cổ tích được “sáng tác và truyền lại trong điều kiện đã tách rời khỏi nghi lễ, gắn với sinh hoạt, nên truyện cổ tích trong khi càng giảm yếu tố quái dị, thần kì của thần thánh , thì càng mang nhiều yếu tố thế tục của cuộc đời. Do đó một mặt truyện cổ tích kế thừa truyền thống lãng mạn thần kì của thần thoại, thì mặt khác tính chất hiện thực của truyện cổ tích ngày càng tăng lên” 20; tr.616. Cũng theo tác giả thì nhân vật trung tâm của truyện cổ tích các dân tộc là con người và kết cấu nghệ thuật trong cổ tích thường sử dụng những motif có tính chất khuôn mẫu. Tác giả cũng đã phân tích nội dung và nghệ thuật các tiểu loại cổ tích để làm nổi bật giá trị của thể loại truyện cổ tích. Ngoài ra, trong nghiên cứu này tác giả cũng tìm hiểu thêm một số thể loại trong văn học dân gian của các dân tộc ít người như: Thơ ca dân gian, sử thi anh hùng, truyện thơ. Bên cạnh những công trình nghiên cứu mang tính tổng hợp, còn có những công trình nghiên cứu chuyên biệt như công trình nghiên cứu riêng về truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc của tác giả Nguyễn Thị Minh Thu. Trong Truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc diện mạo và giá trị (2016) tác giả Nguyễn Thị Minh Thu cũng đã khảo sát một cách hệ thống về diện mạo truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc theo thể loại, type truyện và hệ thống motif. Trong công trình nghiên cứu này tác giả cũng đã chỉ ra mối quan hệ giữa truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam với đời sống tín ngưỡng và bản sắc văn hóa của dân tộc. Trong đó, tác giả cũng đã nhận định: “Truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc có số lượng phong phú bao gồm đầy đủ các thể loại như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười và truyện ngụ ngôn, trong đó, thần thoại và truyện cổ tích chiếm số lượng nhiều hơn những thể loại còn lại. Mỗi thể loại một mặt có chức năng, đặc trưng riêng mặt khác lại có mối liên hệ, chuyển hóa vào nhau khá mạnh mẽ. Các dân tộc tuy thuộc nhiều ngữ hệ khác nhau nhưng do điều kiện sinh sống xen kẽ là chủ yếu nên nguồn truyện kể các dân tộc có nhiều điểm tương đồng tạo nên những mẫu số chung trong nội dung và hình thức phản ánh của các thể loại và type truyện” 48; tr.131. Trong công trình này
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NÔNG THỊ UYÊN
TRUYỆN KỂ DÂN GIAN TÀY
Ở BA BỂ, BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Dương Nguyệt Vân
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nông Thị Uyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn là
TS Dương Nguyệt Vân - người đã tận tình hướng dẫn, động viên và tạo mọi
điều kiện tốt nhất cho em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ khoa Ngữ Văn, đặc biệt
là các thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy khóa 26 chuyên ngành Văn học Việt Nam, các cán bộ khoa Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã dạy dỗ, tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập
Tôi vô cùng cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ và ủng hộ của gia đình, bạn
bè Đó chính là nguồn động viên tinh thần rất lớn để tôi theo đuổi và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên ngày 16 tháng 9 năm 2020
Tác giả luận văn
Nông Thị Uyên
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Đóng góp của luận văn 13
7 Cấu trúc của luận văn 13
NỘI DUNG 15
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TỘC NGƯỜI TÀY Ở BA BỂ, BẮC KẠN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN 15
1.1 Khái lược về vùng đất và con người ở Ba Bể, Bắc Kạn 16
1.1.1 Đặc điểm về tự nhiên - xã hội 16
1.1.2 Lịch sử vùng đất 19
1.1.3 Đời sống văn hóa 20
1.1.4 Diện mạo văn học dân gian Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn 28
1.2 Một số vấn đề lí luận 32
1.2.1 Khái niệm truyện kể dân gian 32
1.2.2 Khái niệm kiểu truyện 34
1.2.3 Khái niệm motif (mô típ) 35
Tiểu kết 36
Chương 2 THẦN THOẠI VÀ TRUYỀN THUYẾT TÀY Ở BA BỂ, BẮC KẠN 38
2.1 Thần thoại 38
2.1.1 Khái quát thần thoại Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn 38
Trang 62.1.2 Số liệu khảo sát 39
2.1.3 Phân tích số liệu khảo sát 40
2.1.4 Thần thoại với môi trường văn hóa dân gian 53
2.2 Truyền thuyết 59
2.2.1 Khái quát truyền thuyết Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn 59
2.2.2 Số liệu khảo sát 59
2.2.3 Phân tích số liệu khảo sát 60
2.2.4 Mối quan hệ giữa truyền thuyết với lễ hội, phong tục 67
Tiểu kết 72
Chương 3 TRUYỆN CỔ TÍCH TÀY Ở BA BỂ, BẮC KẠN 74
3.1 Khái quát cổ tích Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn 74
3.2 Số liệu khảo sát 76
3.3 Phân tích số liệu khảo sát 76
3.3.1 Truyện cổ tích thần kì 77
3.3.2 Truyện cổ tích sinh hoạt 85
3.3.3 Truyện cổ tích loài vật 90
3.4 Mối quan hệ giữa truyện cổ tích với văn hóa - tín ngưỡng, phong tục 94
Tiểu kết 99
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ LỤC
Trang 7Nằm ở vùng Đông Bắc của đất nước, Bắc Kạn được biết đến là một tỉnh vùng cao còn nhiều khó khăn sau khi tái lập tỉnh vào năm 1997 Bắc Kạn có 8 đơn vị hành chính với hơn 300.000 người gồm 7 dân tộc cùng sinh sống như: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mông, Hoa, Sán Chay Trong đó, dân tộc thiểu số chiếm trên 80% tổng số dân cư Cùng với quá trình phát triển của lịch sử, dù có không
ít những đổi thay về địa dư hành chính, địa giới, địa danh nhưng tỉnh Bắc Kạn vẫn là địa bàn có sự gắn kết bởi quá trình lịch sử văn học trên nền tảng cảnh quan địa lí với các sắc thái độc đáo đa dạng
Do cuộc kiến tạo lục địa Đông Nam Á cuối kỉ Cambri cách đây hơn 200 triệu năm, thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bắc Kạn những kì quan độc đáo đặc biệt
là vùng đất Ba Bể với danh thắng Hồ Ba Bể từ lâu đã đi vào những câu ca:
Bắc Kạn có suối đãi vàng
Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh
Trang 8Hay đó còn là những giai điệu ngọt ngào được không ít người biết đến đã khái quát được cái đặc sắc của vùng đất Ba Bể giàu đẹp, hùng vĩ, nên thơ “Quê hương em có viên ngọc xanh với hồ Ba Bể nằm giữa tươi xanh Xanh xanh nước,
Ba Bể là nơi hội tụ, sinh sống của 7 dân tộc anh em, trong đó đồng bào dân tộc Tày đông hơn cả (chiếm 61,93% trong tổng số dân cư trên địa bàn huyện -
số liệu tính đến ngày 31/12/2018) Dân tộc Tày sống tập trung thành các bản làng trong các thung hoặc dọc theo bờ sông, suối Cuộc sống hài hòa gắn bó với thiên nhiên, có sự gắn kết cộng đồng đã làm nên nét đặc sắc của văn hóa dân tộc Tày huyện Ba Bể Văn hóa dân tộc Tày góp phần tạo nên nét đặc sắc văn hóa của Bắc Kạn nói chung Vì vậy, việc tìm hiểu truyện kể dân gian Tày huyện Ba Bể là tăng cường sự hiểu bết về vốn văn hóa dân gian của các dân tộc nói chung và của dân tộc Tày nói riêng ở huyện Ba Bể Việc tìm hiểu này còn có ý nghĩa lớn và lâu dài đối với nhiệm vụ xây dựng một đất nước Việt Nam giàu đẹp, xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
1.2 Lí do khoa học
Vấn đề nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn văn học dân gian các dân tộc thiểu
số trong đó có truyện kể dân gian từ lâu đã được nhiều tác giả, nhiều cấp ngành quan tâm Trong quá trình tồn tại và phát triển các dân tộc Ba Bể nói chung và dân tộc Tày Ba Bể nói riêng đã xây dựng cho mình một kho tàng văn hóa dân gian mang đậm bản sắc văn hóa của tộc người mình Mỗi tộc người có bản sắc riêng nhưng nhìn chung vẫn nằm trong mạch ngầm thống nhất của văn hóa Việt Nam Ba Bể được biết đến là cái nôi của văn hóa Tày cổ từ cách đây hơn 2000 năm, nơi đây hội tụ đầy đủ các loại hình văn hóa dân gian như hát hát lượn, hát then…đặc biệt là truyện kể dân gian Truyện kể dân gian đã phản ánh chân thực những quan niệm nguyên sơ của người Tày về lịch sử, địa lí, văn hóa, bản sắc con người vùng đất này Truyện kể dân gian Tày Ba Bể với những đặc sắc riêng
đã góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng nhưng thống nhất của văn học dân
Trang 9gian Việt Nam Theo khảo sát, chúng tôi nhận thấy, truyện kể dân gian dân tộc Tày - Ba Bể chưa được nghiên cứu, khảo sát, mô tả một cách hệ thống
1.3 Lí do nghiệp vụ
Hiện nay, việc nghiên cứu, học tập Văn học dân gian địa phương trong chương trình của các cấp học ở Việt Nam nói chung và tỉnh Bắc Kạn nói riêng còn chưa được chú trọng Là một giáo viên giảng dạy ở trường Phổ thông dân tộc Nội trú tỉnh, chúng tôi đã có một khảo sát nhỏ đối với đối tượng học sinh dân tộc Tày thì điều đáng ngạc nhiên là đến 100% học sinh khi được hỏi về truyện
kể dân gian của dân tộc mình các em đều lắc đầu không biết
Hơn nữa, cũng như các tỉnh khác, tỉnh Bắc Kạn cũng đã có chủ trương đưa Văn học địa phương vào giảng dạy trong các trường phổ thông Đây là việc làm thiết thực giúp học sinh nói riêng và các dân tộc trong địa phương mình hiểu rõ hơn về truyền thống văn hóa, lịch sử, về con người, mảnh đất nơi mình sinh sống, học tập và làm việc
Là một giáo viên giảng dạy tại trường Phổ thông dân tộc Nội trú, ngôi trường có đến 100% là học sinh dân tộc thiểu số; hơn nữa, bản thân cũng là người con của dân tộc Tày, chúng tôi nghĩ việc nghiên cứu, khảo sát, phân tích kết quả khảo sát truyện kể dân gian dân tộc Tày Ba Bể là việc làm cần thiết để giữ gìn văn hóa, văn học dân gian của dân tộc mình Đồng thời, việc làm này cũng có ý nghĩa thiết thực và bổ ích trong công tác giảng dạy tại trường THPT
Với những lí do trên và trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các công
trình nghiên cứu đi trước, chúng tôi lựa chọn đề tài Truyện kể dân gian Tày ở
Ba Bể, Bắc Kạn với mong muốn đóng góp công sức nhỏ bé của mình vào quá
trình nghiên cứu, bảo tồn văn học dân gian các dân tộc thiểu số Đồng thời, là người con của dân tộc Tày Bắc Kạn, tôi muốn góp tấm lòng tri ân của mình với vùng đất, con người Ba Bể - một vùng đất giàu truyền thống làm nên niềm tự hào của mỗi người con khi nhắc tới quê hương Bắc Kạn
Trang 102 Lịch sử vấn đề
Trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học Việt Nam, văn học dân gian được coi là nền móng vững chắc cho sự phát triển rực rỡ của văn học viết sau này Với phương thức chủ yếu là truyền miệng nên văn học dân gian trải qua thời gian sẽ dần bị mai một, lãng quên nếu không có ý thức bảo tồn, bảo lưu những giá trị mà tổ tiên ta để lại Chính vì vậy, việc nghiên cứu, bảo tồn văn học dân gian là một việc làm cấp thiết
Trong kho tàng văn học dân gian, các thể loại thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn thuộc về loại hình tự sự bằng văn xuôi dân gian Việc sưu tầm truyện kể dân gian đã được các học giả quan tâm và tiến hành khảo cứu từ khá sớm, đặc biệt từ sau Cách mạng tháng Tám việc sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian nói chung, truyện kể dân gian nói riêng càng được chú
trọng Đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố như Truyện cổ tích Việt
Nam (1955) của Vũ Ngọc Phan, Lược khảo về thần thoại Việt Nam (1956) của
Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (1957) của Nguyễn Đổng
Chi…
Cùng với văn học dân gian của người Kinh thì bộ phận văn học dân gian của các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc nói chung và ở Bắc Kạn nói riêng
đã góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng của văn học dân gian Việt Nam Trong
đó, truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số đã bắt đầu được các nhà nghiên cứu chú ý quan tâm, sưu tầm Có thể kể đến một số công trình đã dày công sưu tầm,
giới thiệu như: Truyện cổ Việt Bắc (1963) do Hoàng Quyết biên soạn; Truyện cổ
Tày - Nùng (1974); Truyện cổ các dân tộc ít người Việt Nam (1985 -1994) do
Đặng Nghiêm Vạn, Đặng văn Lung, Tăng Kim Ngân biên soạn; Truyện cổ Bắc
Kạn (2000); Sưu tập và khảo cứu truyện cổ Tày của tác giả Vũ Anh Tuấn và Vi
Hồng Thành quả của các công trình sưu tập trên đã khẳng định vị trí và giá trị của truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số trong kho tàng truyện kể dân gian Việt Nam, đồng thời thấy được truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số đã góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng cho văn học dân gian Việt Nam nói riêng
Trang 11và nền Văn học Việt Nam nói chung Tuy nhiên, việc sưu tập vẫn còn hạn chế bởi truyện kể dân gian của nhiều dân tộc vẫn chưa có mặt trong những công trình này và những người làm công tác sưu tập đa phần không phải là người dân tộc thiểu số mà là người Kinh Vì vậy, dù có trân trọng, yêu thích kho truyện kể của các dân tộc ít người và mong muốn khôi phục, bảo tồn những giá trị tinh thần đó nhưng sự khác nhau về ngôn ngữ và tâm lí dân tộc cũng là một trở ngại trong quá trình sưu tập Trong công tác khảo cứu, truyện kể của các dân tộc thiểu số của tỉnh Bắc Kạn đã được các tác giả quan tâm, đặc biệt là truyện kể dân gian của huyện Ba Bể Với tâm huyết của những nhà nghiên cứu, sưu tầm truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số tỉnh Bắc Kạn đã được tập hợp, phân loại trong 3
tập truyện Truyện cổ Bắc Kạn do nhóm tác giả Vũ Anh Tuấn, Bàn Tuấn Năng,
Lâm Xuân Đình sưu tầm, biên soạn, chỉnh lí của Sở Văn hóa - Thông tin - Thể thao tỉnh Bắc Kạn xuất bản năm 2000 - 2002 Trong 3 tập truyện này các tác giả
đã dày công khảo sát, sưu tầm và phân loại các truyện kể của các dân tộc ít người của các địa phương trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn (chủ yếu là của dân tộc Tày và dân tộc Dao) vào các thể loại: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười
và truyện ngụ ngôn Đặc biệt, các tác giả đã dành riêng tập III -Truyện cổ Bắc
Kạn cho vùng văn hóa Ba Bể với đầy đủ các thể loại truyện kể nói trên nhưng
những truyện kể này mang những đặc trưng riêng của địa phương Ba Bể - một nơi phong cảnh hữu tình, thiên nhiên trữ tình thơ mộng nên những truyện kể của các dân tộc ít người nơi đây cũng khoác lên mình màu sắc huyền thoại Tuy nhiên, công trình này mới chỉ dừng lại ở việc sưu tập và phân loại truyện kể dân gian, chưa phân tích cụ thể về nội dung và nghệ thuật của những bản kể dân
gian này Ngoài 3 tập Truyện cổ Bắc Kạn, phản ánh về đời sống tinh thần của các dân tộc trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn còn có cuốn Bản sắc và truyền thống văn
hóa các dân tộc tỉnh Bắc Kạn (2004), đã phản ánh khá cụ thể về đời sống văn
hóa tinh thần và vật chất của các dân tộc trong tỉnh Bắc Kạn Trong đó là cách ứng xử, những phong tục truyền thống, những lễ nghi trong tang ma, thủ tục cưới xin, đã hình thành trong đời sống các dân tộc tỉnh Bắc Kạn từ xa xưa Từ
Trang 12đó giúp chúng ta có cái nhìn cụ thể về những đặc sắc văn hóa của dân tộc ít người ở Bắc Kạn nói chung và huyện Ba Bể nói riêng, trong đó có sự góp mặt của tộc người Tày Ba Bể
So với việc sưu tầm truyện kể dân gian của người Kinh thì việc sưu tầm truyện kể dân gian của dân tộc thiểu số bắt đầu muộn hơn, nhưng việc sưu tầm diễn ra khá liên tục; điều này thể hiện sự quan tâm của các nhà sưu tầm đến kho truyện kể của các dân tộc ít người Tuy vậy, những công trình nói trên chỉ dừng lại ở việc sưu tầm, tập hợp những truyện kể của một số dân tộc tiêu biểu chứ chưa phải là những công trình đi sâu vào nghiên cứu, lí giải
Ngoài những tuyển tập truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số nói trên, nghiên cứu về văn học dân gian các dân tộc ít người còn có những cuốn sách đã
được xuất bản như: Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam của tác giả Phan Đăng
Nhật (1981) Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã nghiên cứu, phân tích
về diện mạo, giá trị nội dung và nghệ thuật của một số thể loại văn học dân gian trong đó có truyện kể dân gian
Cuốn Giáo trình văn học dân gian Việt Nam (2000) được biên soạn bởi
nhóm tác giả Đinh Gia Khánh (chủ biên) cùng Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn
đã dành một phần riêng cho văn học dân gian các dân tộc ít người do Võ Quang Nhơn biên soạn Trong công trình nghiên cứu này, về truyện kể dân gian tác giả tập trung vào hai thể loại là thần thoại và truyện cổ tích Về thần thoại, theo tác
giả nhận định và phân loại thì: “Kho tàng thần thoại của các dân tộc anh em rất
phong phú Căn cứ theo những biểu hiện tương ứng về các mặt chủ đề, hình tượng, motif… xuất hiện khá phổ biến trong các thần thoại, ta có thể phân chia
hệ thống thần thoại các dân tộc theo các loại hình sau đây: loại truyện kể về việc sinh ra trời đất, cây cỏ, núi sông; loại truyện kể về việc sinh ra con người, sinh
ra các dân tộc; loại truyện kể về những kì tích sáng tạo văn hóa trong buổi đầu của con người; loại truyện kể về những cuộc đấu tranh xã hội trong buổi đầu của xã hội có giai cấp” [20; tr.588] Sau khi nhận định, phân loại tác giả đã đi
vào phân tích cụ thể từng loại thần thoại Về truyện cổ tích, theo tác giả thì truyện
Trang 13cổ tích được “sáng tác và truyền lại trong điều kiện đã tách rời khỏi nghi lễ, gắn
với sinh hoạt, nên truyện cổ tích - trong khi càng giảm yếu tố quái dị, thần kì của thần thánh , thì càng mang nhiều yếu tố thế tục của cuộc đời Do đó một mặt truyện cổ tích kế thừa truyền thống lãng mạn thần kì của thần thoại, thì mặt khác tính chất hiện thực của truyện cổ tích ngày càng tăng lên” [20; tr.616] Cũng
theo tác giả thì nhân vật trung tâm của truyện cổ tích các dân tộc là con người
và kết cấu nghệ thuật trong cổ tích thường sử dụng những motif có tính chất
khuôn mẫu Tác giả cũng đã phân tích nội dung và nghệ thuật các tiểu loại cổ
tích để làm nổi bật giá trị của thể loại truyện cổ tích Ngoài ra, trong nghiên cứu này tác giả cũng tìm hiểu thêm một số thể loại trong văn học dân gian của các dân tộc ít người như: Thơ ca dân gian, sử thi anh hùng, truyện thơ
Bên cạnh những công trình nghiên cứu mang tính tổng hợp, còn có những công trình nghiên cứu chuyên biệt như công trình nghiên cứu riêng về truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc của tác giả Nguyễn Thị Minh
Thu Trong Truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc diện mạo
và giá trị (2016) tác giả Nguyễn Thị Minh Thu cũng đã khảo sát một cách hệ
thống về diện mạo truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc theo thể loại, type truyện và hệ thống motif Trong công trình nghiên cứu này tác giả cũng đã chỉ ra mối quan hệ giữa truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam với đời sống tín ngưỡng và bản sắc văn hóa của dân tộc
Trong đó, tác giả cũng đã nhận định: “Truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số ở
miền núi phía Bắc có số lượng phong phú bao gồm đầy đủ các thể loại như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười và truyện ngụ ngôn, trong đó, thần thoại
và truyện cổ tích chiếm số lượng nhiều hơn những thể loại còn lại Mỗi thể loại một mặt có chức năng, đặc trưng riêng mặt khác lại có mối liên hệ, chuyển hóa vào nhau khá mạnh mẽ Các dân tộc tuy thuộc nhiều ngữ hệ khác nhau nhưng
do điều kiện sinh sống xen kẽ là chủ yếu nên nguồn truyện kể các dân tộc có nhiều điểm tương đồng tạo nên những mẫu số chung trong nội dung và hình thức phản ánh của các thể loại và type truyện” [48; tr.131] Trong công trình này
Trang 14chúng tôi cũng thấy một số truyện kể dân gian của dân tộc Tày ở Bắc Kạn nói chung và dân tộc Tày Ba Bể nói riêng đã được khảo sát, phân tích Hay như công
trình nghiên cứu Chủ đề hôn nhân trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam của
tác giả Dương Nguyệt Vân (2019) Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu vấn đề phản ánh phong tục trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam về chủ đề hôn nhân Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên khảo sát truyện cổ tích trên diện rộng Bên cạnh truyện cổ tích của dân tộc Kinh, tác giả cũng đã đề cập và tìm hiểu
về truyện cổ tích của các dân tộc thiểu số, trong đó có truyện của dân tộc Tày
Theo tác giả: “Truyện cổ tích về chủ đề hôn nhân chứa đựng trong đó các phong
tục, tập quán hôn nhân của cộng đồng; các phong tục này khi đi vào truyện cổ tích đã thể hiện ý nguyện của nhân dân và được biểu hiện trên nhiều góc độ khác nhau” [55] Từ khái quát này, bên cạnh khám phá nội dung và nghệ thuật của
truyện cổ tích, tác giả đã phân tích cụ thể các phong tục trong hôn nhân tồn tại
trong đời sống của các dân tộc Việt Nam như: chủ đề hôn nhân phản ánh phong
tục ăn trầu; chủ đề hôn nhân phản ánh phong tục thử tài kén rể và thách cưới; chủ đề hôn nhân phản ánh phong tục hỏi vợ/ dạm vợ/ cướp (bắt) vợ/ chồng; chủ
đề hôn nhân phản ánh phong tục ở rể Như vậy, có thể thấy công trình nghiên cứu
này giúp chúng ta hiểu rõ và sâu sắc hơn về những phong tục cưới gả của các dân tộc Việt Nam được hình thành từ khi xã hội bắt đầu có sự phân hóa Có thể nói, những công trình này đã phần nào giúp chúng tôi hiểu hơn về đời sống văn hóa của người xưa thể hiện trong truyện kể dân gian
Bên cạnh những công trình khảo sát, sưu tầm và nghiên cứu có giá trị nói tới trên đây, nghiên cứu về văn hóa, văn học dân gian đặc biệt là truyện kể dân gian của các dân tộc ít người còn có những công trình đăng trong các tạp chí, tiêu
biểu phải kể đến “Thần thoại các dân tộc Việt Nam, thể loại và bản chất” của tác giả Nguyễn Thị Huế in trên Tạp chí Văn học, số 2 năm 2008 Trong nghiên
cứu này, theo tác giả thì có thể phân loại thần thoại Việt Nam nói chung và thần
thoại các dân tộc ít người nói riêng thành hai nhóm: Nhóm thần thoại suy nguyên
kể về nguồn gốc vũ trụ và nguồn gốc muôn loài; nhóm thần thoại kể về sự chinh
Trang 15phục thiên nhiên và sáng tạo văn hóa Tác giả cũng nhận định: “Thần thoại các dân tộc thiểu số người Việt Nam đã phản ánh một cách kỳ diệu nhận thức của con người về vũ trụ, về công cuộc chinh phục thiên nhiên và về các sinh hoạt xã hội của các dân tộc trong thời kỳ xa xưa Hình thức biểu hiện cơ bản của thần thoại các dân tộc là những hoạt động trình diễn mang tính tổng hợp, phong phú
và phức hợp [13]
Ngoài ra, nghiên cứu về truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số phải kể tới
một số luận án, luận văn như Khảo sát cấu trúc và ý nghĩa một số mô típ truyện
kể dân gian Tày vùng Đông Bắc Việt Nam của tác giả Vũ Anh Tuấn (Luận án
Phó Tiến sĩ năm 1991) Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã công phu khảo cứu rất cụ thể cấu trúc và ý nghĩa của một số típ truyện kể dân gian ở vùng
Đông Bắc như: Nhóm mẫu kể về hình tượng người khổng lồ; nhóm mẫu kể về
người thần kì đội lốt; nhóm mẫu kể về người thần kì sáng tạo các loại hình nghệ thuật; nhóm mẫu kể về địa danh [49] Luận án Mối quan hệ văn hóa Tày - Việt dưới góc độ thẩm mĩ qua một số kiểu truyện kể dân gian cơ bản của Hà Thị Thu
Hương - Luận án Tiến sĩ Văn học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội [15] Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ văn hóa Tày
- Việt qua khảo sát, so sánh và phân tích một số kiểu truyện người anh hùng kiến tạo thế giới, kiến tạo vũ trụ; người anh hùng văn hóa; người anh hùng chiến trận
chống giặc ngoại xâm Hay trong luận văn Khảo sát truyện kể dân gian Tày -
Nùng xứ Lạng của Nguyễn Thị Tân Hương (Luận văn thạc sĩ ĐHSP Thái Nguyên
- 2012) đã khảo sát về 3 thể loại truyện kể thần thoại, truyền thuyết, cổ tích của hai dân tộc Tày - Nùng và đặc điểm của 3 thể loại đó trên một số phương diện Những nghiên cứu này đã giúp chúng tôi hiểu rõ hơn, chi tiết hơn đặc điểm về nội dung, nghệ thuật của một số thể loại truyện kể dân gian của các dân tộc thiểu
số miền Bắc nói chung, truyện kể dân gian Tày nói riêng Ngoài những công trình nói trên, nghiên cứu về truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số của tỉnh Bắc
Kạn còn có những luận văn như Khảo sát những đặc điểm truyền thuyết của
người Tày ở Bắc Kạn của Mai Thu Thủy (Luận văn Thạc sĩ ĐHSP Hà Nội -
Trang 162005) Khảo sát truyện kể dân gian Bắc Kạn lưu truyền ở vùng hồ Ba Bể từ góc
nhìn văn hóa của Hoàng Thu Nhuần (Luận văn Thạc sĩ ĐHSP Thái Nguyên -
2018) đã giúp người đọc tìm hiểu những giá trị loại hình và đặc thù của truyện
kể dân gian lưu truyền ở vùng hồ Ba Bể, Bắc Kạn về nội dung và nghệ thuật được tiếp cận từ góc nhìn văn hóa Từ đó thấy được quan niệm của người dân tộc thiểu số ở vùng hồ Ba Bể xưa về tự nhiên, lao động sản xuất, những mối quan
hệ xã hội… thấy được đời sống văn hóa phong phú, đa dạng của các tộc người vùng hồ Ba Bể xưa Tuy nhiên, như nghiên cứu của Mai Thu Thủy chỉ khảo sát
về đặc điểm của thể loại truyền thuyết hay luận văn của Hoàng Thu Nhuần lại nghiên cứu chung về truyện kể dân gian lưu truyền ở vùng hồ của nhiều dân tộc cùng sinh sống trên vùng hồ Ba Bể Những công trình nghiên cứu trên thực sự là những tư liệu quý báu giúp chúng tôi có cái nhìn cụ thể, chi tiết về văn học dân gian đặc biệt là truyện kể dân gian với những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật Trong đó truyện kể dân gian của các dân tộc ít người là bộ phận quan trọng, tạo nên sự phong phú đặc sắc cho kho truyện kể dân gian, từ đó gợi dẫn chúng tôi tiếp tục thực hiện đề tài của mình
Với mong muốn có một công trình nghiên cứu riêng về truyện kể dân gian của tộc người Tày - một tộc người định cư sớm nhất và giàu bản sắc văn hóa
tại huyện Ba Bể Chúng tôi thực hiện đề tài Truyện kể dân gian Tày ở Ba Bể,
Bắc Kạn trên cơ sở kế thừa những thành tựu của những công trình trước đó,
chúng tôi tiếp tục khảo sát, phân tích số liệu khảo sát và làm rõ mối quan hệ giữa truyện kể dân gian của dân tộc Tày ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn với môi trường văn hóa dân gian, những phong tục, tín ngưỡng, lễ nghi Chúng tôi không có tham vọng luận văn này sẽ bao quát được hết những giá trị và vẻ đẹp đặc sắc của văn hóa, văn học dân gian dân tộc Tày huyện Ba Bể; những tâm tư, tình cảm mà đồng bào dân tộc nơi đây đã gửi gắm trong kho tàng truyện kể của
họ Nhưng chúng tôi hi vọng, luận văn sẽ góp phần vào việc bảo tồn giữ gìn những nét đặc sắc của văn học dân gian, đặc biệt là từ đó những tác phẩm văn
Trang 17học dân gian của dân tộc thiểu số sẽ được chọn lọc và đưa vào giảng dạy trong
chương trình Văn học địa phương
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài của luận văn là Truyện kể dân gian Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn Vì vậy,
đối tượng nghiên cứu của luận văn sẽ là truyện kể dân gian của dân tộc Tày ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung tìm hiểu những vấn đề liên quan đến truyện kể dân gian của dân tộc Tày trên địa bàn huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn (Khảo sát qua thể loại thần thoại, truyền thuyết, cổ tích; vì đây là ba thể loại có số lượng bản kể khá phong phú và đa dạng)
Phạm vi địa bàn khảo sát: tại các xã Đồng Phúc, Nam Mẫu, Quảng Khê, Mĩ Phương và thị trấn Ba Bể vì những địa bàn này còn lưu giữ nhiều truyện kể dân gian của dân tộc Tày
Phạm vi tư liệu: căn cứ trên các sưu tập truyện đã được công bố Đó là
Truyện cổ Bắc Kạn do nhóm tác giả Vũ Anh Tuấn, Bàn Tuấn Năng, Lâm Xuân
Đình (sưu tầm, biên soạn, chỉnh lí) do Sở Văn hóa - Thông tin - Thể thao tỉnh Bắc Kạn xuất bản 2002
Ngoài ra, chúng tôi sẽ khảo sát thêm truyện kể dân gian dân tộc Tày từ những nguồn kể của người dân địa phương qua điền dã, sưu tầm Bên cạnh đó, chúng tôi còn mở rộng khảo sát truyện kể dân gian của dân tộc Tày ở địa phương khác để so sánh, đối chiếu; làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu của đề tài
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
- Khảo sát, thống kê, mô tả một cách có hệ thống truyện kể dân gian Tày ở
Ba Bể, Bắc Kạn
Trang 18- Chỉ ra một số đặc điểm cơ bản về nội dung phản ánh và hình thức thể hiện của truyện kể dân gian Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn; bước đầu đặt nó trong sự lí giải với mối quan hệ tộc người
- Tìm ra mối quan hệ giữa truyện kể dân gian Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn với
đời sống văn hóa dân gian
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu một số vấn đề chung về tự nhiên, xã hội, đời sống văn hóa tộc người Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn
- Nghiên cứu một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
- Khảo sát, điền dã, sưu tầm các bản kể thuộc truyện kể dân gian Tày ở Ba
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp sưu tầm, điền dã
Với phương pháp này, chúng tôi trực tiếp đi đến những địa phương đã hoạch định: thị trấn Ba Bể, xã Mĩ Phương, xã Đồng Phúc, xã Nam Mẫu, xã Quảng Khê thuộc huyện Ba Bể, Bắc Kạn để gặp gỡ phỏng vấn, nghe kể chuyện từ những nghệ nhân, các cụ cao niên để nắm bắt thông tin phục vụ cho đề tài nghiên cứu,
từ đó tiến hành sưu tầm bản kể
5.2 Phương pháp khảo sát, thống kê
Phương pháp này giúp chúng tôi đưa ra những số liệu cụ thể, chính xác về vấn đề khảo sát, từ đó sẽ đưa ra được những kết luận khách quan cho vấn đề
nghiên cứu
Trang 195.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng khi phân tích nội dung của truyện kể Trên
cơ sở đó, luận văn tổng hợp các vấn đề, từ khảo sát đến kết quả trả lời phỏng vấn của các nghệ nhân, người dân; từ đó, rút ra những nhận xét, đánh giá về giá trị
của truyện kể dân gian Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn
5.4 Phương pháp so sánh
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để so sánh các bản kể, dị bản của mỗi thể loại; bên cạnh đó, chúng tôi bước đầu cũng sẽ so sánh truyện kể dân gian Tày huyện Ba Bể với truyện kể của đồng bào Tày ở một số địa phương khác và
với truyện kể của dân tộc Kinh
5.5 Phương pháp liên ngành
Truyện kể dân gian Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn là một hệ thống bao gồm nhiều thành tố và có mối quan hệ chặt chẽ với các hệ thống khác như lịch sử, tôn giáo, văn hóa, địa lí… Trên góc độ khoa học văn học dân gian, việc vận dụng các kiến thức của nhiều ngành khác nhau như là một viện dẫn khoa học mà từ đó những giá trị văn hóa của văn học dân gian sẽ được làm sáng tỏ và rất hữu ích cho việc nghiên cứu
6 Đóng góp của luận văn
Đề tài Truyện kể dân gian Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn, là công trình đầu tiên
khảo sát, điền dã, sưu tầm, thống kê mô tả một cách có hệ thống, chuyên biệt về truyện kể dân gian Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn trên hai nguồn tư liệu chính: văn bản
đã công bố, xuất bản và những văn bản chưa được công bố mà tác giả luận văn
đã khảo sát, điền dã, sưu tầm, tại địa phương
Luận văn cũng chỉ ra và phân tích một số đặc điểm cơ bản về nội dung phản ánh và hình thức thể hiện của truyện kể dân gian Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn qua các nhóm truyện tiêu biểu
Luận văn cũng đã phân tích mối quan hệ giữa thần thoại, truyền thuyết và
cổ tích với đời sống văn hóa dân gian để thấy được những giá trị của những tác phẩm foklore
7 Cấu trúc của luận văn
Trang 20Ngoài phần Mở đầu, Kết luận thì phần Nội dung của luận văn được trình
bày trong ba chương:
Chương 1: Tổng quan về tộc người Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn và một số vấn
đề lí luận
Chương 2: Thần thoại và truyền thuyết Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn
Chương 3: Truyện cổ tích Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn
Trang 21NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TỘC NGƯỜI TÀY Ở BA BỂ, BẮC KẠN VÀ MỘT SỐ
VẤN ĐỀ LÍ LUẬN
Ai lên Ba Bể mà xem Động Puông Ba Bể nơi tiên chơi cờ Sông năng nước chảy lững lờ Đầu Đẳng thác trắng đôi bờ cây xanh
(Ca dao cổ truyền)
Ba Bể được biết đến không chỉ là một huyện vùng núi cao thuộc tỉnh Bắc Kạn với quần thể danh thắng hồ Ba Bể nổi tiếng mà còn được biết đến như một vùng huyền thoại về văn hóa dân gian Tạo nên vùng văn hóa dân gian đặc sắc
ấy có sự góp phần không nhỏ của tộc người Tày như trong phần lời nói đầu giới
thiệu về Truyện cổ Bắc Kạn (tập 3), tác giả Vũ Anh Tuấn đã viết: “Quần thể núi
hồ Ba Bể là một danh thắng của vùng Việt Bắc nằm trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, một điểm hội tụ tinh hoa trung tâm văn hóa Tày - Thái cổ trên vùng văn hóa dân gian Bắc Kạn” [50; tr.5]
Do điều kiện sinh sống tự nhiên, đời sống văn hóa cũng như các phong tục tập quán, tín ngưỡng mang đặc trưng vùng miền nên dân tộc Tày nơi đây vừa có những nét tương đồng nhưng cũng có nét khác biệt so với dân tộc Tày ở một số địa phương khác Tộc người Tày huyện Ba Bể đã sáng tạo nên những giá trị văn hóa đậm đà bản sắc, góp phần tạo nên sức sống và sức lưu truyền văn hóa dân gian nói chung, truyện kể dân gian nói riêng của địa phương mình Vì vậy, nghiên cứu truyện kể dân gian dân tộc Tày huyện Ba Bể, chúng tôi nhận thấy, việc tìm hiểu tổng quan về tộc người Tày ở huyện Ba Bể cũng như những điều kiện tự nhiên - xã hội của địa phương này là điều cần thiết bởi đó chính là nền tảng hình thành nên kho tàng truyện kể dân gian của họ Bên cạnh đó, để có cơ sở vững chắc cho vấn đề nghiên cứu chúng tôi cũng tìm hiểu một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
Trang 221.1 Khái lược về vùng đất và con người ở Ba Bể, Bắc Kạn
1.1.1 Đặc điểm về tự nhiên - xã hội
1.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Bắc Kạn là một tỉnh nằm ở vùng Đông Bắc của tổ quốc, địa hình nơi đây chủ yếu là đồi núi cao Bắc Kạn được tái lập tỉnh ngày 01/01/1997, gồm có 7 huyện: Chợ Mới, Na Rì, Chợ Đồn, Phủ Thông, Ngân Sơn, Ba Bể, Pác Nặm và thành phố Bắc Kạn Trong đó, huyện Ba Bể nằm ở phía Đông Bắc và là huyện vùng cao của tỉnh Bắc Kạn, cách trung tâm thành phố Bắc Kạn 60km về phía Bắc Phía Đông giáp huyện Ngân Sơn, phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Nam giáp huyện Chợ Đồn và huyện Bạch Thông, Phía Bắc giáp huyện Pác Nặm
và tỉnh Cao Bằng Địa bàn huyện Ba Bể hiện nay, vào thời nhà Lí thuộc về đất huyện Vĩnh Thông; đến thời nhà Lê thì Ba Bể thuộc châu Bạch Thông thuộc phủ Thông Hóa Huyện lị Ba Bể chính là thi trấn Chợ Rã và đồng bào nơi đây còn gọi bằng một cái tên khác đó là Chợ Slo Xuất hiện sớm trong lịch sử, tên gọi
Chợ Rã đã được nêu trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi và sau đó được nêu trong
Đại Nam nhất thống chí, trong mục Thái Nguyên thổ sản
Huyện Ba Bể có diện tích tự nhiên là 68.421 ha, chủ yếu là diện tích đất lâm nghiệp (trên 80%), đất nông nghiệp khoảng10% Địa hình chủ yếu của địa phương này là núi cao xen lẫn những khối núi đá vôi hiểm trở Những khối núi
đá vôi này có niên đại hơn 450 triệu năm do quá trình kiến tạo địa chất cacxtơ đã tạo thành những hình dáng kì thú, đặc trưng là dãy núi Phja Bjooc chạy dài theo hướng Đông - Nam có độ cao 1578m Ngoài ra, Ba Bể còn có các dãy núi chạy theo nhiều hướng thấp dần từ bắc sang đông nam hình thành nên khá nhiều thung lũng nhỏ với địa hình phức tạp Địa hình Ba Bể xét về tổng quan có thể thấy được chia thành hai vùng rõ rệt: Vùng núi thấp và vùng núi cao Vùng núi thấp xen kẽ đồng ruộng tập trung ở khu trung tâm và hướng nam Vùng này thích hợp cho trồng các loại cây lương thực như các loại cây họ đậu, lúa nước, cây ăn quả và chăn nuôi gia cầm và tiểu gia súc Vùng núi cao tập trung chủ yếu là các dãy núi
đá cao, có độ dốc lớn xen kẽ là những khu ruộng bậc thang của đồng bào các dân
Trang 23tộc thiểu số Vùng núi cao này chủ yếu nằm ở hướng Tây - Tây Bắc và Đông Bắc Đất canh tác chủ yếu là nương rẫy thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp dài ngày, cây lương thực cạn như ngô, khoai, sắn hoặc lúa nương
và chăn nuôi đại gia súc
Ở vùng này có vườn quốc gia Ba Bể là một di sản thiên nhiên vô cùng quý giá với hệ thống rừng nguyên sinh có diện tích 23.340 ha trên núi đá vôi phong phú với thảm thực vật và các hệ động vật quý hiếm Về thực vật có tới 417 loài, trong đó có nhiều loại gỗ quý hiếm như: lim, nghiến, lát, đinh…và nhiều cây dược liệu quý hiếm cùng hàng trăm loài địa lan, phong lan Về động vật cũng vô cùng phong phú, với 299 loài động vật có xương sống Cùng với đó, hồ Ba Bể gắn liền với dòng sông Năng và hệ thống hang động do cuộc kiến tạo lục địa Đông Nam Á cuối kỉ Camri cách đây hơn 200 triệu năm đã hình thành nên cảnh quan địa chất độc đáo Hồ có những đoạn hơi eo lại bởi những dãy núi đá vôi chia cắt mặt hồ thành 3 bể lớn theo tiếng địa phương là Pé Lù, Pé Lầm và Pé Lèng có lẽ vì thế mới có tên gọi là hồ Ba Bể Hồ Ba Bể nằm ở độ cao 145m so với mực nước biển, có diện tích mặt hồ khoảng 500ha, chiều dài hơn 8km, chỗ rộng nhất khoảng 3km, độ sâu trung bình của hồ là 20m đến 35m, dung tích 90 triệu m3nước Hồ Ba Bể là nơi đổ vào của 3 con sông chính: sông Chợ Lùng đổ vào hồ tại bản Pác Ngòi; sông Tả Han bắt nguồn từ Xuân Lạc - Chợ Đồn đổ vào phía Tây hồ ở bản Cốc Tộc; suối Nam Cường từ phía Bắc huyện Chợ Đồn đổ vào hồ tại bản Bó Lù Xung quanh hồ là quần thể du lịch như động Puông, động Hua Mạ, thác Đầu Đẳng, Ao Tiên, Gò bà góa (Pò Giả Mải) gắn với những huyền thoại ấm áp tình người tạo nên khu danh thắng nổi tiếng ở khu vực miền núi phía Bắc nước ta Với thắng cảnh thiên nhiên đẹp và nhiều nét đặc trưng độc đáo, hồ
Ba Bể đã được Hội nghị Hồ nước ngọt thế giới công nhận là một trong 20 hồ nước ngọt đặc biệt của thế giới cần được bảo vệ và phát triển
Khí hậu của Ba Bể cơ bản là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm từ 21oC - 23oC Khí hậu có sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm là khá rõ rệt Vào mùa đông, khí hậu Ba Bể khá khắc nghiệt, nhiệt độ xuống thấp khu vực
Trang 24Ba Bể thường xuất hiện sương muối thậm chí ở khu vực khe núi nhiều khi có băng giá Còn mùa hè, do nhiều đồi núi với thảm thực vật phong phú và mạng lưới sông suối dày đặc nên khí hậu thường mát mẻ, trong lành
Như vậy, về mặt tự nhiên, có thể nói Ba Bể đã được thiên nhiên ưu đãi ban tặng cho vùng đất này những điều kiện tự nhiên mà không một địa phương nào trong tỉnh có được Những điều kiện tự nhiên này về cơ bản là thuận lợi cho đời sống các dân tộc thiểu số ở huyện Ba Bể nói chung và dân tộc Tày nói riêng Và đây cũng là cơ sở cho việc hình thành nên những câu chuyện dân gian mang đậm màu sắc huyền thoại, mang đậm dấu ấn vùng miền như sự xuất hiện của những hang động, sự hình thành nên hồ Ba Bể hay sự xuất hiện của những con vật, gốc cây…xung quanh cuộc sống của người dân nơi đây
1.1.1.2 Đặc điểm xã hội
Huyện Ba Bể trước đây vốn là một huyện của tỉnh Cao Bằng nhưng từ 1.1.1997 khi tỉnh Bắc Kạn được tái lập từ tỉnh Bắc Thái, huyện Ba Bể được điều chuyển từ tỉnh Cao Bằng về tỉnh Bắc Kạn quản lí Huyện có 16 đơn vị hành chính gồm thị trấn Ba Bể và 15 xã: Mĩ Phương, Yến Dương, Hà Hiệu, Quảng Khê, Đồng Phúc, Khang Ninh, Thượng Giáo, Nam Mẫu, Cao Trĩ, Hoàng Trĩ, Bành Trạch, Cao Thượng, Địa Linh, Chu Hương, Phúc Lộc Dân số toàn huyện hơn
51000 người, trong đó có tới 95,15% là người dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Dao, Mông… và dân tộc Tày là tộc người chiếm số lượng đông nhất với 61,93% trên tổng số dân tộc thiểu số ở huyện
Sự phân bố dân cư các dân tộc thiểu số ở các thôn bản trong huyện cũng có
sự chênh lệch Có một số bản chỉ có duy nhất một tộc người sinh sống Thông thường, cư dân người Tày tập trung trong các bản làng tại những dải đất thấp dọc bên sông, suối hoặc ven hồ Cư dân người Dao lại lập bản sinh sống ở lưng chừng núi, cư dân người Mông lại thường sinh sống trên các vùng núi cao Trước đây,
cư dân dân tộc Mông và dân tộc Dao thường sống du canh, du cư nhưng hiện nay
họ đã định cư cố định bản làng để lao động sản xuất Chỉ có tộc người Tày từ xưa đến nay vẫn định cư ổn định tạo nên những bản làng đông đúc, sinh hoạt tập
Trang 25trung tạo nên nền văn hóa cũng rất phong phú, đặc sắc Dù là dân tộc nào thì đối
với họ, bản làng, thôn xã đều là đơn vị cư trú quan trọng [48; tr.9] Ở đó, các gia
đình có sự gắn kết bởi tình làng nghĩa xóm, thậm chí là quan hệ họ tộc Dù mỗi dân tộc có đặc điểm định cư khác nhau nhưng họ đều thống nhất về tiêu chí xây dựng bản làng đó là gần nguồn nước để tiện cho lao động sản xuất và sinh hoạt
Về tổ chức quản lí xã hội, mỗi thôn bản đều có người đứng đầu được gọi là trưởng thôn Còn về gia đình thì hầu hết các gia đình của dân tộc thiểu số nơi đây đều thuộc gia đình nhỏ phụ hệ, có gia đình có nhiều thế hệ cùng sinh sống Trong mỗi gia đình thì người chồng, người cha làm chủ gia đình đồng nghĩa với việc: điều hành các công việc trong gia đình, tổ chức sản xuất hay điều hòa các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội đều do người chồng quyết định Từ lâu, việc phân công công việc cho các thành viên trong gia đình đều dựa vào độ tuổi như: người già sẽ ở nhà phụ giúp con cháu việc trông nom nhà cửa, cơm nước, chăn nuôi; người ở độ tuổi lao động sẽ ra đồng, lên nương hay gánh vác những việc nặng nhọc hơn Trong lao động, người đàn ông sẽ gánh vác công việc nặng hơn như cày, bừa, dựng nhà cửa… còn phụ nữ sẽ đảm nhiệm việc chăm sóc con cái, thêu thùa hay chăm sóc hoa màu
Trải qua thời gian, các dân tộc thiểu số huyện Ba Bể có sự giao lưu, tiếp nhận và ảnh hưởng lẫn nhau về văn hóa, văn học do quá trình sống cộng cư Tuy nhiên, trong các tộc người thiểu số ở Ba Bể thì tộc người Tày chiếm tỉ lệ cao hơn
cả và văn hóa - văn học dân gian của tộc người Tày cũng rất đặc sắc, phong phú nên chúng tôi chọn truyện kể dân gian của dân tộc Tày ở huyện Ba Bể làm vấn
đề nghiên cứu
1.1.2 Lịch sử vùng đất
1.1.2.1 Nguồn gốc tộc người Tày
Dân tộc Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỉ thứ nhất trước Công nguyên với các tên gọi khác nhau như: Thổ, Ngạn, Phèn…
và theo một số nghiên cứu còn cho rằng dân tộc Tày ở Việt Nam có mối quan hệ gần gũi với người Choang tại Trung Quốc Ở Việt Nam, người Tày có mặt khắp
Trang 26cả nước, tuy nhiên địa bàn cư trú chủ yếu là ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn… [59] Ở Bắc Kạn, dân tộc Tày chiếm số lượng đông nhất trong các
dân tộc của tỉnh Bắc Kạn với 52,9% trên tổng số dân toàn tỉnh Trong đó, huyện
Ba Bể có 6 dân tộc anh em cùng sinh sống thì đồng bào dân tộc Tày chiếm 61,93
% trong tổng số dân cư trên địa bàn huyện Trong các tộc người sống ở huyện
Ba Bể thì tộc người Tày định cư sớm nhất Khoảng hơn 2000 năm qua, cư dân Tày đã có mặt và sinh sống định cư tại Ba Bể và trở thành tộc người chiếm đa số
ở đây
1.1.2.2 Địa bàn sinh tụ
Huyện Ba Bể chủ yếu có địa hình hiểm trở với nhiều núi cao, nhiều sông suối nên không có nhiều cánh đồng hay bãi bồi rộng lớn mà chủ yếu là các thung lũng nhỏ hay bãi bồi ven sông, hồ Từ khi có mặt ở vùng đất này, tộc người Tày
là những cư dân định cư sớm nhất nên họ vẫn còn khá thuận lợi trong việc định
cư lập bản làng Bản làng của họ thường dựng nơi chân núi đồi thấp, bên cạnh những thung lũng nhỏ, cạnh những dòng sông, suối hay ven hồ để thuận tiện cho việc canh tác sản xuất nông nghiệp và đánh bắt cá Hiện nay, ở Ba Bể chỉ có thị trấn Ba Bể là nơi tập trung đông dân cư nhất bởi chỉ có thị trấn Ba Bể là vùng đất rộng và bằng phẳng nhất ở đây Các xã còn lại chủ yếu vẫn giữ được những nét nguyên sơ và không có sự thay đổi nhiều về địa bàn sinh tụ như bản Pác Ngòi, thôn Lủng Quang, xã đồng Phúc, Quảng Khê… Một số xã như Mĩ Phương, Địa Linh, Khang Ninh… cư dân người Tày đã có thay đổi về nơi sống, họ chọn dựng nhà cửa gần đường huyện lộ để thuận tiện cho việc kinh doanh, đi lại
1.1.3 Đời sống văn hóa
Huyện Ba Bể cũng là vùng đất tập trung nhiều dân tộc thiểu số định cư, ngoài một số tộc người bản địa như Tày, Dao… còn có nhóm tộc người từ nơi khác di cư đến và lập bản sinh sống, định cư tại địa phương này như tộc người Mông Vì vậy, đời sống văn hóa của các tộc người thiểu số ở huyện Ba Bể cũng
ít nhiều có sự giao lưu, tiếp biến Tuy nhiên, bên cạnh sự giao lưu, tiếp biến về đời sống văn hóa của các tộc người thì cơ bản mỗi tộc người vẫn giữ được nét
Trang 27văn hóa riêng của dân tộc mình Điều này được thể hiện không chỉ trong văn học dân gian mà ngay cả trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày như trang phục, ẩm thực hay trong các lễ nghi, lễ hội
Với xu thế phát triển chung của thời đại, không chỉ trong đời sống vật chất
mà cả đời sống tinh thần của con người cũng có nhiều thay đổi để phù hợp với cuộc sống hiện đại, thế nhưng dân tộc Tày Ba Bể về cơ bản vẫn giữ gìn được bản sắc văn hóa của tộc người mình Đây cũng chính là cơ sở để chúng ta tìm hiểu những biểu hiện cụ thể về đời sống văn hóa của tộc người Tày Ba Bể, tìm hiểu mối quan hệ của truyện kể dân gian với môi trường văn hóa… của tộc người Tày nơi đây Do vậy, với mục đích đó chúng tôi sẽ trình bày một số vấn đề cơ bản về đời sống văn hóa của tộc người Tày huyện Ba Bể
Sống định cư trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, đẹp đẽ, nên thơ cũng không kém phần khắc nghiệt, dữ dội nhưng dân tộc Tày huyện Ba Bể đã gắn bó, thích nghi với thiên nhiên và sáng tạo, lưu giữ cho tộc người mình nét văn hóa đặc trưng thời cổ đại với nền sản xuất nông nghiệp cho đến nay Nền văn hóa ấy được biểu hiện phong phú sinh động, muôn màu muôn vẻ như một bức tranh với nhiều đường nét điểm thêm sắc màu tươi tắn Nền văn hóa ấy rất đa dạng, nó không chỉ đặc sắc ở phương diện văn hóa vật chất mà còn cả ở phương diện văn hóa tinh thần
1.1.3.1 Đời sống văn hóa vật chất
Về đời sống vật chất: Sống ở môi trường tự nhiên, hòa mình với thiên nhiên hoang sơ những cư dân đầu tiên của tộc người Tày đã biết tự thích nghi với cuộc sống hoang sơ đó Để có thể tồn tại ở môi trường tự nhiên, những con người này
đã có nhiều sáng tạo và những sáng tạo đó đã trở thành văn hóa của tộc người mình
Về ẩm thực, gắn với truyền thống sản xuất nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi và đánh bắt nên lương thực của người Tày huyện Ba Bể khá phong phú Người Tày trước đây họ chủ yếu là dùng gạo nếp, gạo nếp không chỉ được nấu
Trang 28thành xôi dùng trong những bữa ăn chính mà còn được chế biến thành nhiều món
ăn hấp dẫn như cơm lam và các loại bánh nếp như “Pẻng Tải”, “Pẻng Hó”… hay trong những ngày lễ, tết món xôi được các bà, các mẹ khéo léo dùng các loại lá cây nhuộm sắc màu thành món xôi ngũ sắc trông rất đẹp mắt và hấp dẫn Ngày nay, người Tày huyện Ba Bể không dùng xôi trong bữa cơm chính như trước đây
mà đã dùng cơm tẻ như các tộc người khác Ngoài trồng trọt thì người Tày huyện
Ba Bể còn chăn nuôi, săn bắn và đánh bắt cá Nguồn thực phẩm chính của họ là
gà, lợn, vịt, dê, bò, cá tôm và các loại rau củ quả Những sản phẩm thu được họ biết cách chế biến cho món ăn thêm phần đa dạng và đặc biệt là để tích trữ dùng dần và sau này con cháu họ vẫn lưu giữ để những món ăn đó trở thành đặc sản mang đậm hương vị quê hương mà chỉ có ở vùng Ba Bể như: thịt lợn treo gác bếp; lạp xưởng gác bếp; tép chua; cá chua; hém chua; cá sông, tôm sông nướng…Người Tày Ba Bể dùng 2 bữa cơm chính là trưa và tối, ngoài ra còn có
2 bữa phụ là bữa sáng và nửa chiều (gọi là “Chin lèng”) Trong bữa cơm hằng ngày của người Tày Ba Bể thường có 3 món: canh, mặn và món xào hoặc luộc Tuy nhiên khi gia đình có khách, để tỏ lòng mến khách thì gia chủ sẽ chuẩn bị nhiều món hơn trong đó không thể thiếu món thịt gà và ly rượu men lá mà người Tày nơi đây tự nhặt lá cây thuốc về ủ men nấu rượu
Trang phục, chăn màn của tộc người Tày trước đây cũng hoàn toàn tự túc Sống hòa mình với thiên nhiên, họ tự trang bị cho đời sống của mình bằng những chất liệu từ thiên nhiên Họ biết trồng cây bông để ép lấy bông làm áo ấm hoặc chăn bông dùng trong thời tiết mùa đông khắc nghiệt Họ trồng bông, trồng lanh
để se sợi dệt vải, họ tự cắt và khâu thành quần áo, chăn màn Màu sắc được tộc người Tày ưa dùng và trở thành màu sắc đặc trưng của trang phục người Tày đó
là màu chàm Trang phục của tộc người Tày huyện Ba Bể không trang trí nhiều họa tiết sặc sỡ như các dân tộc khác mà rất đơn giản chỉ một sắc chàm duy nhất
Bộ trang phục của phụ nữ Tày gồm có áo và quần hoặc váy Áo cổ truyền thường được may bằng vải nhuộm chàm dài đến tận bắp chân, có tà dài và cài cúc chéo bên nách giống với bộ áo dài truyền thống của dân tộc Việt nhưng trang phục
Trang 29của người phụ nữ Tày có thêm dải thắt lưng làm điểm nhấn và quấn nhiều vòng quanh eo buộc vắt ra phía sau gọn gàng để tiện cho lúc họ lao động sản xuất.Từ thời xa xưa các cụ bà thường hay mặc váy cùng chiếc áo dài nhưng sau này để tiện cho sinh hoạt, lao động phụ nữ Tày huyện Ba Bể đều dùng quần thay cho những chiếc váy rộng trước đây Đi kèm với trang phục là các phụ kiện, trang sức như khăn, túi nải, vòng đeo tay, cái kiềng (vòng cổ), hoa tai Trang sức dân tộc Tày huyện Ba Bể thường được làm bằng bạc, những bộ trang sức này thường được chạm trổ rất tinh tế với nhiều kiểu hoa văn độc đáo Trang phục của nam giới thì đơn giản hơn nhiều và phụ kiện đi kèm thường là chiếc mũ nồi Hiện nay, hòa chung với cuộc sống hiện đại, trang phục của tộc người Tày huyện Ba
Bể đã có nhiều thay đổi Tuy nhiên, ở một số thôn, xã vùng cao những người lớn tuổi vẫn giữ riêng cho mình bản sắc của tộc người mình Đặc biệt, khi đến với bản Pác Ngòi ven hồ Ba Bể ta vẫn gặp những chiếc khung cửi dệt vải, vẫn gặp sắc chàm xanh trên những sản phẩm như khăn, túi… mà những người bà, người
mẹ dân tộc Tày muốn lưu giữ và truyền lại nghề cũng như những đặc sắc mà cha ông họ đã tạo dựng nên
Về nhà cửa: do địa hình chủ yếu là đồi núi nên cư dân dân tộc Tày huyện
Ba Bể biết dựa vào điều kiện tự nhiên sẵn có, họ sử dụng những vật liệu tự nhiên như gianh, tre, gỗ, nứa, cọ… để làm nhà ở Kiểu nhà truyền thống của dân tộc Tày huyện Ba Bể là kiến trúc nhà sàn độc đáo Mặt sàn dùng tre hoặc gỗ tốt ghép liền nhau, liên kết ở lưng chừng các hàng cột Gầm sàn là kho chứa củi và một
số nông cụ, nơi nuôi thả gia súc, gia cầm hoặc bỏ trống Tầng giữa là không gian sinh hoạt của con người Không gian này thường chia làm ba gian, gian lớn ở giữa là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, phía dưới trước bàn thờ là bếp Người Tày nơi đây còn lấy bếp lửa làm ranh giới để quy định chỗ ngồi cho người phụ nữ trong gia đình, người phụ nữ chỉ được ngồi ở “nả tẩư” - phía dưới bếp, nam giới ngồi ở
“nả nưa” - phía trên bếp trước bàn thờ gia tiên Hai gian còn lại sẽ bố trí để làm phòng ngủ và nơi cất giữ các sản phẩm nông nghiệp hay đồ đạc sinh hoạt Tầng trên cùng là tầng gác dùng để chứa lương thực hay các đồ đạc cần bảo quản lâu
Trang 30Với thiên nhiên hoang dã, nhiều thú dữ và các loại bò sát nguy hiểm, đồng bào dân tộc Tày thường dựng nhà sàn để ở vừa là để phòng tránh các loại vật nguy hiểm nói trên vừa tận dụng được chỗ để giải quyết mặt bằng sinh hoạt, vừa giữ được vệ sinh chung Hiện nay, người Tày huyện Ba Bể đã đa dạng loại hình nhà
ở như kiểu nhà xây, nhà gỗ, nhà đất
1.1.3.2 Đời sống văn hóa tinh thần
Bên cạnh đời sống vật chất là đời sống tinh thần - nét độc đáo về văn hóa của dân tộc Tày huyện Ba Bể Với điều kiện tự nhiên là vùng núi cao, chủ yếu địa bàn sinh tụ là ven núi, ven rừng, môi trường sống gắn bó với tự nhiên còn nhiều hoang sơ, bí hiểm nên Tộc người Tày huyện Ba Bể tin vào những lực lượng siêu nhiên, thần linh Đây cũng chính là cơ sở hình thành nên niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; là cơ sở hình thành nên những phong tục tập quán, lễ hội dân gian và nghệ thuật truyền thống
Về tín ngưỡng, tôn giáo: dân tộc Tày Ba Bể có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng đa thần và chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trong mỗi gia đình của người Tày huyện Ba Bể đều lập bàn thờ để cúng tổ tiên vào những ngày lễ tết và nhà nào có trẻ con thì có thêm bàn thờ Bà Mụ Ngoài ra, nếu gia đình nào có truyền thống làm thầy như thày Tào, thầy Pụt thì gia đình còn có bàn thờ tổ sư của nghề và trong quan niệm của thầy Pụt thì Khổng Tử chính là người đã cắt đặt, giao việc cho thầy Tào, thầy Pụt cai quản thế gian Người Tày nơi đây quan niệm, trong lao động sản xuất nông nghiệp luôn có một vị thần cai quản đó chính
là thần Nông Nhờ vào vị thần này mà mùa màng của họ được bội thu hay mất mùa Vì vậy, hằng năm sau những vụ thu hoạch lúa mới hay vào dịp lễ hội xuân, đồng bào dân tộc Tày thường làm các loại bánh như bánh chưng, bánh giày, bánh gio… hoặc đồ xôi để cúng thần Nông và các vị thần cai quản trần gian, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi và cuộc sống của bản làng được bình yên, sung túc
Người Tày huyện Ba Bể quan niệm vũ trụ có 3 thế giới lớn gồm: trời, đất
và nước Theo quan niệm của đồng bào thì con người ở mặt đất có quan hệ gần gũi với con người ở tầng trời hơn là ở thế giới nước Điều này được thể hiện
Trang 31trong một số truyện kể dân gian dân tộc Tày như: Hò Pịa; Nàng Sáy hay Sự tích
hồ Ba Bể
Ngoài ra, tộc người Tày huyện Ba Bể còn phân biệt hai thế giới khác biệt
đó là thế giới thực của con người và thế giới vô hình của thần thánh, ma quỷ Nếu cuộc sống ở thế giới thực có kẻ xấu người tốt thì ở thế giới vô hình thần thánh, ma quỷ cũng được chia ra hai loại là ma ác, thần ác và ma lành, thần lành Các ma lành, thần lành là ông bà tổ tiên, thần nông, thần bếp; ma dữ là ma chết yểu thường gây họa cho con người, thậm chí trong 12 bà Mụ (Mẻ Tuổn) thì người Tày huyện Ba Bể còn quan niệm có bà ác bà lành, đứa trẻ nào được bà Mụ hiền lành, dễ tính đỡ đầu thì đứa trẻ đó sẽ ngoan và ít ốm vặt, còn đứa trẻ nào được
bà Mụ khó tính, dữ dằn đỡ đầu thì sẽ rất khó nuôi
Người Tày huyện Ba Bể còn có niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên và thầy Pụt, Tào được họ gửi gắm niềm tin đó, họ tin rằng các vị thầy này là người
am hiểu tinh tường mọi thứ, là cầu nối giữa con người ở thế giới thực với thế giới
vô hình thần thánh, ma quỷ Với niềm tin đó, dân tộc Tày huyện Ba Bể thường đến gặp các vị thầy Pụt, Tào để xem ngày, giờ tốt để chuẩn bị cho những công việc mà họ chuẩn bị làm như: dựng vợ gả chồng, làm nhà, mua sắm đồ vật có giá trị lớn trong nhà, khi xuất hành, gieo hạt giống… và đầu xuân năm mới họ thường mời thầy về nhà làm lễ giải hạn, cầu an đầu năm hay khi gia đình có người chết thì thầy Tào sẽ được mời đến để thực hiện các nghi lễ giúp người chết siêu thoát
về cõi vĩnh hằng Niềm tin tâm linh này đã trở thành nét văn hóa truyền thống của dân tộc Tày huyện Ba Bể và điều này đã được xuất hiện trong một số tích
truyện kể dân gian như Nguồn gốc Pụt, Tào và dân chúng; Thác thản au khoăn
Trang 32việc sinh hoạt, trồng trọt và chăn nuôi Người Tày huyện Ba Bể xưa có tập quán
ở nhà sàn, tự cung tự cấp không chỉ lương thực - thực phẩm mà cả trang phục và những vật dụng phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày Họ tự dệt vải, cắt khâu trang phục, giỏi đan lát
Về cưới xin, người Tày huyện Ba Bể thực hiện nhiều thủ tục và chủ yếu nhà trai phải tiến hành như dạm ngõ; hỏi vía (xin ngày tháng năm sinh của người con gái); lễ dạm hỏi (hai bên hợp vía sẽ làm lễ dạm hỏi); lễ ăn hỏi (hai họ gặp nhau bàn bạc về lễ vật cho nhà gái trong ngày cưới, định ngày cưới); lễ cưới và sau lễ cưới 3 ngày phải có lễ lại mặt Đặc biệt, trong lễ cưới của người Tày huyện Ba
Bể, đoàn nhà trai đi đón dâu phải có ông Quan làng dẫn đầu, có Mjề lặp, chú rể, phù rể và những người khác đi cùng đoàn Trong đó, Quan làng và Mjề lặp phải giỏi hát văn ca (lặp lùa - đón dâu) mới đón được dâu nếu hát không hay thì sẽ bị phạt uống rượu Cô dâu khi ra cửa sẽ được đội khăn chàm, đội chiếc nón trên đầu và không được ngoảnh mặt lại phía sau Bên nhà gái đưa dâu phải có Mjề thống, người được chọn làm Mjề thống cũng phải giỏi đối đáp, khéo léo và gia đình phải hạnh phúc Trong quá trình khảo sát, chúng tôi thấy có truyện kể dân gian phản ánh một số phong tục trong đám cưới như tục thách cưới Cụ thể, khi các chàng trai muốn lấy vợ phải trải qua tục thách cưới rồi sắm sửa lễ vật cho
nhà gái Điều này được phản ánh trong một số truyện dân gian như: Con ốc thần,
Chàng rể Dê…Bên cạnh những phong tục thể hiện trong đám cưới thì còn nhiều
những phong tục khác thể hiện trong cuộc sống sinh hoạt như phong tục trong đám ma, lễ mãn tang, lễ đầy tháng…
Một trong những nét đặc sắc của văn hóa tinh thần nữa đó là sinh hoạt văn hóa cộng đồng qua lễ tết và lễ hội dân gian.Về lễ tết, trong một năm người Tày huyện Ba Bể có khá nhiều ngày tết Ngoài những lễ tết chung của nhiều dân tộc khác như tết Nguyên Đán, ngày Rằm tháng Giêng, tết Đoan Ngọ thì người Tày huyện Ba Bể còn có thêm tết Rằm tháng Bảy, tết Thanh minh 3/3 tảo mộ và tết Đắp nọi (tháng thiếu) Điều tạo nên sự khác biệt về văn hóa của các dân tộc chính
Trang 33là thể hiện ở những lễ tết này Rằm tháng Bảy (Chin slíp slí) là cái tết to thứ hai của người Tày Ba Bể sau tết Nguyên Đán, họ ăn rằm từ ngày 14/7 âm lịch Trong tết rằm tháng Bảy, có một nét văn hóa hết sức độc đáo đó là “pay châừ tái”, nghĩa
là người con rể phải đưa vợ con về thăm bố mẹ vợ, quà biếu là một đôi vịt Những
lễ vật để thờ trong ngày tết slíp slí này không thể thiếu là thịt vịt luộc, rượu trắng, Pẻng tải (loại bánh giống như bánh gai của người Việt nhưng người Tày Ba Bể còn chế biến đa dạng bằng cách kết hợp với một số nguyên liệu khác) Vậy tại sao lại thờ vịt? Người ta quan niệm, con vịt được nuôi dưới nước, nó gắn với sông suối, đồng ruộng và tập tục trồng lúa nước của cư dân Tày cổ xưa ở vùng đất Ba Bể này Với quan niệm muốn con vịt ăn hết sâu bọ hại lúa, sục bùn tìm mồi tốt cho cây lúa phát triển hơn nữa con vịt bơi theo dòng nước đem hết mọi điều xấu xa, rủi ro trôi theo dòng nước nên ngày tết rằm tháng bảy người Tày huyện Ba Bể thờ vịt Một nét văn hóa riêng nữa đó là tết 3/3 Âm lịch - lễ tảo mộ (mở cửa mả) Vào ngày này con cháu sinh sống, học tập hay làm ăn ở đâu xa cũng sắp xếp mọi công việc để về sum họp cùng gia đình, dòng họ cùng nhau làm lễ tảo mộ, sửa sang mộ phần, cúng tế cho người đã khuất Mâm lễ cúng 3/3 tùy điều kiện của từng gia đình nhưng thứ không thể thiếu được là món xôi ngũ sắc nhuộm màu bằng lá cẩm rất đẹp mắt Lễ tảo mộ không chỉ thể hiện lòng hiếu thảo của con cháu với tổ tiên mà còn thể hiện niềm tin tâm linh của dân tộc Tày nơi đây
Bên cạnh những ngày lễ tết thì lễ hội dân gian cũng là một nét sinh hoạt văn
hóa cộng đồng đặc sắc Người Tày huyện Ba Bể có lễ hội Lồng tồng đây là một
lễ hội dân gian gắn liền với đời sống của nhân dân, gắn liền với nguồn gốc nông nghiệp và phản ánh ước mơ về cuộc sống sung túc, hạnh phúc đủ đầy Ngày nay,
lễ hội Lồng tồng đã có sự thay đổi, người ta không tổ chức hội theo kiểu truyền
thống xưa mà thay vào đó là lễ hội xuân do địa phương tổ chức Hội xuân ở các
xã tổ chức đơn giản không cầu kì, vẫn có phần lễ và phần hội Phần lễ thường chỉ đọc diễn văn khai mạc còn phần hội sẽ tổ chức các trò chơi dân gian như chơi
đu, ném còn, bịt mắt bắt dê… Hội xuân được tổ chức trang trọng nhất với quy
Trang 34mô lớn là hội xuân Ba Bể được tổ chức hằng năm vào ngày 9, 10 tháng Giêng tại bãi đất bằng bên hồ Ba Bể thuộc thôn Bó Lù - xã Nam Mẫu Lễ hội này sẽ được tổ chức trong không khí linh thiêng ở phần lễ với tín ngưỡng thờ thần cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống nhân dân được bình an và vui vẻ náo nhiệt ở phần hội với nhiều trò chơi dân gian đặc biệt là họ cùng cất lên những điệu hát Then, Lượn mượt mà Có lẽ, sống hòa mình với phong cảnh hữu tình, nên thơ nên người Tày huyện Ba Bể rất giỏi hát then Những giai điệu ngọt ngào hòa với những nốt nhạc trầm bổng của cây đàn tính đã làm nên cái bản sắc riêng của họ, đó cũng là hiện thân của tính cách, tài năng và tâm hồn của những người dân tộc Tày nơi đây Trong đời sống xã hội dân tộc Tày huyện Ba
Bể, hát then - đàn tính đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân nơi đây Hát then là sự phản ánh chân thực về cuộc sống của người dân miền núi, phản ánh
về thế giới tâm linh hay truyền thống gia đình Hiện nay, ở Ba Bể then không chỉ được hát trong các hoạt động nghi lễ với mục đích tín ngưỡng mà còn tồn tại trong đời sống sinh hoạt hằng ngày với mục đích giải trí Lời then cũng không còn chỉ dừng lại ở những bài truyền thống mà được những người yêu then mượn làn điệu để sáng tác lời mới ca ngợi về quê hương đất nước
Tại Ba Bể còn có lễ hội Đền An Mã được tổ chức vào ngày 6/2 âm lịch hằng năm Đền An Mã là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của người dân địa phương, của du khách thập phương Đây là lễ hội để tưởng nhớ và biết ơn các vị trung thần nhà Mạc trong cuộc chiến tranh phong kiến thời Lê Mạc Lễ hội này tuy không được
tổ chức với quy mô lớn như các lễ hội của người Việt nhưng nó cũng góp phần lưu giữ các giá trị văn hóa, tinh thần của dân tộc Tày huyện Ba Bể đặc biệt là
góp phần lưu giữ kho truyện kể dân gian, thông qua lễ hội truyện kể Truyền
thuyết đền An Mã được tái hiện
1.1.4 Diện mạo văn học dân gian Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn
1.1.4.1 Diện mạo chung
Nền văn học Việt Nam được cấu thành bởi hai bộ phận lớn đó là văn học dân gian và văn học viết Văn học dân gian phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kì lịch sử cho tới ngày nay Văn học dân gian là nền
Trang 35tảng của văn học viết, là chặng đầu của nền văn học dân tộc, nó phản ánh, biểu hiện đời sống nhân dân và thế giới tinh thần, tình cảm của nhân dân lao động Góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng của văn học dân gian Việt Nam, bên cạnh kho tàng đồ sộ, phong phú của văn học dân gian người Việt còn có sự góp mặt của văn học dân gian các dân tộc thiểu số, trong đó có văn học dân gian của tộc người Tày huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Chính từ cuộc sống quây quần trong đơn vị làng bản cùng lao động sản xuất, cùng sinh hoạt chung vui sau những buổi lao động mà văn học dân gian của đồng bào dân tộc Tày được hình thành và tồn tại, rồi chính nền văn học ấy lại quay lại phục vụ đời sống sinh hoạt của nhân dân Có thể nói văn học dân gian của dân tộc Tày huyện Ba Bể khá phong phú
về loại hình, loại thể
Tộc người Tày đã sớm sáng tạo những truyện kể dân gian như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười tương ứng với từng giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội Đó là những câu chuyện giải thích về nguồn gốc của các hiện tượng tự nhiên như: Tại sao lại có núi? Tại sao có đồng bằng? Tại sao có hồ
Ba Bể? Đặc điểm của các loài vật từ đâu mà có? Những câu chuyện giải thích sự hình thành các phong tục, tập quán của tộc người; phản ánh về số phận con người…
Bộ phận trữ tình gồm các loại dân ca như dân ca nghi lễ, dân ca sinh hoạt, lao động và ca dao Về dân ca nghi lễ đến nay vẫn được diễn xướng trong các hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng, trong nghi lễ tang ma, lễ cấp sắc, lễ cầu cúng hay các bài ca xin dâu, đưa dâu trong đám cưới của dân tộc tày Ba Bể Tộc người tày Ba Bể còn có những làn điệu dân ca như hát then, hát lượn được cất lên trong cuộc sống sinh hoạt để ca ngợi về quê hương, đất nước và đặc biệt là lượn đối đáp giao duyên Hát giao duyên là những tiếng hát thể hiện tình cảm lứa đôi có nội dung phong phú, lời ca giàu hình ảnh văn chương Hát giao duyên thường được thể hiện trong các loại Lượn cọi, Lượn sli, Lượn Nàng ới Bên cạnh đó, người Tày Ba Bể còn làm giàu tâm hồn mình bằng những câu ca dao dạy con
người về cách đối nhân xử thế trong cuộc sống: Anh về thì về, đừng nài em thêm
nữa, đừng dặn em nhiều lời,về tối vợ sẽ mắng, về khuya vợ sẽ mong, về nằm gối
Trang 36lót lụa, về nằm ngủ chiếu hoa, về đắp chăn hoa mới, về ẵm con trông bữa, về mời ăn cơm, ngồi ăn chớ chống đũa xuống mâm, đừng nói với em lời cay đắng
Cùng được hình thành và tồn tại song song với các thể loại khác, trong văn học truyền thống của dân tộc Tày Ba Bể còn có thể loại văn học dân gian mang tính chất đúc kết những kinh nghiệm, cách ứng xử trong cuộc sống như tục ngữ, câu đố Thể loại này đến nay vẫn được người tày Ba Bể lưu giữ khá phong phú
và được thể hiện bằng những hình ảnh mộc mạc, gần gũi với cuộc sống của họ
Như cách nói dân giã: Ở với lợn giống lợn Ở với chó giống chó hay Kiến chuyển
tổ mưa to…
Phong phú hơn nữa đó là các hình thức sân khấu dân gian được diễn xướng, mang tính chất tâm linh Hình thức thể hiện không giống như sân khấu chèo, cải lương của người Việt là có nhiều nhân vật mà loại hình sân khấu dân gian dưới hình thức diễn xướng mang tính chất tâm linh của người Tày huyện Ba Bể được biểu diễn trong những buổi lễ cầu an, giải hạn hay lễ mừng đầy tháng của trẻ Diễn viên biểu diễn chính là các thầy Pụt, thầy Tào còn khán giả chính là những người trong gia đình đang làm lễ, anh em họ hàng và bà con hàng xóm Đặc sắc nhất của loại hình sân khấu dân gian dưới hình thức diễn xướng mang tính chất tâm linh của dân tộc Tày Ba Bể phải kể đến Lễ cấp sắc trong nghề Pụt, Tào Giá trị nổi bật trong lễ cấp sắc Pụt, Tào là giá trị về nghệ thuật biểu diễn, diễn xướng Thông qua các khoa cúng những bài hát, nói; điệu múa, xóc nhạc của các thầy Tào và thầy Pụt, cộng với các cuộc giao lưu giữa các thầy cúng với nhau và giữa thầy cúng với người tham dự, lẽ cấp sắc diễn ra như một màn trình diễn trên sân khấu tâm linh rất độc đáo và hấp dẫn mang đậm bản sắc dân tộc
Như vậy, có thể nói văn học dân gian của dân tộc Tày huyện Ba Bể khá phong phú và đa dạng, mang trong đó là những giá trị về tinh thần to lớn của tộc người nơi đây Cũng giống như kho tàng văn học riêng của nhiều dân tộc khác, văn học dân gian của người tày Ba Bể chính là nền móng vững chắc để nhen nhóm cho sự phát triển của nền văn học dân tộc sau này
1.1.4.2 Truyện kể dân gian
Trang 37Góp phần làm nên sự phong phú của văn học dân gian nói riêng và của nền văn học dân tộc nói chung chính là truyện kể dân gian tương ứng với từng giai đoạn của lịch sử tộc người Truyện kể dân gian ra đời từ buổi sơ khai của lịch sử nhân loại khi mà con người còn đang gửi gắm khát vọng giải thích những hiện tượng tự nhiên, muốn tìm hiểu về nguồn gốc của của muôn loài, muốn phản ánh những mâu thuẫn trong gia đình, xã hội và gửi gắm niềm tin, ước mơ về một xã hội tốt đẹp
Truyện kể dân gian nói riêng là những sáng tác tập thể, được lưu truyền chủ yếu bằng phương thức truyền miệng nên trải qua thời gian, không gian ít nhiều cũng có sự biến đổi Đặc biệt là khoảng cách rất lớn giữa những người sưu tầm, biên soạn, nghiên cứu với những người sáng tạo nên cũng có những khó khăn trong việc sắp xếp, thống kê những mẫu truyện kể Vì vậy, từ kết quả khảo sát và căn cứ vào tiêu chí đặc trưng thể loại của văn học dân gian, chúng tôi sẽ sắp xếp, thống kê các mẫu truyện kể theo từng thể loại của loại hình tự sự dân gian; tập hợp, khảo sát những bản kể có cùng cốt truyện, nội dung phản ánh để phân tích và chỉ ra một số đặc trưng của truyện kể dân gian Tày ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Chúng tôi cũng quan niệm, với văn học dân gian đặc biệt là những truyện kể dân gian mọi sự phân loại chỉ mang tính chất tương đối Bởi trong các thể loại ấy những nội dung, đề tài vẫn được phản ánh xen kẽ, giao thoa với nhau
Tiến hành thống kê, khảo sát truyện kể dân gian Tày huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn chúng tôi chủ yếu dựa trên hai nguồn tư liệu Nguồn tài liệu chính là tập hợp
các truyện kể trong Truyện cổ Bắc Kạn, tập 3 do nhóm tác giả Vũ Anh Tuấn (chủ
biên), Sở Văn hóa - Thông tin - Truyền thông tỉnh Bắc Kạn xuất bản năm 2002
Với tên gọi Truyện cổ Bắc Kạn nhưng ở tập 3 nhóm biên soạn đã dành toàn bộ
tập truyện cho vùng văn hóa dân gian Ba Bể - đó là tập hợp những truyện kể dân gian của đồng bào dân tộc Tày và dân tộc Dao Bên cạnh đó, một nguồn khảo sát cũng rất quan trọng đó là kết quả điền dã, sưu tầm của người viết gồm 14 truyện
chưa được thống kê khảo sát trong tập Truyện cổ Bắc Kạn Trong đó bao gồm cả
thần thoại, truyền thuyết và cổ tích
Trang 38Dựa vào hai nguồn tài liệu trên, chúng tôi nhận thấy truyện kể dân gian Tày huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn khá phong phú, đa dạng với đầy đủ các thể loại như: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười Không chỉ đầy đủ
về thể loại mà còn phong phú, đa dạng về số lượng bản kể và nội dung phản ánh Truyện kể dân gian Tày huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn phản ánh được những quan niệm, những hiểu biết sơ khai về thiên nhiên, những lí giải “ngây ngô” nhưng cũng rất hợp lí của người xưa về các hiện tượng, đặc điểm của thiên nhiên vạn vật, về sự xuất hiện của các địa danh ở địa phương, thấy được nét văn hóa đặc sắc của cư dân gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước, những tín ngưỡng lễ nghi, phong tục tập quán của người xưa trong các câu chuyện thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích Bên cạnh đó, truyện cười, truyện ngụ ngôn của dân tộc Tày huyện
Ba Bể với bản kể không nhiều nhưng với lối kể tự nhiên, dân dã cũng đã phản ánh được trình độ nhận thức và tư duy phản ánh các vấn đề đời sống của đồng bào nơi đây
Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu ba thể loại truyện kể dân gian tiêu biểu đó là: thần thoại, truyền thuyết và truyện cổ tích bởi đây cũng là ba thể loại có số lượng bản kể nhiều hơn cả
Thống kê số lượng truyện kể dân gian Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn
1.2 Một số vấn đề lí luận
1.2.1 Khái niệm truyện kể dân gian
Theo Từ điển văn học, thuật ngữ Truyện được định nghĩa:“Thuộc loại tự
sự - có hai thành phần chủ yếu là cốt truyện và nhân vật Thủ pháp nghệ thuật
Trang 39chính là kể Truyện thừa nhận vai trò rộng rãi của hư cấu và tưởng tượng Tùy theo nội dung phản ánh, dung lượng, chủ thể sáng tác cụ thể mà truyện được chia thành nhiều loại:Truyện dân gian, truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài (cũng gọi là tiểu thuyết), truyện nôm, truyện nôm khuyết danh…”[27; tr.450]
Trong Truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc diện mạo
và giá trị của tác giả Nguyễn Thị Minh Thu, khái niệm truyện kể dân gian được
định nghĩa như sau: “Truyện kể dân gian là một bộ phận tiêu biểu của văn học
dân gian bao gồm những sáng tác văn học dân gian được tạo thành bởi hai thành phần chủ yếu là cốt truyện và nhân vật, phản ánh hiện thực cuộc sống một cách khách quan chủ yếu thông qua phương thức kể và ngôn ngữ văn xuôi”[48; tr.31]
Trên cơ sở định nghĩa về Truyện và khái niệm truyện kể dân gian ở trên, chúng tôi đưa ra cách hiểu về truyện kể dân gian như sau: Truyện kể dân gian là
những tác phẩm thuộc loại tự sự, được lưu truyền chủ yếu qua phương thức kể truyền miệng bằng ngôn ngữ văn xuôi từ khi dân tộc còn chưa có chữ viết Truyện
có hai thành phần chủ yếu là cốt truyện và nhân vật, với nội dung phản ánh phong phú về các hiện tượng tự nhiên, hiện thực cuộc sống một cách khách quan
và có sử dụng những chi tiết hư cấu, kì ảo
Truyện kể được lưu truyền chủ yếu qua phương thức kể và ngôn ngữ văn
xuôi đó là một ưu thế để truyện kể dễ dàng lưu truyền tồn tại Hơn nữa, truyện
kể lại bắt nguồn từ những nguyên mẫu có thực trong đời sống, là phản ứng của nhân dân trước những hiện tượng của thiên nhiên, xã hội Truyện kể ghi lại dấu
ấn về những triết lí sống, tư tưởng, những quan niệm của con người ở buổi sơ khai của loài người nhất là khi con người mong muốn được khám phá, muốn giải thích những hiện tượng xung quanh
So với các loại hình văn học dân gian khác thì truyện kể dân gian rất phong phú với nhiều thể loại như: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn; trong đó nổi bật là thần thoại, truyền thuyết và cổ tích Kế thừa những nghiên cứu và phân tích về truyện kể dân gian của những công trình trước
đó, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát và khám phá, phát hiện những giá trị còn nằm sâu trong kho truyện kể của tộc người Tày huyện Ba Bể
Trang 401.2.2 Khái niệm kiểu truyện
Khi nghiên cứu về truyện kể dân gian thì khái niệm về kiểu truyện (type)
vẫn được các nhà nghiên cứu dùng như một cách tiếp cận văn học dân gian nói
chung, truyện kể dân gian nói riêng Tác giả Nguyễn Tấn Đắc đã khái quát “type
và motif là những phần tử đơn vị vừa mang tính đặc trưng vừa mang tính bền vững của truyện kể dân gian” [6; tr.11]
Hiểu theo nghĩa thông thường, type được hiểu như là chỉ một lớp sự vật có những đặc điểm giống nhau hay kiểu người có những đặc điểm chung Type được
hiểu giống với các khái niệm về đại diện điển hình, kiểu mẫu, kiểu
Trong nghiên cứu về truyện kể dân gian thì thuật ngữ type thường được hiểu dựa vào khái niệm của nhà nghiên cứu Stith Thompson viết trong cuốn Standar
dictionary of Folklore (New York, 1950), ý khái quát là: “Typelà những cốt kể
có thể tồn tại độc lập trong kho truyện truyền miệng Dù đơn giản hay phức tạp, truyện nào được kể như một cốt kể độc lập đều được xem là một type Có những truyện kể dài chứa đựng hàng tá motif, lại có những truyện kể ngắn như những mẩu kể trong các chùm truyện về súc vật có thể chỉ có một motif đơn lẻ Trong trường hợp đó, type và motif đồng nhất Nếu hiểu type là những cốt kể độc lập như vậy thì trong mỗi nền văn hóa riêng biệt chỉ có một số lượng type nhất định”
[6; tr.11]
Nghiên cứu về kiểu truyện trong truyện kể dân gian, tác giả Nguyễn Bích Hà
nêu ý kiến: “Tất cả những truyện có những mô típ tương tự nhau như vậy làm thành
một kiểu truyện, khác với những kiểu truyện khác bởi hệ thống mô típ riêng, bởi quan niệm nghệ thuật riêng, bởi ý nghĩa phản ánh riêng Kiểu truyện là một tập hợp những truyện kể có những mô típ cùng loại hình” [9; tr.26]
Tác giả Nguyễn Thị Minh Thu quan niệm “Tập hợp những mẫu truyện kể
dân gian có chung một cốt kể tức là chung một hệ thống motif sẽ tạo thành một type Type là một cốt với tất cả các dị bản của nó và trở thành một kiểu truyện, tức là một đơn vị truyện độc lập, phân biệt với đơn vị truyện khác Có thể gọi