1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của ngô tất tố

173 50 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô Tất Tố chúng tôi tập trung nghiên cứu những tác phẩm đặc sắc đã làm nên phong cách nghệ thuật, khẳng định vị trí của nhà văn.. Trong luận án chúng

Trang 1

-

ĐOÀN THỊ THÚY HẠNH

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA NGÔ TẤT TỐ

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã ngành : 9.22.01.21

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRẦN ĐĂNG XUYỀN

Hà Nội - 2020

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới

sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trần Đăng Xuyền Các số liệu, kết

quả của luận án hoàn toàn khách quan, trung thực Các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất xứ rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, tháng 11 năm 2020

Tác giả

Đoàn Thị Thúy Hạnh

Trang 3

Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Thầy hướng

dẫn khoa học: GS.TS Trần Đăng Xuyền đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em

trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài luận án

Xin chân thành cảm ơn các thầy/cô giáo của Bộ môn Văn học Việt Nam, Khoa Ngữ văn, Phòng đào tạo sau Đại học; Ban giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc và đồng nghiệp của Trung tâm Phát triển bền vững chất lượng Giáo dục Phổ thông Quốc gia, Ban lãnh đạo Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam- nơi tôi công tác, đã tạo mọi điều kiện

về thời gian, công việc, giúp đỡ, khích lệ … tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện, động viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án

Hà Nội, tháng 11 năm 2020

Tác giả

Đoàn Thị Thúy Hạnh

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của luận án 5

6 Cấu trúc của luận án 5

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1 Giới thuyết về ngôn ngữ nghệ thuật 6

1.1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật và một số thuật ngữ liên quan 6

1.1.2 Ngôn ngữ nghệ thuật của văn xuôi 10

1.1.3 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật 12

1.2 Tình hình nghiên cứu về Ngô Tất Tố và ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô Tất Tố 15

1.2.1 Nghiên cứu về Ngô Tất Tố 15

1.2.2 Nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của Ngô Tất Tố 24

Tiểu kết 26

CHƯƠNG II: NHỮNG YẾU TỐ TIỀN ĐỀ VÀ NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT CỦA NGÔ TẤT TỐ 28

2.1 Những yếu tố tiền đề 28

2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử xã hội, văn hóa và văn học 28

2.1.2 Hoàn cảnh cá nhân của nhà văn 35

2.2 Nguyên tắc tổ chức ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn Ngô Tất Tố 43

2.2.1 Phê phán sâu sắc thực trạng xã hội đương thời và những cái lỗi thời cổ hủ trên lập trường dân chủ và nhân đạo 43

2.2.2 Nguyên tắc đối lập trên cơ sở thái độ yêu, ghét phân minh 49

Trang 5

CHƯƠNG III: NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG TIỆN

NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU TRONG SÁNG TÁC CỦA NGÔ TẤT TỐ 69

3.1 Điểm nhìn và giọng điệu trần thuật 70

3.1.1 Điểm nhìn trần thuật 70

3.1.2 Giọng điệu trần thuật 75

3.2 Đặc điểm ngôn ngữ trần thuật 82

3.2.1 Ngôn ngữ uyên bác của nhà Nho 82

3.2.2 Ngôn ngữ của quần chúng nhân dân được “nâng lên mức nhuần nhị” 91 3.2.3 Ngôn ngữ mang tính thời sự và giàu sức tố cáo 96

3.3 Một số phương tiện nghệ thuật tiêu biểu 103

3.3.1 Từ láy 103

3.3.2 Từ tượng thanh 105

3.3.3 So sánh 108

3.3.4 Nhân hóa 109

3.3.5 Bút pháp tả cảnh đặc sắc 110

Tiểu kết 113

CHƯƠNG IV: NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA NGÔ TẤT TỐ 114

4.1 Ngôn ngữ đối thoại 117

4.1.1 Ngôn ngữ đối thoại vừa mang bản chất xã hội, vừa được cá thể hóa 118

4.1.2 Ngôn ngữ đối thoại giàu kịch tính, góp phần làm nổi bật mâu thuẫn, xung đột .128

4.1.3 Ngôn ngữ đối thoại chủ yếu là ngôn ngữ đời thường 135

4.1.4 Phương thức tổ chức ngôn ngữ đối thoại 138

Trang 6

4.2.2 Phương thức tổ chức ngôn ngữ độc thoại 144

Tiểu kết 149 KẾT LUẬN 150 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 153 TÀI LIỆU THAM KHẢO 154

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Ngô Tất Tố là một trong những cây bút xuất sắc của dòng văn học

hiện thực phê phán và là một tác giả tiêu biểu của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại nửa đầu thế kỉ XX Trong mấy chục năm cầm bút ông đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ với nhiều thể loại: tiểu thuyết, phóng sự, truyện kí lịch sử, khảo cứu, dịch thuật, tiểu phẩm, báo chí…Ở thể loại nào ông cũng có những đóng góp riêng Sáng tác của Ngô Tất Tố góp phần không nhỏ tạo nên

sự phát triển mạnh mẽ, liên tục của văn học nước nhà nửa đầu thế kỉ XX Mặt khác Ngô Tất Tố là một trong những tác giả có vị trí quan trọng trong văn học nhà trường Cuộc đời, sự nghiệp và các sáng tác đặc sắc của ông trở thành những bài học, những chuyên đề nghiên cứu của văn học nhà trường từ bậc phổ thông đến cao đẳng, đại học Do vậy có thể khẳng định sự nghiệp văn học của Ngô Tất Tố xứng đáng được nghiên cứu trên nhiều phương diện

1.2 Văn học là nghệ thuật ngôn từ Điều làm nên sự khác biệt giữa nhà

văn với nhà tư tưởng, nhà chính trị là nghệ thuật sử dụng ngôn từ Do vậy nghiên cứu về nhà văn không thể không nghiên cứu về cách sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật của họ Ngôn ngữ nghệ thuật góp phần tạo nên chỗ đứng và phong cách độc đáo cho từng nhà văn Các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật giúp định hình rõ nét hơn phong cách nghệ thuật của từng nhà văn và khẳng định vị trí của họ trên diễn đàn văn học Qua đó cũng giúp chúng ta tìm hiểu thêm về đặc điểm ngôn ngữ văn học của từng thời kì

1.3 Ngô Tất Tố đã để lại một khối lượng tác phẩm khá đồ sộ với nhiều

thể loại Đến nay các nghiên cứu về ông không ít: hàng trăm bài viết, hàng chục công trình nghiên cứu lớn nhỏ đề cập đến nhiều khía cạnh về cuộc đời, sự nghiệp, phong cách nhà văn, Các nghiên cứu tập trung chủ yếu về nội dung tư tưởng, phương diện nghệ thuật , còn ngôn ngữ nghệ thuật Ngô Tất Tố là khoảng trống chưa được đề cập đến Do vậy chúng tôi chọn vấn đề này nhằm nghiên

cứu một cách toàn diện, hệ thống về ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn

Trang 8

2 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tƣợng

Luận án vận dụng lý thuyết về ngôn ngữ nghệ thuật để khảo sát ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn Đối tượng nghiên cứu luận án là ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác tiêu biểu của Ngô Tất Tố

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Có thể nói ít có nhà văn nào dũng cảm thử sức viết của mình trên nhiều lĩnh vực như Ngô Tất Tố Ông không chỉ là nhà văn mà còn là nhà báo, nhà khảo cứu, phê bình văn học Ông viết nhiều thể loại khác nhau Khối lượng tác phẩm mà ông để lại khá đồ sộ, có thể kể đến như: gần 1500 bài báo, 2

cuốn tiểu thuyết (Tắt đèn, Lều chõng), 2 tập phóng sự (Việc làng, Tập án cái

đình), và rất nhiều các tác phẩm khác như truyện kí lịch sử, tác phẩm dịch

thuật thơ, truyện ngắn, truyện vừa Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô Tất Tố chúng tôi tập trung nghiên cứu những tác phẩm đặc sắc đã làm nên phong cách nghệ thuật, khẳng định vị trí của nhà văn Chúng tôi chọn khảo sát, nghiên cứu và tập trung tìm hiểu phân tích ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô

Tất Tố trong các tác phẩm tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự của nhà văn

về ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

(1) Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về ngôn ngữ nghệ thuật : phân biệt khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật và một số khái niệm, thuật ngữ liên quan như:

Trang 9

ngôn từ nghệ thuật, lời văn nghệ thuật; đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật và các thành phần cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật của văn xuôi

(2) Lược thuật tổng quan tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật trên thế giới và Việt Nam, tình hình nghiên cứu về Ngô Tất Tố và ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn

(3) Tìm hiểu các yếu tố tiền đề ảnh hưởng đến sáng tác của Ngô Tất Tố bao gồm các yếu tố về hoàn cảnh xã hội văn hóa, văn học đầu thế kỉ XX, hoàn cảnh cá nhân nhà văn

(4) Xác định nguyên tắc tổ chức ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô Tất Tố (5) Tìm hiểu, phân tích ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô Tất Tố ở các phương diện: ngôn ngữ trần thuật, ngôn ngữ nhân vật và một số phương tiện nghệ thuật đặc sắc khác

(6) So sánh ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô Tất Tố với các nhà văn cùng giai đoạn văn học Từ đó, tìm ra những nét riêng và những đóng góp của tác giả đối với tiến trình ngôn ngữ của văn xuôi Việt Nam

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Phương pháp nghiên cứu tác giả

Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật của một tác giả cần phải đặt đối tượng nghiên cứu trong mối quan hệ với cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Vì vậy chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu này trong toàn bộ quá trình nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô Tât Tố

4.2 Phương pháp nghiên cứu hệ thống

Ngôn ngữ có cấu trúc chặt chẽ, ngôn ngữ nghệ thuật là hệ thống cấu trúc bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau Vì vậy tất cả các vấn đề

cụ thể được triển khai nghiên cứu sẽ phải đặt trong mối quan hệ hệ thống Trong luận án để làm rõ đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô Tất Tố chúng tôi đã tìm hiểu, đặt nó trong mối quan hệ logic chặt chẽ từ việc tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử xã hội, hoàn cảnh cá nhân, quan điểm sáng tác, nguyên tắc tư tưởng của tác giả, nguyên tắc tổ chức ngôn ngữ nghệ thuật

Trang 10

4.3 Phương pháp thống kê phân loại

Vận dụng phương pháp này, chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê, phân loại các đối tượng nghiên cứu dựa trên các tác phẩm của nhà văn, giúp cho sự phân tích, đánh giá có căn cứ xác thực Trong luận án chúng tôi đã khảo sát các vấn đề sau: khảo sát các tác phẩm của Ngô Tất Tố về: ngôn ngữ đối thoại, độc thoại, số lượng sử dụng các thành ngữ, tục ngữ, từ láy, từ tượng thanh…; khảo sát các tác phẩm của các nhà văn hiện thực khác như Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao… Qua đó thu thập số liệu thống kê, phân tích các đối tượng tương đồng nhằm thấy rõ những điểm chung và những điểm khác biệt của nhà văn Ngô Tất Tố với các nhà văn khác

4.4 Phương pháp so sánh

Phương pháp này sử dụng nhằm tìm ra nét riêng biệt, đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô Tất Tố Trong quá trình tìm hiểu và phân tích từng tác phẩm của Ngô Tất Tố, từng khía cạnh ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn, chúng tôi luôn đặt trong sự so sánh, đối chiếu với các nhà văn khác, đặc biệt các nhà văn cùng thời với Ngô Tất Tố nhằm tìm ra những nét riêng, độc đáo của nhà văn về cách tổ chức lời văn nghệ thuật, về phong cách nhà văn

4.5 Phương pháp phân tích tổng hợp

Phương pháp này dùng phân tích một cách kĩ lưỡng các tác phẩm của Ngô Tất Tố, sau đó tổng hợp khái quát chỉ ra những đặc điểm riêng về ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn Phương pháp này được chúng tôi sử dụng thường xuyên trong quá trình triển khai luận án

4.6 Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Ngôn ngữ nghệ thuật có liên quan đến các lĩnh vực khác như: văn học, ngôn ngữ học, văn hóa, thi pháp học, phong cách học Do vậy chúng tôi vận dụng phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học liên quan để bổ sung,

hỗ trợ làm rõ vấn đề nghiên cứu Mỗi một đặc điểm, nhận định về ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn đều được đặt trong trường liên tưởng về bối cảnh văn hóa trước đó và hiện nay và được phân tích trong khung lý thuyết của khoa học cơ bản như ngôn ngữ học, thi pháp học

Trang 11

Qua đó, luận án góp phần tìm hiểu thêm về đặc điểm, tiến trình vận động của ngôn ngữ nghệ thuật văn xuôi Việt Nam hiện đại đầu thế kỉ XX

5.2 Luận án có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho các giáo viên, học sinh, sinh viên khi tìm hiểu, giảng dạy về Ngô Tất Tố

6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN

Ngoài các phần: phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần phụ lục; luận án gồm 4 chương sau đây:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Những yếu tố tiền đề và nguyên tắc tổ chức ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô Tất Tố

Chương 3: Ngôn ngữ trần thuật và một số phương tiện nghệ thuật tiêu biểu trong sáng tác của Ngô Tất Tố

Chương 4: Ngôn ngữ nhân vật trong sáng tác của Ngô Tất Tố

Trang 12

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Giới thuyết về ngôn ngữ nghệ thuật

1.1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật và một số thuật ngữ liên quan

Ngôn ngữ nghệ thuật “là một hệ thống các phương thức, phương tiện tạo

hình, biểu hiện, hệ thống các quy tắc thông báo bằng tín hiệu thẩm mĩ của một ngành, một sáng tác nghệ thuật Người ta có thể nói đến ngôn ngữ ba lê, ngôn ngữ chèo, ngôn ngữ điện ảnh Cũng có thể nói đến ngôn ngữ nghệ thuật của sáng tác văn học trên cấp độ đó” [154, tr187] Thuật ngữ ngôn ngữ nghệ

thuật rất gần nghĩa với các thuật ngữ ngôn ngữ, ngôn ngữ văn học, ngôn từ nghệ thuật, lời văn nghệ thuật…Đây là những thuật ngữ có nét nghĩa tương

đồng nhưng không hoàn toàn đồng nhất với nhau nên cần phân biệt

Ngôn ngữ là gì? Có rất nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về

ngôn ngữ hay ngôn ngữ tự nhiên Ở đây chúng tôi hiểu theo quan niệm của Lại Nguyên Ân trong cuốn “ 150 thuật ngữ văn học” (NXB Đại học Quốc Gia, năm 1999) Theo đó, ngôn ngữ là hệ thống phức tạp con người sử dụng

để liên lạc hay giao tiếp với nhau Là hệ thống thông tin liên lạc được sử dụng bởi một cộng đồng hoặc quốc gia cụ thể Ngôn ngữ là phương tiện để bảo lưu

và truyền thông tin, là một trong những phương tiện điều chỉnh hành vi con người Ngôn ngữ tồn tại dưới dạng nói và dạng viết Ngôn ngữ thường được hiểu là ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ quốc gia Ngôn ngữ dân tộc là phương tiện giao tiếp bằng lời nói và chữ viết của một cộng đồng dân tộc Ngôn ngữ dân tộc là ngôn ngữ toàn dân, nó bao gồm toàn bộ các biến thức về phương ngữ, ngôn ngữ thông tục, ngôn ngữ văn học; các biến thức này được thống nhất bởi có chung một vốn từ cơ bản, một hệ thống ngữ pháp và (ở mức độ nhất định) một hệ thống ngữ âm Như vậy, ngôn ngữ mới chỉ là chất liệu của

Trang 13

tác phẩm văn học, để biến ngôn ngữ đó thành ngôn ngữ nghệ thuật cần một quá trình lao động công phu, gian khổ của nhà văn

Ngôn ngữ văn học là thuật ngữ dùng để “chỉ một cách khái quát các hiện tượng ngôn ngữ được dùng một cách chuẩn mực trong các văn bản Nhà nước, trên báo chí, đài phát thanh, trong văn hóa, văn học và khoa học” [159, tr149] Theo nghĩa rộng, ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ được dùng

trong các phương tiện thông tin đại chúng (báo chí, phát thanh, truyền hình, xuất bản phẩm), nhà trường, sân khấu, khoa học, văn học, giấy tờ quan phương, sự vụ Ngôn ngữ văn học đối lập với ngôn ngữ thông tục, các phương ngữ khu vực, các phương ngữ xã hội Các chuẩn mực ngôn ngữ văn học là các chuẩn mực toàn dân, nhằm mục đích chính là để toàn dân hiểu được Theo nghĩa hẹp, ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ được dùng trong các tác phẩm văn học Đó là ngôn ngữ đời sống được nhà văn chọn lọc, sử dụng trong tác phẩm để xây dựng hình tượng nhân vật, phản ánh những vấn đề của cuộc sống, thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về cuộc sống, về con

người Ngôn ngữ văn học là phương tiện thông tin của văn học ( xem 150

thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân)

Ngôn từ nghệ thuật và lời văn nghệ thuật: Ngôn từ trong sáng tác văn

học là ngôn từ “có tính văn học, có cách tổ chức, kết hợp đặc biệt để gây chú

ý vào bản thân nó và do đó tăng cường hiệu quả biểu đạt nghệ thuật” [53, tr

105] Còn ngôn từ nghệ thuật “là ngôn từ được sáng tạo nhằm mục đích

nghệ thuật, gắn liền với sáng tạo hình tượng nghệ thuật” [53, tr 108] Thuật

ngữ lời văn nghệ thuật được hiểu là “dạng phát ngôn được tổ chức một cách

nghệ thuật, tạo thành cơ sở ngôn từ của văn bản nghệ thuật, là hình thức ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm văn học” [155, tr141]

Như vậy thuật ngữ ngôn ngữ nghệ thuật có phạm vi hẹp hơn các thuật

Trang 14

ngữ ngôn ngữ, ngôn ngữ văn học nhưng rộng hơn so với thuật ngữ ngôn từ nghệ thuật và lời văn nghệ thuật Các thuật ngữ này có nét nghĩa trùng nhau nên trong quá trình nghiên cứu ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học hay tác giả văn học, người ta thường đồng nhất chúng với nhau Tuy nhiên cần khẳng định thuật ngữ lời văn nghệ thuật chỉ dùng trong tác phẩm văn học, không dùng trong các tác phẩm thuộc loại hình khác Song việc cần phân biệt ở đây

là tính toàn vẹn, cụ thể, sinh động, giá trị thẩm mĩ, tính sáng tạo độc đáo của ngôn ngữ nghệ thuật trong các tác phẩm văn học chứ không phải ngôn ngữ trong các hoạt động giao tiếp hay ngôn ngữ ở dạng chất liệu sáng tác nói chung

Ngôn ngữ nghệ thuật là dạng ngôn ngữ được dùng để biểu đạt nội dung

hình tượng của các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ (sáng tác lời truyền miệng và văn học viết) Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người Nó là ngôn ngữ được tổ chức, sắp đặt, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt giá trị nghệ thuật- thẩm mĩ “

Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ mẫu mực đã được chuẩn hóa phục vụ cho tất cả các lĩnh vực giao tiếp giữa người với người, và giữ vai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển tư duy, phát triển tâm lý, trí tuệ và toàn bộ các hoạt động tinh thần của con người” [155, tr172] Xét về chất liệu, ngôn ngữ

nghệ thuật có thể sử dụng là ngôn ngữ toàn dân, hay kể cả các phương ngữ, biệt ngữ, văn xuôi sự vụ, văn xuôi khoa học Nhưng điểm khác biệt là ngôn ngữ nghệ thuật mang cá tính sáng tạo của nhà văn Nhà văn có thể sử dụng ngôn ngữ toàn dân làm chất liệu để dệt nên những tác phẩm văn học của mình Và qua lăng kính chủ quan của họ, đặt trong ý đồ sáng tạo các tác phẩm nghệ thuật của họ, biến ngôn ngữ toàn dân đó trở nên sống động, đầy thẩm mĩ và hướng tới chủ đích của nhà văn M Bakhtin cho rằng nghệ sĩ

Trang 15

không chỉ coi ngôn ngữ như là ngôn ngữ (đó là nhiệm vụ của các nhà ngôn ngữ học), họ đã gia công ngôn ngữ, khắc phục ngôn ngữ như là ngôn ngữ để biến nó thành phương tiện biểu hiện nghệ thuật Còn nhà phê bình cấu trúc luận R.Barthes cho rằng, nó không giống như những viên gạch xây nhà, mà chúng sinh sôi trong nhau, tạo sinh nghĩa mới trong trường ngữ nghĩa mà chúng đi vào do sự lựa chọn và kết hợp của người sáng tạo Nó không giống

các kí hiệu thông thường Trần Đình Sử khẳng định dứt khoát: “Do vậy khi

nói văn học là nghệ thuật ngôn từ, ta chỉ nói tới một loại hình của nghệ thuật đó- tức là loại hình sử dụng ngôn từ để sáng tạo ra thế giới nghệ thuật, vì mục đích nghệ thuật.” [175, tr 98] Ngôn ngữ nghệ thuật không chỉ mang đậm

cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ, nó còn bị chi phối bởi thể loại văn học, khuynh hướng, trào lưu sáng tác

Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật: Mỗi một nhà ngôn ngữ học khi bàn

về đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật đều đưa ra quan điểm riêng và lý giải quan điểm đó Đinh Trọng Lạc chỉ ra 4 tính chất: tính cấu trúc, tính hình

tượng, tính cá thể hóa, tính cụ thể hóa (Phong cách ngôn ngữ Tiếng Việt,

1993) Một số khác bổ sung thêm tính biểu cảm, tính truyền cảm, tính thẩm mĩ Trong luận án này chúng tôi tạm thời phân tích kĩ 3 đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật mà theo chúng tôi mang nét đặc trưng của ngôn ngữ

nghệ thuật và ngôn ngữ văn xuôi Đó là: tính hình tượng, tính truyền cảm,

tính cá thể Trong đó: tính hình tượng tạo nên sự khác biệt của ngôn ngữ nghệ

thuật văn học Hình tượng trong văn học không thể nhìn một cách trực quan

mà thông qua kí hiệu ngôn từ, ý đồ sáng tạo của nhà văn và người đọc hình dung, tưởng tượng Ngôn ngữ có tính hình tượng không chỉ miêu tả sự vật, hiện tượng mà còn gợi cho người nghe, người đọc những liên tưởng, tưởng

tượng phong phú Tính truyền cảm hay tính biểu cảm: ngôn ngữ văn học có

khả năng gây ấn tượng mạnh, truyền cảm xúc, lay động tình cảm…với người

Trang 16

nghe, người đọc Tính cá thể là dấu ấn riêng của mỗi người, lặp đi, lặp lại qua

nhiều trang viết, tạo nên phong cách nghệ thuật của tác giả Tính cá thể hóa của ngôn ngữ còn thể hiện trong lời nói nhân vật của tác phẩm Tính cá thể giúp bạn đọc hình dung phong cách ngôn ngữ của từng nhà văn, từng tác phẩm văn học Mỗi nhà văn có phong cách ngôn ngữ riêng Phong cách đó tạo nên bởi nhiều yếu tố: vốn văn hóa, vốn sống, vốn hiểu biết, hoàn cảnh sống, cá tính sáng tạo của từng nhà văn…

1.1.2 Ngôn ngữ nghệ thuật của văn xuôi

Phân biệt ngôn ngữ thơ và văn xuôi: Mỗi thể loại thơ và văn xuôi đều có

lối tổ chức ngôn từ nghệ thuật theo cách thức riêng, làm nên sự khác biệt Ngôn ngữ thơ tuân theo các lề luật, ngôn ngữ văn xuôi thể hiện một cấu trúc ngữ pháp, gần với ngôn ngữ tự nhiên Dòng ngôn từ trong thơ phân chia theo ngữ đoạn, trong văn xuôi chia theo quy tắc cú pháp Dòng ngôn từ văn xuôi được chia thành những câu, đoạn vốn có trong lời nói thường ngày nhưng đã được tu chỉnh, sắp xếp lại Samuel Taylor Coleridge định nghĩa một cách

ngắn gọn: “ Văn xuôi là các từ được sắp xếp hay nhất Thơ là các từ hay nhất

được sắp xếp theo cách hay nhất” ( Webster’s Unabridged Dictionary, 1913 University of Chicago)

Đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ văn xuôi: M.M Bakhtin đã chỉ ra tính

chất đặc biệt của văn xuôi nghệ thuật khi ông tuyên bố rằng: “ Nhà tiểu thuyết

viết văn xuôi ( và nói chung, mọi người viết văn xuôi) không cần phải tẩy sạch khỏi từ ngữ những ý chí và giọng điệu của người khác, không bóp chết những mầm mống ngôn từ xã hội khác biệt tiềm ẩn trong chúng, không gạt bỏ những gương mặt ngôn ngữ và cung cách nói năng ( những nhân vật kể chuyện tiềm năng) lấp ló đằng sau các từ ngữ và hình thức ngôn ngữ, nhưng anh ta xếp đặt tất cả những từ ngữ và hình thức ấy ở những khoảng cách khác nhau so với cái hạt nhân hàm nghĩa cuối cùng của tác phẩm mình, cái trung tâm ý chí

Trang 17

của chính mình” [ 13, tr111] Ngôn ngữ văn xuôi mang đậm hơi thở của cuộc

sống, của thời đại Nhìn nhận lại chặng đường phát triển của văn học chúng ta

có thể nhận thấy đặc điểm riêng của ngôn ngữ văn xuôi nói riêng ( ngôn ngữ văn học nói chung) từng thời kì Văn học dân gian ngôn từ mang tính rập khuôn, tính cộng đồng, đồng nhất phù hợp với chức năng truyền miệng, dễ thuộc, dễ nhớ Văn học trung đại là ngôn ngữ giàu tính ước lệ, tượng trưng, ngôn ngữ hoa mĩ, sách vở… Văn học hiện đại (đặc biệt dòng văn học hiện thực phê phán) là ngôn ngữ đời sống: đa dạng, phong phú, phức tạp, gai góc,

tự nhiên như đời sống

Ngôn ngữ nghệ thuật văn xuôi bao gồm các thành phần cơ bản: ngôn

ngữ trần thuật và ngôn ngữ nhân vật Ngôn ngữ trần thuật trong tác phẩm văn

học tự sự là lời của tác giả, của người trần thuật, hoặc của người kể chuyện, tức là toàn bộ văn bản tác phẩm tự sự, ngoại trừ lời nói trực tiếp của nhân vật Trần thuật bao gồm việc kể và miêu tả các hành động và các biến cố trong thời gian; mô tả chân dung, hoàn cảnh hành động, tả ngoại cảnh ; bàn luận;

lời nói bán trực tiếp của các nhân vật Ngôn ngữ trần thuật bao gồm: lời tả, lời

kể, lời trữ tình ngoại đề Do vậy trần thuật là phương thức chủ yếu để cấu tạo

tác phẩm tự sự Ngôn ngữ nhân vật là lời nói, lời đối thoại trực tiếp của nhân vật trong tác phẩm Ngôn ngữ nhân vật phản ánh tính cách của nhân vật, nó vừa mang tính cá thể hóa, vừa mang tính khái quát Tính cá thể hóa thể hiện trong ngôn ngữ, giọng điệu, lời nói riêng của từng nhân vật tạo nên những biểu hiện độc đáo, cá tính của nhân vật đó Đồng thời ngôn ngữ nhân vật là ngôn ngữ chung, ngôn ngữ toàn dân, ngôn ngữ đời sống mà mỗi nhân vật đại diện cho từng lớp người trong xã hội Ngôn ngữ nhân vật cũng mang đậm cá tính sáng tạo của nhà văn Nhà văn không thể bê nguyên si các câu nói ngoài cuộc đời vào văn học mà xây dựng hình tượng ngôn ngữ của từng nhân vật Mỗi nhân vật thường có một giọng điệu riêng, hay dùng một số từ ngữ riêng

Trang 18

Trong đó ngôn ngữ đối thoại là ngôn ngữ đối đáp trực tiếp của các nhân vật trong tác phẩm Nó gắn với các hành vi ngôn ngữ, tình huống giao tiếp cụ thể Bên cạnh ngôn ngữ đối thoại là ngôn ngữ độc thoại nội tâm của nhân vật Đó chính là lời phát ngôn của nhân vật nói với chính mình, thể hiện quá trình diễn biến tâm lý của nhân vật, thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật

1.1.3 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật

Trên thế giới, trong những năm đại chiến thế giới lần thứ 1, trước Cách mạng tháng Mười, nhóm nghiên cứu chuyên đề Puskin của giáo sư Vengerov

đã nghiên cứu ngôn ngữ thơ, nhịp điệu vần và cấu trúc thơ Cùng thời gian đó

là sự ra đời của Opojaz, sau này là trường phái hình thức Nga vào đầu thế kỉ

XX với các tác phẩm nghiên cứu về ngôn ngữ như: Hợp tuyển các bài nghiên

cứu về lý luận ngôn ngữ thơ (1916 – 1917) Năm 1919, Opojaz xuất bản hợp

tuyển đầu tiên của loạt bài nghiên cứu mang tên Thi pháp Hợp tuyển này cho

thấy quan điểm cơ bản của các nhà hình thức chủ nghĩa về thơ Các tác giả đã

cố gắng xác định vai trò của ngôn ngữ trong tác phẩm như là yếu tố đặc biệt tạo điều kiện cho sự tồn tại của tác phẩm văn học Những thành tựu của ngôn ngữ học hiện đại đã đóng vai trò to lớn trong việc hình thành lý luận văn học của các nhà hình thức chủ nghĩa Nga Từ những năm 20 trở đi đã có sự thay đổi cơ bản về phương pháp của trường phái này Họ quan niệm tác phẩm văn học là một chỉnh thể thống nhất, sinh động và có kết cấu Với những luận điểm đó, lý luận văn học của trường phái hình thức Nga đã đạt đến trình độ mới trong quan niệm về tính nội tại của văn học Sau này, những năm 90, xu hướng nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật trong mối quan hệ với phong cách nhà văn bắt đầu được quan tâm đến Các nhà nghiên cứu Xô Viết khi tìm hiểu

về phong cách của nhà văn đã khẳng định vai trò không nhỏ của ngôn ngữ

nghệ thuật M.Bakhtin đã nêu lập trường của mình một cách rõ ràng: “Nói

chung, nếu vẫn đứng trong giới hạn của phong cách học ngôn ngữ học thì không thể khảo sát được nhiệm vụ thực sự của phong cách Không có một

Trang 19

cách định nghĩa hình thức ngôn ngữ học nào về lời văn mà không che đậy mất chức năng nghệ thuật của nó trong tác phẩm Các nhân tố cấu tạo phong cách thực sự vẫn còn nằm ngoài trường nhìn của phong cách ngôn ngữ học”[12, tr128] Cùng quan điểm này Turin cho rằng: “Phong cách- đó là ngôn từ được xét trong mối quan hệ của nó với hình tượng, đó là tác động qua lại thường xuyên giữa những khái niệm và ý nghĩa nảy sinh trong ngôn từ vốn đặt vào một văn cảnh nghệ thuật” [106, tr 260] V.V.Vinogradov còn

khẳng định mạnh mẽ hơn nữa: “Chiếm vị trí trung tâm trong phong cách văn

học là những quan sát và nghiên cứu trong lĩnh vực các quy luật hình thành

và phát triển của các hệ thống biểu hiện ngôn từ nghệ thuật” Như vậy, việc

nghiên cứu về ngôn ngữ trong tác phẩm văn học đã được đặt ra và quan tâm

từ rất lâu trên thế giới Các nhà nghiên cứu đã nhận thấy vai trò đặc biệt của ngôn ngữ trong mối quan hệ nội tại với các thành phần cấu trúc của văn bản nghệ thuật và thông tin giao tiếp với bạn đọc cũng như góp phần hình thành phong cách nhà văn

Ở Việt Nam, nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật cũng đã bắt đầu manh nha từ những năm 90 của thế kỉ trước Nhưng đó chỉ là những nghiên cứu đơn

lẻ chứ chưa thành một quan điểm tiếp nhận văn chương hay một xu hướng nghiên cứu văn học Những công trình nghiên cứu mang dấu ấn cá nhân, mang tính dự cảm nhiều hơn Đầu tiên phải kể đến một vài công trình nghiên

cứu về lý thuyết như: Những đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ tiểu thuyết (Phan Cự Đệ, 1974), Một số vấn đề thi pháp học hiện đại và Dẫn luận thi

pháp học (Trần Đình Sử, 1998) Sau này xuất hiện một số công trình ứng

dụng lý thuyết ngôn ngữ vào nghiên cứu tác giả như: Phan Ngọc với công

trình “Tìm hiểu phong cách Nguyến Du qua Truyện Kiều” ( 1985), Đỗ Lai Thúy “Con mắt thơ” (1992) sau đổi thành “Mắt thơ” (2000) Có thể nói,

những công trình nghiên cứu này đã mở ra một hướng nghiên cứu mới: nghiên cứu tác giả không chỉ nghiên cứu về cuộc đời, con người, hoàn cảnh

Trang 20

xã hội mà từ chính tác phẩm của họ Khi xuất phát từ chính tác phẩm- con

đẻ tinh thần của nhà văn thì các nhà nghiên cứu bắt đầu nhận thấy tầm quan trọng của ngôn ngữ nghệ thuật Nhà nghiên cứu Trần Đăng Suyền đã dành một chương viết về ngôn ngữ nghệ thuật của chủ nghĩa hiện thực trong cuốn

sách “Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX”

Trong đó tác giả đã phân tích những khuynh hướng và đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật của chủ nghĩa hiện thực Tác giả phân tích, lý giải những đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật nổi bật của một số nhà văn hiện thực, mà ông gọi là “

những bậc thầy của ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật” như: Nguyễn Công Hoan,

Vũ Trọng Phụng, Nam Cao Qua kể tên một số công trình tiêu biểu nêu trên, chúng tôi nhận thấy: các nhà nghiên cứu đã phân tích rõ tầm quan trọng của ngôn ngữ trong việc tạo ra giá trị và dấu ấn riêng cho tác phẩm văn học Ngôn

ngữ là chất liệu tạo nên tác phẩm Hơn thế “ Ngôn ngữ không chỉ là công cụ

của tư duy, cái vỏ chứa tư tưởng mà còn sản sinh ra tư tưởng” [194, tr 123-

124] Với các sáng tác văn học, ngôn ngữ tạo nên những nét riêng, mang đến sức cuốn hút, hấp dẫn cho mỗi tác phẩm Tuocghenhep cho rằng: “Cái quan

trọng trong tài năng văn học( ) cũng có thể trong bất kì một tài năng nào, là cái tôi muốn gọi là giọng nói của mình ( ) Quan trọng là những giọng nói riêng biệt, sống động của mình, cái mà không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một người nào khác Chính ở chỗ đó là điểm khác biệt chủ yếu của một tài năng độc đáo, sống động” [105, tr 116] Những năm gần đây, với sự

gia tăng về số lượng các luận án nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội và các cơ sở đào tạo khác cũng cho thấy đây

là hướng nghiên cứu đúng và ngày càng được quan tâm Chúng tôi kể đến

một số luận án tiêu biểu như: Đặc điểm lời văn nghệ thuật Nguyên Hồng

trước 1945 (Lê Hồng My), Ngôn ngữ nghệ thuật của Nam Cao trong sáng tác trước Cách mạng tháng Tám- 1945 (Lê Hải Anh), Ngôn ngữ nghệ thuật Vũ Trọng Phụng trong tiểu thuyết và phóng sự (Nguyễn Văn Phượng), Lời văn

Trang 21

nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp ( Nguyễn Văn Đông), Lời văn nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu (Phạm Thị Thanh Nga), Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại (Đinh Thị Thu Hà), Ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài (Vũ Thúy Nga), Ngôn ngữ nghệ thuật trong văn xuôi của Ma Văn Kháng (Đoàn Tiến Dũng)

Sơ lược tìm hiểu các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn, chúng tôi nhận thấy: ngôn ngữ nghệ thuật có vai trò đặc biệt quan trọng, nó là “chìa khóa” để mở cánh cửa bước vào tác phẩm văn học để từ đó khám phá, tìm hiểu thế giới hình tượng, nội dung, tư tưởng của tác phẩm Ngôn ngữ nghệ thuật là phương tiện trực tiếp để tìm hiểu tác phẩm nhưng cũng là yếu tố quan trọng hình thành phong cách nhà văn

1.2 Tình hình nghiên cứu về Ngô Tất Tố và ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô Tất Tố

1.2.1 Nghiên cứu về Ngô Tất Tố

Ngô Tất Tố mất năm 1954 Cho đến nay hơn một thế kỉ đã trôi qua, nhưng các công trình nghiên cứu về ông vẫn ngày càng dày thêm, phong phú thêm Các công trình nghiên cứu bao gồm: các giáo trình dạy học, các sách chuyên khảo, các bài viết, bài phê bình đăng trên báo, tạp chí Các công trình

tiêu biểu như: Bước đường phát triển tư tưởng và nghệ thuật của Ngô Tất Tố

của Nguyễn Đức Đàn, Phan Cự Đệ, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên đánh giá về chặng đường phát triển sự nghiệp của tác giả Công trình nghiên cứu này đã mô tả, khái quát toàn diện về cây bút Ngô Tất Tố với những nhận định chính xác về con người và sự nghiệp viết báo, làm văn của ông Cuốn sách đưa ra những luận điểm xác đáng và chứng minh thuyết phục cho những luận điểm đó như: “Ngô Tất Tố- một nhà nho nghèo tiến bộ”, “Một cây bút chiến đấu sắc bén trong làng báo thời Pháp thuộc”, “Nghệ thuật viết tiểu

phẩm độc đáo”, “Tắt đèn- một tác phẩm hiện thực xuất sắc” Sau đó, kỉ

niệm 100 năm ngày sinh của nhà văn (1893- 1993) với sự ra đời của hai cuốn

Trang 22

sách: Ngô Tất Tố, nhà văn hóa lớn của Hoài Việt sưu tầm và biên soạn (NXB Văn hóa 1993) , Ngô Tất Tố với chúng ta của Mai Hương sưu tầm và biên

soạn (NXB Hội nhà văn, 1993) đã giúp ích rất nhiều cho giới nghiên cứu khi tìm hiểu về nhà văn Hai cuốn sách trên đã sưu tầm, thống kê, phân loại toàn

bộ các bài viết đơn lẻ về Ngô Tất Tố trên các báo, tạp chí từ trước đó giúp người đọc dễ dàng tra cứu, tìm hiểu.Mỗi cuốn sách mang đến cho người đọc

những cảm nhận thú vị về tác giả Ngô Tất Tố với chúng ta là những hồi ức

đẹp đẽ của những người bạn văn về Ngô Tất Tố Con người, cuộc sống, quan điểm viết văn của ông hiện lên sống động qua những trang viết của Đỗ Ngọc Toại, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân

Ngô Tất Tố, nhà văn hóa lớn lại mang đến cho người đọc những nhận định

mới mẻ về sự nghiệp văn học Ngô Tất Tố với giá trị văn hóa mà các tác phẩm của ông đề cập đến Những công trình trên xuất hiện những năm 90 của thế kỉ trước Sau này (sau năm 2000) cũng có thêm một số công trình nghiên cứu

toàn diện về tác giả như: Di sản báo chí Ngô Tất Tố, ý nghĩa lý luận và thực

tiễn (Phan Cự Đệ chủ biên), Ngô Tất Tố, về tác gia và tác phẩm (Nhiều tác

giả), Ngô Tất Tố một sự nghiệp lớn về văn học và báo chí (Trần Thị Phương

Lan) Ngoài ra còn một loạt các bài nghiên cứu khái quát về tác giả trong các

giáo trình giảng dạy như Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Phan Cự Đề chủ biên ( 2004), Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại, tập 1, Trần Đăng Suyền chủ

biên ( 2015) Với khuôn khổ của luận án này chúng tôi không thể kể hết các công trình nghiên cứu đó Do vậy chúng tôi chọn cách tổng hợp các công trình nghiên cứu và phân loại chúng theo vấn đề nghiên cứu Khi tìm hiểu các bài viết, các công trình nghiên cứu về Ngô Tất Tố chúng tôi nhận thấy các sáng tác của nhà văn được giới nghiên cứu phê bình văn học bàn bạc, trao đổi

và làm sáng tỏ trên nhiều phương diện Chúng tôi tạm thời chia các vấn đề đã được giới nghiên cứu đề cập đến như sau:

1.2.1.1 Về cuộc đời, con người, hoàn cảnh sống, những ảnh hưởng tới sáng tác của nhà văn

Trang 23

Tác giả của nhóm bài viết này là các nhà nghiên cứu phê bình đã trực tiếp gặp gỡ, tiếp xúc với Ngô Tất Tố, là đồng nghiệp, bạn bè của nhà văn như Đỗ Ngọc Toại, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Nguyên Hồng, Vũ Ngọc Phan, Hoàng Trung Thông, Kim Lân, Đinh Gia Viễn, Các bài viết tập trung khắc họa bức chân dung Ngô Tất Tố rất chân thực, gần gũi và vô cùng xúc động Ngô Tất Tố hiện lên qua những trang viết này là một nhà nho có đời sống thanh bạch, được học hành bài bản Còn với tư cách một nhà văn mọi người đều nhìn thấy ở ông một cây bút sắc sảo, bản lĩnh, quan điểm nhất quán, rõ ràng

Đầu tiên phải kể đến những hồi ức của Đỗ Ngọc Toại về người bạn thân

Ngô Tất Tố Bài báo “ Nhớ người bạn khuất núi” của Đỗ Ngọc Toại đăng trên

Báo văn nghệ 5/4/1974 sau 20 năm ngày mất của Ngô Tất Tố đã kể về quãng đời thi cử lận đận, cuộc sống nghèo khó của nhà văn Bên cạnh đó là những câu chuyện thú vị của hai người bạn về quan điểm văn chương Đỗ Ngọc Toại nhận

xét: “ Cũng vì sống chung với nông dân, thông cảm với nỗi đau khổ của nông

dân mà văn của anh thường có quan điểm nhân dân, quan điểm hiện thực chủ nghĩa Anh ghét lối văn phù phiếm, không thiết thực, anh cho những lối văn ấy không có ích gì cho ai, không đáng gọi là văn” [98, tr 27]

Nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan, thế hệ đàn em so với Ngô Tất Tố

cũng có những mô tả chân thực về nhà văn khi mới gặp: “ Tôi ngạc nhiên: “

Sao con người lầm lỳ, ít nói, mà đến khi viết lại hăng như vậy!” Anh ít nói như để dành lời đanh thép trút lên trang giấy Tuy nét mặt anh cương nghị, nhưng anh thường nheo mắt cười một vẻ rất hiền ” “ Hình như lúc nào anh cũng kìm lại mọi ý nghĩ và tình cảm, đúc kết lại trong trí não để đưa vào tác phẩm Anh ăn mặc xuyềnh xoàng, quanh năm chỉ cái áo the thâm, cái quần trúc bâu, đôi giầy bạ” [161, tr 36] Bài viết của nhà văn Nguyễn Công Hoan

có cách đánh giá khác về việc ảnh hưởng của vốn sống, vốn văn hóa đến sáng

tác của nhà văn: “Ông là một nhà nho thuần túy, không biết một tiếng Pháp

Trang 24

nào Thế thì hẳn là ông gần văn học Trung Quốc hơn văn học Pháp, và khi viết truyện, hẳn là ông chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Quốc hơn tiểu thuyết Tây Thế mà trái lại, nhiều đoạn ở trong Tắt đèn chẳng hạn, ta thấy từ cách hành văn cũng như cách tả cảnh, Ngô Tất Tố đã gần tiểu thuyết Tây hơn tiểu thuyết Trung Quốc.” [98, tr 52] Nhà văn Nguyên Hồng, sau mấy tháng

khi Ngô Tất Tố mất, đã xúc động viết “ Ngô Tất Tố với chúng ta” (tạp chí Văn nghệ tháng 8/ 1954), trong đó có đoạn: “Cái hình ảnh Ngô Tất Tố dứt

khoát với thù địch , không đội giời với thù địch, cái hình ảnh đôi mắt kính vằng vặc say mê cúi xuống những giòng chữ rắn rỏi rõ ràng miết lên những trang giấy vàng ngà trên mặt bàn tre làm việc, hình ảnh đó chúng ta luôn tưởng nhớ, xót xa, thương tiếc.”

1.2.1.2 Nghiên cứu về sự nghiệp văn chương của Ngô Tất Tố

Sự nghiệp văn chương của Ngô Tất Tố bao gồm: tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự, tiểu phẩm Bàn về sự nghiệp văn chương của ông là chủ đề được nói đến nhiều nhất trong giới nghiên cứu phê bình văn học Phần lớn các bài viết, các công trình nghiên cứu đều đánh giá cao sự đóng góp của ông với văn học Trong luận án này chúng tôi chọn cách thống kê theo mảng vấn đề nghiên cứu Cách làm này giúp chúng tôi tổng hợp, khái quát, chọn lọc được các mảng nghiên cứu đã

được bàn bạc và xác định được vấn đề còn bỏ trống, chưa đề cập tới

Nghiên cứu kĩ các tài liệu chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu, phê bình văn học có những điểm chung khi đánh giá về nhà văn Ngô Tất Tố như sau:

Thứ nhất:Các nghiên cứu đều khẳng định: Ngô Tất Tố là nhà văn hàng

đầu của trào lưu hiện thực phê phán, nhà văn của người nông dân

Tắt đèn là tác phẩm thành công nhất của Ngô Tất Tố Ngay từ khi mới ra

đời, nó đã được các nhà văn đương thời ca tụng Nhà văn Vũ Trọng Phụng

từng khen ngợi Tắt đèn “ là một thiên tiểu thuyết có luận đề xã hội, hoàn toàn

phụng sự dân quê, một áng văn có thể gọi là kiệt tác, tùng lai chưa từng thấy,

mà lại của một tác giả được cái may hơn nhiều nhà văn khác là được sống ở

Trang 25

nhiều thôn quê Đọc quyển “Tắt đèn” này những độc giả khó tính sẽ cũng phải chịu rằng óc quan sát của Ngô Tất Tố về những cảnh làm ruộng, thu thuế, chè chén, xôi thịt, hà lạm, ức hiếp, bán vợ đợ con của đám dân quê quả

là một thứ óc quan sát rất tinh tường, rất chu đáo” [98, tr 58- 59]

Còn Nguyễn Công Hoan thì lý giải sức mạnh tố cáo của tiểu thuyết Tắt

đèn bằng tình yêu với người nông dân của Ngô Tất Tố Trong bài “Đọc Tắt đèn của Ngô Tất Tố”, ông viết: “Là cuốn tiểu thuyết in bằng giấy trắng mực đen, nhưng đồng thời nó là tâm hồn của tác giả tha thiết yêu nông dân, tố cáo một chế độ cần phải đạp đổ, từ tầng trên là bọn đế quốc thống trị, đến tầng giữa là bọn quan lại tay sai, cho đến tầng dưới của nó là bọn Tổng Lý cường hào gà què ăn lẩn cối.” [ 210, tr 94]

Cùng bàn về Tắt đèn tác giả Trần Đăng Suyền đã khẳng định vị trí đặc biệt của tiểu thuyết này trong sự nghiệp sáng tác của Ngô Tất Tố: “Thành tựu văn học

của Ngô Tất Tố chủ yếu được kết tinh ở tiểu thuyết “ Tắt đèn” (1939) Cuốn tiểu thuyết xuất sắc này đã khẳng định dứt khoát Ngô Tất Tố xứng đáng với danh hiệu nhà văn của nông thôn và người nông dân, xác định vị trí đầy vinh dự của ông trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại” [183, tr 290]

Việc làng đánh dấu sự thành công của Ngô Tất Tố ở một thể loại khác-

thể loại phóng sự Với phóng sự này, Ngô Tất Tố đã ghi lại trung thực, sống động hủ tục phổ biến ở nông thôn Việt Nam thời trước Cách mạng tháng tám

Vì vậy với Việc làng, nhà văn khẳng định chắc chắn vị trí đầy danh dự của

ông trong làng văn học hiện thực phê phán Việt Nam bấy giờ, nhà văn của người nông dân, của vùng nông thôn Việt Nam trước Cách mạng

Phan Cự Đệ sau khi phân tích giá trị tư tưởng, nghệ thuật của tập phóng

sự Việc làng, khẳng định: “Viết Việc làng, chẳng những Ngô Tất Tố đã tỏ ra

là một nhà văn cương trực, có tính chiến đấu mà còn tỏ ra là một nhà văn hiểu biết sâu sắc về nông thôn Không phải Ngô Tất Tố chỉ thông thạo các “

Trang 26

việc làng” mà Ngô Tất Tố còn hiểu rất rõ con người ở nông thôn Chẳng những Ngô Tất Tố có con mắt quan sát tỉ mỉ và ngòi bút miêu tả tinh tế mà cái chính là Ngô Tất Tố rất thông hiểu tư tưởng, tình cảm, tâm lý của những người ở nông thôn Những ai đã có dịp sống lâu ở nông thôn, khi xem Việc làng đều phải nhận rằng, nếu không phải là một người đã từng sinh trưởng ở nông thôn, lăn lộn trong cuộc sống thực tế ở nông thôn thì không thể nào viết được như vậy” [44, tr 145, 146]

Phong Lê cho rằng Việc làng phản ánh “tận chiều sâu những cội rễ của

cả hai mặt phong tục và hủ tục, nó tồn tại dai dẳng đến thế, không chỉ đến thời Ngô Tất Tố viết Việc làng, mà cho cả đến hôm nay” (tạp chí Sông

Hương, tháng 12, năm 2003)

Có thể khẳng định rằng, các nhà nghiên cứu phê bình văn học đã dành những lời ngợi ca cao nhất nhưng cũng vô cùng chính xác về những đóng góp của Ngô Tất Tố với khuynh hướng văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945 nói riêng và văn học hiện đại nói chung Ông đã mang đến một tiếng nói chân thực, sống động, một nét vẽ độc đáo và đặc sắc cho bức tranh xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỉ - mảng nông thôn Việt Nam Nghĩ đến ông, điều đầu tiên chúng ta khắc ghi: Ngô Tất Tố là nhà văn của nông dân, nông thôn Việt Nam

Thứ hai: Các nghiên cứu đề cập đến sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa

truyền thống và hiện đại, giữa văn hóa phương Đông và phương Tây, sự thích ứng thời cuộc trong một số sáng tác của Ngô Tất Tố

Ngô Tất Tố là một nhà Nho cho nên nền văn hóa cũ thấm sâu vào ông Ông từng mang lều chõng đi thi, từng đỗ đạt Ông thuộc thế hệ những nhà Nho cuối mùa như Nguyễn Trọng Thuật, Mai Đăng Đệ, Phạm Quế Lâm, Nguyễn Khắc Hiếu Nhưng khác với những nhà Nho cùng thời, ông đã “đổi mới tư duy” trở thành một nhà Nho yêu nước, một nhà văn của giai cấp công

Trang 27

nhân, một Đảng viên cộng sản “Vì ở Ngô Tất Tố, cái khăn đen áo the chỉ là

cái vỏ bề ngoài che đậy một tâm hồn mới mẻ” [98, tr 66] Tác phẩm của ông

thể hiện rõ sự chuyển biến tư tưởng này Nhà phê bình Vương Trí Nhàn nhận

xét: “ Trong khi về mặt tính cách, người ta thấy Ngô Tất Tố gắn liền với lớp

người trưởng thành từ đầu thế kỉ XX như Phan Kế Bính, Nguyễn Trọng Thuật, Phạm Duy Tốn thì tác phẩm của ông lại được xếp cạnh các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng ( nghĩa là thuộc về giai đoạn chín đẹp của thế kỉ này, những năm 30 huy hoàng)”

Quan điểm hiện đại, thích ứng với thời cuộc của Ngô Tất Tố thể hiện rõ

nét trong tác phẩm Lều chõng Trong lời giới thiệu Lều chõng, Vương Trí Nhàn viết: “Tác phẩm của Ngô Tất Tố như một lời cải chính, hơn thế, một

bản tố cáo chế độ khoa cử lỗi thời và thấp thoáng sau mỗi chương, mỗi hàng chữ là một nụ cười chế giễu, có khi là tiếng cười ra nước mắt” Đọc “Lều chõng” người ta cũng nhận thấy “cái nhìn lưu luyến quá khứ” của Ngô Tất

Tố Và hơn thế nữa, nó cho thấy “sự cắt đứt của Ngô Tất Tố, mà cũng là của nhiều người đương thời với quá khứ, sự thích ứng với hoàn cảnh mới, là quyết liệt, song cũng có tình, có lý đến như thế nào” [202, 5]

Sự thích ứng của Ngô Tất Tố đã mang đến những kết quả rõ rệt trên con đường văn nghiệp của ông Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan nhận xét về sự thay

đổi ở Ngô Tất Tố: “Ông vào số những nhà Hán học đã chịu ảnh hưởng văn

học Âu Tây và được người ta kể vào hạng nhà nho có óc phê bình, có trí xét đoán, có tư tưởng mới” [161]

Có thể nói ở Ngô Tất Tố có sự kết hợp giữa Đông Tây, kim cổ, một phong cách hòa quyện nhuần nhuyễn giữa những cái hiện đại phương Tây với cái thâm trầm, kín đáo của phương Đông Và vì vậy, đọc văn Ngô Tất Tố thấy ông lột tả hiện thực trước mắt người đọc sắc sảo nhưng không lạnh lùng phán xét, phê phán đến tàn nhẫn, trần trụi mà chỉ kín đáo bày tỏ thái độ Điều này tạo nên nét riêng biệt độc đáo của ngòi bút hiện thực phê phán Ngô Tất Tố

Trang 28

Ngô Tất Tố nhà văn- nhà nho- nhà báo mang phong cách riêng biệt không thể trộn lẫn với nhà văn, nhà báo nào khác

Thứ ba: Các nghiên cứu tập trung bàn về một số phương diện nghệ thuật

trong các sáng tác của Ngô Tất Tố

Về nghệ thuật xây dựng cốt truyện

Nhà văn Nguyễn Tuân trong bài “Trước đèn đọc đoản thiên Ngô Tất

Tố”đã mượn lời một độc giả để ca ngợi Ngô Tất Tố: “Cốt truyện là xương sống mà tình tiết là các dẻ sườn, là các đốt xương, là thịt, là da mà ở mặt này, vốn sống đã đầy ắp cùng với con mắt tinh tế đã góp phần làm nên cái đặc sắc của tác phẩm Từ Tắt đèn đến Lều chõng ngoài cái ngồn ngộn của chất liệu còn là cách dẫn truyện với mạch văn được kết dính bởi các chi tiết gắn bó đã tạo nên thế vững chắc của tác phẩm trong trường kì thời gian”.[98, tr78]

Cùng bàn về nghệ thuật xây dựng cốt truyện của Ngô Tất Tố, bình về tác

phẩm Tắt đèn, Phan Cự Đệ viết: “Nghệ thuật của Tắt đèn là một thứ nghệ

thuật đi vào chiều sâu, vào cái tinh túy, bản chất Tắt đèn học được ở văn học dân gian, đặc biệt ở tục ngữ, phương ngôn, cái nghệ thuật tập trung cô đúc, càng nén lại thì càng gây nên vụ nổ lớn, càng có sức vang xa, rộng trong không gian Chỉ trong vòng hơn 100 trang mà các sự kiện dồn dập, các mâu thuẫn cọ xát nhau đến nảy lửa” [45, tr 182]

Trần Đăng Suyền trong “ Nhà văn, hiện thực đời sống và cá tính sáng

tạo” đã dành gần chục trang viết với những nhận xét sắc sảo về nghệ thuật

của tiểu thuyết Tắt đèn Trong đó, tác giả đánh giá về nghệ thuật xây dựng cốt truyện như sau: “Ngô Tất Tố đã tổ chức một cốt truyện hấp dẫn, căng thẳng,

đầy kịch tính Một cốt truyện gọn gàng, chặt chẽ, liền mạch, tập trung làm nổi bật mâu thuẫn xã hội, và qua đó tính cách nhân vật được bộc lộ chân thực, sinh động”.[181, tr 87]

Nghệ thuật xây dựng cốt truyện với cách sắp xếp tình tiết truyện dồn nén về không gian, thời gian tạo nên sức hấp dẫn riêng cho sáng tác của Ngô Tất Tố Đó

Trang 29

là phát hiện trùng khớp của nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học

Về nghệ thuật xây dựng nhân vật

Không chỉ thành công ở nghệ thuật xây dựng cốt truyện, tác phẩm của Ngô Tất Tố (đặc biệt tiểu thuyết) đạt đến trình độ cao ở nghệ thuật xây dựng nhân vật Và cũng chính bởi sự thành công này, giới phê bình đã đưa ra những nhận định mới về tính hiện đại trong các tác phẩm của ông Ông là một nhà văn nho học, đậm chất Á đông nhưng lại viết tiểu thuyết khá hiện đại ảnh hưởng của văn học phương Tây Về các nhân vật điển hình của ông, các nhà nghiên cứu từ trước đến nay đã dành không ít trang viết để nói về họ Hầu như khi nhắc đến tác phẩm của ông là không thể không nhắc đến nhân vật tiêu biểu mà ông đã xây

dựng lên như: chị Dậu, Nghị Quế ( Tắt đèn), Vân Hạc ( Lều chõng)

Phan Cự Đệ lý giải những thành công của Ngô Tất Tố trên hai bình diện: nghệ thuật tả cảnh và nghệ thuật xây dựng nhân vật Ông cho rằng: “

Tuy là một nhà nho làm báo, lần đầu mới bước qua địa hạt tiểu thuyết, nhưng trong Tắt đèn, ta thấy nghệ thuật tả cảnh, nghệ thuật xây dựng nhân vật của Ngô Tất Tố có những nét độc đáo và thành công” [44, tr 110] Nguyễn Tuân

đi sâu phân tích, đánh giá nhân vật chị Dậu- nhân vật thể hiện tài năng của

Ngô Tất Tố trong việc dựng hình tượng như sau: “ Ngô Tất Tố đã đưa ra, đã

dám đưa ra một nhân vật đàn bà nông thôn khỏe khoắn lành mạnh như chị Dậu, tôi cho đó là cái bằng chứng có giá trị mà Ngô Tất Tố đã góp được vào viện bảo tàng con người Việt Nam tiến lên, tiến lên dưới cờ Đảng” Và “ Trên cái tối giời, tối đất của đồng lúa ngày xưa, hiện lên một cái chân dung lạc quan của chị Dậu” [210, tr 39] Ở đây Nguyễn Tuân đánh giá rất cao ngòi

bút xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình của nhà văn trong việc dựng hình tượng nhân vật chị Dậu Sau này nhà nghiên cứu Trần Đăng

Suyền cho rằng : “ Thành công về nghệ thuật của Tắt đèn thể hiện rõ nhất ở

phương diện xây dựng nhân vật”.[ 183, tr 294]

Như vậy, có thể thấy rằng nghệ thuật xây dựng cốt truyện, nghệ thuật

Trang 30

xây dựng nhân vật đã thể hiện thành công của Ngô Tất Tố trong các tác phẩm văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng Chính những điều này khẳng định

“ nghệ thuật tự sự già dặn” của Ngô Tất Tố

1.2.2 Các nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của Ngô Tất Tố

Các ý kiến bàn về ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn không nhiều, không tập trung nhưng chúng tôi có thể kể đến một vài ý kiến như sau:

Đầu tiên phải kể đến những nhận định sắc sảo của hai nhà nghiên cứu

Nguyễn Đức Đàn và Phan Cự Đệ: “ Ngô Tât Tố sử dụng thứ ngôn ngữ

chính xác, giàu tính chất luận lý và hình tượng sinh động Đặc biệt ông hay sử dụng ca dao, tục ngữ Văn ông đượm hơi thở mạnh khỏe của những người lao động”.[44, tr 54] Nhận định này cho thấy những đặc

điểm nổi bật về ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn Từ những nhận định chung như vậy, khi đi sâu phân tích từng tác phẩm, các nhà nghiên cứu đã

đưa ra những nhận xét tinh tế Về ngôn ngữ trong tiểu thuyết Tắt đèn, Phan

Cự Đệ cho rằng: “ Khai thác vốn ngôn ngữ của quần chúng, chú ý tiếp thu

truyền thống văn học dân tộc, đó là ưu điểm nổi bật ở Ngô Tất Tố” [44, tr

105] “ Ngô Tất Tố là người có tài châm biếm và có một óc quan sát tinh vi

Lối châm biếm của ông rất kín đáo, sâu sắc, tế nhị Ông để sự việc tự nói lên,

ít khi tham gia bình phẩm”.[44, tr 105] Nếu như tiểu thuyết Tắt đèn các nhà

nghiên cứu đánh giá cao ở lối viết giản dị, gần ngôn ngữ quần chúng thì đến

Việc làng họ tìm thấy đặc điểm riêng của một nhà Nho viết văn với vốn ngôn

ngữ Hán học sâu sắc Về ngôn ngữ trong phóng sự Việc làng, các nhà nghiên cứu khẳng định: “ Ngô Tất Tố xuất thân từ nho học Nhưng đối với một thể

loại mới mẻ như thể loại phóng sự, Ngô Tất Tố đã không tỏ vẻ bỡ ngỡ chút nào Trái lại, ngòi bút của ông khi nào cũng vững vàng, chắc chắn, lời văn bao giờ cũng bình dị, sáng sủa và cô đúc.”[44, tr 105] Còn Phan Cự Đệ lý

giải những đóng góp của Ngô Tất Tố về phương diện ngôn từ bằng óc quan

sát và vốn sống của nhà văn: “Nhưng nói chung Việc làng đã thu hút người

Trang 31

đọc bằng khả năng lý giải vấn đề một cách sâu sắc, bằng óc quan sát và nghệ thuật miêu tả tinh tế của một nhà văn sống lâu đời ở nông thôn” [44, tr 189]

Hoài Việt trong bài viết “ Ngô Tất Tố, nhà văn hóa lỗi lạc” có nhận xét:

“ Phương pháp đặc tả hiện thực nổi trội đã đành mà cách phân tích tâm lý

nhân vật cũng kĩ không kém Văn bác Tố khỏe, tránh được cái rườm rà, tối nghĩa, đôi lúc, đôi chỗ còn pha chút dí dỏm, trào lộng Đặc biệt lối văn bút chiến của bác thường chặt chẽ, đanh thép, đầy sức thuyết phục Chúng ta biết bác Tố chịu ảnh hưởng nhiều của sách truyện Tầu nhưng lối kết cấu trong tác phẩm của bác không mấy có hơi hướng đó” [210, tr 20]

Nguyễn Đức Bính lại đánh giá cao ở lối viết mới mẻ của Ngô Tất Tố: “

Ngô Tất Tố có một lối viết mới, độc đáo nữa là khác, không chút gì nhắc lại lối văn biền ngẫu của các cụ đồ, giọng văn khi đậm đà, duyên dáng, nhưng đặc biệt là dí dỏm; câu văn sắc cạnh, trong sáng, ngắn gọn, chữ dùng thường mạnh dạn và ý nhị” [98, tr 67]

Trần Đăng Suyền có những lý giải riêng về ngôn ngữ phong phú, đa

dạng của Ngô Tất Tố khi cho rằng: “ Ngòi bút Ngô Tất Tố đã kết hợp khá

nhuần nhị giữa hoạt động dịch thuật, phê bình khảo cứu với hoạt động báo

nghệ thuật của các nhà văn hiện thực, tác giả đưa ra những nhận xét tinh tế,

sắc sảo: “ Lịch sử các thể loại văn xuôi nước nhà, chưa từng có một trào lưu

văn học nào như trào lưu hiện thực chủ nghĩa, chỉ trong khoảng 15 năm, lại xuất hiện nhiều tiếng nói, giọng nói riêng độc đáo như thế Ấy là giọng hài hước, châm chọc tinh quái của Nguyễn Công Hoan; giọng cay độc, căm phẫn, uất ức, châm biếm chua cay của Vũ Trọng Phụng; giọng yêu thương, thâm trầm mà quyết liệt của Ngô Tất Tố; giọng “ rên rỉ” cảm thương thống thiết của Nguyên Hồng; giọng buồn thương chua chát, dửng dưng lạnh lùng

mà đầy cảm thông, đằm thắm yêu thương của Nam Cao ” [184, tr 362]

Lê Thị Đức Hạnh nhận xét về lối viết tiểu phẩm của Ngô Tất Tố như

Trang 32

sau: “Lối viết của ông giản dị, tự nhiên Ông nói lí lẽ trực tiếp với cuộc sống,

nhưng không rơi vào công thức và khái niệm trừu tượng khô khan.” “ Nhiều khi Ngô Tất Tố vận dụng cả tục ngữ, ca dao, giai thoại văn học, truyện cổ tích, câu đối, văn tế để đánh vào những cái xấu xa đê hèn một cách tự nhiên

mà sâu cay” [98, tr 165]

Ngoài các nhận định trên, thời gian gần đây (sau năm 2000), cũng có một số luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu, tìm hiểu về ngôn ngữ nghệ thuật của

Ngô Tất Tố Tiêu biểu luận văn “Lời văn nghệ thuật trong tiểu thuyết của Ngô

Tất Tố” của tác giả Vũ Duy Thanh (năm 2006), luận văn “Ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô Tất Tố” của tác giả Bế Hùng Hậu (năm 2010) Luận văn của

Vũ Duy Thanh đã tập trung nghiên cứu về cách thức tổ chức lời văn, các thành phần cơ bản, phương tiện đặc trưng của lời văn nghệ thuật trong tiểu thuyết của nhà văn Luận văn của Bế Hùng Hậu tập trung phân tích một số đặc điểm về ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn như: ngôn ngữ đậm vùng nông Bắc Bộ, ngôn ngữ còn mang dấu vết Nho gia, ngôn ngữ giàu tính chiến đấu

Có thể nói, những ý kiến đánh giá và một số công trình nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của Ngô Tất Tố nêu trên là những gợi ý xác đáng cho chúng tôi khi tiến hành triển khai luận án này

Tiểu kết

1.Tìm hiểu về ngôn ngữ nghệ thuật của tác giả và tác phẩm văn học đã trở thành xu hướng nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam Hướng nghiên cứu này nhằm đánh giá sâu về tác phẩm và tác giả trên chính chất liệu quan trọng của nó - ngôn ngữ Mặt khác, thông qua nghiên cứu sâu về ngôn ngữ nghệ thuật góp phần định hình rõ nét hơn về phong cách nghệ thuật nhà văn

2 Tìm hiểu các công trình nghiên cứu về Ngô Tất Tố chúng tôi nhận thấy các ý kiến đều thống nhất, ca ngợi, đánh giá cao về ngòi bút hiện thực

Trang 33

phê phán sắc sảo, thẫm đẫm tinh thần nhân văn của ông Mặt khác các nhà nghiên cứu cũng phát hiện khá sắc bén về tính linh động, chuyển hóa, nắm bắt nhanh với thời cuộc của Ngô Tất Tố, sự dung hòa tương thích giữa nền văn hóa cũ, mới Chính những phát hiện nghiên cứu này giúp định hướng cho chúng tôi khi tìm hiểu nghệ thuật ngôn từ của Ngô Tất Tố

3.Chúng tôi cũng nhận thấy ở một số bài viết, một số công trình nghiên cứu đã bàn đến một số phương diện nghệ thuật trong sáng tác của Ngô Tất

Tố như: nghệ thuật xây dựng cốt truyện, nghệ thuật trần thuật, nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình Một số luận văn thạc sĩ cũng đã nghiên cứu về lời văn nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô Tất Tố Chúng tôi cho rằng đây cũng là nét riêng, độc đáo tạo nên phong cách nghệ thuật Ngô Tất Tố nên cần được nghiên cứu và tìm hiểu sâu hơn

Trang 34

CHƯƠNG II NHỮNG YẾU TỐ TIỀN ĐỀ VÀ NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT CỦA NGÔ TẤT TỐ

“Xã hội thế nào thì văn nghệ thế ấy”, câu nói ấy của Hồ Chí Minh cho thấy mối quan hệ khăng khít giữa hoàn cảnh xã hội và văn học Xét cho cùng văn học là con đẻ của thời đại Do vậy khi xem xét một dòng văn học, một tác gia văn học, một tác phẩm văn học người ta luôn đặt nó, lý giải nó trong những hoàn cảnh cụ thể Hoàn cảnh đó bao gồm: “ hoàn cảnh lớn” tức là hoàn cảnh lịch sử xã hội, văn hóa chung của thời đại, “ hoàn cảnh nhỏ” là hoàn cảnh cá nhân nhà văn “Hoàn cảnh lớn” thường có tác động đến tư tưởng, tình cảm của nhiều nhà văn Khi tìm hiểu về Ngô Tất Tố chúng tôi cũng đặt sự

nghiệp sáng tác của ông trong mối quan hệ với những hoàn cảnh đó

2.1 Những yếu tố tiền đề

2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử xã hội, văn hóa và văn học

2.1.1.1 Về hoàn cảnh lịch sử xã hội

Đêm 31/8/1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta Từ đó Pháp thiết lập

sự thống trị, khai thác thuộc địa trên toàn đất nước Xã hội Việt Nam biến đổi nhanh chóng về mọi mặt:

Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị trực tiếp ở Đông

Dương Chúng dùng bộ máy quân sự, cảnh sát, nhà tù thủ tiêu mọi quyền dân chủ, đàn áp, khủng bố mọi sự chống đối; dùng chính sách “chia để trị”, chia nước ta thành 3 kỳ với ba chế độ thống trị khác nhau Thực dân Pháp duy trì triều đình phong kiến nhà Nguyễn và giai cấp dịa chủ làm công cụ tay sai để

áp bức về chính trị và bóc lột kinh tế Nhân dân ta mất nước trở thành nô lệ,

bị đàn áp, bóc lột, cuộc sống vô cùng khổ cực

Về kinh tế, thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa Đông Dương

lần thứ nhất (1897 – 1914); khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 – 1929), trong đó Việt Nam là trọng điểm Tư bản Pháp bỏ vốn nhiếu nhất vào nông nghiệp ( lập

Trang 35

các đồn điền cao su, cà phê, chè…), xây dựng ngành giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến; độc quyền ngoại thương Ngân hàng Đông Dương Pháp độc quyền về tài chính, đặt ra hàng trăm thứ thuế, tàn ác nhất là thuế thân; thi hành rộng rãi chính sách cho vay nặng lãi Kết quả là nền kinh tế nước ta có sự phát triển ở mức độ nào đó theo hướng tư bản chủ nghĩa nhưng là nền kinh tế thuộc địa, mất cân đối, phụ thuộc vào Pháp

Sự thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp làm cho xã hội Việt

Nam có những biến đổi sâu sắc Việt Nam từ một xã hội phong kiến trở thành

xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Giai cấp địa chủ đa số là tay sai, chỗ dựa của thực dân Pháp, thực thi các chính sách bóc lột cho chúng Giai cấp nông dân chiếm hơn 90% dân số, bị đế quốc, địa chủ phóng kiến bóc lột, cuộc sống khổ cực nên rất tích cực chống đế quốc, phong kiến Giai cấp tư sản Việt Nam ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2 của thực dân Pháp Một bộ phận tư sản mại bản có quyền lợi gắn với Pháp, trở thành tay sai cho chúng Bộ phận tư sản còn lại, thế lực kinh tế nhỏ bé, bị tư sản nước ngoài chèn ép nên có tinh thần dân tộc, dân chủ, có thể đi với cách mạng Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897 – 1914) Giai cấp công nhân vừa lớn lên đã tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, rất kiên quyết cách mạng và đã nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị độc lập Công nhân Việt Nam đa số xuất thân từ nông dân, bị bần cùng hóa nên có quan hệ gần gũi với nông dân, rất thuận lợi cho liên minh công nông

Xã hội Việt Nam nổi lên hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp; mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến Hai mâu thuẫn này gắn bó, tác động lẫn nhau đòi hỏi đồng thời phải giải quyết Bên cạnh đó một số thành phố công nghiệp ra đời, đô thị, thị trấn mọc lên ở nhiều nơi Những giai cấp, tầng lớp xã hội mới xuất hiện: tư sản, tiểu

tư sản, công nhân, dân nghèo thành thị… Ở nông thôn, nạn đói, nạn sưu thuế trở thành tại họa khủng khiếp đối với dân chúng Người nông dân Việt Nam lầm than, cực khổ, phải chịu hai ách thống trị: thực dân, phong kiến

Trang 36

Ngô Tất Tố sinh ra khi đất nước đã ở trong hoàn cảnh lịch sử như vậy Tuổi thơ của ông cũng trải qua những năm tháng đói rách, nghèo khổ Ông lớn lên phải chứng kiến tất cả cảnh khốn cùng của người dân quê ông Ông cũng thấu hiểu nguyên nhân gây nên những nỗi thống khổ đó là do sự đàn áp bóc lột của thực dân Pháp và tầng lớp phong kiến thống trị Đó là những nguồn tư liệu quý để ông đưa vào các tác phẩm của mình sau này

2.1.1.2 Về tư tưởng văn hóa

Trước khi Pháp đô hộ, Việt Nam tồn tại và phát triển nền văn hóa nông nghiệp với những nét đặc trưng của văn hóa phương Đông Đó là nền văn hóa lấy gia tộc làm gốc; lấy tình cảm làm trọng; trông vào con cháu duy trì nòi giống và nối nghiệp tổ tiên; coi trọng tính trường tồn; ưa chuộng hòa bình, an

cư lạc nghiệp

Từ đầu thế kỉ XX, văn hóa Việt Nam dần dần thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa phương Đông (văn hóa Trung Hoa), bắt đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây (chủ yếu văn hóa Pháp) Luồng văn hóa mới thông qua tầng lớp trí thức Tây học ngày càng thấm sâu vào ý thức, tâm hồn của dân chúng Với

cách tư duy mới, người Việt Nam đã tin “hoàn toàn có thể học hỏi để nắm bắt

tư duy Tây Âu, một khi có ý mệnh về văn hóa và văn học, nghệ thuật Pháp và Tây Âu, người mình hoàn toàn có đủ năng lực để sáng tạo được một nền văn học và một nền văn hóa dân tộc hiện đại” [187, tr 76] Chữ Quốc ngữ đã dần

thay thế chữ Hán, chữ Nôm Chữ Quốc ngữ thành quốc tự - chữ viết phổ thông của dân tộc Việc du nhập thêm các chữ phiên âm tiếng nước ngoài để diễn tả những khái niệm mới đã làm phong phú thêm tiếng Việt Kho tàng chữ Quốc ngữ ngày càng phong phú hơn bởi các trước tác của lực lượng nghiên cứu và sáng tác mới những thập niên đầu thế kỉ XX Người Việt coi:

“ Chữ Quốc ngữ là hồn của nước

Phải đem ra tính trước dân ta Sách Âu Mỹ, sách China Chữ kia chữ nọ dịch ra cho tường”

Trang 37

Nhờ chữ Quốc ngữ, Việt Nam đã xây dựng một nền văn chương đẹp đẽ, độc đáo bằng tiếng mẹ đẻ gồm các thể loại báo chí, văn học (thơ mới, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch nói…)

Hệ giá trị thẩm mĩ mới dần thay thế giá trị thẩm mĩ cũ với tư tưởng giải phóng cá nhân mạnh mẽ Trước đây quan niệm về cái đẹp là con người phục tùng, phục tùng gia đình, phục tùng xã hội với những giáo lý đè nặng, với giá trị đạo đức phong kiến Đến thời này, quan niệm đó thay đổi: coi trọng con người bản năng, con người tự nhiên, tự do, con người cá thể Cá nhân từ chỗ

bị chìm trong quan hệ gia tộc, làng xóm đã trở thành cá thể độc lập, là bản vị của xã hội có nghĩa vụ và lợi ích độc lập Cách nhìn nhận phong tục tập quán

đã khác trước Một mặt tôn vinh bản sắc tinh tế của văn hóa dân tộc qua các lễ hội, sinh hoạt gia đình, tình làng nghĩa xóm, đạo thầy trò, nghĩa cha con, vợ chồng, đề cao sự khoáng đạt bao dung, thủy chung nhân hậu của văn hóa truyền thống Mặt khác phê phán nhẹ nhàng những hủ tục lạc hậu Vừa thấy cái hay, cái mạnh của Nho giáo, “ giúp con người tu dưỡng đạo đức cá nhân”, vừa thấy cái yếu “ dễ nhu nhược”…

Có thể nói Ngô Tất Tố sinh ra, lớn lên và dựng nghiệp trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của xã hội và đất nước những năm đầu thế kỉ trước Hoàn cảnh đó tác động mạnh đến nhà văn Ngô Tất Tố nhạy cảm trước mọi biến động xã hội, không ngần ngại phơi trần những vấn đề gai góc, những xung đột nổi cộm trong đời sống tinh thần, văn hóa của xã hội Việt Nam nửa đầu

thế kỉ trước

2.1.1.3 Về văn học nghệ thuật

Đây cũng là giai đoạn sôi động nhất trong lịch sử văn học Việt Nam Văn học chuyển mình theo hướng hiện đại hóa Hiện đại hóa là yêu cầu khách quan của thời đại, nhu cầu tự thân của nền văn học đáp ứng yêu cầu mới của xã hội Điều đó được chứng minh qua các vấn đề sau:

Những cách tân về thể loại: trước đây chủ yếu là thơ, với các thể thơ

Nôm Đường luật… Nay là sự ra đời của nhiều thể loại mới: truyện ngắn, kịch

Trang 38

nói, thơ mới (thơ tự do), đặc biệt là sự ra đời của tiểu thuyết, phóng sự, phê

bình văn học… Báo chí Tiếng Việt xuất hiện, tiêu biểu là các báo: Gia Định

báo ( 1865 – 1910), Nam Phong tạp chí (1917), Đông Dương tạp chí ( 1913), Trung Bắc tân văn (1913), Công luận báo (1916), Thực nghiệp dân báo

(1920), Nam Kỳ kinh tế ( 1920), Thanh Niên (1925), Tiếng Dân (1927)…Các

tạp chí, nhà xuất bản sách Tiếng Việt ra đời: Tạp chí Hữu Thanh, Nam Đồng Thư xã, Cường học thư xã, Quan Hải tùng thư… Các tác phẩm dịch thuật ra đời: dịch truyện Pháp, Trung Quốc, từ chữ Nôm ra chữ Quốc ngữ… Sự ra đời, xuất hiện của báo chí và các thể loại văn học mới đã ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của văn học giai đoạn này Nhiều nhà văn thành công từ làm báo, trong đó có Ngô Tất Tố

Lực lượng sáng tác tân học đã mô phỏng các tác phẩm nước ngoài để sáng tác văn học hiện đại Từ các bài tường thuật, phóng sự, du kí, kể chuyện,

họ đã viết truyện ngắn, tiểu thuyết… đến sự bùng nổ của dòng thơ mới với các nhà thơ nổi tiếng: Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Tú Mỡ… Bên cạnh đó vẫn có lực lượng sáng tác vốn là các nhà Nho, chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Đông, trong đó có Ngô Tất Tố Họ cũng có những đóng góp riêng cho sự phát triển của văn học thời kì này

Sự thay đổi về quan niệm văn chương: thời kì trung đại nhiệm vụ chính

của văn học để truyền bá đạo lý, lẽ sống “ văn dĩ tải đạo” Nay văn học như một hoạt động nghệ thuật đi tìm và phản ánh cái đẹp Từ văn chương răn đời sang văn chương hiểu đời Từ mang nặng đạo lý sang phản ánh mọi mặt đời sống với khuynh hướng sáng tác hiện đại đáp ứng nhu cầu thị hiếu của đông đảo độc giả Văn học thời kì này tách ra hoạt động khác không hòa lẫn văn

sử triết như trước Văn học thoát khỏi quan niệm thẩm mĩ của văn học trung đại: tính chất ước lệ, quy phạm chặt chẽ, hoài cổ

Quá trình hiện đại hóa văn học cũng dẫn tới sự thay đổi kiểu nhà văn: từ các nhà nho sang kiểu nhà văn nghệ sĩ mang tính chuyên nghiệp Công chúng thưởng thức văn học rộng rãi hơn: trước đây là các nho sĩ (người có học trong

Trang 39

xã hội phong kiến), nay là thị dân (dân chúng thành thị) Sự tiếp xúc văn hóa phương Tây mang đến mẫu hình cho văn học: tinh thần thực dụng đã làm rạn

vỡ nền tảng ý thức hệ phật giáo, tấn công một loạt yếu tố thủ cựu Nho giáo: giáo điều, quay lưng cực đoan với lợi ích vật chất, coi trọng đời sống tinh thần

Hiện đại hóa nội dung văn học: Hiện đại hóa về nội dung văn học bao

gồm tư tưởng, tình cảm, cách nhìn, cách nghĩ cách cảm về con người, về thời đại Nội dung tư tưởng tạo ra dấu ấn riêng của văn học thời kì này so với thời trước đó

Chẳng hạn nội dung yêu nước trong văn học trung đại và văn học thời kì này xuất hiện những quan niệm hoàn toàn khác nhau Trong văn học trung đại yêu nước gắn với trung quân, chủ nghĩa tôn quân trở thành tư tưởng chung của thời đại Còn văn học thời kì này yêu nước gắn liền với dân …Hình tượng con người trong mỗi giai đoạn văn học được xây dựng cũng có sự khác biệt Văn học trung đại đề cao con người lý trí, con người bổn phận ( bổn phận phải chuẩn mực với Nho giáo, thuần phong mĩ tục của dân tộc), sống là phải làm tròn bổn phận Nhân vật nàng Kiều trong truyện Kiều của Nguyễn Du là hình ảnh tiêu biểu cho lẽ sống đó Đến văn học thời kì đầu thế kỉ XX đến

1945, hình ảnh con người trong văn học mang giá trị thẩm mĩ, tư tưởng mới

Đó là con người giải phóng với cái tôi cá nhân được đề cao, con người được

tự do bày tỏ quan điểm của mình, cảm xúc riêng tư, con người hướng tới tự

nhiên, bản ngã Thơ Mới và tiểu thuyết của nhóm Tự lực văn đoàn thể hiện rõ

chân dung con người trong thời đại mới

Mặt khác sự ra đời của hai trào lưu văn học hiện thực và lãng mạn thời

kì này tạo nên sự đột phá mạnh mẽ cho văn học, đặc biệt là sự phong phú đa dạng về nội dung phản ánh Các nhà văn lãng mạn tập trung chú ý vào thế giới bên trong, những khát vọng tinh thần của con người thì các nhà văn hiện thực miêu tả đời sống con người với tất cả mọi biểu hiện phong phú, phức tạp của nó Đối với nhà văn hiện thực mọi nguyên lý giáo điều đều được xem xét

Trang 40

lại, mọi khuôn khổ đều rạn nứt, những luật lệ, quy phạm cứng nhắc, những ước lệ sáo mòn đều bị phá sản trước sự thật phong phú sinh động, muôn màu, muôn vẻ của đời sống Chủ nghĩa hiện thực tái hiện đời sống như đúng bản chất của nó Đặc biệt thời kì Mặt trận dân chủ tạo cơ hội thuận lợi để trào lưu văn học hiện thực phê phán nở rộ thành công với những cây bút già dặn như:

Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố Đó là thời kì ( 1936- 1939) nổ

ra cuộc tranh luận lớn giữa hai phái “ nghệ thuật vị nghệ thuật’’ và “ nghệ thuật vị nhân sinh” Cuộc tranh luận đã mang lại thắng lợi cho phái nghệ thuật vị nhân sinh Trong thời kì Mặt trận dân chủ, Đảng rất chú trọng vấn đề

nông dân Năm 1936, tác phẩm “ Vấn đề dân cày” của Qua Ninh, Vân Đình ra

đời đánh dấu một sự “ chuyển mình” về đề tài sáng tác Tác phẩm có ảnh hưởng nhất định đến các nhà văn đương thời, trong đó có Ngô Tất Tố Ngoài

ra, báo chí của Đảng và các báo tiến bộ cũng rất chú ý vấn đề nông dân, nhất

là vấn đề sưu thuế và nạn cường hào tham nhũng Các nhà văn hiện thực phê phán chủ trương: văn học phải phản ánh sự thật, đó là sự thật trái chiều của đời sống, sự thật ngang trái bất công Văn học hướng tới những số phận con người nghèo khổ, bị áp bức bóc lột Văn học góp phần làm thay đổi xã hội: xóa nỗi bất công, bênh vực, đề cao những con người khốn khổ Văn học phản ánh đúng bản chất của đời sống

Đổi mới hình thức nghệ thuật: Văn học thời kì này có sự đổi mới mạnh

mẽ về hình thức nghệ thuật với sự ra đời của nhiều thể loại văn học như: tiểu thuyết, thơ tự do… đã làm nên bức tranh đẹp với nhiều màu sắc đa dạng

phong phú về bút pháp, hình thức thể hiện Về ngôn ngữ văn học: Từ những

tác phẩm văn học mang phong cách cổ điển, với tính ước lệ, quy phạm, ngôn ngữ, từ ngôn ngữ mang tính ước lệ, quy phạm chuyển sang ngôn ngữ đa dạng, gai góc như chính đời sống Đổi mới hình thức nghệ thuật tác phẩm văn học bao gồm cả việc phá bỏ ước lệ tượng trưng, bỏ dần lối văn biền ngẫu cũng như thói quen sử dụng điển tích, điển cố của văn học trung đại, bắt đầu tiếp cận hiện thực với xu hướng điển hình hóa nhân vật

Ngày đăng: 16/11/2020, 15:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w