Điều tra các số liệu thứ cấp Điều tra thu thập tài liệu, số liệu thống kê nhiều năm của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Phòng, Cục Thống kê thành phố Hải Phòng, Trung tâm khuy
Trang 1HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CẢI TIẾN KỸ THUẬT, QUẢN LÝ Ở
ĐỐI TƯỢNG NGAO (MERETRIX SPP) NUƠI THƯƠNG PHẨM TẠI HẢI PHỊNG STATUS AND PROPOSAL IMPROVED TECHNIQUES AND MANAGEMENT
FOR COMMERCIAL CLAM FARMING IN HAI PHONG
Nguyễn Hữu Uơng1, Đỗ Thị Hịa2
Ngày nhận bài: 26/11/2012; Ngày phản b iện thơng qua: 28/02/2013; Ngày duyệt đăng: 10/9/2013
TĨM TẮT
Nuơi trồng thủy sản (NTTS) là một nghề truyền thống của nhân dân Hải Phịng đã và đang phát triển mạnh ở cả ba vùng nước ngọt, lợ, mặn Định hướng của ngành thủy sản Hải Phịng đến năm 2020 là xác định nuơi trồng thủy sản là lĩnh vực cĩ nhiều lợi thế phát triển, trong đĩ ưu tiên phát triển nuơi hải sản nước mặn khu vực ven đảo Cát Bà, Long Châu, Bạch Long Vỹ Quan tâm phát triển nuơi động vật thân mềm ven biển (ngao, vẹm, tu hài ), với diện tích 1.500 - 2.000ha, đặc biệt triển nghề nuơi ngao Hiện nay nghề nuơi ngao tại Hải Phịng vẫn mang tính tự phát, cĩ nhiều rủi ro, khơng ít hộ nuơi ngao đã bị thất thu do xuất hiện bệnh, làm chết hàng loạt ngao nuơi Xuất phát từ thực tiễn trên, tơi thực hiện nghiên cứu
“Hiện trạng và đề xuất cải tiến kỹ thuật, quản lý ở đối tượng ngao nuơi thương phẩm (Meretrix spp) nuơi tại Hải Phịng”
Đề tài sử dung bộ số liệu điều tra qua thống kê 5 năm (2005 - 2010) và điều tra ngẫu nhiên thơng qua bộ câu hỏi kết hợp với thu mẫu ngao nuơi, đánh giá trực tiếp tại hiện trường
Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiện trạng nghề nuơi ngao tại Hải Phịng mới phát triển một hai năm gần đây Bãi nuơi ngao nuơi thường cĩ diện tích nhỏ hơn 5ha/bãi, nuơi ở vùng trung hoặc hạ triều, cĩ chất đáy chủ yếu là cát bùn Kích cỡ ngao giống các hộ thả nuơi chủ yếu thuộc nhĩm từ 500 đến dưới 800 con/kg (chiếm tỷ lệ 40,62%), tiếp theo là cỡ từ 800 đến 1.200 con/kg (chiếm tỷ lệ 28,12%) và cỡ từ 400 đến dưới 500 con/kg (chiếm tỷ lệ 25%) Với tổng diện tích nuơi của Hải Phịng cĩ xu thế giảm dần từ 345 ha nuơi vào năm 2005, đến năm 2010 diện tích này chỉ cịn 234 ha Tuy nhiên, tổng sản lượng thu được vào năm 2010 lại tăng rất cao, đạt 1.950 tấn so với 141 tấn năm 2005, sản lượng đã tăng 13,8 lần.
Từ khĩa: nuơi trồng thủy sản, cải tiến kỹ thuật, nuơi ngao, Hải Phịng
ABSTRACT
Aquaculture was considered one of traditional job in Hai Phong city, now has been developing rapidly in fresh, brackish and salt waters Master plan in fi shery approved by Hai Phong committee from now to 2020, aquaculture will be priority fi eld for development, especially in coastal areas around islands such as Cat Ba, Long Chau, Bach Long Vy Of which, bivalve culture (clams, mussel, otter clam ) is considered as the main commercial species As the plan, the cultured area for is estimated about 1.500 - 2.000ha with emphasis on clam culture Clams is currently culturing spontaneously Therefore it has been faced to high risks So many households lost their property due to mass death causing by environmental and disease problems Base on above problem, I studied the project “Status and proposal for technique improvements and management for commercial clam culture in Hai Phong” The study using statistical data collected in 5 yeas and random survey method by questionnaire, random samples of cultured clams in the fi eld also were collected.
The results show that clam culture is recently developing in Hai Phong Cultured area is usually smaller than
5 ha/farm in the low or intertidal areas where having sand and sandy mud bottom Clam sizes for rearing mainly from 500-800 individuals/kg (40,62%) following by 800-1.200 individuals/kg (28,12%) and 400-500 individuals/kg (25%) Total culture area has a tendency of decreasing from 345 ha in 2005 to 234 ha in 2010 However, total production in 2010 was 1.950 tons, 13,8 times higher in comparison to the year 2005 (141 tons)
Keywords: aquaculture, improving techniques, clam culture, Hai Phong
1 Nguyễn Hữu Uơng: Cao học Nuơi trồng thủy sản 2009 - Trường Đại học Nha Trang
2 PGS.TS Đỗ Thị Hịa: Viện Nuơi trồng thủy sản - Trường Đại học Nha Trang
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở Việt Nam, nghề nuôi ngao bắt đầu có từ
những năm 90 của thế kỷ XX Có nhiều loài thuộc
giống ngao Meretrix đã được nuôi phổ biến ở Việt
Nam, bao gồm các loài ngao dầu Meretrix meretrix,
ngao Bến Tre Meretrix lyrata, ngao vân Meretrix
lusoria Tại Hải Phòng, nuôi động vật thân mềm đã
phát triển từ cuối năm 2000 với đối tượng nuôi chính
là ngao Vùng nuôi chủ yếu tập trung tại các quận,
huyện như Cát Hải, Đồ Sơn, Tiên Lãng, Dương
Kinh và Kiến Thụy với tổng diện tích có thể nuôi là
2.185ha đã mang lại lợi nhuận cho nhiều nông dân
vùng ven biển Tuy nhiên, đây là nghề sản xuất có
nhiều rủi ro, không ít hộ nuôi ngao đã bị thất thu do
dịch bệnh, làm ngao nuôi chết hàng loạt
Xuất phát từ thực tiễn trên, việc nghiên cứu
về hiện trạng kỹ thuật nuôi ngao ở Hải Phòng là
hết sức cần thiết và cấp bách Chúng tôi thực
hiện nghiên cứu “Hiện trạng và đề xuất cải tiến kỹ
thuật, quản lý ở đối tượng ngao nuôi thương phẩm
(Meretrix spp) nuôi tại Hải Phòng”, nhằm làm đầy đủ
thêm các nghiên cứu về cải tiến kỹ thuật nuôi, bệnh
và tác hại của bệnh đối với đối tượng ngao nuôi làm
cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo Bên cạnh đó
kết quả của đề tài sẽ góp phần nâng cao hiệu quả
kinh tế của nghề nuôi ngao tại Hải Phòng
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về hiện trạng kỹ thuật ở đối tượng
ngao nuôi thương phẩm tại Hải Phòng
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Điều tra các số liệu thứ cấp
Điều tra thu thập tài liệu, số liệu thống kê nhiều
năm của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Hải Phòng, Cục Thống kê thành phố Hải Phòng,
Trung tâm khuyến ngư, với các thông tin: vùng nuôi
ngao, diện tích, năng suất, sản lượng ngao từ năm
2005 đến 2010, số hộ nuôi và phân bố của các hộ
nuôi trên địa bàn thành phố Hải Phòng
2.2 Điều tra các số liệu sơ cấp
2.2.1 Xây dựng bộ câu hỏi (lập phiếu điều tra)
Phỏng vấn những người trực tiếp và gián tiếp
thu thập thông tin tập trung vào vấn đề chính: Diện
tích bãi triều nuôi, chất đáy và công tác chuẩn bị cho
một vụ nuôi; Mùa vụ, đối tượng ngao nuôi; Cỡ ngao
giống và mật độ thả nuôi, công tác quản lý; Các dấu
hiệu chính bất thường ở ngao nuôi tại địa phương;
Mùa vụ, tác hại của bệnh gây chết ngao nuôi và sản
lượng nuôi (nếu có)
2.2.2 Phương pháp điều tra khảo sát hiện trạng Phương pháp lựa chọn hộ điều tra ngẫu nhiên thông qua bộ câu hỏi kết hợp với thu mẫu ngao nuôi, đánh giá trực tiếp tại hiện trường (quan sát, ghi chép, đo đếm thông số kỹ thuật) đại diện cho toàn vùng điều tra
2.3 Xử lý số liệu
Dùng phần mềm Excel để xử lý số liệu và xác định các mối quan hệ giữa cỡ giống thả, mật độ thả với năng suất, sản lượng ngao trên một đơn vị diện tích nuôi, bệnh với môi trường, bệnh và kỹ thuật nuôi
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 Diện tích, năng suất và sản lượng ngao nuôi
ở Hải Phòng Bảng 1 Kết quả nuôi ngao ở bãi triều Hải Phòng từ năm 2005 - 2009 Năm Diện tích nuôi ngao (ha) Sản lượng ngao (tấn) Năng suất trung bình (tấn/ha)
2007 277 1.650 5,96
2008 297 1.705 5,74
2009 235 1.934 8,23
2010 234 1.950 8,33
(Nguồn: từ Cục thống kê Hải Phòng)
Trong năm năm gần đây (2005 - 2010), diện tích nuôi ngao có xu thế giảm dần, từ 345ha nuôi vào năm 2005, đến năm 2010 diện tích này chỉ còn 234ha Tuy nhiên, tổng sản lượng thu được vào năm 2010 lại tăng rất cao, đạt 1.950 tấn so với 141 tấn năm 2005, sản lượng đã tăng 13,8 lần Năng suất trung bình năm 2010 đạt 8,33 tấn/ha/năm
2 Hiện trạng kỹ thuật nghề nuôi ngao thương phẩm tại Hải Phòng năm 2010
2.1 Kỹ thuật chọn địa điểm nuôi ngao
Kết quả tổng hợp từ phiếu điều tra cho thấy, địa điểm nuôi ngao thường ở khu vực trung triều hoặc
hạ triều nơi có ngao tự nhiên phân bố (do khai thác thấy xuất hiện ngao), kết hợp với một trong số các chỉ tiêu chất đáy thường là cát pha bùn hoặc bùn pha cát để chọn địa điểm quây bãi nuôi ngao
2.2 Diện tích bãi nuôi ngao
Kết quả tổng hợp từ phiếu điều tra cho thấy, có tới 50% (32/64 hộ) số hộ nuôi ngao có diện tích nuôi nhỏ (dưới 1 ha), có 40,62% (tương ứng với 26/64 hộ) số hộ có diện tích nuôi ngao (từ 1 - 3ha), chỉ có 9,38% số hộ có diện tích nuôi ngao lớn hơn 3ha
Trang 3Hình 2 Năng suất trung bình bình (kg/1.000m 2 ) khi thả nuôi cỡ ngao giống (từ 500 - < 800 con/kg) nhưng với các mật độ khác nhau
Chú thích: n- Tần số gặp (hộ)
Hình 1 Năng suất ngao trung bình (kg/1.000m 2 ) của các hộ
thả nuôi cùng cỡ giống (từ 400 - < 500 con/kg)
nhưng với các nhóm mật độ khác nhau
Chú thích: n- Tần số gặp (hộ)
2.3 Kỹ thuật chuẩn bị cho một vụ nuôi
Trước khi thả giống, 100% hộ nuôi ngao ở Hải
Phòng đã thực hiện các bước kỹ thuật như sau:
dùng phương pháp thủ công để dọn bãi, loại bỏ
rong, gạch đá và các động vật thủy sản khác như:
cua, ghẹ, ốc hương Sau đó cày bừa cho xốp nền
đáy và san lại bãi nuôi cho phẳng
2.4 Thời gian thả giống nuôi
Qua điều tra đã nhận thấy, người nuôi ngao ở Hải
Phòng tập trung thả ngao giống vào 2 thời điểm trong
năm là tháng 4 đến tháng 5 và tháng 10 đến tháng
11 Tuy nhiên, tần số gặp số hộ thả giống vào tháng
10 - 11 chiếm tới 69,94% (39/64 hộ), trong khi đó chỉ
có 39,06% (25/64 hộ) thả giống vào tháng 4 - 5
2.5 Nguồn, cỡ và chất lượng giống ngao thả
Kết quả nghiên cứu thực tế 64/85 hộ nuôi ngao,
chiếm 75,3% tổng số hộ nuôi đã được phỏng vấn
về nguồn giống và cỡ giống ngao thả cho biết,
giống ngao được mua chủ yếu từ người làm dịch
vụ giống (chiếm 82,8% số hộ được điều tra), nguồn giống từ dịch vụ giống chủ yếu là nhập về từ các
cơ sở sản xuất giống tại Kiên Giang, Tiền Giang,
Cà Mau hoặc Trung Quốc Số hộ mua giống từ các
cơ sở sản xuất giống tại Nam Định, Thái Bình chỉ chiếm 6,3%, còn lại là thu vớt giống tự nhiên (chiếm 10,9%) Hải Phòng hiện chưa có nhiều trại sản xuất ngao giống do nghề nuôi ngao tại Hải Phòng mới phát triển một hai năm gần đây, diện tích nuôi chưa nhiều Kích cỡ ngao giống từ các hộ thả chủ yếu thuộc nhóm từ 500 đến nhỏ hơn 800 con/kg (chiếm 40,62%), tiếp theo là nhóm từ 800 đến 1.200 con/kg (chiếm 28,12%), nhóm từ 400 đến nhỏ hơn 500 con/kg (chiếm 25%) và kích cỡ trên 1.200con/kg chỉ có 6,3% số hộ điều tra Trong đó, 100% hộ nuôi thả con giống đều không qua kiểm dịch
2.6 Mật độ ngao và kỹ thuật thả nuôi tại Hải Phòng
Bảng 2 Mật độ thả giống trong nuôi ngao thương phẩm ở Hải Phòng
Loại cỡ giống
(con/kg)
Mật độ thả ngao giống (kg giống/ 1.000m 2)
< 100 Từ 100- <140 Từ 140- <200 ≥ 200 Tần số % Tần số % Tần số % Tần số %
Cỡ từ
400- <500 (n=16) 0 0 2 12,50 8 50,00 6 37,50
Cỡ từ
500- <800 (n=26) 10 38,46 6 23,08 5 19,23 5 19,23
Cỡ từ
800 - 1.200 (n=18) 7 38,89 9 50,00 2 11,11 0 0
Tại Hải Phòng, xu thế người nuôi đã thả với các mật độ khác nhau, trong đó, số người thả ngao nuôi nhóm
cỡ giống từ 500 đến nhỏ hơn 800 con/kg là cao nhất 26/64 hộ (chiếm tỷ lệ 40,625%)
2.7 Phân tích ảnh hưởng của cỡ giống và mật độ thả nuôi tới năng suất ngao khi thu hoạch
Trang 4Hình 3 Năng suất trung bình bình (kg/1.000m 2 ) khi thả
nuôi cỡ ngao giống (từ 800 - 1.200 con/kg)
nhưng với các mật độ khác nhau
Hình 4 Năng suất trung bình bình (kg/1.000m 2 ) khi thả
nuôi cỡ ngao giống ( >1.200 con/kg) nhưng với các mật độ khác nhau
Chú thích: n - Tần số gặp (hộ)
Tóm lại: Ảnh hưởng của cỡ giống và mật độ thả nuôi tới năng suất ngao khi thu hoạch
- Ngao giống cỡ 400 - <500 con/kg, nuôi với mật độ từ 140 đến dưới 200kg/1.000m2 cho năng suất cao hơn
- Ngao giống cỡ 500 - <800 con/kg, nuôi với mật độ từ 140 đến 200 kg/1.000m2 cho năng suất cao hơn
- Ngao giống cỡ từ 800 - 1200 con/kg, nuôi với mật độ 100 - < 140 kg/1.000m2 cho năng suất cao hơn
- Thả ngao giống cỡ hơn 1.200con/kg năng suất thu được thấp
Qua kết quả trên, cỡ giống lựa chọn nuôi tốt 500 - <800 con/kg và thả với mật độ 140 đến 200kg/1.000m2,
cỡ giống 800 - 1.200 con/kg thả với mật độ từ 100 đến 140kg/1.000m2 sẽ cho năng suất trên 1 tấn/1.000m2
3 Hiện tượng chết của ngao nuôi tại Hải Phòng năm 2010
Bảng 3 Hiện tượng ngao chết trong các bãi nuôi thương phẩm tại Hải Phòng năm 2010
Hiện tượng ngao nuôi thương phẩm bị chết Kết quả điều tra (n = 64)
Tần số gặp (hộ) Tỷ lệ %
Ngao không chết trong vụ nuôi 11 17,19
Ngao chết gây hao hụt ≤ 20 % 17 26,56
Ngao chết gây hao hụt 20- < 50% 8 12,50
Ngao chết gây hao hụt ≥ 50% 28 43,75
Qua bảng 3, có tới 53/46 hộ nuôi ngao cho rằng đã phải đối mặt với hiện tượng ngao chết giảm sản lượng nuôi ngao, ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế (chiếm tỷ lệ 82,81%) Đặc biệt, tháng 5 năm 2010 tại vùng nuôi thuộc
xã Hiền Hào - Cát Hải, ngao đã nuôi được từ 1 đến 8 tháng tuổi đã có 21 trong tổng số 26 hộ nuôi ngao ở huyện này thông báo rằng, ngao nuôi của họ đã chết hàng loạt và gây thất thu
Hình 5 Hiện trường bãi ngao chết 100% và dấu hiệu bệnh tại vùng nuôi xã Hiền Hào,
từ ngày 17 - 20/5/2010
Trang 5Tóm lại: Hiện trạng bệnh gây chết hoặc giảm
sản lượng nuôi ngao đã và đang xảy ra tại các vùng
nuôi của Hải Phòng
Khi ngao chết, người nuôi ngao không phát
hiện được dấu hiệu bất thường của ngao chết tại
đợt bệnh xảy ra vào tháng 5/2010 Kết quả nghiên
cứu, chúng tôi nghi nhận được hiện trạng khi xảy
ra bệnh ngao là thời điểm giao mùa (từ mùa xuân
chuyển sang mùa hạ), có biến động lớn về khí hậu
và các yếu tố môi trường nước Các nhà bệnh học
vẫn chưa tìm ra được tác nhân chính gây ra hiện
tượng ngao chết tại vùng nuôi trên
4 Đề xuất giải pháp trong cải tiến kỹ thuật và
quản lý sức khỏe ngao nuôi tại Hải Phòng
4.1 Về chất lượng con giống
Các nông hộ nuôi ngao tại Hải Phòng nên lựa
chọn nguồn giống được cung cấp từ các cơ sở có
uy tín và được kiểm tra chất lượng, đảm bảo ngao
giống khỏe mạnh và không mang mầm bệnh nguy
hiểm trước khi thả giống
4.2 Cỡ giống và mật độ thả
Cỡ và mật độ thả giống là 2 chỉ tiêu có quan
hệ mật thiết với nhau, do vậy tùy theo cỡ giống mà
chọn mật độ thả cho phù hợp:
- Cỡ giống từ 400 đến dưới 800 con/kg, thả nuôi
với mật độ từ 140 đến 200 kg/1.000m2
- Nếu cỡ ngao giống từ 800 đến 1.200 con/kg
thì nên thả với mật độ 100 đến 140kg /1.000m2
4.3 Quản lý sức khỏe ngao nuôi
- Người nuôi ngao tại cần thực hiện thường
xuyên kiểm tra lưới chắn để tránh thất thoát ngao ra
khỏi bãi nuôi và bắt bỏ các sinh vật là địch hại như
các loài ốc dùng ngao nhỏ làm thức ăn như: ốc mỡ
trơn (Polynices didyma Bottem), ốc mỡ hoa (Natica
maculosa Lamarch) hoặc các loài tảo độc
- Thường xuyên theo dõi sinh trưởng và sức
khỏe ngao nuôi, định kỳ giải phẫu một thể để kiểm
tra độ no, độ béo và các dấu hiệu hiệu bất thường vì
khi ngao khỏe hay bệnh đều rất khó phát hiện bằng
các biểu hiện ở bên ngoài
IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
1.1 Kỹ thuật nuôi ngao tại Hải Phòng
- Giống ngao được nuôi chính là Meretrix, gồm các loài ngao dầu Meretrix meretrix, ngao Bến Tre Meretrix lyrata, ngao vân Meretrix lusoria, trong đó ngao bến tre được nuôi nhiều nhất
- Bãi nuôi ngao thường có diện tích nhở hơn 5ha, ở vùng trung hoặc hạ triều, có chất đáy chủ yếu là cát bùn
- Ngao giống thả nuôi thương phẩm phụ thuộc hoàn toàn vào các cơ sở sản xuất thuộc tỉnh khác (Nam Định, Thái Bình hoặc Bến Tre) thông qua thương lái
- Mật độ thả giống có sự thay đổi lớn phụ thuộc vào cỡ giống thả, trong đó được lựa chọn nhiều ở
cỡ giống từ 500 đến dưới 800 con/kg và từ 800 đến 1.200 con/kg
- Quản lý: người nuôi ngao thực hiện quản lý bãi ngao nuôi như: trước khi thả giống, 100% hộ nuôi ngao thực hiện dọn bãi, loại bỏ rong, gạch đá
và các động vật thủy sản khác như: cua, ghẹ, ốc hương Sau đó cày bừa cho xốp nền đáy và vệ sinh lưới bao bọc bãi nuôi,
1.2 Hiện trạng bệnh ở ngao nuôi tại Hải Phòng
Bệnh ở ngao nuôi đã gây chết hoặc giảm sản lượng ngao thương phẩm ở nhiều vùng nuôi khác nhau, gây thiệt hại về kinh tế cho các nông hộ nuôi đối tượng này
2 Kiến nghị
- Các cơ quan chức năng: cần quy hoạch vùng nuôi ngao để tránh bị ảnh hưởng bởi các hoạt động kinh tế khác; phát triển qui trình kỹ thuật nuôi và tập huấn cho ngư dân nâng cao trình độ về công nghệ nuôi đạt năng suất cao; phát triển quy trình kỹ thuật
để kiểm dịch động vật thân mềm
- Các nhà khoa học cần nghiên cứu để phát hiện nguyên nhân chính gây chết ngao ở Hải Phòng
từ đó tìm ra biện pháp phòng bệnh hiệu quả
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1 Nguyễn Chính, 1996 Một số loài động vật thân mềm (Mollusca) có giá trị kinh tế ở biển Việt Nam NXB Khoa học kỹ thuật,
Hà Nội, 96tr
2 Cục Thống kê Hải phòng, 2005; 2006; 2007; 2008 và 2009 Báo cáo chính thức thủy sản niên giám năm
3 FAO, 2005 Hướng dẫn chẩn đoán bệnh của động bật thủy sản Châu Á NXB Nông Nghiệp, 131-135
4 Hà Quang Hiến, 1980 Kỹ thuật nuôi Hải sản NXB Nông thôn, Hà Nội
5 Hà Lê Thị Lộc và Trương Sĩ Kỳ, 2003 Tình hình nuôi ngao Meretrix meretrix Linne, 1758 và Meretrix lusoria Roding, 1798
từ vùng biển Thừa Thiên Huế đến Bình Thuận Tuyển tập báo cáo Khoa học công nghệ về nuôi trồng thủy sản NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, 347-355
6 Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Hải Phòng, 2008 Báo cáo kết quả nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2002 - 2007, định hướng đến năm 2010 - 2020
Tiếng Anh
7 Cahn A, R, 1951 Clam Culture in Japan Natural Resources Section Report, no 146, 24-30
8 C Paillard, P Maes, 1994 Brown ring disease in the Manila clam Ruditapes philippinarum: establishment of a classifi cation svstem Diseases of aquatic organisms, vol 19, 1994
9 FAO, 1999 The living marine resources of the western central pacifi c vol 1, 320-35
10 Kyung-Il Park, Kwang-Sik Choi, 2004 Application of enzyme-linked immunosorbent assay for studying of reproduction in the Manila clam Ruditapes philippinarum (Mollusca: Bivalvia) Aquaculture, Vol 241 (2004), 667-687
11 Jintana Nugranad, 1999 Breeding of the oriental hard Clam Meretrix, Meretrix (Lineus, 1758) Proceedings of the 10th Congress and Workshop Tropical Marine Mollusc Programe, Phuket Marine Biological Center Special publication 21(1), 203-210
Trang 7HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHỀ NUƠI TƠM HE
CHÂN TRẮNG (Penaeus vannamei Boone, 1931) Ở HẢI PHỊNG
CURRENT STATUS AND DEVELOPMENT SOLUTIONS OF WHITE-LEG SHRIMP
(Penaeus vannamei Boone, 1931) FARMING IN HAI PHONG
Nguyễn Văn Hịa1, Vũ Văn Dũng2
Ngày nhận bài: 26/9/2012; Ngày phản biện thơng qua: 26/10/2012; Ngày duyệt đăng: 10/9/2013
TĨM TẮT
Nghiên cứu được tiến hành từ 5/2010 đến 3/2011 bằng cách thu thập thơng tin và tiến hành điều tra, phỏng vấn 50 trang trại nuơi tơm he chân trắng tại Hải Phịng nhằm đánh giá hiện trạng, từ đĩ đề xuất một số giải pháp thiết thực phát triển nghề nuơi tơm he chân trắng nơi đây Kết quả cho thấy, diện tích nuơi tơm he chân trắng của Hải Phịng tăng từ 16
ha trong năm 2006 đến 156 ha trong năm 2010; sản lượng nuơi đạt 1.653 tấn với năng suất bình quân khoảng 9 tấn/ha/vụ Trang trại cĩ doanh thu cao nhất là 1.295 triệu đồng/ha; doanh thu trung bình của mỗi trang trại là 532 triệu đồng/ha với lợi nhuận trung bình đạt 195 triệu đồng/ha Cĩ 72% trang trại nuơi cĩ lãi và 28% trang trại bị thua lỗ; cĩ 70% trang trại nuơi gặp khĩ khăn về con giống, 42% về vốn, 36% về kỹ thuật nuơi, 16% về thị trường và 14% về thuê lao động Tơm he chân trắng được nuơi tại Hải Phịng theo 2 hình thức thâm canh và bán thâm canh; mật độ thả từ 20 - 140 con/m 2 ; thời gian nuơi từ tháng 4 đến tháng 10 Việc nuơi tơm he chân trắng đang gĩp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất, tạo cơng ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân ven biển và đĩng gĩp hàng chục tỷ đồng mỗi năm cho thành phố Hải Phịng.
Từ khĩa: tơm he chân trắng, Penaeus vannamei, nuơi trồng thủy sản, hiệu quả kinh tế - xã hội.
ABSTRACT
A survey was conducted from May 2010 to March 2011 for collecting related data from local agencies and 50 white-leg shrimp farmers in Hai Phong in order to evaluate the situation and suggest some solutions for development The results showed that total white-leg shrimp farming area in Hai Phong reached 156 ha in 2010; production reached 1.653 tons at an average yield of about 9 tons/ha/crop Farm with the highest turnover reached 1.295 million VNDs/ha; the average turnover was about 532 millions/ha with an average profi t of 195 million VND/ha Out of total 50 farms, there were
36 farms gained profi t; some farms have been facing diffi culty in seed supply, farming capital, culture techniques, market and labor at the percentage of 70%, 40%, 36%, 16% and 14%, respectively In Hai Phong, white-leg shrimp was basically cultured by intensive and semi-intensive methods at an average stocking density of 140 shrimp/m 2 ; culture season is from April to October White-leg shrimp farming is contributing to the improvement of production structure, solving the problem
of job and income of Hai Phong coastal citizens
Keywords: white-leg shrimp, Penaeus vannamei, aquaculture, social-economic benefi t.
1 Nguyễn Văn Hịa: Cao học Nuơi trồng thủy sản 2009 - Trường Đại học Nha Trang
2 TS Vũ Văn Dũng: Vụ Khoa học, Cơng nghệ và Mơi trường - Bộ Nơng nghiệp và Phát triển nơng thơn
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Tơm he chân trắng là lồi ngoại nhập cĩ tiềm
năng phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam nhờ khả năng
thích nghi cao và sức sống chịu tốt với biến động
của một số yếu tố mơi trường [3] Thực tế đã chứng
minh hoạt động sản xuất giống, nuơi thương phẩm
và chế biến xuất khẩu tơm he chân trắng ở nước ta phát triển mạnh tron g giai đoạn 2000 - 2010 [5] Hải Phịng là một trong những tỉnh đầu tiên đưa tơm he chân trắng vào nuơi thương phẩm ở Việt Nam Nghề nuơi tơm he chân trắng ở Hải Phịng đang phát triển mạnh với nhiều lợi ích đi cùng mức độ rủi ro cao bởi
Trang 8thiếu qui hoạch và định hướng phát triển [3] Nhằm
phát triển nghề nuôi tôm he chân trắng bền vững
ở Hải Phòng, việc phân tích hiện trạng kinh tế - kỹ
thuật và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả là
công tác quan trọng và cấp thiết hiện nay Dựa trên
kết quả phân tích những tồn tại hiện có, báo cáo này
giới thiệu một số giải pháp thiết thực có thể áp dụng
tại Hải Phòng nhằm phát triển ổn định hoạt động
nuôi tôm he chân trắng nơi đây
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành với các trang trại nuôi tôm
he chân trắng ở thành phố Hải Phòng, trong thời
gian từ tháng 5 năm 2010 đến tháng 3 năm 2011
2 Phương pháp thu thập số liệu
Các số liệu thứ cấp được thu thập thông qua số
liệu thống kê, tổng kết của Sở Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Hải Phòng, Phòng Kinh tế, Chi cục
Thống kê, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn các quận/huyện trên địa phận thành phố Hải
Phòng Ngoài ra, một số báo cáo tổng kết đề tài, dự
án cũng như báo cáo tham luận liên quan đến hoạt
động nuôi tôm he chân trắng cũng được tham khảo
Số liệu sơ cấp được thu thập qua khảo sát thực
tế, phỏng vấn cán bộ quản lý thủy sản và người
dân nuôi tôm địa phương dựa trên bộ câu hỏi được
chuẩn bị nhằm thu thập các thông tin chung về chủ
trang trại, hiện trạng kỹ thuật nuôi, hiệu quả kinh tế
và những khó khăn thường gặp của chủ hộ nuôi,
Trên cơ sở tổng số khoảng 150 hộ nuôi tôm chân
trắng tại Hải Phòng tập trung tại vùng nuôi chính
như An Hải, Cát Hải, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo và Dương
Kin, tiến hành thu mẫu và điều tra ngẫu nhiên 50
hộ nuôi [7] Số lượng hộ nuôi được điều tra tại mỗi
vùng khoảng 10 hộ nhằm đảm bảo tính khách quan
của bộ số liệu thu được
3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu thu thập được được mã hoá và xử lý theo
các nội dung của bộ câu hỏi điều tra sử dụng Các số
liệu được lưu trữ, xử lý bằng phần mềm MS Excel với
chức năng phân tích thống kê kinh tế Tổng chi phí,
doanh thu và lợi nhuận của trang trại nuôi tôm được
tính bằng các công thức thông thường
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 Thông tin chung về chủ các trang trại nuôi
tôm he chân trắng ở Hải Phòng
Tuổi trung bình của chủ các trang trại nuôi tôm
he chân trắng tại Hải Phòng là 46,5 ± 12,4; dao động
trong khoảng từ 24 đến 68 tuổi Số người trong độ tuổi từ 30 đến 50 chiếm đa số (62%) với tỉ lệ chủ trang trại là nữ rất thấp, chỉ 7,5%
Hình 1 Cơ cấu độ tuổi của chủ các trang trại nuôi tôm he
chân trắng tại Hải Phòng
Qua điều tra cho thấy, 8,6% chủ các trang trại nuôi tôm he chân trắng ở Hải Phòng có dưới 3 năm kinh nghiệm; 41,5% có số năm kinh nghiệm từ 3 - 5 năm và số chủ trang trại có kinh nghiệm trên 5 năm nhiều nhất chiếm 49,9% Người nuôi tôm có nhiều năm kinh nghiệm thường quản lý ao nuôi tốt hơn với chi phí thấp và hiệu quả sản xuất cao hơn [1], [2]
Hình 2 Kinh nghiệm nuôi tôm chân trắng của chủ
các trang trại tại Hải Phòng
Kết quả cho thấy, số chủ trang trại nuôi tôm chân trắng không có bằng cấp chiếm 34%; nhóm tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn chiếm 42%; nhóm có trình độ trung cấp chiếm 18% và nhóm có trình độ đại học chiếm 6% Số chủ trang trại có trình
độ học vấn cấp 1 chiếm tỷ lệ 24%; số có trình độ cấp 2 chiếm 30% và 46% trong số đó có trình độ học vấn cấp 3
Hình 3 Trình độ chuyên môn của chủ các trang trại nuôi tôm he chân trắng ở Hải Phòng
Trang 92 Hiện trạng kỹ thuật nuôi tôm he chân trắng ở
Hải Phòng
2.1 Diện tích và sản lượng nuôi
Mặc dù tôm he chân trắng xuất hiện ở Hải
Phòng sớm hơn nhiều địa phương khác nhưng
diện tích nuôi loài tôm này ở Hải Phòng không đáng
kể, chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với diện tích nuôi tôm sú Tuy vậy, tỉ lệ diện tích nuôi tôm he chân trắng có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây Từ xấp xỉ 0,5% vào năm 2006, tỉ lệ diện tích tôm chân trắng so với tôm sú tăng lên 3% trong năm 2008 và 5% trong năm 2010 [6],[7]
Bảng 1 Diện tích nuôi và sản lượng tôm nuôi tại Hải Phòng giai đoạn 2006 - 2010
Diện tích nuôi tôm sú (ha) 3.299 1.900 3.022
Diện tích nuôi tôm he chân trắng (ha) 16 58 156
Sản lượng tôm he chân trắng nuôi tại Hải
Phòng cũng chỉ được ghi nhận từ năm 2006 [6],[7]
Tuy vậy, bảng 1 cho thấy sản lượng tôm he chân
trắng nuôi tăng nhanh trong những năm gần đây và
đạt trên 1.600 tấn trong năm 2010 (gấp 15 lần sản
lượng năm 2006) [6],[7]
2.2 Đặc điểm ao nuôi
Đa số các trang trại nuôi tôm he chân trắng
ở Hải Phòng có diện tích dưới 2ha (chiếm 86%);
còn lại là các trang trại nuôi có tổng diện tích từ 2
đến 25ha Ao nuôi tôm he chân trắng ở Hải Phòng
thường có độ sâu từ 1,6 đến 2,0m Độ sâu này
nhìn chung cao hơn độ sâu ao nuôi thường thấy
(dưới 1,5m) ở các địa phương khác như Sóc Trăng,
Bạc Liêu [1],[4]
Ao nuôi tôm chân trắng ở Hải Phòng thường có
hình chữ nhật hoặc hình vuông, được gia cố bởi 3
phương pháp khác nhau thường thấy Trong đó, ao
lót bạt nilon chiếm tới 69%, ao đất chiếm 18% và ao
gia cố bê-tông chiếm tỉ lệ thấp nhất là 13%
Chất đáy ao nuôi tôm he chân trắng ở Hải
Phòng chủ yếu là cát bùn (42% số trang trại nuôi)
và bùn cát (38%) Đây là loại chất đáy tốt cho hoạt
động nuôi tôm he nói chung [3] Ngoài ra, một số
ao nuôi có đáy bùn, chiếm 8%; còn lại là các ao có
chất đáy khác (sét, sét bùn, ), chiếm 12% số trang
trại nuôi
2.3 Các hình thức nuôi
Tôm he chân trắng ở Hải Phòng chỉ được nuôi
theo hai hình thức là nuôi thâm canh và bán thâm
canh Trong đó, 36% số trang trại nuôi theo hình
thức thâm canh và 64% trang trại nuôi theo hình
thức bán thâm canh Do chi phí đầu tư cao và khả
năng quản lý dịch bệnh chưa thật tốt, hình thức nuôi
thâm canh chưa phải là lựa chọn hàng đầu của các
trang trại ở Hải Phòng
2.4 Kỹ thuật chuẩn bị ao nuôi
Kết quả điều tra cho thấy, tất cả các trang trại
đều thực hiện vét bùn, vệ sinh, diệt tạp và khử trùng
ao nuôi trong chuẩn bị ao nuôi; đa số các trang trại tiến hành phơi đáy ao nuôi (92%), số còn lại không phơi được đáy ao khi cải tạo ao
2.5 Quản lý và chăm sóc ao nuôi
Kết quả điều tra cho thấy, 25% số trang trại nuôi tôm he chân trắng ở Hải Phòng thực hiện thay nước thường xuyên trong thời gian nuôi Số còn lại nuôi theo hình thức khép kín, không hoặc rất ít thay nước trong suốt chu kỳ nuôi Lý do dẫn đến đa số trang trại nuôi hạn chế thay nước trong quá trình nuôi là những khó khăn trong cấp thoát nước cũng như lo ngại lây nhiễm bệnh tôm từ nguồn nước bên ngoài Điều này cho thấy việc quản lý nước thải nuôi tôm
và dịch bệnh tôm trong khu vực còn nhiều bất cập, chưa tuân thủ tốt các qui định nuôi tôm thâm canh thường thấy [6]
Về phương pháp cho ăn, đa số trang trại nuôi tôm có kiểm tra tình hình tôm sử dụng thức ăn khi cho tôm ăn (78%); số trang trại nuôi còn lại chỉ cho
ăn dựa vào cảm tính và kinh nghiệm thực tế Hầu hết các trang trại nuôi tôm chân trắng cho tôm ăn 4 lần/ngày vào các thời điểm sáng, trưa, chiều và tối (thường vào các thời điểm 6h, 12h, 18h và 24h)
3 Hiệu quả kinh tế
3.1 Tổng chi phí trong nuôi tôm he chân trắng
ở Hải Phòng
Chi phí trong nuôi tôm he chân trắng tại Hải Phòng tăng dần qua các năm, năm 2008 tổng chi phí cho 1 ha ao nuôi tôm he chân trắng là 306,6 triệu đồng, năm 2009 là 334,8 triệu đồng và năm 2010 là 356,9 triệu đồng Mức chi lớn nhất của một trang trại nuôi tôm chân trắng là 613 triệu đồng/ha, mức chi thấp nhất là 80 triệu đồng/ha và mức chi trung bình của một trang trại nuôi ở Hải Phòng là 336 triệu đồng/ha với tỉ lệ lớn nhất thường thuộc về chi phí thức ăn, có thể đạt đến 60% tổng chi phí vào cuối vụ nuôi Kết quả này cũng phù hợp với một số nghiên cứu khác về tình hình sử dụng thức ăn ở các tỉnh
Trang 10phía Nam với mức chi phí thức ăn chiếm trên 50%
tổng chi phí đầu tư cho mỗi vụ nuôi [4]
3.2 Giá bán tôm he chân trắng nguyên liệu
Tôm nguyên liệu được định giá tùy thuộc vào
cỡ tôm thu hoạch Trong năm 2010, tôm he chân
trắng nguyên liệu tại Hải Phòng có giá bán bình
quân từ 30.000 đến 85.000 đồng Trong đó, tôm he
chân trắng loại 30 - 40 con/kg có giá 80 - 85.000
đồng/kg, loại 40 - 50 con/kg có giá 70.000 đồng/kg,
loại 50-60 con/kg có giá 60.000 đồng/kg và loại trên
60 con/kg có giá 30 - 50.000 đồng/kg
3.3 Doanh thu và lợi nhuận từ hoạt động nuôi tôm
he chân trắng ở Hải Phòng
Trong năm 2010, trang trại nuôi tôm he chân
trắng có doanh thu bình quân cao nhất là 1.295
triệu đồng/ha và thấp nhất là 0 triệu đồng/ha (đây
là những trang trại tôm bị thiệt hại sớm) Doanh thu
trung bình của mỗi trang trại nuôi tôm he chân trắng
đạt mức 532 triệu đồng/ha
Cũng trong năm 2010, qua điều tra cho thấy,
có 14 trên tổng số trang trại nuôi tôm he chân trắng
thua lỗ; số trang trại còn lại có lãi với lợi nhuận bình
quân đạt 195 triệu đồng/ha Trong đó, trang trại có
lợi nhuận bình quân cao nhất đạt 681 triệu đồng/ha;
trang trại bị thua lỗ nhiều nhất là 117 triệu đồng/ha
4 Hiệu quả xã hội
Hoạt động nuôi tôm he chân trắng ở Hải Phòng giải quyết được vấn đề việc làm cho hơn 400 lao động cố định Ngoài ra, nghề nuôi tôm chân trắng còn tạo công ăn việc làm cho nhiều bộ phận cung cấp dịch vụ như con giống, thức ăn, thuốc, hóa chất, chế phẩm vi sinh xử lý và cải tạo ao nuôi, đội ngũ thu mua, sơ chế tôm thương phẩm; tạo sản phẩm góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Trong năm 2010, nghề nuôi tôm he chân trắng ở Hải Phòng đã đóng góp khoảng 59 tỷ đồng vào ngân sách thành phố
5 Những khó khăn thường gặp, kiến nghị và hướng phát triển của trang trại nuôi
5.1 Những khó khăn thường gặp của các trang trại nuôi tôm he chân trắng
Kết quả điều tra - phỏng vấn cho thấy, đa số các trang trại nuôi tôm he chân trắng ở Hải Phòng đều gặp phải những khó khăn trong hoạt động nuôi trồng Những khó khăn này thường là các vấn đề như vốn, con giống, kỹ thuật, dịch bệnh, thị trường tiêu thụ, Mức độ gặp phải khó khăn của các trang trại nuôi tôm he chân trắng ở Hải Phòng với từng chỉ tiêu được thể hiện trong bảng 2
Bảng 2 Những khó khăn gặp phải trong nuôi tôm he chân trắng hiện nay ở Hải Phòng
STT Chỉ tiêu Số hộ (n=50) Tỷ lệ (%)
5.2 Kiến nghị và hướng phát triển của các hộ nuôi tôm he chân trắng ở Hải Phòng
Đa số người nuôi tôm he chân trắng ở Hải Phòng đều mong muốn được các cơ quan chức năng giúp đỡ
họ vượt qua những khó khăn về con giống, vốn, kỹ thuật nuôi, dịch bệnh và thị trường tiêu thụ Cụ thể, kết quả điều tra cho thấy: 70% số trang trại đề nghị được trợ giúp về con giống, 42% về vốn, 36% về kỹ thuật nuôi và 16% muốn có thị trường tiêu thụ ổn định
Về hướng phát triển trong thời gian tới, 64% số trang trại điều tra không muốn thay đổi phương thức sản xuất; số còn lại có kế hoạch nâng cấp, đầu tư thêm trang thiết bị cũng như mở rộng diện tích nuôi
IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
Trên 90% số trang trại nuôi tôm he chân trắng ở Hải Phòng được điều hành bởi lao động từ 3 năm kinh nghiệm trở lên Tuy trình độ học vấn nhìn chung cao, tỷ lệ chủ trang trại có trình độ chuyên môn nuôi trồng thủy sản còn thấp, chỉ chiếm khoảng 20%