1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực hiện xã hội hóa đầu tư trong ngành công nghiệp than thuộc tập đoàn công nghiệp than khoáng sản việt namc

167 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 167
Dung lượng 3,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào các hoạt động đầu tư và phương thức huy động đầu tư tư nhân vào trong ngành công nghiệp than hay hoạt động sản xuất kinh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

NGUYỄN NGỌC LÂN

NGHIÊN CỨU THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA ĐẦU TƯ

TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP THAN

THUỘC TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

NGUYỄN NGỌC LÂN

NGHIÊN CỨU THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA ĐẦU TƯ

TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP THAN

THUỘC TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

Ngành: Quản lý công nghiệp

Mã số: 9510601

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS PHẠM THỊ THU HÀ

2 PGS.TS NGUYỄN CẢNH NAM

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tác giả Tất

cả các dữ liệu được sử dụng trong luận án đều có trích dẫn nguồn gốc đầy đủ Các kết quả nghiên cứu của luận án được phân tích dựa trên nguồn dữ liệu do tác giả thu thập

và xử lý một cách trung thực, đảm bảo tính khoa học và độ tin cậy Toàn bộ nội dung của luận án chưa từng được tác giả nào khác công bố

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Nguyễn Ngọc Lân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS Phạm Thị Thu Hà

và PGS.TS Nguyễn Cảnh Nam là những người thầy cô, nhà khoa học đã tận tình hướng dẫn chu đáo, tỉ mỉ, có những ý kiến định hướng, gợi mở để giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án

Tác giả xin được cảm ơn tới các thầy cô tại Viện Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã hỗ trợ, đóng góp những ý kiến sâu sắc để tác giả bổ sung và hoàn chỉnh bản luận án đáp ứng được yêu cầu của một luận án tiến sĩ

Tác giả xin chân thành cảm ơn các chuyên gia, các nhà khoa học, nhà quản lý thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đã tạo điều kiện và giúp đỡ trong quá trình thu thập thông tin, tài liệu, nghiên cứu cũng như góp ý những vấn đề thiết thực

bổ ích cho nội dung của luận án

Tác giả xin tỏ lòng biết ơn tới gia đình, những người đã luôn bên cạnh động viên, tạo mọi điều kiện tốt nhất để tác giả dành thời gian và sức lực cho học tập và nghiên cứu

Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, đã tạo mọi điều kiện về thời gian, vật chất, tinh thần, động viên khích lệ trong quá trình học tập, nghiên cứu

Do thời gian nghiên cứu có hạn, vấn đề nghiên cứu còn mới trong ngành công nghiệp than, là một ngành kinh tế - kỹ thuật lớn, giữ vai trò quan trọng đối với an ninh năng lượng quốc gia, trong khi điều kiện nghiên cứu của cá nhân còn hạn chế, do đó bản luận án không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô giáo, các nhà khoa học, nhà quản lý, đồng nghiệp nhằm giúp cho luận án hoàn thiện hơn

Tác giả luận án

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC HÌNH VẼ viii

DANH MỤC BẢNG ix

PHẦN MỞ ĐẦU 1

i Tính cấp thiết của đề tài 1

ii Mục tiêu của đề tài 3

iii Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

iv Phương pháp nghiên cứu 4

v Đóng góp mới về khoa học và thực tiễn của luận án 4

vi Kết cấu của luận án 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN CỦA LUẬN ÁN 7

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án 7

1.1.1 Các nghiên cứu nền tảng của xã hội hóa đầu tư 7

1.1.2 Các nghiên cứu về xã hội hóa trên cơ sở hình thức hợp tác đối tác công tư 9 1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài luận án 13

1.2.1 Các nghiên cứu chung về đầu tư tư nhân vào khu vực công 14

1.2.2 Các ngiên cứu liên quan đến xã hội đầu tư trong phát triển giao thông vận tải 15

1.2.3 Các nghiên cứu về xã hội hóa đầu tư trong dịch vụ công 17

1.2.4 Các nghiên cứu liên quan đến xã hội hóa trong lĩnh vực năng lượng 18

1.3 Khoảng trống nghiên cứu 19

1.4 Tóm tắt chương 1 21

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÃ HỘI HÓA ĐẦU TƯ TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN 22

2.1 Khái niệm chung 22

2.1.1 Vốn đầu tư 22

2.1.2 Xã hội hóa đầu tư 30

2.2 Các lý thuyết liên quan đến xã hội hóa đầu tư 38

Trang 6

2.2.1 Lý thuyết kinh tế của Keynes 38

2.2.2 Lý thuyết về hợp tác đối tác công tư 40

2.3 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả dự án xã hội hóa đầu tư 42

2.3.1 Hiệu quả kinh tế 42

2.3.2 Tác động xã hội của dự án 44

2.3.3 Tính bền vững của dự án 44

2.3.4 Độ tin cậy của dự án 45

2.4 Các phương pháp đánh giá lựa chọn dự án xã hội hóa đầu tư 45

2.4.1 Phương pháp giá trị hiện tại thuần - NPV 45

2.4.2 Phương pháp xác định tối ưu cơ cấu vốn dự án 47

2.4.3 Phương pháp xác định giá trị đồng tiền của dự án 49

2.5 Đặc điểm ngành công nghiệp than 56

2.5.1 Tổng quan về đặc điểm của ngành công nghiệp Than 56

2.5.2 Đặc điểm và yêu cầu xã hội hóa đầu tư của ngành than Việt Nam 61

2.6 Tóm tắt chương 2 66

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HÓA ĐẦU TƯ CHO NGÀNH CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN TẠI VIỆT NAM 67

3.1 Lựa chọn mô hình nghiên cứu 67

3.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án 68

3.2.1 Sử dụng mô hình định tính để đánh giá dự án xã hội hóa đầu tư 68

3.2.2 Sử dụng mô hình định lượng để đánh giá dự án xã hội hóa 82

3.3 Tóm tắt chương 3 85

CHƯƠNG 4 ỨNG DỤNG MÔ HÌNH XÃ HỘI HÓA ĐẦU TƯ CHO MỘT DỰ ÁN THUỘC TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 86

4.1 Giới thiệu Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 86

4.1.1 Khái quát về Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 86

4.1.2 Cơ cấu tổ chức 87

4.1.3 Tình hình thực hiện xã hội hóa đầu tư của Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Viêt Nam 89

4.1.6 Đánh giá chung về tính hình huy động vốn đầu tư của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam 94

4.2 Đánh giá mô hình XHH đầu tư cho dự án băng tải từ Nhà máy tuyển than Khe Chàm ra Kho G9 Mông Dương 100

4.2.1 Giới thiệu dự án băng tải chuyển than 100

Trang 7

4.2.2 Ứng dụng mô hình định tính cho dự án Khe Chàm - Kho G9 102

4.2.3 Ứng dụng mô hình định lượng 109

4.3 Đánh giá khả năng ứng dụng của mô hình 114

4.4 Tóm tắt chương 4 116

CHƯƠNG 5 ĐỊNH HƯỚNG THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA ĐẦU TƯ TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP THAN-KHOÁNG SẢN THUỘC TẬP ĐOÀN THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 117

5.1 Định hướng chiến lược phát triển của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam đến 2030 117

5.1.1 Mục tiêu phát triển 117

5.1.2 Định hướng phát triển 118

5.2 Nhu cầu vốn và định hướng vốn đầu tư phát triển của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam đến năm 2030 124

5.2.1 Nhu cầu vốn đầu tư của ngành và của TKV 124

5.2.2 Định hướng huy động vốn đầu tư của TKV 127

5.3 Quan điểm và định hướng tăng cường thực hiện XHH đầu tư tại Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đến năm 2030 129

5.3.1 Quan điểm thực hiện XHH đầu tư của TKV 129

5.3.2 Định hướng thực hiện xã hội hóa đầu tư của TKV 131

5.4 Hoàn thiện quy trình thực hiện xã hội hóa đầu tư tại Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 134

5.4.1 Sử dụng mô hình VfM trong công tác thực hiện xã hội hóa đầu tư 134

5.4.2 Điều kiện áp dụng thành công mô hình VfM trong xã hội hóa đầu tư 136

5.5 Tóm tắt chương 5 137

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 138

TÀI LIỆU THAM KHẢO 142

PHỤ LỤC 149

Trang 8

BT Xây dựng - Chuyển giao BOOS Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh - Bán lại O&M Kinh doanh - Quản lý

BTL Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ

Bộ TN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường

Bộ KH&ĐT Bộ Kế hoạch và Đầu tư CNXH Chủ nghĩa xã hội CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CPH Cổ phần hóa CSH Chủ sở hữu CTTC Cho thuê tài chính CTCP Công ty cổ phần Công ty CP Công ty cổ phần Công ty TNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn

DN Doanh nghiệp DNNN Doanh nghiệp nhà nước DNTN Doanh nghiệp tư nhân IRR Tỉ suất sinh lời nội tại

NH Ngân hàng NPV Giá trị hiện tại ròng NSNN Ngân sách nhà nước

Trang 9

NMT Nhà máy tuyển NVDH Nguồn vốn dài hạn NXB Nhà xuất bản OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế PPP Private and Public Partnership (đối tác công – tư)

QH Quy hoạch

SP Sản phẩm

SX Sản xuất SXKD Sản xuất kinh doanh TĐKT Tập đoàn kinh tế TĐKTNN Tập đoàn kinh tế nhà nước TKV Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam TNDN Thu nhập doanh nghiệp

VCSH Vốn chủ sở hữu VfM Mô hình Value for money (giá trị đồng tiền của dự án) XDCT Xây dựng công trình

XHCN Xã hội chủ nghĩa XHH Xã hội hóa

WB World Bank (Ngân hàng thế giới)

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Mô tả so sánh lợi ích kinh tế khi nhà nước đầu tư và tư nhân đầu tư 42

Hình 3.1 Ba giai đoạn của đánh dự án XHH đầu tư VfM định lượng 82 Hình 5.1 Các bước thực hiện XHH dự án ngành than thuộc TKV

137

Trang 11

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tóm tắt các đặc điểm chính về các hình thức cơ bản của mối

Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu khác đánh giá hiệu quả dự án XHH 44 Bảng 2.3 Cấu trúc phiếu kiểm tra đánh giá định tính VfM 53 Bảng 2.4 Các tiêu chí đánh giá lựa chọn dự án XHH 54 Bảng 2.5 Sơ đồ mô tả chuỗi hoạt động dây chuyền SXKD than 60 Bảng 2.6 Mô tả chuỗi giá trị của sản phẩn than 60

Bảng 3.2 Mô tả cách thức lựa chọn phương án của phiếu kiểm tra định

Bảng 3.3 Các giai đoạn đánh giá định lượng VfM 83 Bảng 4.1 Danh sách chuyên gia, nhà quản lý tham gia phỏng vấn 103 Bảng 4.2 Tổng hợp ý kiến đánh giá các khía cạnh của phiếu khảo sát 103 Bảng 4.3 Bảng tổng hợp đánh giá khía cạnh “Động lực thúc đẩy” của

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

Ở nước ta, xã hội hóa (XHH) đầu tư bắt đầu thực hiện từ khi có đường lối đổi mới chuyển đổi nền kinh tế hoạt động/vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang hoạt động/vận hành theo cơ chế thị trường, theo đó trải qua các giai đoạn: (1) chuyển đổi nền kinh tế chỉ có hai thành phần (kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể sang nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó khu vực kinh tế nhà nước nắm vai trò chủ đạo; (2) Nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó khu vực kinh tế nhà nước chỉ nắm giữ những ngành, lĩnh vực then chốt, đảm bảo nhu cầu thiết yếu và an ninh, quốc phòng và khu vực kinh tế tư nhân giữ vai trò động lực quan trọng cho phát triển của nền kinh tế quốc dân Đến nay XHH đầu

tư đã trở thành quan điểm, chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách của Nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội Như vậy, Nhà nước thực hiện chủ trương giảm dần lĩnh vực đầu tư của Nhà nước và khuyến khích sự tham gia đầu tư của tất cả các thành phần kinh tế để huy động sức mạnh tổng hợp trong việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội

nói chung và phát triển sản xuất kinh doanh nói riêng

Mục tiêu tổng quát của XHH đầu tư là huy động mọi nguồn lực trong xã hội, kể cả

từ nước ngoài bằng các hình thức thích hợp để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế

- xã hội nói chung xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân và phát triển sản xuất kinh doanh nói riêng xét trên phạm vi của một doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực sản xuất, sản lượng và chất lượng sản phẩm/dịch vụ đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trên cơ sở nâng cao giá trị gia tăng trong

chuỗi giá trị sản phẩm

Tuy nhiên, XHH đầu tư ở nước ta đến nay cả trên phương diện lý luận và thực tiễn chủ yếu mới đề cập và chỉ diễn ra trên phạm vi nền kinh tế quốc dân và theo hướng giảm dần đầu tư của Nhà nước (bao gồm của cả doanh nghiệp nhà nước) trong tất cả các ngành, nghề, lĩnh vực, địa bàn mà trước đây chỉ do hoặc chủ yếu chỉ do Nhà nước đảm nhiệm và kêu gọi, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác ngoài nhà nước tham gia đầu tư và tăng cường mở rộng đầu tư, kể cả trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng (giao thông vận tải, thông tin liên lạc), văn hóa, y tế, giáo dục, kinh tế đối ngoại, v.v Còn trong phạm vi doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước thì việc XHH đầu tư còn hạn chế, cả trên phương diện lý luận và trong thực tế

Đối với ngành công nghiệp khai khoáng nói chung và ngành than nói riêng ở nước

ta đã trở thành một trong những ngành trọng điểm của nền kinh tế Ngành công nghiệp

Trang 13

than với vai trò quan trọng trong lĩnh vực năng lượng, công nghiệp đã cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu cơ bản phục vụ cho các ngành sản xuất của đất nước và đời sống xã hội, tạo ra nhiều công ăn việc làm và đóng góp phần quan trọng cho ngân sách nhà nước ngay

từ khi nền kinh tế còn nhiều khó khăn Hiện nay, hàng năm ngành công nghiệp than khai thác mỗi năm khoảng 40 - 45 triệu tấn than thương phẩm, đào bình quân gần 300 km đường lò, bóc và đổ thải khoảng 200 triệu m3 đất đá, sử dụng hàng trăm ngàn m3 gỗ, hàng chục ngàn tấn thuốc nổ và hàng chục ngàn tấn nhiên liệu, vật liệu các loại Sản phẩm than trong một thời kỳ dài từng là những mặt hàng xuất khẩu chính, góp phần to lớn trong chiến lược tăng trưởng dựa trên xuất khẩu của nước ta Tuy nhiên, để thực hiện được mục tiêu quy hoạch phát triển than đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm đáp ứng nhu cầu than ngày càng tăng cao của nền kinh tế thì nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển ngành than là rất lớn, vượt quá khả năng tài chính và nguồn vốn của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) là đơn vị được Nhà nước giao chủ trì thực hiện Quy hoạch phát triển ngành than và đảm bảo cung cấp than cho nền kinh tế

TKV cũng được Chính phủ giao chủ trì thực hiện Quy hoạch phát triển quặng bô xít, quặng kim loại màu, quặng kim loại đen, vật liệu nổ công nghiệp và là một trong 3 trụ cột phát triển ngành điện cũng như tham gia thực hiện các quy hoạch phát triển các ngành cơ khí, ô tô, xi măng, vật liệu xây dựng, v.v Riêng nhu cầu vốn đầu tư thực hiện các dự án nhà máy điện do Tập đoàn làm chủ đầu tư đã lên tới hàng chục ngàn tỉ đồng Trong khi đó, TKV hiện chỉ có vốn chủ sở hữu khoảng 39,4 ngàn tỷ đồng (cuối năm 2016) và hiệu quả kinh doanh suy giảm mạnh do giá than giảm mạnh và giá thành khai thác than tăng cao (Lợi nhuận trước thuế năm 2016 chỉ đạt khoảng 1.036 tỷ đồng) Qua đó cho thấy, khả năng nguồn vốn của TKV là quá nhỏ so với nhu cầu vốn đầu

tư để thực hiện các nhiệm vụ được Chính phủ giao trong các quy hoạch phát triển ngành, nhất là quy hoạch phát triển ngành than Như vậy, rõ ràng việc XHH đầu tư như thế nào

để đạt được hiệu quả cao nhất, đáp ứng tốt nhất cho quá trình phát triển ngành công nghiệp than theo đúng quy hoạch là một vấn đề cần được nghiên cứu Từ những lý do nêu trên cho thấy nhu cầu huy động mọi nguồn lực trong xã hội để đầu tư phát triển ngành than, tức là XHH đầu tư trong ngành công nghiệp than thuộc TKV là hết sức cấp thiết Do đó,

tác giả lựa chọn vấn đề “Nghiên cứu XHH đầu tư trong ngành công nghiệp than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình

là có tính thời sự và cần thiết, mong muốn góp phần hiện thực hóa chủ trương phát triển ngành công nghiệp than, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và đáp ứng yêu

Trang 14

cầu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và phát triển

bền vững của TKV nói riêng

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là hoàn thiện quy trình và xây dựng các chỉ tiêu đánh giá lựa chọn dự án XHH đầu tư cho TKV Theo đó, các nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm:

1 Rà soát lại các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến XHH đầu tư trong và ngoài nước

2 Nghiên cứu khung lý thuyết liên quan đến XHH và XHH đầu tư để làm cơ sở xác định mục tiêu và tiêu chí đánh giá hiệu quả dự án XHH đầu tư

3 Xác định đặc điểm các dự án XHH đầu tư trong ngành than để đưa ra cơ sở và phương pháp nghiên cứu XHH đầu tư phù hợp

4 Triển khai ứng dụng mô hình đánh giá XHH đầu tư cho một tình huống nghiên cứu điển hình để kiểm chứng mức độ phù hợp của mô hình đề xuất

5 Hoàn thiện quy trình XHH đầu tư phù hợp cho TKV

iii Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghiên cứu các hoạt động đầu tư và các tiêu chí đánh giá, phương thức kêu gọi nhà đầu tư (tư nhân, doanh nghiệp) thực hiện một hoặc một số công đoạn, khâu, hạng mục, công việc, phần việc, v.v trong dây chuyền sản xuất kinh doanh sản phẩm của TKV

Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào các hoạt động đầu tư và phương thức huy động đầu tư tư nhân vào trong ngành công nghiệp than hay hoạt động sản xuất kinh doanh than của TKV trong đó tập trung chủ yếu liên quan tới việc huy động vốn trên cơ

sở xác định cơ cấu vốn đầu tư hợp lý giữa TKV và doanh nghiệp tư nhân (DNTN); đánh giá hiệu quả tài chính của dự án đầu tư XHH Từ đó đề xuất các giải pháp lựa chọn XHH đầu tư của TKV sao cho hiệu quả, bền vững Bên cạnh đó, trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả không nghiên cứu sâu về các cơ chế chính sách của Nhà nước liên quan đến vấn đề XHH đầu tư hiện nay

Phạm vi thời gian được nghiên cứu trong giai đoạn từ 2013 đến năm 2018 và xây dựng định hướng thực hiện XHH đầu tư trong ngành công nghiệp than của TKV đến năm

2030 Mốc thời gian năm 2013 được chọn vì lý do sau đây: (1) Từ năm này Tổng công ty

Trang 15

Đông Bắc (Bộ Quốc phòng) tách khỏi Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam; (2) Từ năm 2013 nhu cầu than trong nước tăng lên, theo đó sản xuất than chủ yếu đáp ứng nhu cầu than trong nước, còn xuất khẩu giảm dần và giá than trong nước từng bước vận hành theo cơ chế thị trường; (3) Giai đoạn 2013 - 2018 xảy ra hầu hết những tác động đại diện cho hoạt động sản xuất than, đó là sự biến động của thị trường than, tác động của biến đổi khí hậu và khai thác ngày càng khó khăn, phức tạp hơn

iv Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp tiếp cận nghiên cứu của luận án sử dụng kết hợp nghiên cứu cơ sở lý thuyết với phân tích, đánh giá thực tiễn với sử dụng nghiên cứu tình huống để xác định quy trình đánh giá, thực hiện XHH đầu tư

Các kỹ thuật thu thập dữ liệu phục vụ nghiên cứu của luận án gồm: (1) Nghiên cứu

lý thuyết, (2) Thu thập dữ liệu thứ cấp, (3) Phỏng vấn cá nhân, (4) Phân tích tình huống

- Nghiên cứu lý thuyết: Luận án tiến hành rà soát tổng quan tình hình nghiên cứu

và lý thuyết liên quan đến XHH đầu tư ở cả trong và ngoài nước để xây dựng nền tảng lý thuyết hệ thống cũng như định hướng phân tích và xây dựng khung nghiên cứu của luận án

- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Luận án tiến hành đánh giá và thu thập dữ liệu thứ cấp

về tình hình sản xuất kinh doanh cũng như kết quả XHH đầu tư tại TKV trong khoảng thời gian 2013 - 2018 để thấy được bức tranh toàn cảnh về kết quả và hiệu quả của quá trình XHH đầu tư tại TKV Trên cơ sở đó chỉ ra tính cấp thiết của việc phát triển quy trình thực hiện XHH đầu tư hiệu quả cho TKV trong giai đoạn tiếp theo

- Phỏng vấn cá nhân: Luận án tiến hành phỏng vấn các nhà quản lý của TKV về

bộ chỉ tiêu đánh giá và quy trình đánh giá xác định dữ án XHH đầu tư để xem xét quan điểm, phản hồi và mức độ phù hợp của từng chỉ tiêu đánh giá khi xây dựng khung nghiên cứu XHH của luận án

- Phân tích tình huống: Luận án tiến hành ứng dụng mô hình đánh giá XHH đầu

tư vào một dự án của TKV để đánh giá, kiểm chứng mức độ phù hợp và tính chính xác của các chỉ tiêu đánh giá được xây dựng để từ đó làm cơ sở và căn cứ khẳng định hoặc điểu chỉnh chỉ số phù hợp

Luận án có những đóng góp mới về mặt học thuật bổ sung vào hệ thống lý luận liên quan đến XHH đầu tư nói chung và tại Việt Nam nói riêng Một số đóng góp mới của

Trang 16

luận án về khoa học và thực tiễn gồm:

Thứ nhất, luận án đưa ra cách tiếp cận mới về xã hội hóa đầu tư của Tập đoàn Công

nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam trên cơ sở xây dựng mối quan hệ đối tác giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, xác định rõ những nội dung cơ bản về vai trò của mỗi bên đối với xã hội hóa đầu tư cũng như quyền lợi và trách nhiệm của các bên tham gia trong bối cảnh đặc thù ngành than là ngành giữ vai trò quan trọng đối với hệ thống an ninh năng lượng quốc gia

Thứ hai, luận án đã đề xuất phương pháp đánh giá xác định dự án XHH đầu tư cho

ngành than thuộc TKV với hệ thống các tiêu chí đánh giá với 60 chỉ tiêu thanh phần đồng thời kết hợp với đánh giá định lượng thông qua các chỉ tiêu hiệu quả tài chính dự án Trên

cơ sở mô hình VfM, luận án đã phát triển phương pháp xác định dự án XHH đầu tư áp dụng cho TKV và được kiểm chứng với một dự án XHH điển hình của TKV Luận án đã

đề xuất phương pháp đánh giá xác định dự án XHH đầu tư cho ngành than thuộc TKV trên cơ sở mô hình VfM, luận án đã phát triển phương pháp xác định dự án XHH đầu tư

áp dụng cho TKV và được kiểm chứng với một dự án XHH điển hình của TKV Luận án

đã xây dựng bộ tiêu chí đánh giá lựa chọn dự án XHH cho ngành than thuộc TKV với 60 tiêu chí thuộc 05 nhóm gồm: Động lực thúc đẩy (13 tiêu chí); Tính khả thi dự án (20 tiêu chí); Khung pháp lý và điều chỉnh (5 tiêu chí); Năng lực của TKV và tư nhân (6 tiêu chí); Tính đặc thù dự án (16 tiêu chí) Bộ các tiêu chí này là căn cứ quan trọng đầu tiên đánh giá xem một dự án khi tiến hành XHH có khả thi hay không và có đáp ứng được các yêu cầu mang tính chất đặc thù trong ngành than hay không

Thứ ba, những khuyến nghị của luận án là cơ sở để hoàn thiện quy chế trong lĩnh

vực đầu tư của TKV đối với các dự án đầu tư XHH được

Thứ tư, kết quả nghiên cứu của luận án này có thể là tài liệu tham khảo tốt cho: (1)

Các cơ quan quản lý nhà nước trong việc xây dựng các chính sách thúc đẩy XHH đầu tư (2) Các trường đại học, các cơ sở đào tạo và tư vấn phục vụ phát triển mô hình tích hợp giữa XHH và hợp tác đối tác công tư (3) Các doanh nghiệp có mong muốn áp dụng quy trình XHH đầu tư có sử dụng các bộ tiêu chí định tính, định lượng từ kết quả nghiên cứu của luận án

vi Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án bao gồm năm chương chính như sau:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan của luận án Chương

này tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan đến XHH đầu tư ở trong và ngoài

Trang 17

nước Trên cơ sở đó xác định các khoảng trống nghiên cứu và làm căn cứ xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Chương 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về XHH đầu tư trong ngành công nghiệp Than - Khoáng sản Chương này trình tổng quan các vấn đề lý luận liên quan đến XHH

đầu tư, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả một dự án đầu tư theo hình thức XHH Bên cạnh

đó, đặc điểm đầu tư trong ngành Than - Khoáng sản cũng được trình bày trong chương này

để làm căn cứ xác định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả XHH đầu tư phù hợp của luận án

Chương 3 Phương pháp và mô hình nghiên cứu XHH đầu tư cho ngành công nghiệp Than - Khoáng sản tại Việt Nam Chương này trình bày căn cứ phương pháp

luận lựa chọn phương pháp nghiên cứu đánh giá hiệu quả dự án XHH đầu tư và quy trình đánh giá định tính thông qua các chỉ tiêu và quy trình định lượng thông qua đánh giá hiệu quả tài chính dự án

Chương 4 Ứng dụng mô hình XHH đầu tư cho dự án thuộc Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam Chương này trình bày kết quả ứng dụng mô hình

XHH đề xuất trong chương 3 cho một dự án cụ thể tại TKV Trên cơ sở đó đưa ra những đánh giá, điều chỉnh mô hình cho phù hợp

Chương 5 Bàn luận và định hướng mô hình XHH đầu tư cho ngành công nghiệp than thuộc Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam Chương này trình bày các

kết luận nghiên cứu của luận án và đề xuất các định hướng cho TKV trong việc lựa chọn, đánh giá dự án XHH đầu tư trong tương lai

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ

LIÊN QUAN CỦA LUẬN ÁN

Vấn đề huy động vốn đầu tư tư nhân cho xây dựng phát triển được rất nhiều nhà nghiên cứu kinh tế cũng như các chuyên gia kinh tế trong nước và ngoài nước quan tâm

Ở nước ngoài, nhiều công trình nghiên cứu dựa trên nghiên cứu thực chứng, đã đúc kết được những bài học quý từ các nước tiên tiến trong việc áp dụng các hình thức đầu tư nhằm huy động vốn ngoài ngân sách cho đầu tư phát triển nói chung và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nói riêng, để các nước đang phát triển nghiên cứu, học tập Tại nhiều quốc gia, việc tư nhân hóa hay hợp tác giữa Nhà nước và khu vực tư trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đã được thực hiện cách đây hàng thế kỷ, mô hình hợp tác đầu tư này,

là một giải pháp xuất phát từ các nguyên nhân như sự hạn chế của NSNN, yêu cầu ngày càng cao về cơ sở hạ tầng hiện đại và sự tham gia rộng rãi của người dân trong giải quyết các vấn đề chung của đất nước Ở Việt Nam, nhiều các đề tài nghiên cứu cấp bộ đã được công bố, các đề tài về phát triển cơ sở hạ tầng đã tập trung nghiên cứu về hình thức XHH đầu tư, một hình thức đầu tư nhằm huy động vốn từ tư nhân cho đầu tư phát triển cơ sở

hạ tầng đang được xem là “cứu cánh” cho vấn đề thiếu vốn để phát triển đất nước Song, thông qua đó, cũng có thể thấy tại Việt Nam, sự tham gia của khu vực tư nhân vào khu vực công mà đặc biệt là vào các DNNN là tương đối hạn chế

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Các nghiên cứu nền tảng của xã hội hóa đầu tư

XHH đầu tư đã được áp dụng phổ biến trên thế giới từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX Kể từ năm 1992, khi chính phủ Vương quốc Anh đưa ra "Sáng kiến tài chính tư nhân" nhằm khuyến khích hình thức XHH trong cung ứng dịch vụ công Nhiều

mô hình tương tự đã được áp dụng tại nhiều nước phát triển và sau đó là các nước đang phát triển Đến nay, XHH đầu tư đã thể hiện là một phương thức có nhiều triển vọng trong huy động nguồn lực đầu tư và cung cấp dịch vụ, hàng hóa công cộng và vì vậy được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý và nhiều quốc gia trên thế giới

Có nhiều nghiên cứu về XHH đầu tư nói chung với những mục đích và mức độ khác nhau trên cả phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn

Về mặt lý luận, các nghiên cứu tập trung vào việc làm rõ khái niệm XHH đầu tư

và các tranh luận về vai trò của các thành phần kinh tế cũng như các điều kiện thực hiện

và khung pháp lý trong XHH đầu tư Nghiên cứu về “XHH đầu tư” đã được John

Trang 19

Maynard Keynes giới thiệu vào năm 1936 trong cuốn "Lý thuyết chung về tiền tệ, Lãi suất và việc làm" (General Theory of Employment, Interest, and Money) [62] Trong chương kết luận của cuốn sách, Keynes đã chỉ ra ba vấn đề chính cần phải được giải quyết nhằm đảm bảo tài chính cho các hoạt động là: "không giữ tiền mặt" (thay tài sản tiền bằng tài sản phi tiền do lao động tạo ra), "xóa bỏ kiếm tiền bằng lợi tức" và "XHH đầu tư" (“parting with liquidity,” “euthanizing the rentiers,” and "socializing investment") Trong học thuyết của Keneys, ba nhân tố này có mối quan hệ tất yếu vì ông lập luận rằng nhu cầu thực tế là động lực của nền kinh tế tư bản và sự tiêu dùng của

cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ là những nhân tố đảm bảo cho nền kinh tế vận hành Keynes (1936) khẳng định cần phải tạo ra một môi trường kinh tế thu hút nhiều đầu tư và ít tích trữ tiền Chính vì thế, ba đề xuất chính sách của ông là: (1) "không giữ tiền mặt" (thay tài sản tiền bằng tài sản phi tiền do lao động tạo ra); (2) "xóa bỏ kiếm tiền bằng lợi tức" bằng việc hạ lãi xuất thấp đến mức mà không ai cảm thấy có lợi từ việc gửi tiết kiệm tiền (bởi vì giá trị kỳ vọng mang lại của tiền kém hấp dẫn hơn giá trị mang lại từ vốn); và (3) XHH đầu tư thông qua việc tạo ra một nhà tư bản kiểu mới bằng

sự kết hợp công tư

Trong cuốn này Keynes cũng chỉ rõ rằng "XHH đầu tư" không phải là “làm cho trở thành của chung của xã hội” một cách xã hội chủ nghĩa Ông giải thích rằng XHH đầu tư không đòi hỏi nhà nước phải giành quyền nắm giữ các tư liệu sản xuất và áp đặt các điều kiện về hoạt động kinh tế cho toàn bộ nền kinh tế Theo Keynes "Điều quan trọng không phải là nhà nước nắm giữ tư liệu sản xuất Nếu nhà nước có thể giao các nguồn lực tập trung để tăng cường tư liệu sản xuất và xác định tỉ lệ thu hồi cơ bản các nguồn lực đó cho những người sẽ sở hữu chúng thì đó mới hoàn toàn là tất cả những gì cần thiết [62]

Xoay quanh các nghiên cứu về XHH đầu tư, có nhiều tác giả khác cũng đã có những nghiên cứu sâu sắc trên nhiều khía cạnh về vấn đề này như tác giả Seccareccia (2011) [79] với nghiên cứu về vai trò của đầu tư công như là một công cụ của kinh tế vĩ

mô trong phát triển nền kinh tế dài hạn Tác giả Zdravka Todorova (2010) đại học Wright State với công trình nghiên cứu "Nhận thức xã hội và XHH đầu tư” Các nghiên cứu này phân tích và làm rõ hơn lý thuyết của Keynes về XHH đầu tư và mối quan hệ, tác động của XHH đầu tư đến quản trị nguồn nhân lực, quản trị rủi ro và hiệu quả của nền kinh tế [82]

Trang 20

Về mặt thực tiễn: Trong các nghiên cứu về XHH đầu tư ở các nước phát triển, các tác giả thường chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực công bởi vì về lĩnh vực kinh tế thì bản chất nền kinh tế của các nước phát triển vốn đã là nền kinh tế tư nhân Nghiên cứu của Tollison (1988) cho ra đời lý thuyết “sự lựa chọn công cộng”, theo lý thuyết này, các chính sách của Chính phủ được hoạch định bởi các cá nhân hoặc nhóm vì quyền lợi riêng tư, do đó, hiệu quả chi tiêu công phụ thuộc lớn vào điều kiện thể chế, đặc biệt là quy trình cấp phát ngân sách, mức phân cấp và tỉ trọng hàng hóa dịch vụ công trong rổ hàng hóa do Chính phủ cung cấp Tác giả còn cho rằng cải cách trong khu vực công muốn thành công phải thay đổi tận gốc, trước hết là loại trừ động cơ và các điều kiện nuôi dưỡng đặc quyền, đặc lợi Song, mặc dù đã chỉ ra nguyên nhân, nhưng nghiên cứu này cũng chưa đầy đủ để có thể giải thích sự thất bại của thị trường [83]

Dưới góc độ thực tiễn, nghiên cứu của các nhà khoa học, tư vấn quốc tế về lĩnh vực này tập trung vào việc khảo sát thực trạng, đánh giá tình hình thực hiện và đưa ra các khuyến nghị cho các nước đang phát triển Nội dung và lĩnh vực của các báo cáo nghiên cứu thực tiễn rất đa dạng có thể kể đến các tác giả như Shani (2007), Grimsey & Lewis (2004), Kauffinann (2008), Tanaka (2008) và các tổ chức quốc tế như ADB, WB, OECD cũng có nhiều nghiên cứu về XHH đầu tư [78] [54], [61, 81]

1.1.2 Các nghiên cứu về xã hội hóa trên cơ sở hình thức hợp tác đối tác công tư

Trong các hình thức đầu tư nhằm huy động vốn ngoài NSNN cho phát triển kinh

tế - xã hội, hình thức hợp tác đối tác công tư, được xem như một sự đột phá, một giải pháp hữu hiệu tháo gỡ tình trạng thiếu vốn cho đầu tư phát triển ở một số nước Hình thức hợp tác công tư đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước Đến nay, hình thức hợp tác đối tác công tư thể hiện là một phương thức được kỳ vọng trong cung cấp hàng hóa công cộng, giải bài toán thiếu vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Chính vì vậy, hình thức này thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhiều nhà quản lý và Chính phủ của nhiều nước trên thế giới, đã có nhiều công trình, nhiều đề tài nghiên cứu về đầu tư theo phương thức hợp tác đối tác công tư

[12] Hình thức hợp tác đối tác công tư và XHH không hoàn toàn tương đồng với một số đặc điểm triển khai khác nhau Theo đó, hình thức hợp tác đối tác công tư có cơ sở pháp

lý là hợp đồng và xác định rõ cơ chế xử lý và quản lý rủi ro Bên cạnh đó, các dự án XHH thường phù hợp hơn với những dự án vừa và nhỏ với thời gian thu hồi vốn ngắn

Trang 21

[31] Tuy nhiên, với những ưu điểm và những nét tương đồng, hình thức đối tác công tư vẫn cần được nghiên cứu trong bối cảnh nghiên cứu về XHH đầu tư

Columbia (2003) trong nghiên cứu của mình đã giới thiệu tổng quan về phương thức hợp tác đối tác công tư Nghiên cứu này đã đưa ra những vấn đề chung nhất của phương thức hợp tác đối tác công tư và các mô hình hợp tác sinh ra từ quan hệ này; khám phá những vấn đề cơ bản về lý luận đã đưa ra cách phân loại các mối quan hệ công - tư và xem xét sự tác động của nó đối với các tổ chức về chi phí, chất lượng và thấy được những thách thức đối với quản trị dự án đầu tư trong tương lai [46] Bên cạnh

đó, khi nghiên cứu về mô hình đánh giá hiệu quả của cơ cấu vốn trong quan hệ đối tác công – tư và xác định các chương trình chuyển giao kiến thức nhằm xác định một cơ cấu cổ phần tối ưu của các đối tác tư nhân tham gia đầu tư vào khu vực nhà nước Theo

đó, giả định chi phí vốn thấp hơn của nhà nước và kinh phí phát triển thấp hơn khi đầu

tư bởi một nhà đầu tư tư nhân, một cơ cấu vốn tối ưu là đạt được với DNNN và DNTN

[68]

Fahyre Loiola (2013) trong nghiên cứu về cách thức xác định dự án đầu tư cơ sở

hạ tầng theo phương thức hợp tác đối tác công tư tại Brazil đã chỉ ra những lợi ích và hạn chế của phương pháp này khi thực hiện các dự án đầu tư Theo đó, một dự án đầu

tư cơ sở hạ tầng theo phương thức hợp tác đối tác công tư thành công cần được phân chia thành ba giai đoạn gồm: (1) giai đoạn tiền dự án, (2) giai đoạn triển khai dự án, (3) giai đoạn hoàn thiện đánh giá dự án Cũng trong nghiên cứu này, tác giả cũng chỉ ra nhiều yếu tố về khung chính sách, luật pháp và các thỏa thuận giữa tư nhân và nhà nước ảnh hưởng đến kết quả thành công của dự án [65]

Das và Sikida (2014) lại chỉ ra những thách thức khi triển khai đầu tư theo phương thức hợp tác đối tác công tư tại Ấn độ Theo đó, vấn đề về minh bạch tài chính và vai trò các bên được coi là cản trở hiệu quả của các dự án đầu tư theo hình thức này tại Ấn

độ hiện nay [47]

Ngoài ra, hiện nay nhiều nước đang phát triển tìm kiếm tác động tích cực về hiệu quả, công bằng và chất lượng cung cấp các dịch vụ công qua việc tăng cạnh tranh và tham gia tích cực của khu vực tư nhân Vì vậy, phương thức hợp tác đối tác công tư đã được sử dụng nhiều và rộng rãi với các mục đích khác nhau, từ việc xây dựng cơ sở hạ tầng đến việc cung cấp dịch vụ y tế và xã hội, hành chính công Tuy nhiên, mô hình này

Trang 22

cũng thể hiện một số bất cập về tính minh bạch và mức độ chia sẻ rủi ro giữa các đối tác

[60, 75]

Ở góc độ thực tiễn, nghiên cứu của các nhà khoa học và các chuyên gia tư vấn tập trung vào việc khảo sát thực trạng, đánh giá tình hình thực tế thực hiện, từ đó, đưa ra khuyến nghị đối với các nước đang phát triển trong việc áp dụng các hình thức đầu tư nhằm huy động vốn ngoài NSNN cho đầu tư xây dựng và phát triển các dự án Theo phân tích của các chuyên gia thuộc ADB năm 2008, tại các nước đã thực hiện dự án theo phương thức hợp tác đối tác công tư, đều có đặc điểm chung:

- Thỏa thuận hợp đồng xác định vai trò và trách nhiệm của Nhà nước cũng như của khu vực tư nhân;

- Chia sẻ rủi ro hợp lý giữa các bên liên quan;

- Lợi nhuận của khu vực tư nhân cần tương xứng với kết quả và những đóng góp cho lợi ích dự án

Theo nghiên cứu của Yescombe (2007) và nghiên cứu của ABD (2008) về phương thức hợp tác đối tác công tư, về phía Nhà nước, Nhà nước có vai trò quyết định sự phát triển của dự án, Nhà nước tạo môi trường như chính sách, khung pháp lý, đồng thời Nhà nước thống nhất các quy định pháp luật, thủ tục đấu thầu, tạo nguồn vốn và các công cụ tài chính, làm trọng tài khi cần giải quyết các tranh chấp, Nhà nước thực hiện kiểm tra, giám sát và đánh giá quá trình thực thi dự án Về phía tư nhân, để có thể tham gia dự án phải có đủ năng lực tài chính để theo đuổi lợi ích hợp lý với thời gian tương đối dài [52, 87]

Trong nhiều thập niên vừa qua, hợp tác giữa nhà nước – tư nhân đã trở thành một phương thức cung cấp dịch vụ công chủ yếu tại hầu hết các quốc gia ở Châu Á, cả các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển Thực tế tại các nước thực hiện thành công các dự án đầu tư tư nhân vào khu vực công cho thấy, hợp tác theo phương thức hợp tác đối tác công tư, nếu được thiết kế và quản lý tốt, thì hình thức hợp tác này có thể mang lại nhiều lợi ích như giảm gánh nặng cho NSNN, rủi ro có thể được san sẻ từ khu vực công sang khu vực tư, tăng “giá trị đồng tiền” sử dụng trong dịch vụ công bởi

vì hình thức này hiệu quả hơn, chi phí thấp hơn và dịch vụ đáng tin cậy hơn [12]

Theo kinh nghiệm của các nước hiện nay, hình thức huy động vốn đầu tư tư nhân thông qua việc áp dụng mô hình hợp tác giữa nhà nước và tư nhân mang lại các thành tựu có thể được kể như:

Trang 23

- Giảm chi phí, giảm rủi ro và tạo môi trường cạnh tranh cao, đây là điều mà không

chỉ các Chính phủ, mà các doanh nghiệp và các nhà đầu tư nhất là nhà đầu tư tư nhân, rất quan tâm

- Giúp tiếp cận được với các nguồn tài chính, công nghệ tiên tiến, phương thức

quản lý hiện đại, hoàn thành công trình đúng thời hạn và khai thác công trình có hiệu quả nhất Điều này là mong muốn của tất cả các Chính phủ

- Góp phần dịch chuyển gánh nặng thanh toán từ người chịu thuế sang người tiêu

dùng, là điều mà không một Chính phủ nào không mong muốn trong việc xây dựng bộ máy Nhà nước thân thiện với người dân

- Góp phần vào việc chống tham nhũng lãng phí, bởi vì khu vực tư nhân quản lý

đồng vốn đầu tư chặt chẽ và hiệu quả hơn Đây cũng là điều mà hầu hết các Chính phủ đã và đang thực hiện trong quá trình cải cách quản lý tài chính công ở mỗi nước

Các nghiên cứu tập trung vào việc khảo sát thực trạng, đánh giá tình hình thực hiện đồng thời đưa ra khuyến nghị cho các nước đang phát triển Các nước đang phát triển cần xem đây là các mô hình mẫu, làm thế nào có thể vận dụng sáng tạo dựa trên tình hình thực tế của mỗi nước, và có thể áp dụng triển khai một cách linh động, phù hợp, là điều các nước phải quan tâm và tự tìm ra con đường riêng của mình Không thể

có một khuôn mẫu chung cho tất cả các nước, đặc biệt các mô hình mẫu từ nghiên cứu thực tế của các nước phát triển, mà ở các nước này, điều kiện cần cho thành công của huy động vốn ngoài NSNN để thực hiện các dự án xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng

kỹ thuật, đó là hệ thống pháp luật hoàn thiện, cũng như thị trường tài chính phát triển, thì gần như đã hội đủ Trong khi đó, đối với các nước đang phát triển, lại rất cần thời gian, nguồn lực cũng như kinh nghiệm quản lý dự án mới có thể hội đủ các điều kiện để thực hiện thành công các dự án về phát triển cơ sở hạ tầng nói chung

Trong Sổ tay mối quan hệ đối tác Nhà nước – Tư nhân, Ngân hàng Phát triển Châu

Á - ADB (2008) đã cung cấp những kiến thức tổng quan về mối quan hệ đối tác Nhà nước – Tư nhân, giúp người đọc có được kiến thức và động cơ thúc đẩy việc tham gia

vào mối quan hệ hợp tác giữa nhà nước và tư nhân; Cuốn sổ tay này cũng đưa ra và phân

tích cơ cấu mối quan hệ, cách thức lựa chọn, vai trò, thiết kế, cấu trúc và việc thực hiện quá trình hợp tác giữa nhà nước và tư nhân Nhưng khả năng thu hút vốn để thực thi các

dự án hợp tác thành công lại chỉ tập trung vào một số nước như Brazil, Trung Quốc, Ấn

Trang 24

Độ, Ba Lan và Liên Bang Nga Như vậy, để thực hiện được thành công các dự án hợp tác đầu tư giữa nhà nước và tư nhân còn nhiều khó khăn và rào cản Theo đó, để thực hiện thành công các dự án đầu tư này cần căn cứ vào các đặc điểm của từng dự án cũng như lĩnh vực hợp tác [52]

Xét theo lĩnh vực hoạt động, hiện nay các lĩnh vực phát triển mạnh là năng lượng, viễn thông, giao thông, nước và chất thải Trong giai đoạn 2000 - 2009, ở khu vực Đông

Á và Thái Bình Dương, năng lượng luôn là lĩnh vực thành công nhất, thu hút 35% vốn đầu tư trong hợp tác công tư (63 tỷ USD), tiếp theo là viễn thông với 30% vốn đầu tư PPP (54 tỷ USD), lĩnh vực giao thông chiếm khoảng 25% (46 tỷ USD) [12]

Được thừa nhận là bước đột phá trong phát triển các lĩnh vực đầu tư tư nhân vào khu vực công, và trong phát triển kết cấu hạ tầng, phương thức hợp tác đối tác công tư

là động lực chính cho việc tăng cường cho việc ứng dụng mô hình này trong tương lai Mặc dù vậy Smith (2008) đã chỉ ra những thất bại trong đầu tư theo mô hình này vào các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng tại các nước đang phát triển giai đoạn 1990 - 2006

và tác giả cũng khẳng định sự ủng hộ và cam kết về mặt chính trị có ý nghĩa quan trọng nhất đảm bảo sự thành công và phát triển bền vững cho các hợp đồng [80] Theo đó, hầu hết các dự án không thành công đều không hội đủ điều kiện về sự ủng hộ và cam kết về mặt chính trị từ phía Chính phủ của các nước đó Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng không chỉ ra một cách cụ thể cam kết của Chính phủ bao gồm những cam kết nào, và tác động

ra sao đến thành công của dự án Vì vậy, cần thiết phải có các nghiên cứu nối tiếp để có thể tìm ra lời giải đáp cho các câu hỏi đó

Đối với lĩnh vực Than - Khoáng sản, hiên nay nhiều quốc gia đã áp dụng thành công mô hình hơp tác giữa nhà nước và tư nhân trong lĩnh vực đầu tư phát triển ngành than thông qua các chính sách hỗ trợ của Chính phủ Cấu trúc đổi mới của các công ty này là lựa chọn đối tác liên doanh thông qua quy trình đấu thầu công bằng và minh bạch Các giá thầu này đã được thực hiện một cách công bằng và minh bạch dẫn đến nâng cao hiệu quả các dự án đầu tư [70, 71]

1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài luận án

“XHH” hay “Nhà nước và nhân dân cùng làm” được giới thiệu ở Việt Nam từ lâu trong các nghị quyết của Đảng nhưng lại chưa có một định nghĩa rõ ràng và một cơ chế pháp lý để bảo đảm cho việc thực thi “XHH” hiểu một cách chung chung là nhà nước mong muốn các tổ chức, cá nhân khu vực nằm ngoài hệ thống cơ quan nhà nước thay

Trang 25

thế hoặc hợp tác với khu vực nhà nước để tham gia vào một số hoạt động/dịch vụ của nhà nước Các nghiên cứu XHH đầu tư tại Việt Nam hiện nay thông qua các hình thức khác nhau đến nay đã được khá nhiều tác giả nghiên cứu trên cả phương diện lý luận và thực tiễn XHH đầu tư theo tư tưởng của hình thức đối tác công tư đối với các lĩnh vực

y tế, giáo dục, hạ tầng giao thông vận tải là những khu vực được thực hiện nhiều nhất hiện nay tại Việt Nam

Theo đó, hiện nay các nghiên cứu về XHH đầu tư thường được tiến hành theo các hướng nghiên cứu về hợp tác đối tác công tư, XHH trong giáo dục, hành chính công và một số nghiên cứu về phát triển cơ sở hạ tầng… Như đã trình bày ở mục 1.1.2, hình thức hợp tác đối tác công tư có một số nét tương đồng với thuật ngữ XHH tại Việt Nam nên nhiều nghiên cứu XHH cũng đã ứng dụng các phương pháp triển khai và cơ chế vận hành của phương thức này Do đó, trong nghiên cứu của luận án này, tác giả cũng đã tiến hành rà soát cả các nghiên cứu đầu tư theo phương thức hợp tác đối tác công tư và XHH để xác định những ứng dụng phù hợp nhất cho mô hình XHH đầu tư tư nhân vào doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam

1.2.1 Các nghiên cứu chung về đầu tư tư nhân vào khu vực công

Ở Việt Nam, kinh tế tư nhân giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế

và được thừa nhận là một trong nhiều thành phần kinh tế và được đối xử công bằng [37] Kinh tế tư nhân hiện nay đang tạo thành một đối chứng hiện thực năng động để các thành phần kinh tế khác đối chiếu và luôn tự đổi mới, tự hoàn thiện Theo đó, những đặc điểm của sở hữu tư nhân được phân tích để thấy được sự tham gia và phát triển kinh tế

tư nhân là một trong tiến trình phát triển tất yếu trong lịch sử thế giới và Việt Nam đồng thời chỉ ra xu hướng tăng cường khu vực kinh tế tư nhân và thực hiện tư nhân hóa rộng rãi khu vực kinh tế nhà nước diễn ra mạnh mẽ trong những năm trở lại đây tại Việt Nam

[6]

Khu vực kinh tế tư nhân là động lực và động lực cơ bản của phát triển, có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế thị trường hiện đại Tác giả Vũ Hùng Cường (2011) đã có những nghiên cứu khá toàn diện về vị trí, vai trò của khu vực kinh tế tư nhân đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam Theo đó, khu vực kinh tế tư nhân bao gồm cả khu vực kinh tế tư nhân trong nước và khu vực kinh tế tư nhân nước ngoài Nghiên cứu này đã đánh giá thực trạng phát triển, năng lực cạnh tranh, vị trí, vai trò của khu vực kinh này trong phép so sánh với khu vực Nhà nước đối với tăng trưởng

Trang 26

và phát triển kinh tế của Việt Nam Vai trò động lực của khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam ngày càng thể hiện rõ, nhưng trên thực tế khu vực này vẫn đang chịu tác động lấn át từ khu vực kinh tế Nhà nước [7] Nguyễn Trọng Hoài

và Huỳnh Thanh Điền (2011) đã phân tích và làm rõ mối quan hệ giữa khu vực kinh tế

tư nhân và khu vực kinh tế nhà nước Thời gian tới, nhà nước cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho khu vực tư nhân, không nên xem kinh tế nhà nước là trung tâm của tất cả các ngành kinh tế, điều này sẽ tạo ra hiệu ứng đến các khu vực kinh tế khác [16]

Có thể thấy, vai trò của đầu tư tư nhân tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của khu vực Nhà nước ngày càng được quan tâm Khu vực tư nhân là một lực lượng thiết yếu và tạo động lực cơ bản trong nền kinh tế phát triển mà trong đó sự hợp tác giữa

tư nhân với Nhà nước là rất cần thiết để phát huy được những điểm mạnh của khu vực

tư nhân cũng như kinh nghiệm của quản lý của Nhà nước, đặc biệt là phát huy thế mạnh chủ động nguồn lực và sự linh hoạt từ khu vực tư nhân [7, 37]

1.2.2 Các ngiên cứu liên quan đến xã hội đầu tư trong phát triển giao thông vận tải

Tại Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 2010, Văn phòng Trung ương Đảng và Bộ

KH&ĐT phối hợp đã tổ chức Hội thảo bàn về ”Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng” [5] Hội thảo tập hợp các nhà nghiên cứu kinh tế và các chuyên gia đầu ngành về cơ sở hạ tầng, hội thảo đã tập trung vào một số vấn đề như:

- Kinh nghiệm quốc tế về đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: huy động các nguồn vốn,

các quỹ đầu tư của địa phương và quản lý sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng (trong quá trình đầu tư cũng như sau khi công trình hoàn thành đưa vào sử dụng, cơ chế quản lý, suất đầu tư một số ngành cụ thể), những bài học rút ra từ kinh nghiệm của các nước có thể áp dụng cho nước ta trong thời gian tới

- Thực trạng (kết quả đạt được, hạn chế yếu kém và nguyên nhân); giải pháp để tăng

cường thu hút vốn và nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế thiết yếu ở Việt Nam Trong đó tập trung đánh giá các vấn đề:

+ Đánh giá và kiến nghị các giải pháp vĩ mô cho sự phát triển cơ sở hạ tầng trong giai đoạn 2011-2020, nhấn mạnh những vấn đề về công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch các ngành, lĩnh vực; Hệ thống pháp luật và những cơ chế chính sách tạo điều kiện cho phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam

+ Cân đối nhu cầu và khả năng về vốn để phát triển cơ sở hạ tầng trong các lĩnh

Trang 27

vực cho phù hợp

+ Những giải pháp về cơ chế chính sách nhằm huy động có hiệu quả các nguồn lực tài chính cho phát triển cơ sở hạ tầng tập trung vào giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư Cơ chế chính sách về giá cho các hình thức đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế thiết yếu Cơ chế chính sách huy động và quản

lý sử dụng các nguồn vốn đầu tư khác nhau (hỗ trợ, ưu đãi đầu tư; bảo lãnh; các quỹ đầu tư, bảo lãnh, các quỹ đầu tư của địa phương; cam kết của Chính phủ, đảm bảo kiểm soát rủi ro, đấu thầu cạnh tranh, giám sát đầu tư, thanh quyết toán, giải phóng mặt bằng, chuyển nhượng dự án và các hình thức hợp tác công - tư như BOT, BTO, BT )

+ Những giải pháp về hiệu quả đầu tư và chất lượng dự án, bao gồm quy mô dự

án, chất lượng, tiến độ và công nghệ xây dựng (từ khi chuẩn bị dự án đến khi cấp giấy chứng nhận đầu tư, từ khi khởi công đến khi hoàn thành, vốn giải ngân) Chi phí đầu tư (suất đầu tư của các ngành cụ thể); lựa chọn hình thức đầu tư thích hợp với từng ngành, lĩnh vực Hiệu quả và rủi ro tài chính của các công trình đầu tư cơ sở hạ tầng theo các hình thức đầu tư phù hợp với từng nguồn vốn (BOT, BTO, BT ), so với một số nước trong khu vực

Song hội thảo mới chỉ chú trọng vào các lĩnh vực của cơ sở hạ tầng kỹ thuật, mà không dành riêng cho một lĩnh vực nào, nhất là vấn đề huy động vốn ngoài NSNN cho đầu tư cơ sở hạ tầng, các dự án xây dựng công trình đường bộ được nhắc đến như là các

ví dụ minh họa cho lĩnh vực đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng

Trong nghiên cứu về phát triển hạ tầng giao thông đường bộ, tác giả Phí Vĩnh Tường (2015) đã có những phân tích khá kỹ ở nhiều khía cạnh như mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển hạ tầng giao thông, xu hướng chuyển giao một phần vai trò phát triển hạ tầng giao thông sang khu vực tư nhân Theo đó, khi phân tích về thực trạng, khung chính sách phát triển hạ tầng giao thông Việt Nam, nghiên cứu này

đã chỉ ra những thách thức trong quá trình phát triển Đó là những thách thức về quy hoạch phát triển, thách thức phát triển hạ tầng giao thông phục vụ mục tiêu giảm nghèo

và kết nối với hạ tầng giao thông trong khu vực Những khuyến nghị được đưa ra là: đột phá trong quy hoạch và huy động vốn ngoài ngân sách để phát triển hạ tầng giao thông; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, phát triển quỹ vốn từ chính sách đền bù giải phóng mặt bằng [34]

Trang 28

Không chỉ những thách thức về khung chính sách hay quy hoạch phát triển, trong nghiên cứu XHH trong phát triển hạ tầng giao thông thì vốn đầu tư hạ tầng luôn là vấn

đề hết sức cấp thiết đối với các nước đang phát triển như Việt Nam Các giải pháp thu hút vốn đầu tư phát triển giao thông đường bộ Việt Nam đã được đưa ra, trong đó nhấn mạnh giải pháp XHH vốn đầu tư với các công trình giao thông đường bộ [35] Phạm Thị Xuân (2018) cũng làm rõ thực trạng huy động vốn đầu tư cho phát triển giao thông đường bộ Việt Nam giai đoạn 2001-2016 Những năm gần đây, vấn đề huy động vốn xây dựng đường bộ cao tốc được đề cập nhiều Trong đó, nêu cụ thể các vấn đề như vốn đầu tư, xây dựng, khai thác, bảo trì, thu phí, quản lý, các vấn đề có liên quan đến các địa phương có đường cao tốc đi qua, ý thức tham gia giao thông của người dân [41] Ngoài các nghiên cứu về XHH cơ sở hạ tầng giao thông vận tải thì hình thức PPP cũng được triển khai khá nhiều tại Việt Nam những năm trở lại đây Theo đó, trong đề

án “Mô hình PPP cho Việt Nam” (đề tài cấp bộ năm 2010) các chuyên gia và các nhà

khoa học của Bộ KH&ĐT đã đưa ra một bức tranh tổng thể về các điều kiện để có thể thực hiện thành công mô hình PPP cho phát triển cơ sở hạ tầng Các bài học kinh nghiệm thành công cũng như thất bại, từ đó đề ra các phương án, trong đó phân tích rõ các ưu nhược điểm của từng phương án cho việc áp dụng mô hình PPP cho phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam Song dường như chưa thể áp dụng một phương án cụ thể mang tính chất thuyết phục cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nói chung, cũng như đường cao tốc nói riêng ở Việt Nam [4]

Tương tự, trong sổ tay quy trình quản lý và tài liệu hướng dẫn cách thực hiện các

dự án PPP thuộc dự án “Xây dựng năng lực và hỗ trợ chính sách cho Ban PPP – Bộ Giao thông vận tải” năm 2016 đã nêu khá chi tiết và đầy đủ trong việc cung cấp các khung pháp lý và quy trình thực hiện dự án PPP tại Việt Nam Theo đó, dự án PPP được phân chia thành 4 giai đoạn gồm: (1) giai đoạn xác định, sàng lọc và xác định thứ tự ưu tiên dự án PPP, (2) giai đoạn nghiên cứu khả thi chi tiết, (3) giai đoạn xác định quy trình đấu thầu và xác định nhà đầu tư, (4) giai đoạn quản lý hợp đồng [3]

1.2.3 Các nghiên cứu về xã hội hóa đầu tư trong dịch vụ công

Tại Việt Nam, sự tham gia của các lực lượng xã hội trong XHH các dịch vụ công

đã được nghiên cứu cả trong lý luận và thực tiễn Những nghiên cứu này là nền tảng lý thuyết giúp cung cấp một số kinh nghiệm trong việc hợp tác giữa tư nhân với Nhà nước

Trang 29

Theo đó, XHH trong giáo dục và XHH trong cung ứng các dịch vụ công là hai lĩnh vực được nghiên cứu ứng dụng phổ biến

Đầu tiên, trong chiến lược phát triển ngành giáo dục, Đảng và Nhà nước đã ban hành các Nghị định, chiến lược về XHH giáo dục Theo đó, chiến lược phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu để đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh XHH, huy động toàn xã hội chăm lo phát triển giáo dục [8, 27, 32]

Nhiều hội thảo tập trung bàn về các vấn đề lý luận và các quan điểm mới và sự phối hợp của các tổ chức xã hội trong XHH giáo dục Một số hội thảo đi sâu vào phân tích các yếu tố quan trọng để thực hiện thành công sự phối hợp các lực lượng trong công tác XHH giáo dục [14, 21][9, 19]

Thứ hai, các nghiên cứu về XHH trong cung ứng các dịch vụ công tại Việt Nam cũng đã nhấn mạnh đến việc hoàn thiện các khung pháp lý rõ ràng đảm bảo minh bạch, bình đẳng và các cá nhân tổ chức có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật đều được tham gia cung ứng dịch vụ XHH và được pháp luật cho phép [20][38, 39][1]

1.2.4 Các nghiên cứu liên quan đến xã hội hóa trong lĩnh vực năng lượng

Trong phạm vi sự hiểu biết và nỗ lực tra cứu của tác giả, tính đến hiện nay, chưa

có luận án tiến sĩ hay một đề tài nghiên cứu trong nước nghiên cứu về XHH đầu tư trong lĩnh vực khai khoáng Tuy nhiên, hiện nay cũng đã có khung pháp lý và khá nhiều nghiên cứu thực tiễn thực hiện XHH trong lĩnh vực khai khoáng

Đối với lĩnh vực năng lượng nói chung và khai thác khoáng sản nói riêng thì vấn

đề XHH đầu tư đã được quan tâm nghiên cứu nhưng mới chỉ ở những bài viết riêng lẻ của các tổ chức, tác giả chứ chưa tập hợp thành những công trình nghiên cứu tổng thể Tập đoàn Điện lực Việt Nam (2007) cũng sớm xác định hướng đi XHH đầu tư để huy động nguồn lực và nguồn vốn và năng lực ngoài ngành là hướng đi phù hợp trong bối cảnh nguồn lực từ xã hội có tiềm năng lớn trong khi nguồn vốn nhà nước trong các tập đoàn như EVN còn hạn chế [30]

Đối với ngành Than, tác giả Trần Xuân Hoàn (2012) trong nghiên cứu của mình

đã nhấn mạnh chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về huy động mọi nguồn lực trong xã hội để đầu tư phát triển Theo đó, mục tiêu XHH đầu tư trong ngành Than thuộc TKV là phát huy mọi nguồn lực trong xã hội, kể cả đầu tư nước ngoài bằng các hình thức thích hợp để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển kinh doanh của các đơn vị

Trang 30

thành viên của TKV nhằm nâng cao năng lực sản xuất, sản lượng và chất lượng sản phẩm/dịch vụ đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh [17]

So sánh với chính sách phát triển ngành Than của Indonesia, tác giả Nguyễn Cảnh Nam (2013) đã ghi nhận Indonesia là một trong những quốc gia có trữ lượng than lớn trên thế giới và là nước có trữ lượng than lớn nhất Đông Nam Á Kinh nghiệm của Indonesia trong XHH đầu tư cũng như các chính sách phát triển trong việc đầu tư các cụm cảng tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển và xuất khẩu than hiệu quả [18] Trên phương diện thực tiễn ở nước ta, quá trình đi đến thực hiện XHH đầu tư theo tinh thần huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển kinh tế nói chung

và phát triển kinh doanh nói riêng gắn liền với việc chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp chủ yếu gồm hai thành phần chính là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể sang nền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN Điều này được quy định cụ thể trong các Hiến pháp của nước ta, từ Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013 và được thể chế hóa bằng các luật, các nghị định, nghị quyết của Chính phủ [22, 23, 25] Như vậy, hiện nay việc thực hiện XHH đầu tư đang được thúc đẩy mạnh mẽ để thực hiện chủ trương tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế, trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu hệ thống tài chính, ngân hàng và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước Nghị quyết Trung Ương 3 Khóa XI của Đảng đã nêu rõ: “Đối với nhiệm vụ tái cơ cấu đầu tư, trước hết phải thay đổi tư duy về đầu tư công, nhất là trong lĩnh vực đầu tư kết cấu hạ tầng, y tế, giáo dục…; từng bước điều chỉnh cơ cấu theo hướng giảm dần đầu tư công; thực hiện các biện pháp để huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước để đầu tư vào các công trình, dự án hạ tầng kinh

tế - xã hội có khả năng thu hồi vốn”

1.3 Khoảng trống nghiên cứu

Qua rà soát các công trình nghiên cứu có liên quan đến đầu tư tư nhân vào khu vực công nói riêng và đầu tư của doanh nghiệp tư nhân vào doanh Nhà nước, có thể thấy hiện nay không có một khuôn mẫu chung hay một mô hình đánh giá xác định dự

án XHH đầu tư nào cụ thể được chỉ ra bởi các tác giả trước đó, đặc biệt là trong ngành than

Như vậy, mặc dù có nhiều nghiên cứu liên quan ở cả trong nước và nước ngoài về

Trang 31

XHH đầu tư dưới nhiều hình thức khác nhau, tuy nhiên các tác giả thường tập trung nhiều vào nghiên cứu XHH đầu tư các dịch vụ công và đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông vận tải Đối với đầu tư phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và khai thác than thuộc TKV nói riêng mới chỉ có một số nghiên cứu về huy động vốn, trong đó có

đề cập đến vấn đề XHH đầu tư dưới dạng là một trong những định hướng tiềm năng để thu hút vốn và đầu tư của các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế Có thể thấy rằng đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách tổng thể, bài bản thực hiện XHH đầu tư trong ngành than thuộc TKV, cụ thể:

1 Các nghiên cứ trước chưa đưa ra quy trình thực hiện XHH đầu tư cụ thể trong ngành than;

2 Các nghiên cứu trước chưa chỉ ra mô hình nền tảng nào phù hợp cho việc thực hiện XHH trong ngành than;

3 Các nghiên cứu trước chưa đưa ra bộ các tiêu chí đánh giá cụ thể cho các dự

án XHH trong ngành Than

Như vậy, trong bối cảnh nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển than tăng cao, điều kiện khai thác ngày càng khó khăn, phức tạp làm cho giá thành ngày càng tăng, để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư và nâng cao hiệu quả kinh doanh than, ngoài những vấn đề khác, việc nghiên cứu thực hiện XHH đầu tư một cách tổng thể, hoàn chỉnh và phù hợp trong ngành công nghiệp than của TKV - đơn vị được Chính phủ giao chủ trì thực hiện Quy hoạch phát triển than là cấp bách và cần thiết Do vậy, từ các khoảng trống nghiên cứu trên, luận án sẽ tiến hành nghiên cứu các khung lý thuyết nền tảng để xác định mô hình phù hơp và xây dựng các chỉ tiêu đánh giá dự án XHH phù hợp cho ngành than thuộc TKV Theo đó, các câu hỏi nghiên cứu của đề tài đặt ra cần được trả lời là:

1) Tại sao phải thực hiện XHH đầu tư trong ngành than thuộc TKV?

2) XHH đầu tư là gì: khái niệm, nội dung, hình thức và điều kiện thực hiện?

3) Tình hình thực hiện XHH đầu tư tại TKV hiện nay ra sao?

4) Sự cần thiết phải đẩy mạnh thực hiện XHH đầu tư tại TKV hiện nay như thế nào? 5) Chỉ tiêu nào để đánh giá hiệu quả và lựa chọn dự án XHH đầu tư trong ngành than thuộc TKV?

6) Định hướng và các giải pháp đẩy mạnh thực hiện XHH đầu tư trong ngành than thuộc TKV hiện nay là gì?

Trang 32

7) Điều kiện để đẩy mạnh thực hiện XHH đầu tư có hiệu quả trong ngành than của TKV là gì?

1.4 Tóm tắt chương 1

Chương này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước có liên quan đến hoạt động đầu tư từ khu vực tư nhân vào khu vực công Theo đó, các hình thức đầu tư từ tư nhân vào khu vực công trên thế giới thường được vận dụng là hình thức đối tác công tư PPP Trong khi đó, ở Việt Nam hình thức đầu tư theo mô hình đối tác công tư PPP được triển khai nhiều trong các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư cho dịch vụ công, giáo dục, y tế Bên cạnh đó, các nghiên liên quan đến hình thức XHH đầu

tư cũng đã được một số tác giả nghiên cứu trong một số lĩnh vực công

Kết quả tình hình nghiên cứu được rà soát ở cả trong và ngoài nước cho thấy rằng vấn đề XHH đầu tư đã được thế giới và Việt Nam quan tâm từ lâu bởi tính hiệu quả và mức độ khả thi triển khai của nó Tuy nhiên, để đánh giá hiệu quả dự án XHH đầu tư theo một phương pháp khoa học có cơ sở lý luận đầy đủ, toàn diện trong ngành công nghiệp nói chung và trong lĩnh vực khai thác than nói riêng hiện nay chưa có nhiều trên thế giới và Việt Nam Trên cơ sở khoảng trống nghiên cứu được chỉ ra trong chương này, tác giả đã đưa ra các câu hỏi nghiên cứu cho luận án trả lời

Chương tiếp theo trình bày về cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến XHH đầu

tư nói chung và một số đặc điểm trong ngành than nói riêng

Trang 33

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ XÃ HỘI HÓA ĐẦU TƯ TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN

2.1 Khái niệm chung

2.1.1 Vốn đầu tư

2.1.1.1 Khái niệm vốn đầu tư

Vốn đầu tư được hiểu là tài sản tích lũy hoặc huy động được của nhà đầu tư nhằm phục vụ cho mục đích phát triển và đầu tư sinh lời Hiểu một cách đơn giản là toàn bộ các chi phí bỏ ra để thực hiện mục đích đầu tư Theo đó, vốn là điều kiện tiền đề để tất

cả các hoạt động trong xã hội được diễn ra, đặc biệt là đối với các hoạt động về kinh tế, với các hoạt động về kinh tế, vốn còn là mục đích của các hoạt động này Ở tầm vĩ mô, vốn là một trong những nhân tố quan trọng vào bậc nhất đối với quá trình tăng trưởng

và phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia [12]

Khi nghiên cứu sự chuyển hóa của tiền thành tư bản, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc tư tưởng của các nhà kinh tế học tiền bối, Mác đã cho rằng giá trị ứng ra lúc ban đầu chẳng những được bảo toàn trong lưu thông, mà nó còn gia tăng về giá trị Mác đã cho thấy rõ bản chất và chức năng của tư bản sinh lời, đồng thời để giá trị thành tư bản và

tư bản sinh lời nhất thiết phải trải qua sự vận động Điều đó có nghĩa là tư bản có mặt trong lưu thông, tham gia vào quá trình sản suất, chính thông qua quá trình vận động, tư bản sinh sôi nảy nở và lớn lên không ngừng

Ngày nay, vốn là yếu tố đóng vai trò quan trọng của không chỉ hầu hết các quốc gia đang phát triển và kém phát triển, mà ngay cả những quốc gia phát triển cũng có nhu cầu cao về vốn Vì lẽ đó, phạm trù vốn trong phát triển kinh tế vẫn được các nhà kinh tế học tiếp tục nghiên cứu và tiếp cận dưới nhiều giác độ khác nhau

- Thứ nhất, trên quan điểm tài chính - tiền tệ, vốn là “tổng số tiền biểu hiện nguồn

gốc hình thành của tài sản được đầu tư trong kinh doanh để tạo ra thu nhập và lợi tức” [11]

- Thứ hai, theo quan điểm về tài sản, vốn được hiểu là những tài sản có khả năng

tạo ra thu nhập và bản thân nó cũng được cái khác tạo ra [2]

- Thứ ba, trên quan điểm vốn là một nhân tố đầu vào, vốn là “một trong ba yếu tố

đầu vào phục vụ cho sản suất (lao động, đất đai và vốn) Vốn bao gồm các sản

Trang 34

phẩm lâu bền được chế tạo để phục vụ sản suất (tức là máy móc, công cụ, thiết

bị, nhà cửa, kết hợp dự trữ thành phẩm hoặc bán thành phẩm)” [36]

Tại Việt Nam, khái niệm về vốn ban đầu được hiểu đơn giản trong trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” với ý hiểu “Vốn là tiền của bỏ ra lúc đầu, dùng trong sản suất kinh doanh, nhằm mục tiêu sinh lời” [40] Như vậy, có thể hiểu, “vốn sẽ bao gồm bất cứ thứ

gì đưa lại một luồng thu nhập qua thời gian”, “Sự phát triển có thể coi như là một quá trình khái quát của sự tích lũy vốn” [12]

Từ những cách tiếp cận nêu trên về vốn cho thấy rõ tính đa dạng, nhiều vẻ về hình thái tồn tại, vốn có thể là tiền hay tài sản được giá trị hóa Mặt khác, với tư cách là vốn thì tiền hay tài sản phải được đầu tư vào hoạt động sản suất - kinh doanh để tạo ra hàng hóa, dịch vụ nhằm mục tiêu có thu nhập trong tương lai Nghĩa là, vốn luôn gắn với sự vận động và quan trọng là đảm nhiệm chức năng sinh lời Nói cách khác, vốn là hình thái giá trị, giá trị đó được ứng ra để chuyển hóa thành các yếu tố cấu thành quá trình sản suất, trải qua quá trình sản suất, giá trị lớn lên không ngừng, và một phần lại được đưa vào tái sản suất, mở rộng quy mô hoạt động sản suất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm tài sản hữu hình, tài sản vô hình và tài sản tài chính Những tài sản này tham gia trực tiếp vào quá trình sản suất, tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, đồng thời tăng giá trị Hay nói cách khác, vốn là giá trị thực của tài sản hữu hình, tài sản vô hình và tài sản tài chính đưa vào đầu tư để tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nhằm mục tiêu sinh lời [12]

- Tài sản hữu hình là những tài sản tồn tại dưới dạng cụ thể của vật chất, bao gồm

hai bộ phận: Một là, những tài sản hữu hình phục vụ trực tiếp vào sản suất, như:

nhà xưởng, máy móc, thiết bị, công cụ, nguyên - nhiên vật liệu, bán thành phẩm… Xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, quyết định tới hiệu quả

sản suất - kinh doanh; Hai là, những tài sản hữu hình phục vụ gián tiếp cho sản

suất, như trụ sở văn phòng, phương tiện đi lại, nhà ở… Mặc dù những tài sản hữu hình này là cần thiết cho hoạt động sản suất - kinh doanh nhưng chỉ tác động gián tiếp đến việc gia tăng sản lượng đầu ra, đóng vai trò thứ yếu đối với hiệu quả sản suất - kinh doanh

- Đối với tài sản vô hình, là những tài sản không tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể,

bao gồm những sản phẩm trí tuệ như: bằng phát minh, sáng chế, bản quyền; thương hiệu sản phẩm, uy tín của doanh nghiệp trong kinh doanh; vị trí của

Trang 35

doanh nghiệp hay còn gọi là lợi thế kinh doanh; chi phí đào tạo nguồn nhân lực như kỹ năng lao động, tri thức quản lý.v.v Nền kinh tế thị trường càng phát triển, giá trị tài sản vô hình càng trở nên quan trọng trong cơ cấu vốn đầu tư Bởi

vì, khi huy động được những tài sản vô hình vào phát triển kinh tế, sử dụng chúng hợp lý sẽ đem lại lợi nhuận, thậm chí là siêu lợi nhuận Các doanh nghiệp hiểu thấu đáo điều này trong hoạt động sản suất kinh doanh sẽ đạt được mục tiêu

mở rộng quy mô và gia tăng lợi nhuận

- Tài sản tài chính, bao gồm tiền mặt hay các chứng chỉ có giá trị như cổ phiếu,

trái phiếu, giấy ghi nợ , có thể gọi chung là tiền Tuy nhiên, như trên đã phân tích không phải tất cả tiền đều là vốn Tiền chỉ là hình thái cụ thể của vốn, tiền được coi là vốn khi và chỉ khi tiền đại diện một lượng giá trị hàng hóa, dịch vụ hay tài sản nhất định, được đưa vào lưu thông hoặc tham gia trực tiếp vào quá trình sản suất – kinh doanh để kiếm tìm lợi nhuận Vì vậy, tiền được cất trữ hay mang tiêu dùng trong sinh hoạt hàng ngày, tức là những đồng tiền không có khả năng sinh ra lợi nhuận thì không được coi là vốn trong nền kinh tế thị trường

2.1.1.2 Bản chất và đặc điểm chung của vốn đầu tư

Bản chất của vốn đầu tư: Vốn đầu tư là số tiền và những tài sản hợp pháp khác

được sử dụng để thực hiện các hoạt động đầu tư Mục đích của vốn đầu tư nhằm thỏa mãn các nhu cầu thường xuyên tăng lên và sự phát triển toàn diện trong xã hội, bằng cách phát triển không ngừng với nhịp độ nhanh nền sản suất xã hội, phân bổ hợp lý sức sản suất trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, không ngừng nâng cao năng suất lao động

và giá trị [12] Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích lũy được thể hiện dưới dạng giá trị được chuyển hóa thành vốn đầu tư đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội

Đặc điểm của vốn đầu tư: Vốn đầu tư có những đặc điểm cơ bản khác với các

loại vốn kinh doanh khác, cụ thể như sau:

- Về quy mô: Vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thường rất lớn về giá trị, đặc biệt

là các dự án xây dựng đường cao tốc, từ khoảng vài chục ngàn tỷ đồng trở lên cho một dự án Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng là loại đầu tư có liên quan đến sự tăng trưởng quy mô vốn của nhà đầu tư và quy mô vốn của toàn xã hội Thông qua đầu tư cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ của nền kinh tế được tăng cường, đổi mới, hoàn thiện, hiện đại hóa, góp phần

Trang 36

quan trọng hình thành nền tảng cho không chỉ điều chỉnh cơ cấu của nền kinh tế

mà còn thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

và phát triển xã hội bền vững

- Về thời gian thu hồi vốn: Thường thì đối với các dự án đầu tư, thời gian thu hồi

vốn là tương đối dài, đây cũng được xem là rào cản của việc huy động vốn từ khu vực ngoài ngân sách cho thực hiện các dự án Trong quá trình thực hiện dự

án, do thời gian dài nên việc thực hiện dự án thường gặp phải nhiều biến động trên thị trường, vì vậy cần phải điều chỉnh cho phù hợp, và hầu như sau các lần điều chỉnh, chỉ có tăng thêm về tổng vốn đầu tư

- Về việc cung ứng vốn cho dự án: Hiện tượng thường gặp ở hầu hết các nước,

Việt Nam cũng không là ngoại lệ, đó là nếu chỉ trông chờ vào vốn NSNN thì hầu như không một Nhà nước nào mà NSNN có thể đáp ứng đủ, còn đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, vốn vay ưu đãi cũng có hạn và ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn, nhất là khi Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình, các nguồn vốn ưu đãi sẽ bị cắt giảm dần…thì khả năng cung ứng vốn

từ NSNN cho đầu tư thực hiện dự án ngày càng khó khăn hơn

2.1.1.3 Các hình thức huy động vốn đầu tư

Nguồn vốn đầu tư được hiểu là bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài

a) Nguồn vốn trong nước:

Nguồn vốn đầu tư trong nước, là phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và tiết kiệm của Chính

phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội Bao gồm:

- Nguồn vốn của Nhà nước: Vốn đầu tư từ NSNN, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát

triển của Nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của DNNN

+ Nguồn vốn đầu tư từ NSNN: Là số tiền được chi từ NSNN cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Nguồn vốn này, được xem là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vự cần có sự tham gia của Nhà nước Ở Việt Nam, những năm gần đây, song hành với sự tăng trưởng của nền kinh tế, quy mô tổng thu NSNN không ngừng gia tăng qua các năm, nhờ

Trang 37

khai thác, mở rộng nhiều nguồn thu khác nhau; nhờ thành công của công cuộc cải cách sâu rộng nền hành chính quốc gia Cùng với sự mở rộng quy mô ngân sách, mức chi cho đầu tư phát triển từ nguồn NSNN, gia tăng đáng kể (tổng thu ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2001 - 2005, tăng 15% bình quân, tỷ lệ huy động vào NSNN hàng năm đạt xấp xỉ 23% GDP Tổng chi NSNN tăng bình quân 14,9% Tỷ lệ chi NSNN bình quân bằng 28% GDP Trong đó, chi cho đầu

tư phát triển đạt bình quân 30,2% tổng chi NSNN Tính chung cho giai đoạn 2001

- 2005, tổng vốn đầu tư từ NSNN chiếm 22,3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội)

+ Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Tín dụng theo nghĩa thông thường là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng và sau một thời gian nhất định quay trở lại người sở hữu với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu Nguồn tín dụng ngân hàng trở thành một kênh huy động vốn quan trọng cho sự phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội Tuy nhiên, như phân tích ở trên, đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và đầu tư phát triển cần một lượng vốn lớn, thời gian thu hồi chậm có khi còn không có khả năng thu hồi vốn Nên trên thực tế rất ít các ngân hàng thương mại đầu tư vốn trực tiếp để xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, mà nguồn

vốn này tập trung chủ yếu ở Ngân hàng Phát triển Việt Nam

+ Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước: Nguồn vốn này chủ yếu được tạo thành từ khấu hao tài sản cố định và thu nhập giữ lại tại DNNN Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nguồn vốn của DNNN tự đầu tư chiếm 14- 15% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chủ yếu đầu tư chiều sâu, mở rộng sản

xuất, đổi mới thiết bị, hiện đại hóa dây chuyền công nghệ của doanh nghiệp

+ Nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ: “Trái phiếu Chính phủ” được hiểu là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát hành nhằm huy động vốn cho NSNN hoặc cho chương trình, dự án đầu tư cụ thể thuộc phạm vi đầu tư của Nhà nước Trái phiếu Chính phủ (TPCP) là loại chứng khoán ít có rủi ro, thực hiện thanh toán

và cũng là loại trái phiếu có khả năng thanh khoản cao Do đó, lãi suất của TPCP được xem là lãi suất chuẩn để làm căn cứ ấn định lãi suất của các công

cụ nợ khác có cùng kỳ hạn

- Nguồn vốn từ khu vực tư nhân: Bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích

lũy của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã Bộ KH&ĐT ước tính, nguồn

Trang 38

vốn này chiếm bình quân 15% GDP, trong đó phần tiết kiệm của dân cư tham gia đầu tư gián tiếp vào khoảng 3,7% GDP, chiếm khoảng 25% tổng tiết kiệm của dân cư, phần tiết kiệm của dân cư tham gia đầu tư trực tiếp khoảng 5% GDP

và bằng 33% số tiết kiệm được Giai đoạn 2001 - 2005, vốn đầu tư của khu vực

tư nhân chiếm khoảng 26% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Giai đoạn tiếp theo nguồn vốn này đã tiếp tục gia tăng cả về quy mô và tỷ trọng Do đó nếu Nhà nước có các chính sách khuyến khích nhằm huy động nguồn vốn tiềm năng này, đây thực sự sẽ là nguồn lực tài chính đáng kể góp phần tài trợ cho những thiếu hụt về tài chính để thực hiện các dự án xây dựng và phát triển hạ tầng ở Việt Nam Qua hơn 20 năm thực hiện mục tiêu chiến lược đổi mới kinh tế đất nước, Chính phủ không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm tạo điều kiện, khuyến khích khu vực tư sẵn sàng tham gia góp vốn đầu tư phát triển cơ sở

hạ tầng Với Luật Doanh nghiệp thống nhất (năm 2005, sửa đổi năm 2009) và Luật đầu tư chung có hiệu lực từ giữa năm 2006, các tầng lớp dân cư và khu vực kinh tế tư nhân sẽ tiếp tục được khuyến khích, động viên phần lớn nguồn vốn tích lũy cho đầu tư phát triển, nhất là đầu tư phát triển đường bộ hiện đại Ước tính, với vài trăm ngàn doanh nghiệp dân doanh đã, đang và sẽ đi vào hoạt động, phần tích lũy của các doanh nghiệp này đóng góp đáng kể vào quy mô vốn tổng thể của toàn bộ nền kinh tế Thêm vào đó, nhiều hộ gia đình, mà hoạt động của các hộ gia đình này cũng đã trở thành các đơn vị kinh tế rất năng động trong hoạt động kinh doanh, thương mại và cung ứng dịch vụ… Phần tích lũy của các hộ gia đình cũng sẽ là một trong số những nguồn lực cần thiết cho sự phát triển kinh

tế - xã hội Với hình thức đầu tư đối tác công - tư PPP, Nhà nước sẽ thiết lập các tiêu chuẩn về cung cấp các dịch vụ mà tư nhân được khuyến khích tham gia, bằng cơ chế thanh toán theo từng công trình dự án Đây là hình thức hợp tác sẽ hứa hẹn mang lại lợi ích cho cả Nhà nước và người dân, vì tận dụng được nguồn lực tài chính và kỹ năng quản lý vốn đầu tư hiệu quả từ khu vực tư nhân, trong khi đó vẫn đảm bảo các lợi ích cho người dân Cũng vì nguồn vốn có hạn, nên NSNN chỉ có thể đầu tư cho các lĩnh vực, công trình trọng điểm, khó có khả năng thu hồi vốn, các vùng nông thôn, miền núi, vùng khó khăn, còn lại Nhà nước khuyến khích mạnh mẽ sự tham gia của khu vực tư Thông qua các cơ chế, chính sách động viên các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp tham gia đầu tư xây

Trang 39

dựng, quy hoạch, phát triển kết cấu hạ tầng, là mục tiêu hàng đầu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững Theo các quy định mới nhất của Chính phủ, nhà đầu tư thực hiện các dự án (BOT, BTO…) được Nhà nước dành cho quyền kinh doanh dự án đó trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn đầu tư cũng như lợi nhuận Đối với dự án BT, Nhà nước tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong Hợp đồng BT

- Nguồn vốn từ thị trường vốn: Nguồn vốn huy động từ kênh huy động vốn này

cần phải được đáp ứng nhanh, và giá trị đủ lớn theo yêu cầu của nhà đầu tư, ở nhiều nước, đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển kinh tế nói chung

và phát triển năng lực của các doanh nghiệp nhà nước nói riêng

b) Nguồn vốn nước ngoài

Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích lũy của cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ các nước có thể huy động vào quá trình đầu tư phát triển của Việt Nam Trên phạm vi rộng, nguồn vốn này được xem là dòng lưu chuyển vốn quốc tế, thực chất, các dòng lưu chuyển vốn quốc tế là biểu hiện cụ thể của quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới Trong đó, các dòng vốn chuyển từ các nước phát triển vào các nước đang phát triển thường được các nước đang phát triển đặc biệt quan tâm, các nước này, coi trọng các dòng vốn đó,

và xem như là các “cú huých” để tạo đà phát triển Dòng vốn này được chuyển giao dưới nhiều hình thức, mỗi hình thức có đặc điểm, mục tiêu và điều kiện thực hiện riêng, không hoàn toàn như nhau Về khía cạnh luân chuyển vốn, có thể phân loại nguồn vốn như

sau:

- Thứ nhất, tài trợ phát triển chính thức - Vốn ODA: Đối với Việt Nam, nhiều năm

nay, ODA được xem là nguồn vốn có ý nghĩa cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng nói chung, và xây dựng các công trình giao thông và giao thông đường bộ nói riêng

- Thứ hai, nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế: Khác với vốn

ODA, điều kiện ưu đãi dành cho loại vốn này không dễ dàng, nhưng, nguồn vốn này cũng có những ưu điểm rất rõ ràng là không gắn với các ràng buộc về chính trị, xã hội Song, thủ tục vay đối với các nguồn vốn này tương đối khắt khe, thời gian trả nợ phải tuân thủ nghiêm ngặt, mức lãi suất cao Đây cũng là những trở

Trang 40

ngại đáng kể đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là những nước nghèo Vì vậy, với Việt Nam việc tiếp cận đối với nguồn vốn này vẫn còn rất hạn chế do chính những trở ngại nêu trên

- Thứ ba, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Nguồn vốn FDI được xem

là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư và phát triển không chỉ đối với nước nghèo

mà còn cả với các nước công nghiệp phát triển FDI có đặc điểm cơ bản khác với các nguồn vốn nước ngoài khác, đó là việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận vốn Thay cho việc nhận lãi suất trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ kiến thức kinh doanh vào nước nhận vốn, do đó, có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là những ngành đòi hỏi kỹ thuật, công nghệ cao hay lượng vốn đầu tư lớn Chính vì vậy mà nguồn vốn này có vai trò thúc đẩy quá trình CNH, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở các nước nhận vốn đầu tư Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong nguồn vốn quan trọng đầu tư phát triển kinh tế tại Việt Nam Tuy nhiên để thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này cho công cuộc CNH, HĐH đất nước là một vấn đề quan trọng và không đơn giản Mặc dù thời gian vừa qua về việc thu hút nguồn vốn FDI ở Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng kể Tuy nhiên, nguồn vốn FDI cũng có những quan ngại mà nhà quản lý cần lưu tâm, đó là:

+ Dòng vốn FDI đổ vào quá lớn là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến tỉ lệ lạm phát cao khi mà Ngân hàng Nhà nước mất khả năng kiểm soát, tỉ lệ FDI không tham gia vào thương mại quốc tế mà chủ yếu lại đầu tư vào bất động sản và

du lịch là những lĩnh vực không tạo ra nhiều việc làm và có xu hướng gây

áp lực lên cán cân thanh toán Thực trạng trên dẫn tới hệ lụy lạm phát cao tác động trực tiếp đến chi phí sinh hoạt và tiền lương thực tế của người lao động

+ Doanh nghiệp FDI luôn tìm cách khai thác triệt để nguồn lao động rẻ, sẵn

có, mà không chú trọng đào tạo trình độ và kỹ năng cho người lao động + Mối quan ngại nữa là vốn FDI chỉ tập trung đầu tư vào những ngành có công nghệ tương đối thấp, các doanh nghiệp FDI chỉ quan tâm xây dựng các chiến lược của mình sao cho phù hợp với nền kinh tế của nước sở tại, có cân nhắc

Ngày đăng: 17/11/2020, 14:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w