Thuận lợi của giáo viên trong việc sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử địa phương cho học sinh ở trường trung học phổ thông .... Khó khăn của giáo viên trong việc s
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả các thầy cô trong tổ bộ môn Phương pháp dạy học bộ môn lịch sử, cũng như các thầy cô dạy bộ môn của trường Đại học Giáo dục đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập cũng như trong quá trình nghiên cứu
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô giáo GS
TS Nguyễn Thị Côi - người đã tận tình, chu đáo đầy trách nhiệm giúp đỡ, hướng
dẫn tác giả hoàn thành luận văn này
Cảm ơn tập thể giáo viên và học sinh các trường trung học phổ thông Đinh Tiên Hoàng, Nho Quan A, Gia Viễn C và đặc biệt là trường trung học phổ thông Gia Viễn B – tỉnh Ninh Bình, đã tạo điều kiện cho tác giả điều tra thực tế và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong việc thực nghiệm sư phạm
Trong quá trình thực hiện đề tài, không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, 20 tháng 7 năm 2020
Tác giả
Hoàng Thị Thủy
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA CỐ ĐÔ HOA LƯ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG Ở LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH NINH BÌNH – LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 15
1.1 Cơ sở lí luận 15
1.1.1 Quan niệm về sử dụng di sản văn hóa trong dạy học lịch sử địa phương 15
1.1.2 Các loại di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư cần khai thác sử dụng trong dạy học lịch sử địa phương ở lớp 10 trung học phổ thông tỉnh Ninh Bình 20
1.1.3 Cơ sở xuất phát 26
1.1.4 Giá trị của di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư 33
1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử địa phương 36
1.2 Cơ sở thực tiễn 40
1.2.1 Khái quát về thực trạng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư 40
1.2.2 Thực trạng việc sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử địa phương tại tỉnh Ninh Bình 42
1.2.3 Nhận xét chung 54
Tiểu kết chương 1 55
CHƯƠNG 2 HÌNH THỨC, BIỆN PHÁP SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA CỐ ĐÔ HOA LƯ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG Ở LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH NINH BÌNH 56
2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của lịch sử địa phương trong chương trình lịch sử lớp 10 trung học phổ thông tỉnh Ninh Bình 56
Trang 52.1.1 Vị trí 56
2.1.2 Mục tiêu 56
2.1.3 Nội dung cơ bản 59
2.2 Yêu cầu khi lựa chọn hình thức, biện pháp sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử địa phương lớp 10 trung học phổ thông tỉnh Ninh Bình 60
2.2.1 Lựa chọn hình thức, biện pháp sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư phải đáp ứng được mục tiêu dạy học lịch sử địa phương nói riêng, môn lịch sử nói chung 60
2.2.2 Hình thức, biện pháp lựa chọn phải phát huy tính tích cực học tập của học sinh 60
2.2.3 Lựa chọn hình thức, biện pháp phải vừa sức học sinh 61
2.2.4 Lựa chọn hình thức, biện pháp phải phù hợp với điều kiện của nhà trường và địa phương 61
2.3 Hình thức, biện pháp sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử địa phương 62
2.3.1 Tổ chức hiệu quả các hoạt động dạy học nội khóa 62
2.3.2 Tăng cường sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư để tổ chức các hoạt động ngoại khóa 85
2.3.3 Sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lịch sử địa phương của học sinh 94
2.4 Thực nghiệm sư phạm 101
2.4.1 Mục đích của thực nghiệm 102
2.4.2 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 102
2.4.3 Tiến trình thực nghiệm 103
2.4.4 Kết quả thực nghiệm 103
Tiểu kết chương 2 109
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Danh mục các loại di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư 24
Bảng 1.2 Mức độ thích môn Lịch sử của học sinh 43
Bảng 1.3 Mức độ quan trọng của việc sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư 43
trong dạy học lịch sử địa phương ở Ninh Bình 43
Bảng 1.4 Ý nghĩa của việc sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử địa phương ở Ninh Bình 43
Bảng 1.5 Các nguồn tài liệu giáo viên khai thác trong dạy học lịch sử địa phương 44 Bảng 1.6 Các loại di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư giáo viên cần khai thác trong dạy học lịch sử địa phương 45
Bảng 1.7 Mức độ giáo viên tổ chức các hình thức dạy học lịch sử địa phương 45
Bảng 1.8 Các biện pháp sư phạm giáo viên sử dụng trong bài học nội khóa 45
Bảng 1.9 Các biện pháp sư phạm giáo viên sử dụng trong bài học tại di sản 46
Bảng 1.10 Các biện pháp sư phạm giáo viên sử dụng trong hoạt động ngoại khóa 46 Bảng 1.11 Việc sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 47
Bảng 1.12 Thuận lợi của giáo viên trong việc sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử địa phương cho học sinh ở trường trung học phổ thông 48
Bảng 1.13 Khó khăn của giáo viên trong việc sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử địa phương cho học sinh ở trường trung học phổ thông 48
Bảng 1.14 Các mức độ thích môn Lịch sử của học sinh 49
Bảng 1.15 Quan niệm của học sinh về di tích đặc trưng nhất của tỉnh Ninh Bình 50
Bảng 1.16 Hiểu biết của học sinh về kiến thức lịch sử địa phương 50
Bảng 1.17 Mức độ quan tâm của học sinh đến di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong học tập lịch sử địa phương 51
Bảng 1.18 Nguồn tài liệu học sinh sử dụng trong việc học tập lịch sử địa phương 51 Bảng 1.19 Mức độ học sinh tham gia các hình thức dạy học lịch sử địa phương 52
Bảng 1.20 Các hình thức học sinh được tham gia kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lịch sử địa phương 52
Trang 8Bảng 1.21 Thuận lợi của học sinh khi giáo viên sử dụng di sản văn hóa trong dạy
học lịch sử địa phương 53
Bảng 1.22 Khó khăn của học sinh khi khi giáo viên sử dụng di sản văn hóa trong dạy học lịch sử địa phương 54
Bảng 2.1 Liệt kê một số di sản văn hóa sử dụng trong bài học nội khóa 63
Bảng 2.2 Phân công nhiệm vụ của từng thành viên trong nhóm dự án 82
Bảng 2.3 Mẫu phiếu kiểm (dành cho mỗi học sinh) 97
Bảng 2.4 Mẫu thang xếp hạng học sinh 98
Bảng 2.5 Thang đo đánh giá bài báo cáo dành cho nhóm 99
Bảng 2.6 Thang đo đánh giá làm việc nhóm của học sinh 99
Bảng 2.7 Mẫu học sinh tự đánh giá 100
Bảng 2.8 Phiếu học sinh tự đánh giá 101
Bảng 2.9 Thống kê điểm số bài kiểm tra lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 106
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH
Sơ đồ 1.1 Phân loại di sản văn hóa 16
Biểu đồ 2.1 So sánh kết quả thực nghiệm 106
Hình 2.1 Giáo viên tập trung học sinh trước cổng đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng 87
Hình 2.2 Đại diện nhóm 1 đóng vai hướng dẫn viên du lịch giới thiệu Ngọ môn quan (với 4 chữ “Bắc môn tỏa thược”) tại Cổng vào đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng 88
Hình 2.3 Đại diện nhóm 2 đóng vai hướng dẫn viên du lịch giới thiệu Long sàng trước Bái đường cho cả lớp và khách du lịch nước ngoài tại Cố đô Hoa Lư 88
Hình 2.5 Học sinh tham gia tìm hiểu Long sàng ở Nghi môn ngoại - Bảo vật quốc gia tại Đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng 104
Hình 2.6 Học sinh tích cực tham gia hoạt động nhóm phần luyện tập 104
“Ghép tranh di sản theo nhóm” 105
Hình 2.4 Các nhóm học sinh thi tài năng 162
Trang 10Mặt khác, trong bối cảnh các nước tập trung vào việc hội nhập, phát triển kinh
tế hiện nay thì những giá trị văn hóa đang ngày dần bị mai một đi và không còn giữ nguyên được bản chất ban đầu vốn có của nó Trong Công ước Di sản Thế giới được Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) thông qua ngày 21/11/1972 đã nhấn mạnh rằng di sản văn hóa đang ngày càng bị đe dọa hủy diệt không chỉ bởi các nguyên nhân truyền thống mà còn bởi các điều kiện kinh
tế và xã hội làm trầm trọng thêm tình hình với những hiện tượng thậm chí còn ghê gớm hơn cả sự phá hủy
Đứng trước xu thế này, trong công văn số 73/HD-BGDĐT-BVHTTDL (năm 2013), Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc hướng dẫn sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông, trung tâm GDTX nhằm góp phần giáo dục toàn diện học sinh, giữ gìn và phát huy giá trị của
di sản văn hóa vì lợi ích của toàn xã hội và truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Trong đó, Bộ đã chỉ rõ việc sử dụng nội dung dạy học di sản văn hóa vào các môn học trong chương trình giáo dục phổ thông cả nội khóa và ngoại khóa Cho đến nay, giáo dục di sản luôn là nội dung được Bộ giáo dục và đào tạo quan tâm chỉ đạo trong nhiệm vụ trọng tâm của các năm học ở trường phổ thông Đây cũng là nội dung không thể thiếu trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (năm 2018) sẽ dần được áp dụng trong ngành giáo dục ở những năm tiếp theo 1.2 Trong số các bộ môn mà học sinh được học ở trường trung học phổ thông
Trang 11thì lịch sử có thể được coi là môn học có ưu thế và có nhiều ý nghĩa quan trọng trong việc sử dụng di sản văn hóa, đặc biệt là các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở địa phương Bởi vì, giáo dục lịch sử là một phương tiện hiệu quả để giáo dục lòng yêu nước, làm cho mỗi con người có ý thức trách nhiệm đối với sự tồn tại và phát triển xã hội, với chính quê hương của mình Để từ đó, mỗi người cần phải có hành động thiết thực với lịch sử, văn hóa nơi mình sinh sống và cao hơn cả là quyết tâm bảo vệ được những giá trị linh thiêng đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh
rằng: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của
ta” [38; tr.38] Bởi vậy, trong cuộc đời hoạt động của mình, Người đã khơi dậy lòng
yêu nước trong mỗi người dân Việt Nam, coi đó là “chìa khóa vàng” để xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tổ chức, lãnh đạo họ thực hiện mục tiêu giành độc lập, tự do cho Tổ quốc Người viết trên báo “Việt Nam độc lập” (số ra ngày
1/2/1942): “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như
một thì nước ta độc lập, tự do Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị người ngoài xâm lấn” [28]
Không thể phủ nhận được rằng lịch sử địa phương là một bộ phận quan trọng góp phần tạo nên lịch sử dân tộc, cho nên hiểu biết về lịch sử địa phương sẽ góp phần hiểu sâu sắc hơn về lịch sử dân tộc Bởi vậy, nếu giáo dục địa phương hiệu quả sẽ bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước, ý thức trách nhiệm đối với xã hội
Sử dụng di sản văn hóa vào dạy học lịch sử nói chung và lịch sử địa phương nói riêng, đặc biệt là các di sản văn hóa ở nơi HS đang sinh sống sẽ khiến cho bài giảng lịch sử được sinh động, gần gũi và lôi cuốn các em hơn
1.3 Tuy nhiên, hiện nay có một thực tế đáng buồn là học sinh ngày càng xa rời với các môn khoa học xã hội, đặc biệt là bộ môn lịch sử Việc học sinh hiểu biết lịch sử đất nước còn rất hạn chế, chứ chưa nói gì đến việc hiểu được lịch sử của địa phương mình Thực tế kết quả học sinh thi THPT quốc gia môn Lịch sử những năm gần đây đã phần nào chứng minh điều đó
Mặt khác, việc thực hiện công tác giảng dạy lịch sử địa phương ở các trường hiện nay còn gặp nhiều khó khăn và hiệu quả đạt được chưa cao do xuất phát từ nhiều phía như hạn chế về việc khai thác nguồn tư liệu địa phương, sự thiếu quyết tâm đổi mới phương pháp và hình thức dạy học của giáo viên
Trang 121.4 Tỉnh Ninh Bình được biết đến từ trong lịch sử là một vùng đất “địa linh nhân kiệt” Nơi đây còn được xem là địa phương “ngàn năm văn vật” với những di tích lịch sử - văn hóa đã trở thành di sản văn hóa nổi tiếng Trong đó, di tích lịch sử
- văn hóa Cố đô Hoa Lư là một di tích cấp quốc gia đặc biệt (là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia – Theo Luật Di sản văn hóa sửa đổi năm 2009) gắn liền với một giai đoạn lịch sử đặc biệt của dân tộc ở giai đoạn đầu của thời kì phong kiến độc lập, tự chủ (gồm các triều đại kế tiếp nhau Đinh, Tiền Lê, Lý từ thế kỉ X đến thế kỉ XI) Bởi vậy, sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư là một giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học nội dung giáo dục địa phương nói riêng và dạy học môn Lịch sử nói chung
1.5 Mặt khác, di sản văn hóa với ý nghĩa và tầm quan trọng của nó vẫn tiếp tục được chú trọng trong mạch nội dung của chương trình giáo dục phổ thông mới Vấn đề đặt ra là cần phải xác định được những hướng đi thích hợp, trên cơ sở các giải pháp hữu hiệu đã thực hiện ở chương trình giáo dục phổ thông hiện hành để có thể đạt được hiệu quả trong sử dụng di sản khi thực hiện chương trình phổ thông sắp tới
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Sử dụng di sản văn
hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử địa phương ở lớp 10 trung học phổ thông tỉnh Ninh Bình” làm đề tài nghiên cứu luận văn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sử dụng di tích lịch sử - văn hóa, một loại phương tiện trực quan vô giá, một nguồn tài liệu học tập quý hiếm trong dạy học các môn khoa học xã hội nói chung, môn Lịch sử nói riêng là một trong những vấn đề thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu từ rất sớm Trên cơ sở tìm hiểu có tính kế thừa các thành tựu đó, chúng tôi sẽ vận dụng phù hợp để giải quyết những vấn đề nghiên cứu trong luận văn của mình
2.1 Tài liệu nước ngoài
- Vấn đề sử dụng phương tiện trực quan và tài liệu học tập nói chung, di sản
văn hóa trong đó có di tích lịch sử - văn hóa nói riêng từ lâu đã được các nhà lý luận dạy học đề cập đến
Trang 13Trong phần 3 cuốn: “Phương pháp dạy học lịch sử ở các trường phổ thông”,
tập 2, NXB Mátxcơva, 1972, người dịch: Hoàng Trung, hiệu đính: Phan Ngọc Liên (Lưu trữ trong Thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội), tác giả AA.Vaghin đã khẳng định nguồn tài liệu trực quan chiếm vai trò quan trọng trong việc dạy học lịch sử địa
phương ở trường phổ thông: “Bài học dựa trên cơ sở tài liệu lịch sử địa phương
thường được tiến hành bằng phương pháp trực quan (bằng cách tham quan viện bảo tàng, các đài tưởng niệm và các nơi có di tích lịch sử)” [64; tr.297]
N.G.Đairi trong “Chuẩn bị giờ học Lịch sử như thế nào?”, NXB Giáo dục,
1973 đã nhìn nhận tài liệu trực quan như là một nguồn nhận thức khi ông cho rằng:
“Tính cụ thể và hình ảnh của sự kiện có một giá trị lớn lao, bởi vì chúng cho phép
hình dung lại quá khứ” [26; tr.25] Tác giả đặc biệt chú ý đến tầm quan trọng của
việc gắn dạy học bộ môn với “thực tế trực tiếp bao quanh học sinh” Tài liệu này
góp phần định hướng, giúp tìm ra các biện pháp sử dụng DSVH trong bài học lịch
sử nội khóa
Trong giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT”, tập 2, 1978,
Hoàng Trung dịch, lưu trữ tại Đại học Sư phạm Hà Nội, N.G.Đairi và các tác giả A.T.Kinkunkin, A.G.Kôlôscốp, P.Karốpkin, P.C.Lâybengrúp đề cập đến vai trò, ý nghĩa, cách phân loại, phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch
sử và hình thức tổ chức dạy học lịch sử, các loại bài học lịch sử, trong đó có bài học tại nơi sự kiện lịch sử đã xảy ra
Tác giả I Ia.Lecne (1982) trong: “Phát triển tư duy của học sinh trong dạy
học lịch sử", NXB Giáo dục Mátxcơva, Dịch: Trần Kim Văn, Đinh Ngọc Bảo, Phan
Huy Khánh, Nguyễn Thị Côi, Hiệu đính: Nguyễn Khoa, lưu trữ tại Đại học Sư phạm Hà Nội, đã nhấn mạnh sử dụng các loại đồ dùng trực quan trong dạy học lịch
sử (như: hiện vật, tranh ảnh, tài liệu văn kiện hoặc di tích lịch sử ) là cơ sở quan trọng giúp HS tái hiện, nhận thức chính xác lịch sử khách quan, tránh hiện đại hóa lịch sử và tạo cảm hứng đặc biệt cho HS
Tác giả M.N.Sácđacốp trong tác phẩm: “Tư duy học sinh”, NXB Giáo dục,
1982 khẳng định trong dạy học cần tăng cường nhận thức trực quan cho học sinh
bằng cách: “Có thể thực hiện nhiệm vụ này bằng cách tổ chức cho học sinh tri giác
các di tích lịch sử và các di sản văn hóa” [48; tr.53] Như vậy, ngay từ rất sớm, các
Trang 14nhà giáo dục học cũng đã chỉ ra vai trò quan trọng của các di tích lịch sử trong việc giáo dục lịch sử Được quan sát trực tiếp các di sản nói chung, di tích nổi tiếng cũng
là một cách thiết thực của việc vận dụng nguyên tắc trực quan trong dạy học
Sách “Giáo dục học, tập 1” của VI.Savin, NXB Giáo dục, 1983 đã đề cập đến
nhiều vấn đề chung của giáo dục học Trong đó, ông đặc biệt coi tham quan là một hình thức dạy học quan trọng trong các hình thức tổ chức dạy học Tài liệu này của ông có ý nghĩa rất lớn đối với giáo viên trong việc lập kế hoạch tham quan khi ông nhấn mạnh trước khi tổ chức tham quan cần phải xác định xem mình sẽ nghiên cứu những chủ đề gì, cần vạch ra các nhiệm vụ gì cho buổi tham quan Đó là những tư liệu quý giá có ý nghĩa gợi mở giúp cho chúng tôi xác định các hình thức và biện pháp sư phạm khi sử dụng di sản văn hóa trong dạy học lịch sử địa phương
Trong cuốn “Lý luận dạy học và đời sống”, NXB Giáo dục, 1985, tác giả
LV.Dancôp đã chỉ rõ việc giáo dục trong nhà trường cần gắn bó với thực tiễn sinh động của cuộc sống như các hoạt động thực nghiệm, thực tế, tham quan Qua các
hoạt động này giúp học sinh “cảm thấy hài lòng vì lao động trí tuệ căng thẳng, sung
sướng vì hoàn thành được những bài tập khó, dường như các em đang tiến về phía một cái gì mới mẻ mà mình phải nhận ra” [22; tr.95]
James H Stronge (2013) trong “Những phẩm chất của người giáo viên hiệu
quả”, NXB Giáo dục Việt Nam, (người dịch: Lê Văn Canh) đã có những gợi ý cho
người giáo viên trong việc tổ chức đa dạng các hoạt động dạy học như học sinh được tổ chức tranh luận, lập hồ sơ dữ liệu lịch sử, tham quan bảo tàng, tăng cường hoạt động dựa vào Internet…
- Vấn đề nghiên cứu về di sản văn hóa luôn nhận được sự quan tâm của các tác giả ở nhiều nước
Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu đã khai thác khía cạnh di sản văn hóa trước những thách thức của thế giới toàn cầu
hóa Helaine Silverman và D.Ruggles Fairchild (2007) trong cuốn: “Cultural
Heritage and Human Rights” (Di sản văn hóa và nhân quyền), NXB Springer, New
York đã đề cập đến một khía cạnh chính trị sâu sắc của bảo tồn và quản lý di sản vì
nó liên quan đến quyền con người Các tác giả khẳng định rằng bảo vệ di sản là cần thiết cho việc bảo tồn bản sắc văn hóa Việc trưng bày các di tích có thể là một chiến lược để khẳng định bản sắc thiểu số trước áp lực của đa số
Trang 15Peter F.Biehl; Douglas C.Comer; Christopher Prescott và Hilary A.Soderland
trong cuốn sách xuất bản năm 2015: “Identity and Heritage – Contemporary
Challenges in a Globalized World” (Bản sắc và Di sản – Những thách thức đương
đại trong một thế giới toàn cầu hóa), NXB Springer, New York đã nhấn mạnh di sản văn hóa là một khái niệm phổ biến, đặc biệt còn đề cập đến khái niệm di sản xuyên quốc gia và quan tâm đến di sản thế giới ở những địa điểm xung đột hiện nay như cuộc chiến đấu chống khủng bố đã ảnh hưởng như thế nào đến di sản ở Pakistan
2.2 Tài liệu trong nước
- Các công trình nghiên cứu về giáo dục học, lý luận dạy học đã đề cập đến
các vấn đề sử dụng đồ dùng trực quan nói chung, di sản văn hóa nói riêng trong dạy học
Giáo trình “Giáo dục học, tập 1”, NXB Giáo dục, 1987 của các tác giả Hà
Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt đã nhận định đồ dùng trực quan nếu được sử dụng khéo léo sẽ giúp cho học sinh dễ hiểu bài, nhớ lâu kiến thức, phát triển năng lực tập trung, óc quan sát và sự tò mò
Công trình “Những vấn đề cơ bản giáo dục hiện đại”, NXB Giáo dục, 1998
của tác giả Thái Duy Tuyên đã khẳng định dạy học phải buộc học sinh động não, tìm tòi trước những tình huống cuộc sống cụ thể Tác giả còn chỉ rõ vai trò, phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học và nhấn mạnh sự đa dạng của các hình thức tổ chức dạy học
Đặng Thành Hưng trong cuốn: “Dạy học hiện đại – Lí luận, biện pháp, kĩ
thuật”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002 đã chỉ rõ bài học vừa được tiến hành ở
trên lớp vừa có thể tiến hành qua các giờ học ngoài lớp như học tham quan, học thí nghiệm – thực hành, học xêmina ở thực địa
Trong giáo trình “Lí luận dạy học”, NXB Giáo dục, 2002 của Nguyễn Văn Hộ
có đề cập đến các hình thức dạy học như: hình thức tự học ở nhà, hình thức tham quan, hình thức thảo luận xêmina, hình thức dạy học theo nhóm, hình thức hoạt động ngoại khóa trong dạy học Ở mỗi hình thức, tác giả đề cập đến những đặc điểm của từng hình thức, đặc biệt nhấn mạnh phần chuẩn bị của giáo viên và học sinh cũng như quy trình thực hiện
Trang 16Các giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử”, NXB Giáo dục, xuất bản năm
1976 (tập 1), 1980 (tập 2), cuốn giáo trình xuất bản năm 1992 sửa chữa, bổ sung, tái bản những năm sau đó do Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị chủ biên Đặc biệt là giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” của Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi do NXB Đại học Sư phạm xuất bản năm 2002, tái bản có sửa chữa bổ sung năm 2009 cho đến nay đã đề cập đến nhiều vấn đề chung về phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông Trong đó, phần hệ thống phương pháp dạy học đề cập đến phương pháp sử dụng trực quan nói chung, di tích lịch sử nói riêng và các tài liệu học tập Ở phần các hình thức tổ chức dạy học đề cập đến bài học tại thực địa (di tích lịch sử), các hình thức ngoại khóa như tham quan di tích, kể chuyện, đọc sách… Đây là nguồn tài liệu quý báu định hướng chúng tôi đề xuất các hình thức, biện pháp sử dụng di sản văn hóa trong dạy học lịch sử nói chung, lịch sử địa phương nói riêng ở tỉnh Ninh Bình
Vũ Quang Hiển, Hoàng Thanh Tú trong giáo trình: “Phương pháp dạy môn
lịch sử ở trường trung học phổ thông”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014 đã
dành cả một chương nói về các hình thức tổ chức dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông (Phần III Chương 6) bao gồm dạy học lịch sử trên lớp, dạy học lịch sử ngoài lớp và hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử Trong đó, các tác giả nêu
rõ tiến trình thực hiện bài học lịch sử trên lớp, các hình thức dạy học lịch sử ngoài lớp và ngoại khóa, phân tích rõ vị trí, ý nghĩa cũng như ưu, nhược điểm của một số hình thức dạy học
Trong cuốn “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở
trường phổ thông”, NXB Đại học sư phạm, 2016 của Nguyễn Thị Côi đã đề cập đến
các hình thức tổ chức dạy học trong môn lịch sử Theo đó, ngoài tiến hành dạy học trên lớp là chủ yếu thì để nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử cần tăng cường kết hợp các hình thức khác như tiến hành bài học tại thực địa, tổ chức tham quan học tập ở nhà bảo tàng, nhà truyền thống, di tích lịch sử; tổ chức hoạt động ngoại khóa, thực hành…
Trong cuốn “Dạy học phát triển năng lực môn Lịch sử trung học phổ thông”,
NXB Đại học Sư phạm, 2018 của Nghiêm Đình Vỳ (Tổng chủ biên), Trần Thị Vinh (Chủ biên), Nguyễn Ngọc Cơ, Đào Tuấn Thành, Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn
Trang 17Văn Ninh, các tác giả coi sử dụng di sản trong dạy học lịch sử là một trong những
phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực HS: “cần tạo điều kiện cho học sinh
tích cực tham gia các hoạt động học tập trực tiếp trải nghiệm với di sản, học sinh phải được khám phá, khai thác các di sản có liên quan đến nội dung bài học, giúp các em vừa có những hiểu biết về di sản, vừa hiểu sâu sắc hơn nội dung bài học”
[67, 26] Ngoài ra, việc cuốn sách đề cập đến một số vấn đề chung về kiểm tra, đánh giá năng lực môn lịch sử đã gợi mở giúp chúng tôi một số ý tưởng mới trong việc kiểm tra, đánh giá học sinh trong quá trình sử dụng di sản văn hóa trong dạy học lịch sử địa phương
- Về vấn đề lịch sử địa phương và dạy học lịch sử địa phương cho đến nay đã
có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
Các cuốn giáo trình Lịch sử địa phương của Nguyễn Cảnh Minh, Phan Ngọc Liên
của Đại học Huế (1995), giáo trình đào tạo giáo viên trung học cơ sở hệ cao đẳng sư phạm về Lịch sử địa phương của Nguyễn Cảnh Minh (chủ biên), Đỗ Hồng Thái (1999)
đã giúp giáo viên có cái nhìn khái quát chung về lịch sử địa phương, phương pháp nghiên cứu và cách thức biên soạn, giảng dạy lịch sử địa phương Trên cơ sở hiểu biết chính xác những lý thuyết về lịch sử địa phương, chúng tôi có thể vận dụng để sử dụng
di sản văn hóa vào giảng dạy lĩnh vực này trong lịch sử nói chung
Về nội dung lịch sử địa phương, ở nước ta đã được nghiên cứu từ thời phong kiến, tuy nhiên mới chỉ ở việc ghi chép địa lý vùng, tiểu sử nhân vật, hay ghi chép lại phong tục từng địa phương Ở tỉnh Ninh Bình việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương vào dạy học đã bước đầu được nghiên cứu và đưa vào sử dụng ở các trường phổ thông Năm 2009, với sự nỗ lực của cô giáo Vũ Thị Hồng Nga - chuyên viên bộ môn lịch sử, cuốn tài liệu lịch sử địa phương phục vụ các tiết lịch sử địa phương Ninh Bình đã ra đời
- Các công trình nghiên cứu tổng quát về di sản văn hóa ở Việt Nam nói chung, di sản văn hóa ở tỉnh Ninh Bình nói riêng có một số nghiên cứu sau:
Tập sách “Tìm trong truyền thống và di sản” [57] của tác giả Lưu Minh Trị
góp phần giới thiệu về giá trị lịch sử, văn hóa và di sản văn hóa Nội dung chủ yếu của bộ sách bao gồm: Giới thiệu tổng quan về lịch sử và văn hóa Việt Nam; truyền thống và di sản văn hóa Hà Nội và các tỉnh, thành trong cả nước; các nhân vật lịch
Trang 18sử, huyền thoại, giai thoại; bảo tồn, kế thừa và phát huy giá trị truyền thống và di sản Bộ sách này đã cho độc giả một số quan điểm về công tác bảo tồn các giá trị di sản văn hóa hiện nay
Trong nghiên cứu “Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân
tộc” [66] của tác giả Hoàng Vinh đã đề cập đến những vấn đề lý luận liên quan đến
di sản văn hóa dân tộc; về vai trò, chức năng của di sản văn hóa đối với việc lựa chọn mô hình phát triển văn hóa dân tộc Tác giả tiến hành phân loại và bước đầu
mô tả thực trạng vốn di sản văn hóa dân tộc, làm nổi rõ những nguyên nhân đã và đang gây nên sự xuống cấp vốn di sản văn hóa trong thời gian qua, từ đó đưa ra những kiến nghị, biện pháp cụ thể để giữ gìn và phát huy di sản văn hóa
Về di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư, tác giả xin đề cập một số tác phẩm: Sách Cố
đô Hoa Lư - lịch sử và danh thắng, NXB Thanh niên, 1998; các tác phẩm của
Nguyễn Văn Trò như: Danh thắng Ninh Bình (Sở Văn hóa Thông tin Ninh Bình, 1994), Cố đô Hoa Lư (NXB Văn hóa dân tộc, 2004), Di tích lịch sử - văn hóa về hai
triều Đinh - Tiền Lê ở Ninh Bình (NXB Văn hóa dân tộc, 2007); Phật giáo thời Đinh và Tiền Lê trong công cuộc dựng nước và giữ nước, Viện nghiên cứu tôn giáo,
năm 2010; Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biên, Nguyễn Tử Mẫn, năm 2001; Di
sản văn hóa tiêu biểu Ninh Bình, Lưu Minh Trí chủ biên, năm 2010; Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình, Trương Đình Tưởng biên soạn, năm 2004…
- Nghiên cứu về vấn đề sử dụng di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa
Cố đô Hoa Lư nói riêng trong dạy học có các tài liệu:
Tài liệu tập huấn “Sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông” của Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Văn hóa – Thể thao và du lịch (2013) đã đề cập đến một số vấn đề chung như khái niệm, đặc điểm, phân loại, ý nghĩa của di sản đối với hoạt động dạy học, giáo dục phổ thông, các hình thức tổ chức và phương pháp sử dụng
di sản trong dạy học, quản lí sử dụng di sản trong dạy học…
Ngoài ra, từ năm 1999 đến nay, đã có nhiều tác giả lựa chọn vấn đề sử dụng di sản văn hóa địa phương vào dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT làm đề tài luận văn hoặc luận án nghiên cứu Như:
Nguyễn Tiến Dũng (Luận văn Sử dụng tài liệu về di sản văn hóa vật thể ở địa
phương trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 10 Trung học phổ thông tỉnh Hải
Trang 19Dương) [23]; Nguyễn Thị Duyên (Luận án Tổ chức dạy học lịch sử Việt Nam (1919-2000) với di tích lịch sử tại địa phương ở trường trung học phổ thông tỉnh Nghệ An) [24]; Bùi Thị Nhung (Luận văn Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt
ở địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam theo hướng phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông tỉnh Nam Định) [44]; Hồ Thị Hồng Thơm (2012), Sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường trung học phổ thông tỉnh Thái Bình (Chương trình chuẩn) [53]; Lê Thị Thảo (2014),
Sử dụng di tích lịch sử - cách mạng ở địa phương trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ
1945 đến 1954 lớp 12 trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang (chương trình chuẩn)
[52] Riêng về các di sản văn hóa ở tỉnh Ninh Bình, đã có một nghiên cứu của Nguyễn Thị Huyền Trang [56] tìm hiểu về di tích quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình nhưng mới khai thác ở cấp độ quản lý di tích văn hóa Tuy nhiên, các tác giả nói trên chủ yếu khai thác di sản văn hóa vào việc dạy học lịch sử địa phương hoặc sử dụng di sản văn hóa các địa phương để dạy học một phần của lịch sử Việt Nam Hiện tại, chưa có nghiên cứu nào đi sâu khai thác hiệu quả nguồn tư liệu di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư vào dạy học lịch sử địa phương ở tỉnh Ninh Bình (chương trình Lịch sử lớp 10 trung học phổ thông)
Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những vấn đề sau: Thứ nhất, di sản văn hóa, trong đó có di tích lịch sử là nguồn tài sản vô giá của loài người cần phải được nghiên cứu để bảo vệ, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
Thứ hai, di tích lịch sử là một trong những phương tiện trực quan, một nguồn kiến thức có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng trong dạy học lịch sử nói chung, lịch sử địa phương nói riêng Vì vậy, sử dụng phương tiện trực quan và di sản văn hóa là thật sự cần thiết trong dạy học lịch sử nói chung, lịch sử địa phương nói riêng ở trường phổ thông
Thứ ba, các công trình trên đã chỉ ra những cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu sử dụng di sản văn hóa trong dạy học lịch sử địa phương ở trường phổ thông Đặc biệt, các tài liệu ở trong nước đã đề cập đến hình thức và phương pháp góp phần định hướng việc sử dụng di sản văn hóa trong bài học lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương
Trang 20Thứ tư, các công trình về di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư đã giúp chúng tôi xác định được nội dung lịch sử của các loại di sản phục vụ việc dạy học lịch sử địa phương
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Quá trình sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư
trong dạy học lịch sử địa phương lớp 10 trung học phổ thông tỉnh Ninh Bình, trong
đó tập trung vào các biện pháp sử dụng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về lí luận dạy học Lịch sử: Đề tài không nghiên cứu về di sản văn hóa nói chung, mà tập trung nghiên cứu việc sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử địa phương trong hoạt động nội khóa và ngoại khóa cho học sinh lớp 10 trung học phổ thông tại tỉnh Ninh Bình
- Phạm vi điều tra và thực nghiệm:
+ Điều tra: Tiến hành điều tra giáo viên và học sinh tại một số trường trung học phổ thông thuộc tỉnh Ninh Bình theo vùng miền (thành phố - trung học phổ thông Đinh Tiên Hoàng, nông thôn - trung học phổ thông Gia Viễn B, vùng sâu - trung học phổ thông Nho Quan A và trung học phổ thông Gia Viễn C)
+ Thực nghiệm qua một bài học nội khóa ở lớp 10, trường trung học phổ thông Gia Viễn B, tỉnh Ninh Bình
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học lịch sử, đề tài xác định nội dung các di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư có thể khai thác và đề xuất hình thức, biện pháp sử dụng trong dạy học lịch sử địa phương lớp 10 trung học phổ thông tỉnh Ninh Bình
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận về việc sử dụng di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư nói riêng trong dạy học lịch sử địa phương tại tỉnh Ninh Bình
- Điều tra thực trạng việc sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử địa phương lớp 10 ở trường trung học phổ thông tỉnh Ninh Bình
Trang 21- Tìm hiểu các nguồn tư liệu về di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư để xác định nội dung các di sản cần khai thác sử dụng trong dạy học lịch sử địa phương lớp 10 trung học phổ thông tỉnh Ninh Bình
- Tìm hiểu chương trình lịch sử lớp 10 trung học phổ thông, trong đó có chương trình lịch sử địa phương hiện hành và chương trình giáo dục phổ thông năm
2018, xác định nội dung lịch sử cần sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư Trên cơ
sở đó, đề xuất các hình thức và biện pháp sử dụng di sản văn hóa trong dạy học lịch
sử địa phương
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất tại trường trung học phổ thông Gia Viễn B tỉnh Ninh Bình
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là lí luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhận thức, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục và giáo dục lịch sử
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết:
+ Sưu tầm, phân tích, tổng hợp, đánh giá các tài liệu Tâm lí học - Giáo dục học - Lý luận và phương pháp dạy học lịch sử để phục vụ cho việc nghiên cứu cơ sở
lý luận của đề tài
+ Nghiên cứu chương trình lịch sử địa phương và sách giáo khoa môn lịch sử lớp 10 trung học phổ thông hiện hành và chương trình giáo dục phổ thông năm
2018 môn lịch sử
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra khảo sát, phát phiếu, phỏng
vấn, quan sát thực trạng việc sử dụng di sản văn hóa địa phương trong dạy học lịch
sử ở trường trung học phổ thông nói chung, di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử địa phương tỉnh Ninh Bình nói riêng
- Soạn bài và tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính đúng đắn và khả thi của các biện pháp đưa ra
- Sử dụng toán học thống kê để xử lý kết quả của thực nghiệm sư phạm
Trang 226 Giả thuyết khoa học
Việc sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử địa phương ở lớp 10 trung học phổ thông tỉnh Ninh Bình sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học
bộ môn nếu xác định được nội dung di sản văn hóa cần khai thác và đề xuất được hình thức, biện pháp tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh, điều kiện nhà trường
7 Đóng góp mới của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần:
- Khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử Việt Nam nói chung, lịch sử địa phương nói riêng
- Phác họa bức tranh về thực trạng sử dụng di sản văn hóa địa phương nói chung, sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử địa phương nói riêng ở trường trung học phổ thông tỉnh Ninh Bình
- Xác định được nội dung di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư cần khai thác, sử dụng trong dạy học lịch sử địa phương chương trình lịch sử lớp 10 trung học phổ thông ở tỉnh Ninh Bình
- Đề xuất được hình thức, biện pháp sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử địa phương ở lớp 10 trung học phổ thông tỉnh Ninh Bình
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của luận văn làm phong phú thêm lí luận dạy học bộ môn
về việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học lịch sử địa phương ở trường phổ thông
8.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn giúp bản thân và đồng nghiệp ở trường trung học phổ thông biết vận dụng các biện pháp sử dụng di sản văn hóa vào thực tiễn dạy học lịch sử, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn
- Đề tài có thể là tài liệu tham khảo cho các luận văn tốt nghiệp của sinh viên, học viên cao học
Trang 239 Cấu trúc của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 2 chương:
Chương 1 Vấn đề sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử địa phương ở lớp 10 trung học phổ thông tỉnh Ninh Bình – Lý luận và thực tiễn Chương 2 Hình thức, biện pháp sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử địa phương ở lớp 10 trung học phổ thông tỉnh Ninh Bình
Trang 24CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA CỐ ĐÔ HOA LƯ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG Ở LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH
NINH BÌNH – LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Quan niệm về sử dụng di sản văn hóa trong dạy học lịch sử địa phương
1.1.1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài
- Di sản:
Di sản là đề tài được nhiều học giả và các nhà nghiên cứu quan tâm Nhiều công trình nghiên cứu có các mục đích khác nhau và tiếp cận ở nhiều góc nhìn, tuy nhiên các công trình này có quan niệm tương đối thống nhất: di sản văn hóa dù nó
có tồn tại dưới dạng vật chất hay tinh thần đều là những thành quả sáng tạo của nhân dân, có giá trị to lớn trong đời sống của nhân dân qua các thời kì lịch sử
Theo từ điển Việt Anh: “Di sản là cái thời trước để lại; còn văn hoá là tổng
thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” [65; tr.89]
- Di sản văn hóa:
Theo Điều 1 của Luật Di sản văn hóa đã được Quốc hội thông qua năm 2001
(Luật số 28/2001/QH10 của Quốc hội), có thể định nghĩa các khái niệm như sau:
Di sản văn hoá: “là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá,
khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác” [46]
Bộ Luật này cũng nhấn mạnh: “Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý
giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [46]
Về phân loại, DSVH bao gồm di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể:
Trang 25Sơ đồ 1.1 Phân loại di sản văn hóa
Trong đó:
+ Di sản văn hóa vật thể: “là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá,
khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [46] Như vậy, DSVH vật thể bao gồm di tích lịch sử - văn hoá,
danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia Cụ thể hơn:
Di tích lịch sử - văn hoá: “là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ
vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”;
Danh lam thắng cảnh: “là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp
giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học”;
Di vật: “là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”;
Cổ vật: “là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn
hoá, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên”;
Trang 26Bảo vật quốc gia: “là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm
tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hoá, khoa học” [46]
Về phân loại các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh thuộc DSVH vật thể nói chung, căn cứ Điều 4, Điều 28 Luật di sản văn hoá (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Điều 14 Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ Việt Nam quy định chi tiết một số điều của Luật Di sản văn hoá, các di tích được phân loại theo 4 cách: Di tích khảo cổ học, di tích lịch sử, di tích kiến trúc
nghệ thuật và danh lam thắng cảnh Trong đó: Di tích khảo cổ là những địa điểm
khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ;
Di tích lịch sử là công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu
trong quá trình dựng nước và giữ nước; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân
thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước; Công trình xây
dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng
chiến; Di tích kiến trúc nghệ thuật là quần thể các công trình kiến trúc hoặc công
trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử
+ Về khái niệm Di sản văn hóa phi vật thể, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa (Luật số 32/2009/QH12 của Quốc hội), tại Khoản 1
Điều 4:“là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không
gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [46]
Theo Điều 4 Thông tư số 04/2010/TT – BVHTTDL quy định DSVH phi vật
thể bao gồm các loại hình: Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam; Ngữ văn
dân gian (bao gồm sử thi, ca dao, dân ca, tục ngữ, hò, vè, câu đố, truyện cổ tích,
truyện trạng, truyện cười, truyện ngụ ngôn, hát ru và các biểu đạt khác được chuyển
tải bằng lời nói hoặc ghi chép bằng chữ viết); Nghệ thuật trình diễn dân gian (bao gồm âm nhạc, múa, hát, sân khấu và các hình thức trình diễn dân gian khác); Tập
quán xã hội và tín ngưỡng (bao gồm luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi
lễ và các phong tục khác); Lễ hội truyền thống; Nghề thủ công truyền thống; Tri
thức dân gian
Trang 27- Địa phương:
Để dạy học tốt LSĐP, trước hết chúng ta cần hiểu đúng khái niệm “Địa phương” Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, NXB Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học, 2003, địa phương có nghĩa là vùng, khu vực trong quan hệ với những vùng, khu vực khác trong nước hoặc trong quan hệ với trung ương, với cả nước Cho đến nay, có nhiều quan niệm về thuật ngữ này, tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu lịch sử, có thể hiểu theo hai nghĩa như sau theo cuốn Giáo trình Lịch sử địa
phương của Nguyễn Cảnh Minh (chủ biên): Theo nghĩa cụ thể, địa phương “là
những đơn vị hành chính của một quốc gia, đó là những tỉnh, thành phố, huyện, xã, thôn, bản, làng, buôn, mường, ấp…” [40; tr.3] Theo nghĩa khái quát trừu tượng, địa
phương “là những vùng đất, khu vực nhất định, được hình thành trong lịch sử, có
ranh giới tự nhiên (không giống như địa giới hành chính) để phân biệt với các vùng đất khác” [40; tr.3]
Cũng theo Nguyễn Cảnh Minh, “địa phương có những mối liên hệ với cả nước
và là một bộ phận cấu thành của đất nước, đồng thời cũng có những nét riêng tạo nên sắc thái riêng của vùng mình” [39; tr.3]
Qua các cách hiểu như trên, có thể rút ra định nghĩa LSĐP chính là lịch sử của làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố hay khu vực, vùng miền Ngoài ra, LSĐP còn bao hàm ý nghĩa là lịch sử của các đơn vị sản xuất, chiến đấu, các trường học, cơ quan,
xí nghiệp, nhà máy…
1.1.1.2 Quan niệm về sử dụng di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa Cố đô Hoa
Lư nói riêng trong dạy học lịch sử địa phương
Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, NXB Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học,
2003, sử dụng có nghĩa là “đem dùng vào mục đích nào đó” [45; tr.876] Vậy sử dụng
DSVH trong dạy học LSĐP được hiểu là dùng nguồn tư liệu về DSVH như một phương tiện, công cụ để dạy học hiệu quả nội dung LSĐP trong chương trình GDPT
- Về vấn đề sử dụng DSVH trong dạy học môn lịch sử nói chung, trong tài liệu tập huấn của Bộ Giáo dục và đào tạo về Sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông đã nêu rõ các quan niệm về phương pháp, hình thức và kiểm tra đánh giá khi
sử dụng DSVH trong dạy học môn lịch sử Cụ thể là:
+ Về phương pháp: Sử dụng DSVH trong dạy học lịch sử đều phải tuân theo
Trang 28phương pháp tích cực hướng tới hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức
của người học: “Các phương pháp tích cực có các dấu hiệu đặc trưng là: dạy và
học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS; dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học, tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác” [13;
tr.52] Một số hình thức tổ chức và phương pháp dạy học tạo điều kiện phát huy tính
tích cực học tập của HS là: Thứ nhất, việc sử dụng di sản trong dạy học bộ môn lịch
sử ở trường phổ thông trước hết phải thông qua các phương pháp truyền thống theo tinh thần đổi mới phù hợp với từng môn học như trình bày miệng, sử dụng đồ dùng
trực quan, … Thứ hai, sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học hiện đại
như: dạy học nêu vấn đề, dạy học theo dự án, sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học
+ Về hình thức: Đối với các hình thức dạy học khi sử dụng DSVH bao gồm: Khai thác, sử dụng tài liệu về DSVH để tiến hành bài học ở trên lớp; Tiến hành bài học tại nơi có di sản (hay thực địa, bảo tàng, phòng truyền thống…); Tổ chức tham quan ngoại khóa – trải nghiệm di sản; Sử dụng di sản để tổ chức các hoạt động ngoại khóa khác (tổ chức triển lãm, ra báo học tập; thi tìm hiểu về di sản ở địa phương; tổ chức cho HS chăm sóc các DSVH ở địa phương…)
+ Về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS: khi GV sử dụng DSVH để kiểm tra, đánh giá vẫn đảm bảo những yêu cầu chung của công tác này Đó là: Bảo đảm tính khách quan, toàn diện, khoa học và trung thực; Căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ của môn học/ hoạt động giáo dục ở từng lớp, vào mục tiêu giáo dục di sản được xác định ở từng bài/ hoạt động; Phối hợp giữa đánh giá của
GV và tự đánh giá của HS; Kết hợp các hình thức đánh giá khác nhau (tự luận, TNKQ, quan sát, sản phẩm…)
- Về vấn đề sử dụng DSVH trong dạy học LSĐP, ngoài việc lựa chọn nội dung kiến thức được quy định trong chương trình của lớp học, cấp học phù hợp với
di sản, bài giảng cần được bổ sung nguồn tài liệu chính xác, tin cậy về địa phương Nội dung bài giảng tại di sản ở địa phương có thể do GV thiết kế theo tài liệu hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo hoặc do GV tự biên soạn Tài liệu do GV tự biên
soạn cần tuân thủ các nguyên tắc: Một là, chọn những kiến thức cơ bản, tiêu biểu
Trang 29của địa phương tương ứng với một nội dung kiến thức của bài học trong chương
trình, SGK chung làm nội dung cho các tiết học về địa phương Hai là, việc dạy học
những tiết về địa phương trong chương trình ở trường phổ thông mang tính chất tổng hợp toàn diện, không phải là dạy chuyên đề về một lĩnh vực nào đó của bộ
môn Ba là, nguồn tài liệu cần dựa vào các bài viết, công trình của những cơ quan
có trách nhiệm như Sở văn hoá - thông tin, Ban Tuyên giáo tỉnh
Như vậy, việc sử dụng DSVH trong dạy học LSĐP có tầm quan trọng đặc biệt góp phần làm sinh động, cụ thể hóa nội dung bài học, qua đó khôi phục lại bức tranh quá khứ đã diễn ra tại di sản một cách sống động, chân thực nhất
- Sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử địa phương:
Sử dụng DSVH Cố đô Hoa Lư trong dạy học LSĐP cũng tuân thủ những quan niệm về DSVH trong dạy học lịch sử nói chung, LSĐP nói riêng Đặc biệt cần thấu đáo quan điểm coi nguồn tư liệu về DSVH Cố đô Hoa Lư như một phương tiện, công cụ dùng để tiến hành bài học LSĐP
Tuy nhiên, với một DSVH cụ thể là Cố đô Hoa Lư thì cần phải có những nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu về di sản này nhằm chỉ rõ những giá trị văn hóa tiêu biểu của di tích Cố đô Hoa Lư để phục vụ cho việc dạy và học LSĐP Nhất là trong điều kiện nguồn tư liệu về di sản này rất phong phú nhưng chưa được chắt lọc, biên soạn để đưa vào nội dung dạy học LSĐP ở tỉnh Ninh Bình Ngoài ra, cần có các định hướng về hình thức, biện pháp để khai thác, sử dụng DSVH này vào dạy học một cách hiệu quả trong chương trình LSĐP nói riêng, bộ môn lịch sử ở trường phổ thông nói chung Điều đó càng khẳng định hơn nữa tính cấp thiết, vị trí quan trọng của đề tài nghiên cứu mà chúng tôi đang đề cập là sử dụng DSVH Cố đô Hoa Lư trong dạy học LSĐP ở lớp 10 trung học phổ thông tỉnh Ninh Bình
1.1.2 Các loại di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư cần khai thác sử dụng trong dạy học lịch sử địa phương ở lớp 10 trung học phổ thông tỉnh Ninh Bình
1.1.2.1 Khái quát về di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư
Cố đô Hoa Lư là một quần thể di tích quốc gia đặc biệt quan trọng của nước
ta, đồng thời là một trong 4 vùng lõi của quần thể di sản thế giới Tràng An (bên cạnh 3 khu vực đặc biệt khác là Khu Tam Cốc – Bích Động, Khu sinh thái Tràng
An và Rừng đặc dụng Hoa Lư) đã được UNESCO công nhận vào năm 2014
Trang 30Hiện nay, khu di tích Cố đô Hoa Lư có diện tích quy hoạch 13,87 km² thuộc tỉnh Ninh Bình, nằm trên địa bàn giáp ranh giới 2 huyện Hoa Lư, Gia Viễn và thành phố Ninh Bình của tỉnh Ninh Bình Kinh đô Hoa Lư xưa là vùng đất phù sa cổ ven chân núi mà cho đến nay các nhà khảo cổ học đã chứng minh được nơi đây có dấu tích của con người cư trú từ rất sớm Đó là các phát hiện trầm tích có xương răng động vật trên cạn thuộc sơ kỳ đồ đá cũ thuộc nền văn hóa Tràng An và nhiều hang động có di chỉ cư trú của con người thuộc các thời kỳ văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn, Đông Sơn và Đa Bút Quần thể di sản thế giới Tràng An ở Hoa Lư hiện nay còn lưu giữ nhiều di vật của người tiền sử từ 30.000 năm trước
Hệ thống di tích ở trung tâm Cố đô Hoa Lư liên quan đến sự nghiệp của ba triều đại nhà Đinh, nhà Tiền Lê và khởi đầu nhà Lý (từ năm 968 đến năm 1010, bao gồm 6 vị vua Đinh Tiên Hoàng, Đinh Phế Đế, Lê Đại Hành, Lê Trung Tông,
Lê Long Đĩnh, Lý Thái Tổ) Hoa Lư là kinh đô đầu tiên của nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền ở Việt Nam với các dấu ấn lịch sử: thống nhất giang sơn, đánh Tống - dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô ở Thăng Long Các triều
Lý, Trần, Lê, Nguyễn sau đó dù không đóng đô ở Hoa Lư nữa nhưng vẫn cho tu bổ
và xây dựng thêm ở đây nhiều công trình kiến trúc như đền, lăng, đình, chùa, phủ… Trong tài liệu lưu hành nội bộ tại Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Hoa Lư ghi
chép lại: “Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn 12 sứ quân, lên ngôi hoàng đế và
đóng đô ở Hoa Lư, nơi đây trở thành trung tâm chính trị của nước Đại Cồ Việt”
[57; tr.11] Từ năm 1010, khi Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long đến thời Trần, vùng này thuộc lộ Trường Yên Nhà Trần sử dụng thành Nam Trường Yên của cố
đô Hoa Lư để làm căn cứ địa kháng chiến chống Mông Nguyên Vua Trần Thái Tông xây dựng ở Hoa Lư hành cung Vũ Lâm, đền Trần thờ thần Quý Minh và chùa
A Nậu Đầu thời Lê sơ, vùng cố đô Hoa Lư nhập vào Thanh Hóa, từ thời Lê Thánh Tông lại tách ra, thuộc phủ Trường Yên, thừa tuyên Sơn Nam Từ thời Lê trung hưng đến thời Tây Sơn, vùng này thuộc phủ Trường Yên thuộc trấn Thanh Hoa ngoại Từ cuộc cải cách hành chính của vua Minh Mạng nhà Nguyễn năm 1831, vùng này thuộc tỉnh Ninh Bình Từ ngày 27 tháng 12 năm 1975, tỉnh Ninh Bình hợp nhất với các tỉnh Nam Định và Hà Nam thành tỉnh Hà Nam Ninh rồi lại tái lập ngày
26 tháng 12 năm 1991, vùng cố đô Hoa Lư trở lại thuộc tỉnh Ninh Bình
Trang 31Ngày 29/4/2003, Thủ tướng chính phủ Việt Nam ra quyết định TTG về việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị lịch sử của khu di tích cố đô Hoa
82/2003/QĐ-Lư Theo Quyết định này, toàn bộ khu di tích Cố đô Hoa Lư bao gồm: Vùng bảo
vệ đặc biệt có diện tích 3 km² gồm toàn bộ khu vực bên trong thành Hoa Lư, có các
di tích lịch sử: Đền Vua Đinh Tiên Hoàng, đền Vua Lê Đại Hành, lăng vua Đinh, lăng vua Lê, đền thờ Công chúa Phất Kim, chùa Nhất Trụ, phủ Vườn Thiên, chùa Kim Ngân, sông Sào Khê, một phần khu sinh thái Tràng An và các đoạn tường
thành, nền cung điện nằm dưới lòng đất Vùng đệm có diện tích 10,87 km² gồm
cảnh quan hai bên sông Sào Khê và quần thể Tràng An, có các di tích lịch sử: động
Am Tiên, hang Quàn, hang Muối, đình Yên Trạch, chùa Bà Ngô, hang Luồn, hang Sinh Dược, hang Địa Linh, hang Nấu Rượu, [51]
Sau khi nhà Lý dời đô về Thăng Long, dân chúng ở bên ngoài kéo vào bên trong kinh thành sinh sống Vì vậy mà ngoại trừ khu trung tâm cung điện giới hạn bởi ba cửa: Cửa Bắc, cửa Đông và cửa Nam thì rất nhiều các công trình kiến trúc của Cố đô Hoa Lư hiện tại nằm rải rác trong khu dân cư Hiện nay, khu di tích Cố
đô Hoa Lư còn lại là những di tích do hai triều Đinh - Lê xây dựng (Dấu tích kinh thành, cung điện, các chùa cổ và đền thờ thần) và di tích do các triều đại sau xây dựng (hệ thống lăng mộ, đền, đình thờ các danh nhân thời Đinh - Lê) Những di tích này giúp các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu và hình dung, mô phỏng được hình thức bố trí cung điện của kinh đô Hoa Lư xưa
Ngày 10/5/2012, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã ký quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đợt 2 cho 13 di tích trong đó có di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật Cố đô Hoa Lư, thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình (sau đây gọi tắt là di tích Cố đô Hoa Lư) Ngày 21 tháng 6 năm 2014, di tích
Cố đô Hoa Lư nằm trong Quần thể danh thắng Tràng An được UNESCO công nhận
là Di sản văn hóa và thiên nhiên của thế giới
1.1.2.2 Danh mục các loại di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư cần khai thác sử dụng
Theo phân loại di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh của Luật di sản văn hóa (sửa đổi, bổ sung năm 2009) (mục 1.1.1.1), khu di tích Cố đô Hoa Lư thuộc địa phận xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình ngày nay thuộc loại hình di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật
Trang 32Trong lịch sử, khu vực này từng là địa điểm đóng đô của 3 vương triều là Đinh, Tiền Lê và Lý, gắn liền với thân thế và sự nghiệp của những anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước như Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lý Thái Tổ Những dấu tích lịch sử - văn hóa hiện còn tại khu vực di tích rất phong phú và đa dạng, bao gồm hệ thống kiến trúc thờ tự, tường thành, hoàng thành, hang động và một số công trình khác Trong đó có một số công trình kiến trúc tiêu biểu như: Đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng, Đền thờ vua Lê Đại Hành, Chùa Nhất Trụ, Chùa và động Am Tiên, Đình Yên Trạch… Các công trình kiến trúc ở đây không chỉ minh chứng cho một thời kì lịch sử dân tộc ở thế kỉ X mà còn có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của nhiều giai đoạn lịch sử từ thế kỉ XVII và còn được lưu giữ đến ngày nay
Ngoài những điểm di tích kể trên, hiện nay trong toàn khu di tích có gần 700
di vật, hiện vật khảo cổ học có giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học, với niên đại chủ yếu từ thế kỉ X Tại khu vực đền Vua Lê Đại Hành, Trung tâm đã trưng bày các phế tích khảo cổ thu được tại Hoa Lư phân theo từng giai đoạn lịch sử: Đinh - Lê, Lý và Trần Kết quả đợt khai quật của Viện Khảo cổ học năm 1997 tại khu vực đền vua
Lê Đại Hành đã hé mở phần nào diện mạo của kinh đô Hoa Lư xưa với thành quách kiên cố, nhiều kiến trúc lớn và trang trí cầu kỳ mang đậm phong cách nghệ thuật riêng của thời Đinh - Lê Trong đợt khai quật nằm trong dự án nghiên cứu khảo cổ học khu di tích Cố đô Hoa Lư năm 2009 - 2010, các nhà khảo cổ tập trung thám sát, khai quật tại khu vực đồng Cây Khế phía Bắc đền Vua Lê Đại Hành Kết quả là đã làm phát lộ dấu tích của tường gạch xây bằng loại gạch Đại Việt quốc quân thành chuyên, cùng nhiều loại hình vật liệu xây dựng và trang trí kiến trúc của thời Đinh -
Lê Bên cạnh đó, công tác khảo cổ còn đưa lên khỏi lòng đất nhiều di vật quý giá góp phần nghiên cứu một cách toàn diện về lịch sử, văn hoá của vùng đất Cố đô Hoa Lư xưa
Trang 33Bảng 1.1 Danh mục các loại di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư
- Vùng đệm: Động Am Tiêm, hang Quàn, hang Muối, đình Yên Trạch, chùa Bà Ngô, hang Luồn, hang Sinh Dược, hang Địa Linh, hang Nấu Rượu, …
- Bộ Phủ Việt đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng
- Bộ Phủ Việt đền thờ Vua Lê Đại Hành
- Hát chèo và sân khấu chèo
- Trò chơi dân gian : đánh cờ người, kéo chữ Thái Bình
Nội dung một số loại di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư tiêu biểu (Phụ lục 1.2)
1.1.2.3 Yêu cầu khi khai thác di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử địa phương tỉnh Ninh Bình
- Trước hết, phải đảm bảo mục tiêu của chương trình môn lịch sử và quan điểm xây dựng, phát triển chương trình
Mục tiêu của môn lịch sử ở trường phổ thông nhằm giúp cho HS có được những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc (trong đó có LSĐP), góp phần hình thành ở HS thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống
xã hội Ngoài ra, khi khai thác DSVH Cố đô Hoa Lư trong dạy học LSĐP cần đảm
bảo các nguyên tắc như : tính khoa học (đúng đắn, chính xác theo quan điểm của
Trang 34chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh) ; tuân thủ tính cơ bản (tập trung những nội dung cốt lõi, có ý nghĩa nhất); tính dân tộc (phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương) và tính khả thi (phù hợp với thực tiễn
dạy học ở các nhà trường)
Xuất phát từ mục tiêu GDPT, mục tiêu từng cấp học, môn học cụ thể, GV xây dựng mục tiêu cho từng bài học và lựa chọn di sản phải hướng vào thực hiện mục tiêu đã được xác định đó Chẳng hạn để giảng dạy về nội dung trong chương trình là
di tích lịch sử - văn hóa ở tỉnh Ninh Bình nhằm thực hiện mục tiêu giúp HS hiểu biết về các khái niệm có liên quan và trình bày được một di tích tiêu biểu của địa phương thì GV có thể lựa chọn di sản tiêu biểu nhất của tỉnh Ninh Bình là Cố đô Hoa Lư để xây dựng mục tiêu bài học cụ thể, định hướng cho phương pháp và các hoạt động học được tổ chức trong bài
Trong khi xây dựng mục tiêu bài học LSĐP, GV cần căn cứ vào nội dung LSĐP và nội dung lịch sử của DSVH thể hiện để xác định mục tiêu về các mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ, năng lực Ví dụ HS có thêm hiểu biết về sự ra đời của di sản,
về cấu trúc loại hình di sản, về ý nghĩa và giá trị của di sản đối với đời sống tinh thần, vật chất của người dân địa phương,…Từ đó, bồi dưỡng HS có thái độ tôn trọng đối với di sản, có hành vi giữ gìn và chăm sóc di sản
- Thứ hai, xác định nội dung lịch sử thể hiện qua di sản phải chính xác và chuẩn bị các bước thực hiện một cách chu đáo :
+ GV xây dựng các nhiệm vụ học tập cần cụ thể, chi tiết giúp HS nhận biết rõ yêu cầu phải thực hiện Ví dụ : có thể yêu cầu HS tìm hiểu nguồn gốc hình thành của di sản, khái quát sự phát triển của di sản qua thời gian, rút ra những hoạt động của các em nhằm bảo vệ và phát triển di sản…
+ Hoạt động làm việc với di sản cần tiến hành theo những bước đi cụ thể…
GV nên chú ý một số công việc như : Công việc chuẩn bị ; Tiến hành hoạt động với
di sản ; Kết thúc hoạt động ; Đánh giá kết quả hoạt động
- Thứ ba, phải tăng cường phát huy tính tích cực, chủ động của HS, tạo điều kiện cho HS tự học, tự trải nghiệm, tham gia vào các hoạt động với di sản, từ các hoạt động trong quá trình chuẩn bị như lập kế hoạch, phân công người thực hiện việc cụ thể,… đến khi tiến hành thực hiện nhiệm vụ và báo cáo, đánh giá kết quả
Trang 351.1.3 Cơ sở xuất phát
1.1.3.1 Mục tiêu bộ môn Lịch sử ở trường trung học phổ thông nói chung
Mục tiêu môn Lịch sử ở trường phổ thông nhằm giúp cho HS có được những kiến thức cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, góp phần hình thành ở HS :
Về kiến thức : HS có được hiểu biết về
+ Sự kiện lịch sử tiêu biểu, những bước phát triển chủ yếu, những chuyển biến quan trọng của lịch sử thế giới từ thời nguyên thủy đến nay Chú trọng đến những nội dung quan trọng nhất để hiểu biết về quá trình phát triển của lịch sử loài người, những nền văn minh, những mô hình xã hội tiêu biểu, lịch sử các nước trong khu vực và các sự kiện lịch sử thế giới có ảnh hưởng lớn, liên quan đến lịch sử nước ta + Trình bày được quá trình phát triển của lịch sử dân tộc từ nguồn gốc đến nay, trên cơ sở hiểu những sự kiện tiêu biểu của từng thời kì, những chuyển biến lịch sử và sự phát triển hợp quy luật của lịch sử dân tộc trong sự phát triển chung của thế giới
+ Giải thích, đánh giá được một số nội dung cơ bản, cần thiết về nhận thức xã hội như : kết cấu xã hội loài người, mối quan hệ giữa các yếu tố trong cơ cấu hệ thống xã hội, vai trò to lớn của sản xuất (vật chất, tinh thần) trong tiến trình lịch sử, vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân, nguyên nhân và động lực tạo ra các chuyển biến lịch sử, quy luật vận động của lịch sử… Từ đó biết vận dụng kiến thức lịch sử vào thực tế cuộc sống
Về kĩ năng : Hình thành các kĩ năng cần thiết trong học tập bộ môn như: Làm việc với SGK và các nguồn sử liệu ; Phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát, đánh giá sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử
Về thái độ : Bồi dưỡng cho HS tinh thần hăng hái, tính tích cực, hứng thú tham gia các hoạt động học tập ; Có thái độ trân trọng đối với các di sản lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ; Trân trọng nền văn hóa của các dân tộc trên thế giới, có tinh thần quốc tế chân chính, vì hòa bình, tiến bộ xã hội ; Có niềm tin về
sự phát triển từ thấp đến cao, từ lạc hậu đến văn minh của lịch sử nhân loại và lịch
sử dân tộc
Về năng lực, phẩm chất: Bồi dưỡng HS năng lực chung như phát hiện và giải quyết các vấn đề trong học tập lịch sử; Hình thành năng lực tự học, tự làm giàu tri thức
Trang 36lịch sử cho HS thông qua các nguồn sử liệu khác nhau; Năng lực suy nghĩ sáng tạo, năng lực ngôn ngữ/giao tiếp, năng lực hợp tác Phát triển các năng lực chuyên biệt như: Tái hiện sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử; Xác định và giải quyết mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử với nhau; Năng lực phân tích, đánh giá các sự kiện, hiện tượng lịch sử Qua đó, bồi dưỡng các em những phẩm chất cần thiết nhất của người công dân yêu nước (thái độ tích cực trong việc thực hiện nghĩa
vụ, trách nhiệm đối với đất nước - cộng đồng ; yêu lao động ; sống nhân ái, có kỉ luật, tôn trọng và làm theo luật pháp, đoàn kết dân tộc và quốc tế…)
Trong chương trình giáo dục THPT môn lịch sử, mục tiêu kiến thức của chương trình lớp 10 là thông qua các mạch nội dung về lịch sử thế giới từ thời nguyên thủy đến thời cận đại, lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX
và LSĐP để góp phần thực hiện mục tiêu chung của chương trình
Như vậy, việc sử dụng DSVH Cố đô Hoa Lư trong dạy học LSĐP ở lớp 10 góp phần thực hiện các mục tiêu của chương trình Lịch sử THPT nói chung, chương trình Lịch sử lớp 10 nói riêng về một giai đoạn lịch sử của dân tộc Việt Nam ở thế
kỉ X gắn với các triều đại kế tiếp nhau là Đinh, Tiền Lê và Lý
1.1.3.2 Đặc điểm tâm lý nhận thức của học sinh lớp 10 trung học phổ thông
- Đặc điểm chung :
Ở lớp học này, HS đã ở vào độ tuổi thanh niên nên yêu cầu về nội dung, tính chất học tập có khác nhiều so với độ tuổi thiếu niên Ở cấp THPT, nội dung học phong phú hơn và hoạt động học tập cũng đòi hỏi nhiều hơn tính năng động, sáng tạo và ý thức của các em đối với việc học tập ngày càng phát triển Việc học của HS bắt đầu gắn liền
với khuynh hướng nghề nghiệp : “Thái độ học tập có ý thức đã làm thúc đẩy sự phát
triển có tính chủ định của quá trình nhận thức và tăng năng lực điều khiển bản thân của thanh niên học sinh trong hoạt động học tập” [29; tr.59]
Quá trình nhận thức ở lứa tuổi này đã phát triển tính tự giác có mục đích, có hệ
thống và toàn diện hơn trong hoạt động trí tuệ “Các em có khả năng tư duy lý luận, tư
duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo trong những đối tượng quen biết đã học hoặc chưa được học trong nhà trường” [29; tr.60] Nhờ đó, HS có thể thực hiện các
thao tác tư duy phức tạp, dễ hiểu các khái niệm trừu tượng, các mối liên hệ nhân quả
Trang 37giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử Ở lứa tuổi này, các em thường có xu hướng độc lập khám phá về cuộc sống xung quanh với mong muốn khẳng định mình
Mặt khác, HS ở độ tuổi này thường chưa tiếp cận nhiều với thế giới bên ngoài, nên tình cảm của các em khi sống trong gia đình gắn với xóm làng, quê hương cụ thể của mình có ý nghĩa rất thiêng liêng Cho nên, khi được học những bài lịch sử
về quê hương, gắn bó với cuộc sống hàng ngày sẽ tạo ra những xúc cảm, khơi dậy trong các em lòng tự hào, thôi thúc các em cố gắng học tập phấn đấu để cống hiến cho quê hương đất nước…
Nắm vững được đặc điểm tâm lí và nhận thức của HS ở lứa tuổi này, trong quá trình dạy học GV cần khơi dậy trong các em lòng mong muốn tìm hiểu về lịch sử văn hóa quê hương mình, niềm tự hào về nơi mình sinh sống, ước mơ sẽ góp sức mình xây dựng quê hương giàu đẹp Đồng thời qua đó tạo động cơ học tập cho HS định hướng nghề nghiệp trong tương lai phù hợp với thực tế của địa phương và trang bị cho các em những kiến thức, kĩ năng cơ bản trước khi bước vào đời
- Đặc điểm riêng của địa phương :
Tâm lý nhận thức của học sinh lớp 10 THPT ở tỉnh Ninh Bình cũng mang những đặc điểm chung như trên tuy nhiên cũng có những nét riêng do tính chất địa phương, vùng miền quy định Ninh Bình là một tỉnh nằm ở phía nam vùng đồng bằng Bắc Bộ, có địa bàn chiến lược quan trọng từ trong lịch sử Đây cũng là một vùng đất văn hiến giàu truyền thống yêu nước và cách mạng gắn với cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng chống quân Hán, nhà Đinh dựng nước, nhà Trần chống quân Mông - Nguyên … đến nghĩa quân Tây Sơn với phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn, căn cứ cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Pháp Bởi vậy, con người Ninh Bình khi lớn lên đều nhận thức được vị trí xứng đáng của tỉnh mình trong sự biến đổi và phát triển của dân tộc Lòng tự hào về truyền thống yêu nước và cách mạng của quê hương là nhân tố quan trọng để giáo dục LSĐP cho HS ở tỉnh Ninh Bình Ninh Bình còn là vùng đất có địa hình tự nhiên rất đa dạng được chia thành 3 vùng rõ rệt : vùng núi bán sơn địa (Nho Quan, Tam Điệp), vùng chiêm trũng (Gia Viễn, Hoa Lư) và vùng đồng bằng ven biển (Yên Mô, Yên Khánh, Kim Sơn) Điều này quy định cơ cấu kinh tế đa dạng ở địa phương, bao gồm cả nông nghiệp, lâm
Trang 38nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Đặc biệt, tiềm năng du lịch
to lớn với nhiều danh lam thắng cảnh phong phú như Tam Cốc - Bích Động, Tràng
An, vườn quốc gia Cúc Phương, cả tiềm năng độc đáo về lịch sử và nhân văn như Khu di tích Cố đô Hoa Lư, quần thể nhà thờ đá Phát Diệm, phòng tuyến Tam Điệp… Nhận thức được tiềm năng quan trọng của du lịch địa phương, HS ở đây có động lực tìm hiểu, học tập và phấn đấu vươn lên góp phần phát triển kinh tế, xã hội cũng như biến du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương
1.1.3.3 Đặc điểm kiến thức lịch sử địa phương lớp 10 tỉnh Ninh Bình và quá trình nhận thức lịch sử của học sinh lớp 10 trung học phổ thông
- Đặc điểm chung của kiến thức lịch sử:
Kiến thức môn lịch sử ở trường phổ thông là những cơ sở của khoa học lịch
sử Đó là những hiểu biết cơ bản của con người về lịch sử hiện thực đã xảy ra trong
xã hội loài người và của dân tộc kể từ khi con người và xã hội loài người xuất hiện cho đến nay được con người nhận thức lại, khôi phục, được khoa học xác nhận lại tính chân thực và ghi chép trong những cuốn sách giáo khoa mới nhất Khác với kiến thức của các bộ môn khác, kiến thức lịch sử nói chung, kiến thức LSĐP nói riêng có các đặc điểm: tính quá khứ, tính cụ thể, tính hệ thống, tính không lặp lại và tính thống nhất giữa sử và luận
+ Tất cả những sự kiện và hiện tượng lịch sử được đề cập đến trong các bài học đều đã xảy ra nên nó mang tính quá khứ Bởi vậy, người ta không thể trực tiếp quan sát lịch sử quá khứ mà chỉ nhận thức một cách gián tiếp thông qua các nguồn tài liệu được lưu lại (hiện vật, thành văn, hình ảnh)
+ Sự kiện lịch sử là sự kiện có thật cho nên nó mang tính cụ thể Tính cụ thể
ấy chỉ cho người học làm thế nào phải dựng lại, khôi phục lại được bức tranh quá khứ DSVH trong đó có di tích lịch sử có những cổ vật, hiện vật, bảo vật ấy là những cái minh chứng cụ thể giúp HS lĩnh hội được kiến thức cơ bản
+ Tính hệ thống nghĩa là kiến thức lịch sử luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không rời rạc, không tự nhiên sinh ra và tự nhiên mất đi mà có liên quan với các sự kiện, hiện tượng khác theo lịch đại và đồng đại Đặc điểm này định hướng quá trình dạy học cần lưu ý chọn các phương pháp giúp cho HS tìm ra mối liên hệ bên trong của các sự vật, hiện tượng
Trang 39+ Khi học tập lịch sử HS chỉ được học một lần duy nhất trong một cấp học nên
nó còn mang tính không lặp lại Điều này gây khó khăn nhất định cho HS ghi nhớ kiến thức lịch sử Đặc điểm này lưu ý phải chú ý dành thời gian thỏa đáng để củng
cố, luyện tập kiến thức cho HS, đề ra những biện pháp giúp HS nhớ lâu, nhớ bền vững những kiến thức đã học Nguồn sử liệu của DSVH có tác dụng rất tốt để góp phần giúp HS ghi nhớ kiến thức
+ Tính thống nhất giữa sử và luận có nghĩa là kiến thức lịch sử bao giờ cũng chia làm 2 phần: Phần sử (thời gian, địa điểm, nhân vật, diễn biến, kết quả…), phần luận (giải thích, đánh giá, nhận xét, bình luận…), thiếu một trong hai yếu tố này thì kiến thức lịch sử trở nên vô nghĩa Dạy học lịch sử do đặc trưng của nó cần phải dựng lại sự kiện, mà dựng lại sự kiện chính là yếu tố “sử” trong dạy học Nhưng việc dựng lại này không phải là để đấy mà phải biết xem xét, phân tích, đánh giá để tìm ra những bài học tiêu biểu cho hiện nay, tức là có yếu tố “luận” Những di tích, di vật, hiện vật của DSVH không chỉ giúp HS trực quan sinh động các sự kiện, hiện tượng lịch sử đã diễn
ra, mà còn giúp cho HS có cơ sở để tư duy, tức là để giải quyết phần luận
- Đặc điểm riêng của kiến thức LSĐP:
Bên cạnh đảm bảo những đặc điểm của kiến thức lịch sử nói chung, kiến thức LSĐP lớp 10 tỉnh Ninh Bình còn tuân thủ theo mục tiêu của chương trình LSĐP cấp THPT tỉnh Ninh Bình, HS lớp 10 THPT được học tập những kiến thức lịch sử một cách chuyên sâu về vùng đất, con người Ninh Bình và hiểu biết những di tích lịch
sử - văn hóa ở địa bàn tỉnh Trên cơ sở đó, HS hình thành được kĩ năng nhận xét, đánh giá một cách tổng hợp và liên hệ được những kiến thức LSĐP với lịch sử dân tộc Qua đó, chuyên đề LSĐP lớp 10 góp phần bồi dưỡng tình cảm yêu mến, tự hào
về địa phương mình, trân trọng những giá trị truyền thống tốt đẹp của quê hương, nâng cao ý thức trách nhiệm của HS trong việc phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương, đất nước Ngoài ra, HS có ý thức trân trọng, giữ gìn và bảo tồn các DSVH, di tích lịch sử ở địa phương
- Quá trình nhận thức lịch sử của HS lớp 10 THPT :
Từ đặc trưng kiến thức lịch sử nói chung và đặc điểm kiến thức LSĐP lớp 10 tỉnh Ninh Bình nói riêng như trên thì con đường nhận thức lịch sử bao giờ cũng đi
Trang 40từ tri giác sự kiện, hình dung tưởng tượng để có biểu tượng và trên cơ sở nhớ sự kiện, HS phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp để hình thành khái niệm, nêu quy luật và rút ra bài học lịch sử Sử dụng DSVH Cố đô Hoa Lư trong dạy học LSĐP lớp 10 tỉnh Ninh Bình cũng phải tuân thủ đặc trưng và con đường nhận thức lịch sử
Tổ chức dạy học cho HS thông qua sự kiện, phải tạo được biểu tượng, hình thành khái niệm để từ đó nêu lên được quy luật và rút ra bài học
Ở năm học đầu tiên của cấp THPT, HS lớp 10 đã trưởng thành hơn về khả năng nhận thức kiến thức nói chung, nhận thức lịch sử nói riêng Khác với HS ở cấp học dưới, quá trình nhận thức lịch sử của các em HS lớp 10 có thể diễn ra một cách chủ động, nhanh chóng hơn khi được hỗ trợ bởi các phương tiện trực quan, công nghệ Ở lớp học này, GV có thể tổ chức HS tự học để lĩnh hội tốt kiến thức lịch sử nếu như người thấy giáo có tâm huyết, say mê với nghề và sử dụng hiệu quả các phương pháp dạy học mới góp phần nâng cao nhận thức lịch sử cho HS Như vậy, đặc điểm này chính là điều kiện thuận lợi để chúng tôi thực hiện nội dung đề tài sử dụng DSVH Cố đô Hoa Lư trong dạy học LSĐP ở trường THPT
1.1.3.4 Yêu cầu đổi mới giáo dục nói chung, phương pháp dạy học nói riêng
Nghị quyết số 29-NQ/TW của Trung ương Đảng, khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nhấn mạnh giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, của Đảng, Nhà nước, của toàn dân và là một trong những kế sách được ưu tiên đi trước tạo tiền đề, động lực thúc đẩy các lĩnh vực khác phát triển
Một trong những điểm sáng của giai đoạn đầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đã xây dựng chương trình GDPT tổng thể và các chương trình môn học, hoạt động giáo dục đáp ứng mục tiêu chú trọng phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học, kết hợp dạy chữ, dạy người và dạy nghề Chương trình GDPT tổng thể chú trọng khắc phục những bất cập, hạn chế của chương trình giáo dục hiện hành, như: Nội dung nặng về truyền thụ kiến thức, học sinh phải học và ghi nhớ rất nhiều nhưng khả năng vận dụng vào đời sống rất hạn chế; sự kết nối giữa chương trình các cấp học trong một môn học và giữa chương trình các môn học chưa chặt chẽ; một số nội dung giáo dục bị trùng lặp, chồng chéo hoặc chưa thật sự cần thiết đối với học sinh phổ thông Theo đó, ở giai đoạn giáo dục định