1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá khả năng đáp ứng các rào cản kỹ thuật về môi trường đối với một số mặt hàng xuất khẩu của việt nam

36 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ứng dụng kinh tế lượng để nghiên cứu những tác động của hệ thống các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường đối với một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trên thị trường thương mại quốc tế. Đồng thời xác định những hạn chế và khả năng đáp ứng các quy định, từ đó đưa ra một số quan điểm và giải pháp nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu về môi trường và khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam.

Trang 1

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ

Trang 2

số lý thuyết và nguyên tắc nhất định Có một chỉ tiêu rất quan trọng, đó là chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế - GDP Như chúng ta đã biết theo quan điểm của chủ nghĩa trọng thương rồi về sau là Adam smith và David Ricardo, về sau là các nhà kinh tế hiện đại khác đều cho rằng tăng giá trị xuất khẩu sẽ làm tăng GDP của một nước Trong nền kinh

tế thị trường, thương mại quốc tế đóng vai trò hết sức quan trọng Vậy, câu hỏi đặt ra là:

“Tăng sản lượng xuất khẩu (triệu tấn) có làm tăng giá trị xuất khẩu (tỷ USD) và thông qua kênh truyền dẫn đó làm tăng GDP hay không?” Nếu câu trả lời là không, thì lý do bác bỏ giả thuyết trên là gì? Thông qua bài tiểu luận, em muốn tìm hiểu một chướng ngại vật hạn chế nền xuất khẩu Việt Nam – các rào cản kỹ thuật về môi trường Vì vậy em

chọn đề tài “Đánh giá khả năng đáp ứng các rào cản kỹ thuật về môi trường đối với một

số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam”

II Mục đích nghiên cứu

1 Trả lời câu hỏi đặt ra ở trên: “Tăng sản lượng xuất khẩu (triệu tấn) có làm tăng giá trị xuất khẩu (tỷ USD) và thông qua kênh truyền dẫn đó làm tăng GDP hay không?”

2 Nghiên cứu những tác động của hệ thống các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường đối với một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trên thị trường thương mại quốc tế Đồng thời xác định những hạn chế và khả năng đáp ứng các quy định, từ đó đưa ra một số quan điểm và giải pháp nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu về môi trường và khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam

III Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Với đề tài “Đánh giá khả năng đáp ứng các rào cản kỹ thuật về môi trường đối với một

số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam” nội dung bài tiểu luận gồm 4 phần:

Chương 1: Mối quan hệ giữa sản lượng xuất khẩu và GDP

Trang 3

3

Chương 2: Hệ thống các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường liên quan đến thương mại

Chương 3: Thực trạng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường của một

số mặt hàng xuất khẩu Việt Nam

Chương 4: Một số giải pháp nâng cao khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn quốc

tế về môi trường đối với một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam

Do vốn kiến thức còn hạn chế cùng với khoảng thời gian giới hạn, bài tiểu luận chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót Rất mong nhận được sự nhận xét, ý kiến đóng góp của các bạn cũng như thầy cô để đề tài được trở nên hoàn thiện nhất

Em xin chân thành cảm ơn

Trang 4

4

NỘI DUNG

I Mối quan hệ giữa sản lượng xuất khẩu và GDP

1 Mô tả thống kê các biến và kết quả ước lượng của mô hình

Theo quan điểm của chủ nghĩa trọng thương rồi về sau là Adam smith và David Ricardo, về sau là các nhà kinh tế hiện đại khác đều cho rằng tăng giá trị xuất khẩu sẽ làm tăng GDP của một nước

Với một mức giá nhất định, tăng sản lượng xuất khẩu lên Q2 > Q1 thì giá trị xuất khẩu p*Q2 > p*Q1 tức là tăng sản lượng xuất khẩu sẽ tăng giá trị xuất khẩu Mặt khác:

𝑮𝑫𝑷 = 𝑪 + 𝑰 + 𝑮 + 𝑵𝑿

Tăng sản lượng xuất khẩu sẽ làm tăng NX, suy ra GDP tăng

Giả thuyết (H1) đặt ra là: “tăng sản lượng xuất khẩu sẽ làm tăng giá trị xuất khẩu” Xem xét mô hình và chọn mẫu là sản lượng xuất khẩu gạo (SL) và giá trị xuất khẩu gạo (GT) của Việt Nam từ năm 1997-2015 Đưa SL2 vào mô hình nhằm thể hiện tác động của quy luật cận biên giảm dần: khi sản lượng tăng thì giá trị cũng tăng nhưng tăng với tốc độ thấp hơn, mức tăng này giảm dần khi sản lượng tăng dần Ta kỳ vọng hệ số này mang dấu

âm

Giả thuyết thống kê {𝐻0: 𝛽2 = 0

𝐻1: 𝛽2 > 0

Ta hoàn toàn có thể giả thiết giữa các biến số này có mối quan hệ tuyến tính và thiết lập

mô hình biểu diễn mối quan hệ gữa chúng dưới dạng:

GT = β1 + β2SL + β3SL2 + ui

Bảng 1: Bảng tóm tắt các biến

Tên biến Thuộc tính biến Giải thích biến Đơn vị Nguồn số liệu

GT Biến phụ thuộc Giá trị xuất khẩu

SL Biến độc lập Sản lượng xuất

khẩu gạo Triệu tấn

Tổng cục thống

SL2 Biến độc lập

Bình phương sản lượng xuất khẩu gạo

(Triệu tấn)2 Tổng cục thống

Trang 5

5

Bảng 2: Mô tả thống kê các biến

Bảng 3: Bảng kết quả hồi quy mô hình

Giả thuyết thống kê {𝐻0: 𝛽2 = 0

𝐻1: 𝛽2 > 0

Ta có: Tqs =1.54 ; T(13; 0,05) = 1,771

→ 𝑇𝑞𝑠 < 𝑇(13;0,05)

Suy ra chưa có cơ sở bác bỏ H0, có nghĩa là chưa có cơ sở ủng hộ H1 hay chưa có cơ sở

khẳng định tăng sản lượng xuất khẩu gạo sẽ gia tăng giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam

2 Rút ra kết luận

Từ kết quả phân tích mô hình trên, ta nhận thấy rằng tăng sản lượng xuất khẩu gạo

chưa chắc đã tăng giá trị xuất khẩu gạo Xét trong dài hạn, sản lượng gạo thế giới đạt

được ở mức cân bằng tại mức sản lượng tự nhiên, hơn nữa trên thị trường xuất khẩu gạo

Trang 6

6

cũng có nhiều nước Do vậy, không phải do Việt Nam tăng cung (đường cung gặp đường cầu ở mức p thấp hơn) mà giá gạo xuất đi giảm nhiều và nhanh như thế Vậy nguyên nhân do đâu? Một trong những nguyên nhân khiến chúng ta xuất khẩu nhiều nhưng giá trị xuất khẩu tính bằng USD không tăng tương đương là vì các rào cản kỹ thuật về môi trường đối với mặt hàng gạo xuất khẩu nước ta Điển hình, năm 2015 xuất khẩu gạo đạt 6,59 triệu tấn với 2,8 tỷ USD (phụ lục 1) tăng 4% về khối lượng nhưng giảm 4,5% về giá trị so với năm 2014 Vì có các rào cản đó, gạo xuất khẩu Việt Nam bị hạn chế do không đáp ứng đủ một số yêu cầu hoặc cũng xuất được, nhưng với một mức giá không cao

Từ đó, có thêm một bằng chứng khẳng định chắc chắn hơn rằng xuất khẩu nên trọng chất lượng mà không phải trọng số lượng

II Hệ thống các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường liên quan đến thương mại

1 Mối quan hệ giữa thương mại và môi trường

Hiện nay, quá trình mở cửa hội nhập và thương mại hóa diễn ra với tốc độ ngày càng tăng và quy mô ngày càng mở rộng Quá trình này một mặt thúc đẩy quy mô phát triển kinh tế toàn cầu, nhưng mặt khác kéo theo những hậu quả môi trường, xã hội nghiêm trọng

Những người ủng hộ tự do hóa thương mại cho rằng các chính sách khuyến khích tự do hóa thương mại không ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường Trong mục tiêu của thương mại bao hàm cả mục tiêu môi trường Theo quan điểm này, việc tiếp cận, mở rộng thị trường làm tăng hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên Do đó có tác dụng tiết kiệm và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng cạn kiệt Mặt khác, việc ứng dụng công nghệ cao trong quá trình sản xuất nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh sẽ tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường Hơn nữa, tự do hóa thương mại là yếu tố quan trọng và cần thiết để tăng trưởng kinh tế, nhất là đối với các nước đang phát triển Nếu một nền kinh tế phát triển, thu nhập của con người trong nền kinh tế ấy cũng tăng lên, nhận thức của con người được nâng cao, vấn đề về môi trường được nhìn nhận và quan tâm nhiều hơn Tóm lại, theo quan điểm của trường phái ủng hộ

tự do hóa thương mại thì quá trình thương mại hóa không làm tổn hại đến môi trường mà

Trang 7

Quan điểm của các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách tiến bộ cho rằng cả tự

do hóa thương mại và bảo vệ môi trường đều nhằm đạt đến mục tiêu chung là sự phát

triển bền vững Phát triển bền vững là dung hòa giữa việc bảo vệ môi trường và tăng

trưởng kinh tế trong mối quan hệ đánh đổi giữa hai yếu tố này Các nhà hoạch định chính sách sẽ muốn thị trường đạt được cân bằng tại mức ô nhiễm tối ưu Ô nhiễm tối ưu là mức ô nhiễm mà tại đó lợi ích ròng xã hội lớn nhất hoặc tổng kinh phí môi trường là nhỏ nhất

Do có quan điểm chung là sự phát triển bền vững nên những người làm công tác thương mại sẽ dần chú ý tới môi trường hơn, ngược lại những nhà mmooi trường cũng quan tâm đến phát triển thương mại Mối quan hệ giữa thương mại và môi trường được

sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách của các chính phủ, Hội nghị Liên hiệp Quốc tế về Thương mại và phát triển UNCTAD, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD, chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc UNDP, cơ quan kế hoạch môi trường Liên Hiệp Quốc UNEP và đặc biệt là tổ chức thương mại quốc tế WTO

2 Hệ thống quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường liên quan đến thương mại

a) Các quy định môi trường trong hiệp định của WTO

Trong số 46 điều khoản của WTO có 9 điều khoản mô tả các khía cạnh thương mại liên quan đến môi trường Tuy nhiên, các khía cạnh môi trường của các hiệp định hiện có của WTO được thể hiện chủ yếu trong 5 Hiệp định: điều 20 của Hiệp định GATT 1994; Hiệp định về rào cản kỹ thuật thương mại (TBT); Hiệp định về vệ sinh an toàn động thực vật (SBS); Hiệp định thương mại về các khía cạnh liên quan của quyền sở hữu trí tuệ

Trang 8

8

(TRIPSs); Hiệp định về các biện pháp trợ cấp và đền bù (SCM) Ngoài ra, còn có một số nguyên tắc, điều khoản khác liên quan đến môi trường như nguyên tắc không phân biệt đối xử, điều khoản ngoại lệ chung trong thương mại dịch vụ GATs,…

 Điều 20 về các ngoại lệ chung GATT

- Điều 20 của GATT 1994 cho phép các nước thành viên của WTO áp đặt các biện pháp như “ sự cần thiết để bảo vệ cuộc sống con người, động vật, thực vật hoặc sức khỏe (Điều 20b) hoặc liên quan đến việc bảo vệ các nguồn tài nguyên dâng bị cạn kiệt nếu những giải pháp này được thiết lập có hiệu quả, kết hợp với các hạn chế về sản xuất và tiêu dùng trong nước (Điều 20c)” Tuy nhiên, nội dung điều 20 nhằm để đảm bảo rằng GATT không bao hàm các giải pháp gây ra sự phân biệt đối xử hoặc tạo ra những hạn chế về thương mại quốc tế Nói cách khác, các giải pháp này chỉ được hướng đến mục tiêu môi trường mà không phải bảo hộ mậu dịch

 Hiệp định về rào cản kỹ thuật thương mại (TBT)

- TBT là viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Technical Barriers to Trade” được dịch là Hàng

rào kỹ thuật trong thương mại (hay Các rào cản kỹ thuật trong thương mại), đó là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một nước áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu hoặc quy trình sản xuất, nhằm đánh giá sự phù hợp của hàng hoá nhập khẩu đối với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó

- Các biện pháp kỹ thuật này về nguyên tắc là cần thiết và hợp lý nhằm bảo vệ những lợi ích quan trọng như sức khoẻ con người, môi trường, an ninh Vì vậy, mỗi nước thành viên WTO đều thiết lập và duy trì một hệ thống các biện pháp kỹ thuật riêng đối với hàng hoá của mình và hàng hoá nhập khẩu Tuy nhiên, trên thực tế, các biện pháp kỹ thuật có thể là những rào cản tiềm ẩn đối với thương mại quốc tế bởi chúng có thể được nước nhập khẩu sử dụng để bảo hộ cho sản xuất trong nước, gây khó khăn cho việc thâm nhập của hàng hoá nước ngoài vào thị trường nước nhập khẩu Do đó chúng còn được gọi là

“rào cản kỹ thuật đối với thương mại”

- Là một trong số 29 văn bản pháp lý nằm trong Hiệp định WTO, quy định nghĩa vụ của các thành viên nhằm đảm bảo rằng các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn, thủ tục đánh giá

Trang 9

• Khuyến khích các thành viên dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế đó hài hoà;

• Minh bạch trong quá trình xây dựng, áp dụng và thực hiện các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật;

• Các yêu cầu về thủ tục liên quan tới việc thông báo cho WTO các vấn đề có liên quan tới TBT

- Về khía cạnh môi trường, TBT đòi hỏi phải dung hòa được 2 mục tiêu trái ngược nhau: vừa đảm bảo cho các nước có quyền tự do đảm bảo an ninh quốc gia, sức khỏe con người

và môi trường, vừa không gây những trở ngại không cần thiết đối với hoạt động thương mại Phạm vi điều chỉnh của hiệp định không chỉ dừng lại ở quy định đối với sản phẩm

mà còn liên quan tới quy trình và các phương pháp sản xuất

- Chính vì vậy, các bên tham gia hiệp định phải có trách niệm ở 3 cấp độ: xây dựng và áp dụng các quy định kỹ thuật; thành lập các cơ quan đo lường tiêu chuẩn hoạt động tuân theo luật ứng xử đúng mực; cấp chứng nhận sản phẩm đúng quy cách Cả 3 giai đoạn này phải tôn trọng các quy tắc của hiệp định dù chúng do địa phương, nghiệp đoàn hay tư nhân đảm nhận

 Các quy định về kỹ thuật và tiêu chuẩn: đặt ra các quy chuẩn liên quan về hình dáng, kích thước, độ dài và các chức năng của sản phẩm Đây là một trong những rào cản lớn nhất đối với việc tiếp cận thị trường nước ngoài của các nước đang và kém phát triển

vì các nước này chưa có đủ trình độ, kỹ năng về công nghệ sản xuất, chế biến cũng như công nghệ bảo quản an toàn cho các sản phẩm hàng hóa, nhất là lương thực, thực phẩm Trong khi đó, các nước phát triển thường yêu cầu rất chặt chẽ và khó khăn

Trang 10

10

 Yêu cầu về dán nhãn sinh thái: Nhãn sinh thái là một danh hiệu của nhà nước hoặc các tổ chức có thẩm quyền cấp cho các sản phẩm không gây ra ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất hoặc quá trình sử dụng các sản phẩm đó Ðược dán nhãn sinh thái là một sự khẳng định uy tín của sản phẩm và của nhà sản xuất Vì thế các sản phẩm

có nhãn sinh thái thường có sức cạnh tranh cao và giá bán ra thị trường cũng thường cao hơn các sản phẩm cùng loại Đặc biệt, đây thường là yêu cầu của các nước phát triển đối với các nước LCDs Các yêu cầu này dù thuộc hình thức tự nguyện hay hình thức bắt buộc thì đều gây khó khăn nhất định cho xuất khẩu của các nước LCDs Sản phẩm được dán nhãn sinh thái nhằm thông báo cho người dùng biết sản phẩm đó được bảo đảm tốt hơn về mức độ an toàn và môi trường Các tiêu chuẩn về dán nhãn sinh thái được xây dựng trên cơ sở phân tích chu kỳ sống của sản phẩm – phương pháp phân tích từ đầu đến cuối Các giai đoạn trong chu kỳ bao gồm: giai đoạn tiền sản xuất (chế biến các nguyên liệu thô), sản xuất, phân phối (bao gồm đóng gói), sử dụng hoặc tiêu thụ và loại bỏ sau khi sử dụng

 Các yêu cầu về phương pháp sản xuất và chế biến sản phẩm (PPMs): Các yêu cầu này cũng có tầm ảnh hưởng lớn đến việc tiếp cận thị trường của các nước LCDs Hiện nay, luật và quy định của các nước về môi trường đang mở rộng phạm vi điều chỉnh của mình đối với các PPMs Ví dụ Hoa Kỳ cấm nhập khẩu cá ngừ của Mexico và tôm của Thái Lan vì phía Hoa Kỳ cho rằng các nước này sử dụng phương tiện đánh bắt làm ảnh hưởng tiêu cực đến loài Rùa biển Cộng Đồng Liên Bang Đức cấm nhập khẩu các sản phẩm văn hóa phẩm của Phần Lan do chúng được sản xuất từ bột giấy lấy từ rừng nguyên sinh ở Indonesia,…Các quy định PPMs áp dụng cho giai đoạn sản xuất nghĩa là giai đoạn trước khi sản phẩm được tug ra bán trên thị trường và kiểm tra quá trình sản xuất có gây

ô nhiễm môi trường hay không

 Các yêu cầu của người tiêu dùng: Một số nước phát triển đặt ra các tiêu chuẩn về môi trường cho các sản phẩm xuất khẩu cả các nước đang phát triển Các yêu cầu này liên quan đến các vấn đề như môi trường, lao động trẻ em, quyền con người,…Những yêu cầu này có tác động lớn tới cơ hội xuất khẩu của các nước xuất khẩu

Trang 11

11

Hiệp định TBTs cũng quy định các điều khoản liên quan đến việc hỗ trợ kỹ thuật cho các nươc LCDs trong việc chuẩn bị và soạn thảo các quy định về kỹ thuật, tham gia vào các tổ chức tiêu chuẩn hóa, thành lập các cơ qua điều phối nhằm đánh giá việc tuân thủ

và tính phù hợp với các quy định về kỹ thuật đồng thời tìm kiếm tiêu chuẩn và hợp chuẩn trong khuôn khổ lãnh thổ của mình với các thành viên WTO khác Ngoài ra,hiệp định này cũng đua ra những quy định về việc cho các nước LCDs được hưởng một số đãi ngộ đặc biệt, ví dụ như cho phép các nước LCDs có nhiều thời gian hơn trong việc thực hiện các nghĩa vụ của mình

 Hiệp định về vệ sinh an toàn động thực vật (SBS)

- Hiệp định này đưa ra những quy định trong việc áp dụng các biện pháp kiểm dịch động thực vật Hiệp định công nhận rằng các Chính phủ có quyền sử dụng những biện pháp kiểm dịch động thực vật, nhưng các biện pháp đó chỉ nên được áp dụng ở mức độ cần thiết để bảo vệ con người, vật nuôi hoặc cây trồng hay sức khỏe và không phân biện đối

xử một cách tùy tiện và vô căn cứ giữa các thành viên khi có các điều kiện giống nhau hoặc tương tự

Để hài hòa các biện pháp kiểm dịch động thực vật trên cơ sở chung nhất có thể, các thành viên được khuyến khích đưa ra các biện pháp dựa trên các tiêu chuẩn, hướng dẫn

và khuyến nghị quốc tế nếu có Tuy nhiên, các thành viên có thể áp dụng và duy trì các biện pháp có tiêu chuẩn cao hơn nếu có chứng minh khoa học hoặc kết luận nguy cơ dựa trên đánh giá rủi ro Hiệp định nêu rõ quá trình và tiêu chuẩn để đánh giá rủi ro và xác định những mức độ bảo đảm vệ sinh và kiểm dịch phù hợp

Các thành viên sẽ chấp nhận các biện pháp kiểm dịch động thực vật tương đương của các Thành viên khác nếu Thành viên xuất khẩu chứng minh cho thành viên nhập khẩu thấy rằng các biện pháp đó tương ứng với mức độ bảo vệ sức khỏe của Thành viên nhập khẩu Hiệp định bao gồm các điều khoản về quá trình kiểm soát, kiểm tra và chấp thuận

- Phân biệt giữa TBT và SPS:

Trang 12

12

Liên quan đến các yêu cầu về đặc tính sản phẩm, quy trình sản xuất, đóng gói… bên cạnh các biện pháp SPS, các nước còn duy trì nhóm các biện pháp kỹ thuật (TBT) Trên thực tế, có nhiều điểm giống nhau giữa hai nhóm biện pháp này Tuy nhiên, WTO lại có quy định riêng về hai nhóm, tập trung ở hai Hiệp định khác nhau (với các nguyên tắc khác nhau)

Tiêu chí để phân biệt hai nhóm biện pháp này là mục tiêu áp dụng của chúng:

 Các biện pháp SPS hướng tới mục tiêu cụ thể là bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ con người, vật nuôi, động thực vật thông qua việc đảm bảo vệ sinh thực phẩm và ngăn chặn các dịch bệnh

 Các biện pháp TBT hướng tới nhiều mục tiêu chính sách khác nhau (an ninh quốc gia, môi trường, cạnh tranh lành mạnh…)

 Hiệp định thương mại về các khía cạnh liên quan của quyền sở hữu trí tuệ

(TRIPSs)

- Hiệp định TRIPs tại vòng đàm phán Urugoay đã xem xét đến các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại với mục đích giảm bớt những trở ngại trong hoạt động thương mại quốc tế Tuy nhiên, hiệp định cũng đề cập đến một số đối tượng mà các thành viên cần xem xét để cáp văn bằng bảo hộ sang chế Điều 27(2) cho phép các thành viên của WTO có thể không công nhận sáng chế cho một số đối tượng như động vật và những quy trình sinh học cần thiết nhưng với điều kiện chúng phải phù hợp với một số quy trình sinh học tạo ra những cấu trúc vi sinh vật mới và những quy trình vi sinh vật

Có thể không cấp văn bằng cho những sáng chế nằm trong vùng hạn chế khai thác để bảo

vệ tài nguyên, bảo vệ trật tự công cộng, giữ gìn đạo đức xã hội, bảo vệ cuộc sống của con người, động thực vật và để tránh gây tổn hại nghiêm trọng đến môi trường

- Tuy nhiên việc thực hiện hiệp định này trong một số trường hợp làm ảnh hưởng đến việc thực thi Công ước quốc tế về đa dạng sinh học Các vấn đề nảy sinh ở đây là việc chuyển giao những công nghệ nhạy cảm về môi trường, việc kiểm soát các tác động của công nghệ có hại cho môi trường, sự nhất quán một số điều khoản của Hiệp định với Công ước quốc tế về đa dạng sinh học

Trang 13

13

 Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM)

- Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng ra đời dựa trên Hiệp định về Giải thích

và Áp dụng Điều khoản VI, XVI và XXIII đã được thảo luận trước đó tại Vòng đàm phán Tokyo

- Hiệp định này quy định 3 loại trợ cấp Thứ nhất là trợ cấp bị cấm gồm những khoản trợ

cấp sau: khối lượng trợ cấp, theo luật hoặc trong thực tế, dù là một điều kiện riêng biệt hay kèm theo những điều kiện khác, căn cứ vào kết quả xuất khẩu; khối lượng trợ cấp, dù

là một điều kiện riêng biệt hay kèm theo những điều kiện khác, ưu tiên sử dụng hàng nội

địa hơn hàng ngoại Thứ hai là Trợ cấp có thể đối kháng Hiệp định quy định rằng không

một Thành viên nào thông qua việc sử dụng trợ cấp gây ra tác động có hại đến quyền lợi của Thành viên khác, như gây tổn hại cho một ngành sản xuất nội địa của một Thành viên khác, làm vô hiệu hay gây phương hại đến những quyền lợi mà Thành viên khác trực tiếp hoặc gián tiếp được hưởng từ Hiệp định GATT 1994 (đặc biệt là những quyền lợi có được từ những ưu đãi thuế quan có ràng buộc), và gây tổn hại nghiêm trọng đối với lợi ích của Thành viên khác Bên trợ cấp có nghĩa vụ chứng minh rằng những khoản trợ cấp đó không gây ra những thiệt hại nghiêm trọng đối với bên khiếu nại Những thành viên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi trợ cấp có thể đối kháng có thể đưa tranh chấp này lên cơ quan giải quyết tranh chấp Trong trường hợp cơ quan giải quyết tranh chấp đưa ra phán quyết có tồn tại tác động tiêu cực, bên trợ cấp phải thu hồi lại khoản trợ cấp hoặc xóa bỏ

những tác động tiêu cực này Loại thứ 3 là trợ cấp không thể đối kháng, có thể là trợ cấp

không mang tính chất riêng biệt hoặc mang tính chất riêng biệt bao gồm hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu công nghiệp và hoạt động phát triển tiền cạnh tranh, hỗ trợ cho các vùng miền khó khăn, hỗ trợ nhằm xúc tiến nâng cấp những phương tiện hạ tầng hiện có cho phù hợp với yêu cầu mới về môi trường do luật pháp, hay các quy định đặt ra Nếu một thành viên cho rằng trợ cấp không thể đối kháng khác sẽ dẫn đến những tác động tiêu cực nghiêm trọng đến ngành công nghiệp nội địa, thành viên đó có thể yêu cầu đưa

ra phán quyết và khuyến cáo về vấn đề này

b) Các quy định của môi trường liên quan đến thương mại trong các công ước quốc tế

Trang 14

14

Bên cạnh các quy định và tiêu chuẩn môi trường được đề cập trong các Hiệp định thương mại đa biên nhằm kiểm soát việc buôn bán giữa các nước nhằm mục đích bảo vệ môi trường, các Hiệp định môi trường đa phương (MEA) cũng có những điều khoản quy định việc xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ ảnh hưởng đến môi trường Tính đến năm

2013, có tới hơn 300 công ước về bảo vệ môi trường Trong đó, có một phần lớn các Quy định, Hiệp định liên quan đến thương mại quốc tế Các biện pháp môi trường trong Hiệp định quốc tế được áp dụng đối với việc vận chuyển, buôn bán, trao đổi, khai thác các sản phẩm có ảnh hưởng tới môi trường như chất thải độc hại, động vật hoang dã, các nguồn gen quý, các chất phá hủy tầng ozon,…

Những Hiệp định môi trường quốc tế có thể được phân thành 3 nhóm chính:

– Các Hiệp định kiểm soát ô nhiễm xuyên biên giới hoặc để bảo vệ môi toàn cầu, ví dụ như Công ước Viên bảo vệ tầng ôzôn và Nghị định thư Montreal về các chất huỷ hoại tầng ôzôn thực hiện Công ước trên và Hiệp định về thay đổi môi trường

– Các Hiệp định bảo vệ các chủng loại bị đe doạ, các loài chim di trú, và các loại cá và động vật biển Ví dụ như Hiệp định về thương mại quốc tế đối với những loài có nguy cơ

bị diệt chủng (CITES) và Công ước quốc tế quy định về săn bắt cá voi Trong số các điều khoản của các Hiệp định này là các hướng dẫn về cách thức bắt và giết các loại động vật hoang dã và cá

– Các Hiệp định về quản lý việc sản xuất và thương mại các sản phẩm và các chất nguy hiểm Ví dụ là Hiệp định Basel về Quản lý di chuyển và thải các chất thải nguy hiểm xuyên biên giới, Hướng dẫn Luân Đôn về việc trao đổi thông tin về các chất hoá học trong thương mại quốc tế

Gần đây, các nước tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP cũng đồng

ý với những quan điểm quan trọng liên quan đến thương mại và môi trường Mục tiêu của Chương Môi trường (chương 20 của TPP) là thúc đẩy sự tương hỗ lẫn nhau giữa các chính sách về thương mại và môi trường; tăng cường bảo vệ môi trường ở mức độ cao và

Trang 15

15

thực thi hiệu quả luật pháp về môi trường; tăng cường năng lực của các Bên để giải quyết các vấn đề về môi trường liên quan đến thương mại, bao gồm cả việc thông qua hợp tác Hiệp định TPP đã đưa vào nhiều nội dung và lĩnh vực mới với những tiêu chuẩn môi trường và nghĩa vụ ở mức khá cao

Tóm lại, nghĩa vụ của các thành viên tham gia các Hiệp định này để kiểm soát thương mại được thể hiện dưới các hình thức cấm nhập khẩu hoặc xuất khẩu, sử dụng các rào cản

kỹ thuật môi trường nhưng không phải với mục tiêu hạn chế mậu dịch tự do

3 Một số tiêu chuẩn môi trường quốc tế liên quan đến thương mại

Ban Kỹ thuật 207 (TC 207) do Tổ chức Tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO) thành lập để xây dựng các tiêu chuẩn ISO 14000 Tương tự như Tiêu chuẩn chất lượng ISO 9000, tiêu chuẩn về hệ thống quản lý môi trường tập trung vào hệ thống quản lý hơn là các hoạt động kỹ thuật Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 gồm 21 tiêu chuẩn và hướng dẫn kỹ thuật (tính đến cuối năm 1998, 11 trong số đó đã được ISO 14000 ban hành)

ISO muốn tìm kiếm tiêu chuẩn mới tương tự về cơ cấu và triết lý để những nơi áp dụng tiêu chuẩn ISO 9000 có thể xây dựng hệ thống quản lý chất lượng của mình song song với tiêu chuẩn ISO 14000 Có thể sử dụng kết hợp hai tiêu chuẩn này với tiêu chuẩn an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp Đây là tiêu chuẩn có thể sử dụng để bên thứ 3 độc lập đánh giá khách quan sự phù hợp giữa các cam kết của doanh nghiệp với các quy định của

Trang 16

16

pháp luật về môi trường cũng như đánh giá các tác động lên môi trường của các hoạt động, sản phẩm hoặc dịch vụ của tổ chức, doanh nghiệp

b) Kiểm soát điểm tới hạn – HACCP

HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Points) là hệ thống quản lý mang tính phòng ngừa nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm thông qua nhận biết mối nguy hiểm để thực hiện các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát tại các điểm tới hạn Các nguyên lý của HACCP được thống nhất trên toàn thế giới và có thể áp dụng trong vệ sinh an toàn thực phẩm, trong việc phân phối và bán sản phẩm Hệ thống này có thể được áp dụng cho các sản phẩm đang tiêu thụ trên thị trường cũng như cho các sản phẩm mới

HACCP ra đời từ thập niên 60 cùng với chương trình vũ trụ của cơ quan NASA Mỹ nhằm ngăn ngừa ngộ độc thực phẩm và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho các phi hành gia khi phóng tàu vũ trụ Columbia lên không trung Năm 1971, HACCP bắt đầu được áp dụng trong ngành thực phẩm tại Mỹ nhằm đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm thông qua kiểm soát các mối nguy hại, sau đó HACCP nhanh chóng chở thành một

hệ thống đảm bảo chất lượng thực phẩm được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới

4 Tác động của các quy định và tiêu chuẩn môi trường đối với thương mại quốc tế hiện nay

a) Tích cực

- Thuận lợi hơn trong việc tiếp cận thị trường

- Có khả năng cạnh tranh cao hơn trong tương lai

- Thuận lợi hóa việc đàm phán quốc tế trong thương mại và môi trường

- Thuận lợi cho quá trình tự do thương mại

- Các doanh nghiệp tích cực bảo vệ môi trường có thể được hưởng các chính sách ưu đãi

b) Tiêu cực

-Tạo rào cản trong thương mại quốc tế

Trang 17

17

-Hạn chế khả năng cạnh tranh của một số mặt hàng xuất khẩu

-Tạo thách thức đối với các nước đang phát triển; một số doanh nghiệp vừa và nhỏ

III Thực trạng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường của một

số mặt hàng xuất khẩu Việt Nam

1 Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam và một số vấn đề liên quan đến khía cạnh môi trường của một số sản phẩm xuất khẩu

a) Khái quát thực trạng xuất khẩu Việt Nam

Tầm quan trọng của xuất khẩu là một trong các lí do khiến kinh tế Việt Nam phải mở

cửa hội nhập thì mới phát triển được Thật vậy, Việt Nam đã có những mốc lịch sử quan trọng mà giá trị xuất khẩu có ý nghĩa không hề nhỏ Chênh lệch của xuất khẩu năm 2013

so với năm 1986 tính theo USD có sự khác biệt đáng kể, chứng tỏ giá trị xuất khẩu của Việt Nam tăng với một con số chóng mặt qua từng năm Trong 28 năm từ 1986-2013 đã

tăng tới hơn 167 lần

 Xuất khẩu Việt Nam giai đoạn 2007 đến nay

Việt Nam có những bước tiến dài trên con đường hội nhập: gia nhập WTO; liên tục kí các hiệp định FTA với EU, Nhật Bản, Hàn Quốc; đặc biệt cuối năm 2015 AEC hình thành, đầu năm 2016 các nước tham gia đàm phán ký Hiệp định xuyên Thái Bình Dương TPP

Ngay trong năm 2007, năm đầu tiên Việt Nam chính thức tham gia thương mại quốc tế với tư cách là thành viên của WTO, xuất khẩu đã có những dấu hiệu khả quan Kim ngạch xuất khẩu đạt 48 tỷ USD, tăng 20.5% so với năm 2006, vượt 3.1% so với kế hoạch Chính phủ đặt ra là 17.4% Các năm tiếp theo, kim ngạch xuất khẩu đều tăng liên tục qua các năm, trừ năm 2009 dưới tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu thương mại của Việt Nam có giảm sút (kim ngạch xuất khẩu giảm 9% so với năm 2008) Tuy nhiên lại tăng trưởng trở lại trong các năm sau đó và chạm tới mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu kỉ lục vào năm 2011 (tăng 34.2% so với cùng kì)

Trang 18

18

Biểu đồ 1: Giá trị xuất khẩu của Việt Nam 2007-2013

Sau nhiều nỗ lực của cả nền kinh tế, xuất khẩu của Việt Nam chạm mức kim ngạch 150,217 tỷ USD vào năm 2011, gấp 27,6 lần năm 1995, gấp 10,4 lần năm 2000 Năm

2016 đánh dấu bước ngoặt mới trên con đường hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam, chúng ta có quyền hi vọng những cái bắt tay, những bản hiệp định sẽ tạo đà cho xuất khẩu Việt Nam tăng trưởng mãnh liệt trong tương lai

Hàng hóa của Việt Nam chủ yếu xuất sang các thị trường EU, Hoa Kỳ, ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và Châu Úc Sau hiệp định thương mại song phương Việt-

Mỹ được ký kết năm 2001, Mỹ đã vươn lên trở thành nhà nhập khẩu lớn nhất của hàng hóa Việt Nam liên tục nhiều năm Tuy nhiên, từ năm 2012 trở lại đây EU và Mỹ một chín một mười về kim ngạch nhập khẩu hàng hóa Việt Nam

Kim ngạch xuất khẩu đến các thị trường lớn này đều tăng trưởng qua các năm cho thấy Việt Nam đã hội nhập sâu rộng Bên cạnh các thị trường truyền thống, Việt Nam đã thành công trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu sang châu Phi, châu Mỹ La Tinh,…

Ngày đăng: 16/11/2020, 09:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w