1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở triết học và cơ sở thực tiễn của việc đổi mới đồng bộ giữa kinh tế và chính trị ở việt nam hiện nay

30 165 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 56,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật để thúc đẩy đổi mới toàn diện và phát huy sức mạnh toàn dân tộc vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Sau khi nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị vậy nên em đã chọn đề tài: “Cơ sở triết học và cơ sở thực tiễn của việc đổi mới đồng bộ giữa kinh tế và chính trị ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tại Đại hội VI (1986), trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sựthật, nói rõ sự thật, Đảng ta đã đánh giá đúng những thành tựu và hạn chế, từ đókhẳng định yêu cầu trước hết là phải đổi mới tư duy chính trị trong xác định đườnglối đối nội và đối ngoại "Vì vậy, phải đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, chúng

ta mới có thể vượt qua khó khăn, thực hiện được những mục tiêu do Đại hội lần thứ

VI đề ra"

Trong quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, Đảng ta xácđịnh trước hết phải đổi mới kinh tế, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trungquan liêu, bao cấp sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của Nhànước Nhưng quản lý này phải bằng pháp luật: "Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chứcnăng của Nhà nước là thể chế hóa bằng pháp luật quyền hạn, lợi ích, nghĩa vụ củanhà nước lao động và quản lý kinh tế, xã hội theo pháp luật" Đổi mới chính sáchgiai cấp phải đồng thời với đổi mới được dân tộc: "Chính sách giai cấp (bao gồmchính sách đối với mỗi giai cấp và chính sách xử lý mối quan hệ với các lợi ích củacác giai cấp" và chính sách dân tộc luôn luôn là một bộ phận trọng yếu trong chínhsách xã hội" Phải đổi mới, kiện toàn hệ thống chuyên chính vô sản, giữ vững ổnđịnh chính trị - xã hội tạo tiền đề cho công cuộc đổi mới

Sau hai nhiệm kỳ đổi mới, đất nước đã hoàn thành cơ bản nhiệm vụ của chặngđường đầu tiên của thời kỳ quá độ, thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, bướcvào đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, về mối quan hệ đổi mớichính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế, Đảng ta có xác định mới trong Văn

kiện Đại hội VIII (1996) là: "Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm đồng thời từng bước đổi mới chính trị"

Sau hơn 30 năm đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cóbước phát triển vượt bậc: Ra khỏi tình trạng một nước kém phát triển để đứng vàođội ngũ những nước đang phát triển

Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp,trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổimới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật đểthúc đẩy đổi mới toàn diện và phát huy sức mạnh toàn dân tộc vì mục tiêu xâydựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,văn minh Sau khi nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới kinh tế, đổi mới

Trang 2

chính trị vậy nên em đã chọn đề tài: “Cơ sở triết học và cơ sở thực tiễn của việc

đổi mới đồng bộ giữa kinh tế và chính trị ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu.

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu của bài tiểu luận là Cơ sở triết học và cơ sở thực tiễncủa việc đổi mới đồng bộ giữa kinh tế và chính trị ở Việt Nam hiện nay

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là: Việt Nam từ năm 1986 đến nay

3 Bố cục bài tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, bài tiểu luận có bố cục 03chương:

Chương I Cơ sở triết học của việc đổi mới đồng bộ giữa kinh tế và chính trị Chương II Cơ sở thực tiễn của việc đổi mới đồng bộ giữa kinh tế và chính trị Chương III Kết quả, phương hướng, một số giải pháp đổi mới đồng bộ giữakinh tế và chính trị ở Việt Nam hiện nay

Trang 3

NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ TRIẾT HỌC CỦA VIỆC ĐỔI MỚI ĐỒNG BỘ

GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ

1 Cơ sở triết học của việc đổi mới đồng bộ giữa kinh tế và chính trị

Trong các tác phẩm của mình, cũng giống như C Mác và Ph Ăng ghen, V.I

Lê nin chưa nêu ra định nghĩa hoàn chỉnh về kinh tế và chính trị, song căn cứ vàonhững tư tưởng của ông, có thể hiểu kinh tế là tổng thể các hoạt động sản xuất củamột cộng đồng người, một nước, liên quan đến các quá trình sản xuất, trao đổi,phân phối và tiêu dùng các sản phẩm xã hội Còn chính trị bao gồm hệ tư tưởngchính trị, các thiết chế chính trị cũng như những mối quan hệ giữa các giai cấp, cácdân tộc, các tập đoàn xã hội Trên cơ sở kế thừa quan điểm của C Mác và Ph Ăngghen, V.I Lê nin đã cụ thể hóa hơn khái niệm chính trị bằng các luận điểm: “Chínhtrị là cuộc đấu tranh giữa các giai cấp; chính trị là thái độ của giai cấp vô sản đangđấu tranh tự giải phóng mình chống giai cấp tư sản toàn thế giới”; hay “Chính trị là

sự tham gia vào những công việc của nhà nước, là việc vạch hướng đi cho nhà

nước, việc xác định những hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước”

Như vậy, theo quan điểm của V.I Lê nin, chính trị là nội dung và phươnghướng hoạt động của nhà nước; là sự phản ánh những quan hệ giữa các giai cấp,các quốc gia, dân tộc

Khi bàn về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, cũng giống như C Mác và

Ph Ăng ghen, V.I Lê nin khẳng định vai trò quyết định của kinh tế đối với chínhtrị Theo V.I Lê nin, cơ cấu kinh tế của xã hội sinh ra chính trị, cơ cấu kinh tế này

là do toàn bộ những quan hệ sản xuất của xã hội tạo nên Những quan hệ sản xuất

là những quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả mọi quan hệ xã hội khác.Quan điểm của ông về vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị được thể hiệntrong luận điểm nổi tiếng sau: “Trong sản xuất vật chất, con người ở trong những

mối quan hệ nhất định với nhau, những quan hệ sản xuất Những quan hệ này bao

giờ cũng phù hợp với trình độ phát triển của năng suất mà những lực lượng kinh tếcủa các quan hệ ấy có được trong thời kỳ đó Toàn bộ những quan hệ sản xuất đótạo thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó xây dựng lênmột kiến trúc thượng tầng chính trị và pháp lý và phù hợp với cơ sở đó là nhữnghình thức ý thức xã hội nhất định Như vậy, phương thức sản xuất quyết định cácquá trình của đời sống xã hội, chính trị và thuần tuý tinh thần” Với quan điểm này,ông đã tiếp tục khẳng định lập trường duy vật triệt để của chủ nghĩa Mác khi xemxét các vấn đề lịch sử và xã hội của con người

Trang 4

Mỗi hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống những quan hệ xà hội đặc thù cókết cấu phức tạp Các quan hệ này được phân ra làm hai loại lớn là quan hệ vật chấtvật chất và quan hệ tinh thần Mỗi hinh thái kinh tế - xã hội có một kiểu quan hệsản xuất vật chất, đó là phương thức sản xuất vật chất và trao đổi, phù họp với quan

hệ vật chất đó là một kiểu quan hệ tinh thần nhất định, đó là những quan hệ vềchính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, được thể hiện thông quanhững thể chế tương ứng như nhà nước, đảng phái, tòa án, Sự liên hệ và tác độnglẫn nhau giữa quan hệ vật chất và quan hệ tinh thần của xã hội được chủ nghĩa duyvật lịch sử phản ánh trong các phạm trù cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Cáckhái niệm cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng và quan hệ biện chửng giữa chúng

được C.Mác trình bày trong tác phẩm Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị.

Trong tác phẩm này, C.Mác đã viết: “Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy họpthành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiếntrúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức nhất định tương ứngvới cơ sở hiện thực đó”

Mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và chính trị có vị trí rất quan trọng quá trìnhđổi mới, bởi cả hai yếu tố này đều là những lĩnh vực của đời sống xã hội, giữachúng có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau Đây chính là biểuhiện mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

1.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng là tổng hợp những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế

của một xã hội nhất định

Cơ sở hạ tầng hình thành một cách khách quan từ quá trình sản xuất vật chấtcủa xã hội Nó bao gồm không chỉ quan hệ giữa người với người trong sản xuấttrực tiếp mà cả những quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất ra đời sống vậtchất của xã hội

Cơ sở hạ tầng của một xã hội thường được cấu thành bởi quan hệ sản xuất tàn

dư của xã hội cũ, quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất mầm mống của xãhội tương lai Đặc trưng của cơ sở hạ tầng được quy định bởi quan hệ sản xuấtthống trị trong nền kinh tế.Vrrong các xã hội đang ở giai đoạn quá độ, quan hệ sảnxuất tàn dư, quan hệ sản xuất mầm mống giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh

tế Trong những hình thái kinh tế - xã hội đã phát triển chín muồi, đến độ trưởngthành các quan hệ sản xuất tàn dư, quan hệ sản xuất mầm mống giữ vai trò khôngđáng kể Trong hệ thống cơ cấu kinh tế đó, cái giữ vị trí chi phối, giữ vai trò chủđạo, quyết định các thành phần kinh tế khác là kiểu quan hệ sản xuất thống trị.Trong xã hội có giai cấp đối kháng, tinh chât của cơ sơ hạ tầng do quan hệ sản

Trang 5

xuất thống trị trong nên kinh tê quy đinh Sự đối kháng giai cấp, xung đột giai cấptrong xã hội có nguôn gôc từ mâu thuẫn đối kháng trong cơ sở hạ tầng.

1.2 Khái niệm kiến trúc thượng tầng

Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp luật, triếthọc, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật cùng với những thể chế tương ứng (như: nhànước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội, ) được hình thành trên một cơ sở

hạ tầng nhất định

Trong xã hội có giai cấp, kiến trúc thượng tầng mang tính giai cấp, trong đó

bộ máy nhà nước là công cụ quyền lực của giai cấp thống trị, tính giai cấp của kiếntrúc thượng tầng biểu hiện ở sự đối kháng về quan điểm tư tưởng và cuộc đấu tranh

về mặt chính trị - tư tưởng giữa những giai cấp đối kháng Mâu thuẫn đối khángtrong kiến trúc thượng tầng có cơ sở từ mâu thuẫn đối kháng trong cơ sở hạ tầng.Trong các xã hội có giai cấp đối kháng, kiến trúc thượng tầng ngoài bộ phậnchủ yếu là công cụ của giai cấp thống trị dùng để bảo vệ cơ sở kinh tế của nó, còn

có những yếu tố đối lập với bộ phận đó, đó là những quan điểm, tư tưởng, những tổchức chính trị của giai cấp bị trị

Ngôn ngữ, khoa học tự nhiên, lôgíc hình thức, không ra đời từ cơ sở hạ tàng

mà ra đời từ nhu cầu của sự phát triển sản xuất nên chúng không thuộc kiến trúcthượng tầng

Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng liên hệ mật thiết với nhau, không táchrời nhau, bởi lẽ cơ sở hạ tầng bao giờ cũng là cơ sở hạ tầng của một kiến trúcthượng tầng nhất định; ngược lạỉ, kiến trúc thượng tầng bao giờ cũng là kiến trúcthượng tâng được xây dựng trên một cơ sở hạ tầng nhât định

2 Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

2.1 Cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng

Các nhà tư tưởng trước Mác cho răng, nhà nước, pháp luật quyết định quan hệkinh tế; ý thức, tư tưởng quyết định tiến trình phát triển của xã hội, cho rằng chínhtrị giữ vai trò quyêt định đôi với sự biến đổi của lịch sử Chẳng hạn, Đuyrinh chorằng, những trạng thái chính trị là nguyên nhân quyết định những tình hinh kinh tế.Khắc phục những quan điểm đó, chủ nghĩa Mác khẳng định: quan hệ kinh tế,quan hệ sản xuất là những quan hệ cơ bản quyêt định mọi quan hệ xã hội khác về

chính trị, tư tưởng, pháp luật Trong tác phẩm Chổng Đuyrinh, Ph.Ăngghen đã chỉ

rõ, phải tìm những nguyên nhân cuối cùng của tất cả những biến đổi xâ hội vànhững đảo lộn chính trị không phải trong đầu óc người ta, không phải ở trong nhậnthức ngày càng tăng thêm về chân lý vĩnh cửu và chính nghĩa vĩnh cửu, mà là trongnhững biến đổi của phương thức sản xuất và phương thức trao đổi, cần phải tìm

Trang 6

những nguyên nhân đó không phải trong triết học, mà là trong kinh tế của thời đạitương ứng.

Cơ sở hạ tầng sản sinh ra kiến trúc thượng tầng; quan hệ sản xuất, quan hệkinh tế suy cho cùng quyết định quan hệ về chính trị, pháp quyền, tư tưởng; mâuthuẫn trong đời sống kinh tế, xét đến cùng, quy định mâu thuẫn trong lĩnh vực tưtưởng

Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng thể hiện ởchỗ sự xuất hiện của nhà nước, pháp luật đều gắn liền với sự xuất hiện của chế độ

tư hữu và sự phân chia thành giai cấp đối kháng Pháp luật ra đời là công cụ củagiai cấp thống trị để bảo vệ cơ sở kinh tế và trật tự xã hội do giai cấp đó đặt ra Sựtiêu vong của nhà nước, pháp luật cũng gẳn liền với sự tiêu vong của chế độ tư hữu

và của giai cấp Sự biến đổi của những quan điểm chính trị, tư tưởng cũng vậy Mọiquan điểm chính trị, tư tưởng đều có nguồn gốc từ nguyên nhân của sự thay đổi chế

độ kinh tế

Cơ sở hạ tầng quy định tính chất của kiến trúc thượng tầng; giai cấp nàochiếm địa vị thống trị trong cơ sở hạ tầng thì giai cấp đó chiếm địa vị thống trịtrong kiến trúc thượng tầng Cho nên, kiến trúc thượng tầng là công cụ để bảo vệ cơ

sở hạ tầng Mọi biến đổi của kiến trúc thượng tầng đều do kinh tế quyết định Các

bộ phận của kiến trúc thượng tầng đều biến đổi do ảnh hưởng quyết định của cơ sở

và hình thái đó, mà trái lại, phải thấy ràng những quan hệ và hình thái đó đều bắtnguồn từ những điêu kiện sinh hoạt vật chất Nếu ta không thể nhận định vê mộtngười căn cứ vào ý kiến của chính người đó đối với bản thân, thì ta cũng không thểnhận định về một thời đại đảo lộn như thê căn cứ vào ý thức của thời đại đó Tráilại, phải giải thích ý thức ây bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sựxung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất xãhội Đây chính là quan điểm duy vật triệt đê của C.Mác

Khi hình thái kinh tế - xã hội cũ mất đi, hình thái kinh tê - xã hội mới ra đờithì toàn bộ cơ sở hạ tâng cũ mât đi cơ sở hạ tang t mới ra đời, sự thay đồi của kiếntrúc thượng tâng diên ra mọt cách rõ rệt Sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng còndiên ra ngay trong nội bộ từng hình thái kinh tế - xã hội do sự biên đôi của cơ sở hạ

Trang 7

tầng Khi chủ nghĩa tư bản tư do cạnh tranh chuyên sang chủ nghĩa đế quốc, chế độkinh tế cũng có sự thay đổi, lũng đoạn thay thế cho tự do cạnh tranh Nên kiến trúcthượng tầng tư bản chủ nghĩa cũng có sự biến đổi, nhà nước dân chủ tư sản chuyểnsang nhà nước tư bản độc quyền.

Nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi của cơ sở hạ tầng và do đó của kiến trúcthượng tầng xét đến cùng là do sự phát triển của lực lượng sản xuất Tuy nhiên, sựphát triển của lực lượng sản xuất không trực tiếp dẫn đến sự biến đổi của kiến trúcthượng tầng, mà nó chỉ trực tiếp gây ra sự biến đổi của cơ sở hạ tầng và đến lượt nó

sự biến đổi của cơ sở hạ tầng lại làm cho kiến trúc thượng tầng biến đổi Trong xãhội có giai cấp đối kháng, sự biến đổi của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầngdiễn ra thông qua cuộc đâu tranh gay go, quyêt liệt giữa giai cấp thống trị và giaicấp bị trị Trong cuộc đấu tranh ấy, không phải cứ cơ sở hạ tầng mới xuât hiện thìtoàn bộ kiến trúc thượng tầng cũ mất đi ngay tức khăc Trong cuộc đấu tranh giữacái cũ và cái mới, những tàn dư của cái cũ còn tồn tại khá lâu dài Mặt khác, có một

số yếu tố của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ được giai cấp mới duy trì,cải tạo phục vụ cho công cuộc xây dựng xã hội mới

2.1 Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng

Quan hệ biện chưng giưa cơ sở hạ tâng và kiến trúc thượng tầng còn thể hiện

ở sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tâng

Kiến trúc thượng tầng tuy bị quyết định bởi cơ sở hạ tầng nhưng nó có tínhđộc lập tương đối, có những quy luật vận động tương đối độc lập, nên nó có thể tácđộng trở lại đối với cơ sở hạ tầng Ph.Ăngghen đã viết: Xét toàn bộ, sự vận độngcủa kinh tế tiến triển theo con đường riêng của nó, nhưng nó cũng chịu sự tác độngtrở lại của sự vận động chính trị được bản thân nó đặt ra và ban cho một tính độclập tương đối

Kẻ thù của chủ nghĩa Mác thường xuyên tạc cho rằng, C.Mác và những ngườitheo Mác chỉ biết có kinh tế, quy chủ nghĩa Mác về chủ nghĩa duy vật kinh tế Đốilập với chủ nghĩa duy kinh tế, chủ nghĩa Mác khẳng định: kiến trúc thượng tầngkhông phải là kết quả thụ động của cơ sở hạ tầng mà trái lại, sau khi hình thành,kiến trúc thượng tầng có tác động trở lại mạnh mẽ đối với cơ sở hạ tầng đã sinh ranó

Trong các bộ phận của kiến trúc thượng tâng, nhà nước giữ vai trò đặc biệtquan trọng, có tác dụng to lớn đôi với cơ sở hạ tầng, vì nó là công cụ bạo lực tậptrung trong tay sức mạnh kinh tê và chính trị của giai cấp thống trị Ph.Ăngghenviêt: Bạo lực (tức là quyền lực nhà nước) - cũng là một sức mạnh kinh tê Trong xãhội có giai cấp, các giai câp đâu tranh với nhau đê gianh chinh quyền về tay mình

Trang 8

cũng là để tạo ra cho minh sức mạnh kinh tế Giai cấp thống trị dùng nhà nước đểphát triển lực lượng kinh tế của mình ngày càng vững mạnh Kinh tê mạnh thì nhànước lại được củng cố tăng cường Nhà nước được củng co lại giúp giai cấp thốngtrị bảo vệ vững chắc địa vị thông trị của quan hệ sản xuất thống trị Cứ như thế sựtác động qua lại biện chứng làm cho cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tâng cùngphát triên.

Trong kiến trúc thượng tầng, nhà nước giữ vai trò quan trọng như vậy, chonên bất kỳ giai cấp nào muốn thông trị xã hội cũng phải chiếm lấy chính quyền nhànước

Ngày nay, chủ nghĩa tư bản chưa tiêu vong mà còn tiêp tục tồn tại, phát triển

từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh lên chủ nghĩa tư bản độc quyền và hiện nay làchủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước do nhiều nguyên nhân, trong đó có mộtnguyên nhân quan trọng là vai trò điều tiết của nhà nước tư sản Nhà nước tư bảnchủ nghĩa hiện nay đang tiếp tục tìm cách “điều chỉnh” xã hội bằng một loạt chínhsách kinh tế - xã hội, nhằm làm dịu những mâu thuẫn xã hội, thích nghi với điềukiện mới Tuy nhiên, những điều chỉnh đó chưa thể vượt qua được khuôn khổ củachủ nghĩa tư bản Nó không thể xóa bỏ được những mâu thuẫn vốn có của chủnghĩa tư bản So với trước nhiều mâu thuẫn dịu đi, nhưng nhiều mâu thuẫn lại trởnên hết sức gay gắt Điều đó chứng minh cho tính đúng đắn của quan điểm mácxít

về vai trò to lớn, vê sức mạnh của nhà nước đối với cơ sở kinh tế

Không phải chỉ nhà nước, pháp luật mới có tác động to lớn đối với cơ sở hạtầng mà các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng như triêt học, đạo đức, tôngiáo, nghệ thuật cũng đều tác động trở lại mạnh mẽ đối với cơ sở hạ tầng Những

bộ phận này tác động đên cơ sở hạ tâng theo nhiều cách thức khác nhau Các bộphận của kiến trúc thượng tâng còn tác động lẫn nhau, qua đó tác động trở lại kiếntrúc thượng tâng Thường sự tác động này phải thông qua nhà nước, pháp luật vàcác thể chế tương ứng thì mới phát huy được hiệu lực đối với cơ sở hạ tầng Tuynhiên, cần chú ý sự vận động của các bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng khôngphải bao giờ cũng theo cùng một hướng Đôi khi trong kiến trúc thượng tầng cũngnảy sinh tình trạng không đồng bộ giữa các bộ phận của nó, có thể xuất hiện khảnăng mâu thuẫn nhau, chống đối lẫn nhau giữa các bộ phận đó Nhưng chức năngchung của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng bao giờ cũng nhằm bảo vệ vàphát triển cơ sở hạ tầng Trong việc thực hiện chức năng đó, nhà nước giữ vai tròđặc biệt quan trọng, nó chi phối khả năng tác động của các bộ phận khác của kiếntrúc thượng tầng đến cơ sở hạ tầng

Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng có thể diễn

Trang 9

ra theo những xu hướng sau: Nếu kiến trúc thượng tầng tác động cùng chiều với cơ

sở hạ tầng thì sẽ thúc đẩy cơ sở hạ tầng phát triển Trái lại, nếu kiến trúc thượngtầng tác động ngược chiều với cơ sở hạ tầng thì nó sẽ là trở lực, kìm hãm sự pháttriển của cơ sở hạ tầng

Vai trò của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng hết sức to lớn, nhưngnhấn mạnh quá mức vai trò và tác dụng của nó đến mức phủ nhận tác dụng quyếtđịnh của quy luật khách quan, phủ nhận tính tất yếu kinh tế thì sẽ không tránh khỏirơi vào chủ nghĩa duy tâm và không nhận thức đúng được tiến trình phát triển củalịch sử

CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐỔI MỚI ĐỒNG BỘ

GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ

1 Cơ sở thực tiễn

- Vào những thập niên cuối của thế kỷ XX, do nhiều nguyên nhân khách quan

và chủ quan đã dẫn đến sự khủng hoảng và sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên

Xô và Đông Âu Chủ nghĩa xã hội hiện thực đã tạm thời lâm vào tình trạng thoáitrào Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng và sụp đổ là những sai lầm thuộc về môhình phát triển của chủ nghĩa xã hội Xôviết Sau khi V.I.Lênin qua đời, ở Liên Xô,chính sách kinh tế mới không được tiếp tục thực hiện mà chuyển sang kế hoạch hoátập trung cao độ Thời gian đầu, kế hoạch hoá tập trung đã phát huy mạnh mẽ tácdụng, song đã biến dạng thành kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp Sauchiến tranh thế giới thứ II, Liên Xô vẫn tiếp tục duy trì mô hình này

Trong mô hình này đã tuyệt đối hoá cơ chế kế hoạch hoá, tập trung cao, từ bỏhay gần như từ bỏ nền kinh tế hàng hoá, cơ chế thị trường, thực hiện chế độ baocấp tràn lan, triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo của người lao động Từ giữa nhữngnăm 70 của thế kỷ XX, sau cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1973, các nước tưbản sau khủng hoảng đã tự điều chỉnh để thích nghi với tình hình mới Ngược lại,Liên Xô và các nước Đông Âu vẫn cứ giữ nguyên mô hình phát triển theo kiểutuyệt đối hoá cơ chế kế hoạch hoá, chỉ trú trọng đến phát triển công nghiệp nặng

mà không chú ý đến sản xuất các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, đặc biệt là chưa đầu

tư đúng mức cho phát triển khoa học và công nghệ, dần dần tụt hậu so với các nước

tư bản chủ nghĩa Do chậm đổi mới cơ chế kinh tế, hệ thống quản lý và nói chung

là chậm đổi mới mô hình chủ nghĩa xã hội dẫn đến hậu quả tất yếu là sự thua kém

rõ rệt trong nhiều lĩnh vực công nghệ và năng suất lao động so với các nước tư bảnchủ nghĩa Những sai lầm chủ quan nghiêm trọng kéo dài như đã nói trên chính lànguyên nhân sâu xa làm cho chế độ xã hội chủ nghĩa suy yếu, rơi vào khủng hoảng

Trang 10

- Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại tiến hành cải cách, mở cửa, đổi mới vàngày càng đạt được những thành tựu to lớn Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xãhội chủ nghĩa Đông Âu đã có tác động mạnh mẽ đến các nước xã hội chủ nghĩa cònlại nhưng với sự kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, các nước này không nhữngđứng vững mà còn thực hiện đổi mới tương đối thành công Trên cơ sở vận dụngsáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của mình, Việt Nam

đã từng bước tìm ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội thích hợp:

+ Từ bỏ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình đổi mới thực hiện đa dạng hóa sởhữu, trong đó công hữu là nền tảng kinh tế nhà nước là chủ đạo, doanh nghiệp cổphần trở thành hình thức kinh tế phổ biến; đa dạng hóa hình thức phân phối, coitrọng phân phối theo lao động, đảm bảo quyền kinh doanh bình đẳng cho mọi loạihình doanh nghiệp; giá cả, tỷ giá, lãi suất do thị trường xác định có sự điều tiết củanhà nước; phát triển đồng bộ các loại thị trường từ thị trường hàng hóa dịch vụ đếnthị trường chứng khoán; thực hiện các chương trình phúc lợi xã hội rộng lớn, xóađói giảm nghèo, giữ gìn môi trường

+ Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo hướng xây dựng hệthống pháp luật ngày càng tương đồng với hệ thống pháp luật hiện đại, phù hợp vớinhững cam kết quốc tế; giảm dần sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinhdoanh của các doanh nghiệp; gia tăng hiệu lực điều tiết vĩ mô; gia tăng sự phânquyền cho các địa phương; thực hiện chế độ dân chủ, đặc biệt là ở các cơ sở theohướng công khai, minh bạch, gia tăng sự giám sát của các cấp, của công luận, củaQuốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, của các tổ chức xã hội, thực hiện cải cáchhành chính

+ Xây dựng các tổ chức xã hội phi chính phủ đa dạng bao gồm các hội nghềnghiệp, văn hóa, tôn giáo, xã hội khuyến khích sự phát triển của các tổ chức nàyhướng vào các mục đích như từ thiện, cứu trợ

+ Hội nhập quốc tế sâu rộng, tham gia vào hầu hết các tổ chức quốc tế nhưLiên Hợp Quốc, WTO, các tổ chức khu vực như Hiệp hội ASEAN,Đông Á và trởthành thành viên tích cực của các tổ chức này

+ Đảm bảo sự cầm quyền và lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với công cuộcxây dựng và phát triển đất nước trên tất cả các mặt Sự lãnh đạo của Đảng cũng dầnđược đổi mới theo hướng dân chủ và hiệu quả hơn, phù hợp với điều kiện cụ thểcủa Việt Nam Công cuộc cải cách của Việt Nam đã đạt được những thành tựuquan trọng

2 Công cuộc đổi mới đồng bộ giữa kinh tế và chính trị ở Việt Nam

Trang 11

Đường lối đổi mới ở Việt Nam được khởi xướng từ Đại hội lần thứ VI củaĐảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: “Để tăng cường sức chiến đấu và nănglực tổ chức thực tiễn của mình Đảng phải đổi mới nhiều mặt; đổi mới tư duy, trướchết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cáchlãnh đạo và công tác”.

Cho đến hiện nay, những nỗ lực để tiếp tục thực hiện thắng lợi đường lối đổimới vẫn đang diễn ra một cách quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xãbội Trên cơ sở giải quyết một cách khoa học mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế vàđổi mới chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn xác định đổi mới kinh tế làtrọng tâm, tập trung mọi nguồn lực ưu tiên cho phát triển kinh tế Đây chính là cơ

sở vững chắc để từng bước tiến hành đổi mới chính trị một cách sâu rộng và hiệuquả

Trên cơ sở đổi mới kinh tế đẩy mạnh đổi mới chính trị theo định hướng xã hộichủ nghĩa Đổi mới chính trị trước hết là đổi mới tư duy Tư duy chính trị thực chất

là quan điểm chính trị của Đảng về những vấn đề thuộc lĩnh vực chiến lược xâydựng và phát triển đất nước, mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc trong quan

hệ đối nội, đối ngoại Đổi mới tư duy chính trị trên cơ sở mục tiêu độc lập dân tộc

và CNXH để điều chỉnh các quan điểm cho phù hợp với tình hình trong nước vàquốc tế, nhằm phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để thực hiện thànhcông cương lĩnh xây dựng đất nước

Trong quá trình đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam, chính trị được thông qua sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước,trở thành nhân tố định hướng cho sự phát triển của kinh tế Do đó, sự lãnh đạo củaĐảng, sự quản lý của nhà nước có vai trò hết sức to lớn và có ý nghĩa quyết địnhtrong việc bảo đảm cho sự phát triển của đất nước theo đúng định hướng xã hội chủnghĩa Vì vậy đồng thời với đổi mới kinh tế, đổi mới tư duy chính trị phải từngbước đổi mới hệ thống chính trị Đổi mới chính trị phải được tiến hành từng bướcvững chắc trên cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị rất nghiêm túc Vì vậy nhiệm vụ đặt

ra là phải tiếp tục đẩy mạnh đổi mới hệ thống chính trị Trong điều kiện Đảng lãnhđạo chính quyền, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân thể hiện tập trung ở vai tròcủa Nhà nước, của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân

Sau hơn 30 năm đổi mới đồng bộ giữa kinh tế và chính trị nước ta đã đạt đượcnhững thành tựu:

+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta, tuy có sự dao động nhất định, song vẫn

ở mức cao hơn trung bình khu vực và thế giới với mức tăng bình quân cả thời kỳ

Trang 12

gần 7%/năm Chất lượng tăng trưởng từng bước được cải thiện, trình độ công nghệtrong sản xuất được nâng lên

+ Để tạo nguồn lực tài chính cho phát triển, Đảng và Nhà nước ta đã khuyếnkhích mọi cá nhân, tổ chức chính trị, xã hội, các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tưphát triển kinh tế Kết quả là tổng vốn đầu tư toàn xã hội của nước ta ngày càngtăng

+ Nước ta thực hiện mô hình nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, mởcửa, hội nhập với khu vực và quốc tế, nhờ đó sức sản xuất trong nước được giảiphóng, các thành phần kinh tế phát triển, đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càngtăng Nhu cầu tiêu thụ, trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong nước và quốc tế khôngngừng mở rộng

+ Với mục tiêu định hướng XHCN, Đảng ta luôn thống nhất quan điểm tăngtrưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội Do đó, các vấn đề về ansinh xã hội cơ bản được đảm bảo, hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi cho mọingười đều phát triển khá đồng bộ và ngày càng được cải thiện

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ, PHƯƠNG HƯỚNG, MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI ĐỒNG BỘ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1 Sự phát triển nhận thức về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam

1.1 Nội dung đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam

Khái niệm "đổi mới" được Đảng xác định là sự thay đổi về chất trong tư duy,nhận thức và hoạt động thực tiễn của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và quầnchúng nhân dân về sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Đổi mới "nhằm kế thừa

và phát huy những thành quả và giá trị mà chủ nghĩa xã hội đã đạt được, thay đổi,uốn nắn những quan điểm, nhận thức về chủ nghĩa xã hội chưa được xác định hoặchiện nay không phù hợp với tình hình mới; sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm,đồng thời xây dựng những chính sách đổi mới, những giải pháp đúng, phù hợp vớicuộc sống để đưa chủ nghĩa xã hội phát triển lên một giai đoạn mới”

Đổi mới bắt đầu từ tư duy “Đổi mới tư duy không có nghĩa là phủ nhậnnhững thành tựu lý luận đã đạt được, phủ nhận những quy luật phổ biến của sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phủ nhận đường lối đúng đắn đã được xác định,trái lại, chính là bổ sung và phát triển những thành tựu ấy”

Trong quá trình đổi mới, Đảng ta không ngừng tìm tòi từ thực tiễn đất nước vàthời đại, xác định ngày càng rõ và đầy đủ hơn về nội hàm và mối quan hệ giữa đổimới kinh tế và đổi mới chính trị

a Nội dung đổi mới kinh tế

Trang 13

Đổi mới kinh tế là quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung, baocấp chủ yếu dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và tập thể sang nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần, theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnhđạo của Đảng Cộng sản Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa; từng bướcđẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; chuyển từ nền kinh tế cơ bản là “khépkín” sang nền kinh tế “mở” đối với khu vực và thế giới, nhằm kết hợp sức mạnhdân tộc với sức mạnh thời đại trong phát triển kinh tế

Trên quan điểm định hướng của Đại hội VI, Đại hội lần thứ VII của Đảng tiếptục khẳng định xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và đổi mới kinh tếtrên các mặt: sắp xếp và củng cố các đơn vị kinh tế, từng bước hình thành và mởrộng đồng bộ các thị trường, đổi mới và hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ mô củaNhà nước Đại hội khẳng định, sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xãhội, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cầnthiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội

Tại Đại hội IX (năm 2001), Đảng ta chính thức đưa ra khái niệm “kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa”, coi đó là mô hình tổng quát, là đường lốichiến lược nhất quán của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Nhànước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, chính sách; sửdụng cơ chế thị trường để giải phóng sức sản xuất “Mục đích của nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh

tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sốngnhân dân”

Đại hội X (2006), Đảng ta tiếp tục chủ trương hoàn thiện thể chế kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắnvới phát triển kinh tế tri thức; nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý kinh tế của Nhànước theo hướng quản lý bằng pháp luật, hạn chế tối đa can thiệp hành chính vàohoạt động của thị trường và doanh nghiệp Tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiềuthành phần, với nhiều hình thức sở hữu trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủđạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vữngchắc của nền kinh tế quốc dân Đáng chú ý là Đại hội X còn đưa ra chủ trươngkhông xem kinh tế tư nhân gắn với chủ nghĩa tư bản, mà lãnh đạo kinh tế tư nhânphát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Tại Hội nghị Trung ương 6 (khóa X -3/2008), Đảng ta đã khẳng định, nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế vừa tuântheo quy luật của thị trường, vừa chịu sự chi phối bởi các quy luật kinh tế của chủnghĩa xã hội và các yếu tố bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế thị

Trang 14

trường được Đảng, Nhà nước sử dụng như một công cụ, phương tiện, một động lực

để xây dựng chủ nghĩa xã hội Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đượcxác định là mô hình kinh tế phù hợp với đặc điểm đất nước

Đại hội XII, đổi mới kinh tế tiếp tục được tập trung vào hoàn thiện thể chếkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để giải phóng sức sản xuất xã hội;chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập,

tự chủ; “bảo đảm tính công khai, minh bạch, tính dự báo được thể hiện trong xâydựng và thực thi thể chế kinh tế, tạo điều kiện ổn định, thuận lợi cho phát triển kinh

tế -xã hội”

b Nội dung đổi mới chính trị

Đổi mới chính trị được xác định bao gồm đổi mới tư duy chính trị về chủnghĩa xã hội; đổi mới cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị,trước hết là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; đổi mới, nâng cao hiệu quảquản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa nhằm giữ vững ổn định chính trị để xâydựng chế độ xã hội chủ nghĩa ngày càng vững mạnh; thực hiện tốt nền dân chủ xãhội chủ nghĩa nhằm phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trong quá trìnhxây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế - xã hội dưới

sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (1989) Đảng ta bắt đầu dùng khái niệm “hệthống chính trị” Khái niệm này cho thấy việc nhận thức rõ hơn về tính hệ thống,tính chỉnh thể và mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành, bao gồm Đảng, Nhànước, Mặt trận Tổ quốc và 5 đoàn thể nhân dân là thành viên của hệ thống chínhtrị

Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khoá VI (8-l989)nhấn mạnh: "Chế độ chính trị của chúng ta là chế độ làm chủ của nhân dân laođộng dưới sự lãnh đạo của Đảng; chúng ta không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyênchính trị, không để cho các tổ chức chống đối chủ nghĩa xã hội ra đời và hoạt động,không coi việc thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần là thực hiện chủtrương đa nguyên về kinh tế”

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thông qua tại Đại hội VII (1991) đã xác định rõ mục tiêu tổng quát của hệ thống

chính trị: “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giaiđoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân”

Trong Cương lĩnh (1991), lần đầu tiên Đảng ta nêu ra quan niệm hoàn chỉnh

về phương thức lãnh đạo của Đảng, đó là: “Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến

Trang 15

lược, các định hướng về chính sách và chủ trương”, “Đảng liên hệ mật thiết vớinhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp vàpháp luật” Lần đầu tiên Đảng ta xác định: “Nhà nước Việt Nam thống nhất baquyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó”.Tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, lần đầu tiên Đảng tađưa ra khái niệm “Nhà nước pháp quyền” Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhândân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nướcphát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kếttoàn dân, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớptrí thức làm nền tảng, do Đảng lãnh đạo

Năm 1998, tại Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Đảng ta mở cuộc xâydựng, chỉnh đốn Đảng; đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí;chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống Năm 1999, tại Hội nghịTrung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Đảng ta mở cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốnĐảng; đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí; chống suy thoái về tưtưởng chính trị, đạo đức, lối sống

Đến Đại hội IX, Đảng ta khẳng định nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phâncông và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp,hành pháp và tư pháp Hiến pháp sửa đổi (năm 2001) khẳng định: Nhà nước cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhândân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mànền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tríthức

Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh đổi mới chính trị ở ba yếu tố cơ bản, trọng

yếu là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật,

kỷ cương Trong đó, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là cấp thiết và hàng

đầu

1.2 Tính tất yếu của việc đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam

Sự nghiệp đổi mới đất nước là một tất yếu khách quan của cách mạng, là vấn

đề mang tầm chiến lược đối với cách mạng Việt Nam.Nhận thức được tính tất yếu

đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựngđất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cương lĩnh xác định mô hìnhchủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng với sáu đặc trưng cơ bản, hướng đến

Ngày đăng: 17/11/2020, 00:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình triết học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện triết học, GS.TS Trần Văn Phòng, Nxb. Lý luận chính trị Khác
2. Hồ Chí Minh, (2001), toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Khác
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Khác
9. C.Mác và Ph. Ăng ghen : Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H1993 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w