận, doanhthu, lợi nhuận trên vốn đầu tư, lợi nhuận trên doanh thu, lợi nhuận trên vốnchủ sở hữu, lợi nhuận trên tài sản, lợi nhuận trước thuế hay tỷ lệ tăng trưởngdoanh thu Các thước đo tài chính là mục tiêu vì nó đơn giản, dễ hiểu và dễtính toán, nhưng trong nhiều trường hợp, do tính bảo mật, không thể tiếp cận,tính đầy đủ, tính chính xác và tính đúng thời hạn của dữ liệu để so sánh giữacác bộ phận là đầy thách thức và không hiệu quả Hơn nữa, lợi nhuận có thể

Trang 21

được làm sai lệch và điều chỉnh Khi đó, cách có thể áp dụng là các thước đophi tài chính, mặc dù mang tính chủ quan, nhưng nó bổ sung cho các thước đotài chính một cách hiệu quả hơn Sự kết hợp của hai thước đo giúp cho chủdoanh nghiệp, nhà quản lý có được cái nhìn rộng hơn về đo lường và so sánhhiệu quả hoạt động của công ty, đặc biệt là mức độ hiệu quả trong việc sửdụng các nguồn lực, khả năng cạnh tranh và sẵn sàng để đối mặt với những áplực ngày càng tăng từ bên ngoài bao gồm cả sự toàn cầu hoá.

Tùy thuộc vào thời gian của một dự án hay một kế hoạch, kết quả và lợinhuận có thể được đo lường dựa trên các thước đo ngắn hạn hay dài hạn Cácthước đo ngắn hạn, thông thường dựa vào lợi nhuận tài chính, là để đánh giácác dự án sẽ hoàn thành trong vòng mười hai tháng, trong khi các thước đodài hạn, thông thường dựa trên lợi nhuận phi tài chính, rất hữu ích cho các dự

án mà có thể mất mười hai tháng trở lên Các thước đo tài chính ngắn hạn,trong đó bao gồm doanh thu và lợi nhuận, phản ánh hiệu quả hoạt động hiệntại của một công ty có thể không nhất thiết phải đáp ứng như một hướng dẫnhữu ích hay dự đoán cho sự tồn tại lâu dài của công ty Tuy nhiên, bằng cáchcộng dồn doanh thu và lợi nhuận, có thể trở thành một nhóm nguồn lực hữuích cho sự phát triển, kế hoạch mở rộng trong tương lai, giúp thúc đẩy công tylên trên ngưỡng tồn tại của nó và hỗ trợ chiến lược tăng trưởng của công ty.Phillips [1999] lập luận rằng, khả năng sinh lời trong ngắn hạn là một yếu tốquan trọng trong khả năng của công ty để đạt được mục tiêu dài hạn như tăngthị phần, thương hiệu và danh tiếng Khả năng sinh lời thấp trong một khoảngthời gian cụ thể, có thể không phản ánh sự kém cỏi của các chủ sở hữu, ngườiquản lý, mà do đầu tư lớn đang được chuyển vào các dự án dài hạn với mụcđích tăng trưởng trong tương lai hoặc để đáp ứng nhu cầu nội bộ (ví dụ nhucầu tăng lương đột ngột của người lao động) hoặc yêu cầu từ bên ngoài (ví dụnhư đáp ứng các quy định pháp luật) Ðo lường hiệu quả hoạt động của công

ty nên dựa trên phương pháp tiếp cận toàn diện trong đó kết hợp thước đo tài

Trang 22

chính và phi tài chính cũng như các yếu tố thời gian McDougall và Oviatt[1996] báo cáo rằng sự gia tăng khối lượng bán hàng là do những nỗ lực trongquá khứ và kết quả của sự thỏa mãn của khách hàng.

1.1.2 Khái niệm vốn lưu động

Vốn lưu động là số tiền ứng trước về những tài sản lưu động hiện có củadoanh nghiệp (Van Horne và Wachowicz, 2005) Vốn lưu động luôn chuyểnhóa từ giai đoạn này sang giai đoạn khác Do sự chuyển hóa không ngừng nênvốn lưu động thường xuyên có các bộ phận tồn tại cùng một lúc dưới các hìnhthái khác nhau trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông như vật tư dự trữ, nguyênnhiên vật liệu, vật bao bì, công cụ, dụng cụ, sản phẩm dở dang, chi phí chờphân bổ, thành phẩm trong kho, vốn trong thanh toán, vốn bằng tiền

Theo nghĩa rộng, vốn lưu động là giá trị của toàn bộ tài sản ngắn hạn,những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công ty Trong mỗi chu kỳkinh doanh, chúng chuyển hoá qua tất cả các dạng tồn tại từ tiền mặt đến hàngtồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền mặt Với sựchuyển hoá nhanh như vậy, các hoạt động quản trị vốn lưu động chiếm gầnnhư phần lớn thời gian và tâm trí của các nhà quản trị tài chính Quản trị vốnlưu động với mục tiêu chính là phải đảm bảo đủ dòng tiền để các công ty duytrì hoạt động kinh doanh một cách bình thường trên cơ sở giảm thiểu rủi romất khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính trong ngắn hạn Do vậy, hiệuquả của quản trị vốn lưu động phụ thuộc vào sự cân đối giữa tính thanh khoản

và khả năng sinh lời của doanh nghiệp Sự thiếu hụt vốn lưu động có thể gâytrục trặc cho hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp nhưng đầu tưquá nhiều vào vốn lưu động thì lại làm giảm rủi ro thanh khoản, sẽ làm tăngchi phí cơ hội của đầu tư, đặc biệt khi doanh nghiệp dùng nguồn vốn từ bênngoài để tài trợ cho vốn luân chuyển

1.1.3 Phân loại vốn lưu động

Trang 23

a Dựa theo vai trò vốn lưu động trong quá trình tái sản xuất

Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: vốn nguyên vật liệu chính,nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu đóng gói, công cụ,dụng cụ

Vốn lưu động trong khâu sản xuất: vốn sản phẩm đang chế tạo, bánthành phẩm tự chế, chi phí trả trước…

Vốn lưu động trong khâu lưu thông: vốn thành phẩm, hàng hóa, vốnbằng tiền, các khoản phải thu,…

b Dựa theo hình thái biểu hiện

Vốn vật tư hàng hóa là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiệnbằng hiện vật cụ thể như là: vốn nguyên, nhiên vật liệu; vốn sản phẩm dởdang; vốn hàng thành phẩm, hàng tồn kho; vốn chi phí trả trước

Vốn bằng tiền và các khoản phải thu: phân loại theo cách này để tạo điềukiện thuận lợi cho việc xem xét, đánh giá, khả năng thanh toán của doanhnghiệp

Vốn đầu tư tài chính ngắn hạn: chứng khoán ngắn hạn, vốn góp kinhdoanh ngắn hạn

c Dựa theo nguồn hình thành

Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động được hình thành bằngvốn của doanh nghiệp hay từ các khoản nợ Từ đó có các quy định trong huyđộng và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý hơn

Trang 24

Có thể chia vốn lưu động thành hai loại dựa theo nguồn hình thành:

Nguồn vốn chủ sở hữu: là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu củadoanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền chi phối

và định đoạt, bao gồm: nguồn ngân sách; liên doanh, liên kết; nguồn vốn cổphần, nguồn vốn tự bổ sung…

Nợ phải trả: nguồn vốn đi vay, nguồn vốn trong thanh toán

1.1.4 Quản trị vốn lưu động

Vốn lưu động đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và sinh lời củacác doanh nghiệp Nếu lượng vốn lưu động không đủ thì có thể dẫn đến sựthiếu hụt và gặp khó khăn trong hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp(Horne và Wachowicz, 2000)

Vốn lưu động cũng được gọi là vốn lưu động thuần và được xác địnhnhư sau (Hill, 2010):

Vốn lưu động thuần = Tài sản lưu động – Nợ ngắn hạn

Tài sản lưu động bao gồm tiền mặt và các khoản tương đương tiền, đầu

tư ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho Nợ ngắn hạn lànhững khoản nợ có thời hạn từ 1 năm trở xuống, bao gồm khoản phải trả, nợngắn hạn, các khoản nợ đáo hạn

Chu kỳ vốn lưu động bắt đầu từ việc mua nguyên vật liệu, sau đó nguyênvật liệu được chuyển thành thành phẩm Những thành phẩm này được lưutrong kho cho đến khi chúng được bán cho khách hàng Bán hàng có thể thungay bằng tiền mặt hoặc bằng tín dụng bán hàng Cùng với mỗi bước trong

Trang 25

chu kỳ luân chuyển vốn lưu động thì có các chi phí hoạt động phát sinh, đó lànhững chi phí trực tiếp và chi phí cơ hội Chi phí trực tiếp là chi phí vốn đầu

tư vào mỗi thành phần của vốn lưu động Chi phí cơ hội là những thu nhập cóthể bị bỏ lỡ do đầu tư vào vốn lưu động thay vì đầu tư vào cơ hội khác(Brealey và Javis, 2006)

Quản trị vốn lưu động (WCM) là một phần của quản trị tài chính củamột doanh nghiệp (WCM) tập trung chủ yếu vào các nguồn tài chính ngắnhạn và quyết định đầu tư ngắn hạn của các doanh nghiệp (Sharma và Kumar,2011) (WCM) là rất quan trọng cho một doanh nghiệp, đặc biệt là cho cácdoanh nghiệp sản xuất, thương mại và phân phối, bởi vì trong các doanhnghiệp này (WCM) trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận và tính thanh khoản.Ðiều này là do các doanh nghiệp này có số vốn lưu động chiếm hơn một nửa

số tổng tài sản của họ (Raheman và Nasr)

Nếu (WCM) không hiệu quả có thể dẫn đến phá sản, ngay cả khi công ty

có lợi nhuận (Ksargar và Blumenthal,1994) Nếu tài sản lưu động quá dư thừathì sẽ dẫn đến lợi nhuận bình quân trên các khoản đầu tư thấp (WCM) hiệuquả phải quản trị theo cách mà có thể loại bỏ nguy cơ không thanh toán đượccác khoản nợ ngắn hạn đến hạn và tối thiểu hóa sự thay đổi quá mức của vốnlưu động (Eljelly,2004)

Các công ty có thể có một số lượng vốn lưu động tốt nhất mà có thể tối

đa hóa giá trị của họ Mặt khác, việc duy trì hàng tồn kho rất lớn, sẵn sàng cấptín dụng cho khách hàng, và sẵn sàng chờ đợi một thời gian lâu hơn để nhậnđược thanh toán có thể dẫn đến doanh số bán hàng cao hơn Nhược điểm củaviệc cấp tín dụng thương mại rộng rãi và duy trì mức tồn kho cao là tiền đượccất giấu trong vốn lưu động (Deloof, 2003) Ở phía bên người mua thì việc trì

Trang 26

hoãn thanh toán cho các nhà cung cấp cho phép công ty có được hàng hóatrước khi trả tiền, do đó làm tăng nguồn tài chính tự phát và làm giảm nhu cầutài trợ từ bên ngoài tốn kém (Lasher, 2007)

Khi một công ty xác định chính sách (WCM), phải đối mặt với mục tiêuđạt được mức tối ưu của vốn lưu động, sự cân bằng giữa tính thanh khoản vàlợi nhuận đạt được (Heill, 2010) Sự cân bằng này là một sự lựa chọn giữa rủi

ro và lợi nhuận Ðầu tư với nhiều rủi ro hơn sẽ cho kết quả trở lại nhiều hơn.Như vậy, một doanh nghiệp có tính thanh khoản cao của vốn lưu động sẽ córủi ro thấp và lợi nhuận do đó cũng thấp Ngược lại là khi một doanh nghiệp

có tính thanh khoản thấp của vốn lưu động thì có rủi ro cao nhưng lợi nhuậncao Khi xác dịnh chính sách (WCM), doanh nghiệp phải xem xét cả hai mặtcủa dòng tiền và cố gắng tìm sự cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận

Nghiên cứu trước đây đã ghi nhận rằng việc quản trị vốn lưu động ảnhhưởng đến lợi nhuận của một công ty Johnson và Soenen [2003] cũng chobiết quản trị vốn lưu động hiệu quả là một trong những đặc điểm quan trọngcủa các công ty phát triển mạnh về tài chính

Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về mối quan hệ giữaquản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời của doanh nghiệp đều tập trungđưa ra đề xuất gia tăng quản trị đối với các yếu tố vốn lưu động nhằm cảithiện khả năng sinh lời

a Quản trị vốn bằng tiền

Tiền mặt được xem là tài sản không sinh lợi, vì vậy mục tiêu của quản trịtiền mặt là tối thiểu hoá lượng tiền mặt nắm giữ, nhưng vẫn đảm bảo sự cânđối giữa nhập quỹ và xuất quỹ diễn ra một cách bình thường Chính vì vậy ,

Trang 27

nhu cầu đặt ra đối với nhà quản trị tài chính là phải xác định mức độ hợp lýcác tài sản thanh toán cho các hoạt động kinh doanh thường ngày như : chi trảlương, thanh toán cổ tức, trả trước thuế và các chi phí khác…

Một doanh nghiệp thường sử dụng tiền mặt cho các hoạt động sau:

+ Giao dịch : Là hoạt động cần thiết để đối phó với các phát sinh trongkhi giao dịch với ngân hàng, khách hàng…

+ Cất trữ : Hoạt động nhằm duy trì số dư như là một lớp đệm để đối phóvới những nhu cầu kinh doanh thường ngày (trả lương, thuế và cổ tức) và cácphát sinh ngẫu nhiên (dự phòng hoả hoạn, thiên tai )…

+ Đầu cơ : Là hoạt động nhằm tìm kiếm các cơ hội đầu tư nhằm kiếm lời

từ chênh lệch giá hoặc hưởng chiết khấu…

Việc quản trị tiền mặt tốt sẽ giúp cho các doanh nghiệp có thể tránh đượccác rủi ro liên quan đến việc khả năng thanh toán, phải gia hạn các khoản nợcần thanh toán, không làm mất đi khả năng mua chịu của doanh nghiệp, tậndụng được các cơ hội kinh doanh có khả năng sinh lời cao cho doanh nghiệp.Nếu quản trị tiền mặt tốt sẽ làm cho thời gian quay vòng vốn nhanh hơn,doanh nghiệp có thể sớm có vốn để đầu tư vào quá trình tái sản xuất nhằm giatăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn cao gópphần gia tăng khả năng sinh lời cho doanh nghiệp

b Quản trị hàng tồn kho

Quản trị hàng tồn kho thường gồm hai mục đích chính và có ảnh hưởngtrực tiếp đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Trang 28

Làm đủ lượng hàng tồn kho sẵn có: mục đích chính là đảm bảo hàng tồn

kho sẵn có theo yêu cầu trong mọi thời điểm Vì sự thiếu hụt và dư thừa hàngtồn kho đều chứng tỏ cho sự tốn kém trong tổ chức điều hành Trường hợpthiếu hụt hàng tồn kho thì dây chuyền sản xuất sẽ bị gián đoạn Hậu quả làviệc sản xuất giảm đi hoặc không thể sản xuất Kết quả là việc kinh doanhgiảm sút dẫn đến giảm doanh thu, giảm lợi nhuận và tệ hơn là thua lỗ Mặtkhác, sự dư thừa hàng tồn kho cũng có nghĩa làm kéo dài thời gian sản xuất

và phân phối luồng hàng hóa Điều này có nghĩa là khoản tiền đầu tư vàohàng tồn kho nếu được đầu tư vào nơi khác trong kinh doanh, thì nó sẽ thu lạiđược một khoản nhất định Không chỉ vậy, nó cũng sẽ làm giảm các chi phíthực hiện và làm tăng lợi nhuận

Giảm thiểu chi phí và đầu tư cho hàng tồn kho: liên quan gần nhất đến

mục đích trên đó là làm giảm cả chi phí lẫn khối lượng đầu tư vào hàng tồnkho Điều này đạt được chủ yếu bằng cách đảm báo khối lượng cần thiết hàngtồn kho trong tổ chức ở mọi thời điểm Điều này có lợi cho tổ chức theo haicách Một là khoản tiền không bị chặn khi hàng tồn kho chưa được sử dụngtới và có thể được sử dụng để đầu tư vào những nơi khác để kiếm lời Hai là

nó sẽ làm giảm các chi phi thực hiện, đồng thời sẽ làm tăng lợi nhuận

c Quản trị khoản phải thu

Quản trị khoản phải thu liên quan đến các quyết định liệu có cấp tín dụngcho khách hàng nào đó hay không? Tiến trình xây dựng một chính sách tíndụng sẽ được thực hiện như thế nào và các phương thức điều khiển khoảnphải thu Việc thiết lập một hệ thống kiểm soát là cần thiết bởi vì không có nóthì khoản phải thu sẽ vượt qua mức làm cho dòng ngân quỹ giảm xuống, cácnguy cơ xuất hiện mất mát sẽ tăng lên

Trang 29

Một chính sách tín dụng tối ưu sẽ xác định mức hợp lý khoản phải thutuỳ thuộc vào điều kiện hoạt động của doanh nghiệp Chẳng hạn một công tychưa khai thác đầy đủ năng lực sản xuất trong khi chi phí biến đổi thấp sẽ mởrộng tín dụng tự do hơn, và tất yếu khoản phải thu sẽ lớn hơn so với công ty

đã hoạt động hết năng lực sản xuất trong việc gia tăng doanh số Trong khidoanh số lại chịu tác động bởi các biến số mà công ty có thể kiểm soát đượcnhư : giá bán, chất lượng sản phẩm, và chính sách tín dụng của công ty

Trong thời đại kinh doanh mang tính cạnh tranh cao như bây giờ, việcbán chịu là tất yếu và nó gắn liền đến hiệu quả bán hàng của mỗi doanhnghiệp Nếu doanh nghiệp không bán chịu sẽ đánh mất nhiều cơ hội bán hàng,dẫn đến doanh thu sụt giảm và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh lời Vấn

đề đạt ra ở đây là làm sao có thể xây dựng một chính sách bán chịu hợp lýnhằm gia tăng doanh số bán hàng hướng đến gia tăng khả năng sinh lời nhưngcũng phải đảm bảo hạn chế rủi ro thấp nhất cho các khoản phải thu, nó đòi hỏicác nhà quản lý phải gia tăng việc quản trị các khoản phải thu bởi nó có tácđộng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh

d Quản trị khoản phải trả

Trong kinh doanh, việc mua chịu hàng hoá, vay tiền của ngân hàng hoặccác doanh nghiệp khác là điều bình thường Song, nếu không chú ý kiểm tra

để thanh toán, trả nợ kịp thời, doanh nghiệp rất dễ bị mất khả năng thanh toán

và dẫn đến phá sản

Khoản phải trả được xem là nguồn vốn nội sinh của các doanh nghiệp vì

nó được tạo ra từ hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp Khi doanhnghiệp đặt mua hàng và được người bán chấp nhận cho trả chậm thì có nghĩa

là doanh nghiệp đã sử dụng được một nguồn tài chính Có thể nhận thấy được

Trang 30

lợi ích của người mua chịu là đã chiếm dụng được nguồn vốn của doanhnghiệp khác để tạo thành nguồn tài trợ cho doanh nghiệp mình sử dụng chínhnguồn vốn này để gia tăng khả năng sinh lời cho doanh nghiệp

Tuy nhiên, nếu không thể thanh toán đúng hạn các khoản phải trả này sẽcho thấy dấu hiệu xấu về vấn đề tài chính và nó sẽ làm giảm đi uy tính củadoanh nghiệp, tác động xấu đến quá trình kinh doanh sau này và làm giảm đikhả năng sinh lời của doanh nghiệp

Việc quản trị tốt khoản phải trả sẽ vừa giúp doanh nghiệp chiếm đượcnguồn vốn nội sinh này để làm nguồn tài trợ cho doanh nghiệp mình, vừa đảmbảo uy tính của doanh nghiệp ngày càng được gia tăng khi thanh toán tốt cáckhoản nợ phải trả đến hạn, góp phần gia tăng hiệu quả kinh doanh và khảnăng sinh lời cho doanh nghiệp

1.2 TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP

Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, vốn lưu động chuyển hoá qua tất cả cácdạng tồn tại từ tiền mặt đến hàng tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái

cơ bản ban đầu là tiền mặt Với sự chuyển hoá nhanh như vậy, các hoạt độngquản trị vốn lưu động chiếm gần như phần lớn thời gian và tâm trí của cácnhà quản trị tài chính Quản trị vốn lưu động với mục tiêu chính là phải duytrì tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn ở mức thích hợp, đảm bảo đủ dòng tiền đểcác công ty duy trì hoạt động kinh doanh một cách bình thường trên cơ sởgiảm thiểu rủi ro mất khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính trong ngắn hạn

và hiệu quả của quản trị vốn lưu động phụ thuộc vào sự cân đối giữa tínhthanh khoản và khả năng sinh lời của doanh nghiệp

Trang 31

Nếu một doanh nghiệp quản trị vốn lưu động không hiệu quả, nó sẽkhông chỉ làm giảm lợi nhuận mà còn có thể dẫn đến khủng hoảng về mặt tàichính (Brigham và Besley, 2008) Sự thiếu hụt vốn lưu động có thể gây trụctrặc cho hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp nhưng đầu tư quánhiều vào vốn lưu động thì lại làm giảm rủi ro thanh khoản, sẽ làm tăng chiphí cơ hội của đầu tư, đặc biệt khi doanh nghiệp dùng nguồn vốn từ bên ngoài

để tài trợ cho vốn lưu động Bên cạnh đó, quản trị vốn lưu động còn duy trìquan hệ giữa từng bộ phận cấu thành cũng như tổng thể của vốn lưu động mộtcách hợp lý và tìm ra các nguồn vốn phù hợp để tài trợ cho vốn lưu động.Như vậy, quản trị vốn lưu động có tác động trực tiếp lên trạng thái sinh lời vàrủi ro của doanh nghiệp Raheman và Nasr [2007] cho rằng tác động củaquản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp biểu hiện quabốn nhân tố: chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, thời gian tồn kho, thời gian thu tiền

và thời gian trả tiền Quản trị thành công những thành phần này sẽ ảnh hưởngtích cực đến hiệu quả hoat động, góp phần tăng khả năng sinh lời cho doanhnghiệp Quản trị vốn lưu động hiệu quả cần phải dung hòa giữa hai mục tiêulợi nhuận và thanh khoản thì mới đảm bảo doanh nghiệp duy trì hoạt động và

có khả năng sinh lời ổn định, lâu dài

1.2.1 Tác động của thời gian thu tiền đến khả năng sinh lời

Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ công ty, do công ty đã bán chịuhàng hóa hoặc dịch vụ cho khách hàng và thời gian thu tiền là khoản thời giancần thiết để chuyển các khoản phải thu khách hàng thành tiền, nghĩa là thờigian thu tiền sau khi bán hàng (Lê Mạnh Hưng, 2015) Nếu thời gian thu tiềncàng lớn thì kỳ thu tiền bình quân càng dài thể hiện tốc độ luân chuyển nợphải thu càng chậm, khả năng thu hồi nợ kém, thể hiện tình hình quản trịkhoản phải thu kém dẫn đến vốn kinh doanh bị chiếm dụng, gây khó khăn

Trang 32

không thu hồi được nợ Thời gian thu tiền càng dài, vốn nằm trong khoản phảithu càng cao, doanh nghiệp bị giảm khả năng sinh lời vì mất chi phí thu quản

lý nợ, thu hồi nợ, mất cơ hội kinh doanh do vốn bằng tiền bị chiếm dụng.Ngược lại, thời gian thu tiền càng ngắn thì kỳ thu tiền bình quân càng ngắnthể hiện tốc độ luân chuyển nợ phải thu càng nhanh, khả năng thu hồi nợ tốt,hạn chế bớt vốn bị chiếm dụng, tình hình quản trị khoản phải thu hiệu quả Kỳthu tiền bình quân càng ngắn, doanh nghiệp không phải mất chi phí quản lý

nợ, chi phí thu hồi nợ, vốn phải thu chuyển hóa thành tiền nhanh dẫn đếndoanh nghiệp có nhiều cơ hội kinh doanh khi xoay vòng vốn nhanh, giảm chiphí, hiệu quả hoạt động sẽ tăng

Mặc dù kỳ thu tiền bình quân quá cao thường không tốt cho hoạt độngcủa doanh nghiệp, nhưng kỳ thu tiền bình quân quá thấp cũng không hẳn đãtốt Kỳ thu tiền bình quân thấp có thể là biểu hiện của một chính sách tínhdụng quá chặt chẽ Lúc này, phải thu khách hàng có thể có chất lượng caonhưng doanh số có thể bị giảm và kéo theo lợi nhuận có thể thấp hơn mức lẽ

ra phải đạt được Trong tình huống này, có lẽ các doanh nghiệp nên nới lỏngcác tiêu chuẩn tính dụng Nói chung, phải thu khách hàng có chất lượng tốtchỉ khi nó có thể chuyển hóa thành tiền trong một khoảng thời gian hợp lýtrong mối quan hệ với chính sách bán hàng và chính sách quản trị phải thukhách hàng (Nguyễn Thanh Liêm, 2009)

Hầu hết các nghiên cứu trước như của: Deloof [2003], Binti Mohamad

và Saad [2010], Gul và cộng sự [2013]…đã chứng minh rằng có mối quan hệngược chiều giữa kỳ thu tiền bình quân và khả năng sinh lời của doanhnghiệp Nếu quản trị tốt khoản phải thu, rút ngắn thời gian của kỳ thu tiềnbình quân sẽ có tác động tích cực đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp

Trang 33

1.2.2 Tác động của thời gian tồn kho đến khả năng sinh lời

Kỳ luân chuyển hàng tồn kho là khoảng thời gian cần thiết để chuyểnnguyên vật liệu thô sang thành phẩm và bán những thành phẩm này (LêMạnh Hưng, 2015) Thời gian tồn kho càng ngắn thì kỳ luân chuyển hàng tồnkho càng ngắn, doanh nghiệp sẽ đẩy nhanh quá trình tiêu thụ làm tăng doanhthu và giảm các chi phí liên quan đến việc nắm giữ, bảo quản hàng tồn kho, từ

đó làm tăng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Ngược lại, kỳ luân chuyểnhàng tồn kho dài thể hiện công tác quản trị hàng tồn kho kém hiệu quả, quátrình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ trở nên ì ạch do ứ đọng vốn ởhàng tồn kho, doanh nghiệp phải bỏ thêm chi phí cho việc lưu kho và bảoquản hàng hóa kéo theo lợi nhuận bị suy giảm, khả năng sinh lời bị ảnh hưởngxấu

Thông thường, thời gian tồn kho càng ngắn, vòng quay hàng tồn khocàng lớn, kỳ luân chuyển hàng tồn kho càng ngắn, hoạt động quản trị hàngtồn kho của doanh nghiệp càng hiệu quả và hàng tồn kho càng mới và khảnhượng Tuy nhiên, đôi lúc kỳ luân chuyển hàng tồn kho ngắn có thể là dấuhiệu của việc duy trì quá ít hàng tồn kho và do đó có thể xảy ra tình trạng cạn

dự trữ Kỳ luân chuyển hàng tồn kho cao thường là dấu hiệu của việc duy trìnhiều hàng hóa lỗi thời, quá hạn, chậm chuyển hóa Hàng hóa có thể quá lạchậu, hết hạn có thể phải đem đi thanh lý, nên ít nhiều sẽ làm giảm một phầnhàng tồn kho vốn được xem là khả nhượng (Nguyễn Thanh Liêm, 2009)

Kết quả một số các nghiên cứu trước như của: Deloof [2003], BintiMohamad và Saad [2010], Sharma và Kumar [2011], Gul và cộng sự [2010]

… đã chứng minh rằng có mối quan hệ ngược chiều giữa thời gian tồn kho và

khả năng sinh lời của doanh nghiệp Nếu quản trị tốt hàng tồn kho, rút ngắn

Trang 34

thời gian của kỳ chuyển đổi hàng tồn kho sẽ có tác động tích cực đến khảnăng sinh lời của các doanh nghiệp.

1.2.3 Tác động của thời gian trả tiền đến khả năng sinh lời

Kỳ thanh toán bình quân là độ dài thời gian khi mua nguyên vật liệu,hàng hóa hay thuê lao động đến khi thanh toán cho họ (Nguyễn Thanh Liêm,2009) Khi kéo dài thời gian trả tiền cho người bán, doanh nghiệp sẽ tận dụngđược nguồn vốn tạm thời để đầu tư vào hoạt động kinh doanh của mình nhằmgia tăng lợi nhuận Tuy nhiên, nếu kéo dài thời gian thanh toán có thể làm ảnhhưởng đến uy tín của doanh nghiệp, gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinhdoanh sau này Bên cạnh đó, khi kéo dài thời gian thanh toán thì doanhnghiệp sẽ không thể hưởng được các khoản chiết khấu thanh toán từ các nhàcung cấp đối với các đơn hàng thanh toán sớm, làm giảm khả năng sinh lờicho doanh nghiệp Ngược lại, kỳ thanh toán bình quân ngắn, doanh nghiệp cóthể không chiếm dụng được nguồn vốn từ bên ngoài mà phải dùng nguồn vốnvay dẫn đến mất chi phí sử dụng vốn, làm giảm hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp Do vậy, việc quản trị khoản phải trả sao cho hiệu quả là một vấn đề

mà các nhà quản trị lưu tâm

Hầu hết các nghiên cứu trước đều đã cho thấy có mối quan hệ giữa thờigian thanh toán nợ và khả năng sinh lời, nhưng giữa các nghiên cứu lại có kếtluận trái chiều về mối quan hệ này Các nghiên cứu của: Deloof [2003], Gul

và cộng sự [2013], Makori.D.M và A.Jagomo [2013]…cho thấy có mối quan

hệ thuận chiều giữa kỳ thanh toán bình quân và khả năng sinh lời của doanhnghiệp, còn các nghiên cứu như của: Binti Mohamad và Saad [2010], Sharma

và Kumar [2011]…lại cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa kỳ thanh toánbình quân và khả năng sinh lời

Trang 35

1.2.4 Tác động của chu kỳ chuyển đổi tiền đến khả năng sinh lời

Trong một chu kỳ kinh doanh, các tài sản vốn lưu động chuyển hóa liêntục qua tất cả các hình thái, từ tiền mặt, đến tồn kho, đến khoản phải trả vàquay trở lại tiền mặt Chu kỳ này chính là chu kỳ chuyển đổi tiền mặt Chínhsách vốn lưu động hiệu quả phải đảm bảo giảm tối thiểu thời gian từ khi trảtiền mua nguyên vật liệu đến khi thu tiền bán tín dụng (Nguyễn Thanh Liêm,2009)

Mục tiêu của các doanh nghiệp là rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặtđến mức tối đa nhưng không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Điều này sẽ làm gia tăng lợi nhuận vì nếu chu kỳchuyển đổi tiền mặt càng dài, nhu cầu tài trợ từ bên ngoài càng lớn và việc tựtài trợ lúc đó càng làm tăng phí tổn vốn và do vậy làm giảm giá trị kinh tế giatăng của doanh nghiệp (Lê Mạnh Hưng, 2015) Kỳ chuyển đổi tiền mặt càngngắn chứng tỏ hoạt động quản trị tiền mặt trong doanh nghiệp càng hiệu quả,tính thanh khoản của doanh nghiệp càng cao, lượng tiền mặt dồi dào, thờigian quay vòng vốn nhanh hơn giúp doanh nghiệp có thể sớm có vốn để đầu

tư vào quá trình tái sản xuất nhằm gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp gópphần gia tăng khả năng sinh lời cho doanh nghiệp Các doanh nghiệp có thểthực hiện các hoạt động rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt bằng cách giảmchu kỳ chuyển đổi hàng tồn kho bình quân, giảm kỳ thu tiền bình quân haykéo dài kỳ thanh toán bình quân nếu chúng không làm gia tăng chi phí vàcũng không làm giảm doanh số gây ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lờicủa doanh nghiệp

Kết quả một số các nghiên cứu trước như của: Padachi [2003], BintiMohamad và Saad [2010], Gul và cộng sự [2013], Makori.D.M và A.Jagomo

Trang 36

[2013]…đã cho thấy rằng việc quản trị tốt tiền mặt sẽ có tác động tích cựcđến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp, tồn tại mối quan hệ ngược chiềugiữa kỳ chuyển đổi tiền mặt và khả năng sinh lời của doanh nghiệp.

1.2.5 Kết quả một số nghiên cứu thực nghiệm trước

Tác động của quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lời của công ty đã

là chủ đề chính của rất nhiều nghiên cứu lý thuyết lẫn thực nghiệm trongnhiều năm qua ở nhiều nước khác nhau trong đó có Việt Nam Mối liên hệnày được thể hiện ở những nghiên cứu thực nghiệm trước đây thông qua việc

đa số các biến số thuộc nhóm biến vốn lưu động bao gồm: Kỳ thu tiền bìnhquân (ACP), kỳ chuyển đổi hàng tồn kho (ICP), kỳ thanh toán bình quân(APP), chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC) được đưa vào các mô hình nghiêncứu ít nhiều đều cho thấy có tác động đến các biến phụ thuộc đại diên cho khảnăng sinh lời như biến: Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời vốnchủ sở hữu (ROE), tỷ lệ lợi nhuận hoạt động gộp (NOP) trong các nghiên cứuthực nghiệm trước Tuy nhiên, cũng có một vài nghiên cứu không tìm thấymối quan hệ giữa một số các biến thành phần vốn lưu động đến khả năng sinhlời và về chiều hướng tác động của các biến này đến khả năng sinh lời giữacác nghiên cứu cũng có những kết quả trái ngược nhau

Kỳ thu tiền bình quân và kỳ chuyển đổi hàng tồn kho thường được tìmthấy trong hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm trước đây là các biến số có tácđộng ngược chiều đến khả năng sinh lời Nghiên cứu của Deloof [2003] về

1009 công ty phi tài chính ở Bỉ, nghiên cứu của Binti Mohamad và Saad[2010] về 172 công ty ở Malaysia, nghiên cứu của Gul và cộng sự [2013] vềcác công ty nhỏ ở Pakistan đều cho kết quả tương tự về mối quan hệ này.Ngoài ra, đa phần các nghiên cứu ở Việt Nam như của Nguyễn Thị Việt Thủy

Trang 37

[2012], Nguyễn Ngọc Hân [2012], Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị UyênUyên [2015] cũng cho ra kết quả tương tự như các nghiên cứu tại các quốcgia khác.

Phương thức nghiên cứu truyền thống đối với mối tương quan giữa chu

kỳ luân chuyển tiền và khả năng sinh lợi cho thấy rằng chu kỳ luân chuyểntiền khá dài sẽ có xu hướng làm giảm khả năng sinh lợi Afza và Nazir [2008].Điều đó có nghĩa là rút ngắn thời gian luân chuyển tiền sẽ ảnh hưởng tích cựclên khả năng sinh lời của doanh nghiệp Hầu hết các nghiên cứu trong lĩnhvực này cho thấy rằng các công ty có thể gia tăng khả năng sinh lợi bằng cáchrút ngắn chu kỳ luân chuyển tiền bởi vì họ đã tìm thấy mối quan hệ nghịchbiến mạnh mẽ giữa hai biến số này

Ở châu Âu và Mỹ, Johnson và Soenen [2003] sử dụng chu kỳ thươngmại thuần – Net Trade Cycle1 (NTC) trong nghiên cứu của mình đã tìm thấymối quan hệ nghịch biến giữa chu kỳ kinh doanh thuần của công ty và khảnăng sinh lời Deloof [2003] sử dụng chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) làmthước đo quản trị vốn lưu động cho một mẫu nghiên cứu gồm 1.009 công typhi tài chính lớn của Bỉ trong giai đoạn 1992 – 1996 đã tìm thấy mối quan hệnghịch biến giữa lợi nhuận hoạt động gộp và kỳ thu tiền khoản phải thu, kỳlưu hàng tồn kho và kỳ phải trả người bán

Lazaridis và Trifonidis [2006] cũng tìm thấy mối quan hệ nghịch biếngiữa (CCC) và biến lợi nhuận gộp khi nghiên cứu 131 công ty niêm yết trênthị trường chứng khoán Athens từ năm 2001 – 2004 Nghiên cứu cũng tìmthấy mối tương quan âm đáng kể giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lợicủa các công ty và mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô và khả năng sinh lợi

Trang 38

của các công ty Hơn nữa, cũng tồn tại tương quan âm đáng kể giữa nợ được

sử dụng và khả năng sinh lợi của công ty

Karaduman, Akbas, Caliskan và Durer [2011] đã nghiên cứu 2.974 công

ty phi tài chính niêm yết trên 11 thị trường chứng khoán châu Âu trong 12năm 1998 – 2009, kết quả phân tích hồi quy GLS và OLS cho rằng các công

ty có thể gia tăng khả năng sinh lợi bằng cách giảm khoảng thời gian luânchuyển vốn lưu động mà công ty nắm giữ

Nghiên cứu của Vijay Kumar [2011] ở Ấn Độ hoặc Gamze Vural et al[2012] ở Thổ Nhĩ Kỳ đã tìm thấy cũng mối quan hệ nghịch biến giữa chu kỳluân chuyển tiền và khả năng sinh lời của công ty

Để thuận tiện cho việc theo dõi và so sánh kết quả của một số nhữngnghiên cứu thực nghiệm trước đây về vấn đề này, tác giả xin tóm tắt ngắn gọnlại thành quả của một số nghiên cứu tiêu biểu trước đây ở trên thế giới cũngnhư ở Việt Nam về vấn đề này trong Bảng 1.1 để thể hiện quản trị vốn lưuđộng có tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp

Trang 39

Bảng 1.1: Tổng hợp kết quả một số các nghiên cứu trước

ST

T Tác giả Mẫu và thời gian

Biến số nghiên cứu AC

AP P

CC C

1 Deloof [203] 1.009 công ty phi tài

6 Pouraghajan.A

[2012]

400 công ty trên sànchứng khoán Tehran từ

Trang 40

T Tác giả Mẫu và thời gian

Biến số nghiên cứu AC

AP P

CC C

173 công ty CP niêm yết

tại Việt Nam từ 2009

2011

-10 Nguyễn Ngọc

Hân [2012]

24 công ty Thủy sản niêm

yết tại Việt Nam từ 2008

Ngày đăng: 18/11/2020, 01:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w