1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Thúc đẩy tiêu dùng xanh tại Nhật Bản và bài học cho Việt Nam

75 87 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ô nhiễm môi trường tác động không nhỏ tới sức khỏe con người. Tại Việt Nam, số trường hợp mắc mới ung thư tăng nhanh từ 68.000 ca năm 2000 lên 126.000 năm 2010 và dự kiến sẽ vượt qua 190.000 ca vào 2020. Theo xếp hạng của WHO, Việt Nam nằm trong 50 nước thuộc top 2 của bản đồ ung thư (vị trí 78172) với tỉ lệ tử vong 110100.000 người. Theo PGS.TS Trần Văn Thuấn, Giám đốc Bệnh viện K: chế độ ăn uống không hợp lý và ô nhiễm thực phẩm chiếm khoảng 35%, ô nhiễm môi trường chiếm từ 28% nguyên nhân gây ung thư ở Việt Nam. Đó là con số chỉ tính riêng với bệnh ung thư, ô nhiễm môi trường còn gây ra rất nhiều bệnh nữa như các bệnh về phổi và đường hô hấp,…với một chi phí y tế lớn mà chúng ta chưa thể thống kê được. Những con số trên là minh chứng cho sự tăng trưởng không bền vững – phát triển nền sản xuất đánh đổi bởi môi trường và sức khỏe con người. Để nền kinh tế phát triển theo chiều sâu, trước tiên nên hướng tới một xu hướng tiêu dùng lành mạnh – tiêu dùng xanh. Xu hướng này sẽ dần đào thải những sản phẩm và cách sản xuất gây tác động xấu tới môi trường và sức khỏe con người.Mặc dù người tiêu dùng Việt Nam rất có thiện cảm với sản phẩm xanh, nhưng từ thiện cảm đó đến hành vi tiêu dùng xanh đòi hỏi một động lực lớn hơn. Nghiên cứu sẽ góp phần giải quyết những vấn đề trên

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ

-*** -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

THÚC ĐẨY TIÊU DÙNG XANH TẠI NHẬT BẢN VÀ

BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

Người hướng dẫn: PGS.TS Từ Thúy Anh

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TIÊU DÙNG XANH 5

1.1 Cơ sở lý luận về sản phẩm xanh và tiêu dùng xanh 5

1.1.1 Cơ sở lý luận về sản phẩm xanh 5

1.1.2 Cơ sở lý luận về tiêu dùng xanh 7

1.2 Một số lý thuyết liên quan đến tiêu dùng xanh 9

1.2.1 Lý thuyết tiêu dùng có kế hoạch (TPB) của Ajzen 9

1.2.2 Mô hình hành vi tiêu dùng của người tiêu dùng quan tâm đến môi trường 11

1.2.3 Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh 12

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ VÀ CÁC BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY TIÊU DÙNG XANH TẠI NHẬT BẢN 14

2.1 Khái quát về kinh tế và tiêu dùng Nhật Bản 14

2.1.1 Về kinh tế 14

2.1.2 Về tiêu dùng 18

2.2 Các biện pháp thúc đẩy tiêu dùng xanh tại Nhật Bản 19

2.2.1 Gắn nhãn sinh thái 21

2.2.2 Xây dựng mạng lưới tiêu dùng xanh 26

2.2.3 Mua sắm xanh ở khu vực công 28

2.2.4 Một số biện pháp khác 33

2.3 Kết quả của các biện pháp thúc đẩy tiêu dùng xanh tại Nhật Bản 37

CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ VÀ CÁC BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY TIÊU DÙNG XANH TẠI VIỆT NAM 41

3.1 Khái quát về kinh tế và tiêu dùng Việt Nam 41

3.1.1 Về Kinh tế 41

3.1.2 Về Tiêu dùng 43

3.2 Thực trạng các giải pháp thúc đẩy tiêu dùng xanh đang sử dụng tại Việt Nam 45

3.2.1 Gắn nhãn sinh thái 47

3.2.2 Xây dựng mạng lưới tiêu dùng xanh 50

Trang 3

3.2.3 Mua sắm xanh ở khu vực công 53

3.2.4 Các biện pháp khác 54

CHƯƠNG IV: KIẾN NGHỊ THÚC ĐẨY TIÊU DÙNG XANH TẠI VIỆT NAM 58 4.1 Mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế bền vững của quốc gia 58

4.1.1 Quan điểm chiến lược 58

4.1.2 Mục tiêu 59

4.2 Giải pháp thúc đẩy tiêu dùng xanh tại Việt Nam 60

4.2.1 Về chính sách mua sắm công xanh 61

4.2.2 Về chính sách gắn nhãn sinh thái 62

4.2.3 Về chính sách xây dựng mạng lưới tiêu dùng xanh 63

4.2.4 Một số chính sách khác 64

KẾT LUẬN 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ

A DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Bảng sự thay đổi cơ cấu lao động và các lĩnh vực kinh tế của Nhật Bản giai đoạn 1950 - 2015 16 Bảng 2.2: Cơ cấu dân số Nhật Bản giai đoạn 1872 - 2016 17 Bảng 2.3: Tổng hợp một số biện pháp khuyến khích tiêu dùng xanh tại Nhật Bản 20

Bảng 3.1: Hiện trạng hiệu quả của các hoạt động thúc đẩy tiêu dùng xanh tại Việt Nam 46 Bảng 3.2: Danh sách các sản phẩm được chứng nhận nhãn xanh Việt Nam 49

B DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1: Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajen (1991) 10 Hình 1.2: Mô hình hành vi tiêu dùng tổng thể của người tiêu dùng quan tâm tới môi trường 11 Hình 1.3: Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi tiêu dùng xanh 13

Hình 2.1: Chi tiêu cho tiêu dùng hàng tháng của một hộ gia đình Nhật (hơn 2 người) 19 Hình 2.2: Cơ chế các biện pháp của Chính phủ Nhật ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh 20 Hình 2.3: Cơ cấu hoạt động của Chương trình Eco Mark nhằm đảm bảo tính minh bạch 23 Hình 2.4: Vai trò của các bên liên quan trong việc mua bán xanh ở Nhật 31 Hình 2.5: Tình hình thực hiện dự án mua sắm công xanh trừ các dự án công trình công cộng 38 Hình 2.6: Thị phần của một số sản phẩm thân thiện với môi trường 39 Hình 2.7: Lượng chất thải trung bình hàng ngày mỗi người dân Nhật Bản thải ra từ năm tài chính 2005 đến 2014 40

Hình 3.1: Tỷ trọng các mặt hàng tiêu dùng của Việt Nam giai đoạn 2015-2020 44 Hình 3.2: Cơ chế các biện pháp của Chính phủ Việt Nam ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh 47

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Giảm thiểu - Tái sử dụng - Tái chế

Tổ chức Hành động vì Môi trường

Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương

Điểm đến xanh

Mạng lưới nhãn sinh thái toàn cầu

Mạng lưới tiêu dùng xanh

Mua sắm công xanh

Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa

Hiệp hội Môi trường Nhật Bản

Trung tâm Truyền thông giáo dục cộng đồng

Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2016 là 6,21% và năm 2017, con số này là 6,81% Chỉ số vĩ mô này có xu hướng quy đổi mọi thứ ra tiền nhưng lại chưa tính hết cái giá phải trả đó là môi trường và sức khỏe con người

Kết quả xếp hạng EPI (chỉ số đánh giá hoạt động môi trường - Environmental Performance Index) cho thấy: Vị trí xếp hạng của Việt Nam về hoạt động bảo vệ môi trường là 79/132 năm 2012 và 131/180 nước được xếp hạng năm 2016 Theo nghiên cứu mới nhất về chỉ số EPI công bố năm 2016, tình hình môi trường ở Việt Nam đáng báo động với việc xử lý nước thải, xếp hạng 124/139 Khí hậu và năng lượng, xếp hạng 105/113 Đáng chú ý nhất trong số 5 vấn đề được đánh giá theo chỉ số này, chất lượng không khí ở Việt Nam đứng thứ 170/180, tức là gần cuối bảng

Ô nhiễm môi trường tác động không nhỏ tới sức khỏe con người Tại Việt Nam,

số trường hợp mắc mới ung thư tăng nhanh từ 68.000 ca năm 2000 lên 126.000 năm

2010 và dự kiến sẽ vượt qua 190.000 ca vào 2020 Tức là mỗi ngày có đến hơn 300 người chết do ung thư và con số này ngày càng tăng nhanh Theo xếp hạng của WHO, Việt Nam nằm trong 50 nước thuộc top 2 của bản đồ ung thư (vị trí 78/172) với tỉ lệ tử vong 110/100.000 người Theo PGS.TS Trần Văn Thuấn, Giám đốc Bệnh viện K: chế

độ ăn uống không hợp lý và ô nhiễm thực phẩm chiếm khoảng 35%, ô nhiễm môi trường chiếm từ 2-8% nguyên nhân gây ung thư ở Việt Nam Đó là con số chỉ tính riêng với bệnh ung thư, ô nhiễm môi trường còn gây ra rất nhiều bệnh nữa như các bệnh về phổi và đường hô hấp,…với một chi phí y tế lớn mà chúng ta chưa thể thống

kê được

Những con số trên là minh chứng cho sự tăng trưởng không bền vững – phát triển nền sản xuất đánh đổi bởi môi trường và sức khỏe con người Để nền kinh tế phát triển theo chiều sâu, trước tiên nên hướng tới một xu hướng tiêu dùng lành mạnh – tiêu

Trang 7

dùng xanh Xu hướng này sẽ dần đào thải những sản phẩm và cách sản xuất gây tác động xấu tới môi trường và sức khỏe con người

Mặc dù người tiêu dùng Việt Nam rất có thiện cảm với sản phẩm xanh, nhưng

từ thiện cảm đó đến hành vi tiêu dùng xanh đòi hỏi một động lực lớn hơn Để góp phần

giải quyết những vấn đề trên, em chọn đề tài: “Thúc đẩy tiêu dùng xanh tại Nhật Bản

và bài học cho Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

2 Khoảng trống nghiên cứu

Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu đã được dùng để nghiên cứu về hành vi tiêu dùng xanh Tuy nhiên tại Việt Nam, nền tảng lý thuyết liên quan đến tiêu dùng xanh vẫn còn khá hạn chế Có thể kể ra một số nghiên cứu nổi bật liên quan đến tiêu dùng xanh tại Việt Nam đó là: Mô hình giả định các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu dùng xanh của (Vũ Anh Dũng và các cộng sự, 2012); Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh: trường hợp sinh viên Đà Nẵng (Trần Triệu Khải, 2015); Ý định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ của người tiêu dùng trẻ: vai trò của niềm tin (Nguyễn Kim Đan, 2015); Yếu tố tác động đến ý định tiêu dùng sản phẩm điện máy xanh của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh – tiếp cận theo lý thuyết hành vi dự định TPB (Nguyễn Bích Ngọc và các cộng sự, 2015); Nghiên cứu những nhân tố tác động tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh của người tiêu dùng Việt Nam (Hoàng Thị Bảo Thoa, 2017)

Tuy nhiên các nghiên cứu kể trên chỉ đi sâu vào số liệu, khẳng định mối quan hệ ảnh hưởng và khuyến nghị chính sách một cách chung chung mà chưa đi sâu vào phân tích thực trạng thực hiện các chính sách thúc đẩy tiêu dùng xanh đó như thế nào và hiệu quả của những giải pháp đó ra sao tại Việt Nam

Mặt khác, khi xem xét nền kinh tế Nhật Bản ở những năm 1950, 1960 (thời kỳ phát triển công nghiệp cao độ), đất nước này cũng từng trải qua tình trạng ô nhiễm môi trường chưa từng thấy và kèm theo những thiệt hại về sức khoẻ hay còn gọi là

Trang 8

“pollution diseases” (Hirokazu Iwasaki, 2008) Nhưng hiện nay Nhật không chỉ có một nền kinh tế bền vững mà chất lượng môi trường và sức khỏe con người cũng được đảm bảo an toàn Nhận thấy Nhật Bản là một tiền lệ thành công với xu hướng tiêu dùng xanh tiến bộ, khóa luận sẽ đi vào phân tích các biện pháp thúc đẩy tiêu dùng xanh được khởi xướng bởi khối nhà nước nhằm áp dụng một cách phù hợp dựa trên những nghiên cứu đã có về đặc điểm của người tiêu dùng và nền kinh tế Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận tập trung vào các mục đính chính cụ thể là:

- Tìm hiểu và hệ thống hóa các khái niệm về tiêu dùng xanh trên thế giới và tại Việt Nam Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi tiêu dùng xanh

- Phân tích các biện pháp thúc đẩy tiêu dùng xanh tại Nhật Bản

- Hệ thống lại và phân tích những công cụ thúc đẩy tiêu dùng xanh từ đó đưa ra

đề xuất kiến nghị xây dựng một nền tiêu dùng bền vững ở Việt Nam

4 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là các biện pháp thúc đẩy hành vi tiêu dùng xanh của Nhật Bản và Việt Nam

Phạm vi về thời gian: Nhật Bản (từ những năm 1950 tới nay), Việt Nam (từ

2001 tới nay)

Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu trên sản phẩm xanh nói chung và đặc biệt là thực phẩm an toàn và thiết bị tiết kiệm điện Vì đây là những mặt hàng chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu tiêu dùng của người dân Việt Nam Cụ thể, trong

rổ hàng hóa tính CPI (2017), lương thực thực phẩm, ăn uống ngoài gia đình chiếm 36,12%, thiết bị và đồ dùng gia đình chiếm 7,31% cơ cấu tiêu dùng Do đó những bước đầu tiên của tiêu dùng xanh chắc chắn phải bắt đầu từ các sản phẩm này

Trang 9

Phương pháp nghiên cứu: tổng hợp, thu thập số liệu, đối chiếu, so sánh những biện pháp khuyến khích tiêu dùng xanh tại Nhật Bản và Việt Nam Khóa luận sẽ diễn giải nội dung lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh và lồng ghép phân tích trong các chính sách thúc đẩy tiêu dùng xanh tại hai nước

5 Kết cấu của khóa luận:

Ngoài lời mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 4 chương nội dung:

Chương I: Lý thuyết chung về tiêu dùng xanh

Chương II: Thực trạng nền kinh tế và các biện pháp thúc đẩy tiêu dùng xanh tại

Nhật Bản

Chương III: Thực trạng nền kinh tế và các biện pháp thúc đẩy tiêu dùng xanh

tại Việt Nam

Chương IV: Kiến nghị thúc đẩy tiêu dùng xanh tại Việt Nam

Khóa luận không thể tránh được những thiếu sót do hạn chế về số liệu và “tiêu dùng xanh” vẫn còn là một khái niệm khá trừu tượng, do đó em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã cung cấp những kiến thức nền tảng, đặc biệt là cô Từ Thúy Anh đã tận tình giúp đỡ để em có thể hoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 10

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TIÊU DÙNG XANH

1.1 Cơ sở lý luận về sản phẩm xanh và tiêu dùng xanh

1.1.1 Cơ sở lý luận về sản phẩm xanh

1.1.1.1 Khái niệm sản phẩm xanh

Tuy có rất nhiều nghiên cứu về tiêu dùng xanh và sản phẩm xanh nhưng tính đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất và ranh giới giữa những khái niệm sản phẩm xanh được đưa ra còn nhiều hạn chế (Fabien Durif et al., 2010) Shamdasamin et

al (1993) định nghĩa sản phẩm xanh là sản phẩm không gây ô nhiễm cho Trái đất hoặc gây tổn hại tài nguyên thiên nhiên và có thể tái chế, bảo tồn Liu M.S và S.D Wu (2009) định nghĩa sản phẩm xanh là các sản phẩm có chức năng hoặc ý tưởng đề cập đến quá trình thu hồi, sản xuất, bán, sử dụng và xử lý chất thải có sẵn để tái chế, giảm ô nhiễm và tiết kiệm năng lượng Trong khi đó Albino, Balice và Dangelico (2009) cho rằng sản phẩm xanh là sản phẩm được thiết kế để giảm thiểu các tác động môi trường trong toàn bộ vòng đời của nó Cụ thể là giảm sử dụng tài nguyên không thể phục hồi, tránh sử dụng các vật liệu độc hại và sử dụng nguồn tái tạo phù hợp với tốc độ bổ sung của chúng Hoàng Thị Bảo Thoa (2017) cho rằng sản phẩm xanh được xem xét là các sản phẩm ngăn chặn, giảm, hạn chế hoặc cải thiện ảnh hưởng tới môi trường nước, không khí và đất và các sản phẩm không gây hại hoặc tốt cho sức khỏe cộng đồng

Tại Việt Nam, khái niệm sản phẩm xanh còn được hiểu là sản phẩm thân thiện với môi trường hay sản phẩm sinh thái Trong Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường năm

2014 có đưa ra định nghĩa sản phẩm thân thiện với môi trường tại Điều 3, khoản 9 như sau: “Sản phẩm thân thiện với môi trường là sản phẩm đáp ứng các tiêu chí nhãn sinh thái và được chứng nhận nhãn sinh thái” Theo định nghĩa này, một sản phẩm được xác định là sản phẩm xanh khi đáp ứng các tiêu chí nhãn sinh thái và được chứng nhận nhãn sinh thái Tiêu chí “đáp ứng các tiêu chí nhãn sinh thái” là tiêu chí cần và tiêu chí

“được chứng nhận nhãn sinh thái” là tiêu chí đủ để một sản phẩm được xác định là sản

Trang 11

phẩm thân thiện với môi trường Các tiêu chí đó là: (1) Sản phẩm được tạo ra từ các vật liệu thân thiện với môi trường; (2) Sản phẩm đem đến những giải pháp an toàn đối với môi trường và sức khỏe con người, thay cho các sản phẩm độc hại truyền thống; (3) Sản phẩm giảm tác động đến môi trường trong quá trình sử dụng (ít chất thải, sử dụng năng lượng tái sinh, ít chi phí bảo trì); (4) Sản phẩm tạo ra một môi trường thân thiện

và an toàn đối với sức khỏe con người Tuy nhiên đây mới chỉ là cách định nghĩa nêu

ra đặc điểm của một sản phẩm được Bộ Tài nguyên và Môi trường công nhận là sản phẩm xanh, chưa bao quát hết được nhiều sản phẩm xanh thực tế trên thị trường Hơn nữa, cách định nghĩa này chỉ sử dụng ở Việt Nam, mà không được công nhận chính thức ở các văn bản Luật quốc tế

Dựa trên cách định nghĩa ở các nghiên cứu đi trước và cơ sở phù hợp với Luật của Việt Nam, khóa luận sẽ phân tích dưới góc độ sản phẩm xanh là các sản phẩm mà quá trình sản xuất và sử dụng thân thiện với môi trường và sức khỏe con người

1.1.1.2 Đặc điểm của sản phẩm xanh

Tổng hợp từ những cách định nghĩa về sản phẩm xanh, nhìn chung, sản phẩm xanh (hay sản phẩm sinh thái) có những đặc điểm chung như sau:

- Tiết kiệm năng lượng, bền và thường có yêu cầu bảo trì thấp

- Không chứa các hóa chất làm suy giảm tầng ôzôn, các hợp chất độc hại và không sản sinh các sản phẩm phụ độc hại

- Thường được làm từ vật liệu có thể tái chế hoặc thân thiện hoặc từ nguồn có thể tái tạo và bền vững

- Thu được từ các nhà sản xuất địa phương hoặc các nguồn lực sẵn có

- Phân hủy sinh học hoặc dễ dàng sử dụng lại một phần hoặc toàn bộ

Tại Việt Nam, theo Quy chế Quản lý và Sử dụng Nhãn hiệu truyền thông “xanh

& sạch” ban hành theo Quyết định số 01/2016/QĐ-MEC ngày 5 tháng 5 năm 2016, các đặc tính của sản phẩm mang nhãn hiệu chứng nhận “xanh & sạch” là:

Trang 12

- Đặc tính “an toàn”: Đảm bảo thực hiện đúng quy trình sản xuất thực phẩm an toàn, bao gồm các quy trình do Nhà nước, tổ chức quốc tế ban hành hoặc cộng đồng thừa nhận

- Đặc tính “trách nhiệm”: Đảm bảo thực hiện đầy đủ các thông số, kích thước, vị trí, cảnh báo, lưu ý,… khi ghi nhãn hàng hóa đối với thực phẩm, phụ gia thực phẩm và chất hỗ trợ chế biến thực phẩm bao gói theo quy định

- Đặc tính “nghĩa vụ”: Đảm bảo việc phát hành hóa đơn bán hàng, có đầy đủ thông tin theo quy định

- Đặc tính “cộng đồng”: Đảm bảo có và thực thi Quy trình giải quyết, tôn trọng vai trò của bên thứ ba và các biện pháp khắc phục hậu quả khi bị người tiêu dùng khiếu nại về chất lượng sản phẩm, dịch vụ theo quy định

- Đặc tính “minh bạch”: Đảm bảo công bố rõ trên trang tin điện tử tên, số điện thoại người chịu trách nhiệm chính; đặc tính, cảnh báo về hàng hóa dịch vụ mình cung cấp cũng như tiêu chuẩn áp dụng theo quy định

- Đặc tính “bền vững”: Đảm bảo việc thực hiện các hoạt động cần thiết nhằm bảo

vệ môi trường, giảm thiểu tác động đối với môi trường, bao gồm việc lựa chọn nguyên vật liệu, áp dụng công nghệ thân thiện với môi trường, có biện pháp xử

lý chất thải phù hợp và tiên tiến Riêng đặc tính “bền vững” không phải là yêu cầu bắt buộc để được cấp chứng nhận “Xanh & Sạch”

1.1.2 Cơ sở lý luận về tiêu dùng xanh

1.1.2.1 Các khái niệm

- Tiêu dùng xanh:

Lần đầu tiên khái niệm tiêu dùng xanh được nhắc đến năm 1970 (Peattie, 2010)

Từ đó có rất nhiều nghiên cứu đã mở rộng khái niệm này hoặc định nghĩa theo những cách tương tự để phù hợp với nội dung nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiên cứu nhìn chung đều đề cập đến những điểm cơ bản sau: tiêu dùng xanh là hành vi mua các sản phẩm thân thiện với môi trường (sử dụng ít năng lượng hoặc có khả năng tái chế), không gây hại hoặc tốt cho sức khỏe của con người đồng thời sử dụng các sản phẩm

Trang 13

sao cho ít gây hại nhất đối với môi trường (Hoàng Thị Bảo Thoa, 2017) Khóa luận sẽ

sử dụng định nghĩa này trong quá trình phân tích

- Ý định và Hành vi tiêu dùng xanh:

Khóa luận sử dụng khái niệm ý định của Ajzen và các cộng sự (2002): Ý định hành vi ngụ ý sự sẵn sàng của một cá nhân để thực hiện một hành vi cho trước Nó được giả định là tiền đề trung gian của hành vi

Ý định tiêu dùng xanh là ý định của một cá nhân ngụ ý thực hiện hành vi tiêu dùng xanh

Hành vi tiêu dùng xanh là một chuỗi các hành vi bao gồm: mua sản phẩm xanh,

sử dụng xanh (tiết kiệm, tái chế, tái sử dụng, sử dụng bao bì xanh và xử lý rác) (Vũ Anh Dũng và các cộng sự, 2012)

1.1.2.2 Vai trò của tiêu dùng xanh

Tiêu dùng xanh không chỉ có tác động tích cực đến lối sống của cá nhân và hộ gia đình mà nó còn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của một quốc gia và ảnh hưởng trực tiếp trên phạm vi toàn cầu

Tiêu dùng xanh nâng cao mức độ an toàn về sức khỏe cho con người; Giảm lượng sử dụng năng lượng và tài nguyên thiên nhiên; Phát triển các sản phẩm mới có hàm lượng tri thức cao hơn và thân thiện với môi trường hơn Ngoài ra, tiêu dùng xanh còn thúc đẩy quá trình tái chế các chất thải, từ việc thu gom, phân loại cho tới sản xuất

và phát triển thị trường sử dụng các sản phẩm tái chế Xét về dài hạn, tiêu dùng xanh sẽ làm giảm chi phí của cuộc sống bởi việc sử dụng những nguồn lực hiệu quả hơn và giảm thiểu chi phí y tế, chi phí bảo vệ môi trường

Việt Nam đang trong quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy kịp thời hướng tới một nền tiêu dùng xanh hoàn toàn là một định hướng đúng đắn Hơn nữa, tăng trưởng theo chiều sâu hướng đến phát triển bền vững đã trở thành xu hướng chung của nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là kể từ sau Hội nghị Rio+20 tại Brazil So

Trang 14

với các nước trong khu vực, yêu cầu về sản phẩm xanh (sản phẩm thân thiện với môi trường) trên thị trường Việt Nam cùng với nhận thức của người tiêu dùng vẫn còn hạn chế Các sản phẩm được cấp nhãn sinh thái không nhiều và các sản phẩm đạt chứng nhận về môi trường (như nhãn xanh Việt Nam, VietGap, GlobalGap) vẫn chưa thực sự nổi bật trên thị trường Vì người tiêu dùng hầu như chưa nhận biết được sự khác nhau của một “thương hiệu sinh thái” và một thương hiệu thông thường nên việc đầu tư vào công nghệ, phương thức quản lý và áp dụng hệ thống sản xuất xanh của các doanh nghiệp vẫn còn hạn chế Điều này dẫn đến giảm sức cạnh tranh khi các doanh nghiệp Việt Nam bước ra trường quốc tế hay thậm chí là mất thị phần trên chính thị trường nội địa do các sản phẩm xanh từ nước ngoài tràn vào Như vậy, xu hướng tiêu dùng xanh còn có tác động kích thích sự phát triển của nền sản xuất trong nước, kéo theo sự phát triển đồng bộ cả từ phía cung và cầu trên thị trường

Tiêu dùng xanh cũng tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu Khi sản phẩm của Việt Nam được sự công nhận quốc tế, để trở thành một sản phẩm sinh thái hay sản phẩm xanh, không chỉ tiêu dùng nội địa tăng, mà còn có cơ hội được các thị trường có rào cản kỹ thuật về môi trường cao chấp nhận Tuy một số mặt hàng xuất khẩu Việt Nam có chất lượng cao, giá cả hợp lý nhưng vẫn bị trả lại vì lý do quy trình sản xuất gây hại cho môi trường

1.2 Một số lý thuyết liên quan đến tiêu dùng xanh

1.2.1 Lý thuyết tiêu dùng có kế hoạch (TPB) của Ajzen

Phần lớn các nghiên cứu về tiêu dùng xanh coi ý định và hành vi tiêu dùng xanh

là hai đối tượng khác nhau đều sử dụng nền tảng lý luận lý thuyết tiêu dùng có kế hoạch của Ajzen (1991) Theo lý thuyết này, ý định được cho là nhân tố động cơ dẫn đến hành vi, thể hiện việc con người sẽ cố gắng đến mức nào hay dự định sẽ dành bao nhiêu nỗ lực vào việc thực hiện một hành vi cụ thể Như vậy, ý định tiêu dùng xanh càng mạnh mẽ thì khả năng thực hiện tiêu dùng xanh sẽ càng lớn

Trang 15

Trong lý thuyết này, tác giả cho rằng ý định thực hiện hành vi chịu ảnh hưởng bởi 3 nhân tố: (1) Thái độ đối với hành vi; (2) Chuẩn mực chủ quan; (3) Nhận thức về kiểm soát hành vi

Nguồn: Ajzen (1991)The theory of planned behavior Organizatinal Behavior and Human

Decision Processes

(1) Thái độ thực hiện hành vi: là cảm giác tích cực hoặc tiêu cực của cá nhân về

việc thực hiện một hành vi nhất định Thái độ miêu tả cách cá nhân đó đánh giá kết quả của một hành động

(2) Chuẩn mực chủ quan: là nhận thức của con người về cách phải ứng xử thế

nào để phù hợp với yêu cầu của xã hội, là niềm tin của cá nhân về việc người khác sẽ nghĩ thế nào về hành động của mình Chuẩn mực chủ quan thể hiện việc cá nhân tự nhận thức những người quan trọng đối với việc ra quyết định của họ có mong muốn họ thực hiện hành vi cụ thể nào đó hay không

(3) Nhận thức về kiểm soát hành vi: là sự dễ dàng hay khó khăn trong việc thực

hiện một hành vi cá nhân có ý định thực hiện

Ý định hành vi

Thực hiện hành

vi

Hình 1.1: Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajen (1991)

Trang 16

Có thể kết luận về các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi tiêu dùng xanh là: thái độ đối với hành vi tiêu dùng xanh càng tích cực, chuẩn mực chủ quan càng ủng hộ việc thực hiện hành vi và nhận thức về kiểm soát hành vi càng ít bị cản trở thì ý định thực

hiện hành vi càng mạnh mẽ và khả năng thực hiện hành vi tiêu dùng xanh sẽ cao hơn

1.2.2 Mô hình hành vi tiêu dùng của người tiêu dùng quan tâm đến môi trường

Đây là mô hình được đưa ra bởi Rylander và Allen (2001) của Hiệp hội marketing Mỹ (American Marketing Association) Mô hình này mô tả tổng thể hành vi tiêu dùng của người tiêu dùng quan tâm tới môi trường Đồng thời, mô hình cũng tổng hợp phần lớn các nhân tố có thể ảnh hưởng tới hành vi tiêu dùng xanh được đề xuất bởi những nhà nghiên cứu trước đó

Nguồn: Rylander and Allen (2001), American Marketing Association

Các nhân tố bên trong ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh:

- Nhận thức của người tiêu dùng về tính hiệu quả của sản phẩm

- Nhạy cảm về yếu tố giá

- Niềm tin đối với quảng cáo

Ý định tiêu dùng xanh (hướng

đến hành vi bảo vệ môi trường)

Hành vi tiêu dùng:

- Mua sản phẩm xanh

- Mua sản phẩm của nhà sản xuất vì môi trường

- Tái chế/tái sử dụng sản phẩm hoặc bao bì

Các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh:

Trang 17

Theo mô hình này, hành vi tiêu dùng xanh thực tế bị ảnh hưởng bởi ý định thực hiện hành vi tiêu dùng xanh Các nhân tố bên trong và bên ngoài cũng có thể ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh, để từ ý định dẫn đến hành vi tiêu dùng xanh Cụ thể, hai nhóm nhân tố đó là:

- Nhóm các yếu tố bên trong: Nhận thức của người tiêu dùng về tính hiệu quả của sản phẩm, sự nhạy cảm về yếu tố giá và niềm tin đối với quảng cáo

- Nhóm các yếu tố bên ngoài: Các chính sách thương mại của Chính phủ; sự tác động của doanh nghiệp, của người bên ngoài và sự sẵn có của sản phẩm

1.2.3 Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh

Suy rộng ra từ những nghiên cứu về tiêu dùng xanh đi trước, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh là:

- Thu nhập: thu nhập càng cao thì khả năng thực hiện hành vi tiêu dùng xanh càng cao

- Thái độ đối với hành vi tiêu dùng xanh: càng đánh giá tích cực về tiêu dùng xanh, càng có khả năng thực hiện hành vi tiêu dùng xanh

- Chuẩn mực chủ quan: các đối tượng xã hội (như Chính phủ, truyền thông, người xung quanh/gia đình, phong trào) càng đánh giá cao tiêu dùng xanh thì khả năng thực hiện hành vi tiêu dùng xanh càng cao

- Nhận thức về kiểm soát hành vi: càng sẵn có về thời gian, tiền, khả năng tiếp nhận thông tin, kiến thức của bản thân, sản phẩm càng sẵn có thì khả năng thực hiện hành vi tiêu dùng xanh càng cao

- Các yếu tố về sản phẩm (giá, chất lượng, mẫu mã, thương hiệu, nhãn sinh thái,

sự sẵn có, kênh phân phối, nguồn tin cậy): càng cạnh tranh so với sản phẩm thường thì khả năng thực hiện hành vi tiêu dùng xanh càng cao

- Thái độ đối với môi trường: người tiêu dùng càng quan tâm tới môi trường thì khả năng thực hiện hành vi tiêu dùng xanh càng cao

Trang 18

- Nhận thức về tính hiệu quả: người tiêu dùng càng thấy lợi ích của tiêu dùng xanh thì khả năng thực hiện hành vi tiêu dùng xanh càng cao

- Nhận thức về tính hiệu quả của tiêu dùng xanh

- Thái độ đối với môi trường

Hành vi tiêu dùng xanh

Hình 1.3: Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi tiêu dùng xanh

Trang 19

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ VÀ CÁC BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY TIÊU DÙNG XANH TẠI NHẬT BẢN

2.1 Khái quát về kinh tế và tiêu dùng Nhật Bản

Đối với Nhật Bản, những năm 1950, Nhật khá giống với Việt Nam hiện nay, cả

về cơ chế nguồn nhân lực, cơ cấu GDP và xuất khẩu Nhưng chỉ trong 20 năm, Nhật Bản đã trở thành nước công nghiệp hiện đại Thực tế cho thấy trong quá trình phát triển công nghiệp của mình, Nhật đã đánh đổi một chi phí quá lớn, đó là tình trạng ô nhiễm môi trường chưa từng thấy và kèm theo những thiệt hại về sức khoẻ hay còn gọi là

“pollution diseases” (Hirokazu Iwasaki, 2008) Để khắc phục tình trạng đó, Nhật Bản

đã tốn một chi phí không nhỏ cùng với việc ban hành nhiều chính sách và xây dựng hệ thống tiêu dùng xanh phủ sóng rộng khắp đất nước Vì vậy, khóa luận không chỉ khái quát về nền kinh tế và tiêu dùng tại Nhật hiện tại mà tác giả sẽ cung cấp thêm một số thông tin về nền kinh tế và tiêu dùng Nhật Bản ở những năm 1950, 1960 để đối chiếu

và so sánh Từ đó, Việt Nam có thể rút ra bài học thực tiễn và áp dụng một nền tiêu dùng lành mạnh cho quốc gia ngay từ thời kỳ đang phát triển, không phải thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa thành công rồi mới đi xử lý hậu quả về con người và môi trường

2.1.1 Về kinh tế

Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới sau Mỹ và Trung Quốc với GDP 532.191 tỷ yên năm 2016 (tương đương khoảng 4,94 nghìn tỷ USD), mức tăng trưởng đạt 1,032% Nền tiêu dùng Nhật Bản có quy mô lớn, rộng khắp đất nước và rất tinh vi (U.S Embassies abroad, 2017) Tổng dân số Nhật Bản vào năm 2016 là 126,93 triệu người, đứng thứ 11 trên thế giới và chiếm 1,7% tổng số thế giới Trong đó có 53,33 triệu hộ gia đình tức là trung bình có khoảng 2,38 người trên mỗi hộ GDP bình quân đầu người là 38.972 USD/người gấp gần 18 lần GDP bình quân đầu người của Việt Nam là 2.171 USD/người

Trang 20

- Về cơ cấu GDP:

Những năm 1950, tỷ trọng Nông nghiệp trên tổng sản phẩm quốc nội GDP vẫn khá cao Năm 1950, số lao động làm việc trong lĩnh vực Nông nghiệp là 48,6%, Công nghiệp là 21,8% và Dịch vụ là 29,7% Năm 1955, Nông nghiệp chiếm 19,2% cơ cấu GDP, Công nghiệp chiếm 33,7% và Dịch vụ chiếm 47,0% cơ cấu GDP Nhưng sự phân bổ giữa các lĩnh vực Nông nghiệp, Công nghiệp và Dịch vụ thay đổi một cách nhanh chóng và tích cực qua các năm Đến năm 1970, Nhật đã chính thức trở thành quốc gia có nền Công nghiệp phát triển với tỷ trọng Công nghiệp chiếm 43,1% và Dịch

vụ chiếm 50,9% trong cơ cấu GDP, tỷ trọng nông nghiệp lúc này chỉ còn 5,9% (giảm hơn 3 lần so với năm 1955) Năm 2015, tỷ trọng Nông nghiệp chiếm 1,1% cơ cấu GDP Trong khi đó, con số này đối với ngành công nghiệp là 26,2% và dịch vụ là 72,7% Đây là một cơ cấu kinh tế tích cực, tập trung vào những ngành có giá trị gia tăng cao

Cơ cấu này đã thay đổi gần như ngược hoàn toàn với Nhật Bản những năm 1950

- Về cơ cấu dân số:

Năm 1955, có 41,2% lao động làm việc trong lĩnh vực Nông nghiệp; 23,4% lao động làm việc trong lĩnh vực Công nghiệp và 35,5% lao động làm việc trong lĩnh vực Dịch vụ Tuy nhiên cơ cấu dân số theo lĩnh vực lao động năm 2015 thay đổi hoàn toàn:

có 4% lao động làm việc trong lĩnh vực Nông nghiệp; 25% lao động làm việc trong lĩnh vực Công nghiệp và 71% lao động làm việc trong lĩnh vực Dịch vụ Cụ thể cơ cấu lao động theo ngành và sự đóng góp của các ngành vào GDP từ 1950 đến 2015 được thể hiện ở bảng sau:

Trang 21

Bảng 2.1: Bảng sự thay đổi cơ cấu lao động và các lĩnh vực kinh tế của Nhật Bản giai đoạn

1950 - 2015

Nguồn: Statistics Bureau, MIC; Cabinet Office

Trong đó:

Ngành nông nghiệp gồm: đánh bắt và nuôi trồng thủy sản

Ngành công nghiệp gồm: chế tạo tàu biển, xe hơi, xe gắn máy

Ngành dịch vụ gồm: thương mại và tài chính

Những năm 1950, cơ cấu dân số theo đội tuổi của Nhật là cơ cấu dân số trẻ với

số người trong độ tuổi lao động (15-64) là 59,6% (tương đương khoảng 50,13 triệu người) và tăng dần cho tới năm 1970 Độ tuổi từ 0-14 chiếm 35,4%; trên 65 chiếm 4,9% Thời điểm này, cơ cấu dân số của Nhật Bản khá giống với Việt Nam hiện nay, lực lượng lao động dồi dào là một động lực thuận lợi cho sự phát triển kinh tế của Nhật Bản Tuy nhiên, tính tới thời điểm hiện tại, cơ cấu dân số theo tuổi của Nhật Bản là cơ cấu dân số già Năm 2016, dân số nhóm (0-14 tuổi) ở Nhật Bản là 15,78 triệu người, chiếm 12,4% tổng dân số, là mức thấp nhất trong lịch sử Số người trong độ tuổi lao

Trang 22

động (14-64) là 76,56 triệu người, tương đương với 60,3% trên tổng dân số Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động này bắt đầu sụt giảm liên tục từ năm 1993 Bên cạnh đó,

tỷ lệ sinh ở Nhật cũng giảm liên tục từ năm 1965 đến nay Điều này báo động nguy cơ thiếu hụt lao động, đồng thời tăng tiêu dùng về lĩnh vực y tế và tăng chi phí phúc lợi xã hội

Bảng 2.2: Cơ cấu dân số Nhật Bản giai đoạn 1872 - 2016

Nguồn: Statistics Bureau, MIC; Ministry of Health, Labour and Welfare; Ministry of Land,

Infrastructure, Transport and Tourism

Trang 23

2.1.2 Về tiêu dùng

Lịch sử Nhật Bản đã chứng kiến sự đột phá về sản lượng tiêu dùng từ những năm 1950 đến những năm 1990 (Gordon & Andrew D., 2012) Ở thời kỳ này, các phương tiện truyền thông đại chúng đóng vai trò quan trọng trong sinh hoạt thường ngày của người dân và có thể chi phối hành vi tiêu dùng của các cá nhân Rất nhiều loại hàng hóa với số lượng lớn và nổi tiếng được sản xuất ở Nhật Bản phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu Các hộ gia đình tại Nhật bắt đầu sử dụng các thiết bị điện khí, tự động Nửa cuối những năm 1950 là xu hướng công nghệ mới tại Nhật Bản (Akira Sadahiro, 1991) Tính đến năm 1960, điều tra trên 20 triệu hộ gia đình có tỷ lệ sở hữu các mặt hàng tiêu dùng cơ bản như sau: 89% có radio; 72% có máy giặt; 66% có xe đạp; 54% có ti vi…(Gordon & Andrew D., 2012) Những năm 1950, xu hướng tiêu dùng Nhật Bản bắt đầu tự thay đổi và cũng thay đổi theo những biến động của xã hội Sau chiến tranh Triều Tiên, người tiêu dùng Nhật bắt đầu bộc lộ sự quan tâm đến các sản phẩm tiêu dùng (Parissa Haghirian, 2011)

Theo World Bank, tỷ lệ tiêu dùng của hộ gia đình trên GDP tại Nhật Bản 2016

là 55,84%, từ năm 2013, tỷ lệ này liên tục giảm Đối với tiêu dùng Chính phủ, giá trị chi tiêu hằng năm liên tục tăng, đạt mức 976,758 tỷ USD năm 2016 tương đương 19,77% giá trị GDP Tiêu dùng Chính phủ bằng khoảng 33,62% tổng tiêu dùng của hộ gia đình, con số này cao hơn mức trung bình của thế giới là 29,32% Tại Nhật, không chỉ chi tiêu của các hộ gia đình, mà chi tiêu Chính phủ cũng ảnh hưởng lớn đến xu hướng tiêu dùng của cả nền kinh tế nói chung

Cụ thể, chi tiêu trung bình năm 2016 cho mỗi hộ gia đình (2 hoặc hơn 2 thành viên) là 282.188 Yên So với năm 2015, giảm 1,8% về danh nghĩa và giảm 1,7% về giá trị thực Trung bình chi phí tiêu dùng một tháng của mỗi cá nhân trong hộ là 94.377 Yên Trong cơ cấu tiêu dùng của người dân Nhật Bản, đồ ăn chiếm tỷ lệ cao nhất với 25,8% Đồ gia dụng chiếm 3,7% cơ cấu tiêu dùng Đối với hộ gia đình 1 người, chi tiêu tiêu dùng trung bình hàng tháng là 158.911 Yên, gấp khoảng 1,68 lần cá nhân ở hộ nhóm 2 hoặc nhiều hơn 2 thành viên Trong tổng tiêu dùng của hộ gia đình 1 người, chi

Trang 24

phí đồ ăn, chiếm 25,1% Đồ gia dụng chiếm 3,4% Tỷ lệ tiêu dùng 2 nhóm hàng đồ ăn

và đồ gia dụng khá tương đồng giữa cá nhân ở hộ gia đình hai hoặc nhiều hơn 2 thành viên và cá nhân ở hộ gia đình một thành viên

Hình 2.1: Chi tiêu cho tiêu dùng hàng tháng của một hộ gia đình Nhật (hơn 2 người)

Nguồn: Statistics Bureau, MIC

2.2 Các biện pháp thúc đẩy tiêu dùng xanh tại Nhật Bản

Kể từ những năm 1960, Nhật đã thực hiện những chính sách một cách chậm rãi

và đáng kể để đối phó với các vấn đề về môi trường Phong trào tiêu dùng xanh ở Nhật bắt đầu từ cuối những năm 1980 Những quy định liên quan đến chương trình phát triển xanh được Chính phủ Nhật Bản lần đầu tiên chính thức ban hành vào năm 1989

Kể từ đó, Nhật Bản đã sử dụng rất nhiều chính sách nhằm thúc đẩy tiêu dùng một cách lành mạnh và bền vững (tiêu dùng xanh) Những công cụ đó đã tác động tích cực đến những yếu tố ảnh hưởng tới hành vi tiêu dùng xanh như: thái độ đối với hành vi tiêu dùng xanh và môi trường; chuẩn mực chủ quan; nhận thức về kiểm soát hành vi; nhận thức về tính hiệu quả của tiêu dùng xanh và làm thuận lợi các yếu tố về sản phẩm như (giá, chất lượng, nhãn hiệu sinh thái, kênh phân phối, nguồn tin cậy) từ đó khuyến khích người dân thực hiện tiêu dùng xanh Trong đó, nổi bật nhất là chương trình gắn nhãn sinh thái, chính sách mua sắm xanh ở khu vực công và xây dựng mạng lưới tiêu dùng xanh Ngoài ra, khóa luận cũng đi vào phân tích thêm một số giải pháp khác được

Trang 25

sử dụng để thúc đẩy tiêu dùng xanh ở Nhật Bản như thuế và ưu đãi, 3R, các dự án thành phố thông minh Những giải pháp cơ bản được phân tích tóm tắt ở bảng sau:

Bảng 2.3: Tổng hợp một số biện pháp khuyến khích tiêu dùng xanh tại Nhật Bản

1989 Chương trình Eco Mark đã được đưa ra

1996 Mạng lưới mua hàng xanh được thành lập

2001 Đạo luật khuyến khích mua sắm hàng hoá và dịch vụ thân thiện với môi trường của

Nhà nước và các tổ chức khác (Đạo luật về Xúc tiến Mua xanh) đã có hiệu lực

2007 Luật về khuyến khích các hợp đồng xem xét giảm khí nhà kính và các khoản phát

thải khác của Nhà nước và các đối tượng khác (Luật Hợp đồng Xanh) đã có hiệu lực

Nguồn: Bộ Môi Trường, Nhật Bản

Các chính sách thúc đẩy tiêu dùng xanh tại Nhật Bản đã đã tác động đến hành vi tiêu dùng xanh của người dân thông qua cơ chế sau:

Nguồn: Tác giả tổng hợp

- Làm người dân đánh giá cao hành vi tiêu dùng xanh

- Làm người dân hiểu các đối tượng

xã hội đánh giá cao tiêu dùng xanh

- Nhận thức về kiểm soát hành vi dễ dàng hơn

- Thuận lợi các yếu tố về sản phẩm

- Tăng nhận thức về tính hiệu quả của tiêu dùng xanh

- Giáo dục thái độ đối với môi trường

Hình 2.2: Cơ chế các biện pháp của Chính phủ Nhật ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh

Trang 26

Như vậy, nếu không tính tác động đến việc làm tăng thu nhập của người dân dẫn đến tăng tiêu dùng xanh, thì các biện pháp khuyến khích tiêu dùng xanh của Chính phủ Nhật Bản đã tác động đến tất cả các yếu tố còn lại dẫn đến hành vi tiêu dùng xanh Cụ thể các tác động sâu rộng đó sẽ được phân tích dưới đây

2.2.1 Gắn nhãn sinh thái

Năm 1989, Chương trình Eco Mark (Gắn nhãn sinh thái) đã được đưa ra như một chương trình chứng nhận nhãn môi trường Loại I Chương trình Eco Mark dưới sự kiểm soát của Hiệp hội Môi trường Nhật Bản (Japan Environment Association) được quản lý phù hợp với tiêu chuẩn và nguyên tắc (ISO 14020: Nhãn môi trường và sự công bố các nguyên tắc chung; ISO 14024:Nhãn và tờ khai môi trường - ghi nhãn môi trường loại I - Nguyên tắc và thủ tục)của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế (ISO) Việc

sử dụng nhãn được cấp bởi bên thứ 3 là ISO một cách độc lập và đa tiêu chuẩn

Sản phẩm được cấp nhãn sinh thái phải phù hợp với các tiêu chí về bảo vệ môi trường theo quy định của Ủy ban Eco Mark Tiêu chuẩn này tính đến tải trọng môi trường cho tất cả các giai đoạn của sản phẩm: thu thập các nguồn lực, sản xuất, phân phối, sử dụng và tiêu thụ, tái chế và tiêu hủy Từ các quan điểm về môi trường cũng được xem xét trong 4 lĩnh vực bổ sung (tiết kiệm và tái chế tài nguyên, phòng ngừa sự nóng lên toàn cầu, kiểm soát các chất độc hại và bảo tồn sự đa dạng) Nhãn sinh thái thúc đẩy việc lựa chọn hàng hoá thân thiện với môi trường cho người tiêu dùng bằng cách cung cấp thông tin về các sản phẩm (hàng hóa hoặc dịch vụ), là tín hiệu thể hiện sản phẩm có được đánh giá là giúp bảo vệ môi trường hay không

Hàng hoá đủ điều kiện được dán nhãn sinh thái phải đáp ứng một trong hai yêu cầu sau đây:

(1) Các mặt hàng sẽ phải gây tải trọng môi trường ít hơn các mặt hàng tương tự trong suốt vòng đời của nó (từ lúc "sản xuất" đến "thải bỏ")

Trang 27

(2) Việc sử dụng các mặt hàng này sẽ tạo ra hiệu quả lớn góp phần bảo tồn môi trường như cho phép giảm tải trọng môi trường phát sinh từ bất kỳ nguyên nhân nào khác

Ủy ban Eco Mark dựa trên tiêu chuẩn chứng nhận cho loại sản phẩm tương ứng

để kiểm định và chứng nhận nhãn sinh thái Nếu sản phẩm phù hợp với những tiêu chí

đề ra thì người hoặc đơn vị nộp đơn sẽ ký với Hiệp hội Môi trường Nhật Bản một Hợp đồng sử dụng nhãn sinh thái Hợp đồng này có thời hạn xác định

Những điểm tích cực trong chương trình Gắn nhãn sinh thái của Nhật Bản

Nhìn chung, quy trình và các quy định nêu trên về Eco Mark khá giống với Việt Nam Nhưng những điểm nổi bật ở chương trình này của Nhật Bản là: (1) Bộ môi trường Nhật Bản công khai cơ cấu hoạt động và kiểm tra của chương trình Eco Mark nhằm đảm bảo tính minh bạch; (2) Xây dựng trang thông tin về sản phẩm xanh và Trung tâm sinh thái xanh Osaka; (3) Hợp tác và công nhận lẫn nhau với các tổ chức có

uy tín trên toàn cầu và (4) Tổ chức các hoạt động thường niên đưa sản phẩm sinh thái đến gần hơn với người tiêu dùng

(1) Bộ môi trường Nhật Bản công khai cơ cấu hoạt động và kiểm tra của chương trình Eco Mark nhằm đảm bảo tính minh bạch Quá trình cấp nhãn sinh thái trải qua kiểm tra nghiêm ngặt và đòi hỏi thực hiện những thủ tục cũng như xuất trình giấy tờ, ghi chép liên quan Việc công khai cơ cấu hoạt động giúp bên xin cấp nhãn ước lượng được chi phí, thời gian và những việc cần chuẩn bị trong quá trình xin cấp nhãn sinh thái và duy trì chứng nhận sinh thái Cơ cấu hoạt động của Chương trình Eco Mark được thể hiện ở sơ đồ sau:

Trang 28

Hình 2.3: Cơ cấu hoạt động của Chương trình Eco Mark nhằm đảm bảo tính minh bạch

Nguồn: Bộ Môi trường, Nhật Bản

Ban chỉ đạo (Steering Committee) sẽ lập ra ngân sách, kế hoạch hoạt động, hướng dẫn triển khai 2 lần mỗi năm Ủy ban kế hoạch và chiến lược (Planning and Strategic Commite) sẽ lựa chọn dựa trên loại sản phẩm, chiến lược quảng cáo từ 3 đến

4 lần mỗi năm Ủy ban điều chỉnh tiêu chí (Criteria Deliberaton Commite) sẽ điều tra chi tiết, xác minh đề xuất tiêu chuẩn chứng nhận 3 đến 4 lần mỗi năm Ủy ban phát triển tiêu chí (Product Category-based Criteria Development Committee) dựa trên danh mục sản phẩm sẽ xây dựng tiêu chí chứng nhận theo danh mục sản phẩm 3-5 lần mỗi năm Ủy ban chứng nhận sản phẩm (Commitee for Product Certficaton) sẽ tổ chức đánh giá chất lượng của sản phẩm 1 lần mỗi tháng Các tiêu chí đánh giá sản phẩm xanh liên tục được cập nhật và phát triển mỗi năm, đòi hỏi nhà sản xuất phải linh động đáp ứng yêu cầu và cải tiến công nghệ sản xuất phù hợp Cả 5 cơ quan hoạt động vừa mang tính độc lập, vừa phối hợp chặt chẽ và tuân thủ những tiêu chí sản phẩm chung

Trang 29

để chứng nhận cho một sản phẩm xanh Do đó, quá trình công nhận và giám sát quá trình sản xuất sẽ minh bạch và khách quan hơn

(2) Xây dựng trang thông tin về sản phẩm xanh và Trung tâm sinh thái xanh Osaka Đây là cách tăng nhận thức về kiểm soát hành vi (tăng sự sẵn có của khả năng tiếp cận thông tin, kiến thức của bản thân và sự sẵn có của sản phẩm) Từ đó sẽ làm tăng ý định tiêu dùng xanh dẫn đến thực hiện hành vi tiêu dùng xanh thực tế

Trang thông tin về sản phẩm xanh (Green Station) có đăng tải tất cả các thông

tin về sản phẩm được gắn nhãn sinh thái đã qua chứng nhận của JEA bao gồm: nhà sản xuất, giá, các thông số kỹ thuật, tính năng sản phẩm, hiển thị thông tin môi trường, sản phẩm tương tự, Danh mục sản phẩm xanh cũng được chia làm 9 loại rõ ràng để người tiêu dùng tiện tra cứu (1 Văn phòng phẩm; 2 Thiết bị văn phòng; 3 Xây dựng – Vật liệu xây dựng dân dụng – Thiết bị; 4 Giấy; 5 Đồ dùng sinh hoạt; 6 Thiết bị phòng chống tai nạn; 7 Cơ khí; 8 Sản phẩm dệt may; 9 Các loại sản phẩm khác) Ngoài ra, người tiêu dùng cũng có thể tra cứu mã sản phẩm hoặc từ khóa liên quan đến một sản phẩm cụ thể để xem đó có phải là sản phẩm xanh không Trang web này còn cung cấp thông tin về nơi bán, thông tin liên hệ và có mục hỏi đáp về sản phẩm dành cho khách hàng Do đó, người tiêu dùng sẽ tiết kiệm được thời gian, đồng thời nâng cao tính sẵn

có của thông tin và kiến thức của bản thân người tiêu dùng

Trung tâm sinh thái xanh Osaka (Osaka ATC Green Eco Plaza) là triển lãm

thường trực về kinh doanh môi trường đầu tiên của Nhật Bản, giới thiệu rộng rãi và cung cấp thông tin về các dự án/ doanh nghiệp môi trường Trang web cập nhật thông tin về các công ty, sự hợp tác, các sự kiện liên quan Đặc biệt là chuỗi giáo dục về sản phẩm xanh và kinh doanh môi trường bao gồm những khóa học, hội thảo, kiến tập, tham gia triển lãm Điều này đã khẳng định sự khuyến khích và đánh giá cao của xã hội đối với những hoạt động liên quan đến bảo vệ môi trường và có tính lan truyền, hướng

cá nhân tới cách cư xử phù hợp với quan điểm của xã hội (tiêu dùng những sản phẩm thân thiện với môi trường)

Trang 30

(3) Hợp tác và công nhận lẫn nhau với các tổ chức có uy tín trên toàn cầu Văn phòng Eco mark Nhật Bản là một thành viên của mạng lưới nhãn sinh thái toàn cầu GEN Ngoài ra, tổ chức này cũng hợp tác với các đối tác nước ngoài từ Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông, Trung Quốc,…Việc giữ cho tiêu chuẩn sản phẩm được cấp nhãn sinh thái phù hợp với tiêu chuẩn chung của quốc tế là rất quan trọng Nếu những tiêu chuẩn này tương thích với nhau, có thể tăng khả năng xuât khẩu của sản phẩm tới các nước có cam kết hợp tác Nếu một sản phẩm xanh vượt qua kiểm định của nhiều tổ chức, bao gồm cả tổ chức trong nước và những tổ chức có uy tín trên thế giới thì không những thuận lợi cho việc xuất khẩu mà còn củng cố lòng tin của người tiêu dùng trong nước và thúc đẩy tiêu dùng xanh nhiều hơn

(4) Tổ chức các hoạt động thường niên đưa sản phẩm sinh thái đến gần hơn với người tiêu dùng Hằng năm, Bộ Môi trường phối hợp với các Bộ, Ngành khác tổ chức nhiều sự kiện thường niên hướng về tiêu dùng xanh, đặc biệt là 2 sự kiện dưới đây:

Triển lãm Sản phẩm sinh thái được đồng tài trợ bởi Hiệp hội Quản lý Môi

trường Nhật Bản (JEMA), tổ chức tại Tokyo hằng năm Đây là một diễn đàn cho các đơn vị mua sắm lớn như chính quyền địa phương và các công ty để đáp ứng và tiến hành những cuộc đàm phán kinh doanh, tìm kiếm các đối tác kinh doanh mới, thúc đẩy

mở rộng thị trường xanh Nhật Bản

Giải thưởng sản phẩm sinh thái (Eco Products Awards) được Bộ Môi trường đề

xuất và thực hiện từ năm 2014, để quảng bá các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường Những giải thưởng này được trao cho các sản phẩm vừa thân thiện với môi trường, vừa thiết thực, sáng tạo, và gây tiếng vang rộng Không những đưa sản phẩm đến gần hơn với người tiêu dùng, giải thưởng sản phẩm sinh thái mà còn khuyến khích

sự cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất, kể cả những nhà sản xuất các sản phẩm khác nhau nhằm tạo ra những sản phẩm vừa có giá trị kinh tế cao, vừa an toàn với con người

và môi trường

Trang 31

2.2.2 Xây dựng mạng lưới tiêu dùng xanh

Tháng 2 năm 1996, mạng lưới tiêu dùng xanh (Green Purchasing Network) được thành lập với vai trò như một cơ quan hỗ trợ và thúc đẩy mua sắm công xanh Mạng mua sắm xanh (GPN) là một tổ chức phi lợi nhuận có vai trò dẫn đầu trong việc thúc đẩy khái niệm và thực tiễn về mua bán xanh ở Nhật Bản Tính đến tháng 12/2015, GPN bao gồm 2.400 tổ chức thành viên từ các doanh nghiệp, chính quyền địa phương đến các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức phi lợi nhuận Hiệp hội Môi trường Nhật Bản (JEA) đóng vai trò là ban thư ký của mạng lưới tiêu dùng xanh

Các mục tiêu của Mạng lưới là:

- Phổ biến khái niệm và thúc đẩy thực tiễn mua sắm xanh giữa các chính quyền trung ương và địa phương, các doanh nghiệp và người tiêu dùng

- Cung cấp hướng dẫn và thông tin cần thiết cho việc thực hành mua sắm xanh Mạng lưới này hoạt động dựa trên 4 nguyên tắc cơ bản:

- Xem xét Sự cần thiết: Xem xét liệu một sản phẩm có cần thiết hay không trước khi mua Xem xét vòng đời sản phẩm và dịch vụ: Xem xét tác động môi trường

từ vòng đời sản phẩm, bao gồm cả những thiệt hại phát sinh từ dịch vụ cung cấp

- từ lúc khai thác nguyên vật liệu đến lúc thải bỏ

- Xem xét các nỗ lực của nhà cung cấp: Chọn các sản phẩm và dịch vụ được cung cấp bởi các nhà cung cấp thực hiện nỗ lực bảo vệ môi trường

- Thu thập và sử dụng thông tin môi trường: Thu thập thông tin về sản phẩm, dịch

vụ, và các nhà cung cấp tương ứng và sử dụng thông tin đó khi mua sản phẩm

Cơ sở dữ liệu trực tuyến của Green Purchasing Network về Hướng dẫn mua xanh và các sản phẩm sinh thái tạo điều kiện cho việc xác định các giải pháp thay thế xanh và thuận lợi hóa quá trình ra quyết định cho người tiêu dùng Việc truy cập thông tin về thuộc tính môi trường của sản phẩm trở nên dễ dàng hơn nhờ vào cơ sở dữ liệu của mạng lưới và danh mục nhà cung cấp của Eco Mark Do đó góp phần nâng cao nhận thức và tăng cường khả năng tiếp cận thông tin về sinh thái của người tiêu dùng

Trang 32

Những điểm tích cực trong chương trình Xây dựng mạng lưới tiêu dùng xanh tại Nhật Bản

Mạng lưới tiêu dùng xanh (GPN) tại Nhật Bản không chỉ là một mạng lưới trên internet với cơ sở dữ liệu về sản phẩm và danh mục nhà cung cấp, mà còn thực sự là một thị trường xanh với sự liên kết chặt chẽ giữa người sản xuất, người tiêu dùng, nhà nước và các tổ chức khác Mạng lưới này đã xây dựng và thực hiện được:

(1) Mạng lưới đưa ra nguyên tắc mua hàng xanh và cơ sở dữ liệu sản phẩm sinh thái: GPN đưa ra hướng dẫn mua hàng cho nhiều loại sản phẩm và cập nhật cơ sở dữ liệu trực tuyến về các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường Hướng dẫn mua xanh là danh sách các khía cạnh môi trường quan trọng sẽ được xem xét khi mua một sản phẩm Tính đến tháng 3/2016, GPN đã xây dựng Hướng dẫn mua xanh cho 19 loại sản phẩm và dịch vụ Cơ sở dữ liệu Sản phẩm sinh thái là cơ sở dữ liệu lớn nhất công

bố thông tin về tác động môi trường của sản phẩm và dịch vụ Một số chính quyền địa phương sử dụng cơ sở dữ liệu này vì hơn 15.000 sản phẩm được liệt kê vào tháng 3/2016 Cơ sở dữ liệu cũng chỉ ra sản phẩm nào đáp ứng các tiêu chí đánh giá của Chính sách cơ bản trong Đạo luật về Xúc tiến mua xanh

Việc truy cập thông tin về thuộc tính môi trường của sản phẩm trở nên dễ dàng hơn nhờ vào cơ sở dữ liệu của mạng lưới này và danh mục nhà cung cấp của Eco Mark Điều này đã góp phần nâng cao nhận thức và tăng cường tiếp cận thông tin về các sản phẩm sinh thái Sự sẵn có của thông tin tăng cường xác suất dẫn đến hành vi tiêu dùng xanh

(2) Tổ chức chuỗi hoạt động thực tế hỗ trợ tiêu dùng xanh: GPN cung cấp các buổi đào tạo và hội thảo cho cả nhân viên mới và nhân viên có kinh nghiệm của chính quyền địa phương để thúc đẩy việc mua bán xanh trong đô thị GPN cũng giúp các chính quyền địa phương phát triển chính sách mua sắm, tài liệu hướng dẫn, và đào tạo phù hợp với địa phương đó Từ đó, nhiều cộng đồng tiêu dùng nhỏ được liên kết với nhau tạo nên một mạng lưới tiêu dùng xanh rộng lớn

Trang 33

(3) Trao giải thưởng mua xanh: Hằng năm, mạng lưới tiêu dùng xanh (GPN) tổ chức một diễn đàn bao gồm các cuộc họp nghiên cứu GPN khởi xướng việc thành lập các mạng lưới địa phương do các chính quyền địa phương và các công ty tiên phong Đồng thời cũng trao "Giải thưởng mua xanh" (Green Purchasing Awards) cho đơn vị

có thành tích mua sản phẩm xanh hiệu quả nhất để thúc đẩy việc mua xanh

2.2.3 Mua sắm xanh ở khu vực công

Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra Đạo luật Xúc tiến mua sắm hàng hoá và dịch vụ thân thiện với môi trường của Nhà nước và các tổ chức khác (Đạo luật về Xúc tiến mua xanh) vào năm 2001 để mở rộng thị trường cho các sản phẩm thân thiện với môi trường Đạo luật về khuyến khích các hợp đồng xem xét giảm phát thải khí nhà kính của Nhà nước và các đối tượng khác (Đạo luật về Xúc tiến Hợp đồng xanh) cũng đã được ban hành trong năm 2007 Luật này quy định các yêu cầu về hợp đồng Xanh đối với các cơ quan Chính phủ và các cơ quan Nhà nước trong hợp đồng mua bán điện, ôtô,

dự án Công ty dịch vụ năng lượng và thiết kế xây dựng Mặc dù Luật Hợp đồng Xanh tập trung nhiều hơn vào khía cạnh giảm phát thải khí nhà kính của các sản phẩm và dịch vụ cụ thể, nhưng nó bổ sung cho Đạo luật về Xúc tiến mua xanh trong việc thiết lập khung pháp lý cho mua sắm công xanh

Khung pháp lý của Đạo luật về Xúc tiến mua xanh được dần hoàn thiện qua các năm từ 1989 đến nay

- Năm 1989, Nhật Bản đã đưa ra một chương trình đánh thuế sinh thái trong khuôn khổ Chương trình Eco Mark với sự cộng tác của Chính phủ

- Năm 1993, "Đạo luật Môi trường cơ bản" (Đạo luật số 91 ngày 19/11/1993) được ban hành để thúc đẩy việc sử dụng các hàng hóa và dịch vụ thân thiện với môi trường, qua đó giảm các tác động môi trường

- Năm 1994, Chính phủ Nhật Bản công bố “Kế hoạch hành động về hoạt động xanh của Chính phủ”, bao gồm cam kết mua sắm công xanh và các yêu cầu báo cáo

Trang 34

- Năm 1995, Chính phủ Nhật Bản đã thông qua "Kế hoạch Xanh hóa các Hoạt động của Chính phủ" đầu tiên, trong đó xác định các mục tiêu và các phương pháp thiết yếu để đạt được mục tiêu xanh cho Mua sắm công vào năm 2000

- Tháng 5 năm 2000, Chính phủ Trung ương Nhật Bản đã ban hành "Đạo luật khuyến khích mua sắm hàng hoá và dịch vụ thân thiện với môi trường của Nhà nước và các đối tượng khác" (Đạo luật về Xúc tiến mua xanh) 19 Điều 6 của

"Đạo luật về Xúc tiến mua xanh" đã thiết lập "Chính sách cơ bản" để thúc đẩy mua sắm xanh, xác định các nhóm sản phẩm ưu tiên mua với các thuộc tính môi trường

- Tháng 1 năm 2001, "Đạo luật về Xúc tiến mua xanh" có hiệu lực Sau đó, chính phủ Nhật Bản đã đưa ra Chính sách cơ bản bao gồm 101 danh mục hàng hóa được chỉ định và tiêu chuẩn của chúng

- Năm 2007, chính phủ Nhật Bản đã giới thiệu "Đạo luật về khuyến khích các hợp đồng xem xét giảm phát thải khí nhà kính của Nhà nước và các đối tượng khác" ("Đạo luật về Xúc tiến Hợp đồng xanh") để bổ sung cho "Đạo luật về Xúc tiến mua xanh" "Đạo luật Xúc tiến Hợp đồng xanh" áp dụng cho 6 loại hợp đồng: điện, ôtô, tàu thuyền, các công ty cung cấp dịch vụ năng lượng (ESCO), các tòa nhà và quản lý chất thải công nghiệp Đạo luật tập trung vào việc cắt giảm khí nhà kính

- Ngày 3/2/2015, Chính sách cơ bản đã được sửa đổi với việc bổ sung thêm các mặt hàng mới như điện thoại thông minh, mành kim loại, mẫu ván ép và các sản phẩm khác vào danh sách mua sắm Như vậy, tổng số các mặt hàng mua sắm được chỉ định đã tăng lên 270

Mua sắm công ở Nhật Bản được thực hiện bằng cách phân quyền cho mỗi đơn

vị mua sắm một cách độc lập, không có cơ quan mua sắm quốc gia được chỉ định để thực hiện mua sắm công xanh Tuy nhiên, có các nguồn thông tin trung tâm và cơ sở

dữ liệu giúp các công ty tìm kiếm hồ sơ dự thầu do Chính phủ ban hành Theo "Đạo luật về Xúc tiến mua xanh", mua sắm công xanh bắt buộc đối với các cơ quan Chính phủ Các Bộ và Cơ quan nhà nước bắt buộc phải mua hàng hoá và dịch vụ đáp ứng

Trang 35

"Tiêu chí đánh giá", được xác định bởi Chính sách cơ bản Trong năm tài chính, mỗi

cơ quan Chính phủ sẽ xây dựng và công bố một chính sách mua xanh phù hợp với Chính sách cơ bản (dựa trên điều 7, Đạo luật Xúc tiến mua xanh), có tính đến ngân sách, các dự án, hoạt động dự kiến cho năm tài chính và mua hàng hóa dịch vụ trong năm tài chính đó dựa trên chính sách mua xanh này

Bộ Môi trường (MOE) là cơ quan Chính phủ chịu trách nhiệm chính về mua sắm công xanh ở Nhật Bản Bộ Môi trường chịu trách nhiệm xây dựng và thực hiện tất

cả các chính sách và luật về môi trường Từ năm 2000, Bộ Môi trường đã triệu tập một

ủy ban Cố vấn để xây dựng danh mục các sản phẩm mua sắm được chỉ định trong Chính sách cơ bản của "Đạo luật về Xúc tiến mua xanh" Ủy ban này được triệu tập mỗi năm tài chính và bao gồm các Viện nghiên cứu, chuyên gia pháp luật, đại diện tiêu dùng, đại diện của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp, Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch và Bộ Môi trường Ủy ban Cố vấn về các sản phẩm đấu thầu được chỉ định sẽ xem lại Chính sách cơ bản và chịu trách nhiệm đảm bảo rằng các tiêu chí được xây dựng cho mua sắm công xanh là đầy đủ và phù hợp Ủy ban Cố vấn cũng theo dõi

cả việc thực hiện mua sắm công xanh

"Đạo luật về Xúc tiến mua xanh” của Chính phủ yêu cầu tất cả các Bộ, Ngành

và Cơ quan Quốc gia phải thiết lập kế hoạch mua xanh của riêng mình Hướng dẫn mua sắm xanh cho Chính phủ và cho Chính quyền địa phương được xây dựng thành 2 mục riêng biệt Các sáng kiến của Chính phủ nhằm tăng cường hành động tự nguyện của chính quyền địa phương (từ cấp quận, thành phố, thị trấn, thôn), doanh nghiệp và công dân Trong đó, mua sản phẩm xanh bắt buộc với các Cơ quan Chính phủ và các tổ chức công cộng Chính quyền địa phương được khuyến khích mua Các doanh nghiệp

và công dân tự nguyện mua sản phẩm xanh Vai trò của các bên liên quan trong việc mua xanh ở Nhật Bản được mô tả cụ thể trong mô hình dưới đây:

Trang 36

Nguồn: Bộ Môi trường Nhật Bản

Nhìn chung, Đạo luật tối ưu hóa các tiêu chí là bảo vệ môi trường và khối lượng mua sắm xanh (GPP) Trong khi đó, chương trình Eco Mark đặt mức tiêu chuẩn chứng nhận để dẫn dắt thị trường và phát triển công nghệ bất kể khối lượng GPP

Bằng chính sách mua sắm công xanh, Chính Phủ Nhật Bản đã tạo ra nhu cầu trong dài hạn đối với hàng hóa và dịch vụ xanh Do đó khuyến khích các công ty đầu tư lâu dài và đổi mới công nghệ; nhận diện được lợi thế kinh tế theo quy mô; tiến tới giảm giá thành sản phẩm xanh và mở đường cho tiêu dùng bền vững

Những điểm tích cực trong chương trình Mua sắm xanh ở khu vực công tại Nhật Bản

(1) Thông tin về mua sắm xanh của Chính phủ và các cơ quan nhà nước được công khai

Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc báo cáo số liệu, Bộ Môi trường đã chuẩn bị một mẫu báo cáo chuẩn Mỗi Bộ và cơ quan nhà nước báo cáo đầy đủ số lượng các sản

Cung cấp thông tin, sản phẩm và dịch

thông tin

và tư vấn Chứng nhận

Cam kết môi trường

NPOs/NGOs

Ví dụ: GPN

Nhà cung cấp

Bên mua Bắt buộc: Cơ quan chính phủ và các tổ chức

công cộng

Khuyến khích: Chính quyền địa phương

Tự nguyện: Các doanh nghiệp và công dân

và tư vấn

Hình 2.4: Vai trò của các bên liên quan trong việc mua bán xanh ở Nhật

Trang 37

phẩm / dịch vụ được chỉ định mua (tổng số và mức đạt tiêu chuẩn xanh) Cuối mỗi năm tài chính, mỗi tổ chức đệ trình mẫu báo cáo lên Bộ Môi trường Bộ Môi trường biên soạn và tổng hợp kết quả cho toàn bộ Chính phủ Trung ương Với các thông tin thu thập được về số lượng và tỷ lệ sản phẩm xanh đã mua, Bộ Môi trường ước tính:

- Tác động môi trường của việc mua sắm công xanh, dựa trên tiêu dùng và / hoặc

sử dụng các sản phẩm xanh

- Tỷ lệ các sản phẩm xanh trên thị trường, dựa trên tỷ lệ phần trăm các sản phẩm xanh trên tổng số trong 10 nhóm sản phẩm được chỉ định, cũng được so sánh với nền tảng của năm 2001 Mỗi Hiệp hội ngành công nghiệp cung cấp thông tin

về thị phần của các sản phẩm hàng năm Thị phần của các sản phẩm xanh được dựa trên dữ liệu từ ngành

Đối với chính quyền địa phương, giám sát được thực hiện dựa trên một cuộc khảo sát được tiến hành thông qua một bảng câu hỏi để thu thập thông tin về những nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc thực hiện và thúc đẩy mua sắm công xanh Dựa trên số liệu này, Bộ Môi trường sẽ chuẩn bị một báo cáo chung về kết quả mua sắm công xanh

Khi tất cả dữ liệu đã được biên soạn, Bộ Môi trường sẽ đưa ra 2 báo cáo về các hoạt động mua sắm công xanh: một là những hoạt động tập trung ở cấp Trung ương, và hai là tập trung vào cấp địa phương Các báo cáo này được công khai trên trang web của Bộ Môi trường Ngoài ra, dựa trên các thông tin thu thập thông qua các cuộc điều tra của chính quyền địa phương, Bộ Môi trường cũng chuẩn bị "Hướng dẫn mua sắm xanh cho chính quyền địa phương" Hướng dẫn này cung cấp các khuyến nghị để thực hiện mua sắm xanh công cùng với một loạt các nghiên cứu tình huống thực tiễn tốt nhất từ chính quyền địa phương Nhật Bản (tổng cộng có 44 chính quyền địa phương đã được đưa vào bản cập nhật cuối cùng)

Việc công khai dữ liệu về mua sắm xanh của Chính phủ và các cơ quan nhà nước giúp nâng cao chuẩn mực chủ quan và thái độ đối với hành vi tiêu dùng xanh vì

nó thể hiện xu hướng chung coi trọng tiêu dùng xanh của khối nhà nước

Ngày đăng: 16/11/2020, 10:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w