1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nghiên cứu chế biến nước giải khát lên men từ quả sơ ri

7 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 541,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung chính của bài viết trình bày nghiên cứu được tiến hành trên dịch quả sơ ri, ở hàm lượng chất khô 18oBx, pH 4,0; tỉ lệ men giống bổ sung 0,20%; lên men trong 3 ngày ở nhiệt độ phòng. Sản phẩm thu được có hàm lượng chất khô 7,2 ± 0,8oBx; hàm lượng cồn 1,4% v/v; hàm lượng vitamin C 581,2 mg%; pH 3,1.

Trang 1

Processing of fermented fruit juice from acerola (Malpighia glabra L.)

Mai T N Tran Institute of Applied Sciences, Ho Chi Minh City University of Technology (HUTECH), Ho Chi Minh City,

Vietnam

ARTICLE INFO

Research Paper

Received: December 11, 2019

Revised: March 15, 2020

Accepted: April 24, 2020

Keywords

Acerola

Acerola cider

Yeast

Corresponding author

Tran Thi Ngoc Mai

Email: ttn.mai79@hutech.edu.vn

ABSTRACT

Fruit cider has high nutrition and often preserved cold after processing The aroma and flavour characteristics of the original material enhance the sensory of the cider This study was carried on the acerola juice which has the dry matter concentration of 18oBx, pH 4.0 The fermentation was induced with the yeast content of 0.20% for 3 days

at room temperature As a result, the obtained product had the dry matter concentration, the alcohol content, the vitamin C content and

pH of 7.2 ± 0.8oBx, 1.4% v/v, 581.2 mg% and 3.1, respectively

Cited as: Tran, M T N (2020) Processing of fermented fruit juice from acerola (Malpighia glabra L.) The Journal of Agriculture and Development 19(2),99-105

Trang 2

Bài báo khoa học

Ngày nhận: 11/12/2019

Ngày chỉnh sửa: 15/03/2020

Ngày chấp nhận: 24/04/2020

Từ khóa

Nấm men rượu

Nước quả lên men

Sơ ri

Tác giả liên hệ

Trần Thị Ngọc Mai

Email: ttn.mai79@hutech.edu.vn

Nước trái cây lên men có giá trị dinh dưỡng cao trong đó mùi thơm và hương vị đặc trưng của nguyên liệu làm tăng giá trị cảm quan cho sản phẩm, thường được bảo quản lạnh sau khi chế biến Nghiên cứu được tiến hành trên dịch quả sơ ri, ở hàm lượng chất khô 18oBx, pH 4,0; tỉ

lệ men giống bổ sung 0,20%; lên men trong 3 ngày ở nhiệt độ phòng Sản phẩm thu được có hàm lượng chất khô 7,2 ± 0,8oBx; hàm lượng cồn 1,4% v/v; hàm lượng vitamin C 581,2 mg%; pH 3,1

1 Đặt Vấn Đề

Nước giải khát lên men là sản phẩm của quá

trình lên men rượu chưa kết thúc từ nguyên liệu

trái cây Đây được xem là loại nước uống tự nhiên

có nồng độ cồn thấp, không qua chưng cất, chứa

nhiều chất dinh dưỡng, có lợi cho sức khỏe Thành

phần hóa học cơ bản của sản phẩm này gồm:

hàm lượng chất kho hòa tan khoảng 5 - 8% khối

lượng; acid tổng từ 0,6 - 2% thể tích và nồng độ

rượu là 0,5 - 1,5% thể tích (Bui, 2005; Nguyen &

Nguyen, 2007); đồng thời sản phẩm này còn chứa

khá nhiều các hợp chất được sinh ra từ quá trình

lên men rượu như các acid hữu cơ, các ester thơm;

đặc biệt là các thành phần đặc trưng của nguyên

liệu trái cây được sử dụng trong lên men Trong

nước giải khát lên men, các quá trình sinh hóa

vẫn tiếp tục dù bảo quản ở nhiệt độ thấp Do đó,

sau lên men có thể loại bớt tế bào nấm men rồi

thanh trùng để tăng thời gian bảo quản (Mathew

& ctv., 2017; Saranraj & ctv., 2017; Souza & ctv.,

2017)

Quả sơ ri (Malpighia glabra L.) thuộc họ Malpighiaceae Sơ ri có thể trồng ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Trên thế giới, sơ ri trồng nhiều ở các vùng Bắc Mỹ, Trung Mỹ và Nam Mỹ (Simopoulos & Gopalan, 2003) Ở Việt Nam, sơ

ri trồng phổ biến ở Nam Bộ, đặc biệt là Tiền Gi-ang với diện tích trồng khoảng 950 ha, sản lượng trung bình 18.000 tấn/năm Thành phần hóa học của quả tươi bao gồm: nước 87,5 - 92,3%; lipid 0,45 0,47%; protein 0,9 1,2%; đường khử 3,3 -4,4%; đường tổng 4,3 ± -4,4%; cellulose 0,5 - 1,2%; tro 0,4 - 0,6%; K 146 mg%; vitamin C 600 - 1200 mg%; pH 3,4 - 3,7; hàm lượng chất khô hoà tan 7,7 - 9,2% (Vendramini & Trugo, 2000; Simopou-los & Gopalan, 2003; Oliveira & ctv., 2010)

Sơ ri chín có vỏ mỏng, khó vận chuyển và có thời hạn sử dụng ngắn 2 - 3 ngày sau khi hái (Righetto & ctv., 2005), cùng với sản lượng lớn và thành phần dinh dưỡng tốt cho sức khoẻ, thành phần kháng oxy hoá cao (đặc biệt là vitamin C) Trong nghiên cứu này, chúng tôi chế biến nước giải khát lên men từ loại quả này nhằm giải quyết

Trang 3

Hình 1 Qui trình chế biến nước sơ ri lên men.

vấn đề về nguồn nguyên liệu dư thừa sau thu

hoạch, đồng thời tạo ra một dòng sản phẩn đồ

uống có giá trị chức năng kháng oxy hoá, tăng

cường miễn dịch, cải thiện sức khoẻ tim mạch

2 Vật Liệu và Phương Pháp Nghiên Cứu

2.1 Vật liệu

Quả sơ ri mua tại các vườn ở Gò Công tỉnh

Tiền Giang, đạt tiêu chuẩn: quả không bị hư thối,

sâu bệnh; màu hồng đến đỏ Đường saccharose

(công ty đường Biên Hoà, đạt TCVN 6958:2001);

chất điều chỉnh pH Na2CO3 đạt QCVN

4-3:2010/BYT; enzyme pectinase (Pectinex Ultra

Clear, Novozymes) dạng dung dịch, màu nâu,

pH hoạt động 4 9, nhiệt độ hoạt động 40

-50oC, hoạt tính 7900 PGNU/mL; nấm men

Sac-charomyces cerevisiae (Thermosaccr Dry,

Lalle-mand Biofuels & Distilled Spirits) dạng nấm men

khô, nhiệt độ hoạt động 34 - 40oC, pH hoạt động

3,5 - 6,0; mật độ tế bào sống trung bình 2 × 1010

tế bào/g

2.2 Qui trình chế biến

Qui trình chế biến nước sơ ri lên men thể hiện

ở Hình1 Mỗi thí nghiệm được tiến hành với 500

g quả sơ ri Tất cả các thí nghiệm được lập lại 3

lần Quá trình xử lý sơ bộ bao gồm quá trình lựa

chọn quả đạt tiêu chuẩn, sau đó rửa sạch Xử lý

dịch quả sau nghiền với enzyme pectinase ở các

hàm lượng khác nhau 0,05; 0,10; 0,15; 0,20% được

tiến hành ở pH dịch quả, nhiệt độ 45oC, thời gian

2 giờ; sau khi chọn hàm lượng thích hợp sẽ tiến

hành khảo sát thời gian xử lý pectinase 1, 2, 3,

4 giờ Quá trình điều chỉnh dịch lên men được

tiến hành điều chỉnh hàm lượng chất khô 15, 18,

21, 24oBx bằng đường saccharose, pH bằng dung

dịch Na2CO3 về pH 3,5; 4,0; 4,5; 5,0; 5,5; tỉ lệ

men giống 0,10; 0,15; 0,20; 0,25%w/w và các chỉ tiêu này được khảo sát theo thời gian lên men từ

1 - 4 ngày ở nhiệt độ phòng (khoảng 25oC)

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp hoá lý

Xác định tổng chất khô hoà tan đo bằng Khúc

xạ kế (Atago Master-T 0 - 32% Atc Brix Re-fractometer, USA), hàm lượng được biểu thị dưới dạngoBx

Xác định đường khử bằng phương pháp DNS Xác định hàm lượng acid tổng theo TCVN 12086:2017

Xác định độ pH bằng máy đo pH (Basic pH Meter, USA)

Xác định hàm hàm lượng cồn bằng bộ chưng cất và Khúc xạ kế đo độ cồn (PCE-ALK, Anh) thang đo 0 - 80%

Xác định hàm lượng vitamin C bằng phương pháp chuẩn độ với iode theo TCVN 11168:2015

2.3.2 Đánh giá cảm quan

Đánh giá mức độ ưa thích giữa các mẫu nghiên cứu bằng Phép thử so hàng thị hiếu (Phép thử

ưu tiên cặp đôi), so sánh sự khác biệt về mức độ

ưa thích giữa 2 mẫu thử về màu, mùi và vị ở mức

ý nghĩa 5% Số lượng người thử là 60, kết quả thử được so với Bảng tra so sánh cặp đôi hai phía

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

Xử lý số liệu bằng phần mềm Statgraphics Cen-turion XV Tất cả số liệu được biểu diễn dưới dạng Trung bình ± SD, các chênh lệch khác biệt thể hiện bằng a, b, c, d ở mức ý nghĩa P < 0,05

Trang 4

Hình 2 Ảnh hưởng của hàm lượng pectinase (A) và thời gian ủ pectinase (B) đến tỉ lệ thu hồi dịch quả.

Hình 3 Ảnh hưởng của hàm lượng chất khô ban đầu lên sự thay đổi hàm lượng chất khô (A), hàm lượng cồn (B), pH (C) và tỉ lệ hao hụt hàm lượng vitamin C (D) theo thời gian lên men

3 Kết Quả và Thảo Luận

Thành phần hoá học của quả sơ ri sử dụng

trong nghiên cứu có hàm lượng nước 88 ± 1,8%;

hàm lượng chất khô hoà tan 8,4 ± 0,6oBx; pH 3,2

± 0,3; hàm lượng đường khử 3,14 ± 1,15%; acid

tổng 0,78 ± 0,11%; hàm lượng vitamin C 678,57

± 1,32 mg%

3.1 Kết quả khảo sát quá trình xử lý enzyme pectinase

Enzyme pectinase thu từ hai loại nấm mốc As-pergillus niger và AsAs-pergillus aculeatus có hoạt

Trang 5

Hình 4 Ảnh hưởng của pH ban đầu lên sự thay đổi hàm lượng chất khô (A), hàm lượng cồn (B), pH (C)

và tỉ lệ hao hụt hàm lượng vitamin C (D) theo thời gian lên men

tính của enzyme polygalacturonase thủy phân

liên kết (1,4)-alpha-D-galactosiduronic trong

pec-tate và các galacturonans khác, làm phá vỡ cấu

trúc thành tế bào, giảm độ nhớt dịch quả, kết quả

là làm tăng hiệu suất thu hồi dịch và làm trong

dịch quả

Hình 2 cho thấy hàm lượng enzyme và thời

gian ủ có ảnh hưởng đến tỉ lệ thu hồi dịch quả,

so với dịch quả không xử lý enzyme thì tỉ lệ thu

hồi dịch có sự khác biệt ở mức ý nghĩa P < 0,05

điều này cho thấy hiệu quả của việc xử lý enzyme

làm tăng tỉ lệ thu hồi dịch quả Ở các hàm lượng

0,15%, 0,20% cũng như ở thời gian ủ 2 giờ, 3 giờ,

4 giờ không có khác biệt ở mức ý nghĩa P < 0,05;

do đó, nhằm tiết kiệm chi phí và thời gian, hàm

lượng phù hợp được chọn để xử lý dịch quả sơ ri

là 0,15% thời gian xử lý là 2 giờ

3.2 Kết quả khảo sát quá trình lên men

Việc điều chỉnh dịch lên men để thu được hàm

lượng chất khô, pH, tỉ lệ men giống và thời gian

lên men phù hợp với tác nhân Saccharomyces

cereviciae là cần thiết cho quá trình lên men diễn

ra mạnh mẽ thu được sản phẩm đồ uống đạt tiêu chuẩn hoá lý, vi sinh, đồng thời chất lượng cảm quan sản phẩm cũng phải được đảm bảo

3.2.1 Ảnh hưởng của hàm lượng chất khô

Hàm lượng chất khô trong đó chủ yếu là đường,

là thành phần cơ chất cơ bản cho nấm men chuyển hoá Ở các hàm lượng chất khô khác nhau thì sản phẩm của quá trình chuyển hoá thu được cũng sẽ khác nhau thể hiện qua Hình3

Từ biểu đồ các Hình 3 cho thấy sự thay đổi theo thời gian lên men của hàm lượng chất khô, hàm lượng cồn, pH và tỉ lệ tổn thất vitamin C đều khác biệt ở mức ý nghĩa ở mức ý nghĩa P < 0,05

Ở hàm lượng chất khô ban đầu là 15 và 18oBx, sau 3 ngày lên men còn lại 7,9 và 7,8oBx và 4 ngày là 6,0 và 6,4oBx; hàm lượng cồn tạo thành

ở ngày thứ 2 và 3 tương ứng là 0,5 - 0,7%v/v

và 0,9 - 1,4%v/v; pH ở ngày 1, 2, 3 giảm từ 3,7 xuống còn 3,1 ở tất cả các hàm lượng khảo sát

Tỉ lệ hao hụt vitamin C tăng theo thời gian lên

Trang 6

Hình 5 Ảnh hưởng của tỉ lệ men giống đến hàm lượng chất khô (A), hàm lượng cồn (B), pH (C) và tỉ lệ hao hụt hàm lượng vitamin C (D) theo thời gian lên men

men, tỉ lệ này tăng cao ở ngày 1 và ngày 2 có thể

vì nồng độ oxy trong môi trường và trong dịch

lên men lúc này cao, sự tổn thất vitamin C do

quá trình oxy hoá Theo tiêu chuẩn hoá lý của

sản phẩm (Bui, 2005; Nguyen & Nguyen, 2007);

và từ các số liệu trên cho thấy, ở tất cả các hàm

lượng khảo sát, thì pH và hàm lượng cồn đều đạt

tiêu chuẩn của nước quả lên men sau 2 và 3 ngày

lên men, riêng hàm lượng chất khô đạt sau 3 và

4 ngày lên men từ hàm lượng chất khô ban đầu

là 15 và 18oBx Do đó, hàm lượng chất khô được

chọn là 15 và 18oBx thời gian lên men là 3 ngày

Dựa trên kết quả đánh giá cảm quan của hai mẫu

này, với số người thích mẫu 18oBx là 42 > 39α0,05,

do đó hàm lượng chất khô được chọn là 18oBx

3.2.2 Ảnh hưởng của pH

pH là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự tạo thành

các sản phẩm chính và phụ trong quá trình lên

men, đồng thời mức độ thay đổi cơ chất lên men

của nấm men cũng bị ảnh hưởng (Hình4)

pH hoạt động của nấm men Saccharomyces

cereviciae 3,5 - 6,0, ở khoảng pH này nấm men chuyển hoá đường theo con đường EMP sản phẩm pyruvate tạo thành sẽ bị decarboxyl hoá cho ra acetaldehyde, chất này nhận H+ tạo thành rượu etylic Do đó, theo thời gian lên men hàm lượng đường sẽ giảm, điều này có thể đánh giá thông qua sự giảm hàm lượng chất khô hoà tan, sự giảm

pH, đồng thời hàm lượng cồn trong dịch lên men

sẽ tăng Từ biểu đồ các Hình 4 pH được khảo sát

ở 4 điểm pH 3,5; 4,0; 4,5; 5,0 và 5,5; tại thời điểm lên men 3 ngày ở pH 4,0 thì hàm lượng chất khô, hàm lượng cồn, pH đều đạt chỉ tiêu của nước quả lên men (Bui, 2005; Nguyen & Nguyen, 2007) ở

pH khảo sát 4,0 thu được kết quả tương ứng hàm lượng chất khô 7,2oBx; hàm lượng cồn 1,4%v/v;

pH 3,1 Do đó, pH được chọn cho lên men là 4,0

3.2.3 Ảnh hưởng của tỉ lệ men giống

Mật độ tế bào nấm men trong dịch lên men sẽ ảnh hưởng đến thời gian lên men, tốc độ chuyển hoá cơ chất cũng như hàm lượng các sản phẩm tạo thành (Hình5)

Trang 7

Mật độ tế bào nấm men trong dịch lên men

càng cao thì quá trình chuyển hoá các chất diễn ra

càng nhanh và thời gian lên men được rút ngắn

Điều này được đánh giá thông qua sự giảm hàm

lượng chất khô, sự giảm pH trong dịch lên men và

sự tăng hàm lượng cồn Tuy nhiên, rút ngắn thời

gian lên men sẽ làm quá trình chuyển hoá các

sản phẩm phụ bị hạn chế, hàm lượng aldehyde

tồn tại cao trong sản phẩm, điều này ảnh hưởng

đến chất lượng cũng như giá trị cảm quan cho sản

phẩm Tuy nhiên, mật độ tế bào nấm men cũng

cần được chọn tỉ lệ phù hợp cho quá trình lên men

chuyển hoá các chất để sản phẩm tạo thành đạt

các chỉ tiêu hoá lý của sản phẩm Theo biểu đồ

Hình5thì tỉ lệ men giống bổ sung cho sản phẩm

đạt chỉ tiêu hoá lý (Bui, 2005; Nguyen & Nguyen,

2007) ở ngày lên men thứ 3 và tỉ lệ men giống sử

dụng là 0,20%; tương ứng với mật độ men giống

sử dụng là 4.107 tế bào/mL Qua các khảo sát

về sự ảnh hưởng của hàm lượng chất khô, pH, tỉ

lệ men giống theo thời gian lên men; các chỉ tiêu

đo là hàm lượng chất khô, pH, hàm lượng cồn và

hàm lượng vitamin C, nhìn chung đều có sự thay

đổi khác biệt theo thời gian khảo sát Hàm lượng

vitamin C giảm mạnh trong giai đoạn đầu hay

ngày lên men thứ 1 và thứ 2 do bị oxy hoá, sau

đó giảm nhẹ Sản phẩm thu được có hàm lượng

chất khô 7,2 ± 0,8oBx; hàm lượng cồn 1,4%v/v;

hàm lượng vitamin C 581,2 mg%; pH 3,1

4 Kết Luận

Sản phẩm nước giải khát lên men từ quả sơ ri

được chế biến từ dịch quả sau nghiền được xử

lý pectinase ở hàm lượng 0,15% thời gian xử lý

là 2 giờ; dịch quả sau xử lý được thanh trùng

và điều chỉnh đạt các thông số sau: hàm lượng

chất khô 18oBx, pH 4,0; tỉ lệ men giống bổ sung

0,20%; tiến hành lên men trong 3 ngày ở nhiệt

độ phòng Sản phẩm sau lên men được lọc tách

bã, đóng chai và thanh trùng ở 75oC trong 10

phút Sản phẩm thu được có hàm lượng chất khô

7,2 Bx, hàm lượng cồn 1,4% (v/v), hàm lượng

vitamin C là 581,2 mg và pH là 3,1

Tài Liệu Tham Khảo (References)

Bui, A (2005) Fermentation technology applied in food technology (2 nd ed.) Ho Chi Minh City, Vietnam: Na-tional University Ho Chi Minh City.

Mathew, B., Silas, D, M., David, E., & Ugboko, H (2017) Production of wine from fermentation of Grape (Vi-tis vinifera) and sweet orange (Citrus seninsis) juice using Saccharomyces cerevisiae isolated from palm wine International Journal of Current Microbiology and Applied Sciences 6(1), 868-881.

Nguyen, T D., & Nguyen, H T (2007) Technology for manufacturing and testing ethyl alcohol (3 rd ed.) Ha Noi, Vietnam: Science and Technics Publishing House Oliveira, L., Rufino, M., Moura, F H., Cavalcanti, F., Alves, R A., & Miranda, M (2010) The influence of processing and long-term storage on the antioxidant metabolism of acerola (Malpighia emarginata) purée Brazilian Journal of Plant Physiology 23(2), 151-160 Righetto, M., Netto, A., & Carraro, F (2005) Chemi-cal composition and antioxidant activity of juices from mature and immature acerola (Malpighia emarginata DC) Food Science and Technology International 11(4), 315-321.

Saranraj, P., Sivasakthivelan, P., & Naveen, M (2017) Fermentation of fruit wine and its quality analysis: A review Australian Journal of Science and Technology 1(2), 85-97.

Simopoulos, A P., & Gopalan, C (2003) Plants in hu-man health and nutrition policy Basel, Switzerland: Karger.

Souza, P A., Naik, P A., Rao, S C., Vyas, S., Palan,

A M., Cornelio, B., Shet, V B., & Rao, C V (2017) Fermented fruit juice production using unconventional seasonal fruits through batch fermentation Journal of Microbiology, Biotechnology and Food Sciences 6(6), 1305-1308.

Vendramini, A., & Trugo, L., (2000) Chemical composi-tion of acerola fruit (Malpighia punicifolia L.) at three stages of maturity Food Chemistry 71(2000), 195-198.

Ngày đăng: 17/11/2020, 09:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w